1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bình đẳng giới trong gia đình dân tộc hà nhì tại xã chung chải, huyện mường nhé, tỉnh điện biên

68 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình đẳng giới trong gia đình dân tộc hà nhì tại xã chung chải - huyện mường nhé - tỉnh điện biên
Tác giả Lỳ Na Xó
Người hướng dẫn ThS. Đặng Thị Bích Huệ
Trường học Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Phát triển nông thôn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU (9)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (9)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (10)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung: ..................................... Error! Bookmark not defined. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể: ..................................... Error! Bookmark not defined. 1.3. Ý nghĩa của đề tài (0)
      • 1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học (10)
      • 1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn (11)
  • PHẦN 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 2.1. Cơ sở lý luận của đề tài (12)
      • 2.1.1. Một số khái niệm cơ bản (12)
      • 2.1.2. Đặc trưng của dân tộc Hà Nhì (15)
      • 2.1.3. Vai trò của giới (19)
      • 2.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới (21)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài (23)
      • 2.2.1. Bình đẳng giới trong các gia đình ở một số quốc gia trên thế giới (23)
      • 2.2.2. Bình đẳng giới trong các gia đình dân tộc thiểu số tại Việt Nam (26)
  • PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (29)
    • 3.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu (29)
      • 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu (29)
      • 3.1.2. Phạm vi nghiên cứu (29)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (29)
      • 3.2.1. Địa điểm nghiên cứu (29)
      • 3.2.2. Thời gian nghiên cứu (29)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (29)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (30)
      • 3.4.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu (30)
      • 3.4.2. Phương pháp xử lý, phân tích số liệu (31)
    • 3.5. Hệ thống hóa các chỉ tiêu nghiên cứu (31)
      • 3.5.1. Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ (31)
      • 3.5.2. Các chỉ tiêu biểu hiện sự đóng góp của phụ nữ và nam giới trong gia đình (31)
  • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (32)
    • 4.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (32)
      • 4.1.1. Điều kiện tự nhiên (32)
      • 4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội (35)
    • 4.2. Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì xã Chung Chải (40)
      • 4.2.1. Thông tin chung về các hộ điều tra (40)
      • 4.2.2. Thực trạng phân công lao động trong các hộ điều tra (47)
      • 4.2.3. Thực trạng bình đẳng giới trong quyền ra quyết định của các hộ điều tra (51)
    • 4.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì tại xã (56)
      • 4.3.1. Quan niệm xã hội (56)
      • 4.3.2. Bản thân người phụ nữ (56)
      • 4.3.3. Sức khỏe, tiếp cận thông tin (56)
      • 4.3.4. Trình độ dân trí thấp, nhận thức hạn chế (57)
    • 4.4. Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì tại xã Chung Chải (57)
      • 4.4.1. Đẩy lùi quan niệm xã hội (57)
      • 4.4.2. Đối với phụ nữ dân tộc Hà Nhì (57)
      • 4.4.4. Nâng cao trình độ học vấn và nhận thức về bình đẳng giới cho các gia đình người dân tộc Hà Nhì (58)
  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (60)
    • 5.1. Kết luận (60)
    • 5.2. Kiến nghị (61)
      • 5.2.1. Đối với chính quyền, địa phương (61)
      • 5.2.2. Đối với nam và nữ trong gia đình dân tộc Hà Nhì (61)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (62)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm giới tính, giới

Luật bình đẳng giới định nghĩa giới tính là sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học, bao gồm các yếu tố như hình dáng cơ thể, chức năng sinh học và vai trò giới tính Phụ nữ có khả năng mang thai, sinh con và cho con bú, trong khi nam và nữ khác nhau ở nhiều khía cạnh như hình dáng, giọng nói và chức năng sinh sản.

Một số khái niệm khác cho rằng: “Giới tính là những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái” [16]

Theo Lê Thị Chiêu Nghi cho rằng: “Giới tính là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt y – sinh học”[9]

Còn theo Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [7]

Giới là một khái niệm xã hội học phản ánh vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm phân công lao động và phân chia nguồn lực giữa hai giới trong bối cảnh cụ thể (Nông Quốc Bình, 2008) Theo Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (1996), giới thể hiện mối quan hệ xã hội và tương quan địa vị giữa nữ và nam, cùng với các điều kiện và yếu tố xã hội xác định vị trí và hành vi của mỗi giới trong các tình huống cụ thể.

2.1.1.2 Khái niệm bình đẳng giới

Theo công ước CEADAW, bình đẳng giới là trạng thái mà phụ nữ và nam giới có vị trí và cơ hội ngang nhau trong việc tiếp cận, sử dụng nguồn lực để phát triển tiềm năng cá nhân, góp phần vào sự phát triển của quốc gia Tại Việt Nam, bình đẳng giới được hiểu là việc nam và nữ có vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện để phát huy năng lực cho sự phát triển của cộng đồng và gia đình, đồng thời hưởng lợi từ thành quả phát triển đó.

Bình đẳng giới thể hiện sự đối xử công bằng giữa nam và nữ trong xã hội, đảm bảo rằng cả hai giới đều có vị trí và cơ hội như nhau để phát triển tiềm năng của mình Điều này không chỉ giúp họ đóng góp vào sự phát triển của xã hội mà còn cho phép họ hưởng lợi từ những thành quả của sự phát triển đó.

Một số yếu tố cấu thành bình đẳng giới :

- Quan tâm đến sự khác biệt về giới tính giữa nam và nữ cũng như những bất hợp lý về giới có thể tồn tại trên thực tế

- Chú trọng đến tác động của phong tục, tập quán như là những nguyên nhân sâu xa và cơ bản của tình trạng phân biệt đối xử

Các chính sách và pháp luật không chỉ tập trung vào các quy định chung mà còn chú trọng đến việc phân biệt hợp lý giữa ưu tiên và bình đẳng, nhằm đạt được bình đẳng giới thực tế cho cả nam và nữ.

2.1.1.3 Khái niệm hộ gia đình

Theo Bộ luật dân sự (2005), "Hộ gia đình" được định nghĩa là tập hợp các thành viên có tài sản chung và cùng nhau đóng góp công sức để thực hiện hoạt động kinh tế trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp hoặc các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác theo quy định của pháp luật Hộ gia đình là chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự trong những lĩnh vực này.

Hộ gia đình có những đặc điểm cơ bản như sau:

- Hộ gia đình phải có từ hai thành viên trở lên;

- Khái niệm hộ gia đình thường xuất hiện ở các lĩnh vực liên quan đến nông nghiệp và nông thôn;

Hộ gia đình cần có tài sản chung, thường là những tài sản có giá trị lớn và đóng vai trò là tư liệu sản xuất của hộ.

Khái niệm "dân tộc" trong tiếng Việt có thể hiểu là một cộng đồng người chia sẻ nền văn hóa, ngôn ngữ, nguồn gốc và lịch sử chung Trong ngữ cảnh quốc gia, thuật ngữ này còn được gọi là "quốc dân" và có thể bao gồm nhiều nhóm sắc tộc khác nhau.

+ Sắc tộc: chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ.[8]

Một số định nghĩa khác về dân tộc:

Dân tộc là một cộng đồng người có chung ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc, nguồn gốc hoặc lịch sử Nó cũng có thể chỉ những người sống trong cùng một lãnh thổ và dưới một chính quyền, như trong trường hợp của những người trong một quốc gia có chủ quyền, không phân biệt nhóm sắc tộc.

Dân tộc, khi gắn liền với một quốc gia, còn được gọi là quốc dân Thuật ngữ "dân tộc" mang nhiều nghĩa và phạm vi ý nghĩa của nó đã thay đổi theo thời gian.

2.1.2 Đặc trưng của dân tộc Hà Nhì

Dân tộc Hà Nhì, một trong những dân tộc thiểu số tại Việt Nam, chủ yếu sinh sống ở vùng núi cao phía Tây Bắc Họ sở hữu nền văn hóa độc đáo, thể hiện rõ nét bản sắc văn hóa riêng biệt của dân tộc mình.

Dân tộc Hà Nhì hiện có khoảng 17.000 người sinh sống chủ yếu ở các tỉnh vùng cao Tây Bắc, đặc biệt là ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Ngoài ra, họ cũng cư trú tại các xã biên giới huyện Mường Tè và một số ít ở huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Tại Điện Biên, hơn 4.500 người Hà Nhì chủ yếu sinh sống ở các xã Mường Nhé, Sín Thầu, Sen Thượng, Leng Su Sìn và Chung Chải, trong đó Chung Chải, Sen Thượng và Sín Thầu là những vùng cư trú lâu đời và là nơi xuất phát cho người Hà Nhì di cư đến các khu vực khác.

- Ngôn ngữ: Tiếng Hà Nhì thuộc nhánh ngôn ngữ Di (Yi) tức nhóm Lolo trong ngữ tộc Tạng - Miến, ngữ hệ Hán-Tạng

Theo truyền thuyết, người Hà Nhì từng sở hữu một loại chữ viết, nhưng đã bị mất khi di cư từ Tứ Xuyên vào miền Nam Ngôn ngữ Hà Nhì cũng thích nghi theo đặc điểm phân bố dân cư ở từng vùng, dẫn đến sự hình thành các đặc trưng ngôn ngữ riêng biệt.

- Ăn: Người Hà Nhì dùng cơm nếp và cơm tẻ

- Ở: Ða số cư dân ở nhà gỗ

- Phương tiện vận chuyển: Người Hà Nhì chủ yếu dùng gùi có dây đeo qua trán

Trong hôn nhân, việc tìm hiểu giữa trai gái trước khi kết hôn là rất quan trọng Mỗi cặp vợ chồng thường trải qua hai lần cưới, với lần thứ hai được tổ chức khi họ đã ổn định về tài chính và thường là khi đã có con.

Khi trong nhà có người chết, cần dỡ bỏ tấm liếp của buồng người chết, phá bàn thờ tổ tiên và làm giường đặt tử thi ở bếp Ngoài ra, việc chọn ngày giờ tốt để tiến hành chôn cất cũng rất quan trọng.

2.1.2.2 Đón tết cổ truyền (hồ sự chà)

Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Bình đẳng giới trong các gia đình ở một số quốc gia trên thế giới

Bình đẳng giới (BĐG) ở Thái Lan được thể hiện rõ qua các quy định trong Hiến pháp và pháp luật, cùng với các chính sách và cơ chế giám sát thực thi Hiến pháp Thái Lan xác định quyền bình đẳng giữa nam và nữ, tạo ra một sự bảo đảm pháp lý quan trọng cho việc thúc đẩy BĐG Hệ thống luật pháp của Thái Lan thường xuyên được điều chỉnh, kết hợp với các cơ chế giám sát nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ.

Bộ luật Gia đình Thái Lan đã nâng cao mức độ bảo vệ phụ nữ thông qua các quy định về chế độ đa thê và quyền bình đẳng trong nghĩa vụ cha mẹ Pháp luật không phân biệt giới tính trong vấn đề thừa kế, đánh dấu một bước tiến lớn so với nhiều nước châu Á Hệ thống pháp luật hình sự cũng được cải thiện liên tục, với các quy định nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em, cũng như việc buôn bán phụ nữ và trẻ em dựa trên phân biệt giới.

Mặc dù phụ nữ Thái Lan có quyền bình đẳng về địa vị pháp lý trong việc sở hữu đất đai như nam giới, nhưng thực tế vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng Luật chỉ công nhận người chủ gia đình có quyền sở hữu đất, và Bộ Nội vụ chỉ đăng ký những người đàn ông là chủ gia đình, dẫn đến việc phụ nữ không được ghi nhận quyền sở hữu đất đai.

Cơ chế giám sát thực thi và bảo vệ, thúc đẩy bình đẳng giới ở Thái Lan được thực hiện thông qua các tổ chức như Thanh tra của Quốc hội, Ủy ban Nhân quyền quốc gia và Bộ Phát triển xã hội.

An ninh con người là một vấn đề quan trọng, trong đó Ủy ban Nhân quyền quốc gia đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ quyền phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới Ủy ban có trách nhiệm tư vấn và xây dựng chính sách nhằm bảo vệ các quyền con người theo Hiến pháp, hệ thống pháp luật và các công ước quốc tế mà Thái Lan tham gia Hàng năm, Ủy ban tiếp nhận hàng nghìn vụ khiếu kiện về vi phạm quyền con người, trong đó nhiều vụ liên quan đến sự xâm hại quyền của phụ nữ và bình đẳng giới đã được xử lý hiệu quả.

Thái Lan có các tổ chức xã hội dân sự đóng vai trò quan trọng trong việc vận động chính sách và phản biện xã hội, đặc biệt liên quan đến việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền phụ nữ và bình đẳng giới.

Tại Singapore, trong một xã hội châu Á với nền tảng giá trị truyền thống, việc đàn ông ở nhà chăm sóc gia đình thay vì phụ nữ vẫn là điều khó chấp nhận Tuy nhiên, ngày nay, ngày càng nhiều phụ nữ Singapore đã trở thành trụ cột kinh tế trong gia đình.

Sự bình đẳng được thể hiện hai lần bằng biểu tượng trên cờ của Singapore:

Thứ nhất, nền màu đỏ tượng trưng cho sự bình đẳng và tình yêu thương con người phổ quát trong xã hội

Một trong năm ngôi sao trên lá cờ Singapore biểu trưng cho lý tưởng dân chủ, hòa bình, tiến bộ và công bằng Trong đó, bình đẳng không chỉ đơn thuần mà còn bao hàm cả bình đẳng giới, nhấn mạnh quyền lợi giữa nam và nữ.

Trong 50 năm qua, Singapore đã trải qua sự biến đổi mạnh mẽ về cả con người và đất nước Sự thay đổi của người dân, bao gồm cả nam giới và phụ nữ, cùng với việc nhập khẩu lực lượng lao động, đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên những chuyển đổi đáng kể mà Singapore có được ngày nay.

Sự bình đẳng giới tại Singapore, đặc biệt trong việc tiếp cận giáo dục, việc làm, mức lương, chăm sóc sức khỏe và phòng chống bạo lực gia đình, là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

Theo thống kê năm ngoái của lực lượng lao động Singapore, tỷ lệ việc làm cho lao động nữ trong độ tuổi 25 – 54 đạt 76%, cho thấy sự chú trọng vào bình đẳng giới đã được nâng cao đáng kể tại quốc đảo này.

2.2.2 Bình đẳng giới trong các gia đình dân tộc thiểu số tại Việt Nam

* Kết quả nghiên cứu “Bình đẳng giới trong lao động gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay” chỉ ra:

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đã mang lại nhiều thay đổi tích cực cho đời sống xã hội, đặc biệt là trong cấu trúc gia đình Các mối quan hệ gia đình ngày càng trở nên dân chủ và bình đẳng hơn, đồng thời vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như xã hội ngày càng được khẳng định và nâng cao.

Trong các hoạt động sản xuất và cộng đồng, vai trò của phụ nữ ngày càng được nâng cao, tạo cơ hội cho họ tiếp cận, ra quyết định và hưởng lợi từ lao động gia đình Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế kém phát triển và trình độ dân trí thấp, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày và dẫn đến sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội và gia đình.

Phụ nữ dân tộc thiểu số MNPB gặp nhiều khó khăn hơn so với phụ nữ Kinh ở đô thị và đồng bằng, đặc biệt trong việc phát huy khả năng của mình.

Việc thực hiện bình đẳng giới (BĐG) trong lao động gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) miền núi phía Bắc (MNPB) đang gặp nhiều thách thức, như nền kinh tế lạc hậu, nhận thức dân trí chưa cao, và các hủ tục cản trở xây dựng gia đình văn hóa Mặc dù giải phóng phụ nữ đang trở thành xu thế, nhưng nhiều phụ nữ DTTS vẫn mang tâm lý tự ti Để khắc phục những thách thức này, cần có giải pháp đồng bộ trên nhiều lĩnh vực nhằm nâng cao vị thế và thực hiện BĐG trong lao động gia đình cho phụ nữ DTTS MNPB.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Nam giới và nữ giới trong các hộ gia đình dân tộc Hà Nhì tại xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

- Các hoạt động sản xuất, hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu và đánh giá sự bình đẳng giữa nam giới và nữ giới trong các hộ dân tộc Hà Nhì trong các hoạt động sản xuất, tái sản xuất và hoạt động cộng đồng.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Tại xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

-Thời gian nghiên cứu từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020

-Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2017 - 2019

-Số liệu điều tra năm 2020

Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

- Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì, xã Chung Chải

- Một số yếu tố tác động đến việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì ở xã Chung Chải

- Đề xuất giải pháp bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì xã Chung Chải

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

3.4.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp

- Thông qua tài liệu, báo cáo tổng hợp số liệu thống kê của xã

- Qua các tài liệu, báo cáo liên quan đến giới và bình đẳng giới

3.4.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Thông tin sơ cấp được thu thập từ 81 hộ dân thông qua phỏng vấn điều tra nhằm đánh giá vai trò và quyền ra quyết định của phụ nữ và nam giới trong các gia đình dân tộc.

Hà Nhì Theo nội dung theo hệ thống các câu hỏi đã được soạn thảo trước

3.4.1.3 Phương pháp điều tra chọn mẫu

Khi chọn xã, ưu tiên địa bàn có mật độ dân cư đông đúc, đặc biệt là những xã có sự đa dạng về dân tộc, trong đó chủ yếu là dân tộc Hà Nhì.

Trong nghiên cứu này, tôi đã chọn ba bản là Đoàn Kết, Nậm Khum và Húi To làm đại diện, vì đa phần người dân ở đây thuộc dân tộc Hà Nhì, thuận lợi cho việc thu thập thông tin hộ gia đình Để đảm bảo tính đại diện cho đề tài, tôi đã thực hiện điều tra chọn mẫu với 81 hộ tại ba bản này.

* Chọn mẫu nghiên cứu: sử dụng công thức Slovin

Số lượng mẫu được lựa chọn nghiên cứu được xác định theo công thức

Slovin (1960) độ tin cậy 90%, sai số 10%: 𝑛 = 𝑁

Trong đó: n là cỡ mẫu e là sai số cho phép

Sử dụng công thức Slovin để tính ra cỡ mẫu điều tra 81 hộ gia đình dân tộc Hà Nhì tại 3 bản: Đoàn Kết, Nậm Khum và Húi To

3.4.2 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu

Phương pháp phân tích số liệu được thực hiện bằng cách sử dụng máy tính cá nhân và phần mềm Excel, nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài.

Phương pháp phân tích thống kê sử dụng số liệu đã được phân tổ và chia tách trong bảng biểu để phản ánh những đặc trưng cơ bản Qua đó, phương pháp này giúp tìm ra những thay đổi cần thiết nhằm cải thiện và điều chỉnh cho phù hợp.

Phương pháp so sánh giúp tổng hợp các chỉ tiêu nghiên cứu thành bảng số liệu, từ đó tiến hành so sánh và phân tích bằng các chỉ số khác nhau Qua đó, chúng ta có thể nhận diện sự khác biệt về tài sản sinh hoạt, tư liệu sản xuất, thu nhập, tiêu dùng và vai trò giữa phụ nữ và nam giới trong các hộ gia đình.

Hệ thống hóa các chỉ tiêu nghiên cứu

3.5.1 Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ

Bài viết cung cấp thông tin về các chỉ số bình quân liên quan đến lao động, sản xuất, tái sản xuất và hoạt động cộng đồng của hộ gia đình dân tộc Hà Nhì Nó cũng đề cập đến các nguồn thu nhập, nguồn vốn vay của hộ và vai trò của người ra quyết định chính trong các hoạt động của gia đình.

- Tỷ lệ lao động nam và nữ trong gia đình dân tộc Hà Nhì

- Trình độ văn hóa của chủ hộ

3.5.2 Các chỉ tiêu biểu hiện sự đóng góp của phụ nữ và nam giới trong gia đình

Ra quyết định và thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp tại các hộ điều tra là tỷ lệ giữa số lần ra quyết định hay thực hiện các quyết định đó của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng đối với một hoạt động sản xuất nông nghiệp cụ thể so với tổng số ghi nhận trong các hộ điều tra.

Phân chia công việc hàng ngày trong gia đình bao gồm tỷ lệ thực hiện các nhiệm vụ như nội trợ, chăm sóc con cái, dạy học, quản lý tài chính, mua sắm tài sản, vay vốn, tham gia họp thôn xóm, và các sự kiện ma chay - cưới hỏi Các công việc này được phân chia giữa chồng, vợ, cả hai vợ chồng hoặc các con, dựa trên tổng số ghi nhận về từng công việc cụ thể trong nhóm hộ điều tra.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

4.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Xã Chung Chải là một xã biên giới nằm ở phía Bắc huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Xã có vị trí giáp ranh như sau:

- Phía Bắc giáp với xã Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé

- Phía Đông giáp với huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

- Phía Tây giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Xã Mường Nhé và Nậm Vì ở phía Nam, có đường tỉnh lộ 127 chạy qua, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội Gần cửa khẩu Apa Chải giáp với Trung Quốc, xã này cũng có đường đi thuận lợi, là nơi giao lưu và buôn bán hàng hóa của người dân.

Xã Chung Chải, nằm trong huyện Mường Nhé, có địa hình núi cao hiểm trở và phức tạp, với sự phân chia độ cao rõ rệt và mức độ chia cắt mạnh Khu vực này có nhiều núi đá dốc, khe sâu và vực thẳm, tạo ra những khu vực dễ xảy ra sạt lở và trượt đất, hình thành nên một địa hình cát xẻ phức tạp.

Chung Chải có địa hình chủ yếu là đồi núi, với sự phân bố cao thấp không đều, nghiêng dần từ Tây sang Đông Xã được chia thành hai vùng: vùng núi thung lũng tập trung đông dân cư và là khu vực sản xuất nông nghiệp, bị chia cắt bởi hệ thống suối dày đặc như suối Nậm Ma và Nậm Khum Địa hình của xã được phân thành nhiều dạng chính khác nhau.

Địa hình núi cao tại khu vực này bao gồm những dãy núi với độ cao trên 1000 m và độ dốc lớn Xung quanh xã là các dãy núi hùng vĩ, nơi có thảm thực vật chủ yếu là cây rừng tự nhiên, tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và đa dạng.

Địa hình núi trung bình tại xã có độ cao từ 700-900m, với các dãy núi phân bố rải rác Thảm thực vật chủ yếu là cây rừng tái và cây bụi Bên cạnh đó, một số khu đồi có đất bằng hoặc sườn đồi với độ dốc từ 0.2% đến 25% được người dân tận dụng để trồng lúa và hoa màu.

Địa hình đồng bằng là các dải đất bằng, hẹp nằm dưới chân các dãy núi, chủ yếu tập trung ở khu vực phía Tây và ven suối Nậm Ma, Nậm Khum Khu vực này được người dân khai thác triệt để để trồng lúa.

Địa hình khó khăn ảnh hưởng đến việc quản lý đất đai, sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, cũng như việc xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông và thủy lợi Điều này cũng gây trở ngại cho việc giao lưu buôn bán và trao đổi hàng hóa với các địa phương trong và ngoài huyện.

4.1.1.2 Khí hậu, thời tiết, thủy văn

Khí hậu Chung Chải mang đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa, đồng thời chịu ảnh hưởng từ khí hậu vùng cao Tây Bắc, với những đặc điểm riêng biệt của thời tiết miền núi Tây Bắc tỉnh Điện Biên Nơi đây có hai mùa rõ rệt trong năm.

+ Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 kéo dài đến tháng 10 hàng năm khí hậu nóng mưa nhiều;

+ Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, khí hậu khô hanh, rét và mưa ít

Nhiệt độ trung bình hàng năm tại khu vực này khoảng 22.25ºC, với sự chênh lệch khoảng 4ºC giữa các vùng núi đá và bồn địa Nhiệt độ dao động từ 19ºC đến 23ºC, tạo điều kiện khí hậu thuận lợi với mùa hè ẩm ướt và lượng mưa dồi dào Tổng số giờ nắng cao cùng với bức xạ và bốc hơi nước lớn khiến đây trở thành một trong những vùng nóng nhất cả nước Tuy nhiên, vào mùa đông, nhiệt độ có thể khá lạnh, với hiện tượng sương muối và băng giá xảy ra.

Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2439 mm, với sự phân bố không đồng đều cả về thời gian và không gian Mưa chủ yếu tập trung từ tháng 6 đến tháng 11, chiếm tới 78% tổng lượng mưa trong năm.

Độ ẩm không khí tại khu vực này thường dao động từ 81% đến 87%, với mức cao nhất có thể đạt tới 87% Trong giai đoạn chuyển tiếp giữa mùa khô và đầu mùa mưa, tình trạng khô hanh thường xảy ra, dẫn đến độ ẩm không khí giảm xuống mức thấp.

Chung Chải, nằm ở khu vực vùng núi cao, ít bị ảnh hưởng bởi bão nhờ vị trí tan giã của các cơn bão Mùa đông, gió Đông Bắc mang đến mưa phùn, trong khi mùa hè có gió Tây Nam Tuy nhiên, hàng năm, khu vực này vẫn phải đối mặt với các hiện tượng thời tiết cực đoan như sương muối, lốc xoáy và gió Lào, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống của người dân.

Chế độ thủy văn của Chung Chải chủ yếu bị ảnh hưởng bởi hệ thống suối Nậm Ma và Nậm Khum Lưu lượng nước của các suối này phụ thuộc vào lượng mưa, dẫn đến việc vào mùa mưa bão, lưu lượng nước tăng cao, trong khi vào mùa khô, lượng nước giảm đáng kể.

- Xã Chung Chải thuộc các nhóm đất vùng núi cao được chia thành 2 loại chính:

+ Đất đá Macma axit, phân bố chủ yếu là địa hình núi cao, tầng đất phổ biến từ 50 – 70 cm

Đất đỏ biến đổi chủ yếu phân bố dưới chân đồi thấp và có địa hình tương đối bằng phẳng, được hình thành từ đất đồi qua quá trình khai thác và cải tạo cho sản xuất nông nghiệp Mặc dù loại đất này thích hợp cho phát triển nông nghiệp, nhưng hiệu quả sử dụng vẫn chưa cao ở nhiều vị trí do thiếu nước.

- Tổng diện tích tự nhiên của xã Chung Chải là 21.021,40 ha

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất xã Chung Chải qua các năm 2017-2019

Tổng số 21021,40 100 21021,40 100 21021,40 100 Đất nông nghiệp 20311,04 96,62 20311,33 96,62 20306,76 96,60 Đất phi nông nghiệp 338,13 1,61 508,68 2,42 526,09 2,50 Đất chưa sử dụng 372,23 1,77 201,53 0,96 188,56 0,9

(Nguồn: UBND xã Chung Chải) Tình hình sử dụng đất tại xã Chung Chải qua 3 năm có sự thay đổi:

- Nhóm đất nông nghiệp có xu hướng giảm nhưng không đáng kể (chỉ 2%) Do một số hộ chuyển hướng sản xuất sang phi nông nghiệp

Nhóm đất phi nông nghiệp đang có xu hướng gia tăng do sự gia tăng dân số, cùng với việc người dân chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất ở và xây dựng các công trình công cộng.

- Nhóm đất chưa sử dụng chủ yếu là đất đồi, chưa được người dân khai thác và sử dụng

4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Tình hình sản xuất một số cây trồng chính trên địa bàn xã Chung Chải được thể hiện qua bảng 4.2:

Bảng 4.2 : Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính trên địa bàn xã Chung Chải năm 2019

STT Cây trồng Diện tích (ha) Năng suât

(Nguồn: UBND xã Chung Chải)

Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của người dân tại địa bàn xã, trong đó chủ yếu tập trung vào sản xuất lúa nương và lúa mùa

Thực trạng bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì xã Chung Chải

4.2.1 Thông tin chung về các hộ điều tra

4.2.1.1 Một số thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra

Một số thông tin cơ bản của các hộ điều tra được thể hiện qua bảng 4.4:

Bảng 4.4: Tình hình chung của các hộ điều tra

Tổng số hộ điều tra Hộ 27 27 27 100

3.Phân loại kinh tế hộ %

4.Trình độ học vấn của chủ hộ %

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Qua điều tra 81 hộ, tỷ lệ nam giới là chủ hộ chiếm 77,8%, trong khi nữ giới chỉ chiếm 22,2% Sự chênh lệch này có thể giải thích bởi tính quyết đoán và khả năng ra quyết định nhanh chóng của nam giới, trong khi phụ nữ thường e dè hơn khi tham gia vào các quyết định sản xuất hay kinh doanh, đặc biệt trong các loại hình sản xuất mới Do đó, nam giới thường được xem là chủ hộ, ngoại trừ những trường hợp như nam giới đi làm xa, phụ nữ bỏ chồng hoặc phụ nữ góa chồng thì mới có nữ giới là chủ hộ.

79% các hộ được điều tra là hộ nông nghiệp, chủ yếu sống ở các vùng dân tộc thiểu số Sinh kế chính của họ dựa vào việc trồng lúa, ngô và sắn Trong mùa vụ, họ lao động nhiều hơn, còn lại thời gian thường dành cho việc chăm sóc con cái và chăn nuôi gia súc, gia cầm Hộ kiêm chỉ chiếm 7,4%, là tỷ lệ thấp nhất trong ba nhóm hộ.

Tỷ lệ hộ cận nghèo và hộ nghèo chiếm tới 55,6%, với trình độ dân trí thấp và thiếu kế hoạch sản xuất, khiến họ khó thoát khỏi đói nghèo Mặc dù có nhiều đất đai nông nghiệp, nhưng họ chưa biết cách khai thác hiệu quả để tạo thu nhập Điều tra cho thấy, tỷ lệ nam giới là chủ hộ trong các hộ cận nghèo và hộ nghèo cao hơn, cho thấy nhận thức thấp hơn của họ ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong gia đình.

Theo điều tra, có 8,6% chủ hộ trong số 81 người được khảo sát là mù chữ, chủ yếu thuộc thế hệ người già và sống trong điều kiện khó khăn, dẫn đến việc họ chưa có cơ hội học tập Điều này ảnh hưởng đến nhận thức và khả năng tiếp cận thông tin về giới và bình đẳng giới, cũng như quyền quyết định trong gia đình Tỷ lệ chủ hộ có trình độ học vấn Tiểu học là 23,5%, THCS là 32,1%, và THPT là 35,8% Không có ai trong số họ có trình độ cao đẳng hoặc đại học do hoàn cảnh kinh tế khó khăn và gia đình đông con, khiến họ chỉ học đến hết THCS hoặc THPT.

4.2.1.2 Các yếu tố sản xuất của hộ

* Yếu tố về con người

Lao động đóng vai trò quan trọng trong sản xuất, và việc quản lý lao động một cách hợp lý sẽ giúp nâng cao năng suất và thu nhập cho các hộ gia đình.

Bảng 4.5: Tình hình lao động và nhân khẩu của các hộ điều tra ĐVT:%

(Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra)

Bình quân nhân khẩu mỗi hộ ở ba bản điều tra là 4,34%, với đa số thành viên là người trẻ và trung niên, ít người già Hầu hết các hộ chỉ có hai thế hệ sinh sống, và tỷ lệ sinh con thứ ba rất thấp do người dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình Điều này dẫn đến bình quân nhân khẩu mỗi hộ không cao Ngoài ra, bình quân lao động mỗi hộ cũng chỉ đạt 2,64%, với một số hộ chỉ có người già và trẻ em, trong khi những người trong độ tuổi lao động thường đi làm tại công ty hoặc xuất khẩu lao động ra nước ngoài.

* Các yếu tố vật chất

Tài sản đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức sống của người dân, với các hộ có mức sống cao thường sở hữu tài sản có giá trị lớn hơn Bảng 4.6 thể hiện rõ tài sản sinh hoạt của các hộ được điều tra.

Bảng 4.6: Tài sản sinh hoạt của hộ gia đình ĐVT :%

Tài sản sinh hoạt Đoàn Kết

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Tình trạng nhà ở của các hộ điều tra chủ yếu là nhà sàn, gỗ, ván, chiếm 51,9%, trong khi nhà xây và nhà đất lần lượt chiếm 17,3% và 30,8% Nhà sàn, gỗ, ván được xây dựng kiên cố, phản ánh nét văn hóa của dân tộc Hà Nhì, trong khi các hộ sống trong nhà đất thường là những hộ nghèo Hầu hết các hộ đều sở hữu xe máy (97,5%), phương tiện chính để di chuyển và vận chuyển hàng hóa, nông sản Cơ sở hạ tầng ngày càng cải thiện, các tuyến đường được nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu và buôn bán Tỷ lệ hộ sử dụng xe đạp cũng cao (75,2%), giúp các em học sinh giảm thời gian di chuyển đến trường.

Ngày nay, các phương tiện thông tin và giải trí đã trở thành phần quan trọng trong đời sống gia đình, với tỷ lệ hộ gia đình sở hữu tivi lên đến 98,8% Chỉ một số ít hộ nghèo chưa có tivi, trong khi khoảng 18,5% hộ gia đình sử dụng đài, chủ yếu phục vụ cho người cao tuổi.

Tỷ lệ hộ gia đình sở hữu phương tiện nghe nhìn cao góp phần quan trọng vào việc tiếp cận thông tin khoa học và sản xuất, đặc biệt trong các vấn đề liên quan đến bình đẳng giới.

Các tài sản khác như tủ lạnh (50,6%), bếp ga (27,1%), vừa cải thiện sinh hoạt, vừa giảm bớt thời gian nội trợ của phụ nữ

Tình hình trang thiết bị phục vụ cho sản xuất tại địa bàn nghiên cứu được thể hiện qua bảng 4.7:

Bảng 4.7: Phương tiện sản xuất của hộ ĐVT:%

Tài sản sản xuất Đoàn Kết

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Tình hình sử dụng máy móc và thiết bị trong sản xuất tại các hộ gia đình hiện nay cho thấy rằng nhiều hộ đã đầu tư vào các thiết bị như máy bơm, máy tuốt, và máy bừa Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng những thiết bị này vẫn còn thấp và chưa đáng kể.

Nhiều hộ dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp với tỷ lệ tư liệu sản xuất cao, như máy cày và bừa đạt 48,1%, trong khi máy tuốt lúa chiếm 35,8% Tuy nhiên, nhiều hộ vẫn gặp khó khăn với các công cụ lao động giá trị thấp như liềm, cuốc, do thiếu vốn đầu tư và địa hình canh tác phức tạp Đặc biệt, các hộ nghèo và cận nghèo không đủ khả năng để đầu tư vào máy móc hiện đại, dẫn đến việc sử dụng các công cụ truyền thống.

Việc ứng dụng máy móc trong sản xuất nông nghiệp giúp giảm sức lao động và thời gian làm việc cho cả nam và nữ, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động cộng đồng Điều này không chỉ mang lại nhiều thời gian nghỉ ngơi, vui chơi mà còn giúp họ chăm sóc gia đình và con cái tốt hơn, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình.

Nguồn thu nhập của các hộ đóng một vai trò quan trọng, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống kết quả điều tra được thể hiện qua bảng 4.8:

Bảng 4.8: Nguồn thu nhập của các hộ điều tra ĐVT :%

Hoạt động sản xuất Đoàn Kết (n')

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Theo bảng 4.8, tỷ lệ hộ có nguồn thu nhập chính từ trồng trọt và chăn nuôi lần lượt là 34,5% và 26% Khu vực nghiên cứu là vùng dân tộc thiểu số với dân cư thưa thớt, do đó, nguồn thu nhập chủ yếu của người dân đến từ hoạt động nông nghiệp Thu nhập từ nuôi trồng thủy sản chỉ chiếm 6,2%, nhiều hộ không có đất làm ao hoặc chỉ nuôi một số loại cá, tôm, cua phục vụ gia đình, chưa có kiến thức để phát triển hoạt động này nhằm tạo ra lợi nhuận.

Nguồn thu từ lâm nghiệp cũng là một phần trong thu nhập của hộ (chiếm

Nhiều hộ dân tham gia quản lý và bảo vệ rừng đã biết cách làm giàu từ rừng thông qua việc trồng cây keo, cây thông và cây hạt dổi, giúp tăng thu nhập và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, thu nhập từ hoạt động dịch vụ và làm thuê chỉ chiếm tỷ lệ thấp, lần lượt là 4,9% và 14,8%, do đặc thù là xã miền núi với nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Các hoạt động dịch vụ tại địa phương chưa phát triển, chủ yếu chỉ có một số hộ kinh doanh các mặt hàng thiết yếu phục vụ người dân Hầu hết thu nhập từ làm thuê diễn ra vào mùa nông nhàn, khi một số người di chuyển đến nơi khác để kiếm thêm thu nhập Đặc biệt, nam giới có nhiều cơ hội làm thuê hơn nữ giới, do phụ nữ thường ở nhà chăm sóc con cái và gia đình.

4.2.2 Thực trạng phân công lao động trong các hộ điều tra

* Trong sản xuất nông nghiệp

Sự phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp của nam giới và nữ giới được thể hiện qua bảng 4.9:

Bảng 4.9: Sự phân công lao động của hộ điều tra trong sản xuất nông nghiệp ĐVT : %

Công việc Người thực hiện

Nữ Nam Cả hai Thuê 1.Trồng trọt

Chăm sóc (bón phân làm cỏ …) 33,1 24,7 32,1 11,1

Bảo quản sau thu hoạch (phơi, sấy…) 39,5 18,5 34,6 7,4

Làm chuồng nuôi gia súc 22,2 38,3 25,9 13,6

Chăm sóc gia súc ,gia cầm 34,6 22,2 28,4 14,8 Đi bán 23,5 37 33,3 6,2

( Nguồn:Tổng hợp từ phiếu điều tra)

Một số yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì tại xã

Phụ nữ thường bị gán cho trách nhiệm lo việc gia đình và con cái, làm hạn chế khả năng sáng tạo và cống hiến của họ cho xã hội Những hủ tục lạc hậu và quan niệm trọng nam khinh nữ đã tạo ra áp lực lớn lên vai người phụ nữ, khiến họ khó khăn trong việc tham gia vào các hoạt động sản xuất và chính trị Sự nặng nề của việc mang thai, sinh đẻ, và nuôi dưỡng con nhỏ đã làm giảm sự năng động và khả năng giao tiếp của phụ nữ, từ đó cản trở họ trong việc tham gia vào sự phát triển kinh tế.

4.3.2 Bản thân người phụ nữ

Một bộ phận phụ nữ Hà Nhì vẫn còn tự ti và cam chịu, chưa chủ động vượt qua khó khăn để phát triển Họ sống khép kín và hài lòng với công việc hiện tại, không dám thể hiện ý kiến trong các công việc lớn hay bày tỏ nhu cầu cá nhân Tư tưởng này hạn chế khả năng phát triển của họ, ảnh hưởng đến sự đóng góp của phụ nữ trong gia đình và xã hội.

4.3.3 Sức khỏe, tiếp cận thông tin

Phụ nữ thường phải đảm nhận nhiều công việc hơn nam giới, mặc dù họ có thể yếu hơn về thể chất Dù nhận được sự hỗ trợ từ chồng, vẫn cần có thêm sự chia sẻ và tạo điều kiện để phụ nữ tham gia các hoạt động cộng đồng Điều này giúp họ tiếp cận thông tin, kiến thức và mở rộng cơ hội giao tiếp xã hội.

4.3.4 Trình độ dân trí thấp, nhận thức hạn chế

Trình độ dân trí và nhận thức của nam giới và phụ nữ trong các hộ gia đình hiện nay còn thấp, với nhiều cặp vợ chồng chưa hoàn thành cấp hai, thậm chí một số chưa được đến trường Dù có những người chồng tốt nghiệp THCS hoặc THPT, nhưng do thiếu tiếp xúc xã hội, họ vẫn có nhận thức hạn chế Điều này dẫn đến việc tiếp nhận các vấn đề về giới và bình đẳng giới không đúng cách, cũng như thiếu sự chia sẻ công việc giữa hai giới.

Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì tại xã Chung Chải

4.4.1 Đẩy lùi quan niệm xã hội

Cần xóa bỏ tư tưởng "Trọng nam khinh nữ" trong xã hội Việt Nam, đặc biệt là trong gia đình dân tộc người Hà Nhì ở xã Chung Chải Việc giảm thiểu sự đề cao các quan niệm xã hội về vai trò của phụ nữ là rất cần thiết.

Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình là nền tảng quan trọng để đạt được bình đẳng giới trong xã hội Điều này không chỉ giúp hình thành những công dân tốt với đầy đủ phẩm chất và tài năng, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Bình đẳng giới trong gia đình chỉ đạt được khi phụ nữ chủ động vươn lên và khẳng định mình, trong khi nam giới cần chia sẻ, hỗ trợ và khuyến khích sự phát triển của phụ nữ Để chấm dứt bất bình đẳng giới, việc nâng cao chất lượng giáo dục và tuyên truyền về giới cho cả nam và nữ là điều thiết yếu.

4.4.2 Đối với phụ nữ dân tộc Hà Nhì

Người phụ nữ cần trở nên quyết đoán hơn trong việc đưa ra quyết định cho gia đình và cộng đồng, không để nỗi sợ hãi hay định kiến giới hạn khả năng của mình.

Người phụ nữ dân tộc Hà Nhì không chỉ đảm nhiệm vai trò chăm sóc gia đình mà còn cần ra ngoài xã hội để học hỏi và nâng cao kiến thức, kỹ năng sống Điều này giúp họ không bị thụ động và duy trì tiếng nói trong gia đình.

Để tự tin khẳng định bản thân, mỗi người cần nỗ lực học tập và nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp Việc trang bị tri thức, phát triển năng lực, cùng với sự năng động và sáng tạo là rất quan trọng Bên cạnh đó, lối sống văn hóa và lòng nhân đạo cũng góp phần tạo nên một cá nhân hoàn thiện.

4.4.3 Nâng cao sức khỏe, khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ dân tộc

Cần tăng cường tuyên truyền về kế hoạch hóa gia đình và khuyến khích mô hình “gia đình ít con” để giảm tỷ lệ tăng dân số, đồng thời bảo vệ sức khỏe phụ nữ và nâng cao chất lượng nuôi dạy con cái Để đạt được điều này, cần phát huy sức mạnh cộng đồng thông qua việc cung cấp đầy đủ dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, đặc biệt là triển khai các biện pháp đình sản và triệt sản, đồng thời khẳng định rằng việc sử dụng biện pháp tránh thai không chỉ là trách nhiệm của phụ nữ.

Cần nâng cấp và đa dạng hóa các dịch vụ của trạm xá để đảm bảo chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho những người yếu thế trong cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ Việc này sẽ giúp phụ nữ dễ dàng tiếp cận và hòa nhập vào các hoạt động cộng đồng, cũng như nắm bắt thông tin hữu ích từ xã hội Hàng tháng, cần phát thông tin về chăm sóc sức khỏe trên các phương tiện thông tin địa phương.

4.4.4 Nâng cao trình độ học vấn và nhận thức về bình đẳng giới cho các gia đình người dân tộc Hà Nhì

Để nâng cao trình độ học vấn và nhận thức về bình đẳng giới trong cộng đồng dân tộc Hà Nhì, cần đẩy mạnh tuyên truyền về giáo dục và các chính sách liên quan Việc cung cấp thông tin chính xác và kịp thời sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về vai trò của giáo dục phổ thông trong cuộc sống và tương lai của con em họ Do hạn chế về nhận thức và bất đồng ngôn ngữ, quá trình thay đổi sẽ cần thời gian, vì vậy việc tuyên truyền và cung cấp thông tin là rất quan trọng.

Khuyến khích phụ nữ và nam giới tham gia các lớp phổ cập và đào tạo nghề tại địa phương nhằm nâng cao nhận thức và trình độ văn hóa, chuyên môn Điều này sẽ giúp họ có cơ sở vững chắc để đưa ra và thực hiện các quyết định trong cuộc sống.

Ngày đăng: 17/05/2021, 20:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh - Lê Ngọc Hùng (1996), “Phụ nữ giới và phát triển”, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1996
2. Lò Ngọc Ánh (2015),“Đánh giá vai trò của phụ nữ dân tộc miền núi trong phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên, trường đại học Nông Lâm, tr96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá vai trò của phụ nữ dân tộc miền núi trong phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
Tác giả: Lò Ngọc Ánh
Nhà XB: Đại học Thái Nguyên
Năm: 2015
3. Nông Quốc Bình (2008), “Suy nghĩ về bình đẳng giới”, Tạp chí Luật học, số 3/2008, tr3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về bình đẳng giới
Tác giả: Nông Quốc Bình
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2008
4. Dự án VN M8 PO6, 2012. “CEADAW và bình đẳng giới ở Việt Nam, tài liệu tập huấn về CEADAW” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án VN M8 PO6, 2012. "“CEADAW và bình đẳng giới ở Việt Nam, tài liệu tập huấn về CEADAW
5. Trần Thị Minh Đức (2006), “Định kiến và phân biệt đối xử theo giới: lý thuyết và thực tiễn”, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định kiến và phân biệt đối xử theo giới: lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2006
6. Nguyễn Thị Hà (2012), “Quan hệ giới trong gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học”, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giới trong gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2012
7. Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2000),“Xã hội học về giới và phát triển”, NXB Đại hội Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học về giới và phát triển
Tác giả: Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: NXB Đại hội Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
8. Nguyễn Linh Khiếu (2003), “Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
9. Lê Thị Chiêu Nghi (2001), “Giới và dự án phát triển” NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và dự án phát triển
Tác giả: Lê Thị Chiêu Nghi
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
10. Quốc hội (2005) “Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11”, điều 106: “Hộ gia đình”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
11. Quốc hội (2006) “Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11”, khoản 2, điều 18: “Bình đẳng giới trong gia đình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2006
12. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), “Hiến pháp năm 2013”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hiến pháp năm 2013”
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
13. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), “Luật bình đẳng giới”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luật bình đẳng giới”
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
14. Trịnh Quốc Tuấn, Đỗ Thị Thạch (2008), “Khoa học giới – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học giới – những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trịnh Quốc Tuấn, Đỗ Thị Thạch
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
15. Nguyễn Lệ Thu (2017), “Bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hà Nội, tr141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Lệ Thu
Năm: 2017
16. Trung tâm từ điển học (2006), “Từ điển Tiếng Việt”, NXB Đà Nẵng II.Tài liệu trích dẫn từ internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Trung tâm từ điển học
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w