Khái niệm hộ nông dân Theo tác giả Frank Ellis 1998 thì “hộ nông dân là các hộ, thu nhập các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, n
Trang 1
SÌNH A THÌN Tên đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO CÁC HỘ DÂN TỘC MÔNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VÀNG ĐÁN, HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
KHÓA LUẬT TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 2
SÌNH A THÌN Tên đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO CÁC HỘ DÂN TỘC MÔNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VÀNG ĐÁN, HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
KHÓA LUẬT TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Lành Ngọc Tú
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này trước tiên em xin chân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế & PTNT, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Em xin chân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sự quan tâm sâu sắc của thầy
giáo Th.S Lành Ngọc Tú đã giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập để em hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng chân thành cảm ơn UBND xã Vàng Đán và toàn thể người dân trong
xã đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình em thực tập, điều tra và nghiên cứu tại cơ sở
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để giúp em hoàn thành khóa luận được tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày tháng năm 2020
Sình A Thìn
Trang 4LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu cảu đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Nâng cao thu nhập các hộ nông dân nghèo 3
2.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ nông dân nghèo 8
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 10
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 10
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 12
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 13
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 13
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 13
3.3 Nội dung nghiên cứu 13
3.4 Phương pháp nghiên cứu 13
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 13
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 15
Trang 5Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiến, kinh tế - xã hội xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 17
4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 17
4.1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội 18
4.2 Thực trạng về thu nhập của các hộ dân tộc Mông ở xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 23
4.2.1 Khái quát về các hộ dân tộc Mông xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên 23
4.2.2 Một số đặc điểm cơ bản của nhóm hộ điều tra 27
4.2.3 Thực trạng về thu nhập của các hộ dân tộc Mông tại các bản điều tra 34
4.3 Đánh giá chung thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao thu nhập của các các hộ dân tộc Mông xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ 63
4.3.1 Đánh giá chung thực trạng thu nhập của các các hộ dân tộc Mông xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ 63
4.3.2 Giải pháp nhằm nâng cao thu nhập các hộ dân tộc Mông xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên 65
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
5.1 Kết Luận 72
5.2 Kiến nghị 72
5.2.1 Đối với Nhà nước 72
5.2.2 Đối với chính quyền cơ sở 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 6TM : Thương mại TTCN : Tiểu thủ công nghiệp VLSS : Điều tra thu nhập dân cư XKLĐ : Xuất khẩu lao động
XD : Xây dựng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình dân số và lao động xã Vàng Đán năm 2019 19
Bảng 4.2: Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành trên địa bàn xã Vàng Đán năm 2019 20
Bảng 4.3 Cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp của xã Vàng Đán năm 2019 21
Bảng 4.4 Tình hình sử dụng đất xã Vàng Đán năm 2019 22
Bảng 4.5: Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ 23
giai đoạn năm 2017 - 2019 23
Bảng 4.6: Phân loại nông hộ và mức thu nhập của người Mông xã Vàng Đán, 25
huyện Nậm Pồ 25
Bảng 4.7 Thông tin chung về hộ điều tra 28
Bảng 4.8: Tình hình đất đai của các hộ điều tra 32
Bảng 4.9: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra 33
Bảng 4.10 Vốn sản xuất bình quân của các các hộ dân tộc Mông năm 2020 34 Bảng 4.11: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt bình quân các hộ điều tra năm 2019 37
Bảng 4.12: Kết quả chăn nuôi bình quân các hộ điều tra năm 2019 40
Bảng 4.13: Cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra năm 2018 56
Bảng 4.14: Chi phí trồng trọt của các hộ điều tra năm 2019 58
Bảng 4.15: Chi phí chăn nuôi của các hộ điều tra năm 2019 59
Bảng 4.16: Thu nhập của các hộ điều tra năm 2019 60
Bảng 4.17: Chi tiêu của các hộ điều tra năm 2019 63
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho người dân ở vùng nông thôn là một trong những yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay của Đảng và Nhà nước nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, giảm tỷ lệ phân hóa giàu
- nghèo trong xã hội Có thể thấy, một trong những mục tiêu của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là nâng cao đời sống kinh tế của người dân
Vì thế, tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa nguồn lực
và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn, khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ
có thu nhập trung bình khá trở lên Có các chính sách và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm mức sống giữa nông thôn và thành thị” Tuy nhiên các chính sách vĩ mô và vi mô chưa thực sự đồng bộ và chưa mang tính bền vững do thu nhập của người dân hầu hết xoay quanh mức cận nghèo và dễ tái nghèo trở lại Vì vậy,
để nâng cao thu nhập của các các hộ dân tộc Mông và để họ không tái nghèo là một thách thức nan giải, đặc biệt là tại các huyện vùng núi, vùng sâu và vùng xa
Xã Vàng Đán có điều kiện kinh tế xã hội nhìn chung còn nhiều khó khăn, sản xuất nông, lâm nghiệp vẫn là chủ yếu, công nghiệp, tiểu thu công nghiệp phát triển chậm Trình độ dân trí không đồng đều, một số hủ tục lạc hậu, bảo thủ vẫn còn tồn tại,
tệ nạn xã hội diễn biễn phức tạp, tiểm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng Những điều kiện trên ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế xã hội, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân trong xã Vì vậy, để thực hiện thành công mục tiêu giảm tỷ lệ đói nghèo và tăng thu nhập cho người dân trong toàn xã, đặc biệt là tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho hộ nông dân người Mông nghèo ở xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên cần phải có những giải pháp mang tính toàn diện và đột phá Xuất phát từ những
lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao thu nhập cho các- hộ dân tộc Mông
trên địa bàn xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên” để thực hiện khóa luận tốt
nghiệp đại học
Trang 91.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Đánh giá khách quan thực trạng về thu nhập của các hộ dân tộc Mông ở xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2017-2019
- Đề xuất giải pháp, chính sách có căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ dân tộc Mông ở xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Kết quả nghiên cứu đề tài cung cấp những bằng chứng khoa học về sự cần thiết phải nâng cao thu nhập cho các hộ dân tộc Mông trên địa bàn xã Vàng Đán, huyện Nậm
Pồ, tỉnh Điện Biên Trên cơ sở nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các
hộ dân tộc Mông nói riêng và của đồng bào dân tộc miền núi nói chung
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho địa phương và những người quan tâm đến nâng cao thu nhập cho hộ nghèo người Mông ở miền núi
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Tổng hợp, hệ thống hóa và bổ sung những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng
cao thu nhập của các hộ dân tộc Mông
Đánh giá thực trạng và phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các
hộ dân tộc Mông ở một địa phương miền núi, cụ thể là xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ
Đề xuất một số giải pháp có căn cứ khoa học và tính khả thi nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ dân tộc Mông ở một địa phương miền núi, cụ thể là xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên
Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách về kinh tế và giảm nghèo tại xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Nâng cao thu nhập các hộ nông dân nghèo
2.1.1.1 Khái niệm hộ nông dân
Theo tác giả Frank Ellis (1998) thì “hộ nông dân là các hộ, thu nhập các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một
hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao”
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp nông thôn” Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”
Từ những khái niệm trên về hộ nông dân của các tác giả có thể hiểu như sau:
- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là
nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ,…) ở các mức độ khác nhau
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một
đơn vị tiêu dùng Như vậy hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân
Trang 112.1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân Việt nam
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế phổ biến của nông thôn vùng núi Việt Nam với hướng sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp Kinh tế hộ nông dân có lịch sử ra đời và phát triển lâu dài, có nhiều biến đổi trong tổ chức và quản lý, có nhiều hình thức đa dạng, nhưng chủ yếu được tổ chức ở quy mô gia đình Hình thức tổ chức kinh tế này có những đặc trưng sau:
- Kinh tế hộ nông dân miền núi phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành, mức
độ chuyên môn hoá cao, nông lâm kết hợp tạo thành hệ sinh thái bền vững
2.1.1.5 Thu nhập và nâng cao thu nhập
* Các khái niệm cơ bản
Thu nhập của hộ nông dân được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà chủ
hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích lũy về tái mở rộng sản xuất mở rộng nếu có Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện Có thể phân thu nhập của hộ nông dân thành ba loại: Thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập từ phi nông nghiệp và thu nhập khác
Khi nghiên cứu thu nhập của hộ nông dân thường đề cập đến các khái niệm sau:
- Tổng thu của hộ là toàn bộ giá trị nhận được từ các nguồn thu bằng tiền của hộ
dân chủ yếu là từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, rừng, làm thuê, ngành nghề thủ công, dịch vụ, nguồn thu từ ngân sách và các nguồn thu khác trong một khoảng thời gian thường tính là 1 năm Các khoản thu đó có thể bao gồm có thu hiện vật và thu bằng tiền, thu từ sản xuất kinh doanh và thu ngoài sản xuất kinh doanh Thu trong sản xuất kinh doanh là thu từ sản xuất, làm thuê, lương, Thu từ ngoài sản xuất kinh doanh là các nguồn
từ nước ngoài gửi về, từ anh em họ hàng, từ các hợp đồng kinh tế
- Tổng chi của hộ là toàn bộ chi phí bằng tiền mà hộ bỏ ra bao gồm chi cho sản xuất và chi cho tiêu dùng
+ Chi sản xuất bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản xuất ra sản phẩm (chi phí khả biến mua ở bên ngoài)
+ Chi tiêu dùng là các khoản chi ngoài sản xuất phục vụ cho đời sống hàng ngày của hộ
Trang 12- Thu nhập thực tế hay còn gọi là thực thu của hộ: Bằng tổng thu trừ đi các chi phí cho sản xuất của hộ
- Tiết kiệm của hộ bằng tổng thu trừ đi toàn bộ chi phí bao gồm cả chi sản xuất
và chi tiêu dùng của hộ
Thu nhập thực tế
Tổng thu - chi phí khả biến = Tổng thu nhập ròng
Tổng thu nhập ròng - tổng chi phí bất biến = Thu nhập thực tế
Thu nhập thực tế - trả lãi tiền vay = Thực kiếm
Thực kiếm + Thu từ các hoạt động khác = Thực thu của hộ
(Theo Đỗ Kim Chung (1997)
* Đặc điểm thu nhập của hộ nông dân
Thu nhập của hộ nông dân, đặc biệt là nông dân miền núi luôn có một đặc trưng
cơ bản là gắn liền với đất và rừng Qua thực tế cho thấy, ngoài thu nhập từ đất canh tác nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất rừng và sản phẩm rừng (săn bán, hái lượm), các
hộ dân tộc còn có các nguồn thu từ chăn nuôi, nghề phụ, làm thuê, bán hàng, hoạt động
du lịch sinh thái và mới nhất là thu từ dịch vụ môi trường rừng và thu từ chuyển nhượng chứng chỉ các bon
Đặc điểm thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm các khoản thu nhập sau:
- Thu nhập từ nông nghiệp: Bao gồm thu từ trồng trọt (thu từ cây lương thực,
thực phẩm như lúa, ngô, khoai, Đậu tương thu trồng cây ăn quả như vải, nhãn, hồng xiêm, bưởi, mít; thu từ trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, Đậu tương); thu từ chăn nuôi (trâu bò, lợn, gà, dê, )
- Thu nhập từ lâm nghiệp: Bao gồm thu từ khai thác lâm sản và lâm sản ngoài gỗ
(gỗ, củi, tre nứa, mai, mây, thu hái cây thuốc, ong rừng ), thu từ chặt gỗ lậu, thu từ săn bắt động vật và chim thú rừng; thu từ các hoạt động trồng rừng, bảo vệ rừng
- Thu nhập từ thuỷ sản bao gồm nuôi (bắt) cá, tôm, ốc, ếch, rắn
- Thu nhập phi nông nghiệp bao gồm:
Thu nhập từ ngành nghề thủ công truyền thống bao gồm sản phẩm mây tre đan, chế biến dược liệu, dệt vải
Trang 13Thu nhập từ dịch vụ du lịch sinh thái bao gồm thu từ bán hàng, phục vụ ăn ở, phục vụ tham quan văn hoá truyến thống bản làng, hướng dẫn du lịch
Thu nhập phi nông nghiệp còn lại bao gồm cắt tóc, làm thuê, thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm
Thu nhập khác bao gồm lương hưu, trợ cấp, làm thuê hoặc các khoản thu nhập bất thường khác
* Vai trò của thu nhập đối với người nghèo
Thu nhập đóng vai trò quan trọng với tất cả mọi người dân, đặc biệt là người nghèo Ngoài ra thu nhập còn đáp ứng nhu cầu y tế cho hộ nghèo: Cuộc sống không tránh được những rủi ro do đó khi ốm đau bệnh tật thì người nghèo có thể sử dụng thu nhập của mình để chi trả, tự chăm sóc cho bản thân mình
Thu nhập tạo cơ hội cho người nghèo tích lũy được khoản tiền giúp họ phát triển kinh tế hoặc dùng khoản tiền đó tạo nguồn vốn để thực hiện những nhu cầu trong cuộc sống của họ
Thu nhập như là động lực giúp họ vươn lên thoát nghèo, vượt qua khó khăn để nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân và gia đình của họ
* Nâng cao thu nhập
Nâng cao thu nhập là tăng tổng thu và thu nhập thực tế của hộ nông dân năm sau
cao hơn năm trước
Tăng thu nhập có thể được chia thành các hợp phần sau:
Trang 14+ Giá nông sản cao hơn: Điều này có thể có được nhờ sự tự do hoá thương mại,
hạ tầng nông thôn tốt hơn hoặc sự phối hợp tốt hơn giữa nông dân với người mua
- Đa dạng hoá cây trồng: Ngay cả khi giá cả, năng suất cây trồng, hệ số sử dụng
ruộng đất và diện tích không thay đổi, người nông dân vẫn có thể tăng thu nhập bằng cách chuyển đổi từ cây trồng có giá trị kinh tế thấp (đặc trưng là cây lương thực) sang cây trồng có giá trị cao hơn (đặc trưng là cây hàng hoá)
- Tăng thu nhập từ lâm nghiệp: Đây là một nguồn thu quan trọng của người dân
vùng núi, thu từ lâm nghiệp là các giá trị thu được từ sản phẩm của rừng Điều quan trọng là thu nhập từ lâm nghiệp phải là thu nhập bền vững
- Tăng thu nhập từ dịch vụ: Mô hình du lịch sinh thái rất có tương lai khi đời
sống người dân các khu vực thành thị ngày càng nâng cao
- Tăng thu nhập từ công nghiệp: Một số ngành công nghiệp có thể phát triển ở những
vùng miền núi như Công nghiệp chế biến nông, lâm sản, công nghiệp khai khoáng (Tuy nhiên công nghiệp khai khoáng thường gây tác động xấu tới môi trường)
* Hướng nâng cao thu nhập có thể khái quát lại thành:
- Nâng cao thu nhập theo hướng chuyển sang các hoạt động có giá trị cao hơn:
là quá trình người nông dân chuyển từ cây trồng và hoạt động có giá trị thấp sang cây trồng và hoạt động có giá trị cao hơn Ba chỉ số đo lường là tỷ lệ hộ tham gia vào hoạt động phi trồng trọt, tỷ lệ hộ trồng cây phi lương thực và tỷ lệ diện tích dành cho cây phi lương thực
- Tác động đến các yếu tố đầu vào nhằm tăng năng suất, sản lượng, chất lượng, tăng vụ, tiếp cận thị trường tăng giá cả nông sản hàng hóa
- Đa dạng nguồn thu nhập: Có nghĩa là số lượng nguồn thu nhập tăng lên làm cho tổng thu nhập tăng lên
Nâng cao thu nhập với ý nghĩa thương mại hóa: Những năm gần đây hướng nâng cao thu nhập này càng được quan tâm và áp dụng rộng rãi Nâng cao thu nhập được xem như là quá trình chuyển từ sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp các cây lương thực chủ yếu sang sản xuất nhiều loại hàng hóa nông sản hơn và hoạt động phi nông nghiệp Chúng ta có thể xác định được mức đo lường nâng cao thu nhập với ý nghĩa thương mại hóa
Trang 15+ Thứ nhất: “Thương mại hóa cây trồng” được xác định bằng tỷ trọng giá trị cây trồng đem bán và trao đổi so với tổng giá trị cây trồng sản xuất được
+ Thứ hai: “Thương mại hóa nông nghiệp” được xác định bằng tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp (gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp) đem bán và trao đổi so với tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp sản xuất được
+ Thứ ba là “Thương mại hóa thu nhập” được xác định dưới dạng tổng thu nhập bằng tiền mặt so với tổng thu nhập của hộ
2.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ nông dân nghèo
2.1.2.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn sinh kế cho người nông dân bởi lẽ trong bất kì loại hình sản xuất nào thì yếu tố con người luôn là sự quan tâm hàng đầu Con người là trung tâm, là nguồn vốn vô tận để tạo ra của cải vật chất, chính con người quyết định nên hình thức lao động Yếu tố con người trong sản xuất cũng được đánh giá bởi nhiều khía cạnh: độ tuổi, trình độ, số lượng lao động,
Độ tuổi của người lao động cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng lao động cũng như hình thức lao động Đặc biệt lao động ở nông thôn thì cần nguồn lao động trẻ, có sức khỏe tốt bởi vì hầu hết những công việc ở nông thôn thường là những việc làm nặng nhọc Chủ hộ là người trụ cột trong gia đình, quyết định mọi việc trong gia đình vì thế độ tuổi của chủ hộ sẽ có ảnh hưởng đến việc lựa chọn sinh kế của hộ
Trình độ học vấn là một khía cạnh rất quan trọng để đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực Một nguồn nhân lực được xem là có chất lượng cao khi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ năng lao động thành thạo Trong đó, trình độ học vấn của người lao động là yếu tố rất đáng quan tâm, nó giúp cho người lao động nắm bắt được những kiến thức mới, nó còn là một công cụ giúp người lao động tiếp cận được những tri thức mới, nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của người lao động
2.1.2.2 Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính như là một đòn bẩy góp phần phát huy các nguồn lực khác Nguồn lực tài chính được thể hiện ở chỗ khả năng huy động vốn của hộ, bao gồm tiền dành dụm, tiền vay từ các tổ chức tín dụng, hay vay của bạn bè, bà con,… Thực tế cho thấy, việc thiếu vốn để sản xuất kinh doanh dẫn đến kinh tế hộ chậm cải thiện vì khó
Trang 16có khả năng tiếp cận và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, làm chậm tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn
Những khó khăn về tài chính làm cho khả năng trỗi dậy của kinh tế nông hộ bị giảm sút, muốn cải thiện được kinh tế nông hộ thì việc tăng đầu tư nhằm mở rộng quy
mô sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm là một nhu cầu tất yếu Trong điều kiện như hiện nay, khi mà khả năng tích luỹ của hộ nông dân rất thấp, sự hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ ngày càng giảm, thì việc vay vốn để đầu
tư được coi là hành vi quan trọng nhất để thoả mãn về mặt tài chính
2.1.2.3 Nguồn lực vật chất
Nguồn vốn vật chất được phân chia làm 2 loại: Tài sản của cộng đồng và tài sản của hộ Tài sản cộng đồng là các cơ sở vật chất cơ bản phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt như: điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi, thông tin liên lạc Tài sản của hộ bao gồm cả các tài sản phục vụ sản xuất và các tài sản phục sinh hoạt của hộ như máy móc, thiết bị… Nguồn lực về tài chính có thể hình thành nên nguồn lực vật chất Tuy nhiên nếu nguồn lực vật chất sẵn có sẽ góp phần khuếch đại những nguồn lực khác
2.1.2.4 Nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực tự nhiên bao gồm đất đai, nước và các nguồn tài nguyên khác phục
vụ cho sản xuất Đất sản xuất là một trong những nguồn lực vật chất quý giá giúp cho người dân phát triển kinh tế Đất sản xuất bao gồm đất trồng lúa, đất chuyên màu, đất trồng cây ăn trái, đất nuôi trồng thủy sản…
2.1.2.5 Nguồn lực xã hội
Nguồn lực xã hội được thể hiện ở khả năng hỗ trợ của các tổ chức xã hội trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình Nguồn vốn xã hội thường được xem xét trên các khía cạnh như: quan hệ trong gia đình, tập quán và văn hóa địa phương, các luật tục và thiết chế cộng đồng, vai trò của các tổ chức và chính trị xã hội cũng như sự tham của người dân vào các hoạt động tập thể, khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin của người dân đối với sản xuất và đời sống
Trang 172.1.2.6 Tổ chức xã hội và chính sách của nhà nước
Quan tâm của các tổ chức xã hội: Đối với nông thôn Việt Nam nói chung, và
đặc điểm từng địa phương, sản xuất vẫn dựa nhiều vào cộng đồng Đối với các hộ nghèo, cần sự quan tâm của các tổ chức xã hội quan tâm, hỗ trợ kỹ thuật trong sản xuất Ngoài ra, các tổ chức này cũng là cầu nối để các hộ nông dân với ngân hàng chính sách và thay mặt ngân hàng chính sách giám sát việc thực hiện nguồn vốn vay
Chính sách hỗ trợ sản xuất cho hộ nghèo: Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều
chính sách hỗ trợ người nghèo, hỗ trợ về con giống, cây trồng, khoa học kỹ thuật và
cả chi phí sản xuất Đây là nguồn thúc đẩy quan trọng để người các hộ nghèo giảm được chi phí, vì đối với các hộ nghèo việc bỏ ra một lượng vốn lớn để đầu tư sản xuất kinh doanh là vô cùng khó và đây cũng là bước đầu tiếp cận với khoa học kỹ thuật, nâng cao thu nhập của các hộ nông dân
Chương trình đào tạo nghề: Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, thời gian
rảnh nhiều cần phải đào tạo nghề làm thêm cho người nông dân để nâng cao thu nhập như trồng nấm, chăn nuôi, các lớp tập huấn sản xuất Các lớp này thường đặt ngay tại địa phương, nhà nước hỗ trợ học phí để có thể thu hút được nhiều người đến học Với việc đào tạo này, người dân có kiến thức chuyển đổi trong phương thức sản xuất của mình, giảm được thời gian nông nhàn, tăng thu nhập cho các hộ dân
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Doreen S Nakiyimba (2014) về giảm nghèo và tính bền vững của sinh kế nông thôn thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại huyện Kakondo quận Rakai Uganda đã nêu rằng tài chính vi mô được coi là một trong những cơ chế, giải pháp giảm nghèo ở các nước nghèo hiện nay Nghiên cứu này đã đặt mục tiêu tìm ra ảnh hưởng của tài chính vi mô đối với sinh kế của phụ nữ ở quận Kakondo, huyện Rakai ở Uganda Để tìm ra ảnh hưởng của tài chính vi mô tới sinh kế, một nhóm khách hàng là nữ giới đã được phỏng vấn Kết quả khảo sát cho thấy sinh kế của người dân sau khi có được tín dụng tài chính vi mô là rất thành công, tuy nhiên không phải tất cả
số người được khảo sát đã sử dụng hiệu quả tín dụng tài chính vi mô, sự kém hiệu quả này một phần do kiến thức, kỹ năng và mục đích đầu tư, một phần do lãi suất vay cao,
Trang 18có những phụ nữ phải thuế chấp tài sản do không có khả năng thanh toán đúng hạn Qua đó nghiên cứu chỉ ra rằng nếu thời hạn vay được dịch chuyển, linh động hơn thì người dân sẽ có thêm thời gian kiếm tiền để trả nợ Sự điều chỉnh này sẽ giúp người vay có thể đạt được những ảnh hưởng tích cực từ tài chính vi mô, do đó dẫn đến bền vững về sinh kế
Frank Ellis (1999), đã nghiên cứu về sinh kế và chính sách XĐGN như: nghiên cứu về đa dạng sinh kế nông thôn ở các nước đang phát triển, đã xem xét đa dạng sinh
kế như là một chiến lược sống còn của các hộ gia đình nông thôn ở các nước đang phát triển Mặc dù vẫn có tầm quan trọng hàng đầu, nhưng nông nghiệp ngày càng không thể cung cấp đủ phương tiện sống còn ở nông thôn Mục tiêu của nghiên cứu, thứ nhất,
là nhằm nâng cao nhận thức về đa dạng sinh kế trong các phương pháp tiếp cận phát triển nông thôn; thứ hai, để xem xét các tương tác giữa đa dạng hóa và đói nghèo, năng suất nông nghiệp, quản lý tài nguyên thiên nhiên và quan hệ giới ở nông thôn; và thứ
ba, để nâng cao sự hiểu biết chính sách về sinh kế nông thôn đa dạng
Nghiên cứu của Shanta Paudel Khatiwada và các cộng sự là một nỗ lực nhằm đánh giá chiến lược sinh kế của các hộ gia đình nông thôn, điều tra mức thu nhập cao
và xác định các yếu tố dẫn đến lựa chọn các chiến lược tốt hơn ở nông thôn Nepal Dữ liệu sơ cấp thu thập được trong 453 hộ gia đình từ 3 thôn của miền trung Nepal được phân tích định lượng trong khuôn khổ sinh kế bền vững Nghiên cứu này phân loại các
hộ gia đình vào các nhóm chiến lược sinh kế chính Kết quả cho thấy đa số (61%) các
hộ đa dạng hóa thu nhập của họ cho các nguồn phi nông nghiệp Sự đa dạng sinh kế đối với các chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp được 16% số hộ áp dụng là chiến lược gần đây nhất với chiến lược thương mại hóa, bao gồm 13% số mẫu và có liên quan đến giảm nghèo Việc giữ đất, giáo dục, nông nghiệp và đào tạo kỹ năng, tiếp cận tín dụng, và gần với đường xá và trung tâm thị trường là những yếu tố chủ yếu trong việc áp dụng các chiến lược sinh kế cao hơn Khuyến khích các hộ nghèo theo các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp theo định hướng thị trường bằng cách cải thiện tiếp cận với giáo dục, đào tạo nghề, tín dụng nông thôn và CSHT nông thôn
là rất quan trọng để giảm nghèo ở các vùng nông thôn miền trung Nepal
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy việc khuyến khích các hộ nghèo theo
Trang 19các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp theo định hướng thị trường bằng cách cải thiện tiếp cận với giáo dục, đào tạo nghề, tín dụng nông thôn và CSHT nông thôn
là rất quan trọng để giảm nghèo ở các vùng nông thôn
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh Với việc điều tra trực tiếp từ 150 hộ Khmer ở tỉnh Trà Vinh, 90 hộ Chăm
ở tỉnh An Giang và áp dụng mô hình phân tích hồi qui tuyến tính cho thấy, các nhân
tố tác động đến thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là: trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của lao động trong hộ, số nhân khẩu trong hộ, số hoạt động tạo thu nhập của hộ, độ tuổi của lao động trong hộ và tiếp cận với các chính sách hỗ trợ Trong đó, nhân tố số nhân khẩu
và độ tuổi của lao động trong hộ tỷ lệ nghịch với thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc, nhân tố số hoạt động tạo ra thu nhập của hộ có tác động mạnh nhất đến thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc thiểu số ở ĐBSCL
Bài viết “Nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân
có vốn vay ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình” của 2 tác giả là Nguyễn Việt Anh
và Trần Thị Thu Thủy thuộc trường ĐH Kinh Tế - ĐH Huế Bài viết đã đưa ra các yếu
tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân như: điều kiện tự nhiên, loại hộ sản xuất, loại hình sản xuất cũng tác động đến thu nhập của các hộ nông dân Qua kết quả phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ nông dân thông qua mô hình Cobb-Douglas ở huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình cho thấy các yếu tố đầu vào tác động mạnh đến thu nhập của các hộ nông dân Bên cạnh đó các yếu tố như: điều kiện tự nhiên, loại hộ sản xuất; loại hình sản xuất cũng tác động đến thu nhập của các hộ nông dân Điều này chứng tỏ các yếu tố đầu vào được các hộ nông dân đưa vào
sử dụng để phát triển sản xuất nâng cao thu nhập và thúc đẩy kinh tế hộ phát triển
Trang 20Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập và các hoạt động nâng cao thu nhập của các hộ dân tộc Mông trên địa bàn xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Trọng tâm nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến thu nhập của hộ dân tộc Mông
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Về mặt không gian: Đề tài được nghiên cứu tại xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
- Về mặt thời gian: Các tài liệu và số liệu phân tích liên quan đến thu nhập của các hộ dân tộc Mông của xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên được thu thập trong giai đoạn từ 2017-2019 Đề xuất các giải pháp về kinh tế nhằm áp dụng cho giai đoạn từ năm 2020-2025
- Số liệu sơ cấp được tác giả thu thập trong năm 2020
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ
- Đánh giá thực trạng về thu nhập của các hộ dân tộc Mông ở xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
- Đề xuất giải pháp, nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ dân tộc Mông ở xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
3.4.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Tác giả thu thập số liệu sơ cấp như: Từ báo cáo tình hình xóa đói giảm nghèo tại Phòng Lao động thương binh xã hội xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, các tài liệu liên quan đến nghèo như: Luận văn, luận án, các bài báo về tình hình nghèo đói của người nông dân Ngoài ra, tác giả thu thập báo cáo tình hình kinh tế của xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ tại một số phòng ban liên quan
Trang 213.4.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Luận văn thu thập số liệu sơ cấp bằng cách dùng mẫu phiếu chuẩn bị sẵn để điều tra trực tiếp các hộ nông trên địa bàn xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên; Phương pháp thu thập cụ thể như sau:
- Xác định số lượng mẫu:
Để có được một kết quả có cơ sở thống kê và hạn chế tối đa những sai sót trong quá trình chọn mẫu, mẫu được lựa chọn dựa trên công thức xác định cỡ mẫu của Slovin như sau:
n = N/(1+ N* e2 ) Trong đó:
N: Tổng thể mẫu e2: Sai số
Do điều kiện thời gian có hạn, việc đi lại khó khăn nên trong luận văn tác giả
sử dụng sai số 7%, theo tác giả đây cũng là con số khá vững chắc để đảm bảo có ý nghĩa thống kê Như vậy e = 0,07
Ta có N= 565 đây là số các hộ dân tộc Mông của xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ năm 2019 Thay vào công thức ta có n = 90 mẫu
Trong nghiên cứu, tác giả đã sử dụng n = 90 hộ dân tộc Mông để đảm bảo cho việc khảo sát và có ý nghĩa về mặt thống kê
- Phương pháp điều tra mẫu: Điều tra trực tiếp hộ dân tộc Mông trong năm 2019
- Nội dung hỏi: Đã được chuẩn bị thông qua bảng hỏi
- Địa điểm điều tra: tại 3 bản xã của Vàng Đán gồm: Bản Hồi Dạo, bản Hồi
Khương , bản Hang Xoong 2 Đây là 3 bản có số lượng hộ dân tộc Mông cao nhất xã
* Đối tượng điều tra:
Đối tượng điều tra ở đây là các các hộ dân tộc Mông tại 3 bản: Bản Hồi Dạo, bản Hồi Khương, bản Hang Xoong 2 Số lượng điều tra 30 hộ/bản Việc lựa chọn các hộ mang tính ngẫu nhiên, để tìm ra nguyên nhân dẫn đến nghèo của các hộ dân tộc Mông, qua đó đề ra các biện pháp giúp hộ dân tộc Mông nâng cao thu nhập, dần dần thoát khỏi tình trạng kinh tế khó khăn
Trang 223.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh: Trên cơ sở phân tổ, phương pháp so sánh dùng để so
sánh thu nhập của hộ nghèo qua các năm So sánh là việc đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế - xã hội đã được lượng hóa có cùng một nội dung, tính chất tương
tự nhau
Phương pháp đồ thị: Đồ thị là phương pháp chuyển hóa thông tin từ dạng số
sang dạng đồ thị Trong đề tài, tác giả sử dụng đồ thị nhằm biểu thị một cách rõ nét một số chỉ tiêu nghiên cứu Đồ thị sẽ giúp cho người đọc dễ dàng tiếp cận và phân tích thông tin
Phương pháp tổng hợp, khái quát hoá: Luận văn thực hiện phương pháp tổng
hợp, khái quát trên cơ sở các số liệu thu thập, điều tra được từ đó đưa ra đánh giá và những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nghèo xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Qua phương pháp này giúp cho luận văn
có được các thông tin chính xác, mang tính hệ thống Kết quả này sẽ giúp tác giả đưa
ra được các ý kiến đóng góp sát với thực tiễn
Phương pháp dự báo thống kê: Trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu
đã thu thập được, đưa ra một số dự báo về sự việc sẽ xảy ra trong tương lai Khi tiến hành dự báo sẽ căn cứ vào việc thu thập, xử lý số liệu trong quá khứ và hiện tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai nhờ vào một số mô hình toán học (Định lượng) Tuy nhiên dự báo cũng có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tương lai (Định tính) và để dự báo định tính được chính xác hơn, người
ta cố loại trừ những tính chủ quan của người dự báo
3.4.3 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Tốc độ tăng dân số và lao động bình quân qua các năm
Tốc độ tăng dân số và lao động bình quân qua các năm được tính bằng số bình quân nhân của các tốc độ phát triển liên hoàn về dân số và lao động trung bình qua các năm Dân số và lao động trung bình của mỗi năm được tính bằng cách lấy tổng dân số của các tháng chia cho 12 tháng hoặc lấy số liệu dân số và lao động trung bình tại một thời điểm điều tra nhất định Trong luận văn sử dụng số liệu dân số và lao động có mặt tại thời điểm điều tra Tính chỉ tiêu này là nhằm xem xét xu hướng biến động của
Trang 23dân số và lao động qua các năm, nhìn rõ được áp lực về dân số và lao động, từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp giải quyết việc làm cho lao động nhằm tăng thu nhập
- Cơ cấu lao động theo trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn Trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn của người lao động là chỉ tiêu đánh giá chất lượng của người lao động, có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của công việc Hơn nữa, trình độ văn hoá và chuyên môn của người lao động là điều kiện quan trọng tạo cho họ khả năng tạo ra công việc mới, khả năng quan hệ và tìm kiếm thị trường, khả năng tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật Trình độ văn hoá và của người lao động được đánh giá theo cấp học họ đã tốt nghiệp hoặc đánh giá theo số năm đi học Trình
độ chuyên môn được đánh giá theo chứng chỉ, văn bằng đào tạo nghề đươc cấp Việc đánh giá đúng trình độ văn hoá và chuyên môn của người lao động sẽ có các cách thức đào tạo nguồn lao động nông thôn phù hợp, là điều kiện quan trọng nhằm phát triển kinh tế và xã hội nông thôn
- Thu nhập bình quân/1 lao động
- Thu nhập bình quân/1 khẩu
+ Diện tích đất sản xuất bình quân trên hộ; trên lao động
+ Cơ cấu cây trồng; số vụ trên đất canh tác
Trang 24Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiến, kinh tế - xã hội xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Vàng Đán là một xã thuộc huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, Việt Nam; được thành lập trên cơ sở điều chỉnh 8.462,59 ha diện tích tự nhiên và 2.963 nhân khẩu của
xã Nà Bủng theo Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 25/8/2012 của Chính phủ
Về địa giới hành chính, phía Đông giáp xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; Tây giáp xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ; Nam giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; Bắc giáp các xã: Nà Hỳ, Nậm Chua, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Hiện tại năm 2019 xã Vàng Đán gồm có 7 bản: Ham xoong I, Ham xoong II, Nộc Cốc I, Nộc Cốc II, Huổi Khương, Vàng Đán và Hổi Dạo, có 565 hộ, và 3.458 nhân khẩu
4.1.1.2 Điều kiện địa hình
Địa hình Vàng Đán là đồi núi dốc bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất và các khe suối tạo thành các dải đất bằng hẹp, dân cư phân bố không đều, thôn xa nhất cách trung tâm xã 10 km, đường giao thông tiếp nối giữa các thôn còn gặp nhiều khó khăn
- Dạng địa hình núi đất đỏ vàng là dạng địa hình phân bố chủ yếu trên diện tích
xã (chiếm khoảng 90% diện tích tự nhiên của xã) Vùng núi cao chạy theo hình cánh cung, có độ cao trung bình từ 700 – 900m Ở đây, thảm thực vật ngoài rừng tự nhiên nghèo và các loại cây lúp xúp đã được trồng bổ sung bởi các loại cây được trồng theo
dự án và rừng tái sinh Vẫn còn nhiều diện tích chỉ có cây bụi thưa thớt trên triền đồi cao cần phải quy hoạch thành rừng tái sinh trong thời gian tới
- Dạng địa hình thung lũng nhỏ không đồng đều
Giống như một số nơi khác trong tỉnh Điện Biên, có dạng địa hình đồi thoải xen bát úp; dạng địa hình này thích hợp cho mục đích nông lâm kết hợp; sườn đồi thoải độ
Trang 25dốc thấp gần nguồn nước thích hợp cho phát triển cây ăn quả Thảm thực vật vẫn còn tính chất nguyên sinh vốn có thể hiện rõ nét trên nhiều khoảnh rừng núi cao
Nhìn chung, do điều kiện địa hình không mấy phức tạp Nguồn tài nguyên đất đai khá phù hợp với một số cây ăn quả như vải, nhãn, hồng… đặc biệt là cây lâm nghiệp như thông, keo….Cùng với điều kiện thuận lợi là xã gần thị trấn là một trong các xã có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế của huyện Nậm Pồ
4.1.1.3 Điều kiện khí hậu thuỷ văn
Nậm Pồ nằm ở vị trí tiểu vùng lạnh và mưa ít, chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng núi phía Bắc: Mùa hè mưa nhiều, mùa đông lạnh khô và mưa ít Lượng bức xạ tổng cộng hàng năm là 114 Kcal/cm2, trong các tháng mùa hè (tháng 4 đến tháng 10) đều lớn hơn 10 Kcal/cm2/tháng Tháng có bức xạ thấp nhất là tháng 2 cũng lớn hơn 5,5 Kcal/cm2/tháng Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,40C, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (50C) Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 7 (380C) Nhiệt độ thấp nhất trong chu kỳ 20 năm ghi được là -10C
Lượng mưa trung bình năm là 1.448mm với 132 ngày mưa, tập trung chủ yếu
từ tháng 4 đến tháng 10 (1.243,4mm) Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7 (278,3mm).Chế độ mưa cũng phân thành 2 mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 và chiếm trên 76% lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau và chiếm trên 24% lượng mưa cả năm
4.1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động
* Dân số, lao động
Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2019 Vàng Đán có 565 hộ với tổng số nhân khẩu là 3.458 người, số nhân khẩu trong độ tuổi lao động là 1.940 đa số là lao động sản xuất nông nghiệp Mật độ dân số bình quân là 37 người/km2 Dân cư được phân bố ở 7 bản, gồm 9 dân tộc là Thái, Mông, Kinh, Hoa, Khơ mú, Dao, Cống, Kháng, Thù Lao
Những năm trước đây, hiện tượng di cư đi nơi khác kiếm ăn cũng có xảy ra Nền kinh tế của xã Vàng Đán còn chưa phát triển so với mặt bằng chung của toàn huyện Cụ thể trong tổng số 565 hộ trên địa bàn xã có 351 hộ nghèo
Trang 26Số hộ nghèo trên địa bàn xã có nguyên nhân chủ yếu là thiếu đất sản xuất, thiếu vốn Trình độ dân trí còn thấp nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất và đời sống Tuy nhiên trong những năm gần đây trình độ dân trí của người dân đã và đang được nâng cao, thông qua các cuộc vận động học tập, thực hiện toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư được
tổ chức triển khai ở các thôn bản
Cụ thể dân số và lao động của xã được thể hiện trong bảng 4.1 như sau:
Bảng 4.1 Tình hình dân số và lao động xã Vàng Đán năm 2019 STT
(Nguồn: UBND xã Vàng Đán năm 2019)
Nhìn vào bảng trên ta thấy được trong tổng số 3458 nhân khẩu có tới 88,4% nhân khẩu nông nghiêp, chỉ có 11,6% nhân khẩu phi nông nghiệp Trong 565 hộ thì
có 93,5% hộ là hộ nông nghiệp, 6,5% hộ phi nông nghiêp Về lao động có 83,5% là lao động nông nghiệp, 16,5% là lao động phi nông nghiêp Như vậy, dân số và lao động ở xã Vàng Đán chủ yếu là hoạt động nông nghiêp Do người dân nơi đây có truyền thống nông nghiệp, hoạt động phi nông nghiệp tuy đã có nhưng chỉ ở mức độ nhỏ Trình độ người dân chưa cao do đó người dân chỉ thuần túy là sản xuất nông nghiệp
4.1.2.2 Cơ cấu kinh tế của xã Vàng Đán năm 2019
Với tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 2.190 ha xã có tổng giá trị sản xuất là
12.325,60 (tr.đ) Đối với ngành nông lâm thủy sản nông nghiệp là ngành chiếm giá trị
Trang 27phần lớn 12.112,08 (Tr.đ) chiếm 98,26% Ngành CN – TTCN, đối với ngành CN – TTCN đạt 110,07 (tr.đ) chiếm 0,89%, ngành thương mại và dịch kém phát triển hơn
do các hộ chủ yếu là thuần nông giá trị của ngành thương mại và dịch vụ chỉ đạt 103,45 ( tr.đ) chiếm 0,83%
Hiện nay xã đang chuyển dần từ nông nghiệp sang ngành công nghiệp và dịch
vụ nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế cho người dân tại địa phương trong xã
Cụ thể được thể hiện trong bảng 4.2 như sau:
Bảng 4.2: Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành trên địa bàn
xã Vàng Đán năm 2019 STT
Chỉ tiêu
Năm 2019
GT (tr.đ)
CC (%)
Trang 28những nông sản là lương thực, thực phẩm cơ bản và thiết yếu cho người dân mà nó còn cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến Năm
2019 ngành nông - lâm - thuỷ sản đã được kết quả là:
Bảng 4.3 Cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp của
(Nguồn ban Thống Kê xã Vàng Đán cung cấp 2019)
Nhìn vào bảng số liệu 4.3 ta thấy rằng địa bàn xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với hai ngành chính đó là trồng trọt và chăn nuôi Trong đó ngành trồng trọt là ngành chính có giá trị sản xuất là 5.780,35 (triệu đồng) chiếm 63,95%, còn chăn nuôi
có giá trị sản xuất 3.257,25 (triệu đồng) chiếm 41,83% Tuy nhiên đối với ngành chăn nuôi trong xã vẫn mang tính chất cá thể, chưa mang tính quy mô lớn Hình thức chăn thả chưa có quy hoạch tập chung chủ yếu là tự do nên làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc và bảo vệ cây cối hoa màu Trong thời gian tới phương án quy hoạch sẽ bố trí một khu vực chăn thả tập chung nhằm tạo diều kiện cho việc phát triển cho đàn gia súc nhưng đồng thời cũng bảo vệ được rừng tái sinh và hạn chế được sự phá hoại của đàn gia súc đối cới các loại cây trồng
Đối với ngành lâm nghiệp có giá trị sản xuất 2.748,08 (triệu đồng) chiếm 22,69
% giá trị cơ cấu
Còn đối với ngành thủy sản do địa hình đồi núi khôg bằng phẳng để có điều kiện thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản ngành này chưa phát triển nhiều trên địa bàn xã
Trang 29Đối với cây ăn quả trên địa bàn xã có các loại cây ăn quả có giá trị sản xuất không cao
Như vậy ta thấy rằng ngành sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chính của
xã có giá trị kinh tế cao nhất cho người dân Trong thời gian tới trên địa bàn xã cần khai thác và đem các giống cây trồng, vật nuôi mới có giá trị sản xuất cao cho người dân trồng và chăn nuôi để cải thiện cuộc sống cho người dân trên địa bàn xã
4.1.2.4 Hiện trạng sử dụng đất đai tại xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ
Đất đai trên xã chủ yếu thuộc đất feralit, địa hình đồi núi cao xen kẽ khe suối
và dải đất hẹp thích hợp các cây công nghiệp ngắn ngày, cây lâm nghiệp và cây ăn quả Phần lớn đất đai chủ yếu là để để sản xuất nông nghiệp, xã cần có sự điều chỉnh hợp lý hơn để đưa hết diện tích đất chưa sử dụng vào sản xuất
Cơ cấu (%)
I Tổng diện tích đất nông nghiệp 1723,9389 78,96
1 1 Đất sản xuất nông nghiệp 980,1334 44,74
4 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối 11,9459 0,54
(Nguồn: UBND xã Vàng Đán cung cấp năm 2019)
Qua bảng 4.4 ta thấy được tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 2190,7505 ha Được chia làm 3 nhóm đất chính là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa
sử dụng
Trang 30Trong đó đất sản xuất nông nghiệp (980,1334 ha) chiếm 44,74% tổng diện tích đất tự nhiên Đất trồng cây lâm nghiệp (742,9134 ha) tổng diện tích đất nông nghiệp, chiếm 33,91% tổng diện tích đất tự nhiên Đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu dùng vào trồng cây trông hàng năm và đất trồng cây lâu năm, đất trồng cây lâu năm tạo điều kiện phát triển lương thực và phát triển các cây công nghiệp ngắn ngày hàng năm Đất lâm nghiệp chiếm diện tích tương đối lớn tạo điều kiện cho phát triển trồng rừng tại địa phương Đất nuôi trồng thủy hải sản chiếm tỷ lệ nhỏ (0,9821 ha) chiếm 0,04% không thuận lợi trong việc nuôi trồng thủy hải sản
Nhóm đất phi nông nghiệp được chia thành 4 nhóm: đất ở, đất chuyên dùng và đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất sông suối và mặt nước chuyên dùng Trong đó đất ở chiếm (21,0078 ha), đất chuyên dùng chiếm (43,3159 ha), đất nghĩa trang, nghĩa địa chiếm (0,6316 ha) , đất sông suối và mặt nước chuyên dùng chiếm (11,9459 ha) Đất chuyên dùng chủ yếu sử dụng vào mục đích công cộng phục vụ nhu cầu của nhân dân
Nhóm thứ 3 là nhóm đất chưa sử dụng chiếm (389,8925 ha) nguyên nhân là do có
hộ chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp bỏ đất, do đất đồi núi chưa được khai phá Vì vậy cần phải cải tạo và đưa vào để sử dụng để tránh tình trạng lãng phí đất
4.2 Thực trạng về thu nhập của các hộ dân tộc Mông ở xã Vàng Đán, huyện Nậm
Pồ, tỉnh Điện Biên
4.2.1 Khái quát về các hộ dân tộc Mông xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên
Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ
Bảng 4.5: Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ
giai đoạn năm 2017 - 2019
Trang 31Năm 2017, số hộ nghèo trên địa bàn xã là 384 hộ, chiếm 72,05% tổng số hộ trên địa bàn xã
Đến cuối năm 2018, số hộ nghèo giảm còn 359 hộ, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 67,86%
Đến cuối năm 2019, con số này tiếp tục giảm xuống còn 351 hộ nghèo, chiếm tỷ
lệ 62,12% tổng số hộ trên địa bàn xã
Có thể thấy, nhờ công tác lãnh đạo, chỉ đạo ở các cấp, các ngành và một số địa phương đã được quan tâm, thực hiện thường xuyên; vai trò của MTTQ và các hội, đoàn thể được phát huy; công tác tuyên tuyền nâng cao nhận thức trách nhiệm trong cán bộ và nhân dân được tăng cường Các chương trình, chính sách hỗ trợ giảm nghèo của TW và tỉnh được huyện ban hành kịp thời, giải quyết được các khó khăn, bức xúc cơ bản của người dân; công tác kiểm tra, giám sát đánh giá được thực hiện đúng quy định Chính
vì vậy, các vấn đề cơ bản, bức xúc nhất đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo như nhà ở, đất
ở, đất sản xuất, y tế, giáo dục, đã được giải quyết kịp thời, cơ bản đáp ứng được yêu cầu của nhân dân và chính quyền địa phương, cơ sở, góp phần ổn định chỗ ở, chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo, duy trì được số lượng học sinh đến trường, bảo đảm kết quả phổ cập giáo dục các cấp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai; Các chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất như đào tạo nghề, GQVL, XKLĐ, cho vay ưu đãi, đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế- xã hội và giảm nghèo, làm thay đổi nhận thức, giúp người nghèo có việc làm,
đi XKLĐ, tạo thu nhập ổn định để thoát nghèo bền vững
Các chương trình và chính sách giảm nghèo đã huy động sức mạnh và sự tham gia vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội (các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội) đã tạo nguồn lực to lớn cùng với nguồn lực của nhà nước thực hiện có kết quả nhiều chương trình và chính sách giảm nghèo Nhìn chung người nghèo đã tiếp cận thuận tiện hơn các chính sách trợ giúp của nhà nước; cơ sở hạ tầng nông thôn được tăng cường trên cơ sở triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, đời sống của người nghèo được từng bước cải thiện, an sinh xã hội, trật tự
an toàn xã hội được giữ vững
Phân loại nông hộ và thu nhập các hộ dân tộc Mông trên địa bàn xã
Trang 32Bảng 4.6: Phân loại nông hộ và mức thu nhập của người Mông xã Vàng Đán,
Qua bảng 4.2 cho thấy, đa số các hộ dân tộc Mông trên địa bàn xã Vàng Đán vẫn
sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, chiếm hơn 94% tổng số hộ nghèo trên toàn xã và con số
này đang có xu hướng giảm dần Cụ thể, tỷ lệ hộ thuần nông trong tổng số hộ nghèo
trên địa bàn xã qua các năm 2017, 2018 và 2019 lần lượt là 97,62%, 96,1% và 94,83%
Có thể thấy, tuy sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành nghề chủ yếu và có vị trí quan
trọng nhưng những năm gần đây sản xuất nông nghiệp có sự chuyển dần tỷ trọng sang
các ngành nghề khác
Ngược lại với sự giảm đi về tỷ lệ hộ thuần nông là sự tăng lên trong tỷ trọng hộ
nông nghiệp kiêm ngành nghề Năm 2017, tỷ lệ hộ này chỉ chiếm 2,38% trong tổng số
hộ nghèo trên toàn xã nhưng đến năm 2018 con số này đã tăng lên là 3,85% Đến
năm 2019, con số này tiếp tục tăng lên đạt 5,17% Trên thực tế cho thấy, các ngành có
sản xuất thêm các nghề phụ nhưng vẫn coi trọng sản xuất nông nghiệp Đây là những
hộ tiên tiến họ có ý thức rõ ràng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế hộ gia đình Không
chỉ sản xuất nông nghiệp họ còn chú trọng đến ngành nghề phụ để tăng thêm thu nhập
cho hộ gia đình Mặc dù sự tăng lên này là không đáng kể
Hiện tại theo quy định mới áp dụng giai đoạn 2016 - 2020 tại Quyết định 59/2015/QĐ-TTg thì để được công nhận là hộ nghèo thì cần phải đảm bảo một số tiêu chí,
Trang 33trong đó, tiêu chí về thu nhập được quy định: Chuẩn nghèo:700.000 đồng/ người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/ tháng ở khu vực thành thị
Qua bảng 4.6 cho thấy, mức thu nhập bình quân của hộ nghèo dân tộc Mông
đã có sự tăng lên đáng kể nhưng mức thu nhập của các hộ nghèo vẫn rất thấp Cụ thể: mức thu nhập bình quân của hộ nghèo ở nông thôn chỉ đạt 1.028 nghìn đồng năm 2017, đến năm 2019 là 1.252 nghìn đồng
4.2.1.3 Phân tích hộ nghèo theo mức độ thiếu hụt các dịch vụ cơ bản
Có thể thấy, nếu chỉ căn cứ vào thu nhập để đánh giá, xếp loại hộ nghèo là chưa khách quan Do đó, ngày 15-9-2015, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 1614/QĐ-
TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều, áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020” Theo Quyết định này,
việc tiếp cận, đánh giá, bình xét hộ nghèo của các địa phương không phải chỉ dựa trên tiêu chí thu nhập bình quân đầu người, mà phải dựa trên tổng thể nhiều yếu tố khác để đảm bảo cuộc sống Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: Sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên
cơ sở các tiêu chí về thu nhập, bao gồm chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập; mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: Tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin Những quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều, áp dụng cho Chương trình Giảm nghèo của tỉnh trong giai đoạn 2016 - 2020
* Đối với hộ nghèo thu nhập
Trong tổng số 565 hộ nghèo thu nhập sau rà soát có 46 hộ nghèo có chủ hộ là nữ; các thiếu hụt về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của 565 hộ nghèo thuộc diện nghèo thu nhập như sau: Thiếu hụt về trình độ giáo dục người lớn 9 hộ; chất lượng nhà ở ( thiếu kiên cố hoặc đơn sơ) 5 hộ; diện tích nhà ở dưới 8m2/người 9 hộ; hố xí/nhà tiêu không hợp
vệ sinh 22 hộ; số hộ không có tài sản phục vụ tiếp cận thông tin (tivi, radio) 6 hộ
* Đối với hộ nghèo thiếu hụt về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
Trang 34Trong tổng số 565 hộ nghèo thu nhập sau rà soát có 46 hộ nghèo có chủ hộ là nữ; các thiếu hụt về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của 565 hộ nghèo thuộc diện nghèo thu nhập như sau: Thiếu hụt về trình độ giáo dục người lớn 9 hộ; chất lượng nhà ở (thiếu kiên cố hoặc đơn sơ) 5 hộ; diện tích nhà ở dưới 8m2/người 9 hộ; hố xí/nhà tiêu không hợp
vệ sinh 22 hộ; số hộ không có tài sản phục vụ tiếp cận thông tin (tivi, radio) 6 hộ
* Đối với hộ cận nghèo
Trong tổng số 17 hộ cận nghèo sau rà soát có 2 hộ cận nghèo có chủ hộ là nữ; các thiếu hụt về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của 17 hộ cận nghèo như sau: Thiếu hụt về trình độ giáo dục người lớn 2 hộ; chất lượng nhà ở( thiếu kiên cố hoặc đơn sơ)
5 hộ; diện tích nhà ở dưới 8m2/người 3 hộ; hố xí/nhà tiêu không hợp vệ sinh 12 hộ; số hộ không có tài sản phục vụ tiếp cận thông tin (tivi, radio) 4 hộ
4.2.2 Một số đặc điểm cơ bản của nhóm hộ điều tra
Thông tin chung về hộ điều tra
Độ tuổi lao động, trình độ học vấn và giới tính là một trong những nhân tố phản ánh được chất lượng và tiềm năng lao động của các hộ Để thấy được rõ tiềm năng lao động ở các nhóm hộ nghiên cứu ta đi phân tích bảng 4.7
Trang 35Bảng 4.7 Thông tin chung về hộ điều tra
Hổi Dạo
Bản Huổi Khương
Bản Hang Xoong
2
lượn
g (Hộ)
Cơ cấu (%)
Số lượn
g (Hộ)
Cơ cấu (%)
Số lượ
ng (Hộ )
Cơ cấu (%)
Số lượn
g (Hộ)
Cơ cấu (%)
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)
Qua kết quả điều tra được thể hiện tại bảng 4.7 ta có thể thấy:
- Về tính chất ngành nghề: trong tổng số 90 hộ nghèo dân tộc Mông được điều
tra có 83 hộ thuần nông (chiếm 92,2%), 07 hộ kiêm (chiếm 7,8%) và không có hộ buôn bán dịch vụ Trong đó, bản Hổi Dạo và Bản Huổi Khương có số hộ thuần nông là 28 hộ (chiếm 93,8%), bản Hang Xoong 2 có số hộ kiêm lớn nhất với 03 hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề (chiếm 10%) và 02 hộ BBDV K hông có hộ nghèo
Trang 36nào BBDV Qua đó có thể thấy, nông nghiệp vẫn là nghề chủ chốt của nông dân
3 bản điều tra Qua điều tra cho thấy, mặc dù đã có những chuyển biến khá rõ nét
về cơ cấu hộ trong thời gian qua, nhưng về cơ bản kinh tế của các hộ dân tộc Mông nghèo xã Vàng Đán vẫn mang nặng tính thuần nông Thực tế chuyển dịch về cơ cấu hộ dân tộc Mông trên địa bàn xã còn chậm và có sự chênh lệch giữa các địa phương trong xã
- Về tuổi của chủ hộ: có thể thấy đa số chủ hộ có độ tuổi từ 41 tuổi trở lên, trong
đó chủ hộ ở độ tuổi từ 41 đến 50 tuổi có 26 hộ (chiếm 29%), độ tuổi từ trên 50 tuổi có
28 hộ (chiếm 31,5%) Chủ hộ có độ tuổi dưới 30 tuổi có 12 hộ (chiếm 13%) và chủ
hộ có độ tuổi từ 31 đến 40 tuổi có 24 hộ (chiếm 26,5%) Tuổi của chủ hộ như vậy là khá cao, ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế hộ gia đình vì tuổi cao làm cho sự năng động, nhạy bén với thị trường thấp, tiếp cận với khoa học kỹ thuật hạn chế, mức độ mạnh dạn trong đầu tư phát triển sản xuất thấp
Hình 4.1: Độ tuổi của chủ hộ điều tra
Về trình độ học vấn: nhìn chung trình độ học vấn của lao động trong các nhóm
hộ điều tra đều đạt ở mức trung bình Cụ thể: