Luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
TẠ THỊ HẠNH
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ BIẾN ðỘNG SỐ LƯỢNG
ðỘNG VẬT PHÙ DU (COPEPODA VÀ ROTIFER) TRONG CÁC AO
NUÔI SINH KHỐI PHỤC VỤ ƯƠNG NUÔI ẤU TRÙNG CÁ BIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản
Mã số :60.62.70
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Xân
Trang 2L ời Cam ðoan
Tôi xin cam ñoan rằng, các số liệu thu ñược trong thí nghiệm và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả
Tạ Thị Hạnh
Trang 3L ời Cảm Ơn
ðể hoàn thành ñược luận văn này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn ñến: Ban lãnh ñạo Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I, Phòng ñào tạo Viện Nghiên cứu Nuôi
trồng Thuỷ Sản 1, Ban giám hiệu và Khoa sau ñại học trường ñại học Nông Nghiệp
Hà Nội ñã luôn tạo mọi ñiều kiện ñể tôi hoàn thành tốt khoá học này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến Tiến sĩ Lê Xân, thạc sĩ Cao Văn Hạnh, những người thầy ñã ñịnh hướng và tận tâm hướng dẫn ñể tôi hoàn thành tốt ñề tài này
Tiếp ñến tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Bác Nguyễn Dương Thạo, Cô Nguyễn Thị Thu, và Anh Nguyễn Hoàng Minh người ñã giúp ñỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình phân tích, ñịnh loại giống loài Copepoda và Rotifer
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của mình ñến tập thể cán bộ công nhân viên Trạm nghiên cứu NTTS nước lợ thuộc trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc
ñã tạo ñiều kiện cơ sở vật chất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn ñến những người thân trong gia ñình, các bạn
và ñồng nghiệp, những người ñã luôn ñộng viên, giúp ñỡ và cổ vũ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập
Trang 4MỤC LỤC
L ời cam ñoan i
L ời cảm ơn ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ðỒ viii
CHƯƠNG1.MỞ ðẦU 1
CHƯƠNG2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Một số ñặc ñiểm sinh học của Copepoda và Rotifer 3
2.1.1 ðặc ñiểm sinh học của Copepoda 3
2.1.1.1 Hệ thống phân loại của Copepoda .3
2.1.1.2 ðặc ñiểm hình thái và cấu tạo của Copepoda 3
2.1.1.3 ðặc ñiểm phân bố và dinh dưỡng của Copepoda 5
2.1.1.4 ðặc ñiểm sinh trưởng và phát triển của Copepoda 6
2.1.2 ðặc ñiểm sinh học của Rotifer 6
2.1.2.1 Hệ thống phân loại của Rotifer 7
2.1.2.2 ðặc ñiểm hình thái và cấu tạo của Rotifer 7
2.1.2.3 ðặc ñiểm phân bố và dinh dưỡng của Rotifer .8
2.1.2.4 ðặc ñiểm sinh sản, sinh trưởng và vòng ñời của Rotifer 8
2.2 Vài nét về dinh dưỡng cho ấu trùng cá biển 9
2.3 Vai trò của ñộng vật phù du trong Nuôi trồng Thuỷ sản 10
2.3.1 Vai trò chuyển hoá năng lượng .10
2.3.2 Vai trò làm thức ăn cho tôm, cá 11
2.4 Cơ sở của việc sử dụng phân vô cơ và phân hữu cơ gây màu cho ao nuôi
13
2.5 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ðVPD trên thế giới và Việt Nam .14
2.5.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ñộng vật phù du trên thế giới 14
Trang 52.5.1.1.Nghiên cứu về thành phần loài và sinh vật lượng ðVPD trên thế giới 14
2.5.1.2 Nghiên cứu sử dụng ðVPD trong Nuôi trồng Thuỷ sản 17
2.5.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ñộng vật phù du ở Việt Nam 21
2.5.2.1 Phân bố thành phần loài ðVPD các vùng nước lợ ven biển Việt Nam 23
2.5.2.2 Phân bố mật ñộ, sinh vật lượng ðVPD các vùng nước lợ ven biển Việt Nam 25
2.5.2.3 Tình hình sử dụng ðVPD trong NTTS 27
CHƯƠNG 3 ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 ðối tượng, thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu .29
3.2 Nội dung nghiên cứu 29
3.3 Phương pháp nghiên cứu 29
3.3.1 Dụng cụ thí nghiệm 29
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 30
3.3.3 Thiết kế thí nghiệm .31
3.3.4 Phương pháp thu và phân tích mẫu vật 32
3.3.4.1 Phương pháp thu và phân tích mẫu ñịnh tính 33
3.3.4.2 Phương pháp thu và phân tích mẫu ñịnh lượng 34
3.4 Xử lý số liệu .36
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 37
4.2 Thành phần giống loài Copepod và Rotifer trong các công thức thí nghiệm 38
4.3 Biến ñộng số lượng Copepoda và Rotifer theo thời gian ở các ao có công thức thức ăn khác nhau 48
4.3.1 Biến ñộng số lượng Copepoda và Rotifer trong ao có chế ñộ bón phân vi sinh 48
4.3.2 Biến ñộng số lượng Copepoda và Rotifer trong ao có chế ñộ bón cá tạp xay nhuyễn 52
Trang 64.3.3 Biến ñộng số lượng Copepoda và Rotifer trong ao có chế ñộ bón bằng bột cá
kết hợp cám gạo 54
4.3.4 Biến ñộng số lượng Copepoda và Rotifer trong ao không có chế ñộ chăm bón .56
4.3.5 So sánh sự biến ñộng về mật ñộ cực ñại giữa các ao có công thức gây màu khác nhau 58
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ XUẤT 61
5.1 Kết luận 61
5.2 ðề xuất .61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 68
Trang 74 DHA Decosahexaenoic acid, 22:6n-3
5 EPA Eicosapentaenoic acid, 20:5n-3
10 n-3 HUFA Highly unsaturated fatty acid
11 PUFA Poly Unsaturated Fatty Acid
12 TB Trung bình
13 MðCCð Mật ñộ Copepoda cực ñai
14 MðLTCð Mật ñộ luân trùng cực ñại
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của luân trùng ñược và không ñược làm giàu 12 Bảng 4.1 Một số yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 37 Bảng 4.2 Thành phần giống loài trong các công thức thí nghiệm 38 Bảng 4.3 Tỷ lệ số lượng Copepoda ở dạng Nauplius (N), tiền trưởng thành (C) và
trưởng thành (T) .51
Bảng 4.4 Tỷ lệ số lượng Copepoda ở dạng Nauplius (N), tiền trưởng thành (C) và trưởng thành (T) trong ao nuôi có sử dụng cá tạp 54 Bảng 4.5 Tỷ lệ Copepoda ở dạng Nauplius (N), tiền trưởng thành (C) và trưởng thành(T) trong thí nghiệm ñối chứng .57 Bảng 4.6 Mật ñộ cực ñại của Copepoda và Rotifer trong các công thức chăm bón khác nhau 58
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ðỒ
Hình 2.1 Hình thái ngoài của Copepoda trưởng thành 3
Hình 2.2 Các giai ñoạn phát triển trong vòng ñời của Copepoda 7
Hình 2.3 Sinh sản ñơn tính và hữu tính của luân trùng Brachionus plicatilis 8
Hình 3.1 Dụng cụ thu mẫu ñộng vật phù du 29
Hình 3.2 Kính hiển vi và dụng cụ phân tích mẫu 30
Sơ ñồ 3.1 Bố trí thí nghiệm với các công thức thức ăn khác nhau 32
Hình 4.1 Hình ảnh nhận dạng loài Acartia clausi trong ao nước lợ tại vùng Quý Kim 40
Hình 4.2 ðặc ñiểm nhận dạng loài Acartia clausi Giesbrecht,1889 40
Hình 4.3 Hình ảnh nhận dạng loài Acartia pacifica trong ao nước lợ tại vùng 42 Quý kim 42
Hình 4.4 ðặc ñiểm nhận dạng loài Acartia pacifica Steuer,1915 42
(Theo Nguyễn Văn Khôi, 1994) 42
Hình 4.5 Hình ảnh nhận dạng của Schmackeria dubia trong ao nước lợ tại vùng Quý Kim 44
Hình 4.6 ðặc ñiểm nhận dạng loài Schmackeria dubia Kiefer, 1936 .44
(Theo Chen, 1965) 44
Hình 4.7 Hình ảnh nhận dạng loài Oithona simplex trong ao nước lợ tại vùng Quý Kim 46
Hình 4.8 ðặc ñiểm nhận dạng loài Oithona simplex Farran, 1913 46
(Theo Chen & Zhang, 1974) 46
Hình 4.9 Hình ảnh nhận dạng loài Brachionus plicatilis Muller,1786 48
Hình 4.10 Biến ñộng số lượng Copepoda và Rotifer trong các ao có chế ñộ bón bằng phân vi sinh 49
Hình 4.11 Biểu thị tỷ lệ giữa các giống loài trong ao thí nghiệm sử dụng phân vi sinh 51
Hình 4.12 Biến ñộng mật ñộ Copepoda và Rotifer trong ao có sử dụng cá tạp 52
Trang 10Hình 4.13 Biểu thị tỷ lệ giữa các giống loài trong ao thí nghiệm sử dụng cá tạp 53 Hình 4.14 Biến ñộng mật ñộ Copepoda và Rotifer trong ao có sử dụng bột cá kết hợp cám gạo gây màu 55 Hình 4.15 Biểu thị tỷ lệ giữa các giống loài trong ao thí nghiệm sử dụng bột cám gạo kết hợp bột cá 56 Hình 4.16 Biến ñộng mật ñộ Rotifer và Copepoda trong không bón phân 57 Hình 4.17 Biểu thị tỷ lệ thành phần giữa các giống trong ao không bón phân 58 Hình 4.18 Biểu thị mật ñộ cực ñại của Copepoda và Rotifer với các công thức thức
ăn khác nhau 59
Trang 11CHƯƠNG 1 MỞ ðẦU
Nuôi trồng Thuỷ sản (NTTS) có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nước ta
và là một trong các lĩnh vực sản xuất thực phẩm phát triển nhanh Trong NTTS, vấn ñề thức ăn là khâu then chốt, quyết ñịnh số lượng và chất lượng con giống trong sản xuất giống nhân tạo cũng như tăng sản lượng của sản phẩm nuôi Hiện nay, nhiều loại thức
ăn nhân tạo ñã ñược sản xuất cho ấu trùng tôm, cá và các ñối tượng hải sản khác nhưng chưa có loại thức ăn nào có thể thay thế tốt hơn thức ăn tự nhiên trong giai ñoạn ñầu của ấu trùng
Thức ăn tự nhiên mà ñiển hình là ñộng vật phù du (ðVPD) có vai trò quyết ñịnh ñến sự phát triển nguồn giống cá biển trong tự nhiên Giai ñoạn ñầu của ấu trùng cá biển chỉ sử dụng ñược con mồi có kích cỡ nhỏ như Rotifer hoặc Nauplius của một số
loài Copepoda cỡ nhỏ (Doi et al,1997 ; Ness và Lie,1998)[25] Vì vậy, Rotifer (Brachiunus sp) và Copepoda là thức ăn tươi sống có nhiều ưu ñiểm ñược dùng chủ
yếu cho ương nuôi ấu trùng cá biển Chúng là dạng con mồi sống, có tốc ñộ sinh sản nhanh, kích thước nhỏ, giàu dinh dưỡng, bổ sung các axit amin không thay thế nên rất phù hợp cho ương nuôi ấu trùng tôm, cá Những nghiên cứu cho thấy, tốc ñộ tăng trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng cá biển sử dụng thức ăn là Copepoda kết hợp với các loại thức ăn khác như luân trùng và nauplius của Artemia sẽ cao hơn nhiều lần so với khi sử dụng ñơn thuần một loại (Kraul, 1983; Heath và More,1997)[40]
Hiện nay trên thế giới, những nước có nghề nuôi biển phát triển là những nước
có kỹ thuật sản xuất thức ăn tươi sống phát triển mạnh Một số nước như: ðan Mạch, Nhật Bản, Trung Quốc ñã nghiên cứu về thành phần loài, ñặc ñiểm sinh học và nuôi thành công một số loài ðVPD (Copepoda và Rotifer) trong ao và trong bể ñể phục vụ cho ương nuôi ấu trùng cá biển với các hình thức nuôi khác nhau: nuôi quảng canh, nuôi thâm canh
Trong khi ñó ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu khoa học ñặc ñiểm sinh học, kỹ thuật nuôi sinh khối hay sử dụng một số loài Copepoda cụ thể trong ñiều kiện thể tích nhỏ còn hạn chế Sinh khối Copepoda hiện ñang ñược sử dụng phần lớn phụ thuộc vào tự nhiên
Ở Việt Nam, nghiên cứu ñộng vật phù du mới chỉ dừng lại ở mức ñiều tra phân loại ñể ñánh giá dưới góc ñộ nguồn lợi và khu hệ sinh vật biển Trong khi ñó, một số loài ñộng vật phù du làm thức ăn cho các loài cá biển trong vùng nước lợ chưa ñược nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học, sự biến ñộng và quá trình phát triển của mỗi loài cụ
Trang 12cung cấp không ñủ và ñúng thời ñiểm cá sử dụng Do ñó, ñể nâng cao tỷ lệ sống trong ương nuôi cá biển thì công tác ñánh giá nguồn lợi thức ăn tự nhiên cũng như thời gian, chu kì phát triển của mỗi giống loài, từ ñó làm cơ sở khoa học ñể ñịnh hướng và sử dụng chúng có hiệu quả trong ương nuôi cá biển có vai trò quan trọng ðược sự ñồng ý của Hội ñồng xét duyệt ñề cương Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I, tôi thực hiện
ñề tài:
" Nghiên cứu thành phần loài và biến ñộng số lượng ñộng vật phù du (Copepoda và
Rotifer) trong các ao nuôi sinh kh ối phục vụ ương nuôi ấu trùng cá biển."
Mục tiêu chung:
Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn tươi sống ñể ương nuôi ấu trùng cá biển trong ao nước lợ
Mục tiêu cụ thể:
- Xác ñịnh thành phần giống loài ñộng vật phù du (Copepoda và Rotifer) là thức
ăn cho ấu trùng cá biển trong ao nuôi sinh khối
- Nắm ñược quá trình biến ñộng số lượng của Copepoda và Rotifer trong ao có chế ñộ chăm bón khác nhau ñể tiến hành nuôi sinh khối ñạt hiệu quả hơn
Trang 13CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số ñặc ñiểm sinh học của Copepoda và Rotifer
2.1.1 ðặc ñiểm sinh học của Copepoda
2.1.1.1 Hệ thống phân loại của Copepoda
Theo phân loại của Nguyễn Văn Khôi (2001), Copepoda có hệ thống phân loại như sau:
Ngành chân ñốt Arthropoda
Ngành phụ có hàm: Mandibulata
Lớp giáp xác: Crustacea
Phân lớp chân mái chèo: Copepoda
Hình 2.1 Hình thái ngoài của Copepoda trưởng thành
a: con ñực; b: con cái mang trứng (Nguồn R J Rippingale & M F Payne, 2001)[50]
Nguyễn Văn Khôi (2001) ñã sử dụng hệ thống phân loại như của tác giả Chen
& Zhang (1965) Theo tác giả phân lớp chân mái chèo ñược chia thành 7 bộ như sau:
Calanoida, Harpacticoida, Cyclopoida, Lernacopodoida, Notodelphycoida, Montrilloida, Calizoida Theo Humes (1994) Copepoda có khoảng 200 họ với 1650
giống và 11500 loài [6],[35]
2.1.1.2 ðặc ñiểm hình thái và cấu tạo của Copepoda
b
Trang 14ðặc ñiểm hình thái
Phân lớp chân mái chèo thuộc ñộng vật giáp xác bậc thấp Chúng có cơ thể nhỏ,
chiều dài phổ biến 1- 4mm, loài nhỏ nhất là Microsettella sp có chiều dài 0,4mm, loài lớn nhất như Megacalanus sp, Bathycalanos có chiều dài tới 12 - 13mm Hình dạng và
kích thước của chân mái chèo rất khác nhau liên quan chặt chẽ ñến sự phân bố của
chúng trong môi trường ða số các loài có hình trứng như Calanus sp, phần trước thân
có hình chữ nhật hoặc hình lá Những loài sống ở biển sâu và biển khơi thường lớn hơn những loài sống ở tầng mặt và ven bờ, những loài sống ở nước ngọt phần lớn có kích
thước nhỏ Những loài sống ở tầng mặt thường có màu xanh nhạt như Paracalanus, còn những loài sống ở tầng sâu có màu hồng hoặc xanh da trời như Labidocera và
Pontella , có những loài cơ thể trong suốt như như Sapphirina (Nguyễn Văn Khôi,
2001)
Cấu tạo
Cơ thể chân mái chèo do 16 - 17 ñốt tạo thành, trong ñó có một số ñốt thường
hợp lại với nhau nên số ñốt giảm nhưng không dưới 11 ñốt Cơ thể chúng ñược chia làm 2 phần : phần trước thân (metasome) và phần sau thân (urosome) Phần trước thân
gồm phần ñầu và ngực Phần sau thân ñối với bộ Calanoida do bụng tạo thành, còn bộ
Cyclopoida, Harparticoida và Monstrilloida do bụng và ñốt ngực cuối cùng tạo thành
- Phần ñầu: Có 6 ñốt và thường rộng hơn phần ngực Phần trước trán khác nhau
ở các loài và là căn cứ ñể ñịnh loại quan trọng Phần lớn các loài trước trán tù tròn, một
số loài hình tam giác như Eucalanus, hình mỏ neo như Rhincalanus, hình ngang bằng như Candacia ðỉnh trước trán kéo dài thành gai trán Bên cạnh các ñốt còn có các
phần phụ: râu A1và A2, hàm lớn, hàm nhỏ I và II, chân hàm
+ Râu I có một nhánh, dài ngắn khác nhau tuỳ loài và là một trong những ñặc ñiểm ñịnh loại Hình dạng, ñộ dài, số lượng ñốt là ñặc ñiểm ñể phân loại Râu 2 có 2 nhánh, cấu tạo gồm 2 ñốt gốc, 2 ñốt nhánh trong và 5 - 7 ñốt nhánh ngoài Râu này có tác dụng tạo dòng nước ñể ñưa thức ăn vào miệng Một số loài râu 2 thoái hoá
+ Hàm lớn (mandibulata): hàm lớn có 2 nhánh, ñốt gốc 1 bằng chất kitin, có
Trang 15răng ñể nghiền thức ăn
+ Hàm nhỏ (maxillula): hàm nhỏ 1 có cấu tạo phức tạp Phần gốc có 4 ñốt và nhiều lồi dạng lá, nhánh trong và ngoài không phát triển Hàm nhỏ 2 có cấu tạo kiểu 1 nhánh, phần gốc phát triển, nhánh trong ñơn giản, nhánh ngoài thoái hoá Gốc có 2 ñốt, thường có 5 lồi dạng lá trên ñó có lông cứng Hình dạng, số lượng và ñộ dài của lông cứng là ñặc ñiểm ñể phân loại
- Phần ngực: do 5 ñốt tạo thành, nhưng do một số ñốt ngực hợp lại, hoặc ñốt ngực 1 hợp với phần ñầu nên chỉ còn lại 3 - 4 ñốt Góc bên sau ñốt ngực cuối cùng là ñặc ñiểm ñịnh loại quan trọng ñối với nhiều loài, có loài tù tròn như Paracalanus, nhọn
như Candacia, lồi dạng gai như Pontellopsis hoặc phân hai chạc như Undinula
vulgaris Phần ngực có 5 ñôi chân ngực ở mặt bụng, chân ngực I - IV dạng 2 nhánh, cấu tạo thường giống nhau và không phân biệt ñực cái Chân ngực V biến ñổi rất lớn
và là ñặc ñiểm ñịnh loại quan trọng nhất Chân ngực V của con ñực và con cái có cấu tạo rất khác nhau
- Phần bụng: phần bụng có 5 ñốt, ở con cái số ñốt ít hơn do một số ñốt hợp lại ðốt bụng 1 còn gọi là ñốt sinh dục, là ñặc ñiểm ñịnh loại quan trọng Ở con cái ñốt sinh dục lớn và phình to do hai ñốt bụng 1 và 2 hợp lại Mặt bụng có lồi sinh dục cũng là căn cứ ñịnh loại ðốt sinh dục con ñực ngắn hơn ñốt bụng 2 do có lỗ sinh dục ở phía bên trái nên thường mất ñối xứng Cuối cùng là ñốt hậu môn, sau ñó là chạc ñuôi[6]
2.1.1.3 ðặc ñiểm phân bố và dinh dưỡng của Copepoda
Phân lớp chân mái chèo phân bố khá ña dạng trong các loại hình thuỷ vực nước ngọt, nước lợ và nước mặn Chúng có thể bơi tự do, sống ñào bới, cộng sinh và ký sinh Sự phân bố ña dạng của loài trong các loại hình thuỷ vực nên chúng dễ dàng chiếm lượng lớn về thành phần loài và sinh khối trong các loài ñộng vật phù du sống ở biển[36] Cho ñến nay Humes (1994) ñã xác ñịnh ñược khoảng 11500 loài thuộc 1650 giống và 200 họ, trong ñó thì chỉ một số loài có khả năng nuôi sinh khối cao, kích cỡ phù hợp và có hàm lượng dinh dưỡng cao có thể sử dụng làm thức ăn cho nuôi thuỷ
sản Trong 7 bộ ñã nêu ở trên thì một số loài thuộc 3 bộ Calanoida, Harpacticoida,
Cyclopoida là ñược sử dụng rộng rãi nhất [35],[49]
Trang 16chúng phân bố ở mọi ñộ sâu, nhiều loài sống gần ñáy và sát ñáy Theo Dussart B.H &
et al (1995) thức ăn của Calanoida chủ yếu là phiêu sinh vật ñược lọc qua râu
A1(quay, xoắn) và râu A2 (ñập vỡ thức ăn) ñưa vào nhờ dòng nước, từ ñây nó sẽ ñược lọc qua phần miệng Bằng hình thức lọc thức ăn trong quá trình dinh dưỡng mà nhóm này sử dụng rất hiệu quả nguồn thức ăn trong môi trường ñặc biệt là một số loài vi tảo Ngoài ra, một số loài trong bộ này có thể sử dụng thức ăn từ những ñộng vật nhỏ khác trong quá trình sống [6],[26]
Bộ Cyclopoida: gồm nhiều loài ña dạng về hình thái, phân bố rộng khắp ở các
loại hình thuỷ vực, từ ao hồ, sông suối ñến vùng nước lợ ven biển và nước mặn ngoài khơi Ngoài ra, một số loài có thể sống cộng sinh và ký sinh Theo Dussart B.H &ctv
(1995) phần miệng của Cyclopoida biến ñổi ñể thích nghi với phương thức bắt mồi chủ
ñộng, thức ăn của chúng là tảo, ñộng vật ñơn bào và ñộng vật ña bào có kích cỡ nhỏ nhất như nhóm giáp xác, detritus Hiện tượng ăn nhau xảy ra khá phổ biến khi chúng chưa thành thục[6],[26]
Bộ Harpacticoida: Bộ này có cấu tạo phần miệng thích nghi với kiểu lấy thức
ăn là cào cấu, sàng lọc và cạp thức ăn từ ñáy thuỷ vực[6]
2.1.1.4 ðặc ñiểm sinh trưởng và phát triển của Copepoda
Theo R.J Rippingale & M.F Payne (2001) quá trình sinh trưởng của Copepoda trải qua nhiều giai ñoạn khác nhau Trứng thụ tinh ñược thải ra môi trường nước hoặc
ñể trong túi trứng Trứng của Copepoda có dạng hình cầu và ñược bao bọc bởi lớp vỏ kitin Trứng nở ra các cá thể Nauplius có chiều dài 100 - 150µm, các Nauplius trải qua
6 giai ñoạn (từ N1- N6), với mỗi giai ñoạn phát triển, hình dạng cơ thể thay ñổi và sau
ñó chúng chuyển sang giai ñoạn copepodid Giai ñoạn này toàn bộ cơ thể thay ñổi từ hình dạng quả lê (Nauplius) thành hình dạng chung của cá thể trưởng thành với antennae thứ nhất và có sự phân chia rõ ràng giữa phần trước thân và phần sau thân Số lượng các cặp chân bơi tăng từ 1 ñến 5 và kích thước cơ thể cũng tăng Giữa mỗi giai ñoạn phát triển chúng lột xác.Cuối cùng là giai ñoạn trưởng thành, lúc này có thể phân
biệt giữa con ñực và con cái Ấu trùng Nauplius của Calanoid nhiều metazoan Thời
gian phát triển phôi phụ thuộc vào nhiệt ñộ Ở nhiệt ñộ 250C, giai ñoạn phôi và ấu trùng Nauplius trải qua 4- 5 ngày và ñến giai ñoạn trưởng thành (phôi ñến trưởng
thành) mất khoảng 10 - 12 ngày[36],[50]
Trang 17Hình 2.2 Các giai ñoạn phát triển trong vòng ñời của Copepoda
(Nguồn Vũ Trung Tạng,1999)
2.1.2 ðặc ñiểm sinh học của Rotifer
2.1.2.1 Hệ thống phân loại của Rotifer
Theo hệ thống phân loại của Isamu Yamaji (1984), Rotatoria có hệ thống phân loại như sau:
Ngành Aschelmithes
Lớp Rotatoria
Bộ Monogononta
2.1.2.2 ðặc ñiểm hình thái và cấu tạo của Rotifer
Trùng bánh xe (Rotatoria) là một trong những ñộng vật phân bố rộng rãi nhất ở
nước ngọt Chúng có kích thước hiển vi thường từ 100-200µm, nhỏ nhất khoảng 40µm, lớn nhất không quá 2mm Hình dạng trùng bánh xe rất khác nhau Các dạng sống trôi nổi ñiển hình thường hình túi, hình cầu, các dạng sống bám có hình phễu Cơ thể ñối xứng hay mất ñối xứng, dẹp lưng bụng hay dẹp bên (ðặng Ngọc Thanh & ctv,1980) Các con ñực có kích thước nhỏ và kém phát triển hơn các con cái, một số có kích thước chỉ 60µm[11]
Hoff & Snell (1987);Tech (1981) loài luân trùng Brachionus plicatilis có kích
Trang 18thước nhỏ bé, cơ thể ñối xứng hai bên và ñược chia làm 3 phần: ñầu, thân và chân Phần ñầu là một ñĩa tiêm mao quanh ñầu tạo thành vành tiêm mao với chức năng là cơ quan vận ñộng và bắt mồi Phần thân phình lớn ñược bao bọc bởi lớp vỏ Protein dạng chất sừng ñược gọi là lorica, gồm nhiều mảnh ghép lại, trên mặt vỏ có các gai dạng góc
tù phân bố, bên trong phần thân có chứa các nội quan làm nhiệm vụ bài tiết, sinh sản, tiêu hoá….Phần chân là ñuôi của luân trùng có hình giun, cấu trúc có thể co rút ñược kiểu vòng không có phần ñốt ở cuối[35],[17]
2.1.2.3 ðặc ñiểm phân bố và dinh dưỡng của Rotifer
Khoảng 2000 loài Rotifer sống trong ao, hồ nước ngọt và có một vài loài ñược biết sống trong nước lợ, biển khơi và trên rêu, ñịa y trong vùng ñất ẩm ướt Phần
lớn bơi tự do, một số sống bám Mặc dù, Rotifer là một ngành nhỏ nhưng ñóng vai trò
vô cùng quan trọng trong thuỷ vực nước ngọt, chiếm ñến 30% tổng sinh khối ñộng vật phù du, có một vài loài luân trùng ñã tìm thấy ở nước lợ và nước mặn cũng ñược sử dụng phổ biển làm thức ăn cho ấu trùng cá biển Thức ăn mà luân trùng sử dụng là vi khuẩn và tảo, chúng ñã hình thành nên mắt xích giữa sinh vật sản xuất sơ cấp và sinh vật tiêu thụ thứ cấp hoặc vật mồi như cá và ấu trùng côn trùng[13],[11]
2.1.2.4 ðặc ñiểm sinh sản, sinh trưởng và vòng ñời của Rotifer
Vòng ñời của luân trùng (Brachionus plicatilis) ước tính trong khoảng từ 3,4 -
4,4 ngày ở nhiệt ñộ 250C Sau khi nở 18h các cá thể trưởng thành bắt ñầu sinh sản và con cái cứ 4h lại sinh sản một lần, con cái có thể sinh sản 10 thế hệ con trước khi chết
Vòng ñời của loài Brachionus plicatilis ñược khép lại bằng hai phương thức sinh sản
Trong giai ñoạn sinh sản ñơn tính, con cái vô phối ñơn tính sản sinh ra các trứng ñơn tính (2n), các trứng này phát triển và nở thành con cái vô phối ñơn tính
Trang 19Hình 2.3 Sinh sản ñơn tính và hữu tính của luân trùng Brachionus plicatilis
(Nguồn Hoff & Snell,1987) Trong ñiều kiện môi trường bất lợi, con cái chuyển sang sinh sản hữu tính phức tạp hơn và trở thành con cái vô phối ñơn tính hoặc lưỡng tính Con cái vô phối lưỡng tính sản sinh ra các trứng ñơn bội (n) Các trứng lưỡng tính không thụ tinh này phát triển thành con ñực ñơn bội Những con ñực này có kích thước bằng khoảng 1/4 kích thước con cái Còn những trứng lưỡng tính thụ tinh hình thành nên các trứng nghỉ và sẽ
nở thành con cái vô phối ñơn tính khi ñiều kiện môi trường thích hợp[17]
2.2 Vài nét về dinh dưỡng cho ấu trùng cá biển
Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng quyết ñịnh tốc ñộ tăng trưởng
và tỷ lệ sống của ấu trùng các loài cá biển Nhìn chung, tỷ lệ sống của ấu trùng cá biển
từ bột lên giống trong các trại sản xuất hiện nay còn rất thấp Có hai giai ñoạn cá chết nhiều là giai ñoạn sau khi sử dụng hết noãn hoàng (từ 3-5 ngày tuổi) và giai ñoạn chuẩn bị vượt qua hậu biến thái (từ 20-25 ngày tuổi) chuyển cá hương thành cá giống Nguyên nhân chủ yếu là ấu trùng không ñược ñáp ứng ñủ nhu cầu dinh dưỡng Nhiều nghiên cứu ñã chỉ ra rằng ấu trùng cá biển có nhu cầu cao về các axít béo không no, gồm ARA (Arachionic acid: 20:4n-6), EPA (Eicosapentaenoic acid: 20:5n-3), DHA (Decosahecxaenoic acid: 22:6n-3) Tỷ lệ sống của ấu trùng thấp nếu thức ăn thiếu hụt các loại axít béo không no này Tuy nhiên, nhu cầu về các loại axít béo không no khác nhau ở các loài cá biển khác nhau Một số loài cá biển có nhu cầu về cả 2 loại axít béo
Trang 20không no EPA và DHA, một số khác chỉ có nhu cầu về một trong hai loại axít trên ðiều phổ biến là chuỗi các axít béo không no như ARA, EPA, DHA ñóng vai trò quan trọng trong sự thành công của tái sản xuất các loài cá biển, sự phát triển và sự sống của các loài cá biển EPA (20:5n-3) và DHA (22:6n-3) ñược biết là những axít béo cần thiết cho sự sống của ấu trùng cá biển Do ñó, axít béo ñặc trưng của trứng và ấu trùng mới nở phải ñược cung cấp bằng cách ñưa vào từ cơ thể cá mẹ và tiếp theo ñó qua thức
ăn của ấu trùng ở sự tấn công của sự cung cấp ngọai sinh Nguồn ñộng vật phù du ở biển có nguồn lipid, axít béo cần thiết, protein, aminoacid, carotenoid dễ hấp thụ, khoáng, enzym…là những thành phần không thể thiếu ñược trong khẩu phần ăn của cá biển (Kraul, 1983) Sự thiếu hụt các axít béo không no trên sẽ làm giảm tỷ lệ sống, giảm sức chịu ñựng và nguy cơ mắc bệnh cao cho ấu trùng cá biển [49], [54],[56],[34]
2.3 Vai trò của ñộng vật phù du trong Nuôi trồng Thuỷ sản
2.3.1 Vai trò chuyển hoá năng lượng
Thủy sinh vật và môi trường sống là những yếu tố tạo nên hệ sinh thái thủy sinh vật Hệ sinh thái này luôn luôn vận ñộng tạo nên chu trình chuyển hoá vật chất và năng lượng trong thủy vực Việc nâng cao năng suất sinh học của thủy vực phải dựa trên sự hiểu biết về chu trình vật chất trong thủy vực và ñặc tính của các quá trình sinh học diễn biến trong thủy vực, ñặc tính sinh học, sinh thái học của khu hệ thủy sinh vật sống trong ñó ðộng vật không xương sống nói chung hay ñộng vật phù du nói riêng là một trong những mắt xích của chu trình chuyển hóa vật chất và năng lượng của thủy vực ñó (Hoàng Thị Ty, 1999)[18]
Mối quan hệ chủ yếu của các sinh vật trong thuỷ vực là quan hệ thức ăn thông qua chu trình vật chất Sinh vật ban ñầu là tảo (sinh vật dị dưỡng) cho ñến sinh vật cuối cùng là cá (nguồn lợi sinh vật mà con người có thể sử dụng) Nguồn dinh dưỡng bắt ñầu cho tảo ñược cung cấp từ bên ngoài và cả quá trình tích tụ bên trong thuỷ vực ñó .Một ñặc tính trong chu trình vật chất là chu trình càng dài thì năng lượng tiêu hao càng lớn (ðặng Ngọc Thanh & ctv,1980) Sự chuyển hoá vật chất trong thuỷ vực nước ñược tiến hành thứ tự theo các bước sau:
Trang 21+ Các chất hữu cơ có trong bùn ñáy ñược vi sinh vật phân huỷ thành các muối
vô vơ làm giàu dinh dưỡng cho nước
+ Vi khuẩn và tảo hấp thụ các muối dinh dưỡng vô cơ và các chất hữu cơ từ nước
+ ðộng vật phù du và ñộng vật ñáy dùng tảo và vi khuẩn làm thức ăn
+ Cuối cùng toàn bộ chất hữu cơ của các sinh vật kể trên dùng làm thức ăn cho các loài cá
+ Ngoài ra, ở tất cả các bước chuyển hoá trên ñều có những sinh vật chết và chất thải của sinh vật Những sản phẩm này ñược các sinh vật sống trong bùn ñáy và vi khuẩn nitrat hoá sử dụng, phân huỷ thành muối vô cơ và các hợp chất hữu cơ hoà tan trong nước[11]
2.3.2 Vai trò làm thức ăn cho tôm, cá
Các loài ñộng thực vật phù du vai trò quan trọng ñối với nhiều ấu trùng tôm, cá ñặc biệt là các loài cá sống ở biển Các loài cá và tôm biển ñòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng rất cao mà thức ăn nhân tạo không ñáp ứng ñủ Những nghiên cứu của nhóm các tác giả cho thấy tốc ñộ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá biển sử dụng Copepoda kết hợp với Rotifer và nauplii của Artemia sẽ cao hơn nhiều lần so với khi sử dụng ñơn thuần là Rotifer, artemia (Kraul,1983; Heath và Morre, 1997)[34],[40]
Những ñiều kiện mà ấu trùng tôm, cá có thể bắt ñược mồi, tiêu hoá ñể có năng lượng bao gồm sự sẵn có của các loại thức ăn trong môi trường, mật ñộ thức ăn, kích
cỡ, hình dạng, chất lượng và thành phần dinh dưỡng, dễ tiêu hoá, ổn ñịnh và khả năng vận ñộng của cá ðộng vật phù du không những ñáp ứng ñủ thành phần dinh dưỡng mà chúng còn có kích cỡ, hình dạng phù hợp với cỡ miệng của ấu trùng cá biển Do ñó chúng ñược sử dụng làm thức ăn quan trọng cho ấu trùng cá biển từ giai ñoạn cá bột ñến giai ñoạn cá giống Năng suất của ấu trùng cá biển phụ thuộc vào việc sử dụng
thức ăn sống (vi tảo, Rotifer, Copepoda và Artemia) ñược cung cấp trong những ngày
ñầu sau khi nở (Hold, 1993; Person Le Ruyet và ctv, 1993)
Trang 22Rotifer
Luân trùng là thức ăn có kính thước vừa với miệng của ấu trùng cá biển ở giai ñoạn ñầu, chúng là loại thức ăn sống giàu chất dinh dưỡng Thành phần hoá học của luân trùng bao gồm protein dao ñộng từ 28-63% trọng lượng cơ thể (Lubzen, 1989), glucose chiếm 61-80% ( hầu hết là glycogen), 9-18% là ribose và 0,8-7% là galactose, mantose, deoxiglucose, fucose và xylose (Whyte và Nagata, 1992) Lipid thường chiếm từ 9 – 28% trọng lượng khô [42]
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của luân trùng ñược và không ñược làm giàu
Luân trùng Thành phần %
Không làm giàu Làm giàu
unsaturated fatty acid) rất cao (Reitan & et al,1994) Banstedt (1986) ñã nghiên cứu về
thành phần hoá học và mức năng lượng có trong Copepoda [19],[51]
Protein: protein chiếm từ 24 - 82% trọng lượng khô, hàm lượng cao nhất ñối
với những loài sống ở vĩ ñộ trung bình Acid amin tự do ñược sử dụng ñể ñiều tiết việc
thẩm thấu, chúng có hàm lượng tăng khi nồng ñộ muối trong môi trường tăng Các acid
amin như: Glyxin, alanine, arginine, lisine, proline và taurine có vai trò vô cùng quan trọng giúp hoàn thiện quá trình biến thái của hầu hết các loài cá biển (Banstedt, 1986)[19]
Trang 23Lipid: hàm lượng lipít trong cơ thể copepod phụ thuộc vào mùa trong năm, loại thức ăn mà chúng sử dụng thường dao ñộng từ 2-61% trọng lượng khô ñối với những
loài sống ở vĩ ñộ thấp và từ 8-73% ñối với những loài sống ở vĩ ñộ cao (Banstedt,1986) Loại lipít chiếm hàm lượng cao vượt trội trong suốt các giai ñoạn phát triển của copepod là phospholipit (Sargent and Henderson,1989) Giai ñoạn copepod trưởng thành thì lượng lipít lúc này chứa nhiều este hay triacylglyxerol (Kattener and
Krause,1987) Ở giai ñoạn trưởng thành loài Pseudocalanus acuspes dự trữ lipít dưới dạng este và Acartia longiremis ở dạng triacylglyxerol [19],[39],[44],[53]
Vitamin C: Copepoda chứa hàm lượng vitaminC rất cao, dao ñộng từ 235µg/1g nauplii của hai loài Acartia clausi và Temora longiconis (Happete and
201-Puolet,1990) Một số thành phần khác như:nước chiếm khoảng 82 - 84% trọng lượng
ướt, các bon chiếm khoảng 28-68% trọng lượng khô và photpho chiếm khoảng 1%(Banstedt, 1986) Hiện nay, copepod ñã và ñang ñược sử dụng như 1 loại thức ăn giàu dinh dưỡng cho ấu trùng cá biển[33],[19]
2.4 Cơ sở của việc sử dụng phân vô cơ và phân hữu cơ gây màu cho ao nuôi
Thức ăn nhân tạo ñược sử dụng rất hạn chế trong giai ñoạn ấu trùng của cá và một số loài giáp xác sống ở biển Bởi vậy, việc quản lý ñộng vật phù du sao cho chuyển ñến cá một cách có hiệu quả nhất ðặc ñiểm biến ñộng số lượng ñộng vật phù
du ñã giúp các nhà nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật chăm bón ñể tạo môi trường dinh dưỡng ñặc biệt ñể kích thích sự phát triển của các loài ñộng vật phù du ñặc trưng trong
ao nuôi (Colura & Matlock,1983; Geiger,1983) Mục ñích của việc quản lý này là ñể duy trì mật ñộ ñộng vật phù du cao trong ao nuôi cho ñến khi cá ñược thu hoạch Sự biến ñộng của ñộng vật phù du ñóng vai trò quan trọng ñối với cá, các loài ñộng vật phù du bao gồm: Rotifer, Cladocera và Copepoda[24]
Liên quan ñến nguồn thức ăn tự nhiên có trong thuỷ vực, người nuôi thường sử dụng phân ñể cải thiện nguồn thức ăn cơ bản Phân thường ñược sử dụng là phân vô cơ hoặc phân hữu cơ Phân vô cơ có dạng hạt hoặc dạng lỏng có hàm lượng phospho cao
và một lượng nhỏ Nitơ Việc sử dụng phân vô cơ sẽ cung cấp nguồn dinh dưỡng kích
Trang 24thích sự gia tăng số lượng thực vật phù du Sự gia tăng số lượng thực vật phù du gọi là hiện tượng nở hoa, thực vật phù du tăng là nguồn thức ăn trực tiếp cho ñộng vật phù
du Sự tăng số lượng ñộng vật phù du thường liên quan ñến chất lượng nước thông qua các thông số môi trường: tăng pH vào buổi trưa và hàm lượng oxy thấp vào buổi sáng (Geiger, J.G 1983)
Một số tác giả ñã có những nghiên cứu thành công trong việc quản lý số lượng ñộng vật phù du thông qua việc quản lý thực vật phù du Phân vô cơ thường hoà tan rất nhanh trong nước vì vậy phân vô cơ bổ sung muối dinh dưỡng vào nước rất nhanh Sự kết hợp của nhiều loại phân bón kích thích sự phát triển thành phần loài thực vật nổi và
từ ñó sẽ cải thiện ñược thành phần loài ñộng vật nổi Khẩu phần quan trọng nhất của ñộng vật là ngành tảo có kích cỡ nhỏ (1-25µm) (Lampert 1987)
Gerald M & et al (1998) phân hữu cơ dạng bột như là cám gạo kết hợp một số
loại bột khác ñược tiêu thụ trực tiếp bởi ñộng vật phù du Phân hữu cơ ñược phân huỷ bởi vi khuẩn và là nguồn thức ăn cho ñộng vật phù du Ngoài ra, vi khuẩn tạo ra nguồn dinh dưỡng cho thực vật phù du sử dụng Sự phân huỷ của phân hữu cơ kéo dài thời gian dinh dưỡng trong ao và giúp ngăn ngừa sự phát triển nở rộ[30] Khi bón phân hữu
cơ cho ao có thể thấy rõ sự phát triển của các sinh vật trong vực nước ưa môi trường
giàu chất hữu cơ như luân trùng thuộc giống Brachionus phát triển rất nhanh (ðặng
Ngọc Thanh, Phạm Văn Miên và Thái Trần Bái,1980)[13]
Theo Gerald M & et al (1998) luân trùng là nhóm ñộng vật phù du phát triển
ñầu tiên trong ao, chúng nở ra từ các trứng nghỉ còn sống sót lại dưới ñáy ao Khi nhiệt
ñộ trong ao ở khoảng 300C thì số lượng luân trùng bắt ñầu tăng nhanh trong vòng từ
5-7 ngày sau khi ao ñược cấp nước Số lượng luân trùng có thể ñạt từ 0 tới 4000ct/l trong vòng 4-5 ngày Sau một vài ngày số lượng của chúng giảm xuống thấp Khí số lượng luân trùng giảm xuống thì Nauplius của Copepoda bắt ñầu tăng Nauplius có kích cỡ nhỏ và chúng thường xuất hiện sau 2 ñến 3 tuần sau khi bón phân Tất cả ñộng vật phù
du bắt ñầu từ các trứng còn sống sót trong ñáy ao hoặc ñược lấy vào từ nguồn nước cấp[30]
Trang 252.5 Tình hình nghiên cứu và sử dụng đVPD trên thế giới và Việt Nam
2.5.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ựộng vật phù du trên thế giới
2.5.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài và sinh vật lượng đVPD trên thế giới
Các nhà nghiên cứu ựã lập ra ựược khoá phân loại ựể ựịnh loại các giống loài Các nhà phân loại còn mô tả ựược thành phần loài ựộng vật phù du ở các loại thuỷ vực khác nhau, có nhiều loài mới ựược phát hiện
Nghiên cứu thành phần loài đVPD biển
Dựa vào các mẫu thu ựược trong thời gian từ 1959 Ờ 1960, ở phần phắa Bắc biển đông trong phạm vi vùng nước ven bờ Kwangtung và ựảo Hải Nam.Chen Qing Chao
và Zhang Shu Zhen (1974) ựã liệt kê ựược 48 loài Copepoda thuộc 4họ Calanoida,
Eucalanidae, Paracalanidae và Pseudocalanidae, trong ựó có loài mới ựối với khoa học là Calocalanus monospinus và 9 loài khác ựược ghi nhận là mới ựối với vùng biển
Trung Quốc[16],[21]
Chen Qing Chao & Shen Chia Jui,1974 ựã công bố công trình thứ hai về Copepoda của biển đông với khu vực khảo sát tại vùng nước gần bờ của Trung Quốc
Có 31 loài thuộc bộ Calanoida ựã ựược xác ựịnh với thành phần chắnh là các loài nhiệt
ựới trong ựó có 16 loài phân bố ở biển đông Trung Quốc, 11loài ở phắa Nam biển Hoàng Hải, chỉ có 4 loài có giới hạn phân bố ở biển đông Có 2 loài lần ựầu tiên gặp ở
biển đông là Pontellopsis inflatodigitata [16],[21]
Chen Qing Chao (1982) ựã công bố kết quả nghiên cứu thành phần khu hệ đVPD ở vùng nước quanh ựảo Hồng Kông với 15 loài cùng với nhiều ấu trùng da gai, thân mềm và cá biển đVPD khá phong phú ở vùng nước gần bờ với thành phần chắnh
là các loài cửa sông và ven bờ[22]
Chen Qing Chao (1982) ựã mô tả ựược 10 loài thuộc bộ Calanoida, họ
Tortanidae và giống Tortanus Hầu hết các loài này ựều bắt gặp ở biển đông Trung Quốc và biển Hoàng Hải Trong ựó loài Tortanus sinicus là loài mới ựược phát
hiện[22]
Nghiên cứu về mật ựộ và sinh vật lượng đVPD
Trang 26để xác ựịnh ựược sinh khối đVPD ựã có những nghiên cứu ựưa ra ựược các bảng khối lượng chuẩn của từng loài đVPD là cơ sở ựể tắnh sinh khối đVPD (Hoàng Thị Ty,1999)[18] Nghiên cứu về sinh vật lượng của đVPD trong vùng biển, một số tác giả ựã có nhận xét: sự phát triển số lượng của các nhóm loài luôn thay ựổi theo thời gian và theo các ựộ mặn khác nhau Mật ựộ và sinh khối đVPD tăng lên cực ựại tại vùng nước lợ mặn (Polyhaline) và sau ựó giảm ựi ở vùng nước ven bờ (Neritic) Ở vùng biển địa Trung Hải và đại Tây Dương của Pháp mật ựộ các loài chân chèo (chiếm 85%đVPD) có thể nằm trong khoảng từ 500ct/m3 vào mùa ựông ựến 10000ct/m3 vào mùa xuân hoặc mùa hè Ở các phá và cửa sông thì mật ựộ cao hơn, ở
một số vịnh hẹp nước lợ của Nauy có thể thấy một số lượng lớn chân chèo Eurytemora
bao gồm 6-30.106 con trưởng thành, 15-25.106 ấu trùng chân chèo và từ 25-50.106Nauplius trong 100m3 nước Số lượng cá thể này tương ựương với sinh khối khoảng 100-300g(1-3mg/l) ở các giai ựoạn phát triển của cá thể các loài chân chèo Gilbert Barnabe (1994)
Brinton (1963) là người ựầu tiên nghiên cứu mức ựộ phong phú của đVPD ở vịnh Thái Lan.Từ nguồn mẫu đVPD thu ựược trong chương trình NAGA(1959- 1961) cho biết sinh khối lớn nhất ựạt 741ml/1000m3 vào tháng 8 và nhỏ nhất và nhỏ nhất vào tháng 2 ựạt 186ml/1000m3 [6]
Năm 1994, có 12 công trình nghiên cứu tắnh ựa dạng của đVPD ở quần ựảo Trường Sa và vùng biển lân cận ựã ựược công bố Trong ựó, nghiên cứu của Chen Qing Chao về tắnh ựa dạng của đVPD cho thấy sự khác biệt về mùa của tắnh ựa dạng không lớn Giá trị ựa dạng của vùng biển thuộc mức phong phú[16]
M.Manus et al (1996), ựã khảo sát về sự phân bố sinh vật lượng của sinh vật
phù du ở vùng biển đông Kết quả thu ựược cho thấy phần lớn sinh khối đVPD trong 200m nước trên cùng ựều tập trung ở tầng nước 0-100m với giá trị trung bình 11,9mg khô/m3 [16]
Jivaluk (1999) ựã tìm thấy 38 nhóm đVPD trong vùng nước Sabab, Sarawak và Brunei Darusalam ở Nam biển đông trong ựó Copepoda chiếm ưu nhất, tiếp theo là
Trang 27Ostracoda và Chaetognatha Tháng 7/1996 sinh vật lượng ðVPD dao ñộng trong
phạm vi từ 0,11-1,54ml/m3, mật ñộ dao ñộng trong phạm vi từ 72- 681ct/m3 và tháng 5/1997 là 0,09 – 1,76ml/m3 tương ñương với 35-114ct/m3[16]
Relox et al (2000) nghiên cứu ðVPD ở vùng biển Philippin từ tháng 4 ñến
tháng 5 năm 1998 cho biết sinh khối ðVPD biến ñổi trong phạm vi từ 0,92mg/m3 Quần xã ðVPD bao gồm 37 nhóm khác nhau, trong ñó nhóm Copepoda là nhóm ưu thế nhất chiếm từ 5-43% số lượng ðVPD[16]
Số lượng ðVPD còn liên quan ñến sự mất ñi do cá và các ñộng vật thuỷ sinh khác vì ðVPD ñược sử dụng làm thức ăn cho chúng[18]
Sự biến ñộng số lượng ðVPD chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi những hoạt ñộng của con người như: phá rừng ngập mặn, hoạt ñộng Nuôi trồng Thuỷ sản, chất thải sinh hoạt, hoạt ñộng công nghiệp[18]
2.5.1.2 Nghiên cứu sử dụng ðVPD trong Nuôi trồng Thuỷ sản
Trong 4 thập niên gần ñây, Rotifer ñã ñược sử dụng như là thức ăn tươi sống cho nuôi trồng thuỷ sản Sự cung cấp dinh dưỡng liên tục, ổn ñịnh và ñáng tin cậy của luân trùng là chìa khóa mở ra hướng phát triển thịnh vượng trong ương nuôi cá biển trên thế giới Một số loài cá sử dụng Rotifer làm thức ăn trong giai ñoạn phát triển ban ñầu bao gồm: cá yellowtail (Seriola quinqueradiata), red sea bream (Pagrus major), cá
chẽm (Lates calcarifer), cá bơn (Scophthalmus maximus), cá ñối (Mugil cephalus), pufferfish (Fugo rubripes), gilt- head sea bream (Sparus aurata) và cá chẽm Châu Âu (Dicentrarchus labrax) (FAO,1998) Bên cạnh ñó, luân trùng cũng ñược sử dụng như
là nguồn thức ăn trong nuôi tôm và cua Như vậy, luân trùng ñược coi là thức ăn sống ñầu tiên có nguồn dinh dưỡng ñáp ứng nhu cầu của ấu trùng cá biển[17],[21]
Hai mươi năm sau kỹ thuật nuôi luân trùng thâm canh ñã ñược áp dụng ở một số nước trên thế giới Số lượng lớn luân trùng ñược tạo ra trong qúa trình nuôi thâm canh
ñã góp phần vào việc sản xuất thành công giống nhân tạo của hơn 60 loài cá biển và 18 loài giáp xác Với khả năng chịu ñựng ở phạm vi rộng các ñiều kiện môi trường, tốc ñộ sinh sản cao, luân trùng ñã ñược coi là một sinh vật nuôi có nhiều triển vọng [17]
Trang 28Trung Quốc ñã tiến hành nghiên cứu về luân trùng B plicatilis làm thức cho ấu
trùng cá biển từ năm 1980 Hiện nay, luân trùng ñã ñược nuôi với quy mô lớn trong sản xuất giống cá chẽm Năng suất bình quân là 10ct/ml/ngày
Kong Keo (1991) nuôi sinh khối luân trùng với sản lượng 166 triệu con/ngày và năng suất là 30ct/ml/ngày Luân trùng ñược sử dụng làm thức ăn cho một số ñối tượng nuôi thuỷ sản như: cá chẽm, cá mú, tôm càng xanh Luân trùng là thức ăn chủ yếu cho việc ương nuôi thâm canh hầu hết ấu trùng cá biển và là thức ăn không thể thay thế ñược Tại Thái Lan ương thâm canh ấu trùng cá Chẽm (Lates calcarifer) bằng luân trùng từ khi cá bắt ñầu ăn tới 15 ngày tuổi ñạt tỷ lệ sống cao
Ở Hoa kỳ, Theilacker và Mc Master (1971) ñã công bố kết quả nghiên cứu sử
dụng các vi tảo Monochrysis lutheri, Dunaliella sp và Exuviella sp ñể làm thức ăn trong nuôi ñại trà luân trùng thuộc giống B plicatilis[55]
Hiện nay, một số nước trên thế giới ñã tiến hành nuôi thâm canh luân trùng trong các thể tích nhỏ với các loại thức ăn khác nhau như tảo, tảo kết hợp nấm men và nuôi ñại trà bằng men bánh mì[17]
Cùng với những nghiên cứu về luân trùng và Artemia cũng ñã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ñộng vật giáp xác chân chèo Copepoda Những nghiên cứu cho thấy Copepoda có giá trị dinh dưỡng cao hơn so với Artemia vì các thông số dinh dưỡng của ñộng vật giáp xác chân chèo phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng
cá biển ðộng vật giáp xác chân chèo còn có thể sử dụng làm thức ăn cho các ñối tượng thuỷ sản ở các giai ñoạn nuôi khác nhau Giai ñoạn Nauplius và copepodid nhỏ cho các ñối tượng giai ñoạn hương giống, còn Copepoda trưởng thành cho các ñối tượng thuỷ sản nuôi cỡ lớn có khả năng bắt mồi nhanh[17]
Hiện nay, nghiên cứu nuôi Copepoda ñể sử dụng làm thức ăn tươi sống trong nuôi trồng thủy sản ñã ñược phát triển mạnh mẽ Phần lớn trong giai ñoạn ñầu của ấu trùng cá biển chỉ sử dụng ñược kích cỡ con mồi nhỏ như luân trùng hoặc Nauplius của
một số loài Copepoda cỡ nhỏ (Doi et al,1997; Ness and Lie,1998; Payne and
Rippingal, 2001)[25],[50]
Trang 29Trong lĩnh vực nghiên cứu và sử dụng thức ăn tươi sống trong sản xuất giống thuỷ sản thì nghiên cứu về Copepoda ñã ñược Trung Quốc quan tâm từ rất sớm Từ những năm 1960 ñã có những nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học một số ñối tượng Copepoda ñược tiến hành bởi Chen (1964), Li & Fang (1983)…Kỹ thuật nuôi sinh
khối loài Schmackeria dubia ñược hoàn thiện và ñạt hiệu quả cao có thể phục vụ cho
ương nuôi cá biển Khưu Hựu Khải (1998) ñã có báo cáo về việc sử dụng sinh khối Copepoda ở hai dạng copepodid và trưởng thành cho ương nuôi ấu trùng cá biển ñã
nâng tỷ lệ sống của ấu trùng cá Song Epilephelus sp ñạt từ 8 – 9% và cá Giò
(Rachycentron canadum) ñạt 5% Liao & et al (2001) cho thấy trong quá trình ương
nuôi ấu trùng cá biển, Copepoda là nguồn thức ăn tươi sống có giá trị Loài
Schmackeria dubia và loài A.royi ñược sử dụng làm thức ăn tươi sống cho kết quả tốt
Tại Nhật Bản, Copepoda là ñối tượng ñược nghiên cứu nhiều phục vụ cho sản xuất giống cá biển Từ năm 1960 – 1965 có hàng loạt nghiên cứu về sinh lý, sinh thái và vòng ñời của Copepoda ñược tiến hành Năm 1978 một số công trình nghiên cứu nuôi sinh khối Copepoda ñược tổng kết và mật ñộ Copepoda ñạt ñược gấp 50 lần so với mật
ñộ của chúng trong tự nhiên Tigriopus japonicus là ñối tượng ñược nghiên cứu nhiều
và cho hiệu quả nuôi sinh khối cao nhất tại Nhật Bản Theo Hagiwara (1999) loài
Tigriopus japonicus ñược nghiên cứu nhiều là do chúng có hàm lượng lượng n-3 rất cao ñáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng cá biển Bên cạnh việc nuôi sinh khối,
loài Tigriopus japonicus còn kết hợp với nuôi sinh khối luân trùng trong việc cung cấp thức ăn tươi sống cho ấu trùng cá song (Epilephelus coioides)[32]
Những thí nghiệm nghiên cứu nuôi loài Oithona oculata tại Cu Ba ñược thực hiện bởi O.G Hernadz & et al (2002) Trong nhóm Copepoda phát triển mạnh tại vùng
nước ven bờ thì ñây là loài chiếm ưu thế Nguồn giống ñược thu ngoài tự nhiên và ñược nuôi sinh khối trong bể có thể tích khác nhau tuỳ thuộc vào hình thức nuôi Nuôi
ghép bán liên tục với luân trùng Brachionus rotundiformis (cỡ nhỏ) nuôi trong các bể
có thể tích là 2,5m3 Các loại thức ăn ñược tác giả sử dụng là tảo Nannochloropsis
oculata (20x106tb/ml) và men bánh mì (1-2g/106 ct/ngày) Trong quá trình nuôi sinh
Trang 30khối, khi mật ñộ Copepoda trung bình ñạt 5ct/ml và mật ñộ tối ña 8 ct/ml thì hàng ngày tiến hành thu hoạch 25% tổng thể tích nuôi Bên cạnh hình thức nuôi trên thì còn có hình thức nuôi theo mẻ cũng ñược tiến hành ở trong bể có thể tích 20m3 có sử dụng
thức ăn là tảo N.oculata với mật ñộ là 8-20x106 tb/ml, mật ñộ nuôi trung bình ñạt 7ct/ml và mật ñộ tối ña là 10ct/ml Nuôi ñơn Copepoda ñược duy trì trong bể có thể
tích 1000l Trong quá trình nuôi thức ăn là hỗn hợp của 5 loài tảo (Chaetoceros
ceratosphorum, Tetraselmis tetrathele, Chlorella spp, Dunaliella tertiolecta và
N.oculata) với mật ñộ trung bình là 2x106tb/ml Sau 15 ngày nuôi, khi mật ñộ ñạt 13ct/ml thì thu hoạch Những khuyến cáo ñể cải thiện nuôi Copepoda ngoài biển ñược thực hiện và những thuận lợi của chúng như là thức ăn tươi sống cho ương nuôi ấu trùng cá biển ñã ñược phân tích[45]
Copepoda cũng ñóng vai trò quan trọng trong ương nuôi ấu trùng cá ngựa
(Hippocampus subelongatus) Theo M.F.Payne and R.J.Rippingale (2000) công nghệ
ương giống cá ngựa ñã có những cải tiến Nauplius của Artemia ñược xem là có thành phần dinh dưỡng chưa ñáp ứng nhu cầu của nhiều loài cá ngựa Những nghiên cứu về
so sánh tốc ñộ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá ngựa (Hippocampus subelonggatus) có
sử dụng Nauplius của Copepoda và Artemia ñã ñược làm giàu bằng Super Selco Kết
quả thí nghiệm cho thấy tốc ñộ tăng trưởng và tỷ lệ sống khi sử dụng Nauplius của
Copepoda cao hơn Artemia làm giàu bằng Super Selco Mặt khác, Nauplius của Copepoda ñược cá tiêu hoá rất tốt mà Artemia không có ñược Cá ngựa sử dụng các
giai ñoạn Nauplius của Copepoda làm thức ăn ở các kích cỡ khác nhau tuỳ thuộc vào giai ñoạn phát triển Nhịp ñộ ăn mồi sống của chúng có thể ñạt 214Nauplius/cá ngựa/h[43]
Theo Glenn R Schipp M.P Bosmans and Andria J Marshall (1998) Copepoda
thuộc giống Acartia ñã ñược chứng minh là ñóng vai trò quan trọng trong khẩu phần giai ñoạn ñầu của ấu trùng cá tráp vàng, Lutjanus johnii và Jack, Lutjanus
argentimaculatus Giống Acartia ñược nuôi trong bể có thể tích từ 100 -1000l, cho ăn hàng ngày với hỗn hợp các loài tảo: Rhodomonas sp, Tetraselmis sp và Isochrysis sp
Trang 31với mật ñộ tảo là 20.000 tb/ml Bể nuôi ñược sục khí nhẹ và ñộ mặn duy trì 30-34ppt, nhiệt ñộ 28 -320C Trong quá trình nuôi, thu những cá thể trưởng thành và các cá thể ở giai ñoạn Copepodid bằng lưới có kích thước mắt lưới là 190µm Những cá thể Copepoda thu hoạch ñược tiếp tục nuôi Sử dụng phương pháp nuôi này, sau 8 ngày nuôi thu ñược hơn 1000 cá thể/l bao gồm cả giai ñoạn trưởng thành và copepodid Phương pháp nuôi này kéo dài 6 tháng và chúng ñược dùng ñể sản xuất một số mẻ cá
L johnii với tỷ lệ sống ñạt tới 40% ở giai ñoạn 21 ngày tuổi sau khi nở Những cá thể trưởng thành thu ñược sẽ cho trực tiếp vào trong bể nuôi ấu trùng cá với mật ñộ thả 50-60ct/l Các cá thể trưởng thành tiếp tục sinh sản trong bể nuôi cá và kết quả các trứng
nở ra ấu trùng với số lượng ñạt ñược là 1ct/ml Các ấu trùng Nauplius là thức ăn trực tiếp cho cá[29]
Theo Rǿnnestad (1998), hàm lượng vitaminA và carotenoid có sự khác nhau ñáng kể giữa Artemia và Copepoda Kết quả thí nghiệm khi nuôi ấu trùng cá Bơn có sử
dụng hai loại thức ăn là Artemia và Copepoda cho thấy hàm lượng vitaminA ở ấu trùng
cá có sử dụng Copepoda cao hơn so với sử dụng Artemia Cá Bơn ñược nuôi trong bể
có thể tích là 5m3, thức ăn sử dụng là T longicornis ñược duy trì ở mật ñộ 18ct/l Ấu trùng cá Bơn sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống cao khi sử dụng thức ăn là T.longicornis trong
quá trình ương nuôi[52]
2.5.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng ñộng vật phù du nước lợ Việt Nam
Vùng biển nước lợ là khu vực thấp nhất của vùng ñồng bằng, tiếp giáp với biển, bao gồm khoảng cách từ biển ăn sâu vào nội ñịa từ 15-20km, là nơi chuyển tiếp giữa sông và biển nên có ñộ muối rất biến ñộng và nằm trong khoảng từ 0,5 - 30‰ ðộ muối biến ñộng theo mùa và liên quan ñến chế ñộ mưa của toàn khu vực Vào mùa mưa do lượng nước mưa trong nội ñịa chảy ra nên ñộ muối giảm Mùa khô do mưa ít vùng cửa sông ảnh hưởng của nước biển, nguồn nước biển xâm nhập sâu vào trong lục ñịa nên ñộ muối tăng cao Do ñó, ðVPD ở vùng nước lợ ña dạng về thành phần loài và
có sinh vật lượng lớn Thành phần loài gồm các loài thích nghi với sự biến ñộng của ñộ mặn và nhiệt ñộ[14]
Nghiên cứu về thành phần loài sinh vật phù du nước mặn, nước lợ ñược chú ý
Trang 32ñến từ những năm ñầu của thế kỷ XX Người ñầu tiên nghiên cứu về sinh vật phù du nước mặn, nước lợ Việt Nam là Maurise Rose Maurise Rose (1926) ñã công bố danh sách 56 loài ðVPD ở vịnh Thái Lan và ven bờ biển Việt Nam Năm 1956 công bố 119 loài chân mài chèo ở vùng biển Nha Trang và năm sau tác giả công bố thêm 3 loài chân mái chèo ở vùng biển Nha Trang[6]
Các tác giả có nhiều ñóng góp quan trọng về nghiên cứu ñộng vật phù du: ðặng Ngọc Thanh, Hoàng Quốc Trương, Nguyễn Trọng Nho, Phạm Văn Miên, Thái Trần Bái, Nguyễn Văn Khôi, Dương Thị Thơm…
ðặng Ngọc Thanh (1980) ñã ñưa ra danh sách 441loài (thuộc 240 giống và 84 họ) ñộng vật không xương sống nước ngọt phía Bắc Việt Nam và ñịa ñiểm phân bố của chúng Trong ñó Rotatoria có 52 loài, Copepoda có 39 loài còn lại là các nhóm ñộng vật nổi khác Vào thời gian này tác giả: Phạm Văn Miên, ðặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái ñã công bố cuốn sách: “ ðịnh loại ñộng vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam”, trong cuốn sách tác giả ñã phân loại ñược 136 loài ñộng vật phù du bao gồm:
Copepoda là 37 loài, Rotatoria là 54 loài và Cladocera 45 loài Trong ñó có một số loài
Copepoda và luân trùng có thể phân bố trong các ao, ñầm nước lợ và vùng cửa sông[11]
Ngoài những nghiên cứu về thành phần loài còn có những nghiên cứu về sự biến ñộng số lượng ñộng vật phù du Hầu hết các thuỷ vực có số lượng ñộng vật phù du cao vào những thời gian ấm áp trong năm Nguyên nhân dẫn ñến sự tăng giảm số lượng ñộng vật phù du liên quan chặt chẽ tới những yếu tố môi trường: nhiệt ñộ, DO, hàm lượng các chất dinh dưỡng Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp ñến sự sinh trưởng
và sinh sản của ñộng vật phù du Sinh khối ñộng vật phù du phụ thuộc vào mức ñộ dinh dưỡng của thuỷ vực Những thuỷ vực giàu dinh dưỡng luôn có số lượng ñộng vật phù du cao hơn so với những thuỷ vực nghèo dinh dưỡng (ðặng Ngọc Thanh,1980)[11]
Trong cuốn nguồn lợi Thuỷ sản cho thấy Copepoda có vai trò quan trọng trong nguồn lợi cá biển Việt Nam Thành phần loài và sinh khối Copepoda có sự biến ñộng
Trang 33theo mùa trong năm Sinh khối Copepoda thu ñược ở Vịnh Bắc Bộ cao nhất vào mùa
hạ (134ct/l) và thấp nhất vào mùa xuân (36ct/l) Các loài Copepoda thường thể hiện tính rộng muối trong quá trình phát triển do ñó có thể chia các loài Copepoda ở vùng biển Việt Nam thể hiện dưới 4 nhóm sinh thái sau[1]:
- Nhóm Copepoda ñặc trưng cho vùng nước lợ cửa sông bao gồm một số ñại
diện như sau: Schmackeria speciosa, Acartia sinensis, Acartia bifilosa…
- Nhóm Copepoda nhạt muối ñặc trưng cho vùng nước ven bờ bao gồm một số ñại diện như sau: Temosa discaudata, T.stylifera, Canthocalanus pauper, Labidocera
euchaeta…
- Nhóm Copepoda ưa ñộ mặn cao ñặc trưng cho nhóm sống ngoài vùng biển
khơi bao gồm một số ñối tượng: Rhincalanus cornutus, Eucalanus subtenuis, Candacia
pachydactyla…
- Nhóm loài hỗn hợp bao gồm một số loài rộng muối chúng sinh sống tại các
vùng nước dao nhau gồm có Canthocalanus pauper, Eucalanus subcrasus[1]
Từ 1975- 1980 nhiều chương trình nghiên cứu về biển, vùng cửa sông và ñầm phá ven biển ñược tiến hành Nguyễn Văn Khôi và ctv, 1994 ñã tổng kết các chương trình nghiên trong khu vực vùng biển từ Quy Nhơn ñến Cà Mau và ñã xác ñịnh ñược
128 loài chân mái chèo có trong khu vực này[6]
2.5.2.1 Phân bố thành phần loài ðVPD các vùng nước lợ ven biển Việt Nam
Vùng ven bờ Quảng Ninh – Thái Bình
ðộng vật phù du trong thời gian thu mẫu từ 17/8 -28/8/1992 chủ yếu là chân chèo Copepoda và các loại ấu trùng giáp xác khác nhau Số loài thường gặp là
Eucalanus subcrassus, Canthocalanus pauper, Acartia spinicauda, Schmarkeria sp, Oithoina sp [2]
Vùng cửa sông Hồng- Thái Bình từ bán ñảo ðồ Sơn (Hải Phòng) - Nga Sơn(Thanh Hoá)
Khu hệ ðVPD trong vùng gồm Copepoda 107 loài (57,8%), Cladocera 14 loài (7,5%), Rotatoria 2 loài Như vậy, chân mái chèo Copepoda chiếm ưu thế và là nhóm
Trang 34cơ bản tạo nên số lượng và sinh vật lượng ðVPD của vùng biển này Khu hệ ðVPD trong vùng là những loài rộng nhiệt, rộng muối, chủ yếu có nguồn gốc từ biển ven bờ nhiệt ñới Trong vùng cửa sông nhóm nước ngọt có số loài ít, thường gặp ngay sát các cửa sông trong các ñầm nuôi tôm, cá bị ngọt hoá vào mùa mưa Nhóm ðVPD biển khơi khá nhiều khi triều cường, nhất là vào mùa kiệt của các dòng sông Nhóm nước lợ phân bố rộng rãi trong vùng và phát triển phong phú ở ñộ muối 5-30‰, trở thành nhóm cơ bản của vùng[14]
Vùng Nghệ An, Hà Tĩnh
Theo Nguyễn Xuân Quýnh và ctv (2003) tiến hành nghiên cứu ở một số ñầm nuôi tôm tại xã Hưng Hoà- Thành phố Vinh và xã Xuân ðan – Nghi Xuân - Hà Tĩnh kết quả cho thấy ðVPD trong các ñầm nuôi gồm có 51 loài thuộc 33 giống, 23họ, 5bộ chia thành 3 nhóm loài[3]:
Nhóm loài nước ngọt chiếm ưu thế với 28 loài(55%), 21 giống(63,6%), 12 họ
(52,2%) Những loài ñại diện như Brachionus angularis, Mesocyclop leuckarti,
Thermocyclop taihokiensis …Trong ñó họ Brachionidae có số lượng thành phần loài
lớn nhất với 5 loài (17,8%)
Nhóm loài nước lợ với 12 loài (23,5%), 8 giống (24,2%), 7họ (30,4%) Những
loài ñại diện Brachionus plicatilis, Schmarkeria gordioides, Eucyclop agilis …Trong
ñó họ Pseudodiaptomidae có 4 loài (33,3%)
Nhóm loài nước mặn 11 loài (21,5%), 10 giống (30,3%), 8họ (34,4%) là nhóm
loài có thành phần thấp nhất Một số loài ñại diện như Calanus helgoladicus, Acartia
danae, Pleuromamma abdominalis,…[3]
Phá Tam Giang - Cầu Hai
Phạm Văn Miên và Nguyễn Mộng (1982) thành phần loài ðVPD bước ñầu xác ñịnh ñược 34 loài trong ñó Copepoda 28 loài chiếm 82% tổng số loài, Cladocera 5 loài
và Rotatoria 1loài Thành phần loài của ñộng vật nổi ñã vẽ những nét khái quát của khu
hệ, song so với vùng ven biển khác thì thành phần loài ở ñây kém phong phú hơn[14]
Sự phân bố nhóm loài phụ thuộc vào khả năng thích nghi của chúng ñối với sự
Trang 35biến ñổi của ñộ muối tại các phần khác nhau của phá Nhóm nước ngọt phân bố chủ yếu ở những nơi có ñộ muối thấp và có thể mở rộng ra phần lớn diện tích phá trong thời kì mùa mưa như phía Bắc phá Tam Giang, vịnh Truồi Chúng là những ðVPD thuộc vùng biển nông ven bờ, thích nghi với những biến ñộng về nhiệt ñộ và ñộ muối
Nhóm nước lợ phân bố rộng rãi trong phá nơi có ñộ muối 5-18‰ và trở thành
cơ cấu chính của sự phát triển về mật ñộ và sinh khối nhất là vào mùa khô Vào mùa mưa nhiều loài này giảm ñi rõ rệt
Vụng Quy Nhơn
Sinh vật nổi vụng Quy Nhơn khá ña dạng và phong phú Khu hệ ðVPD trong vụng gồm 58 loài trong ñó chủ yếu là giáp xác chân chèo Copepoda (71,9%) và mang tính chất của khu hệ ñộng vật biển vùng nhiệt ñới với những ñại diện của các giống
Paracalanus, Aerocalanus, Acartia, Oithona, Lucifer, Sagitta, Oikopleura Ở ñây còn
có những loài biển khơi như Undinula vulgaris, Eucalanus subcraus… Số loài nước ngọt ít và chỉ xuất hiện mùa mưa như Brachionus calyciflocus, Bcaudatus,
Diaphtosoma sasi[14]
2.5.2.2.Phân bố mật ñộ, sinh vật lượng ðVPD các vùng nước lợ ven biển Việt Nam
Vùng ven biển Quảng Ninh – Thái Bình
Khối lượng ðVPD bình quân trong thời gian tiến hành nghiên cứu khảo sát vào tháng 8/1992 trung bình ñạt 22,8mg/m3, lớn nhất là 120mg/m3 và nhỏ nhất là 0,45mg/m3 ðVPD tập trung ở nửa phía Nam vùng nghiên cứu từ Cát Bà- Cửa Trà Lý, nửa phía Bắc khối lượng ñều thấp[14]
ðối với chân mái chèo Copepoda trong thời gian nghiên cứu có số lượng thấp hơn so với số lượng năm 1962 Vùng Cô Tô năm 1962 có số lượng trên dưới 50ct/m3nhưng vào thời ñiểm nghiên cứu chưa ñạt 10ct/m3 Vùng Cát Bà, cửa Thái Bình năm
1962 ñạt 50 -120ct/m3, nhưng vào thời ñiểm nghiên cứu lớn nhất chỉ ñạt 38ct/m3 Khối lượng ðVPD ở vùng biển Cô Tô là 97 – 98 mg/m3, vùng biển Cát Bà 109mg/m3 và phía Nam ñảo Trà Bản 46mg/m3 [2]
Vùng cửa sông Hồng từ bán ñảo ðồ Sơn (Hải Phòng) - Nga Sơn (Thanh Hoá)
Trang 36Mật ựộ và sinh vật lượng đVPD của vùng phụ thuộc rất nhiều vào lượng nước ngọt từ sông trong nội ựịa chảy ra và nước biển, ựồng thời liên quan ựến số lượng thực vật phù du Khúc Ngọc Cầm(1975) cho biết mật ựộ đVPD dao ựộng trong khoảng 104-
105con/m3 vào mùa khô, còn mùa lũ ựạt 102- 103con/m3 tại các vùng cửa sông Thái Bình, Trà Lý và Bà Lạt[14]
Nguyễn Văn Khôi và ctv (1980) cho biết ở cửa đáy và cửa Bà Lạt mật ựộ đVPD cao ựạt ựược vào thời gian từ tháng 2 Ờ tháng 4(104- 105con/m3), từ tháng 5 Ờ tháng 12 giảm, ựạt cực tiểu vào các tháng 7- tháng 9[14]
Vũ Trung Tạng và ctv (1985) ựã ựưa ra dẫn liệu về số lượng đVPD từ cửa Văn
Úc - cửa Bà Lạt trong các tháng 5 và tháng 6 ựạt 1,6.103-2,76.105 với giá trị trung bình
là 1,55.104con/m3 Sinh vật lượng thay ựổi tương ứng từ 60 Ờ 1720mg/m3 với giá trị trung bình ựạt 370mg/m3 Nơi có sinh vật lượng 100 Ờ 200mg/m3 tạo thành một dải sát
bờ, ở ựộ mặn nhỏ hơn 30Ẹ, nơi có sinh vật lượng cao hơn 200-1000mg/m3 nằm ở ựộ mặn 30-31Ẹ Vượt khỏi giới hạn ựộ mặn 31Ẹ sinh vật lượng giảm ựi rõ rệt[14]
Vùng ven bờ vịnh Bắc Bộ nhóm chân mái chèo Copepoda chiếm ưu thế quanh năm nhưng tỉ lệ cao nhất ựạt trong thời kì mùa khô, còn từ tháng 5 ựến tháng 12 nhóm Copepoda giảm ựi nhường chỗ cho sự phát triển của Cladocera Biến ựộng số lượng của đVPD theo thuỷ triều cường và giảm thấp vào lúc nước kiệt nhất[14]
Phá Tam Giang Ờ Cầu Hai (Huế)
Nhóm nước lợ phân bố rộng rãi trong phá nơi có ựộ muối 5-18Ẹ ựã trở thành
cơ cấu chắnh trong sự phát triển về mật ựộ và sinh khối của phá nhất là vào mùa khô, vào mùa mưa nhiều nhóm loài nước lợ giảm ựi rõ rệt do ựó ảnh hưởng ựến mật ựộ và sinh khối đVPD trong phá Mật ựộ đVPD trong phá thấp dao ựộng 450 Ờ 730ct/m3 và trung bình ựạt gần 600ct/m3[14]
Vụng Quy Nhơn
Sự phát triển cao về số lượng của đVPD ựạt ựược vào thời kì ựộ muối của nước trong vụng tương ựối cao và giảm thấp vào những tháng mùa mưa, liên quan ựến sự mất ựi của nhiều loài nước mặn xâm nhập vào vụng Mật ựộ đVPD của vụng ựược
Trang 37quyết ựịnh bởi sự phát triển của nhóm chân chèo Copepoda nhóm chiếm ưu thế (82,9%) với giá trị trung bình ựạt 76356ct/m3, cao nhất vào mùa mưa tháng 12 và thấp nhất vào ựầu mùa mưa tháng 9 với sự chênh lệch lên ựến 14 lần Nhìn chung sự phân
bố sinh vật nổi ở cửa vịnh thấp hơn so với phần nước phắa Tây của vụng, vì ở ựó tuy ựộ muối cao và ổn ựịnh nhưng dòng chảy mạnh và nguồn muối dinh dưỡng nghèo[14] 2.5.2.3 Tình hình sử dụng đVPD trong NTTS
Ở Việt Nam, việc quan tâm nghiên cứu về ựặc ựiển sinh học, kỹ thuật nuôi sinh khối luân trùng ựược bắt ựầu từ thập niên 80 và ựã ựạt ựược một số kết quả nhất ựịnh
Nguyễn Quyền và ctv (1988), nghiên cứu ựặc ựiểm sinh học và kỹ thuật nuôi sinh khối luân trùng Kết quả nghiên cứu cho thấy thức ăn tốt nhất cho luân trùng là tảo
Chlorella, nhiệt ựộ tăng trưởng tối ưu là 250C [10]
Vũ Dũng và ctv (1997) nghiên cứu kỹ thuật phân lập, giữ giống và nuôi sinh khối luân trùng Kết quả cho thấy luân trùng phân lập ựược ở vùng biển Hải Phòng thuộc dòng nhỏ (S Ờ strain) có kắch thước trung bình là 148,8ổ11,6ộm, tốc ựộ sinh sản
và ựường cong sinh trưởng dạng hình chữ S[4]
Hoàng Bắch đào (2000) nghiên cứu một số ựặc ựiểm sinh học và biện pháp nuôi
thu sinh khối luân trùng B plicatilis Kết quả nghiên cứu cho thấy luân trùng là loài
rộng muối và có tốc ựộ tăng trưởng quần thể nhanh nhất ở ựộ mặn 20Ẹ[5]
Lê Thị Nga, 1998 cũng tiến hành nghiên cứu một số ựặc ựiểm sinh học và kỹ
thuật nuôi sinh khối luân trùng B plicatilis tại Hải Phòng[8]
Bên cạnh những nghiên cứu về ựặc ựiểm sinh học là những nghiên cứu về nuôi sinh khối luân trùng trong thể tắch nhỏ bằng việc thử nghiệm các loại thức ăn khác nhau nhằm cung cấp thức ăn cho một số loài cá biển Như Văn Cẩn (1999) ựã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau ựến tăng trưởng quần thể và chất lượng luân trùng
đỗ Văn Minh (2001) khi tiến hành ương nuôi ấu trùng cá đù đỏ (Sciaenops
ocellatus) có sử dụng Copepoda cho cá ở giai ựoạn 15 ngày tuổi trở ựi thì ấu trùng cá cho sinh trưởng nhanh và tỷ lệ sống cao [9]
Trang 38Sự phát triển của ñộng vật phù du nói chung và Copepoda, Rotifer nói riêng trong vùng biển có vai trò quan trọng ñối với sự phát triển của nguồn giống cá biển trong tự nhiên Hiện nay, những công trình nghiên cứu về nuôi Copepoda trong ñiều kiện nhân tạo phục vụ ương nuôi ấu trùng cá biển còn rất hạn chế Các tài liệu ñưa ra chỉ nêu một cách vắn tắt mà chưa thể hiện rõ vai trò của chúng trong sản xuất giống cá biển Bên cạnh ñó, việc sử dụng kết hợp Rotifer và Copepoda trong tự nhiên làm giảm chi phí sản xuất sẽ làm giảm giá thành con giống rất lớn Do ñó cần phải có những nghiên cứu cơ bản xác ñịnh thành phần giống loài Copepoda và Rotifer trong ñiều kiện
ao nuôi khu vực vùng nước lợ, từ ñó làm cơ sở cho việc thu giống từ tự nhiên, lưu giữ nguồn giống ñể ứng dụng trong nuôi bể phục vụ cho sản xuất giống cá biển là việc làm cần thiết