1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa

104 592 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa Thái Hòa
Tác giả Đỗ Thị Phương Lan
Người hướng dẫn TS. Trần Đình Chiến
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 8,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp i

- o0o -

Đỗ thị phương lan

Nghiên cứu thành phần sâu hại Đậu tương

và biện pháp hoá học phòng chống sâu ăn lá, sâu đục quả chính, thuộc bộ cánh vảy

(Lepidoptera)

vụ đông 2006 - vụ xuân 2007 tại Gia Lâm - Hà Nội

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật Mã số :60.62.10

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Đình Chiến

Hà nội - 2007

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng: mọi sự giúp đỡ cho việcthực hiện luận văn này

đ2 được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ2 được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Đỗ thị Phương Lan

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này tôi đ! nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các nhà khoa học, tập thể giáo viên Bộ môn Côn trùng, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Đầu tư & PTNN Hà Nội, của bạn bè và người thân

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Trần Đình Chiến, Bộ môn Côn trùng -Trường Đại học NNI Hà Nội đ! tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực tập và hoàn chỉnh luận văn này!

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô Bộ môn côn trùng, khoa Nông học, cùng tập thể các thầy cô Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông nghiệp I đ! tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn!

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban l!nh đạo và các cán bộ Công ty TNHH Nhà nước một thành viên đầu tư & PTNN Hà Nội đ! tận tình giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn!

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

đ! động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn!

Luận văn này khó tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và bạn đọc Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Đỗ thị Phương Lan

Trang 4

2.1 Nguồn gốc, giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của cây đậu tương 4

4.1 Thành phần sâu hại đậu tương vụ đông 2006 và vụ xuân 2007 tại

4.2 Thành phần thiên địch của sâu hại đậu tương vụ đông 2006 và vụ

4.3 ảnh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến mật độ sâu ăn

4.3.1 ảnh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến mật độ sâu

4.3.2 ảnh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến mật độ sâu 42

Trang 5

4.4 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến mật độ sâu hại

và thiên địch trên đậu tương vụ xuân 2007 tại Gia Lâm - Hà Nội 48

4.4.2 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến mật độ một số

4.5 Khảo sát một số loại thuốc hoá học phòng trừ sâu ăn lá và sâu

4.5.1 Hiệu lực của thuốc hoá học đối với sâu ăn lá và sâu đục quả đậu

4.5.2 Hiệu lực của thuốc hoá học đối với sâu ăn lá và sâu đục quả đậu

4.6 Một số đề xuất trong việc phòng trừ sâu hại đậu tương bằng

Trang 6

Danh mục các bảng

1 Thành phần sâu hại đậu tương vụ đông 2006 và vụ xuân

2 Tỷ lệ các loài sâu hại thuộc Bộ, Họ côn trùng trong sinh

quần ruộng đậu tương vụ đông 2006 và vụ xuân 2007 tại Gia

3 Thành phần thiên địch của sâu hại đậu tương vụ đông 2006

4 Tỷ lệ các loài thiên địch thuộc các Bộ, Họ côn trùng và nhện

lớn bắt mồi trong sinh quần ruộng đậu tương vụ đông 2006

5 Diễn biến mật độ sâu non sâu cuốn lá (H.indicata) trên đậu

6 Diễn biến mật độ sâu non sâu khoang (S.litura) trên đậu

7 Diễn biến mật độ sâu non sâu xanh (H.armigera) trên đậu

8 Diễn biến mật độ sâu non đục quả (M.testulalis) trên đậu

9 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến sâu cuốn lá

10 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến sâu đục quả

11 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến bọ chân chạy đuôi 2

12 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến tỷ lệ ký sinh trên sâu

13 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến tỷ lệ ký sinh trên sâu 59

Trang 7

khoang (S.litura)

14 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến tỷ lệ ký sinh trên sâu

15 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến tỷ lệ ký sinh trên

16 Hiệu lực của thuốc hoá học đối với sâu ăn lá và sâu đục quả

17 Hiệu lực của thuốc hoá học đến sâu ăn lá và sâu đục quả

Trang 8

Danh mục các đồ thị

1 ảnh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến mật độ

2 ảnh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến mật độ

3 ảnh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến mật độ

4 ảnh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến mật độ

5 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến mật độ

6 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến mật độ

7 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến tỷ lệ ký

8 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến tỷ lệ ký

9 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến tỷ lệ ký

10 ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến tỷ lệ ký

Trang 9

Một số hình ảnh về sâu ăn lá, sâu đục quả và triệu chứng 73

5 Nhộng sâu đục quả

6 Triệu chứng gây hại do sâu đục quả

7 Sâu non sâu cuốn lá

8 Nhộng sâu cuốn lá

9 Triệu chứng gây hại do sâu khoang

10 Triệu chứng gây hại do sâu cuốn lá

Thiên địch của sâu cuốn lá và sâu đục quả Bộ cánh vảy 74

11 Bọ chân chạy đuôi 2 chấm trắng

12 Bọ chân chạy viền trắng

13 Nhện chân dài hàm to

14 Nhện linh miêu

Trang 10

1 Mở đầu 1.1 Đặt vấn đề

Đậu tương là cây trồng có giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế cao và khả năng cải tạo đất tốt, nên hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, cây đậu tương là cây có diện tích, năng suất và sản lượng lớn nhất trong các cây họ

đậu (Đoàn Thị Thanh Nhàn,1997)[31]

Đậu tương là cây trồng có tác dụng nhiều mặt, vừa là cây công nghiệp, vừa là cây thực phẩm, cây dược liệu để chữa một số bệnh như: Suy dinh dưỡng, suy nhược thần kinh, thiếu sữa, thiếu máu

Tuy nhiên năng suất và phẩm chất cây đậu tương phần nào vẫn còn bị hạn chế và chưa ổn định Một trong các nguyên nhân là do sự tấn công gây hại của các loài sâu bệnh hại Đậu tương là cây trồng có nhiều loại sâu hại: sâu hại lá, sâu hại hoa quả, sâu hại thân rễ Trong các loại sâu hại đậu tương có sâu ăn lá và đục quả là biến động phức tạp, gây ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của cây đậu tương nhiều nhất Mặt khác cây đậu tương có thể trồng cả 3 vụ (vụ đông, vụ xuân và vụ hè thu), nên trên đồng ruộng cây đậu tương luôn là nguồn thức ăn cho sâu bệnh Vì vậy ở điều kiện khí hậu Việt Nam, đậu tương là loại cây trồng bị nhiều loài côn trùng gây hại như sâu cuốn lá, sâu xanh, sâu khoang, giòi đục thân, bọ xít xanh, rệp, làm cho năng suất đậu tương không được ổn định, thấp, đôi khi thất thu

Để phòng trừ sâu hại có nhiều biện pháp phòng trừ: Hóa học, canh tác, sinh học , mỗi biện pháp đều có những ưu nhược điểm, hiệu quả khác nhau Hiện nay, biện pháp hóa học vẫn là biện pháp chủ đạo trên đồng ruộng không chỉ cho cây đậu tương mà còn cho mọi cây trồng khác, vì nó có hiệu quả nhanh chóng thuận tiện, rẻ tiền Tuy nhiên, người trồng trọt nhiều lúc nhiều nơi còn quá lạm dụng thuốc trừ sâu nên đ! gây l!ng phí thuốc, công lao động, gây ô nhiễm môi trường ngoài ra còn làm tăng tính kháng thuốc của sâu hại Vì vậy, sử dụng thuốc trừ sâu để phòng trừ sâu hại đậu tương một cách thật

Trang 11

khoa học và hiệu quả, giảm tối thiểu những khuyết điểm của biện pháp hoá học gây ra cho môi trường, sản phẩm và con người Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, việc nghiên cứu thành phần sâu hại trên đậu tương và biện pháp phòng chống chúng là rất cần thiết, phục vụ cho công tác Bảo vệ thực vật ở các địa phương đạt hiệu quả cao góp phần nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hạt đậu tương Được sự phân công của Khoa sau đại học, ngành Bảo vệ thực vật- Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, chúng tôi thực hiện đề tài:

"Nghiên cứu thành phần sâu hại đậu tương và biện pháp hoá học phòng chống sâu ăn lá, sâu đục quả chính, thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) vụ

đông 2006 - vụ xuân 2007 tại Gia Lâm - Hà Nội"

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích:

Trên cơ sở điều tra thành phần sâu hại đậu tương vụ đông xuân, đồng thời theo dõi diễn biến số lượng của một số loài sâu ăn lá và sâu đục quả chính trên đậu tương Từ đó tìm biện pháp phòng chống chúng cho thích hợp đạt hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường

1.2.2 Yêu cầu:

- Xác định thành phần sâu hại và thiên địch của nhóm sâu ăn lá, sâu đục quả thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera trên đậu tương vụ đông 2006 - xuân 2007 vùng Gia Lâm - Hà Nội

- Theo dõi diễn biến mật độ sâu hại chính (sâu ăn lá, sâu đục quả thuộc

bộ cánh vẩy (Lepidoptera)) và thiên địch của chúng

- Khảo sát một số thuốc trừ sâu đối với sâu ăn lá và sâu đục quả thuộc

bộ cánh vẩy Lepidoptera Tìm hiểu sự ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tác động

đến sâu hại và thiên địch của chúng Từ đó, đề xuất việc sử dụng thuốc hoá học cho một số loài sâu hại chính thuộc bộ cánh vẩy trên đậu tương một cách hiệu quả

Trang 12

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Xác định được thành phần sâu hại đậu tương vụ xuân và vụ đông cũng như thiên địch của chúng ở vùng Gia Lâm - Hà Nội

- Cung cấp những dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của thời vụ trồng đậu tương cũng như các loại thuốc hoá học đến diễn biến mật độ nhóm sâu ăn lá,

đục quả, đặc biệt là các loài thiên địch chính trên đậu tương vụ xuân và vụ

đông

- Những dẫn liệu khoa học nêu trên giúp cho việc sử dụng thuốc hoá học đạt hiệu quả kinh tế và môi trường

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Nguồn gốc, giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của cây đậu tương

Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) thuộc họ đậu (Fabacceae), họ phụ cánh bướm (Papillionoideae) là cây công nghiệp ngắn ngày được trồng cách đây trên 5.000 năm đ! được phát hiện và gieo trồng ở vùng Đông Bắc Trung Quốc Sau đó lan dần sang Triều Tiên, Nhật Bản và các nước Đông Nam

á Đến năm 1765, Samuel Bowen đ! đưa giống đậu tương từ Trung Quốc đến Hoa Kỳ Cây đậu tương được trồng phổ biến rộng r!i như vậy là vì nó không những có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao, mà còn có ý nghĩa quan trong hệ thống canh tác, luân canh tăng vụ và cải tạo đất, nhờ khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium Japonicum trong đất để cố định đạm từ Nitơ khí quyển Hàng năm cố định từ 17 - 124 kg đạm nguyên chất/ha đậu tương (Trần Văn Lài, 1995)[27] Vì vậy cây đậu tương được mệnh danh lạ: “Cây trồng lỳ lạ”, “Vàng mọc từ đất”, hay “Người đầu bếp của thế kỷ”

Thành phần dinh dưỡng hạt đậu tương khá cân đối chứa từ 38 - 40% protein, 18 - 20% lipít, 30 - 40% gluxit và các chất khoáng như lân, canxi, kali

và nhiều loại vitamin như B1, B2, K, C, D, E đặc biệt có các axit amin không thể thay thế như agrinin, lizin, loxin, izoloxin, tryptophan (Đoàn Thị Thanh Nhàn) và cộng sự 1996) [31]

Đậu tương là cây lấy hạt lấy dầu quan trọng bậc nhất của thế giới và

được trồng với diện tích 91,39 triệu ha, với năng suất 22,93 tạ/ha, sản lượng 209,53 triệu tấn năm 2005 (Nguồn FAO.STAT, 2006) [47] Do khả năng thích ứng rộng nên đậu tương đ! được trồng khắp các châu lục Trên thế giới có trên

100 nước trồng đậu tương nhưng tập trung nhiều là Châu Mỹ 73,03% và Châu

á (Phạm Văn Thiều, 2000) [36] Các nước trồng nhiều là: Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc chiếm khoảng 90 - 95% tổng sản lượng đậu tương trên thế giới Trong đó Mỹ là nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới với diện

Trang 14

trên thế giới, sản lượng 82,82 triệu tấn (2005) chiếm 39,5% tổng sản lượng

đậu tương trên thế giới ở Châu á năm 2005 Trung Quốc là nước có diện tích sản xuất đậu tương lớn nhất (9,5 triệu ha) năng suất cũng cao nhất 17,79 tạ/ha

và sản lượng đạt khá cao 16,90 triệu tấn

ở Việt Nam, cây đậu tương đ! được phát triển từ rất sớm ngay từ khi nó còn là 1 cây hoang dại, sau được thuần hoá và trồng như 1 cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao

Diện tích trồng đậu tương của nước ta mới chỉ chiếm 1 tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích gieo trồng (khoảng 1,5 - 1,6%) Diện tích trồng đậu tương năm

2005 là 185 nghìn ha, năng suất đậu tương bình quân ở nước ta còn thấp (2005

là 13,24 tạ/ha chỉ đạt 57,7% so với năng suất trung bình của thế giới là 22,93 tạ/ha) Hiện nay chúng ta còn phải nhập đậu tương từ Thái Lan và Campuchia (Phạm Văn Thiều, 2000) [36] Trong văn kiện đại hội V của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tập 2 đ! ghi rõ: “Đậu tương cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho người, cho gia súc, cho đất đai và trở thành một loại hàng suất khẩu chủ lực ngày càng quan trọng”

2.2 Thành phần sâu hại đậu tương và tác hại

Do nhận thức tầm quan trọng của cây đậu tương, nên diện tích trồng

đậu tương trên thế giới cũng như ở Việt Nam ngày càng được mở rộng Người

ta đang tìm mọi cách để cho đậu tương đạt được năng suất cao và chất lượng tốt

Sự xuất hiện của sâu bệnh hại đậu tương có ở mọi nơi, rất đa dạng và rất phong phú Vì vậy, việc nghiên cứu về chúng được chú trọng thích đáng, đặc biệt là sâu hại

Lowell (1976) dẫn theo [19] ở Mỹ đ! ghi nhận được 950 loài chân đốt trên đậu tương, trong đó chỉ có 19 loài gây hại chính chiếm khoảng 5% đó là: sâu hại quả (2 loài), sâu hại lá (14 loài), sâu hại thân, rễ, hạt (3 loài) Những loài gây hại nghiêm trọng là sâu xanh, sâu đo, sâu đục quả và bọ xít xanh

Trang 15

So với các cây họ đậu khác, đậu tương làm cây trồng chính ở Bắc Mỹ

Do đó những nghiên cứu về côn trùng trên đậu tương ở Mỹ phát triển khá mạnh Từ những năm đầu của thập kỷ 60, đ! có trên 14000 bài báo nói về các loài chân đốt trên đậu tương và nhiều cuốn sách viết về các loài sâu hại nguy hiểm trên cây đậu tương

Các nhà Bảo vệ thực vật ở Mexico cho rằng: Cây đậu tương rất mẫn cảm với sự gây hại của sâu bọ, chúng có thể làm giảm năng suất 25% Những loại sâu hại nguy hiểm có ruồi đục thân, các loài bọ xít, bọ trĩ (Valdes,1977)

Vùng khí hậu nhiệt đới thành phần sâu hại đậu tương khá phong phú, có tới 70 loài gây hại trên tất cả các bộ phận của cây đậu tương Sâu hại cây con

có 16 loài, sâu hại thân có 12 loài, sâu ăn lá có số loài phong phú nhất 25 loài Trong số các loài sâu hại lá có 5 loài gây hại nghiêm trọng là sâu ăn lá Anticarsiaa gemmatalis, sâu xanh Heliothis armigera, sâu xanh Heliothis zea, sâu khoang Spodoptera litura và sâu keo da láng Spodoptera exigua (Gazzoni

và cộng sự, 1994) [49]

Theo Campell et Reed (1986) [44], ở ấn Độ thu được trên 200 loài sâu hại đậu đỗ Các loài này phá hại tất cả các bộ phận của cây: rễ, thân, lá ở đó loài sâu xanh (Heliothis armigera) gây hại nặng, làm thiệt hại khoảng 300 triệu USD Sâu bọ tấn công vào tất cả các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây: ở giai đoạn cây con có sâu ăn cây non (sâu xám), giòi đục thân, gây nên hiện tượng khuyết mật độ; ở giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, có các loài sâu

ăn lá; thời kỳ thu hoạch có các loài sâu đục quả;

ở ấn Độ, ruồi đục thân là một trong những loài sâu hại nguy hiểm nhất trên cây đậu tương Sự gây hại của chúng đ! làm khuyết mật độ cây con và

ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cuối cùng (Bhattacharya, 1976)[42], (Bhattacharya và cộng sự, 1986) [43]

Còn ở Nhật bản, theo Takaski Kobayyashi (1978) [63], đậu tương bị 25 loài sâu hại chính, trong đó có 4 loài sâu đục quả, 20 loài bọ xít, một loài muỗi đục quả Trong số đó có 7 loài gây hại nghiêm trọng: sâu đục quả

Trang 16

(Leguminivora glycinivorella, Etiella zinckenella); Bọ xít xanh (Nezara antennata); Muỗi đục quả (Asphondylia sp)

ở vùng Kagoshima Nhật Bản, bọ xít xanh Nezara viridula L., bọ xít xanh vai bạc Piezodorus hybneri G và bọ xít hông vệt trắng Riptortus clavatus T là những loài gây hại phổ biến Chúng có mặt trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây đậu tương từ giữa tháng 8 đến tháng 11, cả vụ sớm và vụ muộn đều bị hại nặng (Setokuchi và cộng sự, 1986) [59]

Theo Campbell và Reed (1986) [44] ở Đông Nam á, trên cây đậu tương

có 12 loài sâu hại và 1 loài nhện quan trọng đó là: Sâu xanh (Heliothis armigera), giòi đục thân 2 loài, sâu xám, sâu khoang, sâu keo da láng, sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.), sâu đục quả (Etiella zinckenella) và nhện (Tetranychus urticae)

Cây đậu tương thường bị các loài sâu gây hại từ giai đoạn cây con đến khi thu hoạch ở các mức độ khác nhau Giai đoạn cây con và thời gian đầu của giai đoạn sinh dưỡng bị ảnh hưởng lớn là do ruồi đục thân Ophiomyia phaseoli (Tryon) (Napompeth, 1997) [56]

Cũng theo Napompeth (1997) [56] ở Thái Lan, sâu ăn lá gây hại suốt giai đoạn sinh dưỡng và đầu giai đoạn chín của cây đậu tương Các loài phổ biến là sâu khoang Spodoptera litura (Fabr.), sâu keo Spodoptera littoralis (Boisduval), sâu keo da láng Spodoptera exigua (Hubner) và sâu cuốn lá đầu nâu Hedylepta indicata (Fabr.), trong đó sâu cuốn lá loài phổ biến nhất Ngoài

ra còn có các loại sâu ăn lá khác như sâu cuốn lá Archips micaceana (Walker), sâu non bọ cánh mạch Aproaesema modicella (Deventer) gây hại

Theo Talekar và Lee (1988) [61] sâu ăn lá chủ yếu thuộc vào 2 bộ cánh vẩy Lepidoptera và cánh cứng Coleoptra ở các nước châu á, các loài sâu hại làm giảm năng suất đậu tương là sâu xanh Helicoverpa armigera Hubner, sâu khoang Spodoptera litura (F.), sâu keo da láng Spodoptera exigua Hubner, sâu đo xanh Plusia orchalcea (F.), sâu đo Plusia chalcites (Esper), sâu cuốn

Trang 17

lá đầu nâu Hedylepta indicata (F.), bọ ăn lá Diacrisia oblique (Walker) và bọ

ăn lá Phaedonia inclusa (Stal)

Theo Talekar và Lin (1993) [62] ở châu á có các loài sâu đục quả chính là Leguminivora glycinivorella Matsumura, Matsumuraeses phaseoli Matsumura, Etiella zinckenella (Treitschke) và Etiella hobson (Butler) 2 loài

đục quả L glycinivorella và M phaseoli chỉ tìm thấy ở các vùng có khí hậu

ôn hoà như Nhật Bản và Triều Tiên, còn loài Etiella zinckenella (Treitschke)

đục quả đậu Lima là loài phổ biến hơn ở các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới và gây hại nặng nhất ở các nước á nhiệt đới

ở Việt Nam, theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc Việt Nam (năm 1967-1968) của Bộ Nông nghiệp & PTNT, trên cây đậu tương có 59 loài sâu hại trong đó có gần 10 loài là loài sâu hại chính

Những loài sâu hại đậu tương có thể chia thành 2 nhóm :

+ Nhóm hại lá, thân đậu tương gồm: Giòi đục thân, sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá, bọ xít xanh, bọ xít dài, bọ xít hai gù vai

+ Nhóm hại quả gồm các loại: sâu đục quả đậu tương, bọ xít xanh,

bọ xít dài, bọ xít hai vai gù

Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng (1967 - 1968) của Viện bảo vệ thực vật công bố trên đậu tương có 88 loài sâu hại, thường xuyên xuất hiện 43 loài, sâu hại chính có trên 10 loài chiếm 12,5% [41]

Nguyễn Văn Cảm và Hà Minh Trung (1979) [4] cho biết trên ruộng đậu tương ở các tỉnh phía nam có 195 loài côn trùng, gây hại là 85 loài, trong đó hại gốc rễ (3 loài), đục thân, đục quả (4 loài), ăn lá (54 loài) và chích hút (24 loài)

Theo Hồ Khắc Tín (1982) [37] thì trong 112 loài côn trùng thu thập

được trên cây đậu tương, có 59 loài gây hại, trong đó có trên 10 loài gây hại phổ biến Những loài chủ yếu nhất có giòi đục thân, giòi đục lá và sâu đục quả Etiella zinckenella

Theo Lương Minh Khôi và cộng sự (1985) [24], thành phần sâu hại đậu

Trang 18

đục thân, ruồi đục lá, sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu đo xanh, sâu đục quả, bọ xít xanh, câu cấu xanh, ban miêu đen, sâu róm, nhện đỏ, bọ phấn) Gây hại nặng có giòi đục thân (mật độ 44 - 56 con/100cây), sâu cuốn lá (16 -18 con/100 cây vụ xuân, 4-9 con/ 100 cây vụ đông) và sâu đục quả (20-86 con/

100 quả vụ xuân và 6-8 con/100 quả vụ hè)

Cũng theo Lương Minh Khôi và cộng sự (1987) [25], sâu hại chính trên

đậu tương đ! làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và phẩm chất hạt Đối với giòi đục thân giai đoạn cây con từ 2 lá đơn đến 2 lá kép, nếu xuất hiện thì gây chết cây con làm gây khuyết mật độ, có khi tỷ lệ cây con bị chết lên tới 67

- 100% Lúc đó phải phá đi trồng lại, số cây bị hại trung bình 45 - 50%, đặc biệt là đậu tương vụ xuân và vụ đông Giòi đục thân đ! làm thiệt hại kinh tế một cách trầm trọng Nếu không có biện pháp thích hợp để đối phó với loài sâu hại này thì sản xuất đậu tương sẽ bị thất thu lớn

Sâu cuốn lá đậu tương Lamprosema indicata F là loài sâu hại quan trọng thứ hai Nó gây hại mạnh ở giai đoạn 2 - 4 lá kép, nếu bị hại nặng sẽ làm

ảnh hưởng tới năng suất Sâu cuốn lá thường gây hại nặng vào vụ xuân và vụ

đông, tỷ lệ gây hại thường cao, có lúc lên tới 80%, thậm chí 100%, mỗi cây có

3 - 4 lá bị hại, năng suất giảm tới 30% Nhiều vụ sâu cuốn lá đ! gây thành dịch, làm cho người nông dân thất thu về mặt kinh tế [26]

Nguyễn Thị Bình và cộng sự (1988) [2] điều tra 2 năm 1986 - 1987 thu

được 13 loài sâu hại chính trên đậu tương, trong đó có 3 loài gây hại nghiêm trọng là rệp đậu, sâu cuốn lá và sâu đục quả

Phạm Văn Biên và cộng sự (1995) [3] cũng phát hiện được 59 loài sâu hại thuộc 23 họ Các loài sâu hại chính là bọ xít xanh, sâu cuốn lá, sâu đục quả, giòi đục thân các loài sâu hại thuộc thuộc bộ cánh cứng tuy không phổ biến nhưng mức độ gây hại cũng ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất đậu tương

Đặng Thị Dung (1998) [14] cho biết thành phần sâu hại đậu tương trong những năm gần đây có chiều hướng gia tăng Trong số 68 loài sâu hại thu

Trang 19

được, có 63 loài xác định được tên khoa học Các loài có mức độ phổ biến cao

là ruồi đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang và xít xanh vai bạc

Theo Đặng Thị Dung, Trần Đình Chiến (2000) [15], thành phần sâu hại

đậu tương năm 1996 - 1999 ở Hà Nội và vùng phụ cận khá phong phú, gồm 69 loài thuộc 7 bộ, 28 họ côn trùng khác nhau Bộ có số loài nhiều và phong phú nhất là bộ cánh vảy (Lepedoptera), sau đó đến bộ cánh nửa (Hemiptera) và bộ cánh cứng (Coleoptera) Các họ có số loài phong phú là họ ngài sáng (Pyralidae), họ ngài đêm (Noctuidae), họ ngài độc (Lymantridae), họ châu chấu (Acrididae), họ bọ xít 5 đốt râu (Pentatomidae) và họ ánh kim (Chrysomelidae) và xác định được 7 loài sâu hại chủ yếu đó là giòi đục thân, sâu cuốn lá, sâu đục quả, sâu khoang, bọ xít xanh, bọ xít xanh vai đỏ và rệp muội đậu tương

Trần Đình Chiến (2002) [8] đ! chỉ rõ 69 loài sâu hại với 8 loài sâu hại chính trên cây đậu tương thu được ở vùng Hà Nội và phụ cận, thì bộ cánh vảy Lepidoptera có tới 25 loài, bộ cánh nửa Hemiptera và bộ cánh cứng (mỗi bộ

13 loài), bộ cánh thẳng Orthoptera (8 loài), bộ cánh đều Homoptera (6 loài),

bộ hai cánh Diptera (3 loài) chủ yếu là họ ruồi đục lá Agromyzidae, ít nhất là

bộ cánh tơ Thysanoptera có 1 loài bọ trĩ Thripidae Họ có số lượng loài nhiều nhất là họ ngài đêm Noctuidae (10 loài), thứ 2 là họ bọ xít 5 đốt râu Pentatomidae và họ ánh kim Chrysomelidae (mỗi họ 6 loài), các họ còn lại số lượng ít hơn, cụ thể như họ ngài sáng Pyralidae có 5 loài, họ ngài độc Lymantridae (4 loài), họ châu chấu (4 loài), họ bọ xít mép Coreidae (4 loài),

họ vòi voi Curculionidae (3 loài)

Theo Quách Thị Ngọ và ctv (2006) [33] ở vùng ngoại thành Hà Nội năm 2001, thành phần sâu hại trên đậu tương đ! thu thập và định tên được 55 loài sâu hại thuộc 8 bộ côn trùng và nhện nhỏ Số loài côn trùng thu được tập trung ở bộ cánh vảy Lepidoptera(18 loài), sau đó đến bộ Hemiptera (17 loài),

bộ Coleoptera(9 loài), bộ Homoptera (10 loài), còn các bộ khác thu được ít hơn(1-4 loài)

Trang 20

2.3 Thành phần thiên địch của sâu hại đậu tương

Thiên địch của sâu hại đậu tương rất đa dạng và phong phú Chúng là những sinh vật có khả năng kiềm chế sự phát triển của nhiều loài sâu hại có hiệu quả Mỗi loài sâu hại đều có một tập đoàn thiên địch (kẻ thù tự nhiên) của nó, bao gồm các loài côn trùng, nhện lớn bắt mồi, các loài ký sinh và các loài vi sinh vật gây bệnh cho sâu hại

Hiện tượng ăn thịt của côn trùng đ! được con người phát hiện từ lâu ở các nước châu á, châu Âu người ta đ! bắt đầu mày mò thực nghiệm sử dụng côn trùng ăn thịt, chim ăn thịt vào đấu tranh sinh học Trong khi đó hiện tượng ký sinh phải m!i tới thế kỷ gần đây mới bắt đầu được chú ý tới Vì theo phân tích các nhà nghiên cứu thì mối quan hệ giữa vật chủ và vật ký sinh bao giờ cũng diễn ra phức tạp, kín đáo hơn so với hiện tượng ăn thịt

Tới cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX con người đ! có một ý niệm khá kiên định về vai trò của những loài côn trùng có ích trong việc kiềm chế

sự sinh sản của những loài sâu hại nông nghiệp Eratnurt Dacwyn ngay từ những năm 1800 đ! viết "ấu trùng bướm cải sẽ sinh sôi nảy nở một cách khủng khiếp nếu như hàng năm một nửa số sâu đó không bị loài ong Ichneumonidae nhỏ bé ký sinh đẻ trứng lên lưng chúng, tiêu diệt bớt đi"

Về kẻ thù tự nhiên, từ những năm của thập kỷ 40 đ! có nhiều công trình nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên của sâu hại đậu tương trong đó ký sinh sâu cuốn lá đậu tương Hedylepta indicata F có 2 loài: Elasmus indicus Rohw (Elasmidae) tìm thấy ở ấn Độ và Grotius omyia nigricans How (Eulophidae) tìm thấy ở Cuba Côn trùng ký sinh sâu xanh Helicoverpa armigera và H obsoleta có số loài phong phú nhất: 89 loài thuộc bộ 2 cánh và bộ cánh màng (Thompson (1946) [60]

Cũng theo Thompson (1946) [60] thì loài Spodoptera sp có 10 loài kí sinh thuộc bộ 2 cánh (3 loài thuộc họ Tachinidae) và 7 loài thuộc bộ cánh màng, trong đó họ Braconidae 3 loài, họ Ichneumonidae 2 loài, họ Eulophidae

1 loài và họ Trichogrammatidae 1 loài Bị ký sinh nhiều hơn cả trong giống

Trang 21

Spodoptera là loài Spodoptera litura F loài này bị hơn 20 loài kí sinh, trong

đó Diptera có 5 loài, Hymenoptera có 15 loài: 5 loài thuộc Ichneumonidae, 6 loài thuộc Braconidae, Eulophidae 1 loài, Trichogramatidae 2 loài và Scelionidae 1 loài

Tác giả Gazzoni và cộng sự (1994) [48] thông báo: trên đậu tương ở vùng nhiệt đới thu thập được 52 loài ký sinh thuộc bộ cánh màng và bộ hai cánh Bộ hai cánh tập trung chủ yếu ở họ Tachinidae, còn bộ cánh màng tập trung vào 3 họ chủ yếu: Braconidae, Ichneumonidae và Chalcididae Trong khi đó ở Brazil, ký sinh quan trọng có Microcharops bimaculata trên sâu keo, sâu khoang và Copidosoma truncatellum ký sinh sâu đo

Cả sâu non và nhộng của sâu cuốn lá đậu tương Hedylepta indicata (Fabricius) đều bị ký sinh, sâu non bị 4 loài ong ký sinh thuộc họ Braconidae (2 loài), họ Elasmidae (2 loài), nhộng bị 3 loài ong ký sinh thuộc họ Chalciđiae (1 loài) và họ Ichneumonidae (2 loài) (Napompeth, 1990) [55]

Cũng theo Napompeth (1990) [55] thì cả pha trứng và pha sâu non của sâu khoang đều bị ong ký sinh, trứng bị 2 loài ký sinh thuộc họ Braconidae và Scelionidae, còn sâu non bị 1 loài ký sinh thuộc họ Braconidae

Các loài sâu xanh Helicoverpa armigera Hubner và Helicoverpa obsoleta Gunenee bị nhiều loài ký sinh nhất (89 loài) thuộc bộ 2 cánh Diptera

và bộ cánh màng Hymenoptera Bộ hai cánh có 32 loài thuộc 3 họ là họ Tachinidae (28 loài), họ Muscidae (1 loài) và họ Sarcophagidae (3 loài) Bộ cánh màng có 57 loài thuộc 7 họ là họ Braconidae (20 loài), họ Ichneumonidae (17 loài), họ Chalcididae và Trichogrammatida mỗi họ có 6 loài, họ Scelionidae (5 loài), họ Eulophidae (2 loài) và họ Aphelinidae (1 loài) (Thompson, 1946) [60]

Nhóm côn trùng bắt mồi trên ruộng đậu tương cũng khá phong phú Thành phần bọ xít mồi trên đậu tương bao gồm các loài thuộc họ Nabidae (Nabis spp.), họ Lygaeidae (Geocoris spp.), họ Anthocoridae (Orius spp.), họ Pentatomidae (Podisus spp., Stiretrus anchorago (Fabr.)) và họ Reduviidae

Trang 22

(Zelus spp., Sinea spp và các loài khác) Các giống Nabis, Geocoris và Orius thường phổ biến hơn các giống khác (Deitz et al, 1976) [46]

Trong suốt thế kỷ XIX có rất nhiều công trình nghiên cứu về thiên

địch Cho đến này thiên địch được coi là cốt lõi của phòng trừ tổng hợp (IPM)

và thiên địch là một thuật ngữ dùng chung để chỉ tất cả các kẻ thù tự nhiên của các loài dịch hại nói chung và sâu hại nói riêng Mỗi một loài sâu hại có một tập đoàn thiên địch đặc trưng riêng Thiên địch của sâu hại bao gồm các loài

ký sinh, các loài bắt mồi ăn thịt và các sinh vật gây bệnh cho sâu hại Trong

đó côn trùng bắt mồi và côn trùng ký sinh được đề cập tới nhiều nhất trong biện pháp sinh học

Năm 1992, Kosol Charerason và Winat Suase đ! đưa ra danh lục hơn

230 loài kẻ thù tự nhiên của sâu hại như rệp hại đậu Cowpea (Aphis cracivora Kock) bị tiêu diệt bởi 7 loài thiên địch, sâu xanh (Heliothis armigera Hubner)

bị 41 loài thiên địch tiêu diệt sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fab.) bị 2 loài ký sinh họ Elasmidae và loài bọ xít Pentatomidae bắt mồi ăn thịt

Với thành phần, số lượng rất đa dạng, phong phú họ bọ rùa Coccinellidae đ! được chú trọng phát triển vào năm 1758 lần đầu tiên được Linne mô tả và xếp vào gióng Coccinella tới 36 loài phổ biến khắp thế giới: sau gần 2 thế kỷ số loài đ! lên tới 2500 loài (Grase, 1949), rồi tới 3500 loài (Crowson), cho tới nay đ! biết khoảng 4500-5000 loài (Lin 1965; Sasfi, 1971) Việc nghiên cứu bọ rùa chuyển sang giai đoạn mới sau khi bọ rùa châu úc: Rodolia cardinalis Mull, 1898 nhập vào California để trừ rệp sáp Iceryapurchasi Mask thành công, đây là một mốc quan trọng đánh giá sự phát triển của biện pháp sinh học (hay ở Đức người ta còn gọi là biện pháp Kơben

Gazzoni và cộng sự (1994)[48] thông báo trên đậu tương ở vùng nhiệt

đới thu thập được 52 loài ký sinh thuộc bộ cánh màng Hymenoptera và bộ hia cánh Diptera Trong khi đó bộ hai cánh (Diptera) tập trung chủ yếu ở họ Tachinidae, còn bộ cánh màng (Hymenoptera) tập trung chủ yếu vào 3 họ: Braconidae, Ichneumonidae và Chalciđiae

Trang 23

ở Việt Nam, nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên của sâu hại đậu tương cũng đ! được nhiều tác giả quan tâm và công bố trong những năm gần đây

Kết quả điều tra cơ bản thành phần côn trùng năm 1967-1968 của Viện BVTV và nhóm điều tra cơ bản côn trùng Viện sinh học từ năm 1960-

1970 (Viện BVTV 1976) Mai Phú Quý, (1981) thì số lượng các thiên địch là rất đa dạng, phong phú Kết quả ghi nhận có 75 loài bọ xít ăn sâu (Reduvidae), 67 loài thuộc họ chân chạy (Carabidae), 20 loài thuộc họ hổ trùng (Cicinllidae), 10 loài ong ký sinh thuộc họ Braconidae

Kết quả bước đầu điều tra trên đậu tương năm 1983 ở vùng Chèm - Từ Liêm - Hà Nội, Bộ môn điều tra cơ bản thuộc Viện Bảo vệ thực vật đ! thu

được 20 loài là côn trùng ký sinh và bắt mồi của 7 loài sâu hại đậu tương Chúng thuộc 11 họ, 3 bộ côn trùng, trong đó bộ cánh cứng Coleoptera có 6 loài chiếm 30%, bộ cánh màng Hymenoptera (13 loài) chiếm 65% và bộ hai cánh Diptera (1 loài) chiếm 5% [1]

Theo "Kết quả bước đầu tìm hiểu thành phần côn trùng bắt mồi trên một số cây trồng tại Gia Lâm - Hà Nội" của tác giả Trần Đình Chiến đ! thu

được 47 loài côn trùng bắt mồi thuộc 5 bộ côn trùng và một bộ nhện lớn bắt mồi Đó là bộ cánh cứng (Coleoptera), bộ cánh nửa (Hemiptera), bộ hai cánh (Diptera), bộ cánh mạch (Neuroptera), bộ cánh da (Dermaptera), bộ nhện lớn (Araneae) và trên đậu tương thu được 13 loài côn trùng bắt mồi ăn thịt thuộc 3

họ là: họ bọ rùa 7 loài, họ chân chạy 4 loài, họ ruồi ăn rệp 2 loài Những loài thường xuyên gặp là bọ rùa đỏ (Verania discolor), bọ rùa vằn chữ nhân (Coccinella repanda), bọ rùa 6 vằn (Chilomenes quadriplagiata), thức ăn chủ yếu là sâu cuốn lá đậu tương và rệp đậu tương (Kết quả nghiên cứu khoa học

1986 - 1991), khoa Nông học - ĐHNNI Hà Nội)

Ruồi đục thân Melanagromyza sojae Zehntner là loài sâu hại cây con nguy hiểm ở nhiều vùng trồng đậu tương của nước ta, chúng cũng bị nhiễm nhiều loài côn trùng ký sinh ở Vùng Gia Lâm - Hà Nội, Hà Quang Hùng

Trang 24

(1988) [21] đ! ghi nhận được 7 loài ong ký sinh, trong đó có 6 loài ký sinh pha nhộng và 1 loài ký sinh pha sâu non

Ong ký sinh kén trắng đơn thuộc giống Apanteles là những loài ong

ký sinh rất phổ biến trên sâu non của nhiều loài sâu hại thuộc bộ cánh vảy Khi nghiên cứu về họ ong ký sinh (Scelionidae) đ! phát hiện được 221 loài, trong đó có nhiều loài mới có giá trị khoa học (Lê Xuân Huệ, 1989)[20]

Nhóm côn trùng bắt mồi trên đậu tương cũng khá phong phú Thống kê nguồn gen có ích vùng ngoại thành Hà Nội, Vũ Quang Côn và cộng sự (1990) [9] đ! ghi nhận trên cây đậu tương có 22 loài côn trùng bắt mồi của 2 loài sâu hại chính là rệp và sâu cuốn lá Bộ có số loài lớn nhất là bộ cánh cứng (16 loài) thuộc 2 họ (bọ rùa và chân chạy), trong đó họ bọ rùa Coccinellidae có 11 loài Bộ hai cánh (3 loài) thuộc họ ruồi ăn rệp Syrphidae Riêng ở vùng Gia Lâm - Hà Nội, Trần Đình Chiến (1991) [5] đ! ghi nhận được 13 loài côn trùng bắt mồi sâu hại đậu tương, trong đó có họ bọ rùa (7 loài), họ chân chạy (4 loài) và họ ruồi ăn rệp (2 loài)

Tác giả Phạm Văn Lầm (1993) [29] cho thấy: trong quá trình điều tra thu thập thành phần kẻ thù tự nhiên của sâu hại đậu tương (từ năm 1982 - 1992) đ! thu được 64 loài thuộc 4 bộ côn trùng, trong đó tập trung chủ yếu ở

bộ cánh màng (40 loài, chiếm 62,5% tổng số loài thu được), bộ cánh cứng thu

được 14 loài (21,9%), bộ cánh nửa 7 loài (10,9%), thuộc bộ hai cánh chỉ có 3 loài Riêng ký sinh sâu khoang có 2 loài; ký sinh sâu cuốn xếp lá có 14 loài,

ký sinh trứng bọ xít có 4 loài

Kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật của trung tâm đấu tranh sinh học, Viện BVTV trong 5 năm (1989 - 1994) đ! điều tra thu thập gần 400 loài ký sinh, ăn thịt sâu hại và cỏ dại trên một số cây trồng chính như lúa, ngô, đậu tương, rau đay, bông, cây ăn quả Thành phần thu thập được gồm côn trùng 10 bộ, nhện 2 bộ, nấm 3 bộ, vi khuẩn 15 bộ, virus 1 bộ, tuyến trùng 1 bộ Trên mỗi loại cây trồng thường kéo theo một tập đoàn ký sinh, bắt mồi ăn thịt nhất định Khả năng hạn chế của thiên địch đối với sâu hại thường

Trang 25

là 20-50%, nhưng tuỳ theo thời gian từng lúc, không gian từng nơi, từng loài sâu hại khác nhau mà có thể tỷ lệ này lên tới 80-90%

Khi nghiên cứu về nhóm côn trùng bắt mồi sâu hại đậu tương, Nguyễn Công Thuật (1995) [38] đ! tổng kết và cho rằng: nhóm này vô cùng phong phú bao gồm nhiều loài bọ xít ăn sâu, bọ chân chạy, bọ rùa ăn rệp, ong vàng,

tò vò và ruồi ăn rệp

Kết quả nghiên cứu kẻ thù tự nhiên của sâu hại chính trên cam quýt, rau và đậu tương vùng Hà Nội 1990-1995 Các tác giả Hà Quang Hùng, Hồ Khắc Tín, Trần Đình Chiến, Nguyễn Minh Màu đ! thu được 47 loài côn trùng

có ích trên đậu tương, bao gồm côn trùng ký sinh 11 loài, côn trùng và nhện lớn bắt mồi 36 loài (Tuyển tập kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học nông nghiệp 1990 - 1995 của trường Đại học nông nghiệp -1, Hà Nội - NXBNN)[22]

Năm 1996 thành phần ký sinh sâu hại đậu tương đ! phong phú hơn nhiều: 42 loài, trong đó bộ cánh màng 39 loài, bộ hai cánh 3 loài Họ Braconidae có số lượng loài nhiều nhất - 14 loài, sau đó đến họ Ichneunomidae - 8 loài Các họ khác mỗi họ 1 - 5 loài Trong tập hợp ký sinh chung trên đậu tương, một số loài có vai trò quan trọng trong việc kìm h!m sâu cuốn lá (5 loài), sâu khoang (2 loài), trứng bọ xít (2 loài), dẫn đến tỷ lệ các loài sâu hại bị nhiễm ký sinh cao: sâu cuốn lá 5 - 35%, sâu khoang 35 - 40%; trứng bọ xít 10 - 35% (Vũ Quang Côn và cộng sự, 1996) [10]

Tác giả Trần Đình Chiến (1997) [7] đ! phát hiện được 39 loài côn trùng bắt mồi thuộc 7 bộ, trong đó bộ có số loài phong phú nhất là bộ cánh cứng (28 loài), sau đó đến bộ cánh nửa (6 loài), còn lại các bộ khác chỉ có 1 - 2 loài

Đặng Thị Dung (1997) [13], khi nghiên cứu thành phần côn trùng ký sinh sâu hại đậu tương vụ xuân, hè - thu 1996 tại Gia Lâm, Hà Nội, thu được

16 loài thuộc 2 bộ, 8 họ Trong đó chủ yếu là bộ cánh màng (13/16 loài), có 3

họ có số lượng phổ biến nhất, đó là họ Braconidae, Ichneumonidae và Scelionidae Sâu cuốn lá đậu tương (Lamprosema indicata) trên đồng ruộng bị

Trang 26

4 loài ký sinh với tỷ lệ ký sinh là 20,9%, chủ yếu do loài Temelucha sp ký sinh, chiếm 15,5%

Đặng Thị Dung (1998) [14] đ! thu nhập được 51 loài ký sinh của một

số loài sâu hại chính trên đậu tương như sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá và

bọ xít xanh Các loài ký sinh ghi nhận được chủ yếu thuộc vào bộ cánh màng Hymenoptera và bộ hai cánh Diptera Các họ phổ biến có số lượng loài phong phú là họ Braconidae (20 loài), họ Scelionidae (8 loài), họ Ichneumonidae (7 loài), họ Chalcididae (4 loài), họ Tachinidae (3 loài)

Năm 1998 Trương Xuân Lam [28] đ! phát hiện được 18 loài thuộc họ Salticidae (4 loài), họ Lycosidae (3 loài), họ Oxyopidae (3 loài), họ Tetragnathidae (3 loài), họ Araneidae (2 loài), họ Clubionidae (1 loài), họ Theridiidae (1 loài) họ Linyphidae (1 loài) Các loài phổ biến là nhện sói Lycosa pseudoannulata Boes et Str., nhện linh miêu Oxyopes javanus Thorell

và nhện nhảy Bianor hotingchiehi Schenkel Thức ăn chủ yếucủa cácloài bắt mồi này là rầy, rệp, sâu non và trưởng thành bộ cánh vảy

Theo các tác giả Vũ Quang Côn, Đặng Thị Dung, Khuất Đăng Long (1999) [10], loài Microplitis ký sinh trên sâu khoang, loài Temelucha sp ký sinh trên sâu cuốn lá là những loài phổ biến và có vai trò quan trọng trên cánh

đồng đậu tương Tỷ lệ ký sinh sâu khoang do loài Microplitis prodeniae có lúc

đạt 48,6%; tỷ lệ ký sinh sâu cuốn lá do Thrathala flavo orbitalis đạt cao nhất vào cuối vụ (45%) Điều này chứng tỏ những loài ký sinh bản địa có thể góp phần giữ cho mật độ chủng quần sâu hại chính ở dưới ngưỡng phòng trừ

Quách Thị Ngọ (2000) [32] đ! xác định được 15 loài côn trùng ăn rệp muội Trong đó bộ cánh cứng vẫn chiếm nhiều nhất(10 loài), bộ 2 cánh (4 loài), bộ cánh mạch (1 loài)

Theo Trần Đình Chiến (2002) [8], trong tổng số 104 loài bắt mồi thu

được có 86 loài côn trùng và 18 loài nhện thuộc 8 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớn Bộ có số loài phong phú nhất là bộ cánh cứng (58 loài) chiếm 55,77% so với tổng số loài điều tra, tiếp theo là bộ nhện lớn (18 loài) chiếm 17,31%, sau

đó là bộ cánh nửa (12 loài) chiếm 11,54%, bộ cánh da (4 loài) chiếm 3,85%,

Trang 27

bộ cánh màng (4 loài) chiếm 3,85%, bộ hai cánh (3 loài) chiếm 2,88%, bộ chuồn chuồn (2 loài) chiếm 1,92%, bộ bọ ngựa (2 loài) chiếm 1.92%, bộ cánh thẳng (1 loài) chiếm 0,96%

Cũng theo Trần Đình Chiến (2002) [8], trong tổng số 30 họ (22 họ côn trùng và 8 họ nhện) thu được thì 3 họ có số loài phong phú nhất là họ chân chạy Carabidae (30 loài) chiếm 28,85%, thứ hai là họ bọ rùa Coccinellidae (16 loài) chiếm 15,38%, họ bọ xít ăn sâu Reduviidae (7 loài) chiếm 6,73%, còn lại là các

họ khác có số loài ít hơn Các loài phổ biến là bọ chân chạy Chlaenius bioculatus Chaudoir, bọ chân chạy nâu đen 5 chấm trắng Stenolophus quinquepustulatus Wiedemann, bọ chân chạy lưng 2 vạch chéo Callistomimus modestus Schaum,

bọ chân chạy chân trước dạng bàn tay Clivina westwwoodi Putzeys, bọ cánh cộc nâu Paedreus fuscipes Curt., bọ rùa đỏ Micraspis discolor Fabr., bọ rùa 6 vằn Menochilus sexmaculata Fabr., nhện sói Lycosa pseudoannulata Boes et Str., nhện linh miêu Oxyopes javonus Thorell và nhện nhảy Bianor hotingchiehi Schenkel

Đặng Thị Dung (2005) [16] có kết quả điều tra vụ đậu tương hè thu

2003 tại Gia Lâm - Hà Nội: 10 loài côn trùng ký sinh sâu cuốn lá đậu tương, trong đó chủ yếu thuộc bộ cánh màng (Hymenoptera) với 9/10 loài (chiếm 90%) Trong số 10 loài ký sinh sâu cuốn lá đậu tươngthu được thì loài Trathala flavo-orbitalis Cameron xuất hiện với mức cao nhất

2.4 Biện pháp phòng trừ sâu hại đậu tương

Nhiều công trình nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu hại đậu tương

đ! được công bố trên thế giới như biện pháp hoá học, biện pháp sinh học, biện pháp canh tác và áp dụng vào sản xuất đạt kết quả tốt

Sử dụng các giống đậu tương ngắn ngày, giống chín sớm có thời gian ra hoa đến giai đoạn quả chín ngắn có thể hạn chế được các loài bọ xít hoặc những giống chiến sớm trước khi chủng quần bọ xít đạt đỉnh cao cũng có khả năng hạn chế được tác hại của bọ xít (Heinrichs, 1976) [51]

Trang 28

ở mức độ khác nhau các giống đậu tương này có thể chống chịu với các loài sâu ăn lá phổ biến ở những vùng có khí hậu hôn hoà (Van Duyn và cộng

sự, 1971) [64], (Clark và cộng sự, 1972) [45], (Hatchett và cộng sự, 1979) [50]

Biện pháp luân canh cây đậu tương với lúa nước hoặc cây trồng khác không thuộc cây đậu sẽ hạn chế sự phát triển của ruồi đục thân, sâu đục quả hoặc trồng xe cây đậu tương với ngô hoặc bông sẽ tạo ra nguồn thức ăn không thuận lợi đối với sâu hại đậu tương và lợi dụng được những hoạt động hữu ích của thiên địch tự nhiên để hạn chế sâu lại chính trên đậu tương (Phạm Văn Lầm, 1999) [30]

Thuốc trừ sâu tổng hợp hữu cơ được ra đời từ sau thế chiến thứ II, là một cuộc cách mạng thực sự trong nông nghiệp với các loại thuốc đầu tiên là DDT, 666, Heptalor được sử dụng rộng r!i trong nông nghiệp lúc bấy giờ Với các ưu điểm nhìn thấy ngay là giá thành hạ, sử dụng đơn giản, dễ dàng, có hiệu lực cao với nhiều loài sâu hại và có thể nhanh chóng dập tắc các trận dịch trên đồng ruộng cùng với việc các nhà sản xuất thuốc trừ sâu lần lượt đưa ra thị trường nhiều sản phẩm đa dạng, thì biện pháp hoá học đ! được chấp nhận một cách phổ biến đến mức người ta tự đặt ra lịch phun thuốc định kỳ để đề phòng thiệt hại cho các loại cây trồng Biện pháp hoá học phòng trừ sâu hại

đậu tương được xem là biện pháp phổ biến nhất dễ sử dụng và có hiệu quả nhanh đ! được áp dụng từ lâu ở khắp các vùng trồng đậu tương trên thế giới

ở Nhật Bản để trừ sâu đục quả Etiella zinckenella Treits., người ta đ! dùng thuốc Fenitrothion - fenvalenate WP, phun 3 lần vào giai đoạn sau ra hoa

10 ngày và các đợt tiếp theo mỗi đợt cách nhau 15 ngày hoặc phun 3 lần bằng các loại thuốc có phổ rộng để trừ sâu hại hạt và hại quả, kết hợp với trừ sâu khoang Spodoptera litura Fabr bắt đầu phun vào giai đoạn hình thành quả khoảng 7 - 10 ngày tuỳ thuộc vào tình trạng của sâu hại đều đạt hiệu quả tốt (Mochida và Kikuchi, 1997) [53 ]

Việc phun thuốc định kỳ để phòng trừ sâu hại đậu tương, khoảng cách 7 ngày và 14 ngày 1 lần với các loại thuốc Tamaron, Dipterex, Parathion và

Trang 29

Malathion trong những năm của của thập kỷ 80 ở Cu Ba đ! cho hiệu quả tốt nhất (Rojas và cộng sự, 1987) [58]

Brier và cộng sự (2000)[65] cho rằng các loại thuốc trừ sâu thế hệ mới như Confidor 25EC và Regent 25EC trừ bọ xít xanh Nezara viridula và bọ xít xanh vai bạc Piezodorus hybneri rất có hiệu quả

Cho đến nay trên thế giới đ! thống kê được trên 500 loài chống chịu thuốc hoá học, một số loài chống cả một nhóm thuốc hữu cơ (Coote, 1991)

Đến năm 1989 có tới 12000 công bố trên thế giới chuyên nghiên cứu

ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến thiên địch

ở ấn Độ, trên sâu xanh có 20 loài ký sinh và bắt mồi ăn thịt khi phun thuốc trừ sâu thì sự ảnh hưởng đến số lượng thành phần thiên địch thể hiện rất rõ

ở Việt Nam, để phòng trừ sâu hại đậu tương, biện pháp hóa học cũng

đ! được áp dụng rộng r!i và phổ biến

Cũng như các nhà nghiên cứu trên thế giới, tại Việt Nam có nhiều tác giả đ! quan tâm nghiên cứu đến thuốc BVTV Nguyễn Duy Trang (1996) cho rằng: trình độ dân trí của Việt Nam về BVTV rất thấp, do không nắm được tình hình phát sinh của sâu hại, không hiểu biết kỹ thuật sử dụng thuốc, nên thường xuyên phun thuốc hoá học tự do theo ý muốn chủ quan, nên đ! gây tác hại nghiêm trọng, dẫn đến việc rất nhiều loài thiên địch của nhiều sâu hại quan trọng biến mất

Khuất Đăng Long, (1994) đ! cảnh báo vùng chuyên rau thuộc ngoại thành Hà Nội là loài ký sinh Apanteles glomeratus ký sinh trên sâu xanh bướm trắng Pieris sp đ! không tìm thấy

Thuốc trừ sâu gây tác hại cho môi trường Việt Nam, như lượng tôm, cua, cá, chim cò, cóc nhái giảm dần số lượng ở các vùng quen dùng thuốc Nhiều

động vật trước đây rất phổ biến trên các cánh đồng như cò, chim bói cá, cà cuống, thì nay trở nên hiếm thấy Vì vậy để bảo vệ các thiên địch tránh khỏi

độc hại do dùng thuốc hoá học, cần dùng thuốc chọn lọc có phổ tác động hẹp

Trang 30

Sử dụng các loại thuốc Basudin, Furadan hoặc 666 với lượng dùng 10kg/ha bón vào đất trước lúc gieo hạt đều có hiệu quả trừ ruồi đục thân Melanagromyza sojae tốt (Lương Minh Khôi và cộng sự, 1987) [25] Cũng có thể phun thuốc Wofatox, Bi 58 với nồng độ 0,1% lượng dùng 600 - 1000 lít/ha, mỗi vụ phun 3 - 4 lần có tác dụng cao đối với giòi đục thân, sâu cuốn lá, sâu đục quả Đặc biệt dùng Furadan bón vào đất và Oftanol xử lý hạt giống với lượng dùng 40kg/tấn hạt, tỷ lệ cây bị ruồi hại giảm 56,8 - 100% và năng suất tăng 20 - 80% so với đối chứng

Hiện nay, thuốc hoá học vẫn được sử dụng rộng r!i ở mọi nơi trên đồng ruộng Gần đây ở Việt Nam đ! tăng cả về số lương và chủng loại thuốc trừ dịch hại, lượng thuốc sử dụng cuối những năm 1980 là 10.000 tấn/năm, đầu những năm 1990 tăng gấp đôi, năm 1991 là 21.400tấn/năm và gấp 3 lần vào năm 1995 là 30.000 tấn/năm, thậm chí tăng 4 lần vào năm 1998 tới 40.973 tấn/năm (Phạm Bình Quyền và cộng sự, 1999) [57]

Sự kiềm chế quần thể sâu hại bởi các loại ký sinh và bắt mồi có thể có hiệu quả hơn tác dụng tức thì của thuốc trừ sâu Sự giảm số lượng quần thể sâu hại nhanh chóng sẽ làm giảm hoạt động tích cực của ký sinh và bắt mồi trên

đồng ruộng dẫn tới hậu quả phức tạp trong phòng trừ dịch hại (Nghiêm Lệ Dung và cộng sự, 1989) [18]

Hầu hết các thuốc bảo vệ thực vật diệt trừ sâu hại (kể cả thuốc có tính chọn lọc) đều có ảnh hưởng xấu đến thiên địch của sâu hại Độ độc của các loại thuốc này nhẹ nhất là cấp 2, nặng nhất là cấp 4 trừ một loại thuốc trừ bệnh

có độ độc với thiên dịch nhẹ hơn (Nguyễn Viết Tùng và cộng sự, 1996) [40]

Thuốc hoá học không chỉ ảnh hưởng đến côn trùng có ích mà con làm xuất hiện trở lại của một số loài dịch hại trở nên mạnh mẽ hơn và xuất hiện tính chống thuốc của nhiều loài dịch hại

Đầu những năm 70 đ! có 228 loài côn trùng chống thuốc trong đó có 125 loài sâu hại cây trồng, đặc biệt tính chống thuốc nhanh chóng hình thành ở các loại sâu có nhiều thế hệ trong 1 năm (Đường Hồng Dật và cộng sự, 1978) [12]

Trang 31

Côn trùng và nhện lớn bắt mồi là nhóm kẻ thù tự nhiên quan trọng không chỉ đối với sâu hại đậu trương mà còn đối với sậu hại rau nhưng chúng lại rất mẫn cảm với thuốc trừ sâu hoá học (Shepard và cộng sự, 1999) [66]

Vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc hoá chất đối với sâu hại

và côn trùng có ích hết sức cần thiết trong phòng trừ tổng hợp sâu hại cây trồng nhằm bảo vệ tính đa dạng sinh học và phát triển bền vững hệ sinh thái nông nghiệp (Phạm Bình Quyền và cộng sự, 1970) [35]

Hiện nay ở một số nước trồng đậu tương trên thế giới để phòng trừ sâu hại đậu tương người ta đ! áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) ở Mỹ

đ! áp dụng tổng hợp các biện pháp như luân canh cây trồng, sử dụng các chế phẩm sinh học (nấm Beauveria globulifara và vi khuẩn Bacillus thuringiensis) Dùng thuốc hoá học với liều lượng thấp để bảo vệ thiên dịch ký sinh tự nhiên (Nguyễn Văn Tuất, 1987) [39]

Việc phun thuốc hoá học chỉ áp dụng khi nào mật độ sâu hại đạt tới ngưỡng kinh tế (ETL) ở Brazil, ngưỡng kinh tế (ngưỡng phòng trừ) đối với sâu ăn lá thời kỳ cây đậu tương trước khi ra hoa là 30% số lá bị rụng, sau khi

ra hoa là 15% số lá bị rụng Đối với sâu đục thân: 30% số cây bị hại Đối với sâu đục quả: 10% số quả bị hại Đối với các loài bọ xít chích hút quả: mật độ 0,5 con/cây (Hinson và Hartwing, 1982)[67] (Moscardi, 1993)[54], (Gazzoni

và cộng sự, 1994) [49]

Ngưỡng gây hại kinh tế (EIL) cũng đ! được nghiên cứu và áp dụng để phòng trừ sâu hại đậu tương ở Mỹ Người ta đ! áp dụng với các loại bọ xít 3 con/mét dài hàng đậu, sâu xanh Helicoverpa zae là 9 con/mét dài, bọ cánh cứng hại quả là 10% số quả bị hại, còn đối với sâu ăn lá Anticarsia gemmatalis

là 28 sâu non (tuổi 1 - 2)/mét dài + với 15% số lá bị hại (Michael, 1978) [52]

So sánh việc sử dụng chế phẩm sinh học (Bt, NPV) và thuốc hoá học để trừ sâu hại trên cây đậu vụ 1 năm 1998 tại Cư jut - Đắc Lắc cho thấy ở những ruộng sử dụng chế phẩm sinh học (Bt và NPV) để trừ sâu xanh, sâu khoang và sâu keo da láng, mật độ sâu hại thấp hơn ruộng phun thuốc, nhưng mật độ các

Trang 32

loại bắt mồi lại rất cao, đặc biệt là nhện lớn bắt mồi, bọ rùa và bọ xít hoa, ngược lại ở ruộng phun thuốc các loại thiên địch rất nghèo (Phạm Hữu Nhượng và cộng sự, 1999) [34]

Sử dụng các chế phẩm sinh học không những tạo điều kiện gia tăng quần thể thiên địch, hạn chế được mật độ sâu hại, giảm được chi phí bảo vệ thực vật mà còn ổn định được năng suất đậu tương [47]

Việc điều tra, nghiên cứu các loài sâu hại và các loài thiên địch của chúng, cũng như tìm được biện phòng trừ sâu hại là việc làm thiết thực Phòng trừ được các loài sâu hại là việc làm không khó với điều kiện khoa học

kỹ thuật phát triển như hiện nay, nhưng ngoài hiệu quả trước mắt cần tính đến tác động xấu ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, đến con người Vì Vậy, ngày nay biện pháp đấu tranh sinh học trong phòng trừ tổng hợp sâu hại cây trồng đang được sự quan tâm chú ý của những người sản xuất và các nhà nghiên cứu về bảo vệ thực vật trong và ngoài nước Một số nước đ! coi biện pháp đấu tranh sinh học là biện pháp cốt lõi của IPM Vì vậy việc hiểu biết về thành phần và vai trò của thiên địch trong điều hoà số lượng sâu hại của mỗi

hệ sinh thái đồng ruộng là hết sức quan trọng và cần thiết Từ đó chúng ta có thể bảo vệ, khích lệ và lợi dụng chúng trong công tác bảo vệ thực vật nhằm bảo vệ môi trường, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững

Trang 33

3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

* Nhóm sâu ăn lá đậu tương:

+ Sâu cuốn lá đậu tương(Hedylepta indicata Fabr)

+ Sâu khoang (Spodoptera litura F)

* Nhóm sâu đục quả

+ Sâu đục quả đậu tương (Maruca testulalis Geyer)

+ Sâu xanh (Helicoverpa armigera H.)

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

3.2.1 Địa điểm: Vùng trồng đậu tương của Gia Lâm - Hà Nội

Bộ môn côn trùng Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội

3.2.2 Thời gian thực tập: Tháng 9 năm 2006 đến 30 tháng 6 năm 2007

3.3 Vật liệu nghiên cứu

3.3.1 Vật liệu nghiên cứu:

Giống đậu tương DT-84 do Viện Di Truyền Nông nghiệp chọn tạo bằng

phương pháp xử lý đột biến trên dòng lai F3 - D.333(ĐT - 80 x ĐH 4(ĐT96)

Được công nhận giống năm 1995

Cây đậu tương giống DT-84 là giống được sử dụng nhiều trên địa bàn

nghiên cứu Giống đậu tương DT- 84 là giống có thể trồng 3 vụ/năm Thời

gian sinh trưởng 85-90ngày

3.3.2 Dụng cụ nghiên cứu:

Trang 34

- Bút lông, ống hút

- Lọ độc

- Cồn 96o, foocmol 5%

- Sổ sách ghi chép số liệu điều tra

Thuốc trừ sâu sử dụng trong thí nghiệm:

- Xác định thành phần sâu hại đậu tương và thiên địch nhóm sâu ăn lá

và sâu đục quả vụ đông xuân 2006 - 2007 vùng Gia Lâm - Hà Nội

- Theo dõi diễn biến mật độ sâu hại chính (sâu ăn lá, sâu đục quả thuộc

bộ cánh vẩy(Lepidoptera)) và thiên địch của chúng

- Khảo sát một số loại thuốc hoá học phòng chống sâu ăn lá, sâu đục quả đậu tương ở điều kiện trong phòng và ngoài đồng

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu

3.4.2.1 Điều tra thành phần sâu hại đậu tương và thiên địch của chúng trên

đậu tương vụ đông xuân 2006 - 2007 vùng Gia Lâm - Hà Nội

Để điều tra thành phần sâu hại đậu tương và thiên địch của nhóm sâu ăn lá và sâu đục quả tiến hành điều tra diện rộng (100 mẫu) trên đậu tương DT84 tại 3 điểm nghiên cứu theo phương pháp điều tra tự do, không cố định điểm, thu thập tất cả các loài sâu hại và thiên địch của chúng Thời gian điều tra là buổi sáng sớm, chiều mát

Phương pháp thu mẫu được tiến hành như sau đối với côn trùng sống trên cây dùng vợt để thu bắt trưởng thành hoặc bắt bằng tay đối với sâu non, nhộng bộ cánh vẩy, bộ cánh cứng Đối với côn trùng sống dưới đất dùng bẫy

hố, đối với côn trùng nhỏ dùng ống hút để thu bắt

Trang 35

Những mẫu thu bắt được cho ngay vào lọ độc để gây chết sau 15 - 20 phút, sau đó chuyển sang lọ đựng mẫu khác giữ cho mẫu không bị gẫy chân, cánh ảnh hưởng đến việc giám định tên khoa học của loài sau này

ðể cú thành phần cụn trựng ký sinh, ủó ủiều tra theo phương phỏp tự

do, ủịnh kỳ mỗi tuần một lần Mỗi ủợt ủiều tra thu 20-30 cỏ thể mỗi loài sõu hại chớnh, ủem về phũng nuụi ủể thu cụn trựng ký sinh và theo dừi tỷ lệ

ký sinh của chỳng

3.4.2.2 Điều tra diễn biến mật độ sâu ăn lá, sâu đục quả đậu tương và thiên

địch của chúng:

Theo dõi diễn biến mật độ sâu ăn lá, sâu đục quả đậu tương và thiên

địch của chúng tại vùng nghiên cứu, điều tra mật ủộ cỏc loài sõu hại chớnh ủược ỏp dụng theo phương phỏp của Cục BVTV (2002) ðối với sõu cuốn

lỏ, ủiều tra 5 ủiểm chộo gúc, mối ủiểm 1m2, búc toàn bộ cỏc tổ lỏ bị cuốn trong ủiểm ủiều tra và ủếm số lượng sõu cú ðối với sõu ủục quả mỗi ủiểm ủiều tra 100 hoa và quả Đếm số lượng sâu ăn lá, sâu đục quả đậu tương và thiên địch thu được trong đợt điều tra

Quan sát khả năng bắt mồi, ký sinh của thiên địch trên sâu hại ăn lá và sâu đục quả đậu tương

3.4.2.3 Tìm ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến mật độ sâu cuốn lá, sâu đục quả và thiên địch trên đậu tương

Thí nghiệm được bố trí theo 4 công thức:

Công thức I : Đối chứng (không phun thuốc)

Công thức II : Phun thuốc 1 lần (giai đoạn cây 5-6 lá kép)

Công thức III: Phun 2 lần (vào giai đoạn cây có nụ - hoa và giai

đoạn quả non) Công thức IV: Phun 4 lần (giai đoạn 3-4 lá kép, giai đoạn nụ - hoa,

giai đoạn quả non, giai đoạn quả xanh chắc) Thí nghiệm không lặp lại, diện tích mỗi công thức 100 m2 Thuốc trừ sâu làm thí nghiệm là các loại thuốc trong sản xuất đậu tương được nông dân sử dụng (Padan 95 SP và Sumicidin 20ND), nồng độ 0,1% lượng dùng 20lít/ sào

Trang 36

3.4.2.4 Khảo sát một số thuốc hoá học phòng chống sâu ăn lá, sâu đục quả thuộc bộ cánh vẩy trên đậu tương

- Phương pháp bố trí thí nghiệm: thí nghiệm diện hẹp gồm 4 công thức,

3 lần nhắc lại:

+ Diện tích mỗi ô: 30m2, dải bảo vệ 2m, r!nh 0,4 m

- Công thức 1: Sử dụng thuốc: Midanix 60WP có hiệu lực trừ sâu cuốn lá, sâu xanh đậu tương

- Công thức 2: Sử dụng thuốc Army 10EC có hiệu lực trừ sâu khoang

- Công thức 3: Sử dụng thuốc Cyperkill 5EC có hiệu lực diệt sâu đục quả

- Công thức 4: Đối chứng không phun thuốc

+ Phương pháp xử lý: Phun thuốc bằng bình bơm tay

+ Thời gian điều tra: điều tra trước phun và sau phun thuốc 7 ngày + Lượng nước thuốc:600 lít/ha

+ Phun thuốc 1 lần vào các thời điểm mật độ sâu hại có mật độ cao nhất

Trang 37

3.4.2.5 Tìm hiểu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đối với sâu ăn lá và sâu đục quả đậu tương trong điều kiện phòng thí nghiệm

- Bố trí xử lý thuốc trong phòng đối với 4 loại sâu :

Sâu cuốn lá (H.indicata)

Sâu khoang (S.litura)

Sâu xanh (H.armigera)

Sâu đục quả (M.testulalis)

cho từng loại thuốc Midanix 60WP, thuốc Army 10EC, thuốc Cyperkill 5EC Mỗi công thức bố trí 30 cá thể, theo dõi sau 6 giờ

- Phun bằng bình bơm tay

3.4.3 Chỉ tiêu theo dõi và tính toán

Lập bảng thành phần sâu hại chính và thiên địch trên đậu tương

Tổng số sâu điều tra

Tần suất xuất hiện (con/m2) =

Trang 38

t - Giá trị tra bảng Student với α = 0,05 ở bậc tự do V= n-1

- Độ hữu hiệu thuốc tính theo công thức Abbott

Ta: số cá thể dịch hại ở ô xử lý thuốc sau khi phun

Tb: số cá thể dịch hại ở ô xử lý thuốc trước khi phun

Ca: số cá thể dịch hại ở ô đối chứng sau khi phun

Cb: số cá thể dịch hại ở ô đối chứng trước khi phun

Trang 39

3.4.4 Bảo quản mẫu vật:

Tất cả mẫu trưởng thành sâu hại, sau khi giết chết trong lọ độc khoảng

15 - 20 phút được chuyển từ hộp đựng côn trùng hoặc bì tam giác đưa về phòng tiến hành làm mẫu Những mẫu chưa làm kịp tạm thời bảo quản trong

tủ lạnh 5oC

Phương pháp bảo quản mẫu thu được:

+ Đối với côn trùng to, trung bình, không quá nhỏ sau khi gây chết bằng lọ độc được sấy ở 50o C để cho mẫu thật khô (tránh ẩm mốc), sau đó cho mẫu vào hộp đựng và phân loại

+ Đối với côn trùng nhỏ mình mềm không cắm được kim, giết chết bằng lọ độc hoặc nước nóng, đem ngâm vào cồn 65 - 70o , hoặc foocmol 5%, thay cồn đến khi trong tránh làm mất mầu, thối, hỏng

3.4.5 Xử lý số liệu

Theo dõi và xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học, kết hợp với chương trình xử lý Excel và IRRISTAT

Trang 40

4 kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Thành phần sâu hại đậu tương vụ đông 2006 và xuân 2007 tại Gia Lâm - Hà Nội

Nhìn chung thành phần sâu hại cây trồng khá đa dạng và phong phú, cây đậu tương là một trong những cây trồng có nhiều loài sâu hại Chúng thường bị các loài sâu hại tấn công từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch Tuy nhiên số lượng và thành phần các loài sau hại trên cây trồng nói chung và cây

đậu tương nói riêng không ổn định mà thay đổi tuỳ theo điều kiện môi trường,

kỹ thuật canh tác, kể cả điều kiện kinh tế x! hội Do vậy, thành phần sâu hại trên cùng một cây trồng có thể thay đổi theo từng nơi, từng năm, từng mùa vụ

cụ thể

Để theo dõi được thành phần sâu hại đậu tương vụ đông 2006 và vụ xuân 2007 của vùng Gia Lâm, đề tài đ! điều tra tại hai điểm là Đặng Xá và Đa Tốn Kết quả được thể hiện trong bảng 1 và bảng 2

Vụ đông 2006 có 30 loài thuộc 12 họ và 6 bộ, trong đó, bộ cánh nửa có

số lượng loài nhiều nhất với 9 loài chiếm 30,00%, tiếp theo là bộ cánh vảy 7 loài chiếm 23,33%, cánh cứng 5 loài chiếm 16,67% và bộ cánh thẳng 4 loài chiếm 13,33%, bộ cánh đều 3 loài chiếm 10,00% và bộ hai cánh 2 loài chiếm 6,67%

Kết quả cho thấy thành phần sâu hại thu được trên ruộng trồng đậu tương vùng Gia Lâm- Hà nội ở Vụ xuân 2007 có số loài cũng như số họ nhiều hơn so với vụ đông 2006 ở vụ xuân thu được 36 loài thuộc 16 họ và 6 bộ, trong đó bộ cánh nửa có số lượng loài nhiều nhất với 9 loài chiếm 25%, tiếp theo là bộ cánh cứng và bộ cánh vảy, mỗi bộ có 8 loài chiếm 22,22%, bộ cánh thẳng 6 loài chiếm 16,67%, bộ cánh đều 3 loài chiếm 8,33% và bộ hai cánh 2 loài chiếm 5,56%

Các họ châu chấu Acrididae, họ bọ xít râu 5 đốt Pentatomidae, họ bọ xít mép Coreidae, họ ánh kim Chrysomelidae, họ ngài đêm Noctuidae có số

Ngày đăng: 06/12/2013, 20:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Văn Cảm, Hà Minh Trung (1979), Kết quả điều tra côn trùng hại cây trồng ở các tỉnh phía Nam. Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật (1969 - 1979) Viện Bảo vệ thực vật. NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra côn trùng hại cây trồng ở các tỉnh phía Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cảm, Hà Minh Trung
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1979
16. Đặng thị Dung (2005). "Côn trùng ký sinh sâu cuốn lá đậu t−ơng vụ hè thu 2003 tại Gia Lâm - Hà Nội, một số đặc tính sinh vật học của loài Dlichogennoidae hanoii (Hym. Braconidae) nội ký sinh sâu cuốn láHedylepta indicate". Báo cáo khoa học hội nghị côn trùng toàn quốc lần thứ 5, Hà nội, 11 - 12 tháng 4 năm 2005. Nxb NN, Hà nội 2005: 33 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng ký sinh sâu cuốn lá đậu t−ơng vụ hè thu 2003 tại Gia Lâm - Hà Nội, một số đặc tính sinh vật học của loài Dlichogennoidae hanoii (Hym. Braconidae) nội ký sinh sâu cuốn láHedylepta indicate
Tác giả: Đặng thị Dung
Nhà XB: Nxb NN
Năm: 2005
22. Hà Quang Hùng, Hồ Khắc Tín, Trần Đình Chiến, Nguyễn Minh Mầu. "Nghiên cứu kẻ thù tự nhiên của sâu hại chính trên cam, quýt, đậu t−ơng vùng Hà Nội (1994 - 1995)". Tuyển tập các công tình nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Nxb Nông nghiệp, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kẻ thù tự nhiên của sâu hại chính trên cam, quýt, đậu t−ơng vùng Hà Nội (1994 - 1995)
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
33. Quách thị Ngọ và ctv (2006), "Thành phần côn trùng trên đậu t−ơng, lạc ở vùng ngoại thành Hà Nội", 30 năm điều tra cơ bản sâu bệnh hại cây trồng (1976 - 2006), Nxb NN, Hà Nội: 76 - 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần côn trùng trên đậu t−ơng, lạc ở vùng ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Quách thị Ngọ và ctv
Nhà XB: Nxb NN
Năm: 2006
52. Michel, E. Iwin (1978). Pests of Soybean in the USA and their control. In S.R. Singh et all "Pests of the Grain legumes: ecology and control".Academic Press, 1978. London - New York - San Fransisco. pp: 141 - 149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pests of the Grain legumes: ecology and control
Tác giả: Michel, E. Iwin
Năm: 1978
53. Mochida, O. and A. Kikuchi (1997). Soybean Pests Maragement in Japan. In Proceeding - World Soybean Research Conference V, 21 -27 February 1994, Chiang Mai - Thailand, "Soybean feeds the World" Kasetsart Univ.Press, 170 -173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soybean feeds the World
Tác giả: Mochida, O. and A. Kikuchi
Năm: 1997
54. Moscardi, F. (1993). Soybean Integrated Pest Management in Brazin. In "FAO - Plant Protection Bulletin" Vol.41, 2, 91 -100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FAO - Plant Protection Bulletin
Tác giả: Moscardi, F
Năm: 1993
56. Napompeth, B. (1997). Potential of biological control in Soybean insect Management in Thailand. In Proceeding - World soybean Research Conference V.21 - 27 February 1994, Chiang Mai - Thailand, "Soybean feeds the World" Kasetsart Univ. Press, 174 - 179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soybean feeds the World
Tác giả: Napompeth, B
Năm: 1997
63. Takashi Kobayashi (1978). Pests of Grain Legumes including Soybean and their control in Japan. In " Pests of the Grain legumes: ecology and control". Academic Press, 1978. London - New York - San Fransisco. pp:59 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pests of the Grain legumes: ecology and control
Tác giả: Takashi Kobayashi
Năm: 1978
65. Brier, H., K. Knight, J. Wessels. New pesticidae for "bugs" in Soybeans or Weighing up the "buggy" options. Proceedings 11 st Australian Soybean Conference Ballina, NSW, 1 -3 August 2000, 55 - 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bugs" in Soybeans or Weighing up the "buggy
1. Bộ môn điều tra cơ bản Viện Bảo vệ thực vật (Nhóm côn trùng có ích) (1984), Kết quả b−ớc đầu điều tra côn trùng ký sinh và bắt mồi ăn thịt trên sâu hại đậu t−ơng năm 1983 ở vùng Chèm - Hà Nội. Thông tin Bảo vệ thực vật số 5, tr12 - 17 Khác
2. Nguyễn thị Bình, Nguyễn thị Yến, Trần Đình Long, Kozitxki, I. N. (1988), Sâu bệnh hại đậu t−ơng và biện pháp phòng trừ . Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp số 8, tr349 - 352 Khác
3. Phạm Văn Biên, Nguyễn Văn Tú, L−ơng thị Bích Hảo và CTV (1995), Một số kết quả nghiên cứu về sâu hại đậu nành. Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp số 4 Khác
5. Trần Đình Chiến (1991), Kết quả b−ớc đầu tìm hiểu thành phần côn trùng bắt mồi trên một số cây trồng tại Gia Lâm - Hà Nội. Kết quả nghiên cứu khoa học (1986 - 1991) Khoa Trồng trọt - Đại học Nông nghiệp I. NXB Nông nghiệp, tr117 - 119 Khác
6. Trần Đình Chiến (1993), Một số kết quả nghiên cứu hiệu lực của thuốc trừ dịch hại đối với rầy nâu và côn trùng bắt mồi chúng. Tạp chí Bảo vệ thực vËt sè 4, tr21 - 23 Khác
7. Trần Đình Chiến (1997), Thành phần côn trùng và nhện lớn bắt mồi sâu hại chính trên đậu t−ơng tại một số tỉnh miền Bắc. Kết quả nghiên cứu khoa học - Quyển 3 - Đại học Nông nghiệp I, NXB Nông nghiệp, tr23 - 27 Khác
8. Trần Đình Chiến (2002). Nghiên cứu côn trùng, nhện lớn bắt mồi sâu hại đậu tương vùng Hà Nội và phụ cận; đặc tính sinh học của bọ chân chạy Khác
9. Vũ Quang Côn, Hà Quang Hùng (1990), Một số kết quả điều tra thống kê nguồn gen có ích vùng Hà Nội. Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phÈm 2, tr84 - 88 Khác
10. Vũ Quang Côn, Khuất Đăng Long, Đặng thị Dung (1996), Kết quả nghiên cứu b−ớc đầu về thành phần sinh học, sinh thái của các loài ký sinh trênđậu t−ơng ở phía Bắc Việt Nam. Tạp chí Bảo vệ thực vật số 5, tr36 - 40 Khác
11. Vũ Quang Côn, Khuất Đăng Long, Đặng thị Dung. Đánh giá vai trò của một số loài ong ký sinh quan trọng trong việc hạn chế số l−ợng của sâu hại chính trên đậu t−ơng ở vùng Hà Nội và phụ cận. Tạp chí Sinh học số 2, tr21 - 25 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thí nghiệm: - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
Sơ đồ th í nghiệm: (Trang 36)
Bảng 4 - Tỷ lệ các loài thiên địch thuộc các bộ, họ côn trùng - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
Bảng 4 Tỷ lệ các loài thiên địch thuộc các bộ, họ côn trùng (Trang 48)
Đồ thị 1.  ả nh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
th ị 1. ả nh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến (Trang 51)
Đồ thị 2.  ả nh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
th ị 2. ả nh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến (Trang 53)
Đồ thị 3.  ả nh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
th ị 3. ả nh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến (Trang 55)
Đồ thị 4.  ả nh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
th ị 4. ả nh hưởng của vụ trồng đậu tương đến diễn biến (Trang 57)
Đồ thị 5.  ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến mật độ - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
th ị 5. ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến mật độ (Trang 60)
Đồ thị 6.  ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến mật độ - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
th ị 6. ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến mật độ (Trang 62)
Đồ thị 7.  ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến tỷ lệ ký sinh - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
th ị 7. ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến diễn biến tỷ lệ ký sinh (Trang 67)
Bảng 13. ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến tỷ lệ ký sinh - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
Bảng 13. ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến tỷ lệ ký sinh (Trang 68)
Đồ thị 8.  ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
th ị 8. ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến (Trang 69)
Bảng 14. ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
Bảng 14. ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến (Trang 70)
Đồ thị 9.  ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến tỷ lệ ký sinh - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
th ị 9. ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến tỷ lệ ký sinh (Trang 71)
Bảng 15. ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
Bảng 15. ảnh hưởng của số lần phun thuốc đến (Trang 72)
Đồ thị 10. ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến tỷ lệ ký sinh - Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất của một số giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hóa
th ị 10. ả nh hưởng của số lần phun thuốc đến tỷ lệ ký sinh (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w