Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô đối với phát triển kinh tế các hộ gia đình trên địa bàn huyện Trảng Bom.... Trong thời gian vừa qua, hoạ
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phú
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Đồ ng Nai, ngày …tháng….năm 2019
Người cam đoan
Nguyễn Thị Ngọc Yến
Trang 2Đặc biệttôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.Trịnh Quang
Thoại đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu đề tài này
Qua đây tôi cũng xin cảm ơn cán bộ UBNN huyện, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Chi cục thống kê, Phòng Tài chính-Kế hoạch, Phòng Kinh Tế Huyên Trảng Bom đã cung cấp cho tôi số liệu để hoàn thành nghiên cứu của mình
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan, khách quan Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Nai, ngày tháng 5 năm 2019
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Ngọc Yến
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mụctiêu tổng quát 3
2.2 Mụctiêu cụ thể 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Nội dung nghiên cứu 4
5 Kết cấuchi tiết các chương của luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận về tài chính vi mô và tác động của tài chính vi mô tới phát triển kinh tế hộ gia đình 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Nội dung của tài chính vi mô 8
1.1.3 Đặc điểm của tài chính vi mô 10
1.1.4 Mục tiêu của tài chính vi mô 11
1.1.5 Vai trò của tài chính vi mô tới phát triển kinh tế hộ gia đình 12
1.2 Cơ sở thực tiễn về tài chính vi mô và tác động của tài chính vi mô đến phát triển kinh tế hộ gia đình 15
1.2.1 Một số mô hình tài chính vi mô trên thế giới 15
Trang 41.2.1.1 Mô hình ngân hàng Grameem 15
1.2.1.2 Mô hình ngân hàng làng 16
1.2.1.3 Nhóm đoàn kết 17
1.2.1.4 Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI) 18
1.2.2 Đặc điểm chung của các mô hình tài chính vi mô 20
1.2.3 Bài học kinh nghiệm của một số mô hình tài chính vi mô thế giới đối với phát triển kinh tế hộ gia đình 21
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đặc điểmcơ bản của huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai 23
2.1.1 Đặc điểmtự nhiên 23
2.1.1.1 Vịtrí địa lý 23
2.1.1.2 Địa hình, khí hậu và thời tiết 23
2.1.1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng và phân bố sử dụng đất đai 24
2.1.2 Đặc điểmkinh tế - xã hội 25
2.1.2.1 Dân số và lao động 27
2.1.2.2 Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật 28
2.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 31
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 31
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 32
2.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả 32
2.2.3.2.Phương pháp thống kê so sánh 32
2.2.3.3 Phương pháp kiểm định thống kê 32
2.2.3.4 Phương pháp phân tích hồi quy 33
2.2.4 Các chỉ tiêu được sử dụng trong luận văn 35
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36 3.1 Thực trạng các tổ chức tài chính vi mô trên địa bàn huyện Trảng Bom36
Trang 53.2 Thực trạng tiếp cận tài chính vi mô của các hộ gia đình trên địa bàn huyện
Trảng Bom 50
3.3 Tác động của hoạt động tài chính vi mô đến phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Trảng Bom 55
3.4 Giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động tài chính vi mô đối với phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Trảng Bom 59
3.4.1 Cơ sở đề ra giải pháp 59
3.4.1.1 Định hướng mục tiêu phát triển của các tổ chức tài chính vi mô tại Huyện Trảng Bom 59
3.4.1.2 Phương hướng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện Trảng Bom 60
3.4.2 Phương hướng hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô trong thời gian tới 61
3.4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô đối với phát triển kinh tế các hộ gia đình trên địa bàn huyện Trảng Bom 62
3.4.3.1 Tăng lượng vốn cho vay 63
3.4.3.2 Nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ triển khai hoạt động tài chính vi mô và nhận thức của người dân về hoạt động tài chính vi mô 64
3.4.3.3 Tăng cường năng lực quản lý tài chính nhằm đảm bảo các TCTCVM chính thức hoạt động ổn định và bền vững 64
3.4.3.4 Cung cấp sản phẩm đa dạng, áp dụng công nghệ vào sản phẩm tài chính như một hướng đa dạng hóa sản phẩm của các TCTCVM 65
KẾTLUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 66
1 Kết luận 66
2 Đề xuất 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CEP Quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm
CIDSE Cơ quan hợp tác quốc tế vì sự phát triển và đoàn kết
LĐ $ TBXH Lao động và thương binh xã hội
NH CSXH Ngân hàng chính sách xã hội
NHNN&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
TCTCVM Tổ chức tài chính vi mô
Trang 7DANH MỤC BẢ NG
Ký hiệu
2.1 Tình hình sử dụng đất qua các năm của huyện Trảng Bom 24
2.2 Cơ cấu dân số và lao động huyện Trảng Bom giai đoạn
2.3 Thống kê diện tích và dân số các xã tại Huyện Trảng Bom 27
3.1 Lãi suất cho vay tín chấp tại NH Agribank Trảng Bom 44
3.3 Thống kê kết quả tài chính CEP giai đoạn 2013-2017 463.4 lãi suất TCTC vi mô CEP đang áp dụng tại các chi nhánh 47
3.6 Đặc điểm cơ bản của các hộ gia đình tham gia phỏng vấn 513.7 Thực trạng tiếp cận tài chính vi mô của các hộ điều tra 533.8 Lý do các hộ lựa chọn vay vốn từ các tổ chức tài chính vi
3.9 Đánh giá của người dân về các hoạt động cho vay của các tổ
3.10 So sánh thu nhập giữa nhóm hộ vay vốn từ các tổ chức tài
chính vi mô và nhóm hộ vay vốn từ các nguồn khác 583.11 Kết quả ước lượng mô hình phản ánh các yếu tố ảnh hưởng
đến thu nhập của các hộ gia đình 59
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Ở Việt Nam, tài chính vi mô không chỉ là công cụ giảm nghèo mà cònđược nhìn nhận là một phần không thể thiếu của hệ thống tài chính nhằm đảmbảo phổ cập đến các nhóm thu nhập thấp những dịch vụ an toàn, bền vững vàtheo nhu cầu vốn sẵn có cho các đối tượng khác trong hệ thống Thông qua việc phân tích thực trạng hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam có thể thấyrằng: Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong việc mở rộng tiếp cận cả chiều rộng lẫn chiều sâu, vẫn còn không ít những “rào cản” hạn chế sự pháttriển hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam như thể chế cho hoạt động tài chính
vi mô chưa hoàn thiện, môi trường cạnh tranh bất bình đẳng hay những nguyênnhân từ chính bản thân các tổ chức tài chính vi mô như các tổ chức này còn hạnchế trong việc xây dựng chiến lược cụ thể nhằm phát triển sản phẩm, mở rộng phạm vi hoạt động, thực tiễn quản trị kém Để tháo gỡ cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp như tạo lập môi trường chính sách và pháp lý thuận lợi, nângcao năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước và của các tổ chức tài chính vi
mô cũng như hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng cho ngành tài chính vi mô
Việt Nam đã thoát khỏi “ngưỡng nghèo” và gia nhập nhóm thu nhậptrung bình của thế giới từ năm 2010 Tuy nhiên, theo đánh giá của Ngân hàngthế giới năm 2015, Việt Nam là một trong 25 quốc gia có 75% dân số khôngđược tiếp cận các dịch vụ tài chính; chỉ khoảng 50% doanh nghiệp nhỏ và vừa(DNNVV) tiếp cận được vốn vay của ngân hàng Tiếp cận các sản phẩm vàdịch vụ tài chính bởi tất cả mọi người hay còn gọi là tài chính toàn diện có ýnghĩarất quan trọng và hữu ích đối với tất cả các cá nhân, doanh nghiệp, giúp tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao năng lực và bảo đảm hoạt động kinh tế của
họ Tài chính toàn diện cũng hỗ trợ tăng cường ổn định tài chính và phát triểnkinh tế trên diện rộng, giúp đảm bảo tăng trưởng toàn diện Tài chính toàndiện yếu kém có thể khiến nền kinh tế tăng trưởng chậm và bất bình đẳng về
Trang 10thu nhập kéo dài do nhóm thu nhập thấp chiếm phần lớn dân số không đượctiếp cận tài chính Sau gần 30 năm hoạt động tài chính vi mô (TCVM) ở ViệtNam đã được nhìn nhận như một công cụ đắc lực đóng góp đáng kể vào thànhcông của Chương trình Giảm nghèo quốc gia giúp nước ta đạt được tỷ lệ giảmnghèo vô cùng ấn tượng từ 58% vào năm 1993 xuống chỉ còn 4,5% vào năm
2015 (Báo cáo Chính phủ trình Quốc hội tháng 11/2015) Thông qua việc cung
cấp nhiều loại hình dịch vụ tài chính đa dạng như: tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, bảo hiểm cho các hộ nghèo và thu nhập thấp và cácdoanh nghiệp nhỏ Tài chính vi mô chứng minh cho khái niệm người có thu nhập thấp có khả năng thoát khỏi cảnh đói nghèo nếu được tiếp cận với các dịch
vụ tài chính
Theo số liệu của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Trảng Bom, cuối năm 2016 toàn huyện có 1.141 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 1,57%,trong đó hộ nghèo A là 783 hộ, chiếm 1,08%; hộ cận nghèo là 443 hộ, chiếm
tỷ lệ 0,61% trong tổng số hộ của toàn huyện Bằng việc thực hiện các chương trình, chính sách, trong đó có chương trình hỗ trợ vay vốn, đến cuối năm
2017 hộ nghèo của toàn huyện còn 555 hộ, chiếm tỷ lệ 0,69%, trong đó
hộ nghèo A là 208 hộ, chiếm 0,26 % trong tổng số hộ của toàn huyện Cáchoạt động hỗ trợ vốn vay trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai được thực hiện thông qua các dịch vụ tài chính chính thống từ các ngân hàng thương mại và có sự đóng góp của hoạt động tài chính vi mô
Hoạt động tài chính vi mô trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai được thực hiện bởi một tổ chức tài chính vi mô chính thống là Tổ chức Tài chính vi mô CEP và 4 ngân hàng thương mại Trong thời gian vừa qua, hoạt động tài chính vi mô trên địa bàn huyện đã góp phần giúp các hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo có thể tiếp cận được với các nguồn lực tài chính
để phục vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế hộ gia đình Tuy nhiên, hoạt động tài chính vi mô trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai còn có những hạn chế gì? Hiệu quả của hoạt động tài chính vi
Trang 11mô đối với phát triển kinh tế hộ gia đình, đặc biệt là đối với các hộ nghèo đang ở mức độ nào? Cho đến nay trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai chưa có một nghiên cứu nào được tiến hành để trả lời các câu hỏi nêu trên Xuất phát từ thực trạng đó, tôi chọn đề tài “Tác động của hoạt động tài
chính vi mô đến phát triển kinh tế hộ gia đình tại Huyện Trảng Bom, Đồng Nai” làm luận văn tốt nghiệp nhằm làm rõ hoạt động tài chính vi mô đã tác
động đến phát triển kinh tế hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo trên địa bàn huyện để làm cơ sở nâng cao hiệu quả của hoạt động tài chính vi mô đối với phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu tác động của hoạt động tín dụng vi mô đến pháttriển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đề ragiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của tín dụng vi mô đến phát triển kinh tế
hộgia đình trên địa bàn huyện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Tác động của hoạt động tài chinh vi mô tới phát triển kinh tế hộ giađìnhtrên địa bàn huyện Trảng Bom Đề tài tập trung nghiên cứu ở khu vực tài chính vi mô chính thức trên địa bàn Huyện Trảng Bom
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung:
Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động tài chính vi mô giúp cải thiệnsinh kế hộ gia đình tại Huyện Trảng Bom, Đồng nai
* Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu tại Huyện Trảng Bom, Đồng Nai.
* Phạm vi về thời gian: Các số liệu nghiên cứu của đề tài được thu thập từ
năm 2016 đến 2018
4 Nội dung nghiên cứu
- Những lý luận cơ bản của tài chính vi mô và tác động của tài chính vi
mô đến phát triển kinh tế hộ gia đình
- Thực trạng hoạt động tài chính vi mô Huyện Trảng Bom
- Tác động của hoạt động tài chính vi mô đến phát triển kinh tế hộ gia
đình trên địa bàn Huyện Trảng Bom
- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính vi mô đốivới phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Trảng Bom
5 Kết cấu chi tiết các chương của luận văn
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận vănđược kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm cơ bản của địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 13CHƯƠ NG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về tài chính vi mô và tác động của tài chính vi mô tới phát triển kinh tế hộ gia đình
1.1.1 Một số khái niệm
- Khái niệm về tài chính vi mô
Tài chính vi mô là việc cấp cho các hộ gia đình rất nghèo các khoản vay rất nhỏ (gọi là tín dụng vi mô), nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ Tài chính vi
mô thường kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, vì những người nghèo và rất nghèo có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhưng không tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức
Theo quan điểm của ADB, “Tài chính vi mô là việc cung cấp một phạm
vi rộng các dịch vụ như tiền gửi, các tài khoản tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp, những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc các doanh nghiệp rất nhỏ”
Tài chính vi mô khác tín dụng vi mô ở chỗ: tài chính vi mô đề cập đến các hoạt động cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm, chuyển giao dịch vụ và các sản phẩm tài chính khác đến cho nhóm khách hàng có thu nhập thấp Tín dụng vi
mô chỉ đơn giản là một khoản cho vay nhỏ, do ngân hàng hoặc một tổ chức nào đó cấp Tín dụng vi mô thường dành cho cá nhân vay, không cần tài sản thế chấp, hoặc thông qua việc cho vay theo nhóm
- Khái niệm tổ chức tài chính vi mô:
Một cách đơn giản nhất, tổ chức tài chính vi mô (microfinance institutions - MFI) là tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính cho những người có thu nhập thấp Hầu hết các tổ chức tài chính vi mô đều cho vay tín dụng vi mô
Trang 14và chỉ nhận gửi những khoản tiết kiệm rất nhỏ từ người vay chứ không phải
từ công chúng Do đó, một MFI có thể là bất kỳ tổ chức hợp nhất tín dụng, ngân hàng thương mại thu nhỏ, các tổ chức tài chính phi chính phủ hoặc liên kết tín dụng- với vai trò cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo (theo CGAP - Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo)
"Ngân hàng thế giới ước lượng có hơn 7,000 tổ chức tài chính vi mô, phục vụ hơn 16 triệu người nghèo ở các quốc gia đang phát triển Tổng doanh thu bằng tiền mặt của TCTCVM trên toàn thế giới ước lượng là 2.5 triệu Mỹ kim và vẫn duy trì phát triển."
- Khái niệm hộ gia đình
Hộ gia đình (household) là nhóm cá nhân có quá trình ra quyết định
gắn bó với nhau Trong hệ thống kinh tế, hộ gia đình thực hiện một số chức năng quan trọng Một mặt, họ gia nhập thị trường với tư cách người mua hoặc người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ do khu vực doanh nghiệp sản xuất ra (chức năng tiêu dùng)
Mặt khác, họ nắm giữ và cung ứng các đầu vào nhân tố cho khu vực doanh nghiệp để khu vực này sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ (nắm giữ của cải và cung ứng nhân tố sản xuất - bao gồm tư bản, lao động, đất đai và năng lực kinh doanh) Việc cung ứng các nhân tố sản xuất đem lại cho họ thu nhập
và họ sử dụng thu nhập này vào mục đich, nộp thuế và tiết kiệm Các hoạt động kinh tế của khu vực hộ gia đình đều nhằm thực hiện bốn chức năng này
Khái niệm hộ gia đình hay khu vực hộ gia đình chủ yếu được sử dụng trong phân tích kinh tế vĩ mô, còn trong phân tích kinh tế vi mô, người ta thường sử dụng khái niệm người tiêu dùng
- Khái niệm kinh tế hộ gia đình
Kể từ khi Bộ Chính trị ban hàng Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05/04/1998 về “ Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” với mục đích giải
Trang 15phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn, chuyển giao đất đai và các
tư liệu sản xuất khác cho hộ nông dân quản lý và sử dụng lâu dài thì các hộ nông dân đã trở thành những đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp Điều
đó có nghĩa là hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế cơ sở, gọi là kinh tế hộ gia đình, là một thành phần trong cơ cấu kinh tế Từ đây, các hộ gia đình được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được toàn quyền trong điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật tư kỹ thuật, hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
do họ làm ra Nói cách khác, kinh tế hộ gia đình hoạt động theo nguyên tắc tự
bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ trong sản xuất kinh doanh và tự bù lỗ
Kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định Kinh tế hộ gia đình là mô hình kinh tế độc lập, tự chủ, lấy gia đình làm đơn vị, thuộc sở hữu của hộ gia đình
- Khái niệm phát triển kinh tế hộ:
Phát triển kinh tế hộ là sự tăng trưởng cả về mặt lượng lẫn mặt chất của
hộ kinh doanh Về mặt lượng phát triển kinh tế hộ thông qua sự gia tăng số hộ; gia tăng quy mô từ đó làm gia tăng kết quả đầu ra Về mặt chất, phát triển kinh tế hộ được thể hiện ở sự gia tăng hiệu quả kinh doanh của chính hộ kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm; gia tăng tích lũy; gia tăng đóng góp cho xã hội
- Nội dung phát triển kinh tế hộ:
(i) Phát triển về mặt số lượng
Phát triển số lượng hộ kinh doanh là sự gia tăng về số lượng hộ, số lượng hộ kinh doanh gia tăng hằng năm chúng tỏ hộ kinh doanh ngày càng phát triển Để phát triển nhanh về số lượng hộ kinh doanh Nhà nước cần có
Trang 16những chính sách như thúc đẩy các hộ gia đình, các đơn vị kinh tế tập thể hoặc những doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả chuyển sang kinh tế hộ.
(ii) Phát triển về mặt chất lượng
Phát triển kinh tế hộ về mặt chất lượng là việc gia tăng chất lượng hiệu quả hoạt động kinh doanh của lĩnh vực kinh tế hộ theo một số chỉ tiêu đánh giá nhất định nào đó Phát triển về chất lượng hộ kinh doanh thường thấy ở việc cải thiện trình độ quản lý, trình độ công nghệ, tỷ lệ tài sản/ lao động được nâng lên, chất lượng sản phẩm
(iii) Phát triển về mặt quy mô
Mở rộng quy mô hộ kinh doanh là quá trình tăng năng lực sản xuất kinh doanh của từng hộ kinh doanh, là tiêu chí phản ánh tổng hợp sự kết hợp một cách hiệu quả các yếu tố nguồn lực như về tổ chức, kỹ luật, nhân sự, cơ sở vật chất và về tài chính hộ kinh doanh
(iv) Phát triển về mặt cơ cấu
Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất và được thể hiện ở hai khía cạnh chất lượng và số lượng Muốn phát triển cơ cấu kinh
tế nên tập trung việc đẩy mạnh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP; hình thành các vùng kinh tế dực trên lợi thế địa phương; chuyển dịch cơ cấu kinh tế…
1.1.2 Nội dung của tài chính vi mô
Tài chính vi mô là sự cung cấp dịch vụ dịch vụ tài chính, ban đầu là tín dụng và tiết kiệm cho hộ nghèo, những hộ không thể tiếp cập được với các tổ chức tài chính chính thống Nội dung của tài chính vi mô tập trung vào sự cung cấp các dịch vụ liên quan đến tiết kiệm, tín dụng và các dịch vụ tài chính
và các sản phẩm với số lượng tài chính rất nhỏ khác cho người nghèo ở vùng nông thôn, vùng ngoại ô và kể cả là ở thành thị để họ có thể tăng mức thu
Trang 17nhập và cải thiện mức sống Các dịch vụ của tài chính vi mô bao gồm tiền kýquỹ, tiền cho vay, dịch vụ chi trả, chuyển tiền, và bảo hiểm đối với người nghèo và các hộ gia đình có thu nhập thấp và các hoạt động kinh doanh nhỏ của họ.
Nội dung của tài chính vi mô còn được hiểu là sự cung cấp các dịch vụ tài chính chẳng hạn tín dụng, tiết kiệm và bảo hiểm cho người có thu nhập thấp, những người thuộc nhóm nghèo hoặc cận nghèo theo ngưỡng nghèo của quốc gia, và nhằm mục đích tạo dựng giá trị xã hội Tạo dựng giá trị xã hội có nghĩa là tạo ra các nỗ lực trong việc xóa bỏ tình trạng nghèo, cải thiện cơ hội sinh kế cho người nghèo thông qua cung cấp nguồn vốn cho hoạt động kinhdoanh nhỏ, thúc đẩy sự tiết kiệm cho người nghèo để từ đó các vấn đề hiện tại
và rủi ro trong tương lai được giảm thiểu Nội dung của tài chính vi mô còn được hiểu là toàn bộ các dịch vụ tài chính hoặc phi tài chính bao gồm kỹ năng cải thiện và phát triển các hoạt động kinh doanh cho người nghèo
Nội dung của tài chính vi mô còn được hiểu là dịch vụ tài chính được cung cấp bởi các tổ chức tài chính cho người người nghèo bao gồm tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm, cho thuê, chuyển tiền, giao dịch tài sản để đáp ứng được nhu cầu tài chính cơ bản của họ
Tổng quát lại, nội dung của tài chính vi mô có thể được hiểu giống như
“các hoạt động ngân hàng cho người nghèo và hoạt động ngân hàng với người nghèo” Nội dung của tài chính vi mô bao gồm 4 thành phần chính đó là: tín dụng vi mô, tiết kiệm vi mô, bảo hiểm vi mô, và sự gửi tiền và có liên quan trực tiếp đến người nghèo và hộ nghèo
- Tín dụng vi mô: là một lượng tiền nhỏ mà một cá nhân được cho vay
bởi ngân hàng hoặc tổ chức khác Tín dụng vi mô có thể được cung cấp, thường không cần thế chấp, tới một cá nhân hoặc thông qua nhóm vay Mục
Trang 18đích của khoản vay vày là cung cấp tín dụng cho những người đang có nhu cầu.
- Tiết kiệm vi mô: là lượng tiền nhỏ mà người nghèo tiết kiệm để dùng
trong tương lai Những tài khoản tiết kiệm này thường không yêu cầu số dư tối thiểu Tiết kiệm vi mô giúp những hộ gia đình có thu nhập thấp tiết kiệm tiền để đáp ứng được các chi phí không mong muốn và kế hoạch đầu tư trong tương lai
- Bảo hiểm vi mô: đây là một công cụ kinh tế được mô tả bởi mức phí
bảo hiểm thấp được thiết kế để phục vụ người có thu nhập thấp, những người
mà không được phục vụ bởi các cơ chế bảo hiểm xã hội hoặc thương mại, và giúp để giảm thiểu rủi ro ảnh hưởng bởi nghèo đói và sức khỏe
- Sự gửi tiền: đây là sự chuyển các quỹ từ một người trong một vùng
đến một người ở một vùng khác, thường là qua biên giới, tới gia đình và bạn
bè
1.1.3 Đặc điểm của tài chính vi mô
Thứ nhất là tài chính vi mô phải tính lãi suất cao, bởi việc cung cấp các
dịch vụ tài chính cho người nghèo rất tốn kém, đặc biệt khi so sánh với quy
mô cho vay Các khoản vay nhỏ thì cũng đòi hỏi chi phí về nhân sự và các nguồn lực khác tương tự như khoản cho vay lớn, thậm chí còn nhiều hơn, cán
bộ tín dụng phải đến thăm nhà cửa, cơ sở làm ăn của người vay, đánh giá độ tin cậy của người vay thông qua các cuộc phỏng vấn các thành viên gia đình
và những người quen khác của người vay, và có khi còn phải thường xuyên đến gặp người vay để nhắc nhở họ về việc trả nợ Vì thế, tỷ lệ chi phí giao dịch so với tổng tiền vay của các khoản vay nhỏ thường cao Điều đó khiến ngân hàng phải tính lãi suất cho vay cao để trang trải chi phí thực hiện việc cho vay Đồng thời cũng do tín dụng vi mô hoạt động chủ yếu là ở khu vực nông thôn, thường có mật độ dân số phân tán, cơ sở hạ tầng (đường sá, dịch
Trang 19vụ viễn thông) và các dịch vụ xã hội (giáo dục, y tế) có chất lượng thấp Đây cũng là một trong các lý do quan trọng nhất khiến các ngân hàng thương mại không thực hiện các khoản cho vay nhỏ
Thứ hai là cơ chế trách nhiệm liên đới áp dụng giữa những người vay Việc quản lý do một nhóm những người đi vay đảm bảo khả năng thu hồi vốn vay tốt hơn do áp lực nhóm cũng như sự lo sợ về “trừng phạt xã hội” của những người trong nhóm đối với người vay không tuân thủ theo hợp đồng Phương pháp này đã chứng tỏ rất thành công ở nhiều quốc gia khác nhau áp dụng mô hình ngân hàng Garmeen Bank Ở Việt Nam, mô hình này cũng đã được nhiều tổ chức ứng dụng như NHNo (thử nghiệm từ năm 1998), NHCS (2005), quỹ TYM (1999), Tổ chức tài chính vi mô CEP (1991), tuy nhiên mức
độ ứng dụng là khác nhau đối với từng tổ chức.
Thứ ba là các khoản vay tuần hoàn: Việc thanh toán đầy đủ một khoản
vay sẽ tạo cơ hội cho lần vay tiếp theo Cho vay tuần hoàn cho phép hỗ trợ về quản lý tài chính, tạo động lực cho khách hàng vay vốn tuân thủ theo các điều khoản trong hợp đồng
1.1.4 Mục tiêu của tài chính vi mô
Mục tiêu cơ bản của tài chính vi là khắc phục những thất bại của các Ngân hàng hiện đại trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho người nghèo về các dịch vụ tài chính trung gian
Lý do thất bại của các Ngân hàng hiện đại trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho người nghèo là các dịch vụ tài chính của các Ngân hàng này không đáp ứng yêu cầu thiết thực vốn cho người nghèo, có định kiến , cứng nhắc, thiếu các động cơ thúc đẩy và thờ ơ với người nghèo, xem đối tượng khách hàng này không có khả năng đảm bảo các khoản nợ vay Trong cách hiểu thông thường về lưu thông của Ngân hàng thì người nghèo được đặc trưng là thiếu thế chấp đối với cho vay và '' các sản phẩm'' mà người nghèo yêu cầu
Trang 20gắn với các chi phí giao dịch rất cao, rủi ro khó quản lý qua việc sử dụng '' công nghệ'' của Ngân hàng hiện đại (Usemi,2002).
Các tổ chức tài chính vi mô vượt lên được tất cả các thất bại của Ngân hàng hiện đại vì chúng có 6 bài học cơ bản :
(1) Tìm cách thay thế cho thế chấp bằng một cơ sở có hiệu lực để khách hàng lựa chọn
(2) Sử dụng chính lãi suất để quản lý rủi ro và giữ tỷ lệ trả nợ đúng hạn gần như hoàn hảo
(3) Tối thiểu hoá chi phí bằng tiền qua việc cho vay món nhỏ và thu nhập các khoản tiết kiệm nhỏ
(4) Huy động lực lượng cùng ngang hàng hoặc cùng địa vị và đạo đức
xã hội để bắt tuân theo các thoả thuận
(5) Thiết kế và phân phối các sản phẩm và dịch vụ tài chính đáp ứng nhu cầu của người nghèo
(6) Phân đoạn thị trường để có sự tập trung vào người nghèo, vừa là mục tiêu vừa là kích thích
Các dịch vụ Ngân hàng có thể phân thành 5 nhóm sản phẩm cơ bản sau:
+ Tín dụng (Hay thế chấp bằng cộng đồng, các nhóm đồng hành hoặc tiết kiệm bắt buộc)
+ Dịch vụ tiền gửi
+ Các sản phẩm bảo hiểm
+ Các dịch vụ tư vấn tài chính
+ Các dịch vụ biện hộ
1.1.5 Vai trò của tài chính vi mô tới phát triển kinh tế hộ gia đình
Tác động của tài chính vi mô tới quá trình giảm nghèo vẫn còn gây tranh cãi, nhưng về mặt lý thuyết thì tài chính vi mô được xem là một việc
Trang 21cung cấp một phậm vi rộng các dịch vụ tài chính như các khoản vay, tiết kiệm, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo, các hộ có thu nhập thấp và các doanh nghệp nhỏ của họ
Tài chính là việc kinh doanh tiền vốn luỹ tiến và sau đó lại phân bố khắp nơi Tài chính vi mô bao gồm việc phân bổ trong phần nhỏ của các thị trường tài chính nơi người nghèo mở rộnh các hoạt động kinh tế, tăng thu nhập và tài sản đồng thời cùng làm tăng thêm lòng tự tin cho người nghèo trong nền kinh tế thị trường khốc liệt này Như vậy, nhìn nhận theo khía cạnh giảm nghèo, tài chính vi mô có tác động tích cực như sau:
+ Tài chính vi mô giúp người nghèo đấu tranh với đói nghèo bằng chính việc cải thiện thu nhập cho họ
Mức độ nhân lực và vốn trong hộ gia đình có thể tăng lên nhờ các nguồn vốn bổ sung, từ đó giúp các hộ phát triển các hoạt động kinh tế sinh lợi mới hoặc mở rộng quy mô kinh doanh hiện tại Tài chính vi mô được mong đợi làm giảm các chi phí cơ hội của các tài sản vốn, khuyến khích việc sử dụng các công nghệ tiết kiệm sức lao động, tăng cường khả năng cho các hộ gia đình trong việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và ngoài nông nghiệp từ đó làm tăng năng suất lao động gia đình
+ Tài chính vi mô sẽ làm giảm bớt sự tổn hại do các tác động bất thường
Các tác động bất thường như rủi ro thiên nhiên, bênh tật mà người nghèo dễ bị tổn thương nhất Về khía cạnh kinh tế, những tác động trên được hiểu là mức tăng không khhông dự đoán của tiền trả ra vượt quá tiền thu vào Tài chính vi mô sẽ giúp giả quyết về luồng tiền, tránh việc vay tiền với chi phí cao từ các nguồn không chính thức, giảm việc bán khẩn cấp các tài sản sản xuất với giá thấp,
+ Tài chính vi mô có thể tạo ra khả năng cho người nghèo và phụ nữ
Trang 22thông qua việc tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng điều này cũng có nghĩa
là tăng khả năng vị thế kinh tế và xã hội của hộ trong gia đình và cộng đồng
Tài chính vi mô có đóng góp quan trọng cho người nghèo trong việc thoát khỏi cái nghèo Nhìn nhận thía khía cạnh kinh tế một cách đơn giản thì các tổ chức tài chính vi mô có các tác dụng sau:
(1) Đáp ứng tốt vốn lưu động cho người nghèo
(2) Đề xuất cách đàu tư thích hợp cho người nghèo
(3) Trình bày các ý kiến lựa chọn tiết kiệm để tích trữ tài sản
(4) Đề xuất bảo hiểm cho quản lý rủi ro và tiết kiệm cho chu kỳ sống(5) Đáp ứng linh hoạt cho các thay đổi bất thưường ngoài kế hoạch hoặc không thuận lợi
(6) Cung cấp các tư vấn sử dụng tiền cho hộ nghèo
Tiếp cận tài chính vi mô có thể dẫn đến các khoản thu nhập cao hơn cho người nghèo bằng một hoặc bằng một số cơ chế trong các hoạt động đầu
tư hoặc tiết kiệm của các hộ nghèo như sau:
(1) Tăng thu nhập hoặc giảm thiểu thất nghiệp với mức lương hiện tại(2) Có mức lương cao hơn do tăng năng suất với việc làm hiện tài và việc làm mới
(3) Đầu tư vào các tài sản cho sản xuất hiện tại hoặc yêu cầu các tài sản sản xuất được bổ sung
(4) Thu nhập cao hơn với việc tạo ra nhiều hơn các sản phẩm hàng hoá dịch vụ được bán trong thị trường do tiếp cận được các thị trường mới hoặc thị trường có giá trị cao hơn
(5) Giảm chi phí sinh kế cho các hộ và chi phí sản xuất cho các tổ chức kinh doanh do chuyển giao được công nghệ, do vay nợ với chi phí thấp hoặc tiếp cận các nhu cầu cơ bản hoặc các hàng hoá dịch vụ trung gian rẻ
Trang 231.2 Cơ sở thực tiễn về tài chính vi mô và tác động của tài chính vi mô đến phát triển kinh tế hộ gia đình
1.2.1 Một số mô hình tài chính vi mô trên thế giới
1.2.1.1 Mô hình ngân hàng Grameem
Mô hình này do ngân hàng Grameen tại Băngladet phát triển, đượcthành lập chính thức năm 1976, và đến năm 1983 thì chuyển đổi thành mộtngân hàng chính thống theo một đạo luật đặc biệt của Chính phủ dành cho ngân hàng này Đây là một mô hình đặc biệt bởi 94% vốn của nó là của chính những khách hàng Họ chủ yếu là phụ nữ Phần còn lại, 6% cổ phần, thuộc sởhữu của nhà nước Với mục đích chính là nhằm phục vụ những người phụ nữnông thôn, không có ruộng đất, mong muốn tài trợ cho các hoạt động thu nhập Bắt đầu bằng thử nghiệm nhỏ (bỏ 27 dollar tiền túi cho 42 hộ gia đình nghèo vay) thành công, Yunus đã thành lập ngân hàng Grameen Hiện nay ngân hàng này có tới 2100 chi nhánh
để cho vay đến các thành viên trong nhóm Các thành viên trong nhóm cùng bảo lãnh những món vay của nhau và chịu trách nhiệm liên đới về pháp luật
về việc hoàn trả nợ của các thành viên khác trong cùng nhóm Bất kỳ thành
Trang 24viên nào cũng không được vay thêm nếu các thành viên khác trong nhóm không trả hết nợ Không cần tài sản thế chấp.
Sản phẩm:
Các món vay thường có kỳ hạn từ 6 tháng đến 1 năm và việc hoàn trảđược thực hiện hàng tuần Số tiền vay thường dao động từ $100 đến $300 vớilãi suất khoảng 20% năm Tiết kiệm là hoàn toàn bắt buộc
Tác độ ng và hiệu quả:
Người vay của Grameen hiện phục vụ hơn 58 triệu khách hàng với sốlượng 5,4 tỷ USD có tới 97% là phụ nữ, tỷ lệ trả nợ rất cao (98%) Lý do cũng không phải đơn giản là phụ nữ ít trốn nợ hơn mà là do họ được gia đình cử đi vay và đứng sau họ (lao động để trả nợ) chính là chồng và con họ Tác độngxấu của việc này là nhiều trường hợp hộ sản xuất nhỏ đã phải cho con nghỉhọc để ở nhà làm thêm
Tín dụng vi mô còn có tác động tích cực đến việc kích thích năng khiếukinh doanh nhỏ của người vay, đặc biệt là phụ nữ Để sử dụng vốn vay thành công, tự thân người vay phải tìm tòi cách tính toán đồng tiền cho hiệu quả,nâng cao các kỹ năng sản xuất hộ gia đình (chăn nuôi, làm hàng thủ công, gia công), các kỹ năng bán hàng (tiếp thị, mở rộng quan hệ ra vùng xung quanh hoặc vùng xa)
Ứ ng dụng của mô hình:
Grameen Bank và ủy ban vì sự tiến bộ ở nông thôn Bangladesh, Tulay
sa Pag – Unlad, Inc; Dự án Dungganon ở Philippines; ở Việt Nam có các tổchức áp dụng mô hình này là TYM, dự án Việt-Bỉ, CIDSE (cơ quan hợp tác quốc tế vì sự phát triển và đoàn kết) …
1.2.1.2 Mô hình ngân hàng làng
Mô hình này được Tổ chức trợ giúp cộng đồng quốc tế (FINCA) phát triển vào giữa thập kỷ 80
Trang 25Phương pháp : khách hàng lập thành các nhóm tối thiểu từ 15 – 20
thành viên, đa sốlà phụ nữ, vốn vay được chia đều cho các thành viên, và mỗithành viên đều sở hữu một “cổ phần” của ngân hàng Tất cả các thành viên
đều phải ký một thảo ước vay vốn nhằm đưa ra sự bảo đảm chung Số tiềncho ngân hàng làng xã vay thường dựa trên tổng tất cả các yêu cầu vay củacác thành viên Các món vay với ngân hàng làng xã thường được cung ứng theo chu kỳ cố định, thường từ 10 đến 12 tháng, với việc thanh toán toàn bộ
số tiền vào cuối kỳ Số tiền vay tiếp sau có liên hệ với số tiền tổng cộng đượctiết kiệm bởi các thành viên ngân hàng Các ngân hàng lãng xã có mức độkiểm soát dân chủ cao và độc lập Các cuộc họp hàng tháng nhằm thu các khoản tiền tiết kiệm, giải ngân các món vay, tham dự các vấn đề về quản lý vànếu có thể, tiếp tục các khoá đào tạo với cán bộ tổ chức tài chính vi mô
Sản phẩm: Các món vay có lãi suất thương mại (1 – 3%/tháng) và lãi
suất sẽ cao hơn nếu nguồn cho vay xuất phát từ một khoản tài trợ nội bộ Mộtvài ngân hàng đã mở rộng cung cấp dịch vụ bao gồm cả giáo dục về đổi mớinông nghiệp, dinh dưỡng và y tế Tiết kiệm của các thành viên gắn liền với sốtiền vay và được sử dụng để tài trợ cho những món vay mới hoặc cho những hoạt động tạo thu nhập
Mô hình tài chính vi mô đã được áp dụng: Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV), Tầm nhìn thế giới (WVI), CARE ở Guatermala
Trang 26động nhỏ Các thành viên trong nhóm cùng bảo đảm việc hoàn trả món vay,
và việc tiếp cận các món vay tiếp theo phụ thuộc vào sự hoàn trả thành công của tất cả các thành viên trong nhóm Các khoản thanh toán được thực hiệnhoàn toàn tại trụ sở của chương trình Mô hình cũng kết hợp sự hỗ trợ kỹthuật tối thiểu tới người vay, chẳng hạn huấn luyện và xây dựng tổ chức Các khoản tiết kiệm thường được đòi hỏi nhưng nhiều khi được khấu trừ số tiềnvay vào thời điểm giải ngân món vay chứ không nhất thiết đói hỏi khách hàng phải tiết kiệm trước khi nhận được món vay Số tiền tiết kiệm về cơ bản phục
vụ nhu một số dư bù đắp, bảo đảm cho một phần của số tiền vay
Sản phẩm: Số tiền vay ban đầu thường nằm trong khoản $100 đến
$200 Những món vay sau đó không có giới hạn trên Lãi suất thường khá cao
và dịch vụ cũng được tính gộp Các khoản tiết kiệm thường được yêu cầu nhưmột phần của món vay Một vài tổ chức khuyến khích việc thiết lập các quỹcứu trợ khẩn cấp trong nội bộ nhóm để hoạt động như một phương tiện bảo
đảm an toàn Có rất ít sản phẩm tiết kiệm tự nguyện được cung cấp
Mô hình này được áp dụng: BancoSol ở Bolivia; các chi nhánh củaACCION; Asociacion Grupos Solidarios de Colombia …Ở Việt Nam các tổchức áp dụng mô hình này có Tổ chức cứu trợ trẻ em Mỹ và Cơ quan cứu tế
và phát triển dòng Adventis (ADRA)
1.2.1.4 Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI)
Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI) là một Ngân hàng Nhân dân Indonesia, một ngân hàng nông thôn thuộc sở hữu nhà nước đã ngừng hẳnviệc cung cấp tín dụng bao cấp và tiến hành một phương pháp vận hành theo các nguyên tắc thị trường Đặc biệt, ngân hàng Nhân dân Rakyat Indonesia (BRI) đã phát triển một hệ thống khuyến khích người vay (những nông dân nghèo) và nhân viên của mình một cách rất rõ ràng, khen thưởng với những
Trang 27người trả nợ đúng hạn, và hoạt động dưạ trên huy động tiết kiệm cũng như nguồn vốn của ngân hàng.
BRI với hơn 4.500 văn phòng tại Indonesian Archipelago và 30.000 nhân viên, ngân hàng này phục vụ một số tài khoản đáng kinh ngạc: 35 triệutài khoản Thông qua mạng cục bộ tại nhiều tỉnh thành ở Indonesia, cho vay những nguồn vốn nhỏ, thường là vài trăm USD cho những nông dân nghèo và những nhà buôn nhỏ Mỗi chi nhánh nhỏ được uỷ quyền hoạt động độc lậpvới trách nhiệm cân đối tài sản và lợi nhuận độc lập Tiền vốn cho vay tại các chi nhánh nhỏ của Ngân hàng BRI tạo lợi nhuận tới 7% hàng năm Các chi nhánh này hoàn toàn dựa vào nguồn vốn vay của địa phương và lãi suất cho vay ở mức cao Chi phí cho vay 100 USD tương tự như chi phí dùng để thựchiện việc cho vay những khoản vốn lớn hơn nhiều Thu nhập trung bình các khách hàng của Bank Rakyat Indonesia tăng 112%, và 90% hộ thoát nghèo Các chuyên gia tín dụng vi mô đều cho rằng giữ mức lãi suất ổn định và giảmchi phí là cách duy nhất để duy trì chương trình cho người nghèo vay vốn, những người thường trả lãi suất cao hơn nhiều khi vay vốn bên ngoài Đây là
mô hình ngân hàng thuộc khu vực chính thức cung cấp dịch vụ tài chính vi
mô Thành công của BRI chỉ ra rằng cho vay tín dụng vi mô có thể giúp duy trì sự ổn định dài hạn của ngân hàng, kể cả trong thời gian có khủng hoảng (1997 – 1998) Vào thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng Châu Á, Ngân hàng BRI vẫn tổng kết có lãi trước thuế 89 triệu USD trong mảng cho vay tín dụng, trong khi bộ phận hợp tác và cho vay vốn khác đã chịu lỗ 3.4 tỷ USD.Kinh nghiệm của BRI cho thấy, cho vay vốn tín dụng vi mô là một phương pháp hiệu quả để thử nghiệm vào một thị trường còn chưa được khai thác hết– thị trường tín dụng cho người nghèo BRI đưa ra bài học cho những ngân hàng thương mại lớn nhất Châu Á vẫn chưa thu hồi được những nguồn vốncho vay lớn, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997 –
Trang 281998) Với hầu hết các Ngân hàng Thương mại, cho người nghèo vay vốnkhông phải là giải pháp kinh doanh tốt Nhưng Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI) đã chứng tỏ rằng tín dụng vi mô có thể tạo ra lợi nhuận cao ít rủi ro, thậm chí còn giúp duy trì sự ổn định dài hạn cho ngân hàng BRI là một ngân hàng được xếp loại là ngân hàng tốt nhất thế giới Đây cũng là một điển hình khuyến khích các ngân hàng thương mại tham gia vào hoạt động tài chính vi
mô
1.2.2 Đặc điểm chung của các mô hình tài chính vi mô
Đa số khách hàng của các mô hình tổ chức trên đều là phụ nữ nông thôn hoặc thành thị gặp khó khăn về kinh tế, thỏa mãn các điều kiện của tổchức vi mô đã đề ra
+ Các mô hình tổ chức TCVM trên đều cung cấp nhiều loại hình sảnphẩm tín dụng, hầu hết các khách hàng bắt đầu với sản phẩm tín dụng cơ bản–vốn vay sản xuất ngắn hạn, không cần tài sản thế chấp Mức vốn từ 6,5$ đến300$, lãi suất từ 0,9% đến 3%/tháng, kỳ hạn vốn từ 6 tháng đến 12 tháng nhưng không bao giờ quá 24 tháng Sau khi trả hết khoản vay và lãi lần đầu, các khách hàng có thể được vay số tiền lớn hơn ở các vòng vay kế tiếp Có thể trả hàng tuần, 2 tuần một lần hoặc hàng tháng
+ Các mô hình tổ chức trên đều áp dụng hình thức nhóm, các thành viên trong nhóm có trách nhiệm và bảo lãnh cho nhau trước các khoản vay trong các buổi sinh hoạt cụm, nhóm được tổ chức thường xuyên, nhằm giảmthiểu rủi ro tín dụng
+ Yêu cầu về tiết kiệm bắt buộc như một điều kiện để vay vốn
+ Đa số các mô hình trên đều có sự gắn kết mật thiết với các đoàn thể
xã hội, chính quyền địa phương, tạo thuận lợi trong việc hiểu rõ được đờisống, nhu cầu cũng như nguồn thu nhập chính của khách hàng
Trang 29+ Hệ thống kiểm soát nghiêm ngặt và có kỷ luật nhằm kiểm soát việc
sử dụng vốn và đảm bảo việc hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của thành viên
1.2.3 Bài học kinh nghiệm của một số mô hình tài chính vi mô thế giới đối với phát triển kinh tế hộ gia đình
Hoạt động tài chính vi mô ở các nước đã mang lại nhiều bài học quý giá về những phương thức thực hiện cũng như các thông lệ cần tuân thủ Kinh nghiệm tốt về hoạt động cộng đồng các tổ chức tài chính vi mô có thể liệt kê như sau (Các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam cũng có thể học tập kinh nghiệm)
+ Xác định sản phẩm cho thị trường dựa trên phân tích tình hình kinh
tế, chính trị - xã hội trong nước
+ Sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ và khu vực tư nhân trong cảicách ngành TCVM Nhận thức rõ ràng hoạt động TCVM không giống như hoạt động ngân hàng thương mại truyền thống, do vậy chú trọng việc xây dựng một khung pháp lý riêng cho loại hoạt động này
+ Thế chấp và bảo lãnh chủ yếu chỉ là động cơ thúc đẩy và niềm tin, ít
ý nghĩa vềmặt kết quả thu hồi vốn
- Nguyên tắc tuần tự: việc hoàn trả đúng thời hạn sẽ mở ra cơ hội cho vay thêm (nhiều hơn, lâu hơn, lãi suất thấp hơn)
- Thực hiện theo cách cho vay phi chính thức (bên cho vay): nhân viên cho vay có trách nhiệm đối với toàn bộ quy trình vay, thẩm định vốn vay, giám sát, đôn đốc khách hàng trả nợ
- Phi tập trung hoá, kiểm soát hiệu quả và có sự hỗ trợ của công nghệthông tin trong hoạt động và quản lý
- Kết hợp các dịch vụ tín dụng với các hoạt động xã hội, nâng cao khảnăng sửdụng nguồn vốn vay có hiệu quả cho khách hàng
Trang 30- Tối đa hoá lợi ích của khách hàng, cách tiếp cận lấy khách hàng làm trung tâm (tiện lợi, trình tự thủ tục không mất thời gian).
- Kinh nghiệm từ ngân hàng Rakyat Indonesia: không phải tín dụng vi
mô cho người nghèo đối với các ngân hàng thương mại lớn là khó thực hiện
Trang 31CHƯƠ NG 2
ĐẶ C ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Trảng Bom được thành lập ngày 01/01/2004, trên cơ sở chia tách từ huyện Thống Nhất (cũ) theo Nghị định số 97/2003/NĐ – CP ngày 21/8/2003 của Chính phủ; là một huyệntrung du, phía Nam giáp huyện Long Thành, phía đông giáp huyện Thống Nhất, phía Tây giáp thành phố Biên Hòa,phía bắc giáp huyện Vĩnh Cửu
2.1.1.2 Địa hình, khí hậu và thời tiết
Huyện Trảng Bom nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao đều quanh năm, ít gió bão, không có mùa đông lạnh, không có biến đổi lớn về khí hậu, rất thuận lợi cho việc bố trí sử dụng đất Trong năm, khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng 90% lượng mưa hàng năm, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với khoảng 10% lượng mưa trong năm Lượng mưa bình quân năm 1.800-2.000 mm/năm; lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm Số giờ nắng trung bình khoảng 2.600-2.700 giờ/năm Nhiệt độ cao đều trong năm, trung bình hàng năm khoảng 25-260C, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 210C, tháng có nhiệt độ cao nhất từ 34-350C Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 78-82% Các tháng mùa mưa có độ ẩm tương đối cao 85 - 93% Các tháng mùa khô có độ ẩm tương đối thấp 72- 82% Độ ẩm trung bình hàng năm cao nhất
là 95% Độ ẩm trung bình hàng năm thấp nhất là 50%
Trang 322.1.1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng và phân bố sử dụng đất đai
Huyện Trảng Bom nằm trong vùng địa hình đồi thấp, thoải; cao độ thấp dần từ Bắc xuống Nam Địa hình của huyện có thể chia thành ba khu vực: (1) khu vực có địa hình thấp nằm ở phía Nam và ven Quốc lộ 1A; (2) khu vực địa hình cao nằm ở phía Bắc của huyện; (3) khu vực có địa hình trung bình nằm ở phía Bắc của Quốc lộ 1A
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất qua các năm của huyện Trảng Bom
ĐVT: ha
(Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường-2018)
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa
Trang 33Huyện có diện tích tự nhiên là 325.41 Km2, chiếm 5,51% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; diện tích đất nông nghiệp là 25.747ha, chiếm 79,12% đất tự nhiên của huyện, vừa là đặc thù tự nhiên, vừa là nhân tố quan trọng trong định hướng phát triển các loại cây lâu năm, cây ngắn ngày và cây lương thực như: cao su, cà phê, tiêu; cây ăn quả, điều, chôm chôm, sầu riêng, ngô, mía, bông, các loại đỗ và lúa nước (theo Niên giám thống kê huyện Trảng Bom năm 2017).
Có 05 nhóm đất: Nhóm đất Gley có diện tích 614 ha chiếm 1,99% diện tích toàn huyện, do ảnh hưởng của quá trình ngập nước nên trong tầng dày đất
từ 0 – 50 cm bị gley nặng, thích hợp với việc trồng lúa nước Nhóm đất tầng mỏng có diện tích 61 ha, chiếm 0,19% diện tích tự nhiên Tầng đất hữu hiệu mỏng, trơ sỏi đá trên bề mặt, không thích hợp sản xuất nông nghiệp Nhóm đất đen có diện tích 14.332 ha, chiếm 44,28% diện tích tự nhiên (lớn nhất huyện), loại đất này màu mở thích hợp trồng cây công nghiệp ngắn ngày, cây
ăn trái và hoa màu Nhóm đất xám có diện tích 13.701 ha, chiếm 42,33% diện tích tự nhiên, khá thích hợp với nhiều loại cây nhưng đòi hỏi đầu tư cao Nhóm đất đỏ có diện tích 3.628 ha, chiếm 11,21% diện tích tự nhiên, thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, cây ăn trái…
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trang 34Bảng 2.2 Cơ cấu dân số và lao động huyện Trảng Bom
giai đoạn 2017 -2018
triển (%) Số
lượng (người)
Cơ Cấu (%)
Số lượng (người)
Cơ Cấu (%) 2018/2017
Trang 35Diện tích tự nhiên (km 2 )
Dân số trung bình (người)
Mật độ dân số (người/km 2 )
(Nguồn: Thống kê Huyện Trảng Bom)
Dân số trung bình 308.144 mật độ dân số được xem là cao với 946,94 người/km2 GDP bình quân đầu người 42,177 triệu đồng; toàn huyện có 22 dân tộc anh em cùng chung sống Lực lượng lao động trong độ tuổi toàn huyện 197.700 người
Trang 362.1.2.2 Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật
Từ một huyện thuần nông, ngày nay Trảng Bom đã có nền kinh tế công nghiệp đứng vào hàng thứ 4 vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Sớm trở thành huyện công nghiệp theo hướng hiện đại đang là mục tiêu của Trảng Bom trong thời gian tới Để đạt được mục tiêu huyện công nghiệp theo hướng hiện đại và thu hút được các nhà đầu tư lớn, vấn đề giao thông hạ tầng, nâng cao nguồn nhân lực và cải cách thủ tục hành chính được lãnh đạo huyện đặc biệt quan tâm, đề ra những giải pháp, mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn Nhờ đó, trong những năm qua, kinh tế của huyện đã đạt được những kết quả khả quan Đột phá nhờ đầu tư đồng bộ vào hạ tầng
Thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu ngành Công nghiệp của tỉnh giai đoạn 2016-2021 và cũng là mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ III nhiệm kỳ 2016 – 2021, ngành Công nghiệp huyện Trảng Bom đã có những bước phát triển cao và luôn ổn định Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp tăng bình quân 15%/năm; sự tăng trưởng và phát triển của ngành Công nghiệp trong thời gian qua đã tác động tích cực vào phát triển của ngành Thương mại - dịch vụ, góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế huyện Trảng Bom Cơ cấu kinh tế huyện từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực, ước năm 2020, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm gần 69%
Để phục vụ chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà trọng tâm hướng tới mục tiêu huyện công nghiệp, thời gian qua, Trảng Bom đã tập trung đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông, hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tìm đến đầu tư Đến nay trên địa bàn huyện đã có 4 khu công nghiệp tập trung, thu hút 158 dự án, trong đó có 145 dự án đã đi vào hoạt động ổn định với tổng vốn đăng ký trên 1,5 tỷ USD, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế công nghiệp của
Trang 37huyện và tạo ra được nhiều việc làm ổn định cho lao động địa phương Ngoài các khu công nghiệp, huyện đã quy hoạch 4 cụm công nghiệp địa phương với diện tích hơn 186 ha, trong đó, Cụm công nghiệp vật liệu xây dựng Hố Nai 3
đã xây dựng xong kết cấu hạ tầng và tỷ lệ lấp đầy gần 100%, 3 cụm công nghiệp còn lại được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết, kêu gọi nhà đầu
tư vào lĩnh vực hạ tầng giao thông, tạo đà thu hút các nhà đầu tư lớn
2.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế
ĐVT: Tỷ đồng
Biểu đồ 2.1 Tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp huyện Trảng Bom
giai đoạn 2016 – 2018
(Nguồn: Báo cáo KTXH gia đoạn 2016 -2018)
Huyện Trảng Bom có một vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển công nghiệp của tỉnh Đồng Nai, hiện nay trên địa bàn huyện đã có 4 KCN gồm: Hố Nai, Sông Mây, Bàu Xéo và Giang Điền và 8 cụm công nghiệp địa phương đã và đang xây dựng Với tổng diện tích 1.943 ha, các
Trang 38KCN đã thu hút 187 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký trên 1,4
tỷ USD, trong đó 127 cty đi vào sản xuất, tạo việc làm cho trên 90 ngàn lao động
Trong những năm qua, huyện đã đẩy mạnh và hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội định hướng đến năm 2020 Đặc biệt, các quy hoạch ngành, quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn, chợ, giao thông, các công trình văn hoá, thể thao…Ngoài các tuyến giao thông quan trọng dẫn đến các khu, cụm CN thì phong trào xã hội hóa giao thông được đẩy mạnh 100% số xã có đường nhựa về đến trung tâm Cơ bản đã hình thành kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, thông tin liên lạc)…Trên địa bàn huyện có 1.012 doanh nghiệp, cơ sở, ngành nghề nông thôn, và 20 đơn vị hoạt động theo luật HTX với 7.471 xã viên
Tiềm năng về du lịch: Nằm trong khu vực có hồ Trị An, có quốc lộ 1A
đi qua, nhờ lợi thế về điều kiện tự nhiên, môi trường, sự kết hợp hài hòa giữa rừng trồng và mặt nước ao hồ, thác ghềnh tự nhiên, điều kiện để phát triển các loại hình du lịch dịch vụ, nhất là du lịch sinh thái thác Đá Hàn, thác Giang Điền, chùa Đà La Ni, chùa Ngọc Nhẫn là những thắng cảnh đẹp trên địa bàn huyện
Về sự nghiệp giáo dục - nguồn lao động: Trên địa bàn huyện hiện có 1 trường đại học, 2 trường cao đẳng, 1 trung tâm dạy nghề và 5 cơ sở dạy nghề, hàng năm đào tạo trên 5 ngàn học viên, góp phần bổ sung nguồn nhân lực có chất lượng cho địa phương
Tình hình chính trị, trật tự an toàn được tại địa phương luôn ổn định; sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, xây dựng nông thôn mới…được quan tâm đầu tư xây dựng
Trang 392.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Việc lựa chọn địa điểm nghiên cứu có ảnh hưởng quyết định đến kết quả nghiên cứu Để lựa chọn địa điểm nghiên cứu, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế, thực trạng hộ vay vốn trên địa bàn huyện Trảng Bom lựa chọn được xã Tây Hoà và Đông Hòa làm địa điểm nghiên cứu và các chuyến đi khảo sát thực tế
Xã Tây Hòa và Đông Hòa, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai là hai xã thuộc khu vực trung du, có tỷ lệ hộ nghèo tương đối cao Trên địa bàn xã, để lựa chọn được mẫu đại diện, nhờ sự hướng dẫn của cán bộ UBND huyện, căn
cứ vào báo cáo tổng kết hàng năm về tình hình vay vốn tôi quyết định lựa chọn phỏng vấn các hộ thuộc diện hộ nghèo tại hai xã
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, tài liệu:
Đây là các số liệu từ các công trình nghiên cứu trước, được lựa chọn sử dụng vào các mục đích phân tích, minh họa rõ nét về nội dung phân tích Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn: tạp chí, sách báo, văn kiện, các công trình nghiên cứu trước đó
Các số liệu đã được công bố ở các tổng hợp, báo cáo, sổ sách theo dõi, quan tâm tới dân số, lao động, đất đai, hỗ trợ, tình hình kinh tế, xã hội, môi trường của địa bàn huyện Trảng Bom được thu thập thông qua Ban thống kê, UBNN huyện Trảng Bom
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua quan sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp các hộ dân thuộc diện hộ nghèo tại địa phương thông qua phiếu điều tra
Hoạt động tài chính vi mô trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai được tiến hành bởi Tổ chức Tài chính vi mô CEP và một số ngân hàng, trong đó TCTCVM CEP hoạt động chính trong lĩnh tài chính vi mô và phần lớn người dân tiếp cận với dịch vụ tài chính vi mô trên địa bàn huyện là
Trang 40khách hàng của CEP Vì vậy, đối tượng được điều tra của luận văn được lựa chọn dựa vào số lượng cách hàng của CEP Theo số liệu của TCTCVM CEP, tổng lượng khách hàng của tiếp cận với dịch vụ tài chính vi mô của họ khoảng 1.000 hộ Dựa vào công thức chọn mẫu của Yamane (1967) và với sai số trong chọn mẫu là 10%, số lượng mẫu điều tra của luận văn được xác định như sau:
n = 1000
1+1000∗0,12 ≈ 91Căn cứ vào con số được xác định theo công thức, luận văn đã tiến hành phỏng vấn 100 người (đại diện cho 100 hộ gia đình được vay vốn từ cácchương trình khác nhau) tại hai xã Tây Hòa và Đông Hòa, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (mỗi xã 50 hộ) bằng phiếu chuẩn bị sẵn
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
2.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này được dùng để mô tả các chỉ tiêu liên quan đến các nguồn lực kinh tế của hộ như: đất canh tác, lao động, lượng vốn dành cho sản xuất, số lượng vốn đi vay Các chỉ tiêu được sử dụng trong phương pháp này bao gồm: số bình quân, tỷ trọng, cơ cấu
2.2.3.2.Phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp này được sử dụng để so sánh các chỉ tiêu nghiên cứu trong đề tài giữa các năm khác nhau, giữa các nhóm hộ khác nhau (nhóm hộ vay vốn từ các tổ chức tài chính vi mô và nhóm hộ vay vốn từ các nguồn khác) Các chỉ tiêu của phương pháp này được sử dụng trong phân tích gồm: tốc độ phát triển bình quân, tốc độ phát triển liên hoàn
2.2.3.3 Phương pháp kiểm định thống kê
Bản chất của phương pháp này là so sánh số bình quân giữa các nhóm khác nhau Trong nghiên cứu này T-test đã được sử dụng để đánh giá tác động của việc các hộ gia đình vay vốn từ các tổ chức tài chính vi môn đến thu nhập của họ Cụ thể, T-test được sử dụng để so sánh sự khác biệt về thu nhập