1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tương quan giữa lâm sàng và x quang trong đánh giá nghiêng cổ và lệch vai trên bệnh nhân vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên

119 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 8,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi và giới 44 Biểu đồ 3.2 Triệu chứng lâm sàng của BN nghiên cứu theo nhóm tuổi 47 Biểu đồ 3.3 Triệu chứng lâm sàng của nhóm BN

Trang 1

*****

NGUYỄN HỒ HUY HOÀNG

TƯƠNG QUAN GIỮA LÂM SÀNG VÀ X-QUANG TRONG ĐÁNH GIÁ NGHIÊNG CỔ VÀ LỆCH VAI TRÊN BỆNH NHÂN VẸO CỘT SỐNG VÔ CĂN THANH THIẾU NIÊN

Chuyên ngành: Ngoại khoa (Chấn thương chỉnh hình)

Mã số: 8720104

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Hướng dẫn khoa học: TS BS VÕ QUANG ĐÌNH NAM

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học, Bộ môn Chấn thương chỉnh hình - Phục hồi chức năng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, Ban Giám đốc Bệnh

viện Chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng lưu trữ hồ sơ, Phòng

kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình đã giúp đỡ và tạo mọi điều

kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

TS BS Võ Quang Đình Nam - Người Thầy, người anh đã dìu dắt tôi những

bước đi đầu tiên trong lĩnh vực phẫu thuật Chấn thương chỉnh hình nói chung và

phẫu thuật cột sống nói riêng, người đã hướng dẫn trực tiếp tôi hoàn thành luận

kiện và cho phép tôi tham gia học tập, hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, tâp thể Khoa Chỉnh hình Nhi, Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Phòng mổ - Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình đã giúp đỡ tôi

hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, tâp thể khoa Chấn thương chỉnh hình – BV Chợ Rẫy, BV Đại học Y Dược TP.HCM, BV Nhân dân Gia Định đã giúp đỡ

tôi học tập và trau dồi chuyên môn

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành những bệnh nhân và thân nhân của họ đã hợp tác tham gia nghiên cứu tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn

Bằng lòng biết ơn và kính trọng, con xin cảm ơn Ba, Mẹ những người đã nuôi dưỡng và dạy bảo con thành người, luôn bên cạnh độ ng viên khích lệ trong

những lúc khó khăn nhất để con có được ngày hôm nay Cảm ơn những người thân

nhất trong gia đình, là nguồn động viên lớn nhất của tôi

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tất cả những người bạn đ ã luôn độ ng viên

và giúp đỡ tôi trong công việc và trong cuộc sống

TPHCM, ngày 23 tháng 10 năm 2019 Nguyễn Hồ Huy Hoàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

NGUYỄN HỒ HUY HOÀNG

Trang 4

1.2 Sơ lược giải phẫu và chức năng của cột sống 4

3.1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 44 3.2 Đặc điểm lâm sàng, X-quang VCS vô căn của nhóm BN nghiên cứu 45

Trang 5

3.3 Tương quan giữa lâm sàng và x-quang trong đánh giá nghiêng cổ và lệch vai

56

4.1 Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 60 4.2 Đặc điểm lâm sàng, xquang VCS vô căn của nhóm BN nghiên cứu 62 4.3 Tương quan giữa lâm sàng và X-quang trong đánh giá nghiêng cổ và lệch

Bệnh án mẫu Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BN: Bệnh nhân BV: Bệnh viện CS: Cộng sự HC: Hội chứng KQ: Kết quả LQ: Liên quan LS: Lâm sàng NC: Nghiên cứu PT: Phẫu thuật TB: Trung bình TL: Thắt lưng VCS: Vẹo cột sống XQ: X-Quang

SRS: Scoliosis Research Socity (Hội nghiên cứu vẹo cột sống)

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân theo dân tộc và khu vực sống 45 Bảng 3.3 Tiền sử gia đình có người bị vẹo cột sống 45 Bảng 3.4 Đánh giá tình trạng CS dựa trên bộ câu hỏi SRS-22r 46 Bảng 3.5 Triệu chứng lâm sàng của nhóm BN nghiên cứu 46 Bảng 3.6 Triệu chứng LS của BN nghiên cứu theo nhóm tuổi 47 Bảng 3.7 Triệu chứng LS của BN nghiên cứu theo giới 48

Bảng 3.10 Mối LQ phía vai cao hơn với MĐ mất cân bằng vai bên trong 50 Bảng 3.11 Mối LQ phía vai cao hơn với mức độ mất cân bằng vai bên ngoài 51 Bảng 3.12 Phân loại vị trí VCS dựa trên X-quang 51 Bảng 3.13 Phân loại theo bên lệch vẹo cột sống 52 Bảng 3.14 Phân loại mức độ vẹo cột sống dựa vào góc Cobb 53 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa vị trí vẹo với mức độ vẹo cột sống 54 Bảng 3.16 X-quang đánh giá nghiêng cổ và lệch vai 54 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tuổi của BN và mức độ cong vẹo CS 54 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa giới và mức độ cong vẹo CS 55 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa loại đường cong và mức độ VCS 55 Bảng 3.20 Tương quan lâm sàng giữa nghiêng cổ và lệch vai 56 Bảng 3.21 Tương quan giữa LS và X-quang trong đánh giá nghiêng cổ 57 Bảng 3.22 Tương quan giữa LS và X-quang trong đánh giá lệch vai 57 Bảng 3.23 Lâm sàng đánh giá nghiêng cổ trước và sau phẫu thuật 58 Bảng 3.24 Lâm sàng đánh giá lệch vai sau trước và sau phẫu thuật 58 Bảng 3.25 X-quang đánh giá nghiêng cổ và lệch vai trước và sau PT 59

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi và giới 44 Biểu đồ 3.2 Triệu chứng lâm sàng của BN nghiên cứu theo nhóm tuổi 47 Biểu đồ 3.3 Triệu chứng lâm sàng của nhóm BN nghiên cứu theo giới 48 Biểu đồ 3.4 Phân loại vị trí vẹo cột sống dựa trên hình ảnh X-Quang 52 Biểu đồ 4.1 Đồ thị hồi quy tuyến tính biểu diễn mối tương quan giữa chênh

lệch chiều cao vai bên trong và chênh lệch góc lồng ngực xương đòn hai bên

74

Biểu đồ 4.2 Đồ thị hồi quy tuyến tính biểu diễn mối tương quan giữa chênh

lệch chiều cao vai bên ngoài và chênh lệch góc lồng ngực xương đòn hai bên

74

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.3 Phân loại vẹo cột sống vô căn theo King và cộng sự 11

Hình 2.9 Đánh giá lâm sàng bệnh nhân sau phẫu thuật 40 Hình 2.10 Đánh giá hình ảnh học X-quang bệnh nhân sau phẫu thuật 41

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vẹo cột sống (VCS) là một căn bệnh đặc trưng bởi một đường cong bất thường

ở cột sống trên mặt phẳng đứng ngang, cột sống cong từ bên này sang bên kia, cột sống có thể cong theo hình chữ C hoặc chữ S Đường cong này được gọi là vẹo cột sống khi góc vẹo (được đo theo phương pháp Cobb) lớn hơn 10o [41], [79]

Dựa vào nguyên nhân gây vẹo cột sống, người ta chia thành nhiều loại khác

nhau vẹo cột sống do dị tật đốt sống bẩm sinh, vẹo cột sống trong bệnh lý thần kinh

cơ, vẹo cột sống trong một số hội chứng (Marfan, Arnold Chiari, …), khi không tìm

thấy nguyên nhân thì gọi là vẹo cột sống vô căn [46]

Những biến dạng của cột sống và lồng ngực trong vẹo cột sống vô căn ảnh

hưởng đến vẻ bề ngoài và xảy ra chủ yếu ở lứa tuổi thanh thiếu niên, đặc biệt ở nữ giới nên nó là nguyên nhân gây mặc cảm, ảnh hưởng đến đời sống tâm sinh lý và xã hội của người bệnh Các trường hợp vẹo cột sống nặng có thể đưa đến tình trạng biến

dạng lồng ngực, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và tim mạch [25], [26] Nghiên cứu của Orvomaa E (năm 1998) trên 208 bệnh nhân điều trị vẹo cột sống vô căn cho thấy: 38% bệnh nhân bi quan về tương lai; 21,6% bệnh nhân cảm thấy đau khổ với cuộc sống của mình do mối quan tâm thẩm mỹ [87] Nghiên cứu của Smyrnis P.N và cộng sự (năm 2009) đánh giá phẫu thuật đường cong ngực gần trong vẹo cột sống vô căn cho thấy 28,6% bệnh nhân sau phẫu thuật không hài lòng với chênh lệch chiều cao vai hai bên [102]

Vẹo cột sống vô căn từ lâu đã được điều trị bằng các phương pháp khác nhau

như điều trị theo dõi tập vật lý trị liệu, kéo nắn bó bột, mang áo chỉnh hình và phẫu

thuật Phẫu thuật nắn chỉnh vẹo cột sống thường rất khó khăn, phức tạp với nhiều rủi

ro, kết quả xa có thể thay đổi nhưng không đáp ứng sự mong đợi của người bệnh và gia đình Quyết định phẫu thuật, chọn kỹ thuật mổ phải được tính toán lập kế hoạch chính xác dựa trên một quá trình theo dõi, đánh giá chi tiết đặc điểm lâm sàng và X-quang cũng như diễn biến của các đường cong, tốc độ tăng trưởng và tổng hợp các yếu tố tiên lượng

Trang 11

Yagi và CS (2013) khi nghiên cứu 85 bệnh nhân vẹo cột sống vô căn cho thấy:

có sự tương quan mạnh giữa lâm sàng chênh lệch chiều cao vai bên ngoài với chênh lệch góc lồng ngực xương đòn hai bên ( r= 0,98; p<0,01) [121] NC của Chiu CK và cộng sự (2018) trên 50 vẹo cột sống cho thấy: Góc nghiêng đốt sống ngực 1 tương quan khá với góc nghiêng cổ (r=0,78; p<0,01) [34] Nghiên cứu của Jian Zhao và CS (2018) trên 68 BN vẹo cột sống vô căn tại Trung Quốc: Nữ 56/68 BN (82,4%); Nam 12/68 (17,6%); Tuổi trung bình là 14,3 ± 2,15 tuổi [123]

Hiện nay, tại Việt Nam không có đề tài nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng,

X-quang và mối tương quan giữa lâm sàng và X-X-quang trong đánh giá nghiêng cổ và

lệch trên bệnh nhân vẹo cột sống vô căn để làm cơ sở chỉ định mổ và lựa chọn kỹ thuật mổ thích hợp nhất cho mỗi trường hợp vẹo cột sống vô căn ở tuổi thanh thiếu niên [5], [56], [84], [112]

Để góp phần giúp phẫu thuật viên lập kế hoạch trong điều trị sửa chữa các biến dạng đường cong, hạn chế hàn xương và cải thiện tính thẩm mỹ sau phẫu thuật cho người bệnh vẹo cột sống vô căn tại Việt Nam, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu

“Tương quan giữa lâm sàng và X-quang trong đánh giá nghiêng cổ và lệch vai trên bệnh nhân vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên” nhằm hai mục tiêu sau đây:

1 Mô tả đặc đ iểm lâm sàng, X-quang trên bệnh nhân vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên

2 Xác định sự tương quan giữa lâm sàng và X-quang trong đánh giá nghiêng

cổ và lệch vai trên bệnh nhân vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh lý vẹo cột sống

Vẹo cột sống (VCS) xuất phát từ tiếng Hy Lạp là “skoliosis” có nghĩa là quanh

co Đó là một biến dạng ba chiều phức tạp đặc trưng bởi độ lệch của của cột sống lớn hơn 10 độ trong mặt phẳng dọc ngang [41], [79]

Vào thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, Hippocrates lần đầu tiên đ ã mô tả vẹo cột sống Đến thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, Galen đã đưa ra những khái niệm mới như vẹo cột sống, gù cột sống, ưỡn cột sống Trong thời kỳ từ năm 500-1000 sau công nguyên những người bị biến dạng cột sống được cho rằng là do sự trừng phạt của thần thánh, cho nên những BN này được coi là dị giáo [68]

Điều trị vẹo cột sống đã được cách mạng hóa bởi sự ra đời áo nẹp Pare vào năm 1510 Những cố gắng đầu tiên về phẫu thuật trong điều trị vẹo cột sống đã được báo cáo trong thời gian từ giữa thế kỷ 19 Delpech đã giới thiệu kỹ thuật cắt cân cơ cạnh sống trong điều trị VCS vào năm 1818 Guerin sau đó trở thành một người say

mê phương pháp của Delpech và áp dụng nó trong điều trị vẹo cột sống, vì ông cho rằng chính sự mất cân bằng của cơ cạnh sống là nguyên nhân gây nên sự phát triển của VCS [55] Phẫu thuật kết hợp xương lối sau của Hibbs vào đầu những năm 1900

và đ áng kể hơn trong gần đ ây, hệ thống thiết bị cột sống được phát triển bởi Harrington năm 1955 và Luque năm 1982 [109]

Ở Việt Nam, phẫu thuật cột sống được tiến hành từ năm 1980 đến nay cũng

đã có nhiều tiến bộ [4], [5], [8], [11], [13], [14]

Vũ Tam Tỉnh (1994) bắt đầu nghiên cứu khung kéo sọ-đùi kết hợp với phẫu thuật bằng dụng cụ Harrington cho những BN vẹo cột sống, kết quả bước đầu còn hạn chế trong nắn chỉnh và duy trì mức độ nắn chỉnh [16]

Từ đó, tại Việt Nam đã có một số đề tài nghiên cứu đánh giá khả năng nắn chỉnh vẹo cột sống của các dụng cụ và kỹ thuật phẫu thuật VCS Tuy nhiên, những đánh giá về đặc điểm lâm sàng của các BN VCS vô căn được đề cập ít và chưa có hệ thống [2], [4], [12], [14]

Trang 13

1.2 Sơ lược giải phẫu và chức năng của cột sống

1.2.1 Giải phẫu cột sống (Hình 1.1) [1]

Cột sống người hay còn gọi là xương cột sống người, là cột trụ chính của thân người đi từ mặt dưới xương chẩm đến đỉnh xương cụt Cột sống người gồm 33-35 đốt sống chồng lên nhau Cột sống con người được chia làm 4 đoạn, mỗi đoạn có một chiều cong và cấu tạo riêng thích hợp với chức năng của đoạn đó Từ trên xuống dưới:

+ Đoạn cổ gồm 7 đốt, cong lồi ra phía trước (C-cervicles:C1 –C7)

+ Đoạn ngực có 12 đốt cong lồi ra sau (T- Thoracic: T1-T12)

+ Đoạn thắt lưng có 5 đốt, cong lồi ra trước (L-Lumbar: L1 –L5)

+ Đoạn cùng có 5 đốt dính liền với nhau tạo thành xương cùng, cong lồi ra sau (S: Sacrum: S1 –S5)

+ Đoạn cụt gồm 4-6 đốt sống cuối cùng dính với nhau tạo thành xương cụt Chiều dài của toàn bộ cột sống khoảng bằng 40% chiều cao cơ thể

Hình 1.1: Cấu tạo cột sống

Trang 14

Cột sống có hình dạng gần giống chữ S do có hai đoạn ưỡn ở cổ và thắt lưng

và một đoạn gù ở ngực Nhờ hình dáng này cùng với hoạt động của các đĩa đệm giúp phân tán lực tác động lên cơ thể

Cột sống cùng với các xương sườn và xương chậu tạo thành khung xương để các cơ bám và bảo vệ các nội tạng trong lồng ngực và ổ bụng

Cột sống ngực T (Thoracic) và thắt lưng L (Lumbar) là đoạn cột sống từ T1 đến L5 với hai đoạn cong sinh lý ngược chiều nhau Với cột sống thắt lưng đơn vị chức năng cột sống bao gồm hai thân đốt sống, đĩa đệm kết nối giữa hai thân đốt và các phần mềm liên kết chúng Có thể coi đơn vị chức năng cột sống là đơn vị làm việc nhỏ nhất của cột sống thắt lưng Nghiên cứu cơ sinh học đánh giá vai trò của các thành phần trong đơn vị chức năng cột sống thắt lưng tác giả Abumi cho thấy dây chằng liên gai và dây chằng trên gai không ảnh hưởng đến độ vững và biên độ vận động của đơn vị cột sống Tuy nhiên mấu khớp và đĩa đệm có vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sự mất vững của đơn vị vận động cột sống thắt lưng Đây là đặc điểm giải phẫu chức năng quan trọng trong phẫu thuật vẹo cột sống vùng thắt lưng, để đạt được hiệu quả nắn chỉnh cao cần phải cắt bỏ mấu khớp hai bên, cột sống mất vững dễ nắn chỉnh [17]

Đối với cột sống ngực với đặc điểm có khung sườn, xương ức và khối cơ lưng bao bọc Cột sống ngực kết nối với xương sườn qua khớp sống sườn bao gồm khớp sườn mỏm ngang và khớp đầu xương sườn Khớp sống sườn được nhiều dây chằng bao quanh như dây chằng ngang, dây chằng cánh và dây chằng nội khớp Nghiên cứu của Takeuchi trên thực nghiệm cho thấy khớp sống sườn, đĩa đệm là thành phần quan trọng trong đơn vị chức năng cột sống ngực Đĩa đệm và khớp sống sườn ảnh hưởng đến sự mất vững của cột sống ngực Nghiên cứu, đánh giá rõ vai trò cơ sinh học của

Trang 15

các yếu tố ảnh hưởng đến mất vững cột sống ngực giúp cho phẫu thuật viên đưa ra các quyết định trong can thiệp phẫu thuật vẹo cột sống ngực lấy bỏ khớp sống sườn

và đĩa đệm sẽ đạt hiệu quả nắn chỉnh tốt [107]

1.3 Đại cương vẹo cột sống

1.3.1 Định nghĩa vẹo cột sống

Vẹo cột sống (VCS) là một căn bệnh đặc trưng bởi một đường cong bất thường

ở cột sống trên mặt phẳng đứng ngang (chúng ta nhìn cột sống từ sau ra trước) cột sống cong từ bên này sang bên kia, cột sống có thể cong theo hình chữ C hoặc chữ S Vẹo cột sống là một trong ba loại biến dạng cơ bản của cột sống: vẹo, gù quá mức và ưỡn quá mức Các biến dạng có thể là đơn độc cũng có thể kết hợp với nhau Vẹo cột sống được xác định khi giá trị đo góc vẹo theo phương pháp của Cobb trên mặt phẳng thẳng trán lớn hơn 10 độ Góc Cobb dưới 10 độ là sự mất cân xứng cột sống [41], [79]

1.3.2 Nguyên nhân vẹo cột sống [46]

Theo nguyên nhân biến dạng, vẹo cột sống được phân loại như sau:

- Vẹo cột sống vô căn

- Vẹo cột sống bẩm sinh:

+ VCS do dị tật đốt sống bẩm sinh: dị tật đốt sống; đốt sống hình chêm + Không phân chia các đốt sống

- Vẹo cột sống do nguyên nhân thần kinh cơ:

+ Bệnh lý thần kinh: chứng co cứng khớp, rối loạn thần kinh vận động, thoái

hóa xương không hoàn toàn, u sợi thần kinh…

+ Bệnh lý cơ: loạn dưỡng cơ, bệnh teo cơ Duchenne, bại não, bại liệt…

- Vẹo cột sống do nguyên nhân khác

+ Vẹo cột sống trong một số hội chứng (Marfan, Ehler Danlos)

+ Chấn thương, khối u, rối loạn chuyển hóa, …

1.3.3 Dịch tễ học vẹo cột sống

Tỉ lệ vẹo cột sống vô căn chiếm dao động từ 0,47-5,2% [40], [66], [103], [119] nhưng nó thường được chấp nhận là 2-3% dân số nói chung [79] Trong đó khoảng

Trang 16

10% vẹo trung bình hoặc nặng Trẻ em và trẻ thanh thiếu niên có thể bị vẹo cột sống

do các bệnh về bẩm sinh, thần kinh cơ Tuy nhiên nếu không tìm thấy nguyên nhân vẹo cột sống, nó được phân loại là vẹo cột sống vô căn Vẹo cột sống vô căn là loại biến dạng cột sống phổ biến trong quần thể này Tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của vẹo cột sống cao hơn ở trẻ em gái 5 lần so với trai, với tỷ lệ nữ-nam so với 1,4: 1 ở vẹo cột sống nhẹ (10° đến 25°) lên đến 7,2 : 1 ở các vẹo cột sống nặng (> 40°) [66], [105]

Trong 80% vẹo cột sống, nguyên nhân phần lớn là không rõ Nó liên quan đến yếu tố di truyền, bất thường hệ thần kinh trung ương, rối loạn chuyển hóa, bất thường

mô liên kết cơ xương [46]

1.4 Vẹo cột sống vô căn

1.4.1 Khái niệm vẹo cột sống vô căn

Vẹo cột sống vô căn là một trong ba loại vẹo cột sống khác nhau, khiến cột sống phát triển theo một đường cong bất thường Ý tưởng vô căn có nghĩa là không

có nguyên nhân rõ ràng [46]

Vẹo cột sống vô căn là loại vẹo cột sống phổ biến nhất [46] Nó có xu hướng

di truyền trong các gia đình và ảnh hưởng đến nữ giới nhiều hơn nam giới [66], [105] Trong nhiều trường hợp, cong vẹo cột sống vô căn là nhẹ và không cần điều trị ngoài việc theo dõi chặt chẽ [30], [75], [81], [116]

1.4.2 Sinh lý bệnh vẹo cột sống vô căn

Không có lý thuyết khoa học nào được chấp nhận cho là nguyên nhân của vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên VCS có thể xảy ra ngay cả những trẻ khỏe mạnh

mà không có nguyên nhân rõ rệt Tuy nhiên, có một vài yếu tố dường như đóng vai trò trong nguyên nhân và sinh bệnh học của VCS đã được phát hiện

Từ lâu, người ta đã biết rằng các yếu tố di truyền đóng một vai trò trong nguyên nhân của VCS vô căn Sự kế thừa vẹo cột sống trong năm thế hệ trước đó được mô

tả bởi Garland năm 1934 [51] Năm 1973, Wynne-Davis [120] và năm 1973 Riseborough [96] báo cáo về sự xuất hiện vẹo cột sống vô căn xuất hiện người thân lần lượt là 26% và 27%, và tỷ lệ vẹo ở người thân thế hệ thứ nhất là 7% và 16% cao

Trang 17

hơn đáng kể so với dân số nói chung Những nghiên cứu trẻ sinh đôi cùng bị vẹo cột sống chiếm tỉ lệ là 38% chỉ ra rằng tầm quan trọng tương đối của cái yếu tố di truyền trên phương diện kiểu hình

Đường cong ngực trong cá thể chưa trưởng thành xương có nguy cơ tiến triển cao nhất, 58–100% [76], [114], [115] Khi cá nhân ngừng phát triển, nguy cơ tiến triển giảm đi Khi trưởng thành xương, đường cong dưới 30° có nguy cơ tiến triển rất nhỏ Ngược lại, các đường cong đạt tới 50° có xu hướng tiếp tục tiến triển trong suốt tuổi trưởng thành, với tốc độ khoảng 1° mỗi năm [115]

Như đã mô tả, nguy cơ tiến triển đường cong trong vẹo cột sống vô căn tuổi thanh thiếu niên có liên quan đến sự chưa trưởng thành của xương [33], [34], [86]

Nó cũng đã chỉ ra rằng những bé gái vẹo cột sống vô căn tuổi thanh thiếu niên có chiều cao [32], [111], [118] và có một tốc độ tăng trưởng cao hơn trong tuổi dậy thì

so với người khỏe mạnh [33] Sau đó, mật độ khoáng xương, tăng trưởng và kích thích tố giới tính đ ã được nghiên cứu trong sinh bệnh học của vẹo cột sống vô căn Hung và cộng sự [58] cho thấy rằng các bé gái thanh thiếu niên có vẹo cột sống

vô căn có mật độ khoáng xương thấp hơn so với nhóm chứng khỏe mạnh và tỷ lệ tạo xương cao hơn

Một tỷ lệ lớn các nghiên cứu đã tập trung vào khả năng của một lý thuyết thần kinh cơ cho chứng vẹo cột sống tự phát Riddle và Roaf [95] đưa ra giả thuyết rằng mất cân bằng các nhóm cơ là nguyên nhân có thể gây ra chứng vẹo cột sống vô căn Công trình nghiên cứu cho thấy bằng chứng về hoạt động gia tăng ở phía lồi của

đường cong sau đó được Weiss, Le Febre và Hennssge đưa ra [48], [57], [117] Tuy

nhiên, Alexander và Season, đã bác bỏ những kết quả này vào năm 1978 [21]

Các nhà nghiên cứu khác đã đề xuất rằng trong vẹo cột sống vô căn, có sự tăng trưởng không cân xứng xảy ra giữa các hệ thống xương và thần kinh, do tủy sống bị ngắn hoặc do sự tăng trưởng nhanh chóng của cột sống Khái niệm này lần đầu tiên được đưa ra bởi Roth [98], [99] và sau đó là Porter [90], [91] và đã được gọi bằng nhiều cái tên, bao gồm cả sự tăng trưởng thần kinh, và bây giờ được gọi là sự tăng trưởng thần kinh không đồng bộ [31], [36], [39], [70] Chu và cộng sự [37], [38] đã

Trang 18

kiểm tra giả thuyết Roth-Porter với hình ảnh MRI và thấy rằng trong vẹo cột sống vô căn tuổi thanh thiếu niên mức độ nặng không có sự thay đổi thần kinh có thể phát hiện được trong chiều dài tủy sống

1.4.3 Phân loại vẹo cột sống vô căn

1.4.3.1 Theo tuổi khởi phát

Vẹo cột sống vô căn có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng nó thường trở thành một vấn đề trong thời kỳ tiền thanh thiếu niên và thanh thiếu niên khi trẻ em đang phát triển nhanh chóng Nó cũng là một chứng vẹo cột sống khởi phát sớm

Hội nghiên cứu vẹo cột sống thế giới (SRS) và Ủy ban thuật ngữ học của Hội nghiên cứu vẹo cột sống Hoa Kỳ phân loại VCS vô căn làm 3 loại [41], [74], [110]:

- Khởi phát sớm: ≤ 10 tuổi; chia làm 2 nhóm:

+ VCS vô căn ở trẻ sơ sinh được chẩn đoán ở trẻ em từ sơ sinh đến 3 tuổi VCS ở trẻ sơ sinh chiếm ít hơn 1 % của tất cả các trường hợp nhi khoa

+ VCS ở trẻ từ 3 – 10 tuổi: chiếm 12 -20 % các trường hợp nhi khoa

- Vẹo cột sống thanh thiếu niên: 11-18 tuổi, chiếm tỷ lệ 80 % của tất cả các trường hợp mắc chứng cong vẹo cột sống vô căn thuộc loại này

- VCS người trưởng thành: từ 19 tuổi trở lên

1.4.3.2 Theo vị trí

Ủy ban thuật ngữ học của Hội nghiên cứu vẹo cột sống Hoa Kỳ phân loại VCS

theo vị trí của đỉnh đường cong (AV - Apical Vertebrae) như sau [74]:

+ VCS ngực: đỉnh đường cong nằm giữa ĐS ngực 2 - ĐS ngực 12 trở lên + VCS ngực - thắt lưng: đỉnh vẹo nằm giữa ĐS ngực 12 – ĐS thắt lưng 1 + VCS thắt lưng: đỉnh vẹo nằm nằm giữa ĐS thắt lưng 2 – ĐS thắt lưng 4 Đốt sống ở giữa đường cong vẹo được xác định là đốt sống đỉnh vẹo, đây là đốt sống bị biến dạng và xoay nhiều nhất, nhưng nếu có một cặp đốt sống ở vị trí giữa của đường cong vẹo, khi đó đĩa liên thân đốt giữa hai đốt sống đó được xác định là đỉnh vẹo

Trang 19

Đốt sống ở giữa đường cong vẹo được xác định là đốt sống đỉnh vẹo, đây là đốt sống bị biến dạng và xoay nhiều nhất, nhưng nếu có một cặp đốt sống ở vị trí giữa của đường cong vẹo, khi đó đĩa liên thân đốt giữa hai đốt sống đó được xác định là

đỉnh vẹo

1.4.3.3 Theo mức độ

Thường được dùng trong chỉ định điều trị và phục hồi chức năng Xác định

mức độ VCS dựa vào góc vẹo đường cong theo phương pháp đo Cobb [41] (Hình 1.2):

Phương pháp đo Cobb (Hình 1.2): Góc của đường cong VCS được hợp bởi

hai đường thẳng vẽ vuông góc với bờ trên của đốt sống tận phía trên và bờ dưới của thân đốt sống tận phía dưới của đường cong, đốt sống tận (end vertebra – EV) là đốt sống bị nghiêng nhất trong đường cong so với đường nằm ngang

Phương pháp này có thể được sử dụng trong mặt phẳng đứng dọc để mô tả mức độ ưỡn và gù ở các vùng khác nhau của cột sống Nếu bờ của thân đốt sống bị che lấp, không cho hình ảnh rõ ràng, các chân cung có thể được sử dụng thay thế Về mặt hình ảnh toán học thì đốt sống tận phía trên của một đường cong thì sẽ là đốt sống tận phía dưới của đường cong kế tiếp và ngược lại

Hình 1.2 Sơ đồ phương pháp đo góc Cobb [41]

Trang 20

1.4.3.4 Phân loại theo King

Năm 1983, King và cộng sự [65] đã trình bày một hệ thống phân loại để lựa chọn mức hàn xương ở bệnh nhân vẹo cột sống vô căn Hệ thống phân loại này tập trung vào đ iều trị bệnh nhân hàn xương lối sau cột sống ngực bằng dụng cụ Harrington Dựa trên đánh giá 405 bệnh nhân, tác giả đã xác định năm loại đường cong và mức độ hàn xương được đề nghị

Hình 1.3: Phân loại vẹo cột sống vô căn theo King và cộng sự [65]

1.4.3.5 Phân loại theo Lenke: quyết định đoạn hàn xương

Hệ thống phân loại King được sử dụng rộng rãi để phân loại và điều trị vẹo cột sống vô căn mặc dù nó có độ tin cậy kém khi theo dõi [94] Tuy nhiên, phân loại King chỉ dựa trên X-quang thẳng và đặt trọng tâm vào các cột sống ngực Lenke và cộng sự [71], [72] đã nhận ra cần có một hệ thống phân loại đáng tin cậy và toàn diện hơn để xem xét sự biến dạng ba chiều trong vẹo cột sống vô căn, quá đó sẽ giúp trong việc ra quyết định phẫu thuật Tác giả đã đề xuất ra một hệ thống phân loại mới vào năm 2001, nhằm xác định đường cong nào là đường cong cấu trúc, đường cong nào không phải là đường cong cấu trúc, giúp lựa chọn mức độ hàn xương ngắn hơn Phân loại Lenke dựa vào ba yếu tố:

- Các dạng đường cong: có 6 loại

- Đường cong biến thể cột sống thắt lưng: có 3 loại

- Hình thái cột sống ngực trong mặt phẳng đứng dọc: có 3 loại

1.4.4 Chẩn đoán vẹo cột sống vô căn

King I King II King III King IV King V

Trang 21

1.4.4.1 Bệnh sử và tiền sử

Vì vẹo cột sống vô căn tuổi thanh thiếu niên có thành phần di truyền mạnh nên bệnh sử gia đình rất quan trọng Khoảng 30-50% bệnh nhân vẹo cột sống vô căn thể thanh thiếu niên nên có tiền sử gia đình [52]

Tuổi khởi phát: được coi là khởi phát sớm nếu trước 10 tuổi hoặc khởi phát ở tuổi thanh thiếu niên (từ 11 tuổi cho đến khi xương trưởng thành) [41]

VCS vô căn xảy ra ở những người khỏe mạnh mà không có nguyên nhân rõ rệt Có xu hướng tăng lên đến khi có một biến dạng nghiêm trọng

Đau ban đêm và gây khó chịu trong hoạt động hằng ngày

Bệnh nhân than phiền do mất tính thẩm mỹ ở vùng thân mình, ngực, hai vai [110]

1.4.4.2 Khám loại trừ nguyên nhân

Vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên là một chẩn đoán loại trừ từ nguyên nhân này đến nguyên nhân khác Các đặc đ iểm lâm sàng gợi ý nguyên nhân bệnh hội chứng, loạn sản xương và bệnh lý thần kinh cơ không nên được bỏ qua Tổn thương

da dạng dạt cà phê sữa nghi ngờ bệnh lý u sợi thần kinh Tương tự như vậy, tay chân dài và mảnh khảnh với ngón tay và ngón chân dài, lỏng lẻo, một vòm miệng cao tăng nghi ngờ hội chứng Marfan Sự hiện diện của các san thương đồng tiền cùng cụt gợi

ý nguyên nhân do bất thường tủy sống như thoát vị màng não tủy Bệnh nhân lùn, đặc biệt là những người có tầm vóc ngắn không cân xứng, nên được cho là loạn sản xương Kiểm tra thần kinh toàn diện là điều quan trọng để loại trừ các khối u cột sống, dị tật tủy sống (ví dụ: bệnh rỗng tủy sống, hội chứng tủy sống bám thấp) và bệnh lý cơ Đo độ dài chi dưới để loại trừ vẹo cột sống thứ phát do sự khác biệt về chiều dài chi và khung chậu nghiêng Sự xuất hiện của một nguyên nhân có thể ảnh hưởng đến việc ra quyết phẫu thuật và cần được đánh giá cẩn thận [110]

1.4.4.3 Đánh giá tình trạng cột sống dựa trên bộ câu hỏi SRS-22r

Gồm có 22 câu hỏi, chia thành từng nhóm [29]:

+ Chức năng cột sống: Câu 3, 4, 12, 15, 18

+ Tình trạng đau lưng: Câu 1, 2, 8, 11, 17

Trang 22

+ Biểu hiện bề ngoài của BN (thẩm mỹ): Câu 4, 6, 10, 14, 19

+ Tâm lý bệnh nhân: Câu 3, 7, 13, 16, 20

+ Hài lòng/ Không hài lòng với kết quả điều trị: Câu 21, 22

Với bộ câu hỏi, mỗi câu sẽ có 5 phương án trả lời, BN sẽ lựa chọn đáp án phù hợp nhất đối với từng câu hỏi Sau khi trả lời tính điểm đối với từng nhóm câu hỏi Điểm được cho từ 1 đến 5 Trong đó 1 điểm là kém nhất; 3 điểm là trung bình và 5 điểm là tốt nhất

1.4.4.4 Lâm sàng [104], [110]

- Nghiêng cổ: Cổ bị kéo lệch về một bên Bệnh nhân gọi là nghiêng cổ khi

góc nghiêng cổ ³ 5 độ

- Lệch vai: Dốc hai vai không đều nhau, bên thấp bên cao Cột sống vẹo về

bên nào thì vai bên đó thấp hơn

- Bướu xương sườn: Có sự chênh lệch bên thấp bên cao, thấy những lằn

xương sườn hằn ra ngoài da ở một bên (một bên lồi hẳn ra và một bên không lồi)

- Biến dạng lồng ngực: là do sự lấn chiếm của các khối xương sườn vào vùng

thành ngực

- Mất đối xứng đường eo: phần lõm vào của hai bên eo không cân

- Nghiệm pháp Adam và đo góc xoay thân của cột sống [84]

Năm 1865, Adam mô tả nghiệm pháp cúi đầu ra phía trước, ông nhận thấy rằng các thành phần xoay của biến dạng ba chiều bị tăng lên khi cột sống bị gập ra trước Đây là nghiệm pháp cơ bản trong việc khám lâm sàng các bệnh nhân vẹo cột sống vô căn tại bệnh viện và các chương trình sàng lọc cộng đồng

Nghiệm pháp Adam được sử dụng để thực hiện Đo góc xoay thân của cột sống

để phân biệt giữa vẹo cột sống cấu trúc và vẹo cột sống không cấu trúc Nghiệm pháp

này có thể tiến hành khi bệnh nhân đứng hoặc ngồi

Trong tư thế đứng, bệnh nhân cúi đầu về phía trước, giữ chân song song, đầu gối thẳng, vai thẳng và bàn tay đặt ở phía trước đầu gối Nếu vẹo cột sống có mặt trong cả hai tư thế đứng và cúi người về phía trước, đó là vẹo cột sống cấu trúc Nếu

Trang 23

vẹo cột sống chỉ hiện diện ở trong tư thế đứng nhưng biến mất khi cúi về phía trước, thì đây là vẹo cột sống không cấu trúc

Trong tư thế ngồi, người bệnh được ngồi trên một ghế có chiều cao 40 cm và được yêu cầu cúi về phía trước, nghiệm pháp tương tự tư thế đứng

- Đo góc xoay thân

Đo góc xoay thân từng đoạn gồ chênh lệch hơn với dụng cụ đo vẹo

Hình 1.4: Đo góc xoay thân “Nguồn AOSpine Master Series, 9(3), pp.18 [110]”

- Đánh giá lệch vai được Qiu XS đề nghị [93]: gồm chênh lệch chiều vai bên

trong và chênh lệch chiều cao vai bên ngoài

Hình 1.5: Đánh giá lệch vai “Nguồn Qiu XS [93]”

Trang 24

Các tham số này có thể phục vụ để bổ sung các tham số hình ảnh học cận lâm

sàng trong việc ra quyết định phẫu thuật

Đánh giá nghiêng cổ [79], [93], [110]

Sau khi đánh giá lệch vai, bác sĩ phẫu thuật không nên bỏ qua việc đánh giá nghiêng cổ Mặc dù nghiêng cổ có tương quan không hoàn hảo với lệch vai trên lâm sàng

Tuy nhiên, có những bệnh nhân phàn nàn về tình trạng nghiêng cổ sau phẫu

thuật

Đánh giá lâm sàng nghiêng cổ bằng cách dựa vào đo góc nghiêng cổ

Góc nghiêng cổ là góc được hợp bởi trục cổ với trục thẳng đứng của cơ thể Nghiêng cổ khi góc nghiêng cổ ≥ 5 độ

1.4.4.5 Cận lâm sàng

* X-quang:

Điều trị cho bệnh nhân vẹo cột sống vô căn liên quan đến việc đánh giá lâm sàng trước phẫu thuật và các hình ảnh có liên quan để lập kế hoạch phẫu thuật Trong phần lớn bệnh nhân, một bệnh sử thích hợp và thăm khám lâm sàng với X-quang

Hình 1.6: Đo góc nghiêng cổ

“Nguồn AO, pp.19 [102]”

Trang 25

đứng toàn bộ cột sống, là tất cả những gì cần thiết cho chẩn đoán và điều trị Các đánh giá bổ sung khác có thể cần thiết cho việc lập kế hoạch phẫu thuật và mặc áo chỉnh hình cột sống

Chụp X-quang cột sống đứng cho phép đánh sự biến dạng hai chiều của đường cong, và là yếu tố quan trọng trong việc xác định độ cong của cột sống, từ đó dẫn đến cách tiếp cận phẫu thuật, kỹ thuật và mức kết hợp X-quang thẳng đánh giá sự bất thường để loại trừ vẹo cột sống bẩm sinh và chẩn đoán xác định Loại đường cong có thể được phân loại cho phù hợp và độ lớn của mỗi đường cong được đo bằng góc Cobb [41]

Các thông số cần được đánh giá trên X-quang đã được nhiều tác giả đề nghị [20], [23], [27], [41], [77], [93], [121], [122]: Góc Cobb, vị trí đỉnh đường cong,

chênh lệch chiều cao mỏm qua, chênh lệch giao điểm xương sườn – xương đòn, góc sườn đầu tiên, góc xương đòn, góc lồng ngực xương đòn hai bên, độ nghiêng đốt sống (ngực 1, ngực 2), độ nghiêng đốt sống cao nhất đặt dụng cụ, đường cong ngực gần

- Xác định mức độ VCS dựa vào góc vẹo đường cong theo phương pháp

đo Cobb [41]:

+ VCS nhẹ: Góc Cobb 10 đến <25 độ

+ VCS trung bình: Góc Cobb VCS ngực 25-45 độ hoặc VCS thắt lưng 25-40

độ

+ VCS nặng: Góc cobb VCS ngực >45 độ hoặc VCS thắt lưng >40 độ

- Xác định VCS theo vị trí của đỉnh đường cong (AV- Apical Vertebrae):

của Hội nghiên cứu vẹo cột sống thế giới (SRS) phân loại VCS theo vị trí của đỉnh

đường cong vẹo như sau [74]:

+ VCS ngực: đỉnh đường cong nằm giữa ĐS ngực 2 - đốt ĐS ngực 12 trở lên + VCS ngực - thắt lưng: đỉnh vẹo nằm giữa ĐS ngực 12 – ĐS thắt lưng 1 + VCS thắt lưng: đỉnh vẹo nằm nằm giữa ĐS thắt lưng 2 – ĐS thắt lưng 4

Đốt sống ở giữa đường cong vẹo được xác định là đốt sống đỉnh vẹo, đây là đốt sống bị biến dạng và xoay nhiều nhất, nhưng nếu có một cặp đốt sống ở vị trí giữa

Trang 26

của đường cong vẹo, khi đó đĩa liên thân đốt giữa hai đốt sống đó được xác định là

đỉnh vẹo

- Hình ảnh học X-quang đánh giá lệch vai

Chênh lệch chiều cao mỏm quạ: Một đường ngang được bắt nguồn từ cạnh

trên của mỗi mỏm quạ Chênh lệch chiều cao giữa đường bên phải và bên trái được ghi lại

Chênh lệch giao điểm xương sườn - xương đòn: Xương đòn cắt mặt bên ngoài

của lồng ngực và một đường ngang được bắt nguồn từ điểm này; chênh lệch chiều cao giữa các đường bên trái và bên phải được là chênh lệch giao điểm xương sườn - xương đòn

Góc sườn đầu tiên: Độ nghiêng của đường tiếp tuyến nối cả hai bờ trên của

xương sườn đầu tiên

Góc xương đòn: Là góc giữa đường ngang và đường tiếp tuyến nối hai điểm

cao nhất của mỗi xương đòn

Góc lồng ngực xương đòn hai bên: Đường thứ nhất nối trung tâm đốt sống

ngực 1 đến đốt sống ngực 12 Đường thứ 2 kẻ vuông góc với đường thứ nhất Đường còn lại là đường nối từ điểm giữa đầu trong xương đòn đến phần đầu ngoài xương đòn Chênh lệch góc được tạo bởi hai đường giao nhau được gọi là sự chênh lệch góc lồng ngực xương đòn hai bên

Độ nghiêng đốt sống: Là góc giữa đường ngang và đường thẳng qua mặt trên

của đốt sống

Độ nghiêng đốt sống cao nhất đặt dụng cụ là góc được tạo bởi đường thẳng

qua mặt trên đốt sống cao nhất đặt dụng cụ và đường ngang

Đốt sống cao nhất được lựa chọn đặt dụng cụ được Trobisch P.D và Bjerke P.T [27], [108] đề nghị và mô tả như sau: Nếu bệnh nhân có vẹo cột sống ngực, xác định có hay không có đường cong ngực gần hay không? Đường cong ngực gần là đường cong có cấu trúc, vai trái cao hơn trên lâm sàng , đường cong ngực chính (ngực 5-12), và có sự đảo chiều đường cong giữa ngực 2-5 Nếu có đường cong ngực gần, ngực 2 là đốt sống cao nhất được đặt dụng cụ, nên tránh ngực 1 Nếu không, dụng cụ

Trang 27

đặt ở đốt sống cao hơn 1 đốt sống đối với đốt sống nghiêng nhiều nhất Nếu bệnh nhân chỉ có vẹo cột sống thắt lưng, đốt sống cao nhất đặt dụng cụ là trên 1 đốt sống

ít nghiêng nhất Nếu không có điều kiện hàn xương thì đốt cao nhất đặt dụng cụ ở đường cong ngực chính

Đường cong ngực gần: là góc được tạo bởi đường đi qua mặt trên đốt sống

ngực 2 và mặt dưới đốt sống ngực 5 (được đo bằng phương pháp Cobb)

* Chụp cắt lớp vi tính (CT) đôi khi cần thiết để giúp đánh giá giải phẫu xương

và loại trừ các nguyên nhân bẩm sinh

Trong hầu hết các trường hợp VCS vô căn thanh thiếu niên, CT cột sống trước phẫu thuật là không cần thiết Nó cho trẻ tiếp xúc với bức xạ không cần thiết mà không có lợi ích rõ ràng Tuy nhiên, có thể có những trường hợp đặc biệt khi tìm hiểu thêm về giải phẫu cột sống và biến dạng có thể giúp lập kế hoạch trước phẫu thuật

Ở một bệnh nhân VCS vô căn bị bỏ sót hoặc nghiêm trọng, nơi giải phẫu bị thay đổi, hình ảnh X-quang không rõ ràng thì hình ảnh CT có thể giúp lập kế hoạch phẫu thuật [110]

* Hình ảnh cộng hưởng (MRI) được yêu cầu khi cần xác định các mô mềm

và cấu trúc thần kinh khi nghi ngờ một đường cong không điển hình (đường cong ngực bên trái, đường cong ngực thắt lưng bên phải), kiểm tra bất thường thần kinh ở chi dưới hoặc bàn chân bị biến dạng, vắng mặt các phản xạ bụng không đối xứng, chứng cứng da của bệnh u xơ thần kinh… Mục đích của MRI là phát hiện bất kỳ bệnh

lý trong tủy sống không được chẩn đoán, có thể là nguyên nhân chính xác của vẹo cột sống, và để đánh giá các điều kiện cần được điều trị trước khi tiến hành phẫu thuật Bất thường tủy sống bao gồm xơ cứng tủy, rỗng tủy sống, dị tật Chiari, nứt dọc tủy sống, thoát vị màng não, u mỡ cột sống Thỉnh thoảng, có thể phát hiện các khối

u ở xương sống hoặc tủy sống có khuynh hướng gây biến dạng cột sống U xương và

u nguyên bào xương là những khối u nguyên phát phổ biến nhất liên quan đến vẹo cột sống [110]

1.4.5 Biến chứng muộn

1.4.5.1 Tiến triển của đường cong vẹo cột sống vô căn

Trang 28

Tiến triển của đường cong vẹo cột sống vô căn xuất hiện xảy ra nhanh nhất trong giai đoạn tăng trưởng ở tuổi thanh thiếu niên Sau khi trưởng thành xương, tiến triển đường cong thường được nhận thấy trong một khoảng thời gian nhiều thập kỷ thay vì hàng tháng hoặc năm Bệnh nhân đạt đến độ trưởng thành xương với các đường cong đo <30 độ có thể yên tâm rằng đường cong của chúng không thể tiến triển trong cuộc sống trưởng thành Mặt khác, bệnh nhân có đường cong đo ≥50 độ, đặc biệt là bệnh nhân có đường cong ngực 50-70 độ nên được theo dõi định kỳ bởi vì

họ có nhiều khả năng tiếp tục tiến triển Với thoái hóa cột sống đ ã tiến triển, các đường cong đã đạt đến 80 đến 90 độ có xu hướng ổn định và tiến triển ít nhanh hơn Điều này có thể liên quan đến chứng cứng khớp của đỉnh của đường cong, tăng độ cứng do ảnh hưởng của thoái hóa cột sống, và sự ổn định hỗ trợ bởi khung xương sườn tiếp xúc với nó [18], [114]

Đường cong ngực có tốc độ tiến triển đường cong nhanh nhất, đặc biệt là các đường cong đo từ 50 đến 75 độ, tốc độ trung bình của sự tiến triển là 1 độ / năm, vì

lý do này, bệnh nhân đạt được sự trưởng thành xương với đường cong >50 độ nên được xem xét để can thiệp phẫu thuật Và các đường cong thắt lưng >30 độ có xu hướng tiến triển, nhưng với tốc độ chậm hơn đường cong ngực, với tốc độ tiến triển trung bình là 0,5 độ mỗi năm trong cuộc sống [18], [113], [114]

Đặc biệt, các đường cong thắt lưng thường phát triển sự liệt kê bên ở L3-L4

và L4-L5, một nguyên nhân thường gặp của bệnh lý thần kinh ở những bệnh nhân này [78] Đường cong thắt lưng có nhiều khả năng trở thành triệu chứng và dẫn đến

sự cần thiết phải chăm sóc phẫu thuật Cuối cùng, hai đường cong chính có xu hướng cân bằng tốt hơn theo độ tuổi

1.4.5.2 Biến chứng tim phổi

Biến chứng tim phổi muộn là hậu quả liên quan nhất của vẹo cột sống không được điều trị Vẹo cột sống là một biến dạng ba chiều phức tạp của cột sống cũng có thể ảnh hưởng đến hình ảnh và phạm vi chuyển động của ngực [92] Các cơ hô hấp được đặt ở điểm bất lợi về sinh học, dẫn đến giảm sự hỗ trợ hô hấp với thành ngực

và các vấn đề về bệnh phổi [73] Các nghiên cứu khám nghiệm tử thi đã cho thấy

Trang 29

bằng chứng về bệnh phổi ở những bệnh nhân bị biến dạng cột sống nặng [115], bao gồm cả bệnh tâm phế mãn, và đôi khi bị xẹp phổi [24] Các giải phẫu ngực bất thường cũng có thể dẫn đến sự biến dạng của cây phế quản và thậm chí để trực tiếp đè nén phế quản [73]

Suy giảm chức năng phổi thứ cấp cho các đường cong vẹo cột sống ngực hoặc thắt lưng tỷ lệ thuận với độ lớn và độ cứng của đường cong, và mức độ nghiêm trọng của gù cột sống [18], [24], [60], [67], [92] Điều này là phổ biến hơn đáng kể với các đường cong >80 độ Những kết quả này cũng được phản ánh trong một nghiên cứu cắt ngang gần đây của 492 bệnh nhân bị vẹo cột sống (94% vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên), trong đó 10% có bằng chứng về bệnh phổi hạn chế nghiêm trọng (công suất sống bắt buộc <50%) [44] Nhóm này có đường cong ngực lớn hơn đáng kể (80

độ ở nhóm suy giảm nặng so với 57 độ ở những bệnh nhân còn lại), và những đường cong này cũng cứng hơn (độ dẻo dai 29% ở nhóm suy giảm nặng so với 46% ở những bệnh nhân còn lại) Một nghiên cứu theo dõi 20 năm của bệnh nhân vẹo cột sống không được điều trị cũng hỗ trợ những kết luận này, và tiếp tục kết luận rằng tỷ lệ suy giảm khả năng sống còn là yếu tố dự báo suy hô hấp mạnh nhất [88]

Bất thường trong các xét nghiệm chức năng phổi phản ánh bệnh ung thư hạn chế có thể được quan sát thấy ở những bệnh nhân trưởng thành với đường cong lớn vừa phải (40-60 độ) [59] Mặc dù những bệnh nhân này có thể biểu hiện với mức khí trong máu bình thường khi nghỉ ngơi, họ cũng có những bất thường về trao đổi khí trong khi tập thể dục, dẫn đến thiếu oxy và tăng natri máu [54]

Tuổi khởi phát vẹo cột sống đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển suy tim phổi Không bao gồm rối loạn thần kinh cơ, bệnh nhân bị suy tim chủ yếu là những người có đường cong lần đầu tiên được ghi nhận trước tuổi 5 năm [28] Độ nặng đường cong có ảnh hưởng đến phổi phát triển tinh thần và chức năng, đặc biệt

là trước 8 tuổi, với tác động tiêu cực đến sự tăng trưởng và số lượng phế nang [50] Bệnh nhân mắc vẹo cột sống vô căn tuổi thanh thiếu niên rất khó phát triển suy hô hấp bất kể mức độ nghiêm trọng [54]

Trang 30

Phục hồi phổi và tăng sức mạnh cơ hô hấp và ngoại vi là cần thiết để tăng sức bền và đi bộ ở những bệnh nhân này Trong trường hợp nghiêm trọng, thông khí cơ học không xâm lấn giúp cải thiện cuộc sống Suy giảm chức năng phổi thứ phát tỉ lệ thuận với độ lớn và độ cứng đường cong cột sống ngực hoặc ngực-thắt lưng, và nghiệm trọng với gù vẹo cột sống ngực

1.4.5.3 Đau lưng và bệnh lý thần kinh

Đau lưng tương đối không phổ biến ở vẹo cột sống vô căn tuổi thanh thiếu niên, nhưng cuộc thảo luận về việc liệu vẹo cột sống không được điều trị có liên quan đến đau lưng ở tuổi trưởng thành thường do bệnh nhân và gia đình của họ gây ra hay không Nghiên cứu lịch sử tự nhiên 50 năm theo dõi của 109 bệnh nhân vẹo cột sống không được điều trị so với nhóm nghiên cứu so sánh tuổi và giới tính cung cấp đánh giá chính xác nhất về đau lưng ở bệnh nhân vẹo cột sống không được điều trị Mặc

dù không có sự khác biệt về cường độ hoặc thời gian triệu chứng đau, bệnh nhân vẹo cột sống không được điều trị có nhiều khả năng biểu hiện cơn đau cấp tính hoặc mãn tính hơn so với nhóm chứng (61% so với 35% tương ứng) [113] Quan sát này cũng được hỗ trợ bởi các nghiên cứu theo chiều dọc khác [42], [59], [67], [73], [89] Đau

có thể được tạo ra từ nhiều quá trình bệnh phổ biến liên quan đến thoái hóa cột sống

và đau Chúng bao gồm bệnh khớp xương khớp, thoái hóa đĩa, mỏi cơ, mất cân, và hẹp động mạch chủ Vị trí đường cong có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến sự phát triển của đau lưng hơn độ lớn đường cong Đường cong ngực-thắt lưng/thắt lưng có nhiều khả năng liên quan đến đau lưng hơn là các mô hình đường cong ngực Bệnh nhân vẹo cột sống không được điều trị có khả năng chịu những cơn đau cấp tính hoặc mạn tính [24], [59], [89]

1.4.5.4 Tử vong

Loại trừ bệnh nhân có bệnh thần kinh cơ hoặc di truyền, tử vong tăng lên đáng

kể ở những bệnh nhân có vẹo cột sống nặng (>70 độ), nhưng hầu như chỉ ở những người bị vẹo cột sống sớm Độ nặng đường cong có ảnh hưởng đến sự phát triển và chức năng của phổi, đặc biệt là trước 8 tuổi, với tác động tiêu cực đến sự tăng trưởng

và số lượng phế nang Do đó, tỷ lệ tử vong gia tăng gần như là thứ yếu đối với suy

Trang 31

hô hấp Đường cong khởi phát của trẻ em không có tác động tương tự đối với tử vong, ngay cả khi nặng Một nhóm nghiên cứu theo dõi trên 130 bệnh nhân trong vòng 60 năm hỗ trợ những kết luận này [89]

1.4.6 Các phương pháp điều trị vẹo cột sống vô căn

Điều trị vẹo cột sống vô căn bao gồm theo dõi, mang áo nẹp và phẫu thuật Ở những bệnh nhân hệ xương chưa trưởng thành, đường cong cột sống đánh giá dựa trên góc Cobb:

- Đường cong <25 độ: theo dõi và tập vật lý trị liệu [30], [75], [81], [82], [116]

- Đường cong từ 25 độ đến 40 hoặc 45 độ: đeo nẹp chỉnh hình [82], [83], [100]

- Đường cong lớn hơn 40 hoặc 45 độ: phẫu thuật [71], [97]

Mục tiêu điều trị phẫu thuật: đảm bảo tính tăng trưởng liên tục của cột sống

và phổi, bảo tồn chức năng vận động của đoạn cột sống thắt lưng thấp, bất động đoạn cột sống vẹo, phục hồi thẩm mỹ cho bệnh nhân [64], [106]

1.4.6.1 Điều trị theo dõi và đeo nẹp chỉnh hình

Điều chỉnh đường cong cột sống của trẻ đang phát triển không phải lúc nào đưa đến kết quả tốt vì các biến chứng có thể đe dọa đến mạng do hàn xương sớm Hàn xương vĩnh viễn ở một cột sống đang phát triển sẽ làm chậm hoặc ngăn sự phát triển của cột sống theo chiều dọc, sự hình thành ống sống, sự phát triển của lồng ngực

và sự phát triển của phổi Điều này dẫn đến một thân mình ngắn không đối xứng và ảnh hưởng đến kết quả hô hấp

Khi việc hàn xương sớm được hiểu rõ hơn, khái niệm “phẫu thuật trì hoãn” đã được để xuất [61] Những chiến lược không phẫu thuật và phẫu thuật trì hoãn nhằm mục đích trì hoãn hàn xương càng lâu càng tốt, nếu không muốn tránh hoàn toàn Điều trị không phẫu thuật bao gồm kéo, nẹp, áo chỉnh hình Phẫu thuật trì hoãn hàn xương giúp kiểm soát sự biến dạng trong khi cho phép sự phát triển của cột sống, lồng ngực và phổi [19]

Do đó, đeo nẹp vẫn là tiêu chuẩn điều trị ở bệnh nhân vẹo cột sống vô căn vừa, giảm được 10% nhu cầu điều trị phẫu thuật, mặc dù kết quả lâm sàng rất đa dạng Tuy nhiên, đeo nẹp đòi hỏi sự cam kết của đeo 16-23 giờ mỗi ngày Đeo nẹp cồng

Trang 32

kềnh và không thoải mái, đặc biệt là trong khi hậu nóng và trong mùa hè Điều trị đeo nẹp thường cần 3 đến 5 năm và thậm chí có thể lâu hơn tùy thuộc và thời điểm trẻ bắt đầu đeo Vì đeo nẹp đòi hỏi trẻ phải tuân thủ đáng kể và kết quả điều trị của phương thức này có thể thất bại Hơn nữa, một số bệnh nhân trải qua căng thẳng tâm lý xã hội liên quan đến hình ảnh cơ thể của họ, họ cảm thấy mất cân xứng cơ thể tồi tệ hơn so với bệnh nhân vẹo cột sống không được điều trị mặc dù kích thước đường cong tương

tự [47], [80]

Điều trị bằng đeo nẹp chỉnh hình không phải để tránh phẫu thuật mà để tránh hàn xương cột sống, mà cho đến nay vẫn là lựa chọn phẫu thuật khả thi nhất trong điều trị vẹo cột sống vô căn Hàn xương đưa đến giảm sự linh hoạt của cột sống, giảm phạm vi chuyển động trong sự tăng trưởng theo chiều dài và sự phát triển của đoạn liền kề [43], [53], [63]

1.4.6.2 Điều trị phẫu thuật hàn xương

Can thiệp phẫu thuật thường chỉ thực hiện khi đường cong tăng dần Ở trẻ dưới

7 tuổi, việc điều trị còn đang bàn cãi Tuy nhiên, nếu đường cong ngực lớn hơn 45

độ, hoặc đường cong ngực–thắt lưng hoặc đường cong thắt lưng lớn hơn 40 độ thì ta

có chỉ định điều trị phẫu thuật [101]

Điều trị phẫu thuật có thể thực hiện nắn chỉnh vẹo chỉ bằng lối trước, hoặc lối sau hoặc phối hợp cả hai lối trước và sau Ngày nay, nhiều phẫu thuật viên thực hiện phẫu thuật nắn chỉnh lối trước đối với những bệnh nhân trẻ khi có nguy cơ của sự phát triển kiểu cánh tay quay [45], đặc biệt đối với những trường hợp có đường cong lớn ở ngực-thắt lưng hoặc thắt lưng [85]

1.5 Một số nghiên cứu vẹo cột sống vô căn

1.5.1 Nghiên cứu trên thế giới

Qiu XS và cộng sự (năm 2009) nghiên cứu 34 BN vẹo cột sống vô căn ở thanh thiếu niên tại bệnh viện Drum Tower (Trung Quốc) cho kết quả: Độ nghiêng đốt sống ngực 1 là 11,3 ± 4,53 (độ) [93]

Trang 33

Nghiên cứu của Grauere A và CS (năm 2013) trên 1463 bệnh nhân vẹo cột sống vô căn tại Thụy Điển cho thấy 30 - 50% BN vẹo cột sống vô căn, tiền sử gia đình có người thân bị vẹo cột sống [52]

Yagi và CS (năm 2013) khi nghiên cứu 85 bệnh nhân vẹo cột sống vô căn nguyên cho thấy: Đường cong ngực gần trung bình là 12,1 ± 7,8 (độ) Có sự tương quan mạnh giữa lâm sàng chênh lệch chiều cao vai bên ngoài với chênh lệch góc lồng ngực xương đòn hai bên ( r= 0,98; p<0,01) [122]

Kwan MK và cộng sự (năm 2016) nghiên cứu trên 89 bệnh nhân VCS cho thấy: Tỷ lệ BN mất lệch vai là 100%, trong đó chênh lệch chiều cao vai bên ngoài <1

cm là 43 BN (48,3 %), chênh lệch chiều cao vai bên ngoài 1-2 cm là 32 (36,0 %) và

từ 2-3 cm là 14 (15,7 %) , không có BN nào chênh lệch chiều cao vai bên ngoài >3

cm (0%) Chênh lệch chiều cao mỏm quạ là 0,9 ± 0,56 (cm); Chênh lệch giao điểm xương sườn – xương đòn là 0,7 ± 0,53 (cm); Góc xương đòn là 2,4 ± 1,68 (độ) NC của tác giả nhận thấy lâm sàng nghiêng cổ tương quan yếu với lâm sàng vẹo cổ [69]

Nghiên cứu của Jian Zhao và CS (năm 2018) trên 68 BN vẹo cột sống vô căn tại Trung Quốc: Nữ 56/68 BN (82,4%); Nam 12/68 (17,6%); Tuổi trung bình là 14,3

± 2,15 tuổi [124]

NC của Chiu CK và cộng sự (2018) trên 50 vẹo cột sống cho thấy: Góc nghiêng đốt sống ngực 1 tương quan khá với góc nghiêng cổ (r=0,78; p<0,01) [35]

1.5.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

NC của Vũ Tam Tỉnh (năm 1994), bắt đầu nghiên cứu khung kéo sọ-đùi kết hợp với phẫu thuật bằng dụng cụ Harrington cho những BN vẹo cột sống, kết quả bước đầu còn hạn chế trong nắn chỉnh và duy trì mức độ nắn chỉnh [16]

NC của Võ Văn Thành (năm 2003) báo cáo bước đầu chỉnh vẹo cột sống nặng lối sau bằng ốc chân cung bằng kỹ thuật hình phễu Tác giả nghiên cứu 21 BN VCS, trong đó có 13 trường hợp VCS vô căn và 6 trường hợp VCS có căn nguyên (dính xương sườn, di chứng bại liệt, dị tật thân đốt sống …) Tỷ lệ sửa chữa trung bình sau

mổ đạt 45,56% [11]

Trang 34

NC của Nguyễn Thế Luyến (năm 2004) báo cáo phẫu thuật điều trị cho các

BN VCS bằng dụng cụ Harrington-Luque Tác giả nghiên cứu 41 BN VCS, trong đó

có 31 trường hợp VCS vô căn, 8 BN do di chứng sốt bại liệt và 2 trường hợp VCS bẩm sinh Tỷ lệ nắn chỉnh chung đạt 47,44% [8]

NC của Phạm Văn Minh (năm 2007): VCS ngực chiếm tỷ lệ 29%; VCS thắt lưng là 51,6% và VCS ngực - thắt lưng chiếm 19,4%; Tỷ lệ BN có đường cong đơn chiếm 80,6 % cao hơn tỷ lệ BN có đường cong kết hợp 19,4% Tỷ lệ BN vẹo cột sống

có đường cong đơn thuần/ đường cong kết hợp là 4,2 /1 [9]

NC của Trịnh Quang Dũng (năm 2015) ở BV Nhi Trung ương trên 63 BN cho thấy: nhóm tuổi từ 13-15 chiếm tỷ lệ 57% cao hơn nhóm trẻ trên 15 tuổi chiếm tỷ lệ 43% Tỷ lệ trẻ em gái chiếm 66,7% chênh lệch chiều cao vai bên ngoài là 1,5 ± 0,45

cm Những trẻ vẹo cột sống thắt lưng có nguy cơ mắc vẹo cột sống nặng tăng 1,3 lần

so với trẻ có vẹo cột sống ngực Theo tác giả tuổi là một trong những yếu tố nguy cơ gây vẹo cột sống nặng, những trẻ > 15 tuổi có nguy cơ mắc VCS nặng cao gấp 2,9 lần so với trẻ từ 12 – 15 tuổi với 95% CI: 1,12 – 8,50; Vẹo cột sống ngực là 44,5 % gặp cao nhất; vẹo cột sống ngực - thắt lưng là 23,8% và VCS thắt lưng là 31,8% Tỷ

lệ trẻ vẹo cột sống có một vùng vẹo riêng biệt là 76,2% (vẹo ở ngực 44,5%; vẹo ở thắt lưng chiếm 31,7%) cao hơn so với trẻ có đường cong kết hợp (ngực - thắt lưng)

NC của Nguyễn Hoàng Long (năm 2015) cho kết quả: đánh giá tình trạng cột sống của 38 bệnh nhân VCS vô căn trước khi phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Đức (Hà Nội) cho kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm 89,5% (34 bệnh nhân) so với nam chiếm 10,5% (4 bệnh nhân) Tỷ lệ nữ/nam = 8,5 /1; Cột sống ngực và ngực - thắt lưng hướng

Trang 35

vẹo bên phải theo thứ tự là 96,4% và 100%; Cột sống thắt lưng hướng vẹo bên trái chiếm 75% Tuổi trung bình trong nghiên cứu của tác giả là 16,3 ± 3,54 tuổi Chức

năng vận động của cột sống và tình trạng đau lưng của các bệnh nhân VCS vô căn

gần như rất ít bị ảnh hưởng điểm trung bình theo thứ tự là 4,2 ± 0,61 và 4,7 ± 0,44 Hình ảnh bản thân và mức độ ảnh hưởng đến tâm lý có ảnh hưởng nhiều đến bệnh nhân với điểm trung bình là 2,6 ± 0,62 và 2,9 ± 0,71 theo thứ tự Góc Cobb trung bình của đường cong chính là 59,7o ( nhỏ nhất 40 độ; lớn nhất là 90 độ) [7]

Nghiên cứu của Võ Quang Đình Nam và CS (năm 2019) nghiên cứu trên 44

BN VCS vô căn với góc Cobb TB là 61,8 độ, thời gian theo dõi trung bình là 23 tháng bằng phương pháp nắn chỉnh vẹo với cấu hình ốc chân cung và hàn xương lối sau, kết quả là cải thiện chiều cao trung bình 6,1 cm; kết quả nắn chỉnh góc Cobb ngay sau mổ đối với đường cong chính là 77,2 %; biến chứng nhiễm trùng sâu ở 1 BN phải lấy dụng cụ; biến chứng tổn thương thần kinh ở 1 BN hồi phục gần như hoàn toàn sau 3 năm [10]

NC của Phạm Trọng Thoan (năm 2019) trên 40 bệnh nhân VCS không rõ căn nguyên tuổi thanh thiếu niên cho thấy: Tuổi trung bình là 15,73 ± 2,96 Tỷ lệ BN nữ

là 80%; tỷ lệ BN nam là 20% Tỷ lệ BN nữ/nam là 4/1 Góc Cobb của đoạn đường cong chính là lớn nhất với giá trị trung bình 55,6độ Chênh lệch chiều cao vai bên ngoài là 0,93 ± 0,64 cm Góc sườn đòn là 5,75 ± 4,26 (độ); Chênh lệch góc lồng ngực xương đòn hai bên 8,31±6,44 (độ); Đường cong ngực gần trung bình là 14,54 ± ,15 (độ) [15]

Hiện nay, tại Việt Nam không có đề tài nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng,

X-quang và mối tương quan giữa lâm sàng và X-X-quang trong đánh giá nghiêng cổ và

lệch vai trên bệnh nhân vẹo cột sống vô căn để làm cơ sở chỉ định mổ và lựa chọn kỹ thuật mổ thích hợp nhất cho mỗi trường hợp vẹo cột sống vô căn ở tuổi thanh thiếu niên

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh

- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/09/2019

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bao gồm 50 BN được chẩn đoán là vẹo cột sống vô căn được khám và điều trị tại BV Chấn thương chỉnh hình TP Hồ Chí Minh từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/09/2019

- Tuổi thanh thiếu niên (Aldolescent): Từ 11-18 tuổi (Theo khuyến cáo của

Hội vẹo cột sống thế giới) [41]

- Góc vẹo ≥ 10o: xác định góc vẹo theo phương pháp của Cobb [41]

- Hồ sơ đủ tài liệu

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Chưa loại trừ được nguyên nhân như thần kinh cơ hoặc hội chứng Marfan…

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Là nghiên cứu mô tả cắt ngang, không có nhóm chứng, hồi cứu và tiến cứu

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang, không có nhóm chứng Để tính cỡ mẫu, theo kết quả nghiên cứu của Qiu XS và cộng sự (2009) [93] báo cáo sự tương quan giữa lệch va trên hình ảnh học và lệch vai lâm sàng ở trẻ vẹo cột sống vô căn thanh thiếu niên Tác giả nghiên cứu trên 34 bệnh nhân, kết quả không tìm thấy thông số X-quang nào tương quan hoàn hảo với thông số thẩm mỹ (r ≤0,74) Do đó, để đánh giá mối tương quan nghiêng cổ và lệch vai trên lâm sàng và X-quang, chúng tôi tính

cỡ mẫu theo công thức sau:

Công thức tính cỡ mẫu khi so sánh hệ số tương quan giữa 2 nhóm bằng phép biến đổi z kinh điển của Fisher [49]:

Trang 37

𝑛 = 3 + 4C (a, b)

[ln(1 + 𝑟1 − 𝑟 𝑥1 − 𝑟𝑜1 + 𝑟𝑜 )]4 Trong đó: C là hằng số liên quan đến sai sót a và b

Ở đây, chỉ có 1 nhóm r0=0

Áp dụng công thức, chúng tôi tính được cỡ mẫu: n = 20 (thêm 10%) Trên thực tế số đối tượng nghiên cứu là 50 BN, trong đó có 26 BN được phẫu thuật

- Tuổi: là biến số định lượng

- Giới tính: Biến số định tính, có 2 giá trị: Nam; Nữ

- Dân tộc: Biến số định tính, có 2 giá trị: Kinh; Thiểu số

- Khu vực sống: Biến số định tính có 2 giá trị: Thành thị; Nông thôn

Trang 38

Biến số tiền sử

- Tiền sử gia đình có người vẹo cột sống: biến số định tính có 2 giá trị: có, không

Biến số lâm sàng:

- Đánh giá tình trạng cột sống (Evaluating the condition of your back) của

người bệnh vẹo cột sống vô căn: dựa trên bộ câu hỏi SRS-22r của Hội nghiên cứu

vẹo cột sống thế giới (Scoliosis Research Socity-22r), phân theo các nhóm, là biến số định tính, có 5 giá trị (đơn vị tính là điểm từ 1 đến 5) (Phụ lục 2) [29]:

+ Chức năng cột sống: Câu 3, 4, 12, 15, 18

+ Tình trạng đau lưng: Câu 1, 2, 8, 11, 17

+ Biểu hiện bề ngoài của BN (thẩm mỹ): Câu 4, 6, 10, 14, 19

+ Tâm lý bệnh nhân: Câu 3, 7, 13, 16, 20

+ Nhóm đánh giá mức độ hài lòng của BN sau điều trị: chúng tôi không khảo sát vì không nằm trong mục tiêu nghiên cứu

Với bộ câu hỏi, mỗi câu sẽ có 5 phương án trả lời, BN sẽ lựa chọn đáp án phù hợp nhất đối với từng câu hỏi Sau khi trả lời tính điểm đối với từng nhóm câu hỏi Trong đó 1 điểm là kém nhất; 3 điểm trung bình và 5 điểm tốt nhất

- Triệu chứng lâm sàng [104], [110] (Hình 2.1 đến hình 2.3)

+ Nghiêng cổ: là biến số định tính có 2 giá trị: có và không

+ Lệch vai: là biến số định tính có 2 giá trị: có và không

+ Bướu xương sườn: là biến số định tính có 2 giá trị: có và không

+ Biến dạng lồng ngực: là biến số định tính có 2 giá trị: có và không

+ Mất đối xứng đường eo: là biến số định tính có 2 giá trị: có và không

- Đánh giá lâm sàng lệch vai (Hình 2.4 và 2.5)

Đánh giá lâm sàng lệch vai dựa vào sự chênh lệch chiều cao phần mềm vai 2 bên, đơn vị tính là cm Gồm đánh giá chênh lệch chiều cao vai bên trong và chênh lệch chiều cao vai bên ngoài [93]

+ Phía vai cao hơn: là biến số định tính có 2 giá trị: bên trái và bên phải

Trang 39

+ Chênh lệch chiều cao vai bên trong: là biến số định lượng (đơn vị tính là cm), sau đó được mã hoá thành biến số định tính, có 3 giá trị: mức độ nhẹ (<1cm); Mức độ trung bình (³ 1 cm - <2 cm) và mức nặng (³ 2 cm)

+ Chênh lệch chiều cao vai bên ngoài: là biến số định lượng (đơn vị tính là cm), sau đó được mã hoá thành biến số định tính, có 3 giá trị: nhẹ (<1cm), trung bình (³ 1 cm và <2 cm) và nặng ( ³ 2 cm)

- Đánh giá lâm sàng nghiêng cổ [79], [93], [110] (Hình 2.6 đến hình 2.14)

Đánh giá lâm sàng nghiêng cổ bằng cách dựa vào đo góc nghiêng cổ Góc nghiêng cổ là góc được hợp bởi trục cổ với trục thẳng đứng của cơ thể

+ Góc nghiêng cổ: là biến số định lượng (đơn vị tính là độ), sau đó được mã hoá thành biến số định tính, có 2 giá trị: không nghiêng cổ(<5 độ) và nghiêng cổ (vẹo cổ) (³ 5 độ)

Biến số hình ảnh học X-quang

- Phân loại vị trí vẹo cột sống

Phân loại vị trí vẹo cột sống dựa theo vị trí của đỉnh đường cong vẹo (Theo tiêu chuẩn phân loại VCS của Hội nghiên cứu VCS thế giới SRS) [41]:

+ Đỉnh đường cong chính: là biến số định tính, có 15 giá trị: Đốt sống ngực 2 đến 12, đốt sống thắt lưng 1 đến 4 Sau đó được mã hoá thành biến số định tính có 3 giá trị: VCS ngực (đỉnh đường cong vẹo nằm giữa đốt sống ngực 2 đến đốt sống ngực

12 trở lên); VCS ngực-thắt lưng (đỉnh vẹo nằm giữa dốt sống ngực 12 đến đốt sống thắt lưng 1); VCS thắt lưng (đỉnh vẹo nằm nằm giữa đốt sống thắt lưng 2 đến đốt sống thắt lưng 4)

- Phân loại theo bên lệch cột sống

Phân loại theo bên lệch cột sống dựa vào hướng đường cong vẹo

+ Hướng đường cong vẹo: là biến định tính, có 2 giá trị: Phải và trái

- Phân loại mức độ vẹo cột sống

Phân loại mức độ VCS dựa vào góc vẹo đường cong chính, góc Cobb (đo góc vẹo theo phương pháp Cobb) [41]:

Trang 40

+ Góc Cobb: là biến số định lượng (đơn vị tính là độ) Sau đó được mã hoá thành biến số định tính có 3 giá trị: Mức độ nhẹ (Góc Cobb từ 10 đến <25 độ); Mức

độ trung bình (góc Cobb từ 25-40 độ nếu VCS thắt lưng hoặc 25-45 độ nếu VCS ngực hoặc ngực thắt lưng) và mức độ nặng (Góc Cobb >40 độ nếu VCS thắt lưng hoặc >45 độ nếu VCS ngực hoặc ngực-thắt lưng) [110]

Trong trường hợp bệnh nhân có 2 đường cong thì lấy giá trị của đường cong

có góc Cobb lớn hơn

- Hình ảnh X-quang đánh giá nghiêng cổ và lệch vai

+ Chênh lệch góc lồng ngực xương đòn hai bên: là biến số định lượng (đơn vị tính là độ)

+ Độ nghiêng đốt sống ngực 1: là biến số định lượng (đơn vị tính là độ)

* Nếu bệnh nhân có phẫu thuật và tái khám lần đầu sau 2-4 tuần:

Đánh giá lâm sàng nghiêng cổ và lệch vai trước và sau phẫu thuật [79], [93], [110] (Hình 2.15):

- Đánh giá lâm sàng nghiêng cổ sau phẫu thuật bằng cách dựa vào đ o góc

nghiêng cổ sau phẫu thuật Góc nghiêng cổ là góc được hợp bởi trục cổ với trục thẳng đứng của cơ thể Góc nghiêng cổ: là biến số định lượng (đơn vị tính là độ), sau đó được mã hoá thành biến số định tính, có 2 giá trị: không nghiêng cổ (<5 độ ) và nghiêng cổ (vẹo cổ) (³ 5 độ)

- Đánh giá lâm sàng lệch vai sau phẫu thuật dựa vào sự chênh lệch chiều cao phần mềm vai 2 bên, đơn vị tính là cm Gồm đánh giá chênh lệch chiều cao vai bên trong và chênh lệch chiều cao vai bên ngoài [93]:

+ Chênh lệch chiều cao vai bên trong: là biến số định lượng (đơn vị tính là cm), sau đó được mã hoá thành biến số định tính, có 3 giá trị: mức độ nhẹ (<1cm); Mức độ trung bình (³ 1 cm - <2 cm) và mức nặng (³ 2 cm)

+ Chênh lệch chiều cao vai bên ngoài: là biến số định lượng (đơn vị tính là cm), sau đó được mã hoá thành biến số định tính, có 3 giá trị: nhẹ (<1cm), trung bình (³ 1 cm và <2 cm) và nặng ( ³ 2 cm)

Đánh giá X-quang nghiêng cổ và lệch vai trước và sau PT dựa vào:

Ngày đăng: 17/05/2021, 20:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w