Luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
PHẠM THỊ THANH HẢI
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NHÂN GIỐNG
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ ðỐI VỚI HOA XÔN (SALVIA SPLENDENS) TRỒNG THẢM TẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ QUANG SÁNG
HÀ NỘI - 2009
Trang 2LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn
ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thanh Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lời cám ơn chân thành ñến PGS.TS Vũ Quang Sáng
ñã tận tình hướng dẫn ñể hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn sự tạo ñiều kiện giúp ñỡ của Ban Giám ðốc và tập thể cán
bộ công nhân viên Công ty Cổ phần Thương mại Công nghệ Bình Minh trong thời gian tiến hành thí nghiệm
Xin cảm ơn sự giúp ñỡ quý báu của tập thể các thầy cô Khoa sau ñại học, Bộ môn Rau Hoa Quả - Khoa Nông Học - Trường ðại học Nông nghiệp
Hà Nội và các bạn bè ñã tạo mọi ñiều kiện thuận lợi ñể tác giả hoàn thành luận văn này
Luận văn có sự ñộng viên, ñóng góp của thân nhân và gia ñình tác giả Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 8 năm 2009
Tác giả
Phạm Thị Thanh Hải
Trang 42.1 Nguồn gốc, vị trí, phân loại, ñặc ñiểm thực vật học, giá trị kinh tế
2.2 Tình hình sản xuất và phát triển cây hoa trồng thảm trên thế giới và
2.3 Tình hình nghiên cứu hoa trồng thảm trên thế giới và ở Việt Nam 10
Trang 54 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa
4.1.2 Thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số lá trên cây con của các giống
4.1.4 Thời gian sinh trưởng qua từng thời kỳ của các giống hoa Salvia tại
4.1.8 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các giống hoa Salvia khác nhau 57
4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá khác nhau ñến sinh trưởng,
phát triển và chất lượng giống hoa Salvia ñỏ ñậm trồng thảm 62 4.2.1 Ảnh hưởng của phân bón lá khác nhau ñến ñộng thái tăng trưởng
4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá khác nhau ñến ñộng thái ra lá của giống
4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến sự tăng trưởng ñường kính thân của
4.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá tới thời gian qua các giai ñoạn sinh trưởng
4.2.5 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến khả năng phân cành của giống Salvia
4.2.6 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến chất lượng hoa của giống hoa Salvia
Trang 64.2.7 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến tỷ lệ hoa thương phẩm của cây hoa
4.2.8 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá trên cây hoa Salvia ựỏ
4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm ra rễ ựến khả năng ra
rễ của cành giâm giống Salvia ựỏ ựậm vụ đông Xuân 2008 78 4.3.1 Nghiên cứu thời gian ra rễ và tỷ lệ ra rễ của cành giâm giống hoa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1: Tình hình phân bố diện tích sản xuất hoa tại Hà Nội 30 4.1 Thời gian mọc và tỷ lệ nảy mầm của các giống hoa Salvia 42 4.2 Thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số lá trên cây con của các
4.4 Thời gian sinh trưởng của các giống hoa Salvia qua từng thời kỳ
4.5 Một số ñặc ñiểm sinh trưởng của các giống hoa Salvia 51
4.7 Một số thành phần sâu bệnh hại trên các giống hoa Salvia 55 4.8 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các giống hoa Salvia khác
4.9 Một số ñặc ñiểm thực vật học của các giống hoa Salvia 60 4.10 Ảnh hưởng của phân bón lá khác nhau ñến ñộng thái tăng trưởng
4.11 Ảnh hưởng của phân bón lá khác nhau ñến ñộng thái ra lá của
4.12 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến sự tăng trưởng ñường kính thân
4.13 Ảnh hưởng của phân bón lá tới thời gian qua các giai ñoạn sinh
4.14 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến khả năng phân cành của cây hoa
4.15 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến chất lượng hoa của giống hoa
Trang 94.16 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến tỷ lệ hoa thương phẩm của cây
4.17 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến hiệu quả kinh tế của cây hoa
4.18 Ảnh hưởng của chế phẩm ra rễ ñến khả năng ra rễ của cành giâm
4.19 Ảnh hưởng của chế phẩm ra rễ ñến chất lượng rễ trên cành giâm
Trang 10
DANH MỤC CÁC HÌNH
4.2 Một số ñặc ñiểm sinh trưởng của các giống hoa Salvia 51 4.3 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các giống hoa Salvia 58 4.4 Ảnh hưởng của phân bón lá khác nhau ñến ñộng thái tăng trưởng
4.5 Ảnh hưởng của phân bón lá khác nhau ñến ñộng thái ra lá của
4.6 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến sự tăng trưởng ñường kính thân
4.7 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến tỷ lệ hoa thương phẩm của cây
4.8 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến hiệu quả kinh tế của cây hoa
4.9 Ảnh hưởng của chế phẩm ra rễ ñến khả năng ra rễ của cành giâm
Trang 111 MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn ñề
Hoa là một sản phẩm ñặc biệt, vừa mang giá trị tinh thần vừa mang giá trị kinh tế Mỗi loài hoa ñều gắn liền với tình cảm của con người và nó mang sắc thái riêng của từng vùng, từng dân tộc khác nhau Xã hội càng phát triển nhu cầu về hoa càng tăng
Việt Nam có ñiều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi ñể có thể trồng ñược nhiều loại hoa và cây cảnh Sản phẩm hoa và cây cảnh có vai trò quan trọng trong cuộc sống khi thu nhập và nhu cầu thẩm mỹ của người dân ngày càng cao Thị trường trong nước rộng lớn và phong phú, bên cạnh ñó tiềm năng xuất khẩu cũng ñầy hứa hẹn, hoa và cây cảnh Việt Nam nếu ñược tổ chức tốt từ khâu sản xuất, quảng bá ñến tiêu thụ sẽ tạo tiềm lực kinh tế lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình chuyển ñổi cơ cấu cây trồng Thực tế những năm gần ñây diện tích và sản lượng hoa ở Việt Nam
ñã tăng lên nhanh chóng, các sản phẩm hoa trồng thảm, trồng chậu cũng gia tăng, ñóng một vai trò quan trọng ñối với môi trường cảnh quan và là một phần không thể thiếu ñược trong trang trí vườn cảnh công viên, các trục ñường giao thông, các công trình kiến trúc hiện ñại
Theo số liệu ñặt hàng năm 2009 của các ñơn vị khối cây xanh với Liên ngành Thành phố, hiện nay toàn Thành phố Hà Nội có gần 300 ha công viên trong ñó khoảng 20 ha là diện tích các bồn hoa và hàng trăm nghìn Kilômet ñường phố cần trang trí hoa quanh năm do vậy khối lượng hoa trồng thảm, trồng chậu mà thị trường ñang cần là rất lớn Tuy nhiên, hiện nay thị trường hoa trồng thảm, trồng chậu của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng rất ñơn ñiệu về chủng loại, chất lượng thì trôi nổi Một số giống hiện ñang trưng
Trang 12bày có một số nhược ñiểm như: thân cao dễ bị gãy ñổ trong mùa mưa bão, thời gian duy trì ngắn, màu sắc ñơn ñiệu …
ðể nghiên cứu về hoa trồng thảm trước hết phải ñịnh nghĩa ñược hoa thảm, phân biệt ñược sự khác nhau giữa hoa thảm và hoa cắt cành, ñưa ra ñược tiêu chuẩn chọn hoa thảm:
Thứ nhất: ñịnh nghĩa hoa trồng thảm, trồng chậu là những cây hoa thân thảo hoặc thân gỗ có chiều cao dưới 1 mét, sống theo mùa trong năm hoặc 2 ñến 3 năm Màu sắc của hoa ña dạng, tạo nên những mảng màu rực rỡ, chúng thường ñược trồng trong các công viên, mảng vườn trong các biệt thự, phối kết tạo thành cảnh ở tầng thấp, ngoài ra chúng còn có thể trồng ñược trong bồn, chậu ñể trang trí Các loại hoa trồng thảm ñược dùng ñể bày xếp, phối kết trang trí trong công viên, các loại công trình kiến trúc, ñường quốc lộ …
và thường ñược áp dụng nhiều trong việc quy hoạch, xây dựng ñô thị [20]
Thứ hai: sự khác nhau cơ bản giữa hoa trồng thảm, trồng chậu với hoa cắt cành là: hoa cắt cành chỉ sử dụng một phần của cây hoa (ñó chính là cành hoa) ñể trang trí còn hoa thảm, hoa chậu là dùng toàn bộ cây hoa ñể trang trí
Và môi trường sống của hoa cắt cành trong thời gian trang trí là nước và các dung dịch dinh dưỡng còn với hoa thảm, hoa chậu thì môi trường sống trong thời gian trang trí của chúng là ñất và các giá thể phối trộn
Thứ ba: tiêu chuẩn chọn hoa trồng thảm cho miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng: Với khí hậu một năm có bốn mùa rõ rệt, kèm theo ñó là khí hậu
ẩm thấp, mưa phùn và cả những trận giông bão diễn ra hàng năm nên cây trồng thường xuyên bị các loài sâu bệnh xâm hại và các trận mưa bão tấn công Cộng thêm vào ñó hoa trồng thảm là các loài hoa trang trí ngoài trời (trong công viên, ngoài giải phân cách giao thông) nên tiêu chuẩn chọn hoa trồng thảm là thấp cây, thân khoẻ, khả năng chống chịu tốt, hoa phải lộ rõ trên mặt tán, ñộ bền tự nhiên cao ðặc biệt hoa trồng thảm cần phải thường xuyên
Trang 13thay ñổi các mẫu giống cho phù hợp với thị hiếu, cảnh quan môi trường và cũng nhằm khắc phục hiện tượng thoái hoá của các giống cũ Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên thì biện pháp tuyển chọn giống, nhân giống cũng như trồng và chăm sóc hoa trồng thảm nhằm ñáp ứng ñược yêu cầu trang trí là việc làm hết sức cần thiết ðặc biệt là ñể phục vụ việc trưng bày trên các tuyến phố, công viên, vườn hoa trong các dịp lễ tết của Thành phố nhất là phục vụ chương trình nghìn năm Thăng Long – Hà Nội (năm 2010), chúng tôi
tiến hành ñề tài: “Khả năng sinh trưởng phát triển, nhân giống và ảnh hưởng của phân bón lá ñối với hoa X ôn (hoa Salvia splendens ) trồng thảm tại Hà Nội”
1.2 Mục ñích và yêu cầu của ñề tài
1.2.1 Mục ñích của ñề tài
Tìm hiểu khả năng sinh trưởng, phát triển của hoa Salvia trong ñiều kiện thời tiết, khí hậu của Hà Nội Tìm ra loại chế phẩm ra rễ phù hợp với cành giâm Salvia và xác ñịnh ñược ảnh hưởng của phân bón lá tới hiệu quả sản xuất hoa Salvia Trên cơ sở ñó góp phần hoàn thiện quy trình trồng và chăm sóc hoa trồng thảm tại Hà Nội
1.2.2 Yêu cầu của ñề tài
- Tìm hiểu ñặc ñiểm sinh trưởng, phát triển của hoa Salvia ñể xác ñịnh ñược giống hoa Salvia tốt, phù hợp cho việc trồng hoa tạo thảm tại Hà Nội
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón lá ñến hiệu quả sản xuất hoa Salvia ñỏ ñậm trồng tại Hà Nội, từ ñó xác ñịnh ñược phân bón lá phù hợp nhất
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm ra rễ ñến khả năng ra rễ của cành giâm giống hoa Salvia ñỏ ñậm
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài:
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của ñề tài
- Kết quả nghiên cứu của ñề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về cây
Trang 14hoa Salvia, khả năng nhân giống bằng giâm cành và ảnh hưởng của phân bón lá ñến sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa Salvia trồng thảm tại Hà Nội
- Kết quả nghiên cứu của ñề tài là tài liệu tham khảo quan trọng phục
vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu về hoa trồng thảm trong các thành phố, công viên
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của ñề tài góp phần vào việc tuyển chọn các giống hoa Salvia trồng thảm trong thành phố cũng như tìm ra ñược một số biện pháp kỹ thuật tác ñộng tốt ñến hiệu quả sản xuất hoa Salvia trồng thảm,
từ ñó góp phần xây dựng quy trình sản xuất hoa Salvia
Trang 152 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc, vị trắ, phân loại, ựặc ựiểm thực vật học, giá trị kinh tế
và giá trị sử dụng của giống hoa Salvia splendens
2.1.1 Nguồn gốc, vị trắ, phân loại
Cây hoa Salvia splendens có nguồn gốc từ Brazin Nam Mỹ [40], thuộc
họ hoa môi Lamiaceae ựược nhập trồng tại các công viên, vườn hoa ở khắp các nơi trên thế giới trong ựó có Việt Nam Trong thực tế Salvia splendens có nhiều tên gọi khác nhau như hoa Diễn, hoa Sô, hoa Xôn, hoa Xác Pháo, hoa hồng chân tường, hoa hồng xác pháo Hoa thắch hợp trồng vào vụ Thu đông
và đông Xuân ựược trồng theo luống, trồng bồn hay trồng chậu làm ựẹp môi trường với rất nhiều màu sắc khác nhau như trắng, ựỏ, xanh, hồng, vàng Cây dễ trồng, chịu ựược nắng và khắ hậu ẩm mát, càng ựầy ựủ ánh sáng hoa càng rực rỡ và bền lâu; là loại cây trồng có thể nhân giống từ hạt hoặc từ ựoạn thân cành [41] Tại Việt Nam hiện tại hoa màu ựỏ ựang ựược ưa chuộng nhất, chúng ựược trồng rộng rãi ở các vườn cảnh, hoa viên làm ựẹp cho cảnh quan môi trường
2.1.2 đặc ựiểm thực vật học
+ Thân:
Theo Võ Văn Chi (2004) [1], Salvia splendens là loại cây bụi sống lâu năm, cây mọc thành bụi hoá gỗ ở gốc Cây cao từ 20 cm ựến 1m, thân vuông, phân nhánh, gần như nhẵn
+ Lá:
Lá có phiến to vào khoảng 6 Ờ 8 x 3 Ờ 5 cm, không lông, ựáy tròn hay hơi hình tim, gân phụ 4 cặp nổi rõ ở mặt dưới lá, cuống dài 1 Ờ 1,5cm [5] Mép lá xẻ răng cưa ựều, cả hai mặt lá ựều nhẵn
Trang 16Quả bế 4 dài khoảng 4 mm [5]
2.1.3 ðặc ñiểm sinh thái học
+ Nhiệt ñộ:
Nhiệt ñộ thích hợp cho nảy mầm là 15 – 200C
Nhiệt ñộ thích hợp cho sinh trưởng là 20 – 300C
+ Thời gian sinh trưởng và phát triển:
Hạt giống ñược gieo trong khay, phủ lên trên một lớp ñất khoảng 0,2
cm, sau 10 ñến 15 ngày có thể nảy mần, khi cây mọc ñược 4 – 5 lá thì ñem ra trồng vào chậu hoặc trồng hoa theo luống, khoảng cách giữa các cây là 30 cm
+ ðiều kiện thích nghi:
Ưa ñất phù sa, ñất thịt, ưa sáng và ưa ẩm Thích hợp trên ñất thoát nước tốt và trong ñiều kiện có ánh sáng mặt trời có thể sớm nở hoa
Các ñiều kiện chăm sóc khác chỉ cần ở mức tối thiểu, ñặc biệt là phân ñạm, không nên bón quá nhiều ñể tránh cây phát triển chiều cao mà lâu nở hoa [43]
2.1.4 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng
Với ñặc ñiểm màu sắc tươi sáng, phong phú, ña dạng với ñủ các loại màu như ñỏ, vàng, trắng, xanh, tím, Hoa bền, ít sâu bệnh, trục hoa tương ñối dài, trên một trục hoa có thể có một màu hoặc nhiều màu xen kẽ nên
Trang 17Salvia splendens thích hợp cho việc trồng thảm, trồng bồn trang trí tại các công viên, vườn hoa hay các trục ñường giao thông Ngoài ra, Salvia splendens cũng có thể trồng trong chậu ñể trang trí trong nhà vào dịp Tết Nguyên ñán
ðến bất cứ một công sở, một nơi vui chơi hay ngoài phố, chúng ta sẽ gặp các loài hoa trang trí, chúng khoe sắc rực rỡ dọc hành lang, lối ñi, hay trong một khuôn viên, vườn cảnh Các loài hoa này thường xuyên ñược chăm sóc và thay ñổi theo từng mùa trong năm và Salvia splendens góp phần không nhỏ cùng các giống hoa khác trong việc làm ñẹp cảnh quan chung
Công viên cây xanh, hoa và cây cảnh còn góp phần lọc sạch bầu không khí ñang bị ô nhiễm và có khả năng sinh ra các loại phitonxit tiêu diệt các loại nấm bệnh và vi khuẩn trong không khí (thông, tùng, bách tán) Ban ngày cây xanh làm giảm lượng cacbonic và tăng lượng ôxy trong không khí, có lợi cho sức khoẻ con người Cây xanh có tác dụng ñiều hoà không khí do có khả năng làm giảm nhiệt ñộ trong môi trường, tạo gió cục bộ trong các rừng cây [8]
Salvia splendens nói riêng và hoa trồng thảm nói chung góp phần không nhỏ vào việc xây dựng những mảng xanh, bồn hoa, khu công viên công cộng nhằm tái hồi sức lao ñộng của con người và làm giảm ô nhiễm môi trường
2.2 Tình hình sản xuất và phát triển cây hoa trồng thảm trên thế giới
và ở Việt Nam
Văn hoá chơi hoa ñã tồn tại từ rất lâu ở châu Âu Người châu Âu vẫn thường dùng hoa làm quà tặng, dùng trong các dịp lễ tết hay trang trí nhà, công sở và nhà hàng mỗi ngày Bắt ñầu từ những nhà phân phối truyền thống, những khu chợ chuyên về hoa của khu vực, dần dần khi hệ thống giao thông trở nên thuận tiện hơn, ngành công nghiệp hoa cây cảnh của châu Âu ñược
mở rộng và có tầm ảnh hưởng lớn tới các khu vực khác trên thế giới
Trang 18ðến những năm 1970, ảnh hưởng của ngành trồng hoa tại châu Âu ñã vượt ra khỏi khu vực Nhờ những thành công trong khâu phân phối và quảng
bá sản phẩm của các sàn ñấu giá hoa Hà Lan, Hoa Kỳ ñã trở thành thị trường tiêu thụ lớn sản phẩm hoa của châu Âu Tiếp sau các sản phẩm hoa của Hoa
Kỳ, các nhà sản xuất và kinh doanh hoa từ châu Mỹ ñã ñầu tư rất nhiều thời gian và công sức ñể giành thị phần tại thị trường rộng lớn này Các sàn ñấu giá hoa Hà Lan ñang bị cạnh tranh bởi hoa của Israel, lại phải ñối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của Mỹ và khu vực Nam Mỹ
Trước tình hình ñó, vào những năm 1980, các nhà trồng hoa ở châu Âu chuyển sang tìm kiếm cơ hội ở các nước châu Á và ñến năm 1985, họ bắt ñầu
mở rộng thị trường ở khu vực này Sang những năm 1990, nhiều quốc gia châu Á khác cũng bắt ñầu nhập khẩu hoa của châu Âu Các nhà sản xuất và cung cấp hoa của Israel cũng ñã tìm kiếm cơ hội thị trường tại châu Á Tuy nhiên, họ vẫn chậm hơn các nhà sản xuất và cung cấp của châu Âu
Về phía các nước châu Á, ban ñầu, châu Á trồng hoa chủ yếu với mục ñích xuất khẩu chứ không chú ý tới thị trường trong nước Trong khi ñó, thị trường nội ñịa lại rất tiềm năng bởi nhu cầu tiêu thụ hoa của châu Á sẽ tăng mạnh trong thời gian tới khi mức sống của người dân ñược cải thiện Tiềm năng sản xuất và các yếu tố hỗ trợ như công nghệ, ñặc biệt là công nghệ lai tạo giống, ñiều kiện khí hậu, sự ña dạng của thảm thực vật sẽ tạo ñiều kiện cho ngành hoa châu Á phát triển rất mạnh
Liên minh châu Âu là thị trường tiêu thụ trên 50% lượng hoa thế giới ðây là khu vực có nhiều quốc gia với mức tiêu thụ hoa bình quân ñầu người tương ñối cao Trong ñó, ðức là quốc gia tiêu thụ hoa lớn nhất khu vực này,
kế ñến là Anh, Pháp và Italia [40]
Theo báo cáo ñiều tra thị trường hoa và sản phẩm hoa trang trí của CPI (Center for the Promotion of Importfron developing countries) ñược công bố
Trang 19vào cuối năm 2006 (phần 1) về thị trường hoa cắt cành và hoa trang trắ tại châu Âu Cho ựến nay Hà Lan vẫn là nước sản xuất hoa chắnh của EU, kế ựến
là Italia đức là nước nhập khẩu hoa lớn nhất của khu vực châu Âu Tuy nhiên, thời gian qua, nhập khẩu hoa của nước này giảm ựáng kể chỉ còn bằng với lượng hoa nhập khẩu của Anh Từ năm 2001 ựến năm 2005, tỷ lệ hoa nhập khẩu từ các nước ựang phát triển trong tổng lượng hoa cắt cành nhập khẩu của EU tăng từ 18,2% ựến 19,6% [22]
Trong các nước châu Á, Nhật Bản là nước dẫn ựầu về áp dụng thành tựu khoa học tiên tiến ựể tạo ra các giống hoa cây cảnh có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, trong những năm gần ựây nhu cầu nhập khẩu hoa của Nhật Bản ựang ngày càng tăng Năm 2002 Nhật chỉ nhập khẩu khoảng 10,6% tổng nhu cầu tiêu thụ hoa trong nước, nhưng sang ựến năm 2003 con số này ựã tăng lên mức 11,4%, năm 2004 ựạt tỷ lệ 12,9% [21] Xu hướng này chứng tỏ hoa nhập khẩu ựang ngày càng chiếm ưu thế trên thị trường Nhật Bản Hiện nay, Hà Lan là nước chiếm thị phần hoa nhập khẩu lớn nhất của Nhật Hoa Hà Lan xuất sang thị trường Nhật chủ yếu gồm: hoa hồng, hoa loa kèn, Feesia cùng các loại hạt và củ hoa tulắp Trong khi ựó, Thái Lan là thị trường chủ yếu cung cấp hoa phong lan, đài Loan cung cấp hoa cúc Các loại cành, lá phục vụ cho việc trang trắ và bó hoa tại Nhật Bản phần nhiều do Trung Quốc xuất sang
Ngành công nghiệp hoa ựang là một trong những ưu tiên hàng ựầu của Trung Quốc Hai năm trước (năm 2006), Chủ tịch Hồ Cẩm đào ựã ựến Vân Nam ựể kêu gọi phát triển lĩnh vực xuất khẩu hoa Thủ tướng Ôn Gia Bảo và người tiền nhiệm của ông, nguyên Thủ tướng Chu Dung Cơ, cũng ựã rất quan tâm ựến việc phát triển các khu nhà kắnh ựể trồng hoa ở Vân Nam Chắnh phủ Trung Quốc hiện ựang cung cấp các khoản vay miễn phắ dành cho việc xây dựng các khu nhà kắnh ựể trồng hoa ở tỉnh này
Chắnh phủ Trung Quốc ựã ựầu tư nhiều vào ngành công nghiệp hoa
Số tiền mà Chắnh phủ Trung Quốc ựầu tư vào cơ sở hạ tầng ở khu vực Tây
Trang 20Nam ựã lên tới 200 triệu USD ỘKế hoạch của chúng tôi là trở thành nước trồng và xuất khẩu hoa lớn nhất ở khu vực châu Á trong vòng 10 ựến 15 năm nữa và thậm chắ có thể vượt Hà Lan ựể trở thành nước trồng và xuất khẩu hoa lớn nhất thế giớiỢ - Phó chủ tịch Hiệp hội Hoa của tỉnh Vân Nam - Ông
Li Gang, cho biết [23] Tiếp sau Trung Quốc phải kể ựến đài Loan, với tập ựoàn đa, Si phong phú và các giống hoa trồng thảm ựược tuyển chọn hàng năm phục vụ cho nhu cầu trang trắ vườn cảnh, công viên Hạt giống hoa của đài Loan như Vinca, Verbena, Cinneraria, SalviaẦ là những mặt hàng ựang ựược tiêu thụ mạnh trên thế giới Với nhiều ưu thế về ựiều kiện kinh tế, xã hội cũng như ựiều kiện thời tiết ựịa lý, đài Loan ựang phấn ựấu trở thành Hà Lan thứ 2 ở châu Á
Với khắ hậu và thổ nhưỡng thuận lợi ựể cỏ thể trồng ựược nhiều loại hoa và cây cảnh, hiện Việt Nam ựang sở hữu một nguồn tài nguyên hoa rất ựa dạng, từ các loài hoa xứ nhiệt ựới ựược trồng ở các vùng ựồng bằng ựến các loài hoa xứ lạnh trồng trên các cao nguyên như Lâm đồng, Pleiku và vùng núi như Sapa, Hoàng Liên SơnẦ Sự phát triển của ngành hoa Việt Nam trong thời gian này ựã mang lại cho các sản phẩm hoa của Việt Nam sự ựa dạng và chất lượng vượt bậc so với thời gian trước
Như vậy, dễ dàng nhận thấy cả thế giới ựang rất quan tâm ựến việc sản xuất, phát triển các giống hoa cây cảnh nói chung và hoa trồng thảm, hoa trang trắ nói riêng
2.3 Tình hình nghiên cứu hoa trồng thảm trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu hoa trồng thảm trên thế giới
* Những nghiên cứu về chọn tạo giống:
Từ năm 1975 Florist De Kwakel B.V ựã tiến hành chọn lọc tạo giống
và nhân giống hoa ựồng tiền cho sản xuất hoa cắt cành tại Hà Lan Tiếp theo
Trang 21bà ñã chọn lọc và tạo giống hoa ñồng tiền trồng chậu Qua nhiều năm chọn tạo giống cho trồng chậu, bà ñã tạo ra rất nhiều giống hoa trồng chậu ưu thế lai F1 ñáp ứng nhu cầu thị hiếu của thị trường [27]
Tại Mondavie (Thuộc Liên Xô cũ, từ 1980 ñến 1990) các nhà chọn tạo giống ñã tạo ra và chọn lọc ñược vài nghìn dòng layơn có triển vọng, ñã triển lãm tại Mockva, Kiev, Lenirngad có 30 giống ñạt huy chương vàng, 30 giống ñạt huy chương bạc, 52 giống ñược cấp bằng sáng chế, trong ñó có 17 giống
có hương thơm [32]
Năm 1997, tác giả Achal.S ñã có kết luận: các ñặc tính về sinh trưởng, phát triển, năng xuất, chất lượng của 10 giống layơn nhập nội ñã ñược khẳng ñịnh tốt hơn, nếu khi trồng trong ñiều kiện khí hậu ôn ñới [24]
Yulian và các cộng sự ñã nghiên cứu mối quan hệ giữa sự phân thuỳ ở
lá và sự ra hoa của cây cúc (C.coronarium) ở miền Nam Nhật Bản ñã kết luận rằng có thể phân loại giống hoa dựa trên sự phân thuỳ của lá thành các loại như xẻ lá chét lông chim nông và lông chim sâu thường là các giống ra hoa sớm, lá xẻ thuỳ thường là những giống ra hoa muộn [39]
Khi nghiên cứu về C.cinerariae folium, Singh và Rao ñã chỉ ra tương quan có ý nghĩa giữa năng suất hoa và chiều cao cây với ñường kính hoa và
số hoa trên cây ðường kính hoa tỷ lệ thuận với nồng ñộ Pyrethrin (là một loại thuốc trừ sâu sinh học có tác dụng kháng rệp) bằng phân tích ñã chỉ ra ñường kính thân, số hoa/cây, ñường kính hoa có tương quan trực tiếp ñến nồng ñộ Pyrethrin, trong khi năng suất hoa và chiều cao cây có tương quan trực tiếp ñến nồng ñộ chất này [37]
* Những nghiên cứu về nhân giống và trồng cây:
Kết quả nghiên cứu của Jiang Qing Hai cho thấy, ñể cây sinh trưởng, phát triển tốt khi phối chế các vật liệu nuôi cấy cần chú ý các ñiều kiện cơ bản bao gồm các tính chất:
Trang 22- Tính chất vật lý, chủ yếu là mức ñộ tơi xốp, thông thoáng khí, khả năng hấp thu, khả năng hút nước và ñộ dày của vật liệu
- Tính chất hoá học, chủ yếu là ñộ chua (trị số pH) và mức ñộ hút dinh dưỡng
- Tính chất kinh tế, chủ yếu là mức ñộ hữu hiệu của vật liệu nuôi cây có thể sử dụng lại, dễ lấy, tiện lợi cho việc trộn, sạch sẽ, không mùi, giá cả rẻ
Các vật liệu dùng ñể nhân giống bằng phương pháp vô tính và nuôi trồng hoa, cây cảnh thường dùng là ñất, lá mục, rác, than bùn, gạch vụn, mùn cưa, trấu, vỏ cây, sỏi … phần lớn các giá thể nuôi trồng thường phải trộn 2 - 3 vật liệu khác nhau
Sau năm 1970 diện tích nhà kính, nhà lưới có mái che ngày càng tăng Vào những năm 1967-1970 ở phía nam Kadacstan ñã chuẩn bị ñược
200 triệu cây con giống hàng năm trồng trong bầu ñể trồng ra ñồng ruộng Kết quả cho thấy: các cây này sinh trưởng, phát triển nhanh hơn so với các cây trồng từ hạt trực tiếp ngoài ñồng (do hình thành cơ quan sinh sản sớm
và cho năng suất cao) [42]
Những năm 60 của thế kỷ 20 Bộ môn Rau Quả Trường ðại học Nông nghiệp Leningrat ñã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật trồng cây giống trong túi nilon trong nhà lưới có mái che ñã ñạt ñược kết quả tốt và sau
ñó phương pháp chuẩn bị cây giống trồng trong túi nilon ñược ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp [42]
Trong “Kỹ thuật quản lý vườn ươm” khi nghiên cứu về kỹ thuật làm bầu cây con cho hầu hết các loại rau, Trung tâm nghiên cứu phát triển Rau châu Á (AVRDC) (1992) [25] ñã giới thiệu cách pha trộn giá thể gồm ñất + phân + cát + trấu hun theo tỷ lệ 5:3:1:1 Bầu có thể sử dụng lá chuối hoặc bầu nilon có ñường kính 5 - 7 cm cao 10 cm Cây trồng trong bầu có thể ñạt 100%
Trang 23tỷ lệ sống ngoài ñồng, bộ rễ phát triển, lá nhiều, hạn chế sự chột của cây sau khi cấy chuyển ra ngoài ruộng Cây trồng trong bầu có thể vận chuyển ñi xa
ðối với cùng một loại cây nhưng với thành phần giá thể khác nhau cho năng suất khác nhau: ðể gieo hạt cải bắp, cải xanh nếu thành phần giá thể gồm 3 phần mùn + 1 phần ñất ñồi + 0,3 phần phân bò và trong 1kg hỗn hợp trên cho thêm 1gN, 4gP2O5, 1gK2O thì năng suất sớm ñạt 181,7 tạ/ha Nếu thành phần giá thể gồm than bùn 3 phần + mùn 1 phần + phân bò 1 phần và l- ượng chất khoáng như trên thì năng suất sớm ñạt 170 tạ/ha Không chỉ ñối với cải bắp, cải xanh mà ñối với dưa chuột cũng thế Nếu thành phần giá thể cây con gồm 4 phần mùn + 1 phần ñất ñồi và trong 1kg hỗn hợp trên cho thêm 1g
N, 4g P2O5 và 1g K2O thì năng suất sớm ñạt 238 tạ/ha Nếu thành phần giá thể gồm 4 phần mùn + 1 phần ñất trồng thì năng suất sớm ñạt là 189 tạ/ha [42]
Chất thải hữu cơ là tiền ñề làm tăng giá trị thương mại của các loại giá thể Nhờ vào kỹ thuật, công nghệ mà làm tăng chất lượng cây và giảm thời gian sản xuất Cho thấy lợi nhuận của việc sử dụng giá thể trên vùng ñất nghèo dinh dưỡng (Hoitink và cs., 1991 [29] Hoitink và cs., 1993 [30]) Stoffella và Graetz (1996) [38]) Và làm tăng thêm lượng ñạm trong ñất (Sims, 1995 [36])
Khi so sánh phương pháp nhân giống hoa ñồng tiền bằng tách chồi với phương pháp nuôi cấy mô tế bào, Osiecki [34] ñã tiến hành trên 5 giống và kết luận: Những cây tách chồi cho hoa sớm hơn cây nuôi cấy mô từ 2 – 4 tuần, tuỳ thuộc vào từng giống
Khi nghiên cứu về nhân giống và tạo củ trong ñiều kiện in vitro với cây hoa layơn trên các giống Friendship, Her Majesty và American Beauty, tác giả Dantu.P.A.K [26] ñã cho biết: có thể sử dụng nguồn vật liệu ban ñầu là các chồi nách, gốc lá tách từ củ bảo quản lạnh và ñược nuôi cấy trên môi trường
Trang 24MS có bổ sung 0,5 mg/lít BAP, chồi sẽ ñược nhân nhiều lần sau mỗi lần cấy chuyển và kết quả chồi ñược kéo dài ra, chỉ khi BA ñược giảm ñi trong môi trường hoặc khi liều lượng BA giảm xuống 0,1 – 0,2 mg/lít Những chồi này sẵn sàng ra rễ trong ñiều kiện in vitro và có khả năng tạo củ với tỷ lệ nảy mần xuất hiện với 80% trong chậu Mức ñường Sucrose cao (6 hoặc 10%) rất thuận lợi cho tạo củ và ñường kính củ ñạt (1,0 – 5,3mm) (Dantu.P.A.K, 1994)
* Những nghiên cứu về dinh dưỡng và phân bón:
Dinh dưỡng là một trong những yếu tố tác ñộng mạnh ñến sự sinh trưởng, phát triển cây trồng nói chung và cây hoa nói riêng Việc cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho cây hoa là biện pháp hữu hiệu ñể nâng cao năng suất
và chất lượng hoa Mỗi nguyên tố dinh dưỡng có vai trò sinh lý khác nhau nhưng ñều hết sức quan trọng ñối với cây hoa
Các yếu tố ñạm, lân, kali, vi lượng, vitamin… có ý nghĩa quan trọng ñối với sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng của các giống hoa
Theo Sachs và Knop (dẫn theo Vũ Quang Sáng và cs [13]): cây trồng muốn sinh trưởng phát triển bình thường thì cần có 16 nguyên tố cơ bản là: C,
H, O, N, P, K, Ca, Mg, S, Fe, Cu, Mn, Zn, Bo, Mo, Cl Trong ñó, 7 nguyên tố
vi lượng Fe, Cu, Mn, Zn, Bo, Mo, Cl cây cần chúng với số lượng rất nhỏ; 3 nguyên tố N, P, K cây cần với một lượng lớn (các nguyên tố ña lượng); còn 3 nguyên tố trung lượng Ca, Mg, S cây cần với một lượng trung bình Ba nguyên tố C, H, O cây trồng lấy chủ yếu từ nước và không khí Các nguyên tố còn lại cây trồng phải lấy từ ñất Các nguyên tố trên dù cây cần nhiều hay ít ñều không thể thiếu trong quá trình sống của cây Trong 16 nguyên tố kể trên, nếu thiếu bất kỳ một nguyên tố nào cây trồng cũng không thể hoàn tất chu kỳ sinh trưởng, phát triển của mình Xuất phát từ những nguyên lý ñó mà nhiều nước trên thế giới nghiên cứu các phương pháp bón phân có hiệu quả Trong
ñó, phải kể ñến thành tựu về các chế phẩm phân bón qua lá ñó ñược ứng dụng
Trang 25rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp Trung Quốc là một quốc gia ựã sử dụng rộng rãi chế phẩm phân bón lá trong sản xuất nông nghiệp Sau ựây là một số chế phẩm ựược Trung Quốc sản xuất và sử dụng:
+ Penshibao:
Penshibao là chế phẩm dinh dưỡng qua lá tiên tiến nhất, ựược nghiên cứu và sản xuất tại Trung Quốc, là chất có màu nâu sẫm, không mùi, không ựộc, dễ hoà tan trong nước, không gây ô nhiễm môi trường Phun penshibao lên lá của tất cả các loại thực vật gây tác ựộng tăng cường quang hợp, kắch thắch sinh trưởng và tăng cường sức sống của thực vật, do ựó có thể tăng cao sản lượng từ 10-60%
Chỉ số kỹ thuật của Penshibao: Chất hữu cơ = 30%; Zn = 2,2%; B ≥ 1%;
N ≥ 1,1%; P ≥ 2,2%; K ≥ 3,2%; pH = 2-3; d = 1,8-1,2
Qua 12 năm thử nghiệm, Penshibao ựược sử dụng rộng rãi trong phạm
vi toàn quốc Trong vài năm gần ựây, các nước như Nhật, Mỹ, Úc, Ấn độ, Malaysia, đông Âu ựã ựược cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép cho sử dụng chế phẩm này
+ Chế phẩm hoạt hoá gen
Chất hoạt hoá gen thực vật là sản phẩm dinh dưỡng thực vật do công ty Hữu hạn phát triển khoa học kỹ thuật Ưu Thắng Ờ Trùng Khánh Ờ Trung Quốc vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật cao mới nhất ựể triển khai sản xuất
Chất hoạt hoá gen thực vật dạng bột, màu vàng nhạt, không ựộc, dễ hoà tan trong nước, không gây ô mhiễm môi trường
Chỉ tiêu kỹ thuật chắnh: Axit Humic=8%; N+P2O5+K2O=35%
Sản phẩm này ựược sử dụng ựể phun lên lá của tất cả các loại cây trồng, có tác dụng ựiều tiết trao ựổi sinh lý thực vật, thúc ựẩy thực vật cân bằng sự hấp thu dinh dưỡng, khiến cung cấp dinh dưỡng có hiệu quảẦ có thể
Trang 26nâng cao năng lực ñề kháng của thực vật, tăng sản lượng cây trồng, cải thiện phẩm chất, cho thu hoạch sớm hơn Sản phẩm này chủ yếu ñược sử dụng cho các cây lương thực, cây công nghiệp, rau quả…
Chất hoạt hoá gen có thể dùng chung với nhiều nông dược và phân bón khác làm tăng hiệu ích, lượng dung dịch ít, giá rẻ, tiện dùng, hạn dùng lâu Nó
là chế phẩm sinh học khoa học kỹ thuật cao dùng trong nông nghiệp có tính cách mạng sáng tạo hàng ñầu của thế kỷ 21, phù hợp với trào lưu sản phẩm xanh và sản xuất thực phẩm xanh
Việc phát hiện ra các chất kích thích sinh trưởng như Auxin (1880, Darwin, 1928 – Went, 1934 – Kogl), Gibberelin (1926 – Kurosawa, 1938 – Yabuta), Xytokinin (1955 – Miller, Skoog), các chất ức chế sinh trưởng như ABA (1961 – Liu, Carn, 1963 – Ohkuma, Eddicott), Ethylen, các hợp chất phenol và sử dụng các chất này làm phương tiện hoá học ñể ñiều chỉnh các quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng, ñược coi như bước ñầu sử dụng chế phẩm dinh dưỡng bón qua lá cho cây trồng [15]
Theo Gao Jun Ping (2001) [28], khi nghiên cứu ảnh hưởng của hoá chất ñến sự nảy mầm, sinh trưởng, ra hoa, năng suất và tạo củ layơn trên giống lai Psitacinus ñã cho biết các hoá chất Thiourea 1000 – 2000 ppm; Ethrel 50 –
100 ppm hoặc KN03 2000 ppm làm tăng khả năng nảy mầm của củ Hoá chất Kinetin 25 ppm cho chiều cao cây, số lá và tăng lượng củ cao hơn cả
Theo Jin Pi Zi (2000) [31], việc phối hợp một số loại phân bón có ảnh hưởng ñến sinh trưởng, ra hoa và chất lượng hoa của Layơn Các thí nghiệm phân bón ngoài ñồng ñã sử dụng phân bón Phlatoson 4D (20N:10P:15K:6Mg
- các nguyên tố khoáng, vi lượng) ở mức 0,2 kg/m2 dùng bón lót Bón thúc cùng với phân Volldunger (14N : 7P : 12K + nguyên tố khoáng) ở các mức 0,15 kg/m2 và 0,3 kg/m2, bón thúc trong 5 lần cho các giống Peter Pears, Nuvalax và Joselita Kết quả thu ñược cho thấy: khi bón Phlatoson 4D ñơn lẻ
Trang 27ñã cho số lượng hoa tự/bông lớn hơn, bông hoa dài nhất; cành hoa, ñộ tươi hoa và trọng lượng củ cao hơn so với dạng phân ñang sử dụng ngoài bón ñại trà Khi bón phối hợp Phlatoson 4D với Volldunger ở mức 0,3 kg/m2 ngoài việc nâng cao chất lượng hoa cắt, còn cho năng suất củ giống cao nhất
Năm 1992, Sanjaya L [35], khi nghiên cứu ảnh hưởng của 6 công thức
xử lý chất ñiều tiết sinh trưởng là IBA (axit indol butyric), IAA (axit indol axetic), NAA (Naphyl axetic axit), Biorota, Rootonef và ñối chứng không xử
lý, ñã chỉ ra IBA là có hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao số lượng rễ cũng như chiều dài rễ
Khi nghiên cứu hiệu quả của IBA ñến sự ra rễ của cành giâm, Nong Kran.K [33], ñã nhận thấy rằng nồng ñộ 1000 ppm khi xử lý ở các kiểu cúc chùm
và cúc ñơn cho hiệu quả tốt nhất so với các nồng ñộ 3000ppm và 8000 pm
2.3.2 Tình hình nghiên cứu hoa trồng thảm ở Việt Nam
Nghiên cứu thì hoa trồng thảm là một vấn ñề tương ñối mới chưa ñược
ñề cập sâu ðặc biệt là các nghiên cứu về giống và kỹ thuật canh tác mới chỉ dừng lại ở bước chọn lọc và trồng theo kinh nghiệm thông thường, chưa ñưa
ra ñược bộ giống hoàn chỉnh cho từng mùa vụ, chưa tìm ñược giống tối ưu trong cùng một giống cũng như chưa hoàn thiện ñược quy trình thâm canh tiên tiến
* Những nghiên cứu về chọn tạo giống:
Ở Việt Nam, nghề trồng hoa, cây cảnh ñã có từ lâu ñời, kỹ thuật sản xuất hoa, cây cảnh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống với kỹ thuật nhân giống cổ truyền, cây giống hoa, cây cảnh ñem trồng thường từ các giống gieo từ hạt, mầm, củ, nhánh [8]
Mai Xuân Lương [10], ñã nghiên cứu thành công quy trình nhân nhanh giống loa kèn trắng trên môi trường ña lượng có bổ sung các nguyên tố vi
Trang 28lượng theo Heller, vitamin theo Morel (20 g saccarose + 100 mg inositol + 10
g aga + 16 giờ chiếu sáng, chế ựộ chiếu sáng 2500 - 3000 lux)
Năm 2005, Trung tâm Hoa cây cảnh - Viện di truyền Nông nghiệp cũng
ựã tuyển chọn ựược giống cúc CN19, CN20 trồng trong vụ ựông và giống CN01 trồng trong vụ hè từ tập ựoàn hoa cúc nhập nội từ Hà Lan, Nhật Bản Hiện nay trong sản xuất các giống cúc này ựang ựược trồng rộng rãi và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất [6]
Hà Thị Thuý [17], ựã nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nhân nhanh in vitro 10 giống hoa lily nhập nội từ Mỹ (2001) Kết quả là 8 giống có chất lượng hoa tốt, gồm 2 giống lily thơm O.L Casablanca, O.L Parmount, 6 giống hoa lily thường là A.L Antaretica, A.L Malta, A.L London, A.L Rhodos, A.L Granderu, La lily My Fair Lady, có thể bổ sung vào nguồn giống lily thương mại ở Việt Nam
Trần Duy Quý [12], ựã nhập nội tập ựoàn giống lily (từ đài Loan và Hà Lan) ựể khảo nghiệm trên một số vùng sinh thái trong nước Kết quả là ựã giới thiệu ựược 10 giống rất có triển vọng phát triển ựược thị trường Trung Quốc và trong nước rất ưa chuộng đó là 6 giống Lily thơm Acapulco, Aktiva, Almaata, Serberia, Sorbone, Atlantic và 4 giống lily không thơm Brunello, Amazone, Pollyanna, Gironde
* Những nghiên cứu về nhân giống và trồng cây:
Dương Tấn Nhựt [11], ựã công bố kết quả nghiên cứu giống hoa huệ tây bằng phương pháp nuôi cấy vảy củ nhằm ựưa ra một giải pháp hữu hiệu khắc phục hiện tượng thoái hoá giống trầm trọng tại đà Lạt
Theo Dương Thiên Tước [18], ựể nhân giống cây trong vườn dùng chậu, bồn ựể giâm Dưới ựáy chậu, bồn nên lót bằng than củi ựể dễ thoát nước, bên trên dùng 4/5 bùn ao phơi khô, ựập nhỏ và 1/5 cát vàng (hoặc cát ựen) trộn pha một lớp tro bếp, mịn
Trang 29Năm 2006, tác giả Lê Xuân Tảo [16], ựã tiến hành làm thắ nghiệm ựể nghiên cứu loại giá thể thắch hợp cho một số loại hoa trồng chậu là Báo xuân, hoa Hồng tiểu muội, cúc Indo Trong ựó tác giả ựã ựưa ra kết luận, giá thể thắch hợp dùng ựể trồng cúc Indo trong chậu gồm: 1/4 trấu hun + 2/4 vụn dừa + 1/4 phân chuồng, ựồng thời tác giả cũng ựề nghị giá thể thắch hợp cho cây cúc nói chung là 2 phần ựất vườn + 1 phần phân chuồng hoai mục + 1 phần than bùn + 1 phần ựá mạt
Trần Hoài Hương (2008) [6] cho biết: Trong các biện pháp gieo hạt thì
tỉ lệ nảy mầm ở công thức đPS + mùn rác + Phủ rơm rạ + Fuzugan OH 0,15% + PBLTN 0,5% là cao nhất với 90,7%; tỉ lệ cây xuất vườn ựạt là 95,0 Ờ 96,7%; chiều cao và số lá/cây là 6,5 cm và 8,7 lá
Cũng trong năm 2008 [9], đỗ Thị Thu Lai khi nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bấm ngọn ựến chất lượng cây hoa cúc vàng Mai Kết luận: Biện pháp bấm ngọn khác nhau ảnh hưởng ựến chất lượng hoa, ở công thức bấm ngọn khi cây cao 20 cm cho chất lượng hoa cao nhất
Ở cây hoa hồng, các tác giả đặng Văn đông và cs., (2002) [3] cho biết: khi gieo hạt làm gốc ghép cho thấy vườn ươm tốt nhất là trong nhà che nilon hoặc giá thể gieo trên khay Cây gieo trên khay mọc ựều hơn, nhanh hơn và rút ngắn ựược thời gian ươm cây Khi gieo trên nền ựất ngoài trời thì phải ựưa
ra trồng sớm hơn vì sau trồng phải mất khoảng 1 tháng cây mới phục hồi sinh trưởng Với giá thể giâm cành, nó ảnh hưởng rất lớn tới khả năng ra rễ và tỷ lệ sống của cây, các tác giả ựã ựưa ra 2 công thức tốt nhất là: 30% ựất ựồi + 30% ựất phù sa + 40% trấu hun và 20% xỉ than + 40% ựất phù sa + 40% trấu hun
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội (2003) [14] bằng nghiên cứu bước ựầu, ựã ựưa ra kết quả 5 công thức phối trộn giá thể cho 5 loại cây trồng như sau: cây hồng đà Lạt: than bùn 76,5% + bèo dâu 13,5% + ựất 10%; cây cảnh: than bùn 76,5% + 6,75% trấu + 6,75% bèo dâu + 10% ựất
Trang 30; hoa giống: than bùn 45% + 22,5% trấu + 22,5% bèo dâu + 10% ñất; ớt: than bùn 67,5% + 22,5% trấu hun + 10% ñất và cà chua: 67,5% than bùn + 22,5% bèo dâu + 10% ñất
Theo kết quả ñiều tra của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (2003) [19]: Việc nghiên cứu và sử dụng giá thể cho cây con giai ñoạn vườn ươm ở Việt Nam trên nhiều ñối tượng cây trồng như: cây lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả, rau giống và rau an toàn, hoa cây cảnh.v.v Kết quả cho thấy: giá thể cho hoa và cây cảnh của công ty ðất Sạch Thành phố Hồ Chí Minh cũng
có những tính chất lý, hóa học tương ñối thích hợp ñối với cây trồng, nguyên liệu hữu cơ (xơ dừa) ñược xử lý tốt ñể phối trộn giá thể
* Những nghiên cứu về dinh dưỡng và phân bón lá:
Mục ñích của gieo, ươm cây con là thu ñược một quần thể cây giống ñồng nhất, sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh hại, ñáp ứng ñược yêu cầu của sản xuất ðất vườn ươm phải là ñất tốt giàu dinh dưỡng, tưới tiêu tốt Theo Tạ Thu Cúc và cộng sự [2] thì nên bón 3 tạ phân chuồng, 5 - 10 kg phân lân, 2 -
3 kg phân kali cho 1 sào vườn ươm (360m2)
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Lê Hữu Phan [4] qua thực tế cho biết: việc dùng
vỉ bầu trong nhà lưới có mái che, cứ 100 kg ñất than bùn thì trộn 10 kg vôi bột, 10 kg supe lân và 6 kg N - P - K con cò (13 - 8 - 12) và ủ 1 - 2 tháng rồi ñem vào vỉ ñể gieo hạt
Hoàng Minh Tấn và cs., (2006) [15] cho biết: ðạm (N) là thành phần của nguyên sinh chất tế bào, axit amin, các enzim và diệp lục ðạm làm tăng sinh trưởng và phát triển của mô sống, quyết ñịnh phẩm chất nông sản
Lân (P) là thành phần của axit nucleic, photphatit, protein, lipit, coenzim Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của quả và hạt [15]
Trang 31Kali (K) hoạt hóa các enzim có liên quan ựến quá trình quang hợp, chuyển hóa hydratcacbon và protein cũng như giúp di chuyển và duy trì sự ổn ựịnh của chúng Kali ựiều khiển quá trình sử dụng nước bằng ựóng mở khắ khổng, thúc ựẩy quá trình sử dụng ựạm dạng NH4+ và tăng khả năng chống chịu bệnh [15]
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội (2003) [14] nghiên cứu bước ựầu ựưa ra kết quả bổ sung dinh dưỡng khoáng vào giá thể cho 5 loại cây: Cây hồng đà Lạt, cây cảnh, hoa giống, ớt và cà chua là: 0,36 N + 1,04 P2O5 + 0,17 K2O
Bằng nhiều thực nghiệm khác nhau, các nhà khoa học ựã cho thấy việc phun các chất dinh dưỡng dạng hòa tan vào lá, chúng xâm nhập vào cơ thể cây xanh qua lỗ khắ khổng cả ngày và ựêm Tổng diện tắch từ bề mặt lá tiếp xúc với phân bón thường cao hơn gấp 8-10 lần diện tắch tán cây che phủ Các chất dinh dưỡng ựược vận chuyển tự do theo chiều từ trên xuống dưới với vận tốc 30cm/h, do ựó năng lực hấp thu dinh dưỡng từ lá cũng cao hơn gấp 8-10 lần so với khả năng hấp thu từ rễ Tổng lượng chất dinh dưỡng ựược hấp thu qua lá có thể lên tới 90-95% so với tổng lượng chất dinh dưỡng phun cho cây Mặc dù không hề thay thế hoàn toàn hình thức bón phân vào ựất nhưng việc bón phân qua lá luôn có hiệu suất ựồng hoá các chất dinh dưỡng cao hơn so với phân bón vào ựất
Hiện nay các chế phẩm phân bón lá trên thị trường rất phong phú, trong
ựó chủ yếu các loại phân bón lá là do các cơ sở trong nước sản xuất, chỉ có một số chế phẩm phân bón lá là do nhập từ nước ngoài Loại phân bón lá do các cơ sở trong nước sản xuất ựược chia thành hai nhóm chắnh:
+ Nhóm thêm các chất kắch thắch nhằm thúc ựẩy sinh trưởng hoặc thúc ựẩy ra hoa kết trái, giảm tỷ lệ rụng quả, thúc ựẩy quá trình chắn hoặc làm mau
ra rễ
Trang 32+ Nhóm không chứa các chất kích thích sinh trưởng mà chỉ chứa các nguyên tố khoáng, vi lượng, ña lượng ñược phối trộn theo một tỷ lệ hợp lý giúp cây sinh trưởng ổn ñịnh một cách tự nhiên
Trên thế giới, hầu như ở tất cả các nước ñều có 1 hoặc vài cơ sở sản xuất các chất ñiều hoà sinh trưởng, vi lượng, chế phẩm tăng năng suất cây trồng cho cây trồng Ví dụ như: Phylaxia của Hungari, Kiowa của Nhật Bản, Kurgan của Liên Xô cũ, Plant-power 2003 của ðức, ðặc ða Thu của Trung Quốc…Ở nước ta, từ trước ñến năm 1990 có rất ít cơ sở sản xuất, nhưng hiện nay ở cả 2 miền ñã có nhiều cơ sở sản xuất như Thiên Quý, Trang Nụng, Trường ðH Nông Nghiệp, Viện hoá học công nghiệp, Trung tâm KHTN và CNQG, Xí nghiệp liên doanh khoa học và sản xuất Fitohoocmon…
Thực tế sử dụng một số loại phân bón lá của bà con nông dân ðBSCL
ñã chứng minh:
+ Cây ñược bón phân qua lá sinh trưởng ổn ñịnh, chắc khoẻ, ít sâu bệnh, chống chịu ñược các ñiều kiện bất thuận (ngập, hạn, mặn, phèn…) và cho năng suất cao hơn ñối chứng
+ Bón phân qua lá ñáp ứng nhanh nhu cầu dinh dưỡng của cây Nếu sau một thời kỳ bị sâu bệnh hại hoặc ngập úng bón phân qua lá giúp cây mau chóng hồi phục hơn
+ Bón phân qua lá ít bị mất như qua rễ Do dùng lượng ít mà hiệu quả cao nên cuối cùng hiệu quả kinh tế/ñơn vị diện tích cao hơn bón vào ñất hoặc không bón
+ Bón phân qua lá tăng chất lượng sản phẩm như tăng ñường mía, tăng ñậu quả, ñậu hạt, chín sớm, trái ñẹp mã, tăng giá trị thương phẩm (Theo Nguyễn Văn Uyển, 1995)
Theo Trịnh An Vĩnh (1995) nếu xét khía cạnh bền vững và lành mạnh
Trang 33môi trường, thì phân vi sinh, phân sinh học hữu cơ bón lá và các phân tương
tự khác ựược khuyến khắch nghiên cứu và ựưa vào sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa lớn trong sự phát triển nền nông nghiệp bền vững Trong vấn ựề an toàn dinh dưỡng cây trồng, Vũ Cao Thái (1996) ựã nhận ựịnh phân bón qua lá là một giải pháp chiến lược an toàn dinh dưỡng cây trồng
đối với cây Lạc, Nguyễn Tấn Lê ựã sử dụng Bo và Mo ựể xử lý cho lạc trồng tại Quảng Nam - đà Nẵng làm tăng tỷ lệ nảy mầm 17,8-32,2%, năng suất trung bình 3 vụ ựông xuân tăng 6,2-11,1% so với ựối chứng (Nguyễn Tấn
Lê, 1992)
Hà Thị Thanh Bình và cs (1998) ựã phun vi lượng cho ựậu tương giai ựoạn 3, 5, 7 lá có kết quả tốt: hàm lượng diệp lục tăng, tăng chiều cao cây, tăng năng suất và chất lượng ( năng suất tăng 13,8-20,2%, Pr và L tăng so với ựối chứng)
Theo Vũ Quang Sáng phun các chế phẩm dinh dưỡng qua lá làm tăng các yếu tố cấu thành năng suất: chiều dài bắp (tăng từ 0,2cm - 1,1cm), ựường kắnh bắp (tăng từ 0,1cm - 0,3cm), số hàng hạt/bắp (tăng từ 0,53hàng - 0,87hàng), số hạt/hàng (tăng từ 0,47hạt - 2,1hạt), khối lượng 1000 hạt (tăng từ 21,39g - 37,64g), tỷ lệ khối lượng hạt/trên khối lượng bắp (tăng từ 0,03 - 0,09), số bắp hữu hiệu/cây (tăng từ 0,02 - 0,07 bắp), dẫn ựến tăng năng suất lý thuyết (tăng từ 10,7 tạ/ha Ờ 22,58 tạ/ha) và năng suất thức thu (tăng từ 7,88 tạ/ha Ờ 12,88 tạ/ha)
Theo Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch và Vũ Quang Sáng (2006) [15], ựã nghiên cứu ựể cây cúc hè có thể ra hoa vào mùa ựông bằng xử
lý GA3 nồng ựộ 20 - 25 ppm phun vào ựỉnh sinh trưởng và GA3 ở nồng ựộ 10
- 50 ppm có thể làm tăng chiều cao cây hoa cúc hoặc sử dụng CCC (Chlor Cholin Chlirid) 0,25% - 1% có tác dụng ức chế chiều cao của cúc trồng trong chậu Ngoài ra ựể loại bỏ tác ựộng xấu của Etylen tác nhân gây già hoá ở hoa
Trang 34có thể dùng AgNO3, muối Clo của các kim loại nặng như Titan, Nicken và một số chất có tác dụng ựối kháng với Etylen như Auxin, GA3 và Xytokinin
có thể ngăn cản quá trình già hoá Sử dụng dung dịch có Sacaroza và các chất
kể trên ựể cắm hoa có tác dụng ngăn cản quá trình này Sử dụng dung dịch có Sacaroza và các chất kể trên ựể cắm hoa trong thời gian 6 - 8 giờ trước khi bảo quản lạnh có tác dụng giữ màu xanh của lá và cành rất tốt, sau khi thu hoạch có thể bảo quản kho lạnh với nhiệt ựộ là 10C, thời gian giữ tối ựa từ 16 - 24 tuần Dung dịch giữ cho hoa cúc tươi lâu có thể sử dụng 50 g/l Sucrose + 600 mg/l AgNO3 hoặc 50 g/l Sucrose + 200 mg/l HQS (8-Hydroxyquinoline sulphate) và
50 g/l Sacrose + 4 mg/l Physan ựều có tác dụng kéo dài ựộ bền hoa cắt
Theo Nguyễn Mạnh Khải, Nguyễn Quang Thạch (1999) [7] và Thông tin KHKT rau hoa quả (1997), việc sử dụng các loại chế phẩm và chất kắch thắch sinh trưởng như Spray N-grow (SNG) 1%, Atonik 0,5%, GA3
50 ppm ựều có tác dụng rõ rệt tới sự sinh trưởng phát triển của cúc Vàng đài Loan Trong ựó GA3 tác ựộng mạnh ở giai ựoạn sinh trưởng dinh dưỡng, làm tăng chiều cao cây và rút ngắn thời gian sinh trưởng, nâng cao tỷ lệ hoa và kéo dài ựộ bền hoa cắt Hai loại thuốc SNG 1% và GA3 100 ppm cũng có ảnh hưởng tốt ựến sinh trưởng phát triển của cúc CN93 trong vụ đông, làm tăng
tỷ lệ nở hoa, ựặc biệt là chiều cao cây, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Vậy phân bón lá theo lý thuyết là loại phân lý tưởng trong ngành nông nghiệp vì ựộ hiệu quả cao nhất, nhưng ựòi hỏi người dùng phải có hiểu biết tối thiểu ựể thu ựược lợi ắch kinh tế cao Cần nhớ rằng phân bón lá chỉ có thể làm thỏa mãn một phần các chất dinh dưỡng (N, P, K, Ca) của cây mà thôi và không thể thay thế hoàn toàn nhu cầu về chất này ựược Vì vậy, bón lá chỉ có thể làm bình quân chất dinh dưỡng của cây, chữa trị một vài vấn ựề về bệnh sinh lý, chống chịu ựiều kiện thời tiết bất thường như hạn hánẦ, giúp cây ựơm bông, kết trái, hột mỹ món hoặc sớm muộn theo ý muốn, giúp hệ thống rễ cây hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn và cải thiện năng suất cùng chất lượng cây
Trang 352.4 Thực trạng về hoa trồng thảm tại Hà Nội
2.4.1 điều kiện tự nhiên và ựặc ựiểm khắ hậu Hà Nội tác ựộng ựến sự sinh
trưởng phát triển các giống hoa trồng thảm
điều kiện khắ hậu thời tiết tại Hà Nội trong một năm chia làm 4 mùa
là Xuân - Hạ - Thu - đông [8]
Mùa xuân từ tháng 2- 5, thời tiết ựẹp, nhiệt ựộ trung bình từ 18 -
20oC, ựộ ẩm không khắ cao rất thắch hợp cho sự sinh trưởng và phát triển các loại hoa, ựặc biệt cho sự ra rễ của cành chiết, cành giâm Tuy nhiên mùa này thường có mưa phùn, mây mù nhiều nhất trong năm nên sâu bệnh nhiều, hạt nảy mầm dễ bị thối
Mùa hè từ tháng 6 - 8, thời tiết nắng nóng, mưa nhiều, nhiệt ựộ có ngày cao lên ựến 38 - 39oC Thêm vào ựó bị ảnh hưởng của gió tây khô nóng làm cho ựộ ẩm không khắ xuống thấp tới 55 - 60%, ngoài ra Hà Nội còn phải chịu các ựợt bão, gây ra các trận mưa làm ngập úng nên ảnh hưởng rất lớn ựến
sự sinh trưởng phát triển của cây, ựặc biệt là cho việc nhân giống các loại hoa Tuy nhiên ựây lại là mùa mà Hà Nội cần rất nhiều hoa cây cảnh ựể trang trắ phục vụ cho các ngày lễ hội như 1/5, 27/7, 19/8, 2/9 nên nhu cầu về chủng loại và chất lượng hoa trong mùa này là rất lớn
Mùa thu từ tháng 9 - 11, có thể xem là mùa ựẹp nhất trong năm rất thuận lợi cho cây sinh trưởng phát triển Cây trồng, cây giâm cũng như việc gieo hạt ra rễ rất cao, nhiều loại hoa ôn ựới ựều có thể trồng ựược vào vụ này như Pansy, Cẩm chướng, Hồng, Cúc, Violet, Thược dược Tuy nhiên các giống này hiện nay có chiều cao cây lớn nên vẫn chưa ựáp ứng ựược nhu cầu trang trắ cho Hà Nội, do vậy mà việc nhập nội và tuyển chọn những giống mới
có chiều cao cây thấp, có khả năng sinh trưởng phát triển tốt ựáp ứng ựược nhu cầu trang trắ cho Hà Nội là việc làm rất cần thiết hiện nay
Trang 36Mùa ựông bắt ựầu từ tháng 12 ựến hết tháng 2 năm sau, ựây là thời gian lạnh nhất trong năm, có những ngày nhiệt ựộ có thể xuống tới 7 - 8oC, ựầu mùa không khắ lạnh và khô, ngoài ra chịu ảnh hưởng của các ựợt gió mùa đông - Bắc, cuối ựông mưa phùn ẩm ướt, ựộ ẩm cao 85 - 90% nên sâu bệnh phát triển nhiều Trong khi ựó, trong mùa có dịp tết nguyên ựán diễn ra nên nhu cầu về hoa là rất lớn nhưng vì ựiều kiện thời tiết lạnh khô và mưa phùn cây cối gặp nhiệt ựộ thấp có thể bị chết rét và rất dễ phát sinh bệnh nấm, vi khuẩn Vì vậy việc nhập nội các giống có khả năng chống chịu các ựiều kiện khắc nghiệt trong vụ ựông là việc làm trước mắt hiện nay
Như vậy ựiều kiện tự nhiên và khắ hậu thời tiết tại Hà Nội rất thuận lợi cho sự sinh trưởng phát triển của nhiều chủng loại hoa cây cảnh nói chung
và hoa trồng thảm nói riêng, bao gồm cả hoa có nguồn gốc ôn ựới và nhiệt ựới đây là cơ sở cho việc nhập nội các giống hoa mới, chất lượng cao vào
Hà Nội góp phần làm phong phú tập ựoàn các chủng loại hoa nói chung và hoa thảm nói riêng
Trang 37ựược trồng tại Bắc Kạn, Sơn La trên công nghệ của Ixrael, đài Loan và Hàn Quốc bền và ựẹp hơn hoa nhập Bên cạnh ựó, hoa trong nước bao giờ cũng
có mức giá thấp hơn nên chắc chắn sẽ chiếm ựa số thị phần
Theo nhận ựịnh của nhiều người am hiểu, hoa trồng tại một số vùng của Việt Nam không thua kém hoa ngoại nhập Trong ựó, nổi trội nhất là hoa của công ty đà Lạt Hasfam Trên thị trường hoa, nhiều loại như ựịa lan, lan
hồ ựiệp, lan tiên, tulip, phi yến, hồng Pháp, ýẦ của công ty cũng ựược bán rất chạy tại các chợ, các shop hoa, tuy nhiên giá cả khá cao Tuy vậy, trước nhu cầu tiêu thụ hoa cao cấp ngày càng lớn, số lượng công ty hoa chuyên nghiệp tại Việt Nam như vậy còn quá ắt
* Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Hà Nội:
Hà Nội là một trong các ựịa phương có nghề trồng hoa từ lâu với các làng hoa nổi tiếng Quảng An, Nhật Tân, Vĩnh Tuy và các vùng hoa mới như Tây Tựu, Thanh Trì, Lĩnh Nam, đông Anh Trong những năm ựổi mới, diện tắch hoa ựã tăng lên nhanh chóng Năm 1995 diện tắch hoa của Hà Nội là 500
ha, tăng 12.8 lần so với năm 1990 Năm 2005, diện tắch trồng hoa của Hà nội tăng lên ựến 1.600 ha, gấp 3,2 lần năm 1995, Diện tắch từ năm 1995-2005 tăng chậm là do tốc ựộ ựô thị hóa ở Hà Nội diễn ra nhanh chóng khiến diện tắch ựất canh tác hoa bị thu hẹp [22]
Hoa trồng ở Hà Nội khá ựa dạng và phong phú, bao gồm cả các loại hoa có nguồn gốc nhiệt ựới và ôn ựới như: lan, hồng, cúc, cẩm chướng, lay
ơn, huệ, loa kèn, thược dược, ựồng tiền, lan, trà mi và các loại hoa cây cảnh ựặc trưng của Hà Nội như ựào và quất Các loại hoa chủ yếu trồng trên ựịa bàn Hà Nội có sự biến ựộng theo nhu cầu của thị trường và sự du nhập từ nước ngoài và các ựịa phương khác vào Hà Nội
Hoa của Hà Nội chủ yếu ựược tiêu thụ trong nước, trước hết là Hà Nội
So với các tỉnh, tiêu thụ hoa của Hà Nội có rất nhiều thuận lợi, do Hà Nội là
Trang 38thị trường hoa lý tưởng ựối với những người trồng hoa Bởi vì, Hà Nội là trung tâm chắnh trị, kinh tế và văn hoá của cả nước Trên ựịa bàn Hà Nội có nhiều cơ quan, tổ chức chắnh trị, kinh tế văn hoá của quốc tế, trung ương và ựịa phương hoạt ựộng Vì vậy, nhu cầu hoa của các ựối tượng này rất lớn Kết quả khảo sát các hộ tiêu dùng hoa cho thấy, số người hàng ngày mua hoa cho nhu cầu của gia ựình là 26,7%; mua 1 tuần 2 - 3 lần là 36,7%; 1 tuần 1 lần là 16.6% Số còn lại thuộc loại 2 tuần mua một lần và tháng mua 1 lần Ngoài ra, nhu cầu hoa cho công sở, khách sạn, nhà hàng và dùng làm tặng phẩm cũng rất cao, nhất là trong các dịp lễ tết, các dịp sinh nhật, sinh viên bảo vệ ựồ án, luận văn
Nhờ tăng cường ựầu tư, nhất là ựầu tư về giống và thâm canh sản xuất nên năng suất và chất lượng hoa của Hà Nội ựã tăng lên một cách ựáng kể Vì vậy, diện tắch và thu nhập của hoa tăng lên Theo kết quả ựiều tra: Năm 2005, diện tắch hoa của Hà Nội ựã tăng lên ựến 1.600 ha, dự kiến năm 2015 thành phố Hà Nội có 3.000 ha diện tắch trồng hoa đặc biệt, giá trị 1 ha trồng hoa tăng lên nhanh và ựạt mức thu nhập bình quân 150 triệu ựồng/ha năm 2005, thu nhập bình quân ựầu người ựạt gần 700.000 ựồng/tháng, tăng 2,5 lần so với năm 1995 [22] đây là mức tăng rất cao so với các hoạt ựộng trồng trọt khác
Vì vậy, sức thu hút của trồng hoa rất lớn
Trồng hoa là ngành có hiệu quả kinh tế cao ở Hà Nội Tuy nhiên, trong ựiều kiện của cơ chế thị trường mở, việc ựánh giá năng lực cạnh tranh của ngành hoa Hà Nội có ý nghĩa rất quan trọng Hiện tại hoa trồng ở Hà Nội có thể cạnh tranh với hoa trồng ở các tỉnh ven Hà Nội về quy mô, chất lượng, giá
cả, thời ựiểm và phương thức cung cấp Nhưng so với hoa trồng ở các tỉnh phắa Nam, trước hết là đà Lạt và hoa trồng ở nước ngoài, hoa trồng ở Hà Nội yếu thế hơn về chất lượng Về mặt giá cả hoa sản xuất tại Hà Nội có thể hoàn toàn cạnh tranh với hoa sản xuất ở đà Lạt và hoa sản xuất ở nước ngoài
Trang 39Về hoa thảm: Trong thời gian qua, Hà Nội chủ yếu trồng các loại hoa thảm sẵn có trong nước, nhưng không có sự ñầu tư về công nghệ, cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật nên giống bị thoái hoá, chất lượng kém Vài năm trở lại ñây, các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp ñã nhập nhiều chủng loại hoa mới tương ñối phù hợp với ñiều kiện thời tiết khí hậu tại Hà Nội, nhưng riêng bộ giống hoa thảm còn nghèo nàn chưa ñáp ứng với nhu cầu trang trí và tiêu dùng hiện tại ðặc biệt cuối năm 2008 Hà Nội mở rộng diện tích, sát nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh - Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình làm tăng diện tích của Hà Nội lên 3324 km2 gấp 3 lần diện tích năm 2007, dân số tăng lên gần 6 triệu người, nhu cầu công viên và khu vui chơi giải trí cũng ñược mở rộng do vậy nhu cầu về các loại hoa trồng thảm cả về số lượng và chất lượng ñể phục vụ cho việc trang trí, duy trì cân bằng sinh thái ñang gặp khó khăn
*Diện tích trồng hoa tại Hà Nội
Theo báo cáo ñiều tra của viện Di truyền Nông nghiệp vào thời ñiểm năm 2008: Tại Hà Nội, Tây Tựu là xã có diện tích ñất trồng hoa lớn nhất với
325 ha năm 2006 nhưng chủ yếu là diện tích trồng hoa cắt cành Nhưng nếu tính riêng về hoa thảm thì Công viên Cây Xanh là ñịa ñiểm trồng nhiều chủng loại hoa thảm và có diện tích trồng hoa thảm lớn nhất 12,5 ha năm 2006
Trang 40Bảng 2.1: Tình hình phân bố diện tích sản xuất hoa tại Hà Nội
Diện tích trồng hoa cắt
Diện tích trồng hoa thảm
Tổng diện tích
Diện tích trồng hoa cắt
Diện tích trồng hoa thảm
Tổng diện tích
Diện tích trồng hoa cắt
Diện tích trồng hoa thảm