LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình đào tạo sau đại học của Trường Đại học Lâm nghiệp tôi thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp sau khi thuê để thực hiện dự án đầ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Thanh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo sau đại học của Trường Đại học
Lâm nghiệp tôi thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp
sau khi thuê để thực hiện dự án đầu tư trồng rừng của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng”
Có được kết quả ngày hôm nay, tôi vô cùng biết ơn công sức dạy dỗ truyền đạt kiến thức chuyên môn của thầy, cô Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam,
sự quan tâm, động viên khích lệ của gia đình, người thân, bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin chân thành tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Lê Minh Chính
- người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa đào tạo sau Đại học đã giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được thực hiện
và hoàn thành luận văn Thạc sỹ khoa học lâm nghiệp theo chương trình Đào tạo Sau đại học
Cám ơn sự giúp đỡ của UBND huyện Đam Rông, các phòng ban chuyên môn của huyện và UBND các xã, các hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, cung cấp cho tôi những tài liệu, số liệu quý giá để hoàn thành luận văn
Bản thân tôi tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót về nội dung, phương pháp và hình thức trình bày Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn bè đồng nghiệp Xin trân trọng cảm ơn!
Lâm Đồng, tháng 12 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Ngọc Thanh
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Cơ sở lý luận về đất đai 5
1.1.2 Vai trò của đất đai trong phát triển, sản xuất nông nghiệp 6
1.2 Lý luận về hiệu quả, hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp 7
1.2.1 Khái quát về hiệu quả 7
1.2.2 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế 12
1.2.3 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế 14
1.3 Cơ sở thực tiễn 15
1.3.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất 15
1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất 18
1.3.3 Đặc điểm và các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất 21
1.4 Những nghiên cứu về hiệu quả sử dụng và quản lý đất dốc bền vững 22
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
Trang 42.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Phương pháp lựa chọn địa điểm nghiên cứu 34
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 35
2.2.3 Phương pháp chuyên gia 36
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu và phân tích kết quả 36
2.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu tinh toán, phân tích sử dụng trong luận văn 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Thực trạng giao, sử dụng đất sau khi giao của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn 41
3.1.1 Tài nguyên rừng Đam Rông trước khi giao 41
3.1.2 Tổng hợp các dự án thuê đất trồng rừng trên địa bàn huyện Đam Rông 42
3.1.3 Tình hình, tiến độ triển khai thực hiện các dự án 43
3.1.4 Cơ cấu cây trồng trên đất thuê tại Đam Rông 48
3.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất LN của các doanh nghiệp sau khi thuê đất để trồng rừng trên địa bàn huyện Đam Rông 50
3.2.1 Giá trị sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Đam Rông qua các năm 50
3.2.2 Hiệu quả kinh tế 51
3.2.3 Hiệu quả về xã hội 56
3.2.4 Hiệu quả về môi trường 59
3.3 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả sử dụng đất LN sau khi thuê để trồng rừng của các công ty LN trên địa bàn Đam Rông: 63 3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại Huyện Đam Rông 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTTNR Bồi thường tài nguyên rừng
Benefit cost ratio Tỷ suất lợi ích chi phí
FAO Food and Agriculture Organization of the
United Nations GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
IRR internal rate of return (tỷ suất hoàn vốn nội tại)
NN&PTNT Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
NPV Net present value (giá trị hiện tại thuần)
QLDAPT Quản lý dự án phát triển
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Tiêu chuẩn đánh giá bền vững đất đồi núi 27 2.1 Cơ cấu diện tích các loại đất huyện Đam Rông 31 3.1 Tổng hợp các dự án thuê đất trồng rừng kinh tế trên địa bàn
huyện Đam Rông
42
3.2 Tiến độ bồi thường tài nguyên rừng của 15 dự án 44
3.4 Đánh giá khó khăn trong triển khai dự án trồng rừng 47 3.5 Cơ cấu cây trồng trên đất rừng sau khi được thuê tại Đam Rông 49 3.6 Giá trị sản xuất lâm nghiệp tại Đam Rông 50
3.8 Lợi nhuận bình quân/1 ha cây trồng trong 1 năm 52 3.9 Hiệu quả kinh tế của 1 chu kỳ kinh doanh trên 1ha 54 3.10 Hiệu quả kinh tế dài hạn của các hệ thống rừng trồng tại Đam
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề:
Giao đất, giao rừng là chủ trương của Đảng và Nhà nước Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm thực hiện chủ trương này và đã đạt được những thành tựu đáng kể nhất là giao đất rừng sản xuất Nhiều
hộ dân, nhiều cộng đồng dân cư và nhiều Doanh nghiệp đã được nhận đất lâm nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư trồng rừng, từ đó tài nguyên rừng phát triển tốt hơn, đời sống của người dân được cải thiện và kinh tế xã hội được nâng cao Chủ trương chính sách này được quan tâm là Nghị định số: 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính Phủ về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, hiện nay được thay thế bằng Nghị Định số: 163/1999/NĐ-CP về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp;
Trong những năm vừa qua trên địa bàn huyện Đam Rông các mô hình trồng rừng kinh tế đã hình thành và khá đa dạng, thu hút được nhiều đối tượng tham gia vào công tác phát triển rừng, tuy nhiên bên cạnh những nhân tố tích cực thì vẫn còn tồn tại những hạn chế trong việc sử dụng đất lâm nghiệp để trồng rừng cụ thể như hiện nay đa số các doanh nghiệp được thuê đất trồng rừng kinh tế vẫn không và chưa thực hiện các dự án đầu tư theo hồ sơ thiết kế được phê duyệt ban đầu hoặc thực hiện cầm chừng để không bị thu hồi dự án, điều đó làm lãng phí nguồn tài nguyên, nguồn nhân lực trong một thời gian không ngắn, ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương Qua đây có thể thấy được vấn đề giao đất bằng hình thức cho thuê đối với các tổ chức, doanh nghiệp đang là vấn đề cần được quan tâm và nghiên cứu vì vậy tôi chọn đề tài nghiên
cứu là: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp sau khi thuê để thực hiện dự án đầu tư trồng rừng của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng”
Trang 82 Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp của các doanh nghiệp sau khi thuê để thực hiện các dự án đầu tư trồng rừng, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp trong đầu tư kinh doanh rừng trồng ở các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Đam Rông, Lâm Đồng
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp tại các doanh nghiệp lâm nghiệp huyên Đam Rông
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp tại các doanh nghiệp lâm sau thuê đất
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: toàn bộ quá trình thuê và sử dụng đất lâm
nghiệp đã thuê để đầu tư trồng rừng; hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp trong đầu tư trồng rừng của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Đam Rông
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến sử dụng và hiệu quả sử dụng đất trong đầu tư trồng rừng của các doanh nghiệp sau khi thuê trên địa bàn huyện Đam Rông
Phạm vi về không gian: hoạt động thuê và sử dụng đất lâm nghiệp để
đầu tư trồng rừng của 19 doanh nghiệp trên địa bàn huyện Đam Rông
Trang 9Pham vi về thời gian: Thu thập các thông tin thứ cấp phù hợp với chu
kỳ kinh doanh của các loài cây trồng chính của sản xuất lâm nghiệp Thông tin sơ cấp được điều tra khảo sát trong năm 2015 và 2016
4 Nội dung nghiên cứu:
Luận văn đi sâu nghiên cứu các vấn đề cụ thể sau đây:
Cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nói chung và đất lâm nghiệp trong kinh doanh rừng trồng nói riêng
Thực trạng sử dụng và hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp các doanh nghiệp thuê để đầu tư trồng rừng trên địa bàn huyện Đam rông
Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng và hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp sau khi thuê để kinh doanh rừng trồng của các doanh nghiệp ở Đam rông
Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất thuê trồng rừng của các doanh nghiệp trên địa bàn
Cấu trúc của đề tài: Đề tài gồm những nội dung chính sau:
Mở đầu: Giới thiệu những vấn đề cơ bản của việc thực hiện nghiên cứu như: đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp phân tích số liệu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu; đồng thời trình bày các bước tiến hành nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và cấu trúc của đề tài
Chương 1 Tổng quan: Trình bày các lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu bao gồm: các cơ sở lý luận về tầm quan trọng của sử dụng đất đai, các văn bản về luật cho thuê đất đai, lý luận về hiệu quả sử dụng đất đai, cách đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Chương 2 Phương pháp thực hiện nghiên cứu: Trình bày phương pháp thực hiện nghiên cứu gồm chọn mẫu nghiên cứu, thu thập số liệu, phân tích số liệu và tổng quan các nghiên cứu trước
Trang 10Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Phân tích thống kê mô tả
về thực trạng giao đất giao rừng, sử dụng đất rừng sau thuê của các doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng đất sau thuê của các doanh nghiệp; từ đó làm cơ sở
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của các doanh nghiệp
Kết luận và kiến nghị: Kết luận những nội dung và kết quả nghiên cứu chính, đề xuất một số giải pháp và gợi ý cho những hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng đất sau thuê
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Cơ sở lý luận về đất đai
Đất đai là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như xây dựng công trình, cơ sở hạ tầng, an ninh quốc phòng [21] Đất đai là đều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người, nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người
Đối với ngành phi nông nghiệp đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất Đối với ngành này, quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất cũng như chất lượng thảm thực vật và tính chất tự nhiên sẵn có trong đất
Đối với các ngành nông - lâm nghiệp, đất đai có vai trò vô cùng quan trọng Đất đai không chỉ là cơ sở không gian, là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại mà còn là yếu tố tích cực của các quá trình sản xuất đồng thời là công cụ sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi do đó nó là đối tượng lao động nhưng cũng lại là công cụ hay phương tiện lao động
Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn gắn bó chặt chẽ với đất và các sản phẩm làm ra được luôn phụ thuộc vào các đặc điểm của đất mà cụ thể
là độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất [23] Tuy nhiên độ phì nhiêu của đất không phải là yếu tố vĩnh viễn và cố định mà luôn thay đổi trong quá trình hình thành và phát triển của tự nhiên Ngoài ra trong quá trình sản xuất dưới tác động của con người thì độ phì nhiêu ngày càng cạn kiệt, ngược lại nếu tác động của con người có sáng tạo và khoa học thì độ phì
Trang 12nhiêu của đất ngày càng được nâng cao vì ngoài nhân tố tự nhiên còn có xã hội tham gia vào quá trình hình thành và phát triển của đất đai
1.1.2 Vai trò của đất đai trong phát triển, sản xuất nông nghiệp
Đất đai từ lâu đã gắn liền với đời sống và sản xuất của con người, nó gắn liền với lịch sử đấu tranh sinh tồn của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Vì vậy, đất đai giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Đất đai được Hiến pháp nước ta
khẳng định với vai trò là một tài nguyên quốc gia, Giáo trình đăng ký – thống
kê đất đai đã viết về vai trò quan trọng của đất đai như sau: “Đất đai là tài
nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng” Nói như vậy để thấy được rằng đất đai có vị trí vô cùng quan trọng đối với tất cả các ngành, lĩnh vực trong cả đời sống và sản xuất của con người [24]
Là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch
sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện chung của lao động Sự tồn tại và phát triển của đất đai quyết định sự tồn tại và phát triển của loài người, không có đất đai thì không thể có sự sống và không có sự tồn tại và phát triển của bất cứ một xã hội loài người nào Vì vậy, đất đai không chỉ là tài nguyên
vô cùng quý giá mà còn là điều kiện sống của muôn loài
Đất đai tham gia vào mọi hoạt động của đời sống và sản xuất Rõ ràng
là nếu như không có đất đai thì sẽ không có bất kì một ngành sản xuất nào, một quá trình lao động nào Vai trò của đất đai về mặt này được thể hiện:
Thứ nhất, đất đai là địa điểm cho mọi hoạt động sản xuất và đời sống diễn ra
Thứ hai, đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội Tuy nhiên, đối với từng ngành cụ thể của nền kinh tế quốc dân, đất đai có
vị trí khác nhau Đối với các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, đất đai là
Trang 13địa điểm để xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, kho tàng, bến bãi,… đất đai cung cấp nguồn nguyên liệu cho một số ngành sản xuất như ngành công nghiệp sản xuất gạch ngói, xi măng, gốm sứ, Đối với các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đất đai có một vị trí đặc biệt và vai trò hết sức quan trọng, là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được Nó không những là chỗ đứng, chỗ tựa để lao động, mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng, là nơi chuyển dần hầu hết tác động của con người vào cây trồng Đất đai sử dụng trong nông nghiệp được gọi là ruộng đất, nó có ý nghĩa vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Thông qua đất đai và sản xuất nông nghiệp để tạo ra các thực phẩm nuôi sống con người
Vì vậy có thể khẳng định đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với sản xuất và đời sống của con người Dưới bất cứ một thời đại nào, một chế độ
xã hội nào, đất đai cũng là một vấn đề được quan tâm hàng đầu của bộ máy Nhà nước Giao và cho thuê đất là một trong những công tác quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai Vì vậy công tác này có ảnh hưởng đến sản xuất
và đời sống của toàn xã hội Vậy đối với các dự án đầu tư, công tác giao và cho thuê đất có vai trò và tầm quan trọng như thế nào?
1.2 Lý luận về hiệu quả, hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp
1.2.1 Khái quát về hiệu quả
a) Khái niêm: Hiệu quả là một phạm trù phản ánh quan hệ so sánh
giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó trong một thời kỳ nhất định
b) Phân loại hiệu quả: Các nhà kinh tế thường phân loại hiệu quả theo
các tiêu thức sau đây:
Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội, hiệu quả bao gồm: hiệu quả kinh
tế, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội và hiệu quả quốc phòng
Trang 14 Theo phạm vi lợi ích, hiệu quả bao gồm hiệu quả tài chính và hiệu
quả kinh tế - xã hội
Theo mức độ phát sinh, bao gồm hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián
tiếp
Theo cách tính toán, bao gồm hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương
đối Hiệu quả tuyệt đối được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí, hiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí
Hiệu quả sản xuất trong nông – lâm nghiệp được nhiều học giả nghiên cứu, nổi bật nhất là Theodore W.Schultz (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993) Các học giả này đều cho rằng cần phân biệt 3 khái niệm cơ bản về hiệu quả là: hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency), hiệu quả phân bổ (allocative efficiency) và hiệu quả kinh tế (economic efficiency)
Hiệu quả kỹ thuật (TE): là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên
một đơn vị đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp hiệu quả kỹ
thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể Hiệu quả này thường được phản ánh trong hàm sản xuất Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất, hiệu quả này chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc vào bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất trong nông – lâm nghiệp, phụ thuộc vào kỹ năng của người sản xuất cũng như môi trường kinh tế - xã hội khác mà trong
đó kỹ thuật được áp dụng
Như vậy có thể hiệu hiệu quả kỹ thuật trong sử dụng đất là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất,
Trang 15hiệu quả sử dụng đất nông – lâm nghiệp chỉ ra rằng một đơn vị diện tích đất được dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiều đơn vị sản phẩm
Hiệu quả phân bổ (AE): là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố có giá
sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá đầu vào và đầu ra
Vì thế mà hiệu quả phân bổ còn được gọi là hiệu quả giá (Price efficiency) Việc xác định hiệu quả này giống như xác định các điều kiện về lý thuyết cận biên để tối đa hóa lợi nhuận Điều đó có nghĩa là hiệu quả này đạt được khi giá trị biên của sản phẩm phải bằng chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất
Hiệu quả kinh tế (EE): là mục tiêu của người sản xuất, là thước đo
phản ánh mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp đầu vào và đầu ra tối ưu EE được tính bằng tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ (EE= TE*AE)
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế, trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông – lâm nghiệp Nếu đạt được một trong hai hiệu quả, hoặc là hiệu quả kỹ thuật hoặc là hiệu quả phân bổ thì mới chỉ thỏa mãn điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế Như vậy, để đạt được hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất thì cũng cần phải đạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế chỉ thể hiện mục đích của người sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận Muốn sử dụng đất bền vững cần quan tâm đến cả hiệu quả về mặt xã hội và môi trường [3]
Trang 16Ba vấn đề trên có quan hệ mật thiết với nhau và có ý nghĩa quan trọng đối với mục tiêu phát triển bền vững trong nông – lâm nghiệp Trong nhiều trường hợp, đặc biệt các nước đang và chậm phát triển, ở những vùng núi cao, những vùng sâu, vùng xa nơi dân cư có trình độ thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu như ở Đam Rông thì để đạt được lợi ích kinh tế thì nhiều khi lợi ích về mặt xã hội, môi trường không được bàn đến Hậu quả là cạn kiệt, thoái hóa tài nguyên đất, đất lại cho năng suất thấp hơn và thu nhập bị giảm, người dân bị rơi vào vòng nghèo đói; và cứ như vật vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và phát triển không bền vững duy trì từ thế hiệ này sang thế hệ khác tạo nguy cơ tụt hậu xã hơn về mọi mặt giữa những bộ phận dân cư trong những vùng này với những vùng mà ở đó người dân thành công trong việc điều hòa cả lợi ích
về kinh tế, xã hội và cả lợi ích vè môi trường trong quá trình phát triển
Song, để hiệu rõ về hiệu quả kinh tế, cần phải phân biệt kết quả với hiệu quả, phân biệt hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh
tế Bên cạnh đó, cũng cần nhận ra những ưu điểm, nhược điểm của phương thức đánh giá hiệu quả kinh tế theo quan điểm truyền thống và quan điểm hiện đại
Sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả kinh tế, ta thấy, hiệu quả kinh
tế là phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được, còn kết quả kinh tế chỉ là một yếu tố được sử dụng để xác định hiệu quả mà thôi
Thực tế cho thấy, các hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tổ chức cũng như của cả nền kinh tế quốc dân mang lại kết quả được tính bằng khối lượng sản phẩm hàng hoá giá trị sản lượng hàng hoá doanh thu bán hàng… Nhưng kết quả này chỉ phản ánh quy mô hoạt động kinh tế mà chưa phản ánh được trình độ tổ chức sản xuất của một đơn vị hoặc một nền kinh tế, chưa trả
Trang 17lời được các câu hỏi như: được tạo ra bằng cách nào? Bằng phương tiện gì? Chi phí bằng bao nhiêu?
Để giải quyết được vấn đề này, kết quả của quá trình sản xuất phải được đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí và nguồn lực khác Trong điều kiện giới hạn nguồn lực phải tạo ra kết quả sản xuất cao, tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội Chính điều này thể hiện trình độ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân mà theo C.Mác thì đây là cơ sở để phân biệt trình
độ văn minh của nền sản xuất này so với nền sản xuất khác Hiệu quả kinh tế chính là yếu tố thể hiện được điều này
Về sự khác biệt giữa hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế , có thể thấy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất
lượng tổng hợp của một quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm hai mặt định tính và định lượng Trong khi đó, các chỉ tiêu đo lường hiệu quả chỉ phản ánh từng mặt các quan hệ định lượng của hiệu quả kinh tế Thật vậy, các chỉ tiêu
đo lương hiệu quả kinh tế là một phạm trù cụ thể, còn hiệu quả kinh tế vừa là phạm trù trừu tượng vừa là phạm trù cụ thể Là phạm trù trừu tượng vì hiệu quả kinh tế phản ánh năng lực sản xuất kinh doanh của các tổ chức sản xuất hoặc nền kinh tế quốc dân Các yếu tố cấu thành hiệu quả kinh tế là kết quả sản xuất và nguồn lực cho sản xuất mang các đặc trưng gắn liền với quan hệ sản xuất của xã hội Hiệu quả kinh tế chịu ảnh hưởng của các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ luật pháp từng quốc gia và các quan hệ khác của hạ tầng cơ sở cũng như thượng tầng kiến trúc Với nghĩa này, hiệu quả kinh tế phản ánh toàn diện sự phát triển của tổ chức sản xuất, của một nền sản xuất xã hội
Là một phạm trù trừu tượng vì hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ sản xuất, trình độ quản lý kinh doanh, trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để đạt được kết quả đầu ra cao nhất với chi phí thấp nhất
Là phạm trù cụ thể vì hiệu quả kinh tế có thể đo lường được thông qua mối quan hệ bằng lượng giữa kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra Đương nhiên,
Trang 18không thể có một chỉ tiêu tổng hợp nào phản ánh được đầy đủ các khía cạnh khác nhau của hiệu quả kinh tế Thông qua các chỉ tiêu thống kê, kế toán có thể xác định được hệ thống chỉ tiêu đó lường hiệu quả kinh tế Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh nào đó của hiệu quả kinh tế Hệ thống chỉ tiêu này quan hệ với nhau theo thứ bậc từ chỉ tiêu tổng hợp sau đó đến các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố riêng lẻ của quá trình sản xuát kinh doanh
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả kinh tế được hiểu là nâng cao các chỉ tiêu
đo lường và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực hơn [4]
1.2.2 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Có hai quan điểm khác nhau về vấn đề hiệu quả kinh tế:
Quan điểm truyền thống
Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí Hiệu quả kinh tế được đo bằng các chi phí và lãi Nhiều tác giả theo quan điểm này cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh [6]
Quan điểm truyền thống trên chưa thật hoàn thiện khi xem xét đến hiệu quả kinh tế Sự thiếu toàn diện được thể hiện ở những khía cạnh sau: thứ nhất, hiệu quả kinh tế được xem xét với quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư Trong khi đó, hiệu quả kinh
tế lại là một vấn đề rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định có nên tiếp tục đầu tư hay không và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ Thứ
Trang 19hai: quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi tính toán thu
và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, thu và chi trong khi tính toán hiệu quả kinh tế là chưa đầy đủ và chính xác Thứ ba, hiệu quả kinh
tế chỉ bao gồm hai phạm trù cơ bản là thu và chi Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn trên các phương diện khác nữa Bên cạnh đó, có những phần thu lợi hoặc những khoản chi phí
mà lúc đầu khó hoặc không lượng hóa được nhưng lại đáng kể thì lại không được phản ánh ở cách tính toán theo quan điểm truyền thống này [10]
Quan điểm hiện đại
Các nhà kinh tế đã đưa ra quan điểm hiện đại về hiệu quả kinh tế nhằm khắc phục những hạn chế của quan điểm truyền thống Theo quan điểm hiện đại, khi tính toán hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào các tổ hợp yếu tố Cụ thể là:
- Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Về mối quan
hệ này, cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn vị đầu vào (I) đầu tư thêm Tỷ số ∂O/∂I được gọi là sản phẩm biên Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá rị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Thực chất đó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến yếu tố giá đầu vào và giá sản phẩm Hiệu quả phân bổ tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Chỉ đạt được hiệu quả kinh tế khi cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa [10]
- Yếu tố thời gian: các nhà kinh tế đương đại đã coi thời gian là một yếu tố trong tính toán hiệu quả Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng
Trang 20có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể có hiệu quả khác nhau trong những thời điểm khác nhau
-Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường: các quan điểm hiện đại cho rằng hiệu quả về tài chính phải phù hợp với xu thể thời đại, phù hợp với chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia hiện này [10]
Nhận thức được những ưu điểm và hạn chế trong các quan điểm về hiệu quả kinh tế trong nghiên cứu này chúng tôi đã kết hợp cả hai để xem xét
và tính toán hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất tại Đam Rông – Lâm Đồng
1.2.3 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Cho dù theo quan điểm truyền thống hay hiện đại, hiệu quả kinh tế luôn liên quan tới các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Nội dung xác định hiệu quả kinh tế bao gồm:
- Xác định các yếu tố đầu vào: đó là chi phí trung gian, chi phí sản xuất, chi phí lao động và dịch vụ, chi phí vốn đầu tư và đất đai
- Xác định các yếu tố đầu ra (mục tiêu đạt được): trước hết hiệu quả kinh tế là các mục tiêu đạt được của từng hộ gia đình, cơ sở sản xuất phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất ra phải trao đổi được trên thị trường, các kết quả đạt được là: khối lượng sản phẩm, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, lợi nhuận…
Bản chất của hiệu quả kinh tế, về mặt định lương được xem xét, so sánh kết quả thu được và chi phí bỏ ra, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế cao và ngược lại Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế cao là phản ánh nỗ lực của từng khâu, của mỗi cấp trong hệ thống sản xuất phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất kinh doanh Sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã
Trang 21hội Hai mặt định tính và đin lượng là cặp phạm trù của hiệu quả kinh tế có quan hệ mật thiết với nhau [4]
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Cho đến nay chưa có tài liệu nào đưa ra khái niệm rõ ràng về “hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất” Qua nghiên cứu tổng quan lý luận về hiệu quả tác giả cho rằng “hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế và chi phí kinh tế đã
bỏ ra để đạt được kết quả đó trên một đơn vị diện tích đất, được sử dụng trong một thời kỳ nhất định” Vậy vì sao cần phải đánh giá hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng đất?
Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 - 5 tỷ ha Nhân loại đã làm
hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hóa Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp của con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp [19] Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý là vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm
Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản
lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sức sản xuất của nó trong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu đầy đủ về tính hiệu quả trogn sử dụng đất đai, đó là sự kết hợp hài hòa cả
ba lĩnh vực hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường trên quan điểm quản lý sử dụng đất bền vững
Trang 22Đất là một tài nguyên quan trọng đói với sự tồn tại và phát triển của một quốc gia Muốn quy hoạch và sử dụng nguồn tài nguyên này một cách hiệu quả cần phải đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất, đặc biệt là hiệu quả kinh tế để tìm lời giải cho các vấn đề như: diện tích các loại đất là bao nhiêu, cơ cấu mỗi loại đất như thế nào? Đất đang được sử dụng như thế nào? Hiệu quả sử dụng cao hay thấp? Những nhân tố nào quyết định hiệu quả sử dụng đất? giải pháp nào cần thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên này nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia?
Năm 2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết
số 19-NQ/TƯ - Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa XI) về “Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai” Theo
đó, vấn đề về nâng cao năng lực quản lý đất đai cũng đã được đề cập chi tiết,
trong đó, Nghị quyết nêu rõ “Đẩy mạnh công tác điều tra, đánh giá chất
lượng, tiềm năng đất dai đáp ứng yêu cầu quản lý sử dụng đất, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững Phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật đất đai cho cộng đồng, nhất là đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vung đồng bào dân tộc thiểu số; ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin về đất đai và tài sản gắn liền với đất theo hướng hiện địa hóa, công khai, minh bạch phục vụ đa mục tiêu…”
Nội dung Nghị quyết cho thấy, hơn lúc nào hết, nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai cần được coi là nhiệm vụ cấp bách Việc tìm kiếm các giải pháp đồng bộ: tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm, hỗ trợ cây trồng, hỗ trợ thiên tai, miễn thủy lợi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cải thiện thu nhập từ đất cho người dân, để người dân yên tâm sản xuất là điều hết sức cần thiết
Để lựa chọn được những giải pháp và thứ tự ưu tiên cho mỗi giải pháp, đánh giá hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất là một việc có ý nghĩa quan trọng,
Trang 23có tính chất quyết định Phải dựa trên bức tranh thực trạng về hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất, mỗi địa phương, mỗi quốc gia mới có thể hoạch định chính sách phù hợp hiệu quả
Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp là một đòi hỏi tất yếu của sự phát triển xã hội Đối với người sản xuất, tăng hiệu quả chính là cơ sở để họ tăng lợi nhuận Đối với người tiêu dùng, tăng hiệu quả chính là đàm bảo cho họ có mức thỏa dụng cao hơn (được sử dụng hàng hóa với lượng nhiều hơn, giá thấp hơn và chất lượng tốt hơn) Xã hội ngày càng phát triển với công nghệ cao, kỹ thuật mới việc nâng cao hiệu quả kinh
tế trong sử dụng đất càng gặp nhiều thuận lợi hơn Nâng cao hiệu quả sẽ làm tăng lợi ích của cả xã hội bởi lợi ích của cả người sản xuất và người tiêu dùng được cải thiện Tuy nhiên, việc nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất phải được đặt trong mối quan hệ bền vững với hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường cả trước mắt và lâu dài
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững về mọi mặt, việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất tại các tỉnh vùng cao, miền núi - những vùng đất đai rộng lớn, nhiều tiềm năng nhưng cũng có nhiều khó khăn và ẩn chứa nhiều rủi ro là việc làm hết sức quan trọng Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất tại những vùng này không chỉ mang lại những giá trị về mặt kinh tế, tạo tiền đề xóa đói giảm nghèo mà còn có giá trị to lớn về mặt xã hội (tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nghèo, dân tộc thiểu số, nâng cao trình độ dân trí, thay đổi tập quán sinh hoạt, tập quán canh tác theo hướng tích cực hơn…) Bên cạnh đó, đánh giá hiệu quả kinh tế của mỗi loại hình sử dụng đất là một việc làm cụ thể
có ý nghĩa giúp cho các địa phương lựa chọn được những phương án sản xuất kinh doanh vừa mang lại thu nhập cao, ổn định, tăng khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu, vừa giảm bớt các nguy cơ suy thoái moi trường
Trang 241.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả sử dụng đất có thể hiểu đơn giản là những kết quả thu được từ việc khai thác, sử dụng đất đai Kết quả từ việc khai thác và sử dụng đất đai được lượng hoá bằng số sản phẩm thu được từ việc sử dụng đất trên một đơn
vị sử dụng đất hay lợi nhuận trên một đơn vị sử dụng đất Tuy nhiên còn rất nhiều những hiệu quả khác do việc sử dụng đất mang lại không thể lượng hoá được như những lợi ích mang lại cho xã hội và môi trường Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất là phải đánh giá tổng hợp trên tất cả các mặt không chỉ căn cứ vào hiệu quả kinh tế
Do đó cần phải đánh giá hiệu quả sử dụng của đất đai vì đất đai ngày nay được xem như nguồn tài sản, nguồn vốn của nền kinh tế Trong quản lý nói chung bất cứ nguồn vốn nào cũng đòi hỏi phải được đo lường và đánh giá mức độ hiệu quả để có tìm ra phương án, cách sử dụng hiệu quả nhất
Mặt khác, đất đai là nguồn tài nguyên không tái tạo và là nguồn lực khan hiếm nên càng cần phải sử dụng hiệu quả hơn Nên đánh giá hiệu quả sử dụng đất càng cần thiết nhằm tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hơn nữa
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các dự án đầu tư một mặt giúp loại
bỏ các dự án sử dụng đất không có hiệu quả và tìm ra được dự án đầu tư cho hiệu quả sử dụng đất tốt nhất
Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất
Điều kiện tự nhiên
Khi sử dụng đất ngoài bề mặt không gian cần thích ứng với điều kiện tự nhiên: nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí, nước và các yếu tố hình thành đấtt Trong nhân tố điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu là nhân tố quan trọng, sau đó là điều kiện đất đai, nguồn nước và các nhân tố khác
Trang 25- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất,
nhất là các hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp, và các điều kiện sinh hoạt của con người tổng tích ôn, nhiệt độ bìn quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian… trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thủy sinh… lượng mưa, bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc và thủy sản [20]
- Điều kiện đất đai: đất đồi núi thường bị xói mòn rửa trôi cho nên nghèo
dinh dưỡng, mặt khác do địa hình đồi núi nên việc thiết kế lô thửa gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề bố trí cơ cấu cây trồng
Tuy vậy, đặc điểm đất đồi núi thường có tầng đất dày nên cũng thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp lâu năm Đặc thù của nhân tố điều kiện tự nhiên mang tính khu vực Vị trí địa lý cùng với sự khác biệt về tính chất đất đai thể hiện độ phì nhiêu của đất đối với cây trồng cùng với nguồn nước và các yếu tố tự nhiên khác sẽ quyết định đến năng suất tự nhiên và khả năng cho hiệu quả sử dụng đất
Nhân tố kinh tế - xã hội:
Nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố về chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý chính sách, môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình
độ quản lý sử dụng lao động, điều kiện trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực
Nhân tố xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo về việc sử dụng đất đai nói chung, sử dụng đất lâm nghiệp nói riêng Phương thức sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
Trang 26Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế xã hội khác nhau đã tác động đến việc quản lý của xã hội về sử dụng đất nông nghiệp, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất nông nghiệp khác nhau Nền kinh tế
và khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì khả nắng sử dụng đất của con người ngày càng được nâng cao
Ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế xã hội góp phần tạo ra năng suất kinh tế trong lâm nghiệp và được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp Thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp liên quan tới lợi ích kinh tế của người sử dụng đất tuy nhiên, nên có chính sách ưu đãi để tạo điều kiện cải thiện và hạn chế việc sử dụng đất theo kiểu bóc lột đất đai Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận cũng dẫn đến tình trạng đất bị sử dụng không hợp
lý, thậm chí hủy hoại đất Vì vậy cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh
tế - xã hội trong việc sử dụng đất lâm nghiệp Căn cứ vào yêu cầu thị trường của xã hội xác định sử dụng đất lâm nghiệp, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai, để đạt tới cơ cấu hợp lý nhát, với diện tích đất có hạn để mang lại hiệu quả kinhh tế, hiệu quả xã hội và sử dụng đất được bền vững
Trong các nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc sử dụng đất được trình bày ở trên, từ thực tế từng vùng, địa phương có thể nhận biết thêm những nhân tố khác tác đông đến hiệu quả sử dụng đất, trong đó có những yếu
tố thuận lợi và những yếu tố hạn chế Đối với những yếu tố thuận lợi cần khai thác hết tiềm năng của nó, những yếu tố hạn chế cần phải có giải pháp để khắc phục dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn Vấn đề mấu chốt là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất để có những biện pháp thay đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả
Trang 271.3.3 Đặc điểm và các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Trước hết và quan trọng nhất là đánh giá hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất diễn ra trên diện tích đất đó Trong quá trình khai thác, sử dụng đát con người luôn mong muốn thu được nhiều sản phẩm nhất trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất Điều đó khẳng định rằng: khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất, trước hết phải xác định được bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể, kết quả thu được trên một đồng chi phi, trên một lao động đầu tư
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội bao gồm: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn Điều
đó khẳng định thêm rằng, hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Thực chất vấn đề này đề cập đến hiệu quả xã hội khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải quan tâm tới những ảnh hưởng của sản xuất tới môi trường xung quan Nông – lâm nghiệp là ngành sản xuất chịu nhiều tác động và cũng có tác động nhiều đến môi trường cũng như hệ sinh thái Chỉ có thể phát triển nông – lâm nghiệp bền vững khi con người biết cách bảo vệ và cải thiện môi trường cùng hệ sinh thái
Tóm lại, để dánh giá mộ cách toàn diện hiệu quả sử dụng đất cần phải
đề cập tới cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường [17]
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên,
sư ổn định lâu dài của hiệu quả Đối với đất nông – lâm nghiệp, tiêu chuẩn để
Trang 28đánh giá là mức độ đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội – môi trường do xã hội đặt ra, cụ thể là: tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm, hướng tới thỏa mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng sản lượng xuất khẩu đồng thời đáp ứng yêu cầu bào vệ hệ sinh thái bền vững [17]
Theo quan điểm của tổ chức FAO (1990), có ba tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất bền vững là: bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt môi trường và bền vững về mặt xã hội Nghĩa là định hướng sự thay đổi về kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thỏa mãn liên tục các nhu cầu của con người thuộc các thế hệ hôm nay và mai sau
1.4 Những nghiên cứu về hiệu quả sử dụng và quản lý đất dốc bền vững
Một số nước trên thế giới
Quả lý đất dốc ở Indonesia
Kết quả nghiên cứu về bảo vệ đất tại một số vùng của Indonesia cho thấy: ở thềm đất dốc biện pháp phủ đất kết hợp với làm đất tối thiểu tốt hơn làm đất xới xáo mà không phủ đất Hệ thống xen canh với cây họ đậu làm giảm xói mòn và dòng chảy Phương pháp bảo vệ đất tốt nhất là dùng dải bang chắn kết hợp cả dải cỏ và dải cây họ đậu, hoặc tăng bề rộng của ruộng bậc thang cùng với việc trồng cỏ và che phủ Tốt hơn cả là áp dụng hệ thống canh tác tổng hợp Nguyên tắc chung là tạo ra tán là che phủ đất để giảm tác động của mưa, dòng chảy và giản lượng đất mất, ngoài ra còn làm tăng năng suất cây trồng Trong các hệ thống canh tác thì hệ thống kết hợp cây ngô với cây họ đậu là tốt nhất, vừa cho năng suất, thu nhập cao, sản phẩm tồn dư có thể dùng che phủ đất hoặc làm thức ăn gia súc
Những nghiên cứu ở vùng đất dốc của Batumarta (Nam Sumatra) cho thấy một hệ thống canh tác gồm cây lương thực, cây lâu năm và động vật nhai lại cho lợi nhuận cao nhất vào năm thứ 3 Chăn nuôi đóng góp 24% vào thu
Trang 29nhập của nông dân Đất càng dốc thì càng phải trồng nhiều cây lâu năm Quy luật chung là cây hàng năm có thể trồng ở độ dốc <250
c
Quản lý sử dụng đất dốc ở Philippin
Trồng cây theo đường đồng mức là hệ thống để hạn chế xói mòn đã trở nên phổ biến ở Philippin Hệ thống này liên quan tới việc trồng cây làm băng chắn theo đường đồng mức và trồng cây lương thực ngắn ngày (ngô, lúa nương, đậu đỗ và rau…) vào giữa các băng Băng chắn rộng khoảng 1m chống xói mòn hiệu quả cũng như giữ gìn, phục hòi sức sản xuất của đất cây trồng làm băng chắn cũng có thể là đậu tương có khả năng cố định đạm, thời gian sinh trưởng ngắn, cỏ cũng được làm băng chắn kết hợp với chăn nuôi gia súc trong hệ thống canh tác, có thể trồng cây lấy gỗ và củi, giải quyết chất đốt cho nông dân [26]
Quản lý, sử dụng đất dốc ở Thái Lan
Những vấn đề trong quản lý đất ở vùng đồi Thái Lan (Krishnamra):
- Củng cố chương trình quy hoạch sử dụng đất với sự nhấn mạnh đặc biệt vào trồng mới rừng và quy hoạch bảo vệ nông trại
- Biện pháp bảo vệ đất và quản lý đất phải phù hợp với điều kiện địa phương
- Phát triển kỹ thuật để cải tạo đất có vấn đề
- Củng cố chương trình bảo vệ đất và quản lý đào tạo cán bộ khuyến nông và chuyển giao kỹ thuật cho nông dân
- Chú ý đến công tác nghiên cứu để kết quả đạt được sẽ dùng làm cơ sở cho quy hoạch cải tạo đất
- Tăng khả năng đầu tư của Chính phủ đối với kỹ thuật và giúp đỡ tài chính cho trình diễn đồng ruộng để cung cấp những dịch vụ cần cho người dân trong việc bảo vệ đất
Trang 30Thái Lan trong điều kiện sản xuất thiếu nước , đã chuyển từ công thức độc canh Lúa Xuân – Lúa Mùa hiệu quả thấp vì chi phí tiền nước quá cao cộng thêm do độc canh lúa đã ảnh hưởng xấu đến độ phì của đất sang công thức Đậu tương- Lúa Mùa đã làm cho tổng sản phẩm tăng gấp đôi, độ phì của đất tăng rõ rệt Kết quả mang lại thành tựu mới trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Tại Việt Nam
Trong những năng qua, Việt Nam đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề
kỹ thuật, kinh tế & tổ chức trong sử dụng đất nông – lâm nghiệp [15], việc nghiên cứu và ứng dụng tập trung vào các vấn đề như: lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến: Nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1993) [8] Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 1995) [21]
Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng ĐBSH (Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà, 1991) [12], hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn-tỉnh Hải Hưng (Vũ Thị Bình, 1993) [1]
Lê Hồng Sơn (1996) [14] với nghiên cứu “ Ứng dụng kết quả đánh giá đất vào đa dạng hóa cây trồng đồng bằng sông Hồng” đã xác định và đề xuất các hệ thống cây trồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền cho 100.000 ha đất bãi ven sông vùng đồng bằng sông Hồng
Nguyễn Đình Bồng (1995) [2] đã vận dụng phương pháp đánh giá đất thích hợp của FAO để đánh giá tiềm năng sản xuất nông lâm nghiệp cho đất trống đồi núi trọc ở Tuyên Quang Kết quả đánh giá xác định và đề xuất 153
Trang 31172 ha đất trồng đồi núi trọc có khả năng sử dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp Việc khai thác diện tích đất trống đồi núi trọc này có ý nghĩa rất lớn
về mặt kinh tế và bảo vệ môi trường
Nguyễn Văn Nhân (1996) [13] đã ứng dụng kỹ thuật GIS vào việc đánh giá đất thích hợp của FAO trên phạm vi toàn vùng (ĐBSCL) với diện tích 3,9 triệu ha Kết quả đánh giá đã xác định được 25 loại hình sử dụng đất nông nghiệp, 3 loại hình sử dụng đất lâm nghiệp và 1 loại hình thủy sản, phân lập được 57 hệ thống sử dụng đất trên 6 tiểu vùng đại diện chính, lựa chọn được
12 loại hình sử dụng đát có triển vọng cho vùng
Tại vùng Đông Nam Bộ: Các công trình nghiên cứu của Phạm Quang Khánh, Trần Anh Phong, Vũ Cao Thái (1994), kết quả cho thấy 7 loại hình sử dụng đất chính, 49 loại hình sử dụng đất chi tiết với 94 hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp, trong đó 50 hệ thống sử dụng đất được lựa chọn [10], [11]
Vùng tây Nguyên: Năm 1989 Vũ Cao Thái [16] đã lần đầu tiên thử nghiệm và đánh giá sử dụng đất thích hợp cho cây trồng cà phê, cao su, chè, dâu tằm trên cơ sở vận dụng phương pháp đánh giá đất của FAO đề đánh giá, định tính và khái quát tiềm năng đất Từ kết quả nghiên cứu tác giả đưa
ra những tiêu chuẩn đánh giá, phân hạng cho từng loại cây trồng Tuy nhiên các chỉ tiêu thiên về tính thổ nhưỡng mà chưa đề cập đến yếu tố sinh thái và
xã hội
Các nghiên cứu của Nguyễn Khang, Phạm Ưng Vương, Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyên (1995) đã xác định Tây Nguyên có 3 vùng, 18 tiểu vùng, 54 đơn vị sinh thái nông nghiệp và 195 đơn vị đất đai Trên bản đồ hiện trnagj sử dụng đất tỷ lệ 1/250.000 cho thất Tây Nguyên có 5
hệ thống sử dụng đất chính và 29 loại hình sử dụng đất hiện tại Tiến hành phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, hiệu quả môi trường, mối quan hệ các loại
Trang 32hình sử dụng đất với tiềm năng phát triển nông nghiệp của vùng và các mục tiêu của cả xã hội đã xác định được các loại hình sử dụng đất sau đây thỏa mãn yêu cầu đó là: lúa nước hai vụ có tưới, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngàu, điều, đồng cỏ chăn nuôi, cà phê, chè, tiêu, cao su và cây dâu tằm [8] [9]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Quý, Nguyễn Thị Lan, Trịnh Xuân Ngọ (2001), về một số giải pháp hoàn thiệ hệ thống canh tác tại vùng đất dốc tỉnh Dak Lak cho thấy: các hệ thống canh tác trên đất dốc theo hướng đa dạng hóa cây trồng (xen cây cà phê, cao su với họ đâu, lạc hoặc lúa xen cây họ đậu) đã đem lại hiệu quả là môi trường đất được cải tạo Đât
có độ dốc từ 6-150
và >150 không nên trồng lúa cạn mà chỉ nên trồng cây cao su, cà phê hoặc xen cà phê và cao su với đậu đỗ kết hợp việc tạo ra đường đồng mức chống xói mòn [18]
Những tiêu chí và chỉ tiêu cơ bản để đánh giá đối với hệ thống sử dụng đất dốc ở Việt Nam
Hiện nay để đánh giá sử dụng đất bền vững mới chỉ có các tiêu chí manh tính khuôn khổ chung cho một đơn vị địa lý – nhân văn rộng, cho nên đối với mỗi nước, mõi kiểu sử dụng đất cần có các tiêu chí riêng và chỉ tiêu cụ thể Để tiến một bước trong việc cụ thể hóa tăng độ bền vững trong sử dụng đất dốc , căn cứ vào khung đánh giá tính bền vững chung, các nhà khoa học đất của Việt Nam đã đề nghị sử dụng các tiêu chí và chỉ tiêu chủ yếu sau đây đối với đất đồi núi Việt Nam [12]
Trang 33Bảng 1.1: Tiêu chuẩn đánh giá bền vững đất đồi núi
I Hiệu quả kinh tế 1.1 Trên mức bình quân của vùng
1 Năng suất cao 1.2 Năng suất tăng dần
2 Chất lượng tốt 2.1 Đạt tiêu chuẩn sản phẩm tiêu thụ tại địa
phương và xuất khẩu
3 Giá trị sản xuất trên đơn vị
diện tích cao
3.1 Trên mức trung bình của các hệ thống SDĐ của địa phương
3.2 Giá trị lợi ích/chi phí (B/c>1,5)
4 Giảm rủi ro:
- Về mặt sản xuất 4.1 Ít mất trắng do thiên tai, sâu bệnh
-Về mặt thị trường 4.2 Có thị trường ổn định>7 năm, dễ bảo quản
vận chuyển
II Hiệu quả xã hội
1 Đáp ứng nhu cầu nông hộ 1.1 Nông hộ có đủ lương thực do sản xuất hoặc
tạo ra nguồn tiền để mua
-Về lương thực thực phẩm 1.2 Bảo đảm được thực phẩm cân đối dinh
dưỡng
-Về tiền mặt, nhu cầu khác:
củi, gỗ
1.3 Sản phẩm bán được có thu nhập thường xuyên
1.4 Đủ chất đốt hoặc nhu cầu thường xuyên khác
2 Phù hợp với năng lực nông
-Về đất đai 2.2 Phù hợp với lao động trong hộ hoặc thuê
tại địa phương
Trang 34-Về nhân lực 2.3 Không phải vay lãi cao
-Về vốn 2.4 Phát huy được tri thức bản địa, kỹ năng
nông dân, nông hộ tự làm nếu được tập huấn -Về kỹ thuật
3 Tăng cường khả năng
người dân tham gia
3.1 Tham gia mọi khâu kế hoạch
5 Phù hợp với luật hiến pháp
hiện hành 5.1 Phù hợp với luật đất đai và các luật khác
6 Được cộng đồng chấp nhận 6.1 Phù hợp với văn hóa dân tộc
6.2 Phù hợp với tập quán địa phương
III Hiệu quả về môi trường 1.1 Xói mòn dưới mức cho phép
1 Giảm thiểu xói mòn, thoái
hóa đất
1.2 Độ phì nhiêu của đất được duy trì hoặc cải thiện
1.3 Trả lại tàn dư hữu cơ ở mức có thể
2 Tăng độ che phủ đất 2.1 Độ che phủ đạt >35% quanh năm
3 Bảo vệ nguồn nước 3.1 Duy trì và tăng nguồn sinh thủy
3.2 Không gây ô nhiễm nguồn nước
4 Nâng cao đa dạng sinh học
của hệ sinh thái tự nhiên
4.1 Duy trì số loài động thực vật cao nhất 4.2 Khai thác tối đa các loài bản địa 4.3 Bảo tồn và làm phong phú quỹ gen
(Nguồn: Thái Phiên (2000), Đất Việt Nam-Hội khoa học đất, tr 375) [12]
Trang 35CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Đam Rông nằm về phía Tây bắc của tỉnh Lâm Đồng có diện tích
tự nhiên 86.089,92 ha, dân số 42.536 người, trong đó đồng bào dân tộc chiếm 88,6% Huyện được thành lập ngày 30/12/2004 theo Nghị định 189/NĐ-CP ngày 17/11/2004 của Chính phủ Đây là huyện khó khăn nhất của tỉnh Lâm Đồng: huyện có 8/8 xã đặc biệt khó khăn là Đạ K‟Nàng, Phi Liêng, Liêng SRônh, Đạ RSal, Rô Men, Đạ M‟rông, Đạ Tông, Đạ Long
- Phía đông giáp huyện Lạc Dương
- Phía tây giáp huyện Đắk Glong - tỉnh Đắk Nông
- Phía nam giáp huyện Lâm Hà
- Phía bắc giáp huyện Lắk - tỉnh Đắk Lắk
2.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn:
Khí hậu huyện Đam Rông mang đặc trưng của vùng chuyển tiếp từ khí hậu nhiệt đới vùng núi cao mát lạnh quanh năm xuống vùng khí hậu nhiệt đới núi thấp nằm sâu trong nội địa, phân hoá khá rõ thành 2 tiểu vùng:
Tiểu vùng phía Nam: với đại diện là khu vực Phi Liêng, Đạ K‟Nàng
và các dãy núi giáp Lạc Dương: Khí hậu mát và ôn hoà quanh năm, nhiệt độ trung bình từ 20,5 21,5oC, thích hợp với các loại cây trồng xứ lạnh (rau, hoa…) và cà phê Lượng mưa khá 1.600 – 1.700 mm/năm, mùa mưa đến sớm
và dài, lượng bốc hơi thấp
Tiểu vùng phía Bắc: Nhiệt độ trung bình khoảng 22 – 23oC thích hợp với các loại cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới, lượng mưa khá 1.600 – 1.700
Trang 36mm/năm, mùa mưa khá dài và thường bắt đầu muộn hơn vùng phía nam khoảng 10-20 ngày
2.1.1.3 Đặc điểm địa hình
Địa hình huyện Đam Rông có hướng thấp dần từ phía Nam và tây Nam xuống phía Bắc và Đông Bắc, có thể phân thành 3 dạng địa hình: núi cao, đồi thấp, thung lũng
- Địa hình núi cao có diện tích khoảng 63.400 ha, chiếm 73,4% tổng diện tích toàn huyện phân bố ở theo hình cánh cung từ phía Nam kéo sang đông Bắc và Tây Bắc, độ cao phổ biến từ 1.000-1.300m, các đỉnh cao nhất ở phía Nam có độ cao từ 1.800-1.900 m, các đỉnh phía bắc có độ cao từ 1.300-1.400 m Với địa hình như vậy rất khó khăn trong sản suất, canh tác, phần lớn chủ yếu là rừng bao phủ
- Địa hình đồi thấp: Diện tích 18.000 ha, chiếm 20,8% tổng diện tích toàn huyện, phân bố tập trung ở khu vực giữa và phía bắc của huyện, độ cao trung bình từ 600-700 m, độ dốc khá lớn, đa phần thích hợp với phát triển lâm nghiệp và nông lâm kết hợp
- Địa hình thung lũng: Diện tích 5.000ha, chiếm 5,8% tổng diện tích tự nhiên, phân bố tương đối tập trung ở khu vực phía Đông Bắc (ven sông Sêrêpốc) và phân tán trong vùng núi và vùng đồi Khu vực Phi Liêng, Đạ
K„Nàng có độ cao trung bình từ 900-1.000m, khu vực phía Bắc (giáp Đắc Lắc) có cao độ từ 500 – 600m Do ít dốc nên khá thích hợp cho phát triển nông nghiệp
Do có sự nâng lên nhanh chóng về độ cao với nhiều đứt gẫy nên địa hình của huyện khá hiểm trở, gây tốn kém cho xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là với các tuyến nối Huyện với trung tâm Tỉnh và các địa phương khác trong Tỉnh Tuy nhiên do có nhiều thác ghềnh và có nhiều vị trí thuận lợi cho xây dựng hồ đập nên có thể phát huy vào xây dựng nhiều công trình thủy lợi kết
Trang 37hợp với thủy điện nhỏ và vừa
2.1.1.4 Tài nguyên đất đai
Theo bản đồ đất tỉnh Lâm Đồng tỷ lệ 1/100.000 và kết quả điều tra bổ sung năm 2005, huyện Đam Rông có 7 loại đất chính với diện tích nhƣ sau:
Bảng 2.1: Cơ cấu diện tích các loại đất huyện Đam Rông
2 Đất xám rất chua, sỏi sạn nông X 625 0,73
3 Đất vàng đỏ trên đá Mac ma Axit Fa 36.910 42,87
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đam Rông)
So với các huyện khác trong tỉnh thì điều kiện đất của huyện có nhiều hạn chế về độ phì nhiêu và độ dốc
Về độ phì nhiêu: Nhìn chung độ phì không cao, đại bộ phận diện tích
có thành phần cơ giới nhẹ, các loại đất đã sử dụng đều có biểu hiện bạc màu, đặc biệt là các loại đất có địa hình cao trồng hoa màu ở Đạ Rsal, Đạ Tông … Các loại đất ở đây có phản ứng chua pHKCl từ 4,0 - 4,8, tỷ lệ mùn từ 1,2 – 1,8% Các chỉ tiêu tổng số từ nghèo đến ít nghèo Các chỉ tiêu dẽ tiêu đều nghèo Các loại đất đồi núi có độ phì nhiêu khá hơn: Độ chua từ 4,5 – 5,8, tỷ
Trang 38lệ mùn từ 1,5 – 2,5%, các chất tổng số và dễ tiêu có trị số từ trung bình đến
khá Đất đai các xã Đạ Knàng, Phi Liêng có độ phì nhiêu khá hơn các xã khác
trong huyện Cần đặc biệt chú trọng biện pháp bảo vệ đất và nâng cao độ phì
nhiêu trong quá trình sử dụng và mục đích nông nghiệp
Về độ dốc: Có tới 48,6% diện tích có độ dốc > 25o; 27,24% diện tích
có độ dốc từ 20 - 25o; 9,33% diện tích có độ dốc từ 15 – 20o
chỉ có khoảng 13,31% diện tích có độ dốc < 15o
Về tầng dày: Có 38,72% diện tích có tầng dày >100 cm; 12,2% diện
tích có tầng dày 70 - 100 cm; 13,4% diện tích có tầng dày 50-70 cm, có tới
29,84% diện tích có tầng dày 30-50 cm
Tuy vậy, do các loại đất thích hợp với phát triển nông nghiệp phân bố
khá tập trung (tuy không thành các vùng chuyên canh rộng lớn như các huyện
khác trong tỉnh) nên vẫn thuận lợi cho tổ chức sản xuất
2.1.1.5 Hiện trạng đất đai và tài nguyên Rừng
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Đam Rông là: 86.089,92 ha (hiện
nay đang lập hồ sơ điều chỉnh 298,1 ha của xã Đạ Long, huyện Đam Rông sang
xã Đưng K‟Nớ, huyện Lạc Dương; điều chỉnh 1.017 ha từ xã Phúc Thọ huyện
Lâm Hà sang xã Đạ K‟Nàng huyện Đam Rông; như vậy tổng diện tích tự nhiên
huyện Đam Rông dự kiến tăng lên thành: 86.808,82ha)
Trong đó diện tích đất lâm nghiệp là: 65.296 ha chiếm 75,84% tổng diện
tích tự nhiên Theo quy hoạch phân cấp 3 loại rừng được điều chỉnh tại quyết
định số: 450/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng thì trong tổng diện tích đất
lâm nghiệp của huyện Đam Rông bao gồm 3 loại đất như sau:
Trang 39huyện Đam Rông chiếm một tỉ lệ rất lớn như vậy đồng nghĩa với việc phát triển
ngành lâm nghiệp là một tiềm năng rất lớn
2.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội
2.1.2.1 Dân số và lao động
Đam Rông có 8 đơn vị hành chính cấp xã (hiện nay chưa có thị trấn), đây
là huyện vùng sâu, xa, huyện đặc biệt khó khăn trong 61 huyện nghèo của cả
nước Dân số toàn huyện là 42.536 người, trong đó số người trong độ tuổi lao
động là 22.132 người Số lao động trong ngành nông lâm nghiệp là 20.200
người
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức ngành Lâm nghiệp của huyện Đam Rông
Có 2 ban quản lý rừng: BQLR phòng hộ Sê Rê Pốk quản lý 53.770 ha
và BQLR phòng hộ Phi Liêng quản lý 11.526 ha Các ban quản lý rừng đều
trực thuộc UBND huyện Đam Rông, bên cạnh đó còn có Ban quản lý dự án
phát triển lâm nghiệp huyện Đam Rông trực thuộc BQLDA phát triển lâm
nghiệp tỉnh Lâm Đồng (viết tắt là FLITCH), mục tiêu chính của Ban
QLDAPT Lâm nghiệp là:
Giảm tỷ lệ hộ nghèo đói, thu hẹp khoảng cách về thu nhập của các hộ
nghèo so với hộ gia đình trung bình ở những địa bàn phải sống dựa vào rừng
của 6 tỉnh vùng dự án, trong đó đặc biệt quan tâm đến cộng đồng dân tộc
thiểu số
Tăng cường năng lực quản lý, sử dụng rừng và đất rừng trong vùng dự
án, đặc biệt năng lực quản lý và kỹ năng sản xuất lâm nghiệp cho cộng đồng
và hộ gia đình
2.1.2.3 Giao thông và cơ sở hạ tầng:
Hệ thống cơ sở hạ tầng của huyện Đam Rông đang được từng bước
phát triển mạnh mẽ, trên địa bàn huyện có 1 đường quốc lộ (QL27) đi qua 5
Trang 40xã nối liền TP Đà Lạt với các tỉnh Tây Nguyên, 1 đường tỉnh lộ (TL72) từ TP
Đà Lạt xuống 3 xã phía bắc của huyện Ngoài ra còn có các tuyến đường liên
xã đã được trải nhựa hoặc đang được bê tông hóa 8/8 xã đều có diện lưới quốc
gia và mạng intenet, sóng điện thoại
2.1.2.4 Văn hóa - giáo dục
Năm học 2014-2015, toàn huyện có 35 đơn vị trường học với 15.209
học sinh Có 03 trung tâm giáo dục và đào tạo (Trung tâm Bồi dưỡng chính
trị, Trung tâm dạy nghề, Trung tâm Giáo dục thường xuyên và kỹ thuật tổng
hợp hướng nghiệp) Cán bộ, công nhân viên ngành giáo dục năm học
2014-2015 về cơ bản đáp ứng nhu cầu giáo dục và đào tạo của địa phương, toàn
ngành có 1.087 cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong đó: Mầm non 234
người, Tiểu học 520 người, THCS 333 người
2.1.2.5 Thu nhập và đời sống: (theo báo cáo kinh tế xã hội năm 2015)
- Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 18,1%; cơ cấu kinh tế: ngành nông - lâm
- thủy 63,2%; công nghiệp - xây dựng 11,5%; dịch vụ - thương mại 25,3%
- GDP bình quân đầu người đạt 18,6 triệu đồng/năm, đạt 102,3% KH,
- Số hộ nghèo còn 1.405 hộ, chiếm tỷ lệ 19,17%, giảm 12,02% so với
đầu năm, trong đó hộ nghèo là người đồng bào DTTS 980 hộ, chiếm tỷ lệ
70%, giảm 14,6% so với đầu năm 2014
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp lựa chọn địa điểm nghiên cứu
Chọn 6 doanh nghiệp (30% trong tổng số các doanh nghiệp đang thực
hiện thuê đất) tại hai tiểu vùng, tiểu vùng phía bắc và tiểu vùng phía nam của