1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa tỉnh đồng nai (1998 2018)

149 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT NGUYỄN TRẦN KIỆT BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TỈNH ĐỒNG NAI 1998 - 2018 CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM MÃ SỐ : 8229013 LU

Trang 1

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

NGUYỄN TRẦN KIỆT

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TỈNH ĐỒNG NAI

Trang 2

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

NGUYỄN TRẦN KIỆT

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TỈNH ĐỒNG NAI

(1998 - 2018)

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM

MÃ SỐ : 8229013

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN VĂN THỦY

BÌNH DƯƠNG - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình nghiên cứu tổnghợp thật sự nghiêm túc của bản thân Các luận cứ nghiên cứu, dữ liệu, hình ảnhtrong luận văn là chính xác và trung thực

Bình Dương, ngày tháng 10 năm 2020

Người viết luận văn

Nguyễn Trần Kiệt

3

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệuTrường Đại học Thủ Dầu Một, Viện đào tạo Sau Đại học, quý thầy cô Chươngtrình đào tạo sau đại học ngành Lịch sử Việt Nam, Khoa Khoa học Xã hội &Nhân văn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình họctập và hoàn thành luận văn tại trường

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Thủy - người thầy đãtận tình hướng dẫn cho tôi trong học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Tôi xin kính gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn

đã dành thời gian, đóng góp ý kiến quý báu để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý lãnh đạo cơ quan Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch Đồng Nai, Bảo tàng Đồng Nai tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa họcnày./

Trang 5

Chương 2: Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh ĐồngNai từ năm 1998 đến năm 2018.

Trình bày một cách hệ thống về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị disản văn hóa của tỉnh Đồng Nai qua hai mươi năm (1998 - 2018)

Chương 3 Những đánh giá và một số kinh nghiệm rút từ hoạt động bảo tồn

và phát huy các giá trị di sản văn hóa tỉnh Đồng Nai từ năm 1998 đến năm 2018

Trên cơ sở đánh giá về những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, sẽ tổngkết kinh nghiệm góp phần cung cấp thêm những căn cứ giúp cho chính quyền vàcác cơ quan quản lý văn hóa có những kinh nghiệm, giải pháp nâng cao chấtlượng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Đồng Nai trong giaiđoạn tiếp theo Luận văn còn có phần tài liệu tham khảo với 64 danh mục; có 06phần phụ lục, gồm: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai; Danh mục một số văn bản

quản lý nhà nước của tỉnh Đồng Nai về di sản văn hóa; Danh sách các loại hình di

tích đã xếp hạng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tình (đến tháng 12/2019); Danh mục

và lộ trình xếp hạng di tích trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn (2011 - 2020);Tổng hợp nguồn kinh phí trùng tu, tôn tạo di tích tỉnh Đồng Nai giai đoạn (1998 -2018); Một số hình ảnh về di sản văn hóa và hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di

sản văn hóa ở Đồng Nai.

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nội dung

GRDP Tổng giá trị sản phẩm địa phương

KCN Khu công nghiệp

TNK Thiên niên kỷ

Tr.CN Trước Công nguyên

USD United States dollar

DWT Deadweight tonnage (đơn vị đo năng lực vận tải an toàn của

tàu tính bằng tấnUNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural

Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc )

ICOMMOS International Council on Monuments and Sites (Trung tâm

Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn và Trùng tu di sản văn hóa)ICCROM International Council On Monuments and Sites (Hội đồng

quốc tế về Di tích và Di chỉ)SPSS Statistical Package for the Social Sciences

XHCN Xã hội chủ nghĩa

CNXH Chủ nghĩa xã hội

UBND Ủy ban nhân dân

AHLLVTND Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

THPT Trung học phổ thông

DSVH Di sản văn hóa

DANH MỤC BẢNG

Trang 8

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Biểu đồ 1 Tổng giá trị sản phẩm địa phương(GRDP) tỉnh Đồng Nai các năm

2010, 2015 và 2018 ? 15

Trang 9

Mục lục

1.1 B ẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA Ở Đ ỒNG N AI GIAI ĐOẠN

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế giao lưu hội nhập thế giới, tranh thủ mọi nguồn lực thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đếnviệc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc xem đây là một vấn đềcấp thiết nhằm gìn giữ và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc, để thực hiện hội nhập

mà không bị hòa tan Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa khôngchỉ dừng lại ở việc tôn vinh bản sắc văn hóa của dân tộc mình mà phải hướng tớimục tiêu di sản văn hóa là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, là động lựcnội sinh, điểm tựa quan trọng của sự phát triển bền vững đất nước

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóaVIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc

dân tộc đã xác định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc,

là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể” [14:54].

Tỉnh Đồng Nai với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển, theo dòngthời gian, cộng đồng các dân tộc trong tỉnh đã kiến tạo một kho tàng di sản vănhóa vô cùng phong phú, đa dạng và mang nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

Di sản văn hóa biểu hiện ở dạng vật thể thông qua các di tích lịch sử, văn hóa,danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật; biểu hiện ở dạng phi vật thể thông phong tụctập quán, tín ngưỡng lễ hội, ẩm thực, những kinh nghiệm, tri thức dân gian, làngnghề truyền thống, bí quyết nghề Tất cả các giá trị di sản văn hóa truyền thống,hiện đại tồn tại đan xen tạo nên đặc trưng văn hóa riêng của vùng đất này và làminh chứng cho sự sáng tạo, phát triển văn hóa của biết bao thế hệ người ĐồngNai

Từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Đồng

Trang 11

Nai luôn được các cấp Đảng, chính quyền và nhân dân quan tâm tạo điều kiệnthực hiện nhằm khơi dậy mọi tiềm năng văn hóa xem như là một nguồn lực nộisinh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Đến nay toàn tỉnh đãđạt được nhiều thành tựu trong hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ởnhững quy mô khác nhau Nhiều di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng đã được côngnhận xếp hạng, trùng tu, tôn tạo; hàng ngàn cổ vật, di vật có giá trị đã được bảovệ Các lễ hội truyền thống, diễn xướng, trò chơi dân gian, phong tục tập quán tốtđẹp đã được phục hồi và phát triển Các giá trị di sản văn hóa được phát huy dầntrở thành nguồn tài nguyên hữu ích, có vị trí quan trọng trong quy hoạch phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội của Đồng Nai Những thành tựu đạt được trong công tácbảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa ở Đồng Nai đã khẳng định tính đúngđắn trong đường lối phát triển văn hóa của Đảng và sự quyết tâm của các cấpchính quyền và nhân dân trong công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiêntiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Tuy đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, nhưng trong công tác bảotồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Đồng Nai còn những hạn chế: Tình trạng ditích xuống cấp, bị xâm hại, mất cắp cổ vật, di vật, hạn chế về diện tích nên việc tổchức các hoạt động văn hóa tại di tích gặp khó khăn Công tác quản lý và tổ chức

lễ hội ở các địa phương còn mang tính tự phát, chưa thực hiện tốt nếp sống vănminh; hoạt động của các làng nghề gặp nhiều khó khăn; nhiều yếu tố di sản vănhóa phi vật thể ngày càng mai một Công tác phát huy các giá trị di sản văn hóahướng đến phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục truyền thống chưa thực

sự hiệu quả Nguồn lực đầu tư cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sảnvăn hóa còn hạn chế so với nhu cầu thực tế Một số địa phương còn chưa thực sựquan tâm đúng mức công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; độingũ cán bộ quản lý nhà nước về lĩnh vực di sản văn hóa còn chưa đáp ứng yêu cầuthực tiễn Hiện trạng này khiến cho môi trường văn hóa xã hội nói chung và côngbảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa nói riêng kém lành mạnh, bền vững,chưa tương xứng với giá trị, tầm vóc của hệ thống di sản văn hóa trong tỉnh Đó lànhững thách thức đặt ra trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

11

Trang 12

của tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn tiếp theo.

Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nào mang tính hệ thống,nghiên cứu toàn diện về vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa ĐồngNai, từ đó đưa ra những đánh giá, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn phục vụ cho côngtác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Đồng Nai trong giai đoạn tiếp

theo Với những lý do trên tôi chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa tỉnh Đồng Nai (1998 - 2018)” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ

chuyên ngành lịch sử Việt Nam

• Tổng kết kinh nghiệm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tácbảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Đồng Nai trong giai đoạn tiếp theo

3

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa phục vụ cho sự pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước hay của từng địa phương không phải làmột vấn đề mới Trong tiến trình lịch sử nghiên cứu vấn đề liên quan đến bảo tồn

và phát huy các giá trị di sản văn hóa đã nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu triểnkhai thực hiện

3.1 Tình hình nghiên cứu chung

Tác giả Hoàng Vinh trong cuốn sách “Một số vấn đề bảo tồn phát triển di

sản văn hóa dân tộc”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội xuất bản năm

1997 đã nêu ra tính cấp thiết của việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộctrước sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tác giả Ngô Đức Thịnh (cb),(2010) trong cuốn sách “Bảo tồn, làm giàu và

12

Trang 13

phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập”

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội đã đề cập phân tích về các giá trị văn hóa truyềnthống tiêu biểu của Việt Nam qua đó đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và pháthuy các giá trị văn hóa truyền thống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế

Tác giả Nguyễn Chí Bền (2010) có công trình “Bảo tồn và phát huy giá trị

di sản văn hoá phi vật thể ở Thăng Long”, nghiên cứu về công tác bảo tồn, phát

huy giá trị di sản vật thể và phi vật thể ở Hà Nội dựa trên các kinh nghiệm, quanđiểm, lý thuyết bảo tồn của nước ngoài Đây là nguồn tư liệu quý cho Việt Namtrong vấn đề quản lý, bảo vệ di sản Các quan điểm này có thể vận dụng để giảiquyết vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai

Tác giả Nguyễn Thịnh trong cuốn sách “Di sản văn hóa Việt Nam bản sắc

và những vấn đề về quản lý, bảo tồn” xuất bản năm 2012 đã đưa ra góc nhìn toàn

diện về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam; giúp nhậndiện, phân loại, quản lý di sản văn hóa một cách hiệu quả góp phần gìn giữ, pháttriển các giá trị di sản văn hóa trong xu thế hội nhập quốc tế

Tác giả Nguyễn Kim Loan chủ biên trong cuốn sách “Bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa Việt Nam” xuất bản năm 2014 đã nêu ra những khái niệm, đặc

trưng, tiêu chí phân loại di sản văn hóa, đánh giá về vai trò di sản văn hóa trongphát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tác giả đi sâu phân tích những quan điểm củaĐảng và Nhà nước về nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Thị Kim Ninh (2018) “Đảng bộ thành phố

Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014” đã nêu khá rõ những yếu tố tác động đến công tác bảo

tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời nêulên vấn đề nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ: Bảo tồn và phát triển; pháttriển kinh tế gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, tạo động lựccho sự phát triển bền vững của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tiếp theo

Trong bài “Thực trạng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam”,

Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 4(89) - 2015 Tác giả Đặng Thị Tuyết đã

13

Trang 14

phân tích thực trạng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam; đưa ra cácgiải pháp nâng cao chất lượng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam hiệnnay.

3.2 Tình hình nghiên cứu tại Đồng Nai

Nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai đến nay

đã có nhiều cuốn sách, bài viết của các tác giả đề cập đến vấn đề bảo tồn và pháthuy các giá trị di sản văn hóa

Trước năm 1975, nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu đã biên soạn bộ “Biên

Hòa sử lược toàn biên ” nội dung giới thiệu về vùng đất, con người Biên Hòa

-Đồng Nai sau gần ba thế kỷ hình thành và phát triển Luận án Phó Tiến sĩ của tác

giả Huỳnh Văn Tới năm (1996) với đề tài “Những sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng

dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai”, tác giả đã nêu lên nguồn gốc và nhân tố

hợp thành tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt Trong cuốn sách “Bản sắc dân tộc

và văn hóa Đồng Nai” xuất bản năm 1999, tác giả Huỳnh Văn Tới cũng đề cập tới

những giá trị văn hóa làm nên bản sắc văn hóa Đồng Nai, đồng thời phác thảo khá

rõ nét về phong tục, tập quán, lễ hội của cộng đồng các tộc người tỉnh Đồng Nai,qua đó tác giả cũng đánh giá được thực trạng và giải pháp bảo tồn phát huy giá trịcác di sản trong bối cảnh hội nhập

Ban Chỉ đạo Địa chí tỉnh Đồng Nai xuất bản bộ “Địa chí Đồng Nai” năm

2001, gồm 5 tập (tổng quan, địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa), trong đó tập 5nghiên cứu khá đầy đủ về diện mạo văn hóa - xã hội tỉnh Đồng Nai qua các thờikỳ

Tác giả Trần Quang Toại (cb),(2004) trong cuốn sách “Đồng Nai di tích

lịch sử văn hóa”, đã giới thiệu một cách khái quát về giá trị văn hóa, lịch sử của

các di tích được xếp hạng cấp Quốc gia trong tỉnh Đồng Nai; các bài viết đã đặt ravấn đề bảo tồn, phát huy giá trị các di tích tỉnh Đồng Nai trong thời kỳ mới

Ban Quản lý Di tích - danh thắng Đồng Nai (2007) thực hiện đề tài “Di

tích - Danh thắng Đồng Nai với việc phát triển văn hóa du lịch”, đã nghiên cứu

những giá trị lịch sử, văn hóa của di tích - danh thắng tiêu biểu ở Đồng Nai đểphục vụ cho phát triển văn hóa du lịch

14

Trang 15

Tác giả Nguyễn Thị Nguyệt (2010) thực hiện cuốn sách “Văn hóa - văn vậtĐồng Nai” đã giới thiệu một cách tổng quan văn hóa, văn vật Đồng Nai trên cáclĩnh vực văn hóa khảo cổ, văn hóa qua hiện vật, di vật, sinh hoạt truyền thống,trang phục, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội của các tộc người ở ĐồngNai.

Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Xuân Hậu (2013) “Di sản văn hóa với

phát triển du lịch tại Đồng Nai” Trong nội dung luận văn tác giả đã phân tích mối

quan hệ giữa di sản văn hóa và du lịch, đánh giá vai trò của những giá trị di sảnvăn hóa đặc thù có thể khai thác góp phần phát triển du lịch tại Đồng Nai, thôngqua đó nêu lên một số giải pháp định hướng phát triển du lịch trong giai đoạn tớitrong mối gắn kết chặt chẽ giữa văn hóa và du lịch, lấy di sản văn hóa làm nguồnlực trọng tâm, nền tảng để phát triển du lịch tại địa phương

Ngoài ra còn một số bài viết đăng trên các tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, tạpchí Du lịch Việt Nam, tạp chí Di sản văn hóa, báo Đồng Nai, báo Sài Gòn GiảiPhóng, tập san Xúc tiến du lịch Đồng Nai, sổ tay du lịch Đồng Nai, internet giớithiệu về di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, lễ hội, hoạt động du lịch ởĐồng Nai Nội dung các bài báo cũng đặt ra các vấn đề Bảo tồn và phát huy cácgiá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai

Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học, tài liệu bước đầu đã cungcấp những thông tin hữu ích về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa lànhững tài liệu quý giá, gợi mở nhiều vấn đề quan trọng giúp cho quá trình thựchiện luận văn của chúng tôi được thuận lợi hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động bảo tồn và phát huy cácgiá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai giai đoạn (1998 - 2018)

* Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Từ năm 1998 đến năm 2018, với mốc phân chia là giai đoạntrước năm 1998 và giai đoạn (1998 - 2018); năm 1998 là thời điểm Đảng Cộngsản Việt Nam ra Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về "Xây dựng và phát triểnnền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", cũng là năm Tỉnh ủy

15

Trang 16

Đồng Nai ra chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóaVIII; năm 2018 là thời điểm cả nước tiến hành tổng kết 20 năm thực hiện Nghịquyết Trung ương 5 khóa VIII, trong đó có tỉnh Đồng Nai.

Về không gian: Hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóatrên toàn địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn (1998 - 2018)

Về nội dung: tổng hợp khái quát các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnhĐồng Nai cùng hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa (bao gồm:bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể; bảo tồn và phát huy giá trị di sảnvăn hóa phi vật thể); nhận xét, đánh giá và đúc kết kinh nghiệm từ hoạt động bảotồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai từ năm 1998 đến năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn sử liệu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng hai phương pháp chủ yếu là lịch

sử và logic nhằm phục dựng bức tranh chân thực về hoạt động bảo tồn và phát huygiá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai (1998 - 2018) Ngoài ra, còn sử dụng cácphương pháp điền dã, khảo sát đánh giá các loại hình di sản văn hóa, thống kê sốliệu từ các ban ngành chức năng của tỉnh: Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch, Bảotàng Đồng Nai, Trung tâm Xúc tiến Du lịch Đồng Nai, Phòng Văn hóa và Thôngtin, Ban Quản lý di tích cấp huyện để trình bày luận văn

Nguồn tư liệu được sử dụng trong đề tài này là: các sách, tạp chí, báo, viết

về lĩnh vực du lịch, văn hóa; báo cáo của ngành Văn hóa, Thể thao & Du lịchĐồng Nai Ngoài ra, còn nguồn tư liệu do chính tác giả điền dã khảo sát trực tiếptại các địa điểm có di sản văn hóa ở Đồng Nai

6 Đóng góp của luận văn

Đánh giá công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa; đánh giánhững thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, đúc kết bài học kinh ngiệm từ thực tiễn

có thể gợi mở cho các cấp chính quyền, các ban ngành chức năng liên quan những

cơ sở định hướng các chính sách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của côngtác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm góp phần phát triển kinh tế - xãhội tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

Kết quả của luận văn hy vọng cung cấp được lượng thông tin hữu ích về

16

Trang 17

vốn di sản văn hóa tại Đồng Nai đến đông đảo mọi người; luận văn có thể làm tàiliệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập và quản lý văn hóa củagiảng viên, sinh viên và cán bộ ngành văn hóa, du lịch.

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; luận văn đượcchia làm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về di sản văn hóa Đồng Nai.

Chương 2: Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh Đồng Nai từ năm 1998 đến năm 2018

Chương 3 Những đánh giá và một số kinh nghiệm rút ra từ tỉnh Đồng Nai từ năm 1998 đến năm 2018.

17

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DI SẢN VĂN HÓA ĐỒNG NAI 1.1 Vài nét về tỉnh Đồng Nai

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 5.862,37 km2 Địa giới hành chính Đồng Naitiếp giáp các tỉnh: Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng; phía TâyBắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; phíaTây giáp Thành Phố Hồ Chí Minh Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồmthành phố Biên Hòa, thành phố Long Khánh và 9 huyện: Long Thành, Nhơn Trạch, ThốngNhất, Vĩnh Cửu, Tân Phú, Định Quán, Trảng Bom, Xuân Lộc và Cẩm Mỹ [38:6] Ngày nay,tỉnh Đồng Nai có vị trí hết sức quan trọng, ở trung tâm Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam -vùng kinh tế năng động nhất cả nước, giữ vai trò trọng yếu trong vùng chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng

Đồng Nai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, cận xích đạo, gió mùa Thời tiết trongnăm chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng tháng 5 đến tháng 11 hàng năm và mùakhô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau; chế độ nắng, gió, mưa, nhiệt, ẩm ở tỉ lệ cao, ổnđịnh và phân bổ khá đồng đều giữa các vùng là điều kiện tốt cho sản xuất nông nghiệp, pháttriển công nghiệp và sinh hoạt văn hóa, du lịch của nhân dân

Về tài nguyên đất, Đồng Nai có 10 loại đất chính được chia thành 3 nhóm chủ yếutheo nguồn gốc hình thành: Nhóm đất hình thành trên đá bazan gồm đá bọt, đất đen, đất đỏ;nhóm đất hình thành trên nền phù sa cổ và đá phiến sét bao gồm đất xám, nâu xám ; nhómđất thủy thành bao gồm đất phù sa, đất gley, đất cát Nhìn chung, Đồng Nai có nhiều loại đất

có chất lượng tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như: cao su, cà phê, điều, đậu nành

Đồng Nai có mạng lưới sông, suối dày đặc (trên 40 sông suối lớn nhỏ) với diện tíchmặt nước khoảng 16.666 ha, chiếm tỷ lệ 2,8% diện tích tự nhiên Hệ thống sông, hồ, suối,thác không những là nguồn cung cấp nước cho tỉnh mà còn có giá trị khai thác thủy điện nhưThủy điện Trị An và đặc biệt là tiềm năng phát triển du lịch sông nước của tỉnh [38:7]

Tài nguyên rừng Đồng Nai còn tương đối phong phú, năm 2018 diện tích rừng củatỉnh là 177.939 hecta, độ che phủ 30,1%; trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 119.950 hecta

và diện tích rừng trồng là 57.989 hecta Thảm thực vật rừng ở Đồng Nai thuộc hệ sinh thái

Trang 19

rừng ẩm nhiệt đới gió mùa mưa nhiều với hệ thực vật, động vật đa dạng về chủng loài Cáckiểu rừng tự nhiên cơ bản có kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và kiểu rừng kínnửa rụng lá nhiệt đới ẩm [38:7,8].

Các loại khoáng sản của tỉnh Đồng Nai không nhiều, trữ lượng không lớn để pháttriển ngành công nghiệp khai khoáng có qui mô Riêng nguồn khoáng sản làm vật liệu xâydựng (đá, cát, sét, laterit, puzolan, kermzit) là thế mạnh của tỉnh, không những cung cấp đủphục vụ công nghiệp vật liệu xây dựng trong tỉnh mà còn cung cấp cho các tỉnh lân cận,trong đó các mỏ đá của Đồng Nai có trữ lượng lớn gần nửa tỷ m3 phân bố đều khắp cáchuyện Sét gạch ngói phân bố ở nhiều vùng trong tỉnh, có thể khai thác hàng triệu m3/năm.Cát xây dựng tập trung chủ yếu ở lòng sông Đồng Nai với trữ lượng khá lớn và hàng năm lạiđược bổ sung từ thượng nguồn[58]

Nhìn chung so với các tỉnh phía Nam, Đồng Nai là một tỉnh được tận hưởng ưu đãicủa thiên nhiên miền nhiệt đới, có cơ cấu quỹ đất phong phú thích hợp với các loại cây trồng

có giá trị kinh tế cao; khí hậu ôn hòa, hai mùa mưa nắng rõ rệt, ít có lốc và bão; có hệ thốngrừng tự nhiên dồi dào giá trị sinh thái, sinh cảnh; có hệ thống sông ngòi giàu tiềm lực thủynăng, tiện lợi cho giao thông cũng như cung cấp nước sinh hoạt nước và cho các loại hìnhkinh tế công - nông - lâm - ngư nghiệp và phát triển dịch vụ du lịch Vì vậy, trong tiến trìnhlịch sử Đồng Nai luôn là địa bàn hấp dẫn cho lưu dân tứ xứ, là vùng đất giao lưu, dung hợp,tiếp biến nhiều luồng văn hóa

1.1.2 Cư dân và lao động

Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vùng đất Đồng Nai trở nên sôi động với sự xuấthiện của lớp cư dân di cư người Việt từ miền Thuận Quảng và nhóm người Hoa theo TrầnThượng Xuyên vào hợp cùng các cư dân bản địa cùng nhau khai khẩn mở mang cương vực.Trải qua thời gian vùng đất Đồng Nai trở thành nơi sinh sống đông đúc, với nhiều làng, ấptrù phú Đến nay, ở Đồng Nai còn tồn tại nhiều làng, xã có tuổi đời gần 300 năm như làngPhú Hội, làng Hiệp Phước huyện Nhơn Trạch), Làng Bến Gỗ (huyện Long Thành); làng Bến

Cá - Tân Triều (huyện Vĩnh Cửu); xã Hiệp Hòa (thành phố Biên Hòa)

Tính đến năm 2018, dân số của tỉnh Đồng Nai có 3.086,07 nghìn người, bao gồm dân

số thành thị 1.098,74 người, chiếm 35,6%; dân số nông thôn 1.987,33 nghìn người, chiếm64,4%; mật độ dân số đạt 528 người/km2 Tháp tuổi dân số của tỉnh Đồng Nai khá trẻ cộng

Trang 20

với quá trình phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp trên địa bàn tạo sức hút tăngdân số cơ học, làm dân số của tỉnh tăng nhanh [13:55].

1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

Tỉnh Đồng Nai đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tốc độtăng trưởng kinh tế cao Từ năm 2000 đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế của ĐồngNai bình quân đạt trên 12%/năm Tổng sản phẩm quốc nội (GRDP) trên địa bàn tỉnh năm

2018 đạt 222.226,5 tỷ đồng (tăng 8,1% so với năm 2017 và 12,5% so với năm 2015)

[14:552] GDP bình quân đầu người đạt 102,32 triệu đồng, tương đương 4.491 USD (tăng

857 USD so với năm 2015 và 299 USD so với năm 2017) [14:7]

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp - xâydựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông - lâm - thủy sản trong tổng giá trị sản phẩm địaphương Năm 2005 tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng là 52,2%, ngành dịch vụ chiếm25,6%, ngành nông - lâm - thủy sản chiếm 22,2% thì đến năm 2018, công nghiệp - xây dựng

là 57,9%, ngành dịch vụ chiếm 37,1% và ngành nông - lâm - thủy sản giảm chỉ còn 5,0%

[57]

Trang 21

Bảng 1.1: Tổng giá trị sản phẩm địa phương (GRDP) tỉnh Đồng Nai theo giá so sánh năm 2010

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Năm rp * * 9 r

Tổng số

Chia ra Nông, lâm

nghiêp - thủy sản

Công nghiệp

- xây dựng Dịch vụ

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai năm 2018

Biểu đồ 1.1 Tổng giá trị sản phẩm địa phương(GRDP) tỉnh Đồng Nai các năm

2010, 2015 và 2018.

Đơn vị tính: nghìn tỷ

Đầu tư công nghiệp của tỉnh Đồng Nai vào bậc nhất cả nước, trên địa bàn tỉnh cónhiều khu công nghiệp tập trung ở hầu hết các huyện, thành phố Tính đến năm 2018, ĐồngNai có 31 KCN đã đi vào hoạt động, thu hút hơn 1.200 dự án đầu tư nước ngoài và gần 500

Trang 22

dự án đầu tư trong nước [59] Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2018 theo giá hiệnhành đạt 79.903,60 tỷ đồng (bằng 25,3% GRDP), trong đó vốn đầu tư ngành công nghiệp -xây dựng là 46.969,75 tỷ đồng chiếm 58,78% tổng vốn đầu tư Về thu hút đầu tư trực tiếpcủa nước ngoài (FDI) chỉ tính riêng năm 2018 có 131 dự án cấp phép mới với số vồn đăng kýđạt 1.045 triệu USD, số vốn đầu tư được thực hiện trong năm 2018 là 381 triệu USD

[14:119]

Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ, tỉnh Đồng Nai có hệ thống chợ truyền thống,siêu thị khá phong phú, phân bố rộng khắp trên các địa bàn đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu củangười dân Kim ngạch xuất - nhập khẩu của tỉnh chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng kimngạch cả nước: Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu đạt 18.610 triệu USD; kim ngạch nhập khẩuđạt 16.015 triệu USD [46] Các ngành dịch vụ góp phần quan trọng vào tổng sản phẩm trongtỉnh và tạo tiền đề cho các ngành và lĩnh vực khác phát triển

Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản của tỉnh trong nhiều năm pháttriển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập của ngườidân Cơ cấu cây trồng tiếp tục chuyển đổi theo hướng tăng nhanh diện tích một số cây côngnghiệp, cây ăn trái có giá trị kinh tế cao, sử dụng các loại giống mới trong trồng trọt nhằmtăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp Hoạt động chănnuôi phát triển theo hướng tập trung và từng bước hiện đại, các trang trại và doanh nghiệpkhông ngừng mở rộng quy mô chăn nuôi, tăng số lượng đàn gia súc và gia cầm như trâu, bò,heo, gà, vịt và tăng sản lượng thịt cung cấp cho thị trường tiêu thụ

Cơ sở hạ tầng trong tỉnh từng bước được đầu tư xây dựng phục vụ đắc lực các hoạtđộng phát triển kinh tế - xã hội và dân sinh Đến cuối năm 2018, hệ thống giao thông đường

bộ trên địa bàn tỉnh được phát triển có tổng chiều dài khoảng 6.876,5 km, bao gồm đườngquốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện (đường đô thị), đường xã (phường, thị trấn), đường chuyêndùng Tuyến đường sắt thống nhất Bắc - Nam đi qua tỉnh có chiều dài 87,5 km, toàn tỉnh có

24 tuyến đường sông đang hoạt động, tổng chiều dài 431 km [38:16] Đến nay, hệ thống lướiđiện đã được kéo phủ khắp toàn tỉnh đến 100% số xã, phường, thị trấn, đến năm 2018, tỷ lệ

hộ sử dụng điện sinh hoạt đạt 99,84%, trong đó thành thị đạt 100% và nông thôn đạt 99,67%

[13:374] Toàn tỉnh có 19 nhà máy nước đang hoạt động, tổng công suất các nhà máy nướcđạt khoảng 310.000 m3/ngày, cơ bản đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu nước máy phục vụ

Trang 23

nhu cầu sinh hoạt của dân cư đô thị, các khu công nghiệp và một số điểm dân cư nông thôn.

Lĩnh vực văn hóa - y tế - giáo dục của tỉnh được tập trung đầu tư cơ sở vật chất vàtừng bước nâng chất lượng Đến năm 2018, tỷ lệ xã, phường có trường tiểu học, trường mầmnon đạt 100%, có trường trung học cơ sở đạt 95% [14:475] Mạng lưới các cơ sở y tế pháttriển mạnh, số cơ sở khám chữa bệnh do nhà nước quản lý là 588 cơ sở (20 bệnh viện, 67phòng khám đa khoa khu vực, 171 trạm y tế cấp xã, 329 cơ sở y tế khác) với 10.520 giườngbệnh; nhân lực y tế là 10.597 người; số bác sĩ bình quân 1 vạn dân là 8 người Bên cạnh đó,tỉnh còn có gần 3.000 phòng khám, cơ sở hành nghề y, dược tư nhân ở các đô thị và vùngnông thôn [14:525] Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cấp tỉnh, huyện, thị xã, thành phố và

cơ sở xã, phường, thị trấn được đầu tư xây dựng mới, khang trang, sạch đẹp, tổ chức hoạtđộng hiệu quả, phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương và nhu cầu hưởng thụ

về đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ở cơ sở

1.1.4 Đặc điểm lịch sử - văn hóa

Sự kiện năm Mậu Dần (1698), Nguyễn Hữu Cảnh thừa lệnh chúa Nguyễn Phúc Chukinh lược phương Nam đã chính thức ghi tên vùng đất này vào lãnh thổ của triều Nguyễn.Nguyễn Hữu Cảnh đặt tên miền đất mới này thành Phủ Gia Định gồm 2 huyện: Tân Bình ởphía Tây sông Sài Gòn (lập dinh Phiên Trấn) và huyện Phước Long ở phía Đông sông SàiGòn (lập dinh Trấn Biên) bao gồm các tỉnh: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa -Vũng Tàu, một phần của tỉnh Bình Thuận và các quận 2, quận 9; quận Thủ Đức của thànhphố Hồ Chí Minh bây giờ

Thời kỳ thực dân pháp xâm lược, sau Hòa ước Nhâm Tuất (1862) giữa triều đình NhàNguyễn ký với thực dân Pháp, Biên Hòa cùng với Gia Định, Định Tường trở thành nhượngđịa của Pháp Từ đây, thực dân Pháp nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính vì mục tiêu quân

sự và khai thác thuộc địa, đến cuối năm 1899 mới tạm ổn định với các tỉnh: Biên Hòa, BàRịa, Thủ Dầu Một và Đồng Nai thượng được thành lập từ địa bàn tỉnh Biên Hòa cũ Tronghai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ địa giới hành chính Đồng Nai tiếp tục bị thayđổi nhiều lần theo ý đồ quân sự của cả hai bên Đến năm 1976 đất nước thồng nhất, Chínhphủ Cách mạng quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai trên cơ sở hợp nhất ba tỉnh: Biên Hòa,Long Khánh, Phước Tuy Đến giai đoạn (1978 - 1994), đơn vị hành chính Đồng Nai tiếp tụcđược điều chỉnh và tới năm 1995 tỉnh Đồng Nai mới được ổn định như ngày nay

Trang 24

Trong lịch sử, vùng đất Đồng Nai đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh dai dẳng khiến chodân chúng lầm than, điêu đứng Đầu tiên là cuộc giao tranh giữa nghĩa quân Tây Sơn với NhàNguyễn, kéo dài từ năm 1775 cho đến năm 1792 Nguyễn Ánh mới hoàn toàn làm chủ đượcđất Trấn Biên, Gia Định Tiếp đến là cuộc binh biến của Lê Văn Khôi - con nuôi của Lê VănDuyệt kéo dài từ năm 1832 đến năm 1835 Nhà Nguyễn mới dập tắt được Năm 1858, BiênHòa - Đồng Nai lại một lần nửa gánh vai trò địa đầu của lục tỉnh Nam kỳ trong cuộc đụngđầu với cuộc xâm lược của thực dân Pháp Trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, triềuđình Nhà Nguyễn nhu nhược ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhường 3 tỉnh Miền Đông: BiênHòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp và ra lệnh bãi binh song nhân dân Biên Hòa - ĐồngNai đã đoàn kết đứng lên xây hào đắp cản ngăn bước tiến của quân thù Ngọn cờ kháng Phápcủa nhân dân Biên Hòa - Đồng Nai vẫn giương cao với tinh thần quật khởi bằng nhiều hìnhthức khác nhau, chiến đấu không khoan nhượng với kẻ thù.

Những năm đầu thế kỷ XX, người dân Biên Hòa lại tham gia vào các hội kín yêunước (hội kín Long Thành, hội kín Đoàn Văn Cự, Trại Lâm Trung ) cùng nhiều hoạt độngđấu tranh khác nhau nhằm mục tiêu dân tộc và dân chủ Mặc dù thất bại song tinh thần quậtkhởi của người dân Biên Hòa - Đồng Nai đã tô thắm lòng yêu nước, góp phần làm nên một

“hào khí Đồng Nai” trong những trang sử vàng của dân tộc Ý chí bất khuất chống Pháp cứunước của người dân Đồng Nai lại bùng lên mạnh mẽ khi Đảng Cộng sản ra đời khơi dậytruyền thống yêu nước, tập hợp lực lượng phát huy được sức mạnh toàn dân Dưới sự lãnhđạo của Đảng, nhiều cuộc đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân liên tục diễn ra đòidân sinh, dân chủ Hết Pháp lại đến phát xít Nhật vào xâm lược, nhân dân Đồng Nai thêmmột tròng áp bức Ngày 09/03/1945, Nhật đảo chính Pháp lập chính quyền và các tổ chứcthân Nhật, địa phương Biên Hòa đã cùng nhân dân cả nước thực hiện lệnh tổng khởi nghĩagiành chính quyền về tay nhân dân

Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập chưa đầy một tháng thực dân Pháp núpbóng quân đội Anh dưới danh nghĩa đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, tái chiếm SàiGòn và Biên Hòa Quân dân Biên Hòa cùng Nam Bộ bước vào giai đoạn trường kỳ khángchiến, lập nhiều chiến công vang dội như: Trận đánh Núi Thị - Xuân Lộc (30/10/1945); Cầu

Lò Rèn - Long Thành (09/03/1946), phục kích cầu Phước Cang - Long Thành (01/1948); trậnđánh La Ngà (01/03/1948) làm chấn động thế giới; trận đánh Cầu Bà Kiên (19/03/1948) khai

Trang 25

binh cách đánh đặc công ở chiến trường Miền Đông; trận tập kích đồng loạt phá 50 tháp canhcủa giặc ngày 22/03/1950, đánh bại nhiều cuộc càn quét qui mô của địch vào Chiến khu Đ;đốt kho xăng dầu ở Phước Lư (Biên Hòa); tấn công trại giam Thủ Đức giải thoát 120 tùchính trị (tháng 08/1950); tập kích yếu khu Trảng Bom (20/07/1951), cài mìn diệt máy baygiặc ở sân bay Biên Hòa (tháng 04/1952) Kết quả kháng chiến chống Pháp của quân dânBiên Hòa - Đồng Nai đã góp phần quan trọng trong thắng lợi chung của chiến trường Nam

Bộ buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Gienève năm 1954 rút quân về nước

Từ sau Hiệp định Genève, đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp tiến hành cuộc chiếnxâm lược Việt Nam; quân và dân Đồng Nai lại cùng quân dân Nam Bộ tiếp tục cuộc khángchiến chống xâm lược trường kỳ gian khổ, khốc liệt với một đế quốc có tiềm lực quân sựmạnh, thủ đoạn tinh vi Mặc dù trong những năm 1955 - 1959, lực lượng cách mạng bị đàn

áp khốc liệt do chiến dịch tố cộng của Mỹ - Diệm gây ra, nhưng lòng dân kiên trung và kinhnghiệm chống Pháp dày dạn đã được vận dụng khéo léo trong tình hình mới để duy trì vàphát triển phong trào cách mạng trong máu lửa, kiên cường bám trụ vừa chiến đấu vừatrưởng thành về mọi mặt, lập nền nhiều chiến công lẫy lừng như: Trận chống càn, diệt Mỹ ởĐất Cuốc (ngày 08/11/1965); Đặc công Biên Hòa đánh vào Tổng kho Long Bình phá huỷhàng trăm ngàn tấn bom đạn; Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác đánh chìm nhiều tàu vạn tấn của

Mỹ trên sông Lòng Tàu và các bến cảng, đốt cháy kho xăng Nhà Bè 1972, làm nổ tung khobom Thành Tuy Hạ vào năm 1973 Trong chiến dịch mùa xuân năm 1975, Đồng Nai làchiến trường nóng bỏng, trong 21 ngày đêm quyết chiến, quân cách mạng đã mở tung cánhcửa thép hướng Đông Bắc Sài Gòn vào ngày 21/04/1975 để đại quân ta tiến vào giải phóngSài Gòn kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước

Sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng,quân dân Đồng Nai đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, khắc phục hậu quả chiến tranh, từngbước xây dựng Đồng Nai trở thành một trong những tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phíaNam; nhịp sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao ngày càngchuyển biến đi lên cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước

Văn hóa Đồng Nai là sự hòa nhập, đan xen, kết tinh từ nhiều nền văn hóa khác nhau

Đó là văn hóa bản địa (người Chơro, Mạ, X'tiêng, K'ho), văn hóa của người Việt ở Trung bộ,Bắc bộ mang theo vào khai hoang lập ấp, văn hóa người Hoa gốc Phước Kiến, Quảng Châu

Trang 26

du nhập vào theo đoàn người lánh nạn của nhóm Trần Thượng Xuyên và văn hóa của các tộcngười thiểu số khác di cư đến Đồng Nai vào các thời kỳ khác nhau của lịch sử Sự giao lưuvăn hóa của nhiều tộc người trên địa bàn tỉnh Đồng Nai qua các thời kỳ đã hình thành mộtvăn hóa Đồng Nai mang những đặc trưng riêng đồng thời vẫn thể hiện được bản sắc văn hóacủa các tộc người Sự đa dạng, phong phú này là cơ sở cho việc hình thành và phát triển mộtnền văn hóa Đồng Nai hiện đại mang bản sắc riêng có Đồng thời các giá trị di sản văn hóa

ấy là nguồn lực hữu ích cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

1.2 Di sản văn hóa Đồng Nai

1.2.1 Các khái niệm liên quan về di sản văn hóa

Theo Điều 1 của Luật Di sản văn hóa năm 2001: “Di sản văn hóa bao gồm di sản vănhóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, vănhóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam” [26:12] Theo định nghĩa này, di sản văn hóa được khái quát là những tàisản văn hóa truyền thống trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết đưa vào nhằmđáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại Đây là định nghĩa mang tính tổng quát, có thể

áp dụng để xác định phạm vi, tính chất, giá trị, loại hình, không gian, thời gian của di sản vănhóa

Tại Điều 4, Luật Di sản văn hóa năm 2001 nêu rõ: “Di sản văn hóa vật thể là sảnphẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử, văn hóa, danhlam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [25:1] Định nghĩa này giúp chúng ta nhậndiện được chính xác về hình thức tồn tại, các giá trị của di sản văn hóa vật thể

Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009: “Di sảnvăn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và khônggian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng,không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyềnmiệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [27:1] Như vậy, di sản văn hóa phi vậtthể là những truyền thống văn hóa nó chứa đựng những phong tục tập quán, những kinhnghiệm, tri thức, bí quyết nghề trong cuộc sống được đúc kết, truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác của một tộc người, một dân tộc được xác lập trong một điều kiện tự nhiên, xã hội nơisản sinh ra di sản đó

Trang 27

Khái niệm “bảo tồn” được hiểu như những nỗ lực nhằm gìn giữ các giá trị, bản sắcvăn hóa tốt đẹp của dân tộc Việc bảo tồn không chỉ nhằm mục đích lưu giữ, bảo vệ nhữnggiá trị vốn có từ xa xưa, mà còn có nghĩa là làm phong phú, đa dạng hơn lên.

Khái niệm “phát huy” là những hoạt động nhằm đưa văn hóa vào thực tiễn xã hội,xem đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lạinhững lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối vớiphát triển xã hội Phát huy còn bao hàm ý nghĩa là môi trường tốt nhất để bảo tồn và làm giàuchính bản thân văn hóa [6:254] Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là một lĩnh vựchoạt động có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nềnvăn hóa

1.2.2 Một số quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

1.2.2.1 Các quan điểm trên thế giới

Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá trên thế giới cho đến nay đang cónhiều quan điểm khác nhau, tiêu biểu nhất có hai quan điểm:

- Quan điểm “bảo tồn nguyên vẹn” theo tác Gregory J.Ashworth thì quan điểm này

được phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XIX, được khá nhiều học giả nghiên cứu về bảotồn, bảo tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa ủng hộ Các học giả theo quan điểm này cho rằng,những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn như nó vốn có, cố gắngphục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly disản khỏi môi trường xã hội đương đại [53:21]; mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa -

xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có hiểu biết một cách cụ thể để có thểphát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biếnđổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa mớikhác với lớp văn hóa mà thế hệ trước đã chuyển giao lại, vì thế, có thể làm cho các thế hệtiếp sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại Vì vậy, khi chúng

ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa,chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối cóthể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn

- Quan điểm “bảo tồn trên cơ sở kế thừa” cũng được nhiều các học giả trên thế giới

quan tâm và đang dần phổ biến khi bàn đến vấn đề bảo tồn di sản văn hóa Tiêu biểu về quan

Trang 28

điểm này có các học giả như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J Larkham họ xem di sản nhưmột ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản tương tự với cách thức quản

lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặcthù của các di sản Một số nhà nghiên cứu như Boniface, Fowler, Prentice, họ cho rằngkhông thể không đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản

[53:21] Nhìn chung, cách tiếp cận của các nhà khoa học theo quan điểm này sống động hơn,khẳng định được tính đa dạng trong sự sáng tạo của con người Ngoài ra, họ còn cho rằngviệc quản lý di sản cần đặt dưới một cách tiếp cận toàn cầu hóa và cần quan tâm làm thế nàolưu giữ được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương tiện kỹ thuật mới

Quan điểm chung hiện nay trên thế giới là bảo tồn nguyên vẹn trên cơ sở kế thừa, pháthuy di sản, cách tiếp cận mang tính toàn diện hơn, quan tâm đến di sản văn hóa để phát triểnkinh tế, xã hội Xem văn hóa là nền tảng, là nguồn tài nguyên nhân văn quan trọng để pháttriển xã hội

Trên cơ sở các quan điểm nghiên cứu, lý luận của các chuyên gia, nhà khoa học vềbảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, các tổ chức quốc tế như Tổ chức Giáo dục, Khoahọc và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO), Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn vàTrùng tu di sản văn hóa (ICOMMOS), Hội đồng quốc tế về Di tích và Di chỉ (ICCROM) đãthông qua nhiều Hiến chương về bảo vệ di sản, cụ thể: Hiến chương Athen về trùng tu di tích(1931), Hiến chương Venice về bảo vệ và trùng tu di tích và di chỉ (1964), Hiến chươngBurra về bảo vệ và quản lý di sản (1981, sửa đổi vào 1988 và 1999), Công ước di sản thế giới(1972) Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học (1990), Công ước quốc tế về

du lịch và văn hóa (1999)

Thực tế cho thấy qua các công trình nghiên cứu rất nhiều bài học kinh nghiệm đượcđúc kết, những mô hình về bảo tồn phát huy giá trị di sản được nhân rộng mang tính quốc tếrất bổ ích và phù hợp nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Đó là việc xem các di sản vănhóa cần được bảo vệ toàn vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các giá trị di sảnvăn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể và “di sản cần được tiếp cận dưới góc độ toàn cầu hóa, ở

đó các giá trị độc đáo của mỗi nền văn hóa cần được lưu giữ, hỗ trợ bởi nhà nước” [7 : 26]

1.2.2.2 Quan điểm của Việt Nam

Quan điểm xuyên suốt của Đảng ta là trân trọng, bảo vệ, kế thừa và phát huy những

Trang 29

giá trị văn hóa của dân tộc vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì tiến bộ của nhân dân Vì vậy,trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, đề cao giá trị của di sảnvăn hóa trong sự phát triển văn hóa của dân tộc qua nhiều thời kỳ.

Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số

65 SL/CP ngày 23/11/1945 về Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam, trong đó xác định:

“Bảo tồn cổ tích là việc rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam” Tại Điều 4 của Sắclệnh nêu rõ: “Cấm phá hủy đình chùa, đền miếu, hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện,thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật, chiếu sắc,văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử” [60] Nội dungSắc lệnh phản ánh được tầm nhìn chiến lược và định hướng đúng đắn của Đảng, Nhà nướctrong sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Tại Đại hội đại biểu ĐảngCộng sản Việt Nam lần thứ II năm 1951, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định “xây dựng nềnvăn hóa Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng” [31:40] Ngày 29/10/1957, Thủtướng Chính phủ công bố Quyết định số 519-TTg về Bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắngcảnh Tiếp đến, ngày 31/3/1984, Hội đồng Nhà nước công bố Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng ditích lịch sử và danh lam thắng cảnh Đây là cơ sở pháp lý để thực hiện công tác bảo tồn, pháthuy giá trị di sản văn hóa

Từ năm 1986, khi Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước đã đổi mới tư duy nhậnthức đúng đắn và sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa trong sự phát triển kinh tế - xã hội khiĐảng chủ trương việc phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, gắn chặt với pháttriển văn hóa Trên cơ sở đó, các di sản văn

hóa của dân tộc được coi trọng, bảo tồn và phát huy, góp phần làm cho đời sống tinh thần của

xã hội ngày càng phong phú

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Điều 30 nêu rõ:

“Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn;

kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam ” Trong đó, nhànước ưu tiên cho việc chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huytác dụng của các di tích Tháng 1/1993, Hội nghị lần thứ IV, Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa VII ban hành Nghị quyết với định hướng là phát huy bản sắc văn hóa dân tộc vàtiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Trang 30

khóa VIII ban hành Nghị quyết về chiến lược về văn hóa của Đảng trong thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa Nghị quyết nêu rõ “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dântộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa.Hết sức coi trọng báo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học vàdân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” Nghị quyết Trungương V cũng nhấn mạnh việc bảo tồn, phát huy DSVH dân tộc không chỉ bó hẹp trong phạm

vi trong nước mà còn phải “làm tốt việc giới thiệu văn hóa, đất nước và con người Việt Namvới thế giới” [15:56]

Tai Điều 9, Luật Di sản văn hóa 2001 đã khẳng định: “Nhà nước có chính sách bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hoá nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phầnphát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nướcngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá” Ngày 24/02/2005,Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 36/QĐ-TTg lấy ngày 23 tháng 11 hàng năm là

“Ngày Di sản văn hoá Việt Nam” nhằm phát huy truyền thống và ý thức trách nhiệm của tổ

chức, cá nhân hoạt động trên lĩnh vực di sản văn hoá, động viên và thu hút mọi tầng lớp xãhội tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc

Trên cơ sở tiếp thu các quan điểm, lý thuyết của các chuyên gia, các nhà khoa học, các

tổ chức quốc tế như: UNESCO, ICOMMOS, ICCROM, Công ước về bảo vệ di sản văn hóaphi vật thể (2003) Việt Nam đã vận dụng vào tình hình cụ thể của đất nước trong công tácbảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, việc ban hành các văn bản là những tiền đềgiúp cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản được thuận lợi hơn:

- Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Di sản vănhóa năm 2009;

- Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hànhmột số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Di sản vănhóa;

- Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tụclập, phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lamthắng cảnh;

- Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 của Bộ Văn hóa - Thông tin

Trang 31

(nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huygiá trị di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020;

- Thông tư 04/BVHTTDL ngày 30 tháng 6 năm 2010 của BộVăn hóa Thể thao và Dulịch về kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể;

- Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

1.2.2.3 Quan điểm của tỉnh Đồng Nai

Từ những ngày đầu tiên sau giải phóng, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đãxác định rõ công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa có ý nghĩa hết sức quantrọng trong chiến lược phát triển của tỉnh Vì vậy, dù trong bộn bề công việc, Tỉnh ủy, Ủy bannhân dân tỉnh đã giao cho Ty Văn hóa Thông tin thành lập Phòng Bảo tồn - Bảo tàng (tháng1/1976) trực thuộc Ty để thực hiện nhiệm vụ chính là gìn giữ, phát huy các giá trị di sản vănhóa Đồng Nai góp phần vào việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương Nhữngnăm sau giải phóng mặc dù tình hình kinh tế - xã hội của địa phương còn nhiều khó khăn,song Đảng bộ và chính quyền Đồng Nai vẫn luôn thể hiện được vai trò định hướng, chỉ đạotrong công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Đồng Nai Thời kỳ đổi mới từsau năm 1986, đời sống vật chất của nhân dân trong tỉnh được cải thiện, công tác bảo tồn vàphát huy các giá trị di sản văn hóa được tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện đồng bộ đạt đượcnhiều kết quả đáng đáng ghi nhận Trong các nhiệm kỳ Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ ĐồngNai đều có đánh giá cụ thể những thành tựu đạt được, đồng thời chỉ rõ hạn chế và nguyênnhân trong công tác giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Đồng Nai

Tháng 7 năm 1998, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V đã thông qua

Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân

tộc” Đây được xem là văn kiện quan trọng thể hiện rõ nhất đường lối văn hóa của Đảng.

Quan điểm của Đảng về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc luôn nhất quán, thể hiện

tư tưởng và ý kiến chỉ đạo chung nhất Tỉnh Đồng Nai đã vận dụng quan điểm của Đảng vềgiữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và cụ thể hóa trong các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh vớiquyết tâm đưa các quan điểm nêu trên của Đảng vào cuộc sống Ban chấp hành Tỉnh ủy đãquán triệt trong Nghị quyết số 39-NQ/TU ngày 4/11/1998 về chương trình hành động thực

hiện Nghị quyết hội nghị Trung ương V (khóa VIII) “Xây dựng và phát triển nền văn hóa

Trang 32

Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Trong đó chỉ rõ: “Xây dựng đời sống văn hóa

lành mạnh trên cơ sở kế thừa và phát huy giá trị truyền thống mấy ngìn năm của dân tộc vàtâm hồn, bản lĩnh con người Việt Nam trên vùng đất Đồng Nai trong 300 năm qua, nhằm đápứng nhu cầu thiết yếu về đời sống tinh thần của nhân dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa” [46:314]

Với vị trí và tầm vóc của một tỉnh công nghiệp đang trên đà phát triển, lấy mục tiêuphát triển bền vững (phát triển kinh tế song song với bảo tồn, gìn giữ, phát triển văn hoá dântộc, bảo vệ môi trường) là trọng tâm, tỉnh Đồng Nai xem đây là những thách thức rất lớn Đểthực hiện được mục tiêu đề ra trong những năm qua, sau khi Luật Di sản văn hoá năm 2001được ban hành, tỉnh Đồng Nai đã ban hành hàng loạt các kế hoạch, quy hoạch, quy định, chỉthị, quyết định về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa điển hình như: Chỉ thị số22/CT- UBND ngày 01/9/2002 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc “bảo vệ

di sản văn hoá dân tộc trên địa bàn tỉnh”; Quyết định số 64/2009/QĐ- UBND, ngày16/9/2009 của UBND tỉnh về việc phân cấp Quản lý di tích - danh thắng trên địa bàn tỉnhĐồng Nai; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ X (nhiệm kỳ 2015 -2020); Quy hoạch phát triển ngành Văn hóa tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030 (ban hành kèm theo Quyết định số 2366/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh);Quyết định số 39/2018/QĐ-UBND, ngày 27/9/2018 của UBND tỉnh về việc phân cấp Quản

lý di tích - danh thắng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

1.2.3 Các loại hình di sản văn hóa của Đồng Nai

1.2.3.1 Di sản văn hóa vật thể

Theo hồ sơ kiểm kê di tích phổ thông của Bảo tàng Đồng Nai, trên toàn tỉnh Đồng Naihiện có hơn 1.500 cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, địa điểm lịch sử; 50 ngôi mộ cổ và hàng trămđịa điểm danh lam thắng cảnh, trong đó đã xếp hạng 57 di tích (02 di tích xếp hạng Quốc giađặc biệt, 29 di tích xếp hạng cấp Quốc gia và 25 di tích xếp hạng cấp tỉnh)[4] Đối chiếu vớicác tiêu chí quy định trong Điều 28 Luật Di sản văn hóa và Khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật Di sản văn hóa; đồng thời trong 57 di tích của tỉnh Đồng Nai đãđược xếp hạng, có thể phân chia di tích thành những loại hình: Loại hình khảo cổ, loại hình

di tích lịch sử, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật

- Di tích khảo cổ:

Trang 33

Là một trong những loại hình di sản đặc sắc và tiêu biểu cho di sản văn hóa vật thểcủa tỉnh Đồng Nai, có thể cung cấp nhiều cứ liệu khoa học cho việc nghiên cứu lịch sử, vănhóa Đồng Nai trong diễn trình phát triển của đất nước.

Trải qua hơn một thế kỷ nghiên cứu với hàng trăm cuộc điều tra, thám sát, khai quậthàng trăm di chỉ khảo cổ học với nhiều loại hình khác nhau: cư trú, công xưởng, mộ táng,đền tháp của cư dân cổ với hàng vạn hiện vật về công cụ sản xuất, sinh hoạt, đồ trang sức,

đồ thờ, nhạc cụ, vũ khí cùng với những cấu trúc các tầng văn hoá đã cung cấp một nguồn

cứ liệu, thông tin quan trọng về niên đại, trình độ văn minh, hình thái xã hội của những lớp

cư dân cổ Đồng Nai Những cứ liệu khảo cổ học tìm thấy có thể giúp phục dựng lại một bứctranh đa dạng, phong phú về văn hóa Đồng Nai phát triển rực rỡ trên nhiều mặt qua các thờikỳ: đá cũ, đá mới và kim khí Đến nay, những kết quả nghiên cứu cho thấy loại hình di chỉ, ditích khảo cổ học là một trong những đối tượng quan trọng cần được quan tâm bảo tồn, pháthuy hợp lý và hiệu quả Thực tế trên địa bàn Đồng Nai đến nay mới chỉ có di tích Mộ Cựthạch Hàng Gòn (vừa là di tích khảo cổ, vừa là di tích kiến trúc) được xếp hạng di tích Quốcgia đặc biệt năm 2015, ngoài ra hơn một trăm địa điểm di chỉ đã được phát hiện có vết tíchcủa các nền văn hoá cổ hầu như đều ở dạng phế tích hoặc nằm trong các vùng rừng khôngbảo vệ được Vì vậy, việc áp dụng các giải pháp cho việc bảo tồn, phát huy đối với các ditích, di chỉ khảo cổ học còn lại là rất quan trọng và cần thiết

- Di tích kiến trúc - ngh ệ thuật

Đây là loại hình chiếm số lượng nhiều hơn các loại hình khác ở Đồng Nai gồm: kiếntrúc tôn giáo, tín ngưỡng (đình, miễu, chùa); kiến trúc lăng mộ (mộ cổ); kiến trúc dân dụng(nhà cổ, làng cổ), kiến trúc quân sự (thành cổ) Mỗi một loại hình đều mang nhiều giá trị vànét đặc sắc của di tích ở Đồng Nai

* Đình làng: Đình làng của người Việt ở Đồng Nai được hình thành gắn với quá trìnhkhai khẩn mở mang vùng đất của các bậc tiền nhân từ thế kỷ XVII So với đình miền Bắc vàmiền trung thì đình làng ở Đồng Nai ra đời muộn, tuổi đời ngắn, không có lai lịch và giàuthần tích như đình ở miền Bắc và miền Trung, nhưng so với vùng Nam bộ thì đình ở ĐồngNai thuộc định dạng sớm Do đặc điểm hình thành cộng đồng cư dân ở Đồng Nai, nhiềuvùng đất có lịch sử hình thành lâu đời, lại vừa có những vùng đất mới, vì vậy mà các ngôiđình ở Đồng Nai cũng có lịch sử hình thành và phát triển khác nhau, có quá trình trùng tu,

Trang 34

tôn tạo khác nhau, có những đặc điểm văn hóa khác nhau Toàn tỉnh Đồng Nai hiện nay có

123 ngôi đình phân bố ở 9 huyện, thành phố (xem bảng 1.2) và có sự phân bố không đồngđều giữa thành thị và nông thôn Riêng thành phố Biên Hòa có 41 đình ở 30 phường, xã; cáchuyện như Xuân Lộc chỉ 01 đình, Định Quán 02 đình, Trảng Bom 01 đình; trong mỗi huyện,thành phố sự phân bố cũng không đều có làng, xã thì đình, miễu dày đặc như xã Hiệp Hòa(thành phố Biên Hòa) có 11 đình, có nơi hai đến ba xã chỉ có chung 01 đình

-— -(Nguồn: tư liệu Bảo tàng Đồng Nai năm 2018)

Tựu chung, đình làng Đồng Nai có lịch sử hàng trăm năm, mang những giá trị vănhóa, lịch sử, khoa học, nhân văn vô cùng phong phú, đa dạng, là chứng nhân chứng kiến baonhiêu những đổi thay của thời cuộc Qua hàng trăm năm tồn tại, đình làng đã gắn liền với đờisống văn hóa, tâm linh người Đồng Nai, có vai trò cố kết cộng đồng, lưu giữ các giá trị vănhóa truyền thống, các giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật

* Chùa: Đồng Nai được xem là cái nôi phát triển về văn hóa, chính trị, kinh tế ởphương Nam trong buổi ban đầu các cư dân người Việt vào khai phá Cùng với những ngườiViệt đầu tiên khai phá miền đất trù phú này là các vị tổ sư tiền bối Phật Giáo đã mở đạohoằng dương chánh pháp làm chỗ nương tựa tinh thần cho dân chúng Với bề dày lịch sử,Đồng Nai đã từng là một trong những cái nôi của Phật giáo Đàng Trong thời các chúa, cácvua nhà Nguyễn, có ảnh hưởng không những đối với Phật giáo Nam Bộ mà còn có ảnh

Trang 35

hưởng cả đến Phật giáo ở Miền Trung [19:84] Vùng đất Đồng Nai - Gia Định đã sản sinhnhiều bậc cao tăng danh đức làm trụ cột cho Phật Giáo miền Nam Việt Nam phát triển rực rỡ

ở thời kỳ đầu Nam tiến đến thời cận đại và gần đây Toàn tỉnh Đồng Nai hiện có 376 ngôichùa là không gian sinh hoạt tâm linh, nơi thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người Trong

đó có ba ngôi chùa cổ đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia là chùa Long Thiền, chùa ĐạiGiác, chùa Bửu Phong và một ngôi được xếp hạng di tích cấp tỉnh là chùa Cô Hồn (BửuHưng tự) Ngoài ra, còn nhiều ngôi chùa cổ rất nổi tiếng như chùa Kim Cang, chùa HộiPhước, chùa Long Hương, chùa Phước Viên, chùa Bạch Liên, chùa Phật Tích Tòng Lâm,Thiền viện Thường Chiếu Đây không chỉ là nơi đào tạo các nhà sư tu hành, nơi các tín đồPhật giáo hành lễ, mà còn là các trung tâm sinh hoạt văn hóa Phật giáo của nhân dân quanhiều đời

* Làng cổ: Trong dòng chảy của lịch sử, Đồng Nai là vùng đất được khai phá sớm ởNam Bộ Quá trình lao động khai phá của những lớp cư dân Việt, Hoa hơn 300 năm trước đãtạo nên những ngôi làng trù phú dọc theo sông Đồng Nai như: Bến Gỗ, Cù lao Phố, Bến cá -Tân Triều, Những làng cổ vừa mang mẫu số chung của các làng người Việt cổ truyền vừa

có những đổi thay theo biến thiên theo lịch sử và tự nhiên của vùng đất Nam bộ, song hiệnnay trong các làng cổ vẫn còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa xưa với những kiến trúc nhà

cổ, đình, miếu, chùa, đường làng quê, những bờ ao, ruộng ÌUÍ1 cùng phong cách của ngườidân cần cù, chất phác, thoải mái, hòa đồng đậm chất vùng Nam Bộ

* Nhà cổ: Tỉnh Đồng Nai hiện tồn hơn 400 ngôi nhà cổ, phổ biến là nhà rường (xuyêntrính) và nhà rọi (nọc ngựa - nhà cột giữa) Được ưa chuộng, mang tính truyền thống là dạngnhà chữ đinh (một ngang - một dọc) và sắp đọi (nhà trên nhà dưới nối tiếp nhau) Tiêu biểunhất trong số hơn 400 ngôi nhà có nhà ông Đào Mỹ Trí Nhân (ở Phú Hội, Nhơn Trạch), nhà

cổ Trần Ngọc Du (phường Tân Vạn, Biên Hòa), nhà ông Nguyễn Văn Hảo (xã Thạnh Phú,Vĩnh Cửu) đây thực sự là những tác phẩm nghệ thuật của loại hình kiến trúc nhà ở người Việttruyền thống ở Đồng Nai

* Mộ cổ: Mộ Cự thạch Hàng Gòn thuộc ấp Hàng Gòn, xã Hàng Gòn, thành Phố LongKhánh, tỉnh Đồng Nai Ngôi mộ được phát hiện và khai quật vào những năm 1927, 1975,

1981, 2007 Từ kết quả khai quật cho thấy đây là một ngôi mộ cổ, được xây dựng bằngnhững tấm đan và trụ đá mới chỉ phát hiện duy nhất ở Đồng Nai, nhân dân thường gọi là mộ

Trang 36

Ông Đá Ngôi mộ có hình chữ nhật dài 4,2m, ngang 2,7 mét, cao 1,6 mét được ghép bởi sáutấm đá hoa cương được bào khá nhẵn ở mặt ngoài; 4 tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, haitấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương cao7,5 mét, tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật dài 1,10m x 0,3m, phần lớn các đầu trụ đượckhoét lõm hình yên Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng mộ cự thạch Hàng Gòn được xây dựngvào giai đoạn đồng phát triển, chuyển sang sơ kỳ đồ sắt, cách nay khoảng 2000 năm Đây làmột công trình độc đáo cả về nghệ thuật và kỹ thuật, là công trình kến trúc liên quan đến hìnhthức tín ngưỡng của cư dân cổ Đồng Nai, phản ánh một dấu mốc trong nấc thang phát triểncủa xã hội con người cổ Đồng Nai trước ngưỡng cửa hình thành tổ chức nhà nước sơ khaithời tiền - sơ sử, khởi đầu cho một bước phát triển chung trong lịch sử nhân loại.

* Thành cổ: Thành cổ Biên Hòa tọa lạc tại Phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa,tỉnh Đồng Nai là thành trì duy nhất được xây dựng từ thời nhà Nguyễn còn sót lại ở miềnNam Việt Nam Những hạng mục còn lại của thành trì phần nào đã phản ánh được trình độ

kỹ thuật kiến trúc quân sự, tư tưởng chiến thuật của cha ông xưa khi nghiên cứu kỹ lưỡng địahình, địa mạo và phong thủy thiên nhiên nơi đây nhằm xây dựng một thành trì đáp ứng nhucầu phòng thủ, tiến công đạt hiệu quả cao nhất Thành Biên Hoà được đắp bằng đất vào nămMinh Mạng thứ 15 (1834) có tổng diện tích 10.816 m2 Sau khi thực dân Pháp chiếm BiênHòa (16/12/1861) đã sửa chữa thu hẹp diện tích của thành còn một phần tám so với trước,đồng thời bỏ đi hệ thống hào bao quanh; xây dựng thêm biệt thự, doanh trại, nhà thương

[50:562] Mỗi thời đoạn lịch sử Thành Biên Hòa có một danh xưng khác nhau như: ThànhCựu, thành Kèn, thành Xăng Đá, từ khi được xây dựng Thành Biên Hòa trở thành minhchứng cho sự sáng tạo, sự đấu tranh bền bỉ kiên trung của con người vùng đất Biên Hòa -Đồng Nai, nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng Ngày nay, Thành Biên Hòa là di tíchlịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia mang nhiều giá trị lịch sử - văn hóa, kiến trúc -nghệ thuật của tỉnh Đồng Nai

Trang 37

thống nhất đất nước Sự hiện tồn của các di tích lịch sử cách mạng góp phần minh chứng cho

bề dày truyền thống đấu tranh cách mạng của tỉnh Đồng Nai và cả nước đồng thời là một bộphận quan trọng cấu thành di sản văn hóa Đồng Nai

Các di tích lịch sử cách mạng của Đồng Nai phong phú về loại hình, phân bố đềukhắp ở trong tỉnh liên quan đến nhiều phong trào, nhiều thời kỳ cách mạng, là địa bàn cáchmạng chiến lược nên các sự kiện diễn ra ở đây đã có ảnh hưởng lớn đến phong trào cáchmạng miền Nam và cả nước Một số di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu như: Căn cứ Trungương Cục miền Nam (1961 - 1962); Căn cứ Khu ủy Miền Đông Nam bộ (1962 - 1967); Địađạo Suối Linh; Căn cứ Tỉnh uỷ Biên Hòa; Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác vàĐoàn 10 Đặc công Rừng Sác

- Danh lam - thắng cảnh

Địa hình Đồng Nai thuộc dạng trung du chuyển tiếp từ vùng cao nguyên Nam Trung

bộ đến đồng bằng Nam bộ, địa hình đồi là loại hình đặc trưng, độ cao trung bình không quá100m so với mặt nước biển giảm dần từ Đông Bắc sang Tây Nam Chính kiến trúc địa hìnhđặc trưng đã tạo cho địa bàn Đồng Nai phân bố khá nhiều rừng, núi, đồi, thác, đảo, hồ,sông với nhiều cảnh quan nên thơ và hùng vĩ trở thành những danh lam - thắng cảnh, lànhững di sản văn hóa tự nhiên của Đồng Nai tiêu biểu như: Công viên đá Ba Chồng (ĐịnhQuán), Công đá Hiếu Liêm (Vĩnh Cửu), Khu danh thắng Bửu Long (thành phố Biên Hòa);Đảo Ó và Đảo Đồng Trường (Vĩnh Cửu); thác Trị An (Vĩnh Cửu), thác Hòa Bình (Tân Phú),thác Ba Giọt, thác Mai (Định Quán), thác Giang Điền, thác Đá Hàn (Trảng Bom) Ngày nay,những di sản văn hóa thiên nhiên đó đang trở thành một nguồn lực tự nhiên có giá trị lớn choĐồng Nai khai thác phát triển kinh tế du lịch

- Di vật, cổ vật

Đồng Nai là vùng đất còn chứa rất nhiều di vật, cổ vật có giá trị lịch sử văn hóa, tiêubiểu như: Bộ sưu tập đàn đá Bình Đa, bộ sưu tập qua đồng Long Giao, Tượng tê tê (ngườidân Nam bộ thường gọi là trút, bộ sưu tập vàng Rạch Đông, tượng thần Vishnu, tượng Namthần,

1.2.3.2 Di sản văn hóa phi vật thể

- Lễ hội

Sinh hoạt lễ hội là loại hình văn hóa rất đặc trưng của cộng đồng các dân tộc ở Đồng

Trang 38

Nai Lễ hội hầu như có mặt ở khắp các địa bàn trong tỉnh Lễ hội ở Đồng Nai bao giờ cũnghướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn là nhân thần hay nhiên thần Đó chính làhình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của con người, giúp con người nhớ về nguồncội, hướng thiện và nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui Lễ hội ở Đồng Nai rấtphong phú và đa dạng, mang nhiều màu sắc đặc trưng của từng cộng đồng tộc người như: Lễhội Kỳ yên, Lễ hội cúng chợ (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu), Lễ hội đua thuyền ở Bến Gỗ(phường An Hòa, Tp Biên Hòa); Lễ hội cầu an, cầu siêu của người Hoa; Lễ hội ăn trâu củangười Mạ, người S'Tiêng; Lễ hội Sayangva (lễ cúng Thần Lúa) của người Chơro; lễ hội LồngTồng của người Tày - Nùng (huyện Định Quán và huyện Tân Phú); Lễ hội Ooc bom bok,Cholchnathmay của người Khmer (huyện Định Quán và thành phố Long Khánh) Theo thống

kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Nai, toàn tỉnh Đồng Nai hiện nay có 347 lễ hộitruyền thống [40], chiếm đa số là lễ hội có quy mô ở cấp làng, xã

- Nghệ thuật trình diễn dân gian

Cũng như những địa phương khác ở Nam bộ, nghệ thuật trình diễn dân gian ở ĐồngNai ra đời khá sớm và ngày càng hoàn thiện, đạt tới trình tự nghi thức cao với nhiều loạihình Các hình thức diễn xướng dân gian đơn giản có: hò, hát, lý, nói vè, nói thơ ; nghệthuật diễn xướng có: hát bội, hát chầu, bóng rỗi vừa có sự kế thừa truyền thống vừa mangtính giao thoa văn hóa, tạo thành nét riêng Trong đó, hát bội là loại hình nghệ thuật diễnxướng phát triển mạnh và nổi tiềng ở Đồng Nai từ nửa sau thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20 Hátbội ở Đồng Nai không chỉ có mặt trong các buổi cúng đình, lễ kỳ yên, lễ hội mà còn trởthành nét sinh hoạt quen thuộc trong các dịp quan, hôn, tang, tế của người dân Ngày nay,nhiều lễ hội đình làng ở Đồng Nai vẫn còn giữ lệ 3 năm/lần (tam niên đáo lệ) rước gánh hátbội về diễn cho người dân xem Ngoài ra, hát bóng rỗi cũng là một hình thức diễn xướng dângian khác khá phổ biến ở Đồng Nai, bóng rỗi xuất phát ban đầu từ chức năng thực hành nghi

lễ thờ cúng các nữ thần (Bà), nhưng trong sự phát triển lại không quá rạch ròi giữa nghi lễ vàtính giải trí Từ các nghi lễ ban đầu như múa Dâng bông, Dâng mâm mà ý nghĩa là dâng lễvật lên nữ thần, các bà bóng (người làm công việc thực hành nghi lễ) đã phát triển thành tiếtmục giải trí để giúp vui như: múa lu, múa trống, múa lông công, múa ghế, thậm chí có bàbóng đội cả chiếc xe máy lên đầu và múa Loại hình diễn xướng này đến nay vẫn còn sứcsống bền bỉ trong sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Đồng Nai

Trang 39

- Ngh ề thủ công truy ề n th ống:

Trong hoạt động kinh tế của cộng đồng các dân tộc ở Đồng Nai hơn 300 năm qua, bêncạnh nông nghiệp, nghề thủ công truyền thống là hoạt động kinh tế đóng một vai trò quantrọng trong đời sống xã hội Cùng với nông nghiệp, thủ công nghiệp không chỉ góp phầnphục vụ dân sinh, phát triển kinh tế mà còn góp phần phát triển văn hóa dân tộc Đồng Nainằm ở cửa ngõ giao thương đường sông, đường bộ, đã góp phần quan trọng thúc đẩy cácnghề thủ công truyền thống trong vùng phát triển từ rất sớm Nghề thủ công truyền thốngđược truyền từ đời này đến đời khác bằng phương pháp truyền nghề Sự phát triển của sảnxuất thủ công cũng chính là phản ánh một góc độ nhất định sự phát triển của nền văn hóa dântộc từ đơn giản đến phức tạp, từ thô sơ đến tinh xảo trong kỹ thuật và tư duy Một số nghềthủ công tiêu biểu như Nghề điêu khắc đá Bửu Long (phường Bửu Long, Biên Hòa); làngNghề gốm truyền thống (Cù lao Phố, Bạch Khôi, Tân Vạn); Nghề đúc gang tại (xã ThạnhPhú, huyện Vĩnh Cửu), Hiện nay, các nghề thủ công truyền thống đã bị mai một nhiều giátrị do không thích ứng được với nhu cầu phát triển ở hai khía cạnh: chất lượng sản phẩm vàcông năng sử dụng Nhiều làng nghề đang đứng trước những yêu cầu về bảo tồn và khôiphục, tiếp tục duy trì được nghề đang là một thách thức to lớn Bảo tồn và phát triển các nghềthủ công truyền thống cũng chính là cách bảo lưu tốt nhất giá trị các làng nghề truyền thốnghiện nay ở Đồng Nai

- Di sản văn hóa Hán Nôm

Xuất hiện, tồn tại và phát triển theo tiến trình lịch sử của mảnh đất Đồng Nai hơn bathế kỷ qua, di sản văn hóa Hán Nôm hiện tồn trong dân gian thông qua văn cúng, văn tế, sách

y dược và trong các di tích đình, chùa, miếu, mộ cổ, nhà cổ Chất liệu thể hiện chữ rất đadạng bằng gỗ, giấy, liễn đối, hoành phi; bia mộ, liễn đối Hành văn thể hiện trong các di sảnHán Nôm mang tính quy chuẩn của triều đình như sắc phong, sách hay mang tính dân giannhư: hoành phi, liễn đối, văn cúng tế

Tiểu kết chương 1

Đồng Nai có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội;

là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực với

tỷ trọng phát triển công nghiệp ngày càng cao đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển về mọimặt của đời sống kinh tế - xã hội Đồng Nai có một hệ thống di sản văn hóa rất đa dạng,

Trang 40

phong phú được xem là tài sản vô giá và là nguồn lực quan trọng trong công cuộc xây dựngphát triển kinh tế - xã hội Sự phong phú và đa dạng về di sản văn hóa không chỉ là niềm tựhào của người Đồng Nai song cũng là trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy giá trị disản văn hóa của địa phương Với những thế mạnh đó đã tạo điều kiện thuận lợi trong việchuy động các nguồn lực xã hội cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

trên địa bàn tỉnh, góp phần cùng cả nước thực hiện “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến

đậm đà bản sắc dân tộc” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V khóa VIII (1998) mà Đảng

ta đã đề ra

Chương 2 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA ĐỒNG NAI TỪ NĂM

1998 ĐẾN NĂM 2018

2.1 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai giai đoạn trước năm 1998

2.1.1 Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa

Sau ngày 30/4/1975, đất nước thống nhất, cả nước cùng thực hiện xây dựng Chủnghĩa xã hội (CNXH), trong thời kỳ cách mạng mới Đảng ta chủ trương tiếp tục đẩy mạnh bacuộc cách mạng, trong đó có cách mạng về tư tưởng - văn hóa Theo đó, đường lối văn hóatrong thời kỳ cả nước xây dựng CNXH, theo quan điểm của Đảng là xây dựng nền văn hóaXHCN mang đậm bản sắc dân tộc Nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của công tác bảotồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội Nhằm quán triệtđường lối văn hóa trong thời kỳ mới của Đảng, cùng với chủ trương đẩy mạnh công tác đấutranh chống lại các tàn dư văn hóa của chế độ cũ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đồng Nai đã chỉ đạo

Ty Văn hóa thành lập Phòng Bảo tồn - Bảo tàng trực thuộc Ty với nhiệm vụ chính được giao

là gìn giữ, phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh

Ngày đăng: 17/05/2021, 21:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w