Luận văn
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo
trường đại học nông nghiệp I
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Đĩnh
Hà nội – 2006
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan:
1 Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
2 Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ4 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Văn Hội
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Nông học, khoa Đào tạo sau đại học trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội và các anh, chị đồng nghiệp ở Chi cục Bảo vệ thực vật Nam Định đ4 giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Văn Đĩnh đ4 tận tình chỉ bảo và cho tôi những gợi ý quý báu trong quá trình tôi thực hiện đề tài
Tôi cũng xin cảm ơn Ban Quản lý Hợp tác x4 Nam Mỹ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định đ4 tạo điều kiện thuận lợi cho tôi triển trai thí nghiệm tại
địa bàn
Hà Nội ngày 11 tháng 9 năm 2006
Người thực hiện đề tài
Trần Văn Hội
Trang 4Mục lục
3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 44
4.1 Tình hình Sản xuất lúa lai và công tác bảo vệ thực vật ở Nam Định 524.2 Thực trạng trồng lúa Nhị ưu 838 tại nơi tiến hành thí nghiệm 55
4.2.3 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên giống Nhị ưu 838 tại
4.3 Thành phần sâu bệnh hại lúa Nhị ưu 838 tại Nam Định vụ Xuân 2006 59
Trang 54.4 Mật độ và sự gây hại của sâu, bệnh hại chính trên giống Nhị ưu 838
tại HTX Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định, vụ Xuân 2006 614.5 So màu lá lúa trên giống Nhị ưu 838 trên khu ruộng thí nghiệm tại
HTX Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định, vụ Xuân 2006 714.6 ảnh hưởng của các mật độ cấy, các mức phân đạm đến các yếu tố
4.6.1 ảnh hưởng của mức phân đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất lúa 734.6.2 ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất lúa 744.6.3 Tương quan giữa mật độ cấy, phân đạm với các yếu tố cấu thành
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
SRI : Phương pháp thâm canh cải tiến
TRC : Phương pháp thâm canh truyền thống
SSMN : Quản lý dinh dưỡng trên một diện tích cụ thể
LAI : Chỉ số diện tích lá
P1M1 : Mức phân 100 kg N/ha, mật độ cấy 33 khóm/m2 P1M2 : Mức phân 100 kg N/ha, mật độ cấy 28 khóm/m2
Trang 7Danh mục bảng biểu
Bảng 2.2 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống
Bảng 2.3 ảnh hưởng của khoảng cách cấy đối với số hạt/bông và năng
Bảng 4.2 Tình hình sử dụng phân bón trên lúa Nhị ưu 838 tại HTX Nam
Bảng 4.5 Mối liên hệ giữa mức phân, mật độ cấy đến mật độ sâu cuốn lá
Bảng 4.6 Mối liên hệ giữa mức phân, mật độ cấy đến mật độ Rầy nâu,
Bảng 4.7 Mối liên hệ giữa mức phân, mật độ cấy đến tỷ lệ bệnh (%), chỉ
số bệnh (%) bạc lá trên giống Nhị ưu 838 tại HTX Nam Mỹ, Nam
Bảng 4.8 Mối liên hệ giữa mức phân, mật độ cấy đến tỷ lệ bệnh (%), chỉ
số bệnh (%) khô vằn trên giống Nhị ưu 838 tại HTX Nam Mỹ, Nam
Bảng 4.9 Kết quả so màu lá lúa trên giống Nhị ưu 838 trên khu ruộng thí
Bảng 4.10 ảnh hưởng của mức phân đạm 100 kg N/ha đến các yếu tố cấu
Trang 8Bảng 4.11 ảnh hưởng của mức phân đạm 80 kg N/ha đến các yếu tố cấu
Đồ thị 4.1 Mật độ sâu cuốn lá (con/m2) qua các kỳ điều tra 62
Đồ thị 4.2 Diễn biến mật độ rầy (con/m2) qua các kỳ điều tra 65
Đồ thị 4.3 Diễn biến tỷ lệ bệnh (%) bạc lá qua các kỳ điều tra 68
Đồ thị 4.4 Diễn biến tỷ lệ bệnh (%) khô vằn qua các kỳ điều tra 70
Hình 3.3 Ruộng thí nghiệm ở giai đoạn đẻ nhánh 50Hình 3.4 Ruộng thí nghiệm ở giai đoạn chắc xanh 50Hình 4.1 Bao cuốn do sâu cuốn lá gây ra tại HTX Nam Mỹ, Nam Trực,
Hình 4.2 Cháy rầy tại HTX Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định ,vụ Mùa
Hình 4.3 Triệu chứng ruộng lúa nhiễm bệnh bạc lá tại HTX Nam Mỹ,
Hình 4.4.Triệu chứng bệnh khô vằn trên thân lá lúa tại HTX Nam Mỹ,
Trang 91 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay lúa gạo vẫn là cây lương thực chủ yếu của trên 50% dân số thế giới Đất lúa ngày càng thu hẹp, tỷ lệ dân số ở các nước trồng lúa tăng nhanh hơn các vùng khác, thiên tai ngày càng nhiều, cho nên nhu cầu về lúa gạo sẽ tăng trong tương lai
Sử dụng ưu thế lai để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp là một hướng đi mới, đạt hiệu quả cao mà nhiều nước trên thế giới áp dụng thành công
Lúa lai được mở rộng diện tích gieo trồng khá nhanh ở Trung Quốc sau khi được đưa vào sản xuất Nếu như năm 1973 mới có 373 ha trồng lúa lai thì năm 1988 lúa lai đ4 được trồng trên 11 triệu ha, chiếm khoảng 33% diện tích lúa cả nước Năm 1991, diện tích lúa lai đ4 là 14 triệu ha Năm 1993 diện tích lúa lai đ4 lên tới 19 triệu ha, chiếm 65% diện tích lúa của Trung Quốc Với ưu thế lai, lúa lai sinh trưởng mạnh, tích lũy nhiều chất khô, có chỉ số thóc/rơm rạ cao Nó còn chịu phân đạm, phản ứng tốt với thâm canh và cho năng suất cao hơn 20% so với các giống lúa tốt khác So với các giống lúa thấp cây mà Viện Lúa Quốc tế đ4 tạo ra trong những điều kiện bình thường, lúa lai cho năng suất cao hơn 1 tấn/ha, có nơi cao hơn 1,5-2 tấn/ha Hiệu quả của lúa lai càng
rõ ở các vùng có năng suất lúa thấp Lúa lai đ4 góp phần tăng năng suất lúa bình quân của Trung Quốc vốn đ4 khá cao Năng suất này là 32 tạ/ha năm 1971; 42 tạ/ha năm 1981 và 57 tạ/ha năm 1991 [6]
ở Việt Nam, từ năm 2002 trở lại đây, đất lúa có xu hướng giảm do chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản và cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao
Trang 10hơn Để đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước cần 4,02 triệu ha, vừa đủ cho nhu cầu lương thực và xuất khẩu từ 3-4 triệu tấn đến năm 2005 [5]
Song song với việc đưa các giống cây, con lai vào sản xuất như ngô lai, bông lai, dưa lai, lợn lai, bò lai, keo lai, … lúa lai đ4 tạo ra được sự chuyển biến lớn trong sản xuất nông lâm nghiệp Năm 1991, lúa lai đ4 được giới thiệu vào Việt Nam và đ4 được nông dân nhiều tỉnh chấp nhận, mở rộng một cách nhanh chóng
Vụ mùa năm 1991, Bộ Nông nghiệp và PTNT đ4 chỉ đạo gieo cấy thử
100 ha lúa lai bằng hạt giống nhập từ Trung Quốc Đến vụ lúa xuân 1992 tiếp tục mở rộng lên 1300 ha ở nhiều vùng khác nhau, trong đó mô hình trình diễn tại HTX Phú Lập (Phú Xuyên, Hà Tây) gieo cấy 54 ha đạt năng suất bình quân 9,5 tấn/ha ở tất cả các nơi khác, lúa xuân với giống lai đều cho năng suất trên 6,5 tấn/ha/vụ Đặc biệt một diện tích nhỏ ở Điện Biên (Lai Châu) đ4 cho năng suất 14 tấn/ha/vụ Lúc đầu một số tổ hợp lúa lai có chất lượng gạo thấp nên đ4 có một số ý kiến nghi ngờ không tán thành, nhưng về sau lúa lai
đ4 dần khắc phục được những mặt yếu ấy với các tổ hợp tốt hơn nên đ4 phát triển khá tốt Diện tích lúa lai của cả miền Bắc năm 1992 là 11.340 ha, đạt năng suất 66,6 tạ/ha và tổng sản lượng 75.523 tấn thóc Đến năm 1996 diện tích lúa lai đ4 tăng 55,5%, đạt 102.800 ha, năng suất có giảm đôi chút, đạt 65,8 tạ/ha và tổng sản lượng thóc đạt 677.172 tấn, tăng 55,3% Trong 5 năm, ở miền Bắc, tổng diện tích lúa lai lên đến trên 28 vạn ha, góp phần tăng thêm khoảng 35 vạn tấn thóc [6]
Nhìn chung gieo cấy lúa lai có hiệu quả kinh tế cao hơn lúa thuần nhưng mức độ tùy từng chân đất, từng vùng sinh thái, từng giống và tùy vào
kỹ thuật thâm canh So sánh hiệu quả sản xuất lúa lai giống Nhị ưu 838 với giống lúa thuần Khang dân 18 tại Cẩm Thủy, Thanh Hóa thấy rằng: đầu tư cho 1 ha lúa lai cao hơn 25% nhưng do năng suất lúa cao hơn 1,2 tấn/ha nên
Trang 11giá thành cho 1 kg lúa xấp xỉ nhau (1.300 đ/kg), lợi nhuận thu được từ lúa lai cao hơn lúa thuần khoảng 680.000đ/ha [20]
Chương trình “Ba giảm, Ba tăng” (Ba giảm: Giảm lượng giống gieo sạ, giảm phân đạm và giảm phun thuốc trừ sâu; Ba tăng: tăng năng suất, tăng chất lượng và tăng lợi nhuận) đ4 được Cục Bảo vệ thực vật triển khai thí điểm tại tỉnh Cần Thơ từ vụ Đông xuân 2002-2003, và tỉnh Tiền Giang từ vụ Đông xuân 2003-2004 từ nguồn kinh phí của Tỉnh và hỗ trợ của Viện Lúa quốc tế IRRI Tính đến cuối vụ Hè thu 2004, chương trình đ4 được triển khai đồng loạt tại khắp các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) và thành phố Hồ Chí Minh, diện tích ứng dụng “Ba giảm, Ba tăng” trong năm 2004 khoảng 418.481 ha, chiếm 15% diện tích tổng diện tích gieo trồng lúa ở ĐBSCL Về hiệu quả kinh tế đ4 giúp nông dân tăng năng suất bình quân 231 kg/ha, giảm giá thành sản xuất 1 kg lúa là 138 đồng, lợi nhuận tăng 1.100.000 đồng/ha Bộ Nông nghiệp & PTNT đ4 đánh giá cao kết quả đóng góp của chương trình trong việc tăng sản lượng lúa cả nước trong năm 2004 và chỉ đạo ngành nông nghiệp cả nước nhanh chóng ứng dụng chương trình này từ vụ Đông xuân 2004-2005, không những trên cây lúa mà còn trên các cây trồng khác để giúp nông dân giảm giá thành, đối phó với biến động tăng giá vật tư nông nghiệp hiện nay
Nam Định là tỉnh nông nghiệp, cây lúa là cây trồng chính với diện tích hàng năm (từ năm 2000 đến nay) xấp xỉ 160.000 ha Những năm qua năng suất và sản lượng lúa của Nam Định tiếp tục tăng và ổn định: từ năng suất 100 tạ/ha năm 1993 lên 122,7 tạ/ha năm 2005 [19]
Kết quả trên là do Nam Định kiên trì đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; trong đó, việc sử dụng giống lúa lai gắn với việc áp dụng các biện pháp thâm canh tổng hợp
Trang 12Vụ mùa năm 1992, diện tích trồng lúa lai ở Nam Định mới chỉ là 450
ha (chiếm 0,14 diện tích trồng lúa), thì đến năm 2005 diện tích này đ4 lên tới xấp xỉ 93.000 ha (bằng 60% diện tích gieo cấy lúa cả năm) Có nhiều hợp tác x4 gieo cấy lúa lai đạt 90-95 diện tích vụ xuân, 60-65% diện tích vụ mùa; nhiều huyện cấy lúa lai 70-80% diện tích trong vụ xuân và 50-55% diện tích trong vụ mùa
Năng suất lúa lai tăng từ 110 tạ/ha năm 1994 lên 133,04 tạ/ha năm
2004, năng suất đều cao hơn lúa thuần 10-25%
Sở dĩ lúa lai được mở rộng nhanh diện tích và trụ vững trên đồng đất của Nam Định là vì:
- Lúa lai có năng suất cao và ổn định, năng suất lúa lai thường cao hơn năng suất lúa thuần 10-25%, thu nhập cao hơn 0,5-2 triệu đồng/ha so với lúa thuần
- Lúa lai có tính thích ứng rộng trên nhiều chân đất khác nhau (chua, mặn, úng, trũng) Đặc biệt lúa lai chịu rét và chịu ngập úng rất tốt (điển hình
là trong vụ mùa 2003, 2004 nhiều diện tích lúa của Nam Định bị ngập úng 5-6 ngày liền, những diện tích cấy bằng lúa thuần chết, phải gieo cấy lại, trong khi diện tích được cấy bằng lúa lai phục hồi và sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao)
- Lúa lai có thời gian sinh trưởng ngắn nên chủ động được thời vụ, tạo
điều kiện thâm canh tăng thêm một vụ đông trên chân đất 2 lúa, tăng giá trị thu nhập và hiệu quả kinh tế
Bộ giống lúa lai chủ lực hiện nay của Nam Định được xác định:
- Vụ xuân: Nhị ưu838, D ưu 527, HYT92, HYT 100,
- Vụ mùa: Bác ưu 253, Bác ưu 903, VQ 14, TH3-3 [19]
Trang 13Mặc dù chế độ thâm canh phù hợp cho từng giống đang dần hoàn chỉnh nh−: mật độ cấy, mức phân bón, công tác bảo vệ thực vật, song những nghiên cứu về thành phần sâu bệnh chủ yếu, mối liên quan giữa một số giống lúa với dịch hại chủ yếu ở mức phân bón và mật độ cấy khác nhau ch−a đ−ợc quan tâm một cách đầy đủ Thực tế, nhiều hộ trồng lúa ở Nam Định vì mong muốn
có đ−ợc năng suất cao đ4 đ−a mật độ cấy lên cao, sử dụng quá nhiều đạm trong một vụ lúa gây l4ng phí, đồng thời sâu bệnh cũng phát sinh với mức độ cao khiến cho việc phòng trừ sâu bệnh trở nên nan giải, đẩy chi phí trên 1 đơn
đạt hiệu quả cao hơn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự phát sinh gây hại của một số loài sâu bệnh hại chủ yếu trên giống lúa Nhị
−u 838 ở các mức phân đạm và mật độ cấy khác nhau vụ Xuân 2006 tại Nam Định”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Nghiên cứu thành phần sâu bệnh giống lúa Nhị −u 838 trồng phổ biến tại Nam Định; mối quan hệ giữa mức phân bón và mật độ cấy khác nhau với một số sâu bệnh hại chính trên giống Nhị −u 838 tại HTX Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định, vụ Xuân 2006
Trang 14- Xác định mức đầu tư phân đạm ở mật độ cấy khác nhau một cách hợp
lý cho giống lúa Nhị ưu 838 tại HTX Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định, vụ Xuân 2006
1.2.2 Yêu cầu
- Xác định thành phần, đối tượng sâu bệnh hại chính trên giống lúa Nhị
ưu 838 trồng phổ biến ở vụ Xuân 2006 tại Nam Định
- Mối quan hệ giữa mật độ sâu, tỉ lệ bệnh và chỉ số bệnh của một số loài sâu bệnh hại chủ yếu ở các mức phân đạm và mật độ cấy khác nhau tại khu thí nghiệm
- So màu lá lúa ở một số giai đoạn sinh trưởng chính để xác định nhu cầu sử dụng đạm của giống Nhị ưu 838 với mức phân bón và mật độ cấy khác nhau ở khu thí nghiệm
- Đánh giá ảnh hưởng của một số sâu bệnh hại chủ yếu đến năng suất giống lúa Nhị ưu 838 với mức phân bón và mật độ cấy khác nhau ở khu thí nghiệm
Trang 15
2 Tổng quan tài liệu
2.1 Những nghiên cứu ngoài nước
Nhiều công trình nghiên cứu của một số nước có công nghệ lúa lai phát triển như: Trung Quốc, ấn Độ, Srilanka… ngoài việc tạo ra những giống có tiềm năng năng suất cao, đ4 thể hiện sự nổi trội về ưu thế lai, người ta chú trọng đến kỹ thuật thâm canh để lúa lai phát huy được thế mạnh đó như:
- Kỹ thuật làm mạ tạo cho cây mạ sống trong những điều kiện thuận lợi nhất có sức sống tốt nhất trước khi ra ruộng Tuổi mạ cũng được các nhà khoa học lựa chọn tuỳ theo điều kiện thâm canh Mạ non là điều kiện quan trọng trong thâm canh lúa lai
- Kỹ thuật cấy: Cây lúa được cấy 1 dảnh, mật độ cấy rất khác nhau tuỳ vào điều kiện đất đai thâm canh, tập quán canh tác mà mật độ được chọn từ 7 khóm/m2 đến 25 khóm/m2 Khoảng cách giữa hàng sông và hàng tay rất khác nhau, thông thường khoảng cách được cấy theo hình chữ nhật để tận dụng ánh sáng để cây lúa quang hợp
- Kỹ thuật bón phân: Điều kiện cho cây lúa phát triển tốt phụ thuộc rất lớn vào chế độ dinh dưỡng đất, các nhà khoa học đ4 tập trung đến sự cân đối dinh dưỡng đất tạo cho đất có sức khoẻ tốt vừa có dinh dưỡng tốt, vừa có độ thông thoáng khí để rễ cây lúa có thể hô hấp và hút dinh dưỡng thuận lợi Nhiều tài liệu cung cấp thông tin về các loại phân bón có tác dụng làm cho đất tơi xốp, thoáng khí như: Phân chuồng, phân hỗn hợp, phân phủ…
Phân vô cơ cũng được sử dụng ở mức khá cao chủ yếu là: Đạm urê, Lân, Kali cùng với phương pháp bón, phân hữu cơ và phân lân đều bón lót 100% Ưu điểm của việc bón phân vô cơ, chủ yếu là phân đạm urê là cách bón theo so màu (theo nhu cầu cần dinh dưỡng của cây)
Trang 16- Kỹ thuật điều tiết nước: Vai trò của nước rất quan trọng trong đời sống của cây lúa, các nhà khoa học rất chú trọng đến khâu điều tiết nước, tuỳ từng giai đoạn sinh trưởng của lúa mà cung cấp lượng nước cho phù hợp đảm bảo cho cây lúa phát triển tốt, tiết kiệm được lượng nước cần thiết; lượng nước thích hợp nhất từ giai đoạn sau cấy đến khi phát triển đòng là ruộng đủ ẩm cho
đất giúp cho cây lúa đẻ khoẻ, cứng cây, rễ ăn sâu xuống dưới có thể hút dinh dưỡng ở tầng sâu hơn; lượng nước thời kỳ phát triển đòng đến trỗ hoàn toàn cần lượng nước từ 1-3 cm
- Công tác BVTV: Các đối tượng dịch hại trên lúa lai về thành phần cũng như các đối tượng gây hại chính được xác định không khác so với lúa thuần Các đối tượng chủ yếu vẫn là sâu đục thân bướm 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy lưng trắng , bệnh đạo ôn, khô vằn, bệnh bạc lá lúa
Một số nghiên cứu về mật độ cấy, phương pháp bón phân đạm urê và sâu bệnh chủ yếu ở lúa lai được các tác giả ngoài nước đánh giá như sau:
Có sự khác biệt đáng kể giữa phương pháp thâm canh cải tiến (SRI) và phương pháp thâm canh truyền thống (TRC) ở Trung Quốc đ4 tiến hành như sau:
Bảng 2.1 Sự khác nhau giữa SRI và TRC ở Trung Quốc
Khoảng cách cấy 25 x 25 - 50 x 50 16,7 x 20 - 20 x 26,7 Loại phân bón Phân có nguồn gốc hữu cơ
và/hoặc phân chuồng
Phân hữu cơ
và phân hóa chất
Trang 17Phương pháp SRI tạo điều kiện thuận lợi cho lúa lớn khỏe và đạt sản lượng tối đa
Năm 2001 đ4 tiến hành 5 thử nghiệm so sánh ngoài đồng ruộng với lúa lai bằng phương pháp SRI tại hạt Yunshun, tỉnh Hunan Kết quả cho thấy, với phương pháp SRI, sản lượng tiềm năng của các giống lúa lai đều được phát huy tốt hơn so với phương pháp TRC
Cấy mạ non, cấy 1 dảnh, cấy thưa, khoảng cách mỗi chiều từ 25 x 25
cm đến 50 x 50 cm là phần cốt yếu của phương pháp thâm canh cải tiến (SRI) Tuy nhiên, cấy thưa ở mức độ nào còn tùy thuộc vào một số yếu tố:
Thứ nhất là về giống lúa, nếu giống lúa có thời gian sinh trưởng sinh dưỡng dài, cây cao, hấp thu phân bón tốt, khả năng đẻ nhánh khỏe, có thể cấy với khoảng cách 25 x 25 cm hoặc thưa hơn; với các giống lúa khác có thể cấy dày hơn
Thứ hai, mật độ cấy nên căn cứ vào độ phì nhiêu của đất và điều kiện tưới tiêu [30]
Trung Quốc đ4 áp dụng phương pháp thâm canh cải tiến (SRI) của Madagascar, phương pháp này có sự khác biệt với phương pháp thâm canh cổ truyền như sau:
Cấy mạ non, tuổi mạ 12-15 ngày và được cấy trên những luống không ngập nước
Cấy 1 dảnh/khóm và 7,5-15 khóm/m2 Mật độ cấy của phương pháp cải tiến này thường thấp hơn phương pháp truyền thống khoảng 50% Các khóm
được cấy theo hình chữ nhật để giúp không khí luân chuyển và ánh sáng có thể đến với từng khóm Khoảng cách giữa các khóm khoảng từ 25x25 cm đến 40x40 cm Khoảng cách giữa các khóm rộng cho phép rễ phát triển tốt, tăng khả năng đẻ nhánh, giảm độ ẩm dưới vòm lá giúp kiểm soát được bệnh
Trang 18Giữ cho đất ẩm và thoáng khí nhưng không bị ngập úng sau cấy để nhánh và rễ phát triển Tuy nhiên, trong giai đoạn làm đòng nên giữ cho ruộng thi thoảng ngập nước ở mức thấp
Bổ sung dinh dưỡng cho đất, tốt nhất là dạng hữu cơ như phân trộn hoặc phân phủ Nói chung, lượng phân trộn khoảng 10-15 tấn/ha điều này sẽ cải thiện độ màu mỡ của đất và hoạt động của vi sinh vật
Với mật độ cấy khác nhau (6,9; 11,1 và 15,3 khóm/m2) và 1 dảnh/khóm thì tổng số lá trên thân chính của cây lúa cấy với khoảng cách rộng (6,9 và 11,1 khóm/m2) nhiều hơn nhóm đối chứng (15,3 khóm/m2) (Hình 2.1) Tốc độ phủ lá ở 50 ngày sau cấy cao hơn so với nhóm đối chứng, như vậy khả năng đẻ nhánh của nhóm thí nghiệm là tốt hơn
Hình 2.1) Tốc độ phủ lá ở 50 ngày sau cấy cao hơn so với nhóm đối chứng, như vậy khả năng đẻ nhánh của nhóm thí nghiệm là tốt hơn
Trang 19Số liệu từ các tỉnh Zhejiang, Sichuan, Hunan và Heilongjiang cho thấy, dảnh 5 lá theo phương pháp thâm canh cải tiến đ4 có 2-3 nhánh Các nhánh của cây trồng theo phương pháp cải tiến nảy ra sớm hơn so với nhóm đối chứng (Hình 2.2) Số nhánh/khóm theo phương pháp SRI nhiều gần gấp 2 lần
so với nhóm đối chứng Tổng số dảnh trên diện tích ở phương pháp SRI tương
tự như nhóm đối chứng ở giai đoạn đẻ nhánh tối đa Tuy nhiên, việc ra nhánh sớm ở phương pháp SRI dẫn đến kết quả số dảnh hữu hiệu nhiều hơn đối với một số giống lúa lai và trong các môi trường khác nhau (Hình 2.3 và 2.4)
Trang 20Hình 2.3 ảnh hưởng của khoảng cách cấy đối với số dảnh hữu hiệu ở lúa
lai giống gangyou22 (Sichusan, 2001)
Hình 2.4 ảnh hưởng của khoảng cách cấy đối với số dảnh hữu hiệu ở lúa
lai giống Xieyou9308 (Zeijiang, 2001)
Trang 21Phương pháp SRI chú trọng đến mạ non và xử lý nước giữ thông thoáng
đồng ruộng Tuy nhiên, phương pháp thâm canh truyền thống lại sử dụng mạ
30 ngày tuổi và giữ ruộng ngập ở giai đoạn đẻ nhánh Với cùng mật độ cấy 15,5 khóm/m2 và 1 dảnh/khóm, ưu thế lai ở phương pháp SRI vẫn tạo ra nhiều dảnh hữu hiệu hơn (Hình 2.5)
Ngày sau cấy
Hình 2.5 ảnh hưởng của việc quản lý nước đối với sự đẻ nhánh ở cùng
mật độ cấy (1 dảnh/khóm; 15,5 khóm/m2) tại Liangyoupeijiu
Kết quả so sánh tốc độ thâm nhập của ánh sáng qua vòm lá ở mật độ cấy 7,5 khóm/m2 (D1) và 13,5 khóm/m2 (D2), cấy 1 dảnh ở phương pháp SRI
và cấy 19,5 khóm/m2 (đối chứng) được thể hiện qua hình 6 Tốc độ thâm nhập
ánh sáng tỷ lệ nghịch với mật độ trước 11 giờ sáng và sau 1 giờ chiều với cùng
1 diện tích lá Nhưng tốc độ thâm nhập ánh sáng ở các mật độ cấy lại tương tự vào khoảng thời gian xung quanh buổi trưa
Trang 22
Hình 2.6 Tốc độ thâm nhập ánh sáng ở các thời gian trong ngày với các
mật độ cấy khác nhau Khi thử nghiệm các phương pháp thâm canh cải tiến trên giống Liangyoupeijiu tại Viện nghiên cứu Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Anqinh ở Anqing, Anhui, người ta đ4 cấy với mật độ 6 khóm/m2 (SRI 1) và 9 khóm/m2
(SRI 2) SRI 1 đạt năng suất 12,15 tấn/ha, cao hơn phương pháp thâm canh truyền thống 21,3% Kết quả này với SRI2 là 11,25 tấn/ha và cao hơn phương pháp thâm canh truyền thống 12,3% Tại Zheijiang, Sichuan, Hunan và Heilongjiang, một số thử nghiệm với SRI cũng cho năng suất vượt trội so với phương pháp thâm canh truyền thống (Bảng 2.2) Tuy nhiên, các thử nghiệm cũng chỉ ra rằng, mật độ cấy trong phương pháp SRI có liên quan đến năng suất ở mật độ rất thấp năng suất giảm do số hạt trên bông tăng không nhiều (Bảng 2.2) Mối quan hệ giữa số bông và số hạt ở những mật độ khác nhau không nhất quán (Bảng 2.2 và 2.3) Đó có thể là ảnh hưởng của số bông/diện tích, thời điểm bón ni-tơ và cách quản lý nước
Trang 23B¶ng 2.2 N¨ng suÊt vµ c¸c yÕu tè cÊu thµnh n¨ng suÊt cña gièng Xieyou9308 theo ph−¬ng ph¸p SRI (Xinchang, Zheijiang, 2000)
P p M® b/k b/m 2 h/b Tlhc (%) P h (mg) Ns (t/ha) SRI 6.9
202,6 211,4 207,8 209,2 218,0
165,3 181,7 190,8 201,9 198,4
91,7 90,9 90,8 88,5 88,0
27,5 27,5 27,5 27,5 27,3
8,45d 9,60c 9,90b 10,28a 10,39a
Trang 24Bảng 2.3 ảnh hưởng của khoảng cách cấy đối với số hạt/bông và năng
suất (Sichuan, 2001)
Mật độ (khóm/m2) Số hạt/bông Năng suất (t/ha)
25,0 11,1 6,3 4,0
169,9c 196,0bc 216,4ab 234,3a
685,5a 680,3a 629,0b 617,8b
Hình 2.7 ảnh hưởng của số dảnh cấy và lượng phân N đối với năng suất
Trang 25Với phương pháp SRI chỉ để một lượng nước tối thiểu khi cây đang phát triển, sau đó chỉ để một lớp nước mỏng trong ruộng vào thời kỳ làm đòng Hoặc, để tiết kiệm thời gian lao động, người nông dân có thể dẫn nước vào, tháo nước ra khoảng 5-7 ngày/lần là có kết quả tốt Muốn quản lý nước một cách tốt nhất, điều đó còn phụ thuộc vào loại đất, lao động, và các yếu tố khác, vì thế, người nông dân nên thử một số biện pháp sao cho đất ẩm nhưng vẫn khô ráo trong thời gian sinh trưởng của lúa SRI giảm nhu cầu sử dụng nước tới 50% so với phương pháp thâm canh truyền thống Thông thường, SRI cho năng suất lúa cao hơn và hiệu quả sử dụng nước cũng tốt hơn [30]
Quản lý dinh dưỡng trên một diện tích cụ thể (SSNM) là tiếp cận cung cấp dinh dưỡng cho lúa dựa trên nhu cầu thực tế của cây Liên quan đến phân
N, SSNM gồm các đặc điểm sau:
• Bón lượng phân N vừa phải trong vòng 14 ngày sau cấy
• Bón phân N khi cây đẻ nhánh ở các giai đoạn sinh trưởng về sau, tùy theo nhu cầu của cây (căn cứ vào kết quả so màu lá), bổ sung thêm phân N
Để bón phân N có hiệu quả phải căn cứ vào nhu cầu của cây thông qua
so màu lá Số lần bón phân N cố định ở những giai đoạn sinh trưởng chủ yếu
và người nông dân điều chỉnh lượng phân N tùy theo màu lá Phân N thường
là để bù lại cho sự thiếu hụt những loại phân đắt tiền hơn, ví dụ như TSP, MP,
Trang 26vv Sử dụng urea thái quá có hại cho cây trồng và môi trường Vì được bón
quá liều, cây chỉ tập trung vào mặt sinh dưỡng mà không sinh sản dẫn đến
năng suất thấp Cây không được phát triển tự do, bị nhiều sâu bệnh phá hoại
khiến năng suất thấp và chi phí quản lý dịch hại tốn kém hơn Vì thế, cần bón
phân urea đúng mức tùy theo nhu cầu của cây [22]
Phản ứng của cây lúa rõ nhất đối với phân vô cơ là phân đạm, dựa vào đặc
điểm này người ta xác định nhu cầu cần đạm của lúa thông qua so mau lá lúa
Thiếu N là triệu chứng thiếu dinh dưỡng được phát hiện phổ biến nhất ở
cây lúa Những lá già và đôi khi là tất cả các lá trở nên có màu xanh lướt đến
úa vàng ở đầu lá Màu lá và bề ngoài của vòm lá là dấu hiệu có thể cho thấy sự
thiếu ni-tơ ở cây lúa và đó chính là thời điểm cần bón phân urea Vì hàm
lượng N trong lá cây có liên quan mật thiết đến tốc độ tổng hợp ánh sáng và
sự sản sinh ra biomas, nên đây là dấu hiệu nhạy cảm chỉ ra sự thay đổi nhu
cầu về N của cây trong thời kỳ sinh trưởng Vì thế, những người nông dân
thường lấy màu lá làm dấu hiệu khách quan có thể nhận biết bằng mắt thường
về tình trạng N của cây và sự cần thiết phải bón phân N Phân tích đất trồng và
cây để đánh giá tình trạng N là một biện pháp nữa để xác định nhu cầu cần
bón phân N của cây Tuy nhiên, đây không phải là biện pháp dễ thực thi đối
với người nông dân và họ cũng không có những tiện nghi để làm điều đó
So màu lá (SPAD) có thể cho kết quả nhanh chóng và đáng tin cậy về
tình trạng N của cây Công cụ này đ4 từng được sử dụng thành công đối với
cây lúa và các cây lương thực khác SPAD là công cụ chẩn đoán nhằm xác
định nhu cầu cần bổ sung thêm phân N của cây lúa dựa trên thực tế hàm lượng
N của lá lúa tương quan với năng suất lúa và màu xanh của lá lúa Bảng so
màu (LCC) là một dụng cụ đơn giản và rẻ tiền khác dùng để nhận định nhu
cầu ni-tơ của cây lúa và để bón đúng lượng phân bón ni-tơ (urea) [27]
Theo Viện nghiên cứu lúa quốc tế, để lúa lai sinh trưởng và phát triển
Trang 27trong điều kiện thuận lợi nên cấy mạ từ 20-25 ngày tuổi, 1-2 dảnh/khóm với khoảng cách 20 cm x 15 cm vào mùa khô và 20 cm x 20 cm vào mùa mưa Nếu khoảng cách giữa các cây quá dày, cây bị cạnh tranh ánh sáng, ít dảnh và dảnh bé; cây cao, yếu, dễ đổ [22]
Hình 2.8 Khoảng cách cấy lúa lai ở Viện nghiên cứu lúa quốc tế
ở ấn Độ, lượng giống để gieo mạ cấy cho 1 ha là 15 kg, cấy 1 dảnh/khóm với khoảng cách 15 cm x 15 cm Nhu cầu dinh dưỡng của cây tùy thuộc vào loại
đất và phân bón ban đầu, liều lượng chung là 120-150 kg N/ha [26]
Một nghiên cứu đ4 được tiến hành để xác định mật độ cấy đối với lúa lai ở Sri Lanka Người ta đ4 cấy với 2 mật độ 20 x 20 cm và 15 x 20 cm, 1 hoặc 2 dảnh/khóm Kết quả cho thấy, năng suất ở mật độ cấy 20 x 20 cm cao hơn so với mật độ 15 x 20 cm; với cùng một mật độ cấy, 1 hay 2 dảnh không
Trang 28Như vậy, không có gì ngạc nhiên khi việc sử dụng thuốc trừ sâu đối với lúa lai lại nhiều hơn Một nghiên cứu năm 1998 ở 500 hộ gia đình tại Hunan cho thấy năng suất lúa lai ở đây cao là do lượng hóa chất sử dụng nhiều [25]
Tổng hợp tài liệu nghiên cứu trên thế giới cho thấy mối quan hệ giữa quản lý dinh dưỡng và dịch hại cây lúa được thể hiện khái quát như sau:
- Dinh dưỡng và tính kháng sâu hại
- Thay đổi tình hình dịch hại do gia tăng lượng phân đạm
- áp lực bệnh hại và dinh dưỡng
Dinh dưỡng và tính kháng sâu hại:
Tính kháng của cây trồng với sâu hại thay đổi tùy thuộc vào tuổi cây hay giai đoạn sinh trưởng của cây trồng, hay nói cách khác thì tính kháng có mối liên hệ trực tiếp với sinh lý cây trồng Và như thế thì bất cứ yếu tố nào gây ảnh hưởng đến sự thay đổi sinh lý cây trồng thì sẽ làm thay đổi đến tính kháng của cây
Chúng ta biết rằng khi bón phân cho cây trồng sẽ làm cây phát triển và thay đổi hình dạng cụ thể như: Tăng trưởng nhanh, thúc đẩy hoặc kìm h4m quá trình chín, kích cỡ cây, làm biểu bì mô dày lên hoặc mỏng đi vv Sự thay
đổi hình dạng của cây ký chủ cũng làm ảnh hưởng đến các loài sâu hại sinh sống trên cây trồng đó Nguồn dinh dưỡng sẵn có trong đất chẳng những ảnh hưởng đến mức độ thiệt hại do sâu ăn lá gây ra mà còn ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của cây sau khi bị sâu hại, tuy nhiên hai mặt này ít được xem xét đồng thời với nhau Mức độ thiệt hại do sâu ăn lá ở cây trồng được bón ít phân cao gấp
đôi so với cây trồng bón nhiều phân Và như vậy độ phì của đất không có ảnh hưởng đến khả năng đền bù của cây trồng sau khi bị sâu ăn lá gây hại
Thay đổi tình hình dịch hại do gia tăng lượng phân đạm:
Hàm lượng đạm và lân trong lá lúa có tương quan thuận với bón phân
Trang 29đạm trong đất và không có tương quan với kali trong lá lúa Hàm lượng đạm tổng số trong lá lúa thì lại ảnh hưởng chính đến mức độ thiệt hại của các loài sâu hại lúa Mức độ nhiễm bệnh theo các mức phân bón khác nhau tại Trung Quốc, ấn Độ, Indinesia, Philippines cũng có kết luận rằng: Mức độ thiệt hại
do bệnh khô vằn, lem lép hạt, sâu đục thân , sâu cuốn lá và chuột ở các công thức bón phân theo tập quán của nông dân đều cao hơn nghiệm thức bón phân theo vùng (SSNM) Một kết quả nghiên cứu khác đ4 chứng minh rằng trong ruộng lúa bón càng nhiều phân đạm thì mức độ thiệt hại do sâu, bệnh gây ra càng nặng, cụ thể là rầy nâu, sâu đục thân, sâu cuốn lá, bệnh đạo ôn và bệnh vàng lá Ruộng lúa bón đạm cao (200 kg N/ha) bị rầy nâu gây hại ở mật độ cao, tỷ lệ thiệt hại do sâu cuốn lá, sâu đục thân và bệnh đạo ôn gia tăng Tuy nhiên, cũng do mật số sâu hại gia tăng ở ruộng bón đạm cao đ4 dẫn theo sự gia tăng mật số quần thể của các loài thiên địch tự nhiên của các loài sâu hại này (nhện và bọ xít mù xanh), có nhiều loài thiên địch, ký sinh và sâu hại Ruộng lúa được bón thừa phân đạm cũng sẽ làm giảm khả năng ăn mồi của loài thiên địch tự nhiên của rầy nâu, bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis,bởi vì nước bọt của rầy nâu sống trên cây lúa bón thừa phân đạm làm giảm rõ rệt khả năng ăn trứng rầy của bọ xít mù xanh ở những vùng trồng lúa bón thừa đạm trong một thời gian dài sẽ làm tính thích nghi sinh thái của rầy nâu tăng cao hơn, khi đó nếu biện pháp phòng trừ sinh học trong tự nhiên bị phá
vỡ thì nguy cơ gây bùng phát rầy nâu càng rất lớn
ảnh hưởng tương tác giữa ruộng bón thừa phân đạm và dịch hại nhiều loài côn trùng rút ngắn thời gian phát triển và gia tăng tốc độ tăng trưởng nhanh, làm gia tăng số lượng dịch hại, tỷ lệ sống sót, tính mắn đẻ, trọng lượng cơ thể và mức độ thiệt hại, càng tăng tỷ lệ sống sót của rầy cám, càng đẻ nhiều nhất là khi nhiệt độ tăng và làm gia tăng mật số trong giai đoạn lúa đẻ nhánh
đến làm đòng; càng thu hút nhiều bướm sâu cuốn lá đến cư trú và đẻ nhiều trứng
Trang 30Một số công trình nghiên cứu gần đây tại Trung Quốc về mối liên hệ giữa cây lúa giàu đạm với dịch hại, đặc biệt là rầy nâu Nilaparvata lugens cho thấy rằng khi hàm lượng đạm trong cây lúa gia tăng sẽ làm cho rầy cám sống sót nhiều hơn và rút ngắn vòng đời của chúng, rầy cái trưởng thành to hơn, đẻ nhiều trứng hơn và sống lâu hơn Ruộng lúa được bón thừa đạm sẽ có tàn lá che phủ dày làm gia tăng hàm lượng amino acid trong dịch của cây lúa, cây lúa bị xốp, mọng nước sẽ kích thích rầy cái tìm đến để hút nhựa và đẻ trứng; sâu non tuổi 1 của sâu đục thân vừa nở cũng dễ dàng đục vào thân lúa và di chuyển bên trong hệ thống mạch dẫn nhựa cây lúa Ngoài ra còn làm cho rầy nâu thay đổi vị trí cư trú và đẻ trứng ở cây lúa thừa đạm, rầy nâu sẽ di chuyển dần từ bên dưới lên gốc lên trên bẹ lá và lá cờ để đẻ trứng
áp lực bệnh hại và dinh dưỡng:
Về ảnh hưởng của phân bón đến bệnh hại lúa, phân bón sẽ làm giảm độ dai cơ học của mô cây lúa, làm giảm lượng cellulose cấu tạo các lớp tế bào của mô cây và làm tăng tính nhiễm bệnh của cây lúa bởi vì vi sinh vật gây bệnh thường tấn công vào các tế bào mô cây xốp, mọng nước ảnh hưởng tương tác giữa phân N, P, K với mức độ nhiễm một số loại bệnh phổ biến cho cây lúa như sau: phân đạm có tác động tích cực (tăng: +) đến mức độ nhiễm bệnh lúa von, đốm nâu, đốm vằn, cháy lá vi khuẩn, than, đạo ôn lá, thối bẹ, thối thân và vàng lụi (Tungro) Bón phân đạm cho cây lúa vào thời điểm và lượng bón thích hợp sẽ làm thay đổi tỷ lệ nhiễm bệnh đạo ôn lá và cổ bông một cách có ý nghĩa
Tàn lá lúa dư đạm sẽ tạo môi trường tiểu khí hậu rất thích hợp cho nhiều mầm bệnh phát triển Nhu cầu bón phân đạm bổ sung cho đất lúa nhằm giữ năng suất ổn định dẫn đến hậu quả là tăng áp lực của bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani) và bệnh đạo ôn (cháy lá) do nấm Pyricularia griseagây ra
Trang 31Mối quan hệ giữa bón phân đạm và kali là rất quan trọng cho sự tăng trưởng và sức khỏe của cây lúa, nếu sự cân bằng bị lệch sẽ làm gia tăng mức
độ nhiễm bệnh Bón thiếu lượng phân kali cũng gắn liền với bệnh đốm nâu (Helminthosporium oryzae) và sọc nâu (Cercospora oryzae) và nhất là khi vừa thiếu kali vừa dư thừa phân đạm thì hai loại bệnh này bộc phát mạnh Một dạng bệnh mới phát hiện, phổ biến gần đây Malaysia, Indonesia và Philippines
đó là bệnh sọc đỏ lá (red stripe) hay còn gọi là vàng lá chín sớm, tuy đến nay vẫn chưa xác định được tác nhân gây bệnh, nhưng theo các chuyên gia về dinh dưỡng thì đây cũng là dạng bệnh xuất phát từ sự mất cân bằng dinh dưỡng trong đất [10]
2.2 Những nghiên cứu trong nước
Năng suất lúa được quyết định bởi 3 yếu tố cấu thành: số bông/m2, số hạt chắc/bông và trọng lượng 1000 hạt Trọng lượng 1000 hạt chịu sự chi phối của đặc điểm di truyền giống Như vậy 2 yếu tố cấu thành năng suất còn lại có thể điều chỉnh bằng các biện pháp canh tác thích hợp nhằm đảm bảo số bông/m2 và tăng số hạt chắc/bông [8]
Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng hàng đầu đối với cây lúa vì đây là thành phần cơ bản của protein sự sống Ngoài ra, nó còn nằm trong thành phần diệp lục của lá, trong các vật chất khô của cây lúa từ 1-5% đạm [7] Đối với lúa thường cũng như lúa lai, đạm là yếu tố dinh dưỡng tác động đến khả năng sinh trưởng và phát triển; khả năng chống chịu và năng suất mạnh nhất Nhu cầu đạm của lúa có tính liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng đến lúc chín Tuy nhiên, trong các thời kỳ sinh trưởng của cây lúa, có thời kỳ dùng ít đạm, đỉnh cao của nhu cầu dinh dưỡng đạm là thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng [7]
Theo nghiên cứu của tác giả Bùi Huy Đáp, thời kỳ đẻ nhánh, nhất là thời kỳ
đẻ nhánh rộ, lúa hút nhiều đạm nhất, chiếm 70% lượng đạm cần thiết trong chu kỳ sinh trưởng của cây lúa đây là thời kỳ hút đạm quyết định năng suất lúa [6]
Trang 32Để cây có thể tiếp thu được lượng đạm bón thì phải căn cứ vào đặc điểm sinh lý của cây Tất cả các loại cây trồng giai đoạn đầu đều cần được bón nhiều đạm để mở rộng diện tích quang hợp Khi cây chuyển từ giai đoạn dinh dưỡng sang giai đoạn sinh thực thì nhu cầu đạm của cây ít đi Do vậy bón đạm
“quá tay” trong giai đoạn đầu ít nguy hiểm hơn trong giai đoạn sau Hiện tượng lốp đổ đối với cây ngũ cốc, chất lượng nông sản kém đều là hậu quả của việc bón nhiều đạm trong giai đoạn sau [22]
Lúa lai có bộ rễ khá phát triển nên hút được nhiều chất dinh dưỡng Trong trường hợp không bón phân, năng suất lúa lai vẫn cao hơn đối chứng do
bộ rễ hoạt động mạnh hơn Với mức năng suất 75 tạ/ha, lúa lai hấp thu N ít hơn lúa thuần Nhiều thí nghiệm đồng ruộng cho thấy, 1 kg N bón cho lúa lai thu được 9-18 kg thóc, còn bón cho lúa thuần chỉ đạt 2-13 kg thóc [6]
Để giảm thiểu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong thâm canh lúa cao sản chúng ta dựa vào sự cân bằng của quần thể sâu hại và ký sinh thiên địch của chúng trong hệ sinh thái ruộng lúa Việc hạn chế phun thuốc trừ sâu trong giai đoạn đầu của cây lúa (0-40 ngày sau sạ) đ4 giúp cho nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long thay đổi tập quán phun thuốc trừ sâu sớm, phun nhiều lần từ 3,35 lần/vụ xuống còn 1,56 lần/vụ Từ việc hạn chế phun thuốc trừ sâu trong giai đoạn đầu của cây lúa (0-40 ngày sau sạ), dần dần việc phun thuốc trừ sâu trong suốt vụ lúa cũng giảm theo mà năng suất không hề bị ảnh hưởng [8]
Các tổ hợp lúa lai Trung Quốc đ4 trồng chống chịu với bệnh đạo ôn và
dễ bị bệnh bạc lá Thâm canh lúa lai cũng như lúa thuần là trên cơ sở đảm bảo
đủ nước, bón phân nhiều, và trong điều kiện như nhau năng suất lúa lai thường trội hơn
Trong khoảng 10 năm gần đây, rất nhiều các giống lúa lai Trung Quốc
đ4 được đưa vào sản xuất do có năng suất cao Nhưng có những vấn đề đang
đặt ra cho sản xuất, nhất là vấn đề phát sinh bệnh bạc lá trên diện rộng ở tất cả
Trang 33các địa phương Hàng năm hơn 350.000 ha bị nhiễm bệnh nặng ở vụ mùa và cả vụ lúa xuân, trong đó hàng trăm ha bị mất trắng như vụ mùa 2002 ở Đan Phượng, Phú Xuyên, Hà Tây; huyện Lương Tài, Bắc Ninh; Gia Viễn, Ninh Bình Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá khả năng kháng, nhiễm bệnh bạc lá của các giống lúa lai Trung Quốc với một số chủng vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv Oryzae phổ biến ở miền Bắc Việt Nam là rất cần thiết trong việc
định hướng nhập nội giống lúa lai và góp phần xây dựng quy trình phòng chống tổng hợp bệnh bạc lá lúa [18]
Vùng khu 4, bệnh đạo ôn, rầy nâu, bệnh khô vằn và sâu cuốn lá nhỏ là những đối tượng gây hại nguy hiểm đối với sản xuất lúa Về cơ cấu các gieo trồng phổ biến, toàn vùng có xu thế tăng dần các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, có tiềm năng năng suất cao nhưng nhiễm rầy nâu (Nhị ưu 838, Nhị ưu 63 ) Bảng 2.4 Một số đặc điểm của giống lúa có triển vọng ở vùng khu 4
Giống lúa Thời gian sinh
trưởng (ngày)
Phản ứng với đạo ôn
Phản ứng với rầy nâu
Trung tâm BVTV vùng khu 4 đề nghị duy trì và mở rộng diện tích gieo
Trang 34cấy các giống lúa có năng suất cao ổn định như Nhị ưu 838, với một tỷ lệ hợp lý và phải chú ý theo dõi diễn biến của bệnh đạo ôn và rầy nâu, rầy lưng trắng để có biện pháp phòng trừ kịp thời Đồng thời, căn cứ vào các cao điểm phát sinh gây hại của sâu bệnh chủ yếu ở từng địa phương để:
- Bố trí cơ cấu giống lúa và thời vụ hợp lý
- Chế độ chăm sóc, bón phân cân đối phù hợp tạo điền kiện cho cây lúa phát triển khỏe, né tránh các giai đoạn xung yếu của sâu bệnh trên đồng ruộng
- Điều tra theo dõi phát hiện sâu bệnh sớm để có kế hoạch phòng trừ đạt hiệu quả [21]
Theo kết luận của tác giả Bùi Trọng Thủy và CTV1, A.Yoshimura2, N.Furuya2, S.Taura3 trong nghiên cứu “Đánh giá khả năng kháng, nhiễm bệnh bạc lá của 9 dòng, giống lúa lai Trung Quốc với 7 chủng vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv oryzae” thì: Giống lúa Nhị ưu 838 có phản ứng nhiễm (S) với tất cả 7 chủng vi khuẩn phổ biến Y1, Y5, Y6, Y7, Y8, Y9, Y10, vì vậy giống lúa lai này không chứa bất cứ một gene kháng bệnh bạc lá nào [18]
Vụ xuân năm 2005, dưới sự giúp đỡ của chuyên gia Trung Quốc, Nam
Định đ4 thành công xây dựng mô hình canh tác lúa siêu năng suất đạt 12-14 tấn/ha
Theo mô hình này, mật độ cấy là 25 khóm/m2 (hàng cách hàng khoảng
23 cm, cây cách cây 17 cm, cấy 2 dảnh/khóm) với lượng phân chuồng 8000 kg/ha, phân lân super 83 kg P/ha, đạm u rê 153 kg N/ha, kali 102 kg K/ha và cách bón như sau:
- Toàn bộ phân chuồng và phân lân + 40% phân u rê bón trước khi bừa cấy 2 ngày
- Bón thúc đợt 1 khi lúa bén rễ hồi xanh với 40% lượng u rê
- Bón thúc đợt 2 bằng toàn bộ lượng phân kali khi kết thúc phơi ruộng
và lúa phân hóa đốt
- Bón thúc đợt 3 khi lúa có đòng 10-12 cm (phân hóa đòng bước 6, 7)
Trang 35Nhược điểm: Mô hình này khó áp dụng, chỉ mang tính chất biểu diễn vì: lượng vật tư sử dụng để canh tác quá lớn, mạ thâm canh không phải là thói quen của người trồng lúa, việc rút nước lộ ruộng khó áp dụng đối với những vùng không chủ động được tưới tiêu [19]
Khái niệm về “ruộng lúa khỏe” được hình thành từ cơ sở của sự phối hợp chặt chẽ giữa đặc tính sinh lý của cây lúa, cấu trúc tán lá lúa cũng như
điều kiện tiểu khí hậu bên dưới tán lá lúa và sự phát triển của bệnh hại do tác
động của phân đạm và mật độ gieo sạ Quản lý ruộng lúa khỏe mạnh là sự kết hợp giữa quản lý dinh dưỡng và cây trồng để tạo ra một ruộng lúa phát triển tốt, năng suất cao và có khả năng tự chống chịu bệnh hại tốt hơn Đây là một hướng mới, có tính khả thi và hiệu quả
Ruộng lúa khỏe phụ thuộc vào các đặc điểm như:
- Dạng hình đẹp: Chiều cao cây phải ngắn và góc lá thẳng đứng để cân bằng hô hấp và quang hợp, tăng chỉ số diện tích lá (LAI) Cây có tán lá ng4 rợp sẽ làm tăng ẩm độ tương đối và giảm nhiệt độ dưới tán lá do ánh sáng bị cản trở bởi tán lá và giảm sự lưu thông không khí dưới tán lá Với điều kiện tiểu khí hậu bên dưới tán lá như vậy là rất thích hợp cho sự phát triển nhiều loại bệnh hại và sâu hại tấn công cây lúa
Trang 36- Số chồi và chỉ số diện tích lá với giống lúa cao sản ngắn ngày, cần quản lý số chồi hữu hiệu vừa phải, đảm bảo số bông/m2, chiều dài bông và năng suất không bị giảm đồng thời cũng giữ chỉ số diện tích lá vừa phải, không làm gia tăng số chồi vô hiệu giảm số chồi vừa phải cũng làm giảm áp lực sâu bệnh
- Bón phân cân đối, tránh bón dư thừa phân đạm
- Mật độ gieo sạ dày (250 kg/ha) có chỉ số bệnh cao hơn ruộng sạ thưa (75-120 kg/ha), ở giai đoạn đòng-trỗ, góc lá của ruộng sạ thưa, bón ít đạm (80 kgN/ha) nhỏ hơn (thẳng đứng hơn) ruộng sạ dày và bón nhiều đạm (120 kgN/ha) Gieo xạ thưa 75-100kg/ha, dùng bảng so màu để bón phân đạm cho lúa (80 kgN/ha) sẽ tạo ra ruộng lúa khỏe mạnh
Tiến bộ kỹ thuật “Ba giảm, Ba tăng” trong canh tác lúa cao sản ở
ĐBSCL đ4 và đang được triển khai rộng r4i từ năm 2003 đến nay Kết quả từ chương trình này là bài học thực tiễn làm rõ hơn cơ sở lý luận nêu trên Chỉ riêng vụ Đông xuân, theo thống kê của Chi cục BVTV các tỉnh ĐBSCL, diện tích áp dụng “Ba giảm, Ba tăng” là 379.915 ha, chiếm tỷ lệ 25,2% diện tích gieo trồng Tính bình quân, mỗi ha bà con nông dân đ4 giảm bình quân được
49 kg giống, tương đương 137.556 ủồng/ha Bằng việc bón phân đạm theo bảng so màu lá lúa và sử dụng phân bón cân đối, hợp lý, bình quân mỗi ha bà con nông dân đ4 giảm được 28,3 kg N, tương đương 159.491 ủồng/ha
Quản lý dịch hại theo biện pháp tổng hợp, kết hợp giảm giống, giảm phân nên đ4 hạn chế số lần phun thuốc BVTV bình quân mỗi ha nông dân giảm được 1,9 lần thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh tương đương với số tiền là 290.148
ủồng/ha Năng suất lúa tăng bình quân mỗi ha là 150,5 kg, tương đương tăng thu nhập 342.332ủồng/ha Bên cạnh đó đ4 giảm được giá thành sản xuất lúa, bình quân 202 đ/kg lúa Lợi nhuận tăng bình quân ở các điểm thực hiện là 1.068.680 ủồng/ha Đặc biệt là các cánh đồng “Ba giảm, Ba tăng” rất ít bị nhiễm bệnh đạo
Trang 37ôn và rầy nâu, đ4 tạo nên chất lượng hạt lúa tốt hơn, ít tồn dư thuốc BVTV hơn, góp phần bảo vệ môi trường, sức khỏe người tiêu dùng, người sản xuất, đồng thời góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững [10]
Vụ Xuân năm 2005, được sự hỗ trợ của Cục Bảo vệ thực vật, Hợp phần
hỗ trợ Phòng trừ dịch hại tổng hợp, Chi cục Bảo vệ thực vật Nam Định đ4 triển khai các nghiên cứu đồng ruộng “Tìm hiểu ảnh hưởng hệ thống thâm canh lúa SRI đến dịch hại và năng suất lúa”
Thí nghiệm được triển khai được 3 huyện, mỗi huyện 2 hợp tác x4 Mỗi hợp tác x4 chọn 2 khu ruộng có diện tích từ 1.200 đến 1.400 m2 để bố trí 2 thí nghiệm:
- CT 1 và CT 1N: Mật độ cấy 20 khóm/m2, giảm 40% so với nông dân
- CT 2 và CT 2N: Mật độ cấy 25 khóm/m2, giảm 20% so với nông dân
- CT 3 và CT 3N: Mật độ cấy của nông dân địa phương vẫn áp dụng như các vụ trước
Phương pháp bón phân:
Căn cứ vào kết quả điều tra, lượng phân bón của các hộ nông dân tiên tiến thường đạt năng suất cao, sâu bệnh ít, chi phí phòng trừ thấp Kết hợp điều kiện
Trang 38đất đai, quy trình chỉ đạo bón phân của địa phương, nhóm nông dân tham gia nghiên cứu đ4 dự kiến qui trình bón phân cho thí nghiệm A và 3 công thức ở thí nghiệm B và phương pháp này gọi là bón theo quy trình cải tiến
3 công thức của thí nghiệm B giao cho chủ ruộng tự quyết định
Kết quả thí nghiệm:
+ Các chỉ tiêu về sinh trưởng cây lúa:
Trên cùng một chế độ canh tác, khi cấy mật độ càng thưa cây lúa có khả năng đẻ nhánh càng lớn, thời gian đẻ nhánh kéo dài, số dảnh/khóm lớn, tỷ
lệ bông hữu hiệu thấp và ngược lại
Trên cùng một mật độ cấy khi bón phân theo quy trình cải tiến, do bón phân cân đối, hợp lý, bón lót sâu, kết hợp với phương pháp so màu lá lúa đ4 thúc đẩy quá trình đẻ nhánh nhanh, đẻ tập trung, tỷ lệ dảnh hữu hiệu cao, lá
đứng, cứng, lúa trỗ gọn hơn so với bón phân theo hộ nông dân
+ Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại chính:
Trên cùng một chế độ canh tác, mật độ cấy có ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh gây hại của các đối tượng dịch hại chính Trên công thức cấy thưa, mức độ gây hại của sâu bệnh nhẹ hơn trên công thức cấy dày, nhất là mật độ rầy nâu - RLT và tỷ lệ bệnh khô vằn
Trên cùng một mật độ cấy, phương pháp bón phân có ảnh hưởng lớn
đến sự phát sinh và gây hại của các đối tượng dịch hại Khi bón phân theo quy trình cải tiến, do cây lúa khỏe ngay từ ban đầu, cây cứng, lá đứng, ruộng thông thoáng nên các đối tượng sâu bệnh hại chính đều thấp hơn so với các ô bón phân theo hộ nông dân
+ Năng suất lúa:
Trên cùng một chế độ canh tác, các mật độ cấy quá thưa như: 11, 16 khóm/m2 đều cho năng suất thấp hơn khi cấy mật độ 20-34 khóm/m2 Những nơi chân đất giàu dinh dưỡng thì mật độ cấy 25 khóm/m2 cho năng suất cao
Trang 39hơn so với mật độ cấy của nông dân (33-34 khóm/m2), còn những chân đất nghèo dinh dưỡng trong phạm vi mật độ nhỏ hơn 35 khóm/m2 thì mật độ càng cao cho năng suất càng cao
Trên cùng một mật độ cấy, khi áp dụng phương pháp bón phân theo quy trình cải tiến đều cho năng suất cao hơn so với phương pháp bón phân của hộ nông dân
+ Hiệu quả kinh tế: Cũng tương tự như năng suất lúa
Trên cùng một chế độ canh tác, các mật độ cấy quá thưa như: 11, 16 khóm/m2 đều cho hiệu quả kinh tế thấp hơn khi cấy mật độ 20-34 khóm/m2 Những nơi chân đất giàu dinh dưỡng thì mật độ cấy 25 khóm/m2 cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với mật độ cấy của nông dân (33-34 khóm/m2), còn những chân đất nghèo dinh dưỡng trong phạm vi mật độ nhỏ hơn 35 khóm/m2 thì mật
độ càng cao cho hiệu quả kinh tế càng cao
Trên cùng một mật độ cấy, khi áp dụng phương pháp bón phân theo quy trình cải tiến đều cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với phương pháp bón phân của hộ nông dân [2]
Tiến bộ kỹ thuật mới “Ba giảm, Ba tăng” giảm lượng giống gieo sạ, giảm lượng phân đạm hợp lý và giảm phun thuốc trừ sâu; tăng năng suất, tăng chất lượng và tăng hiệu quả trong thâm canh lúa cao sản ở ĐBSCL đ4 và đang
được đông đảo nông dân áp dụng thành công từ nhiều năm qua là bài học thực tiễn minh chứng cho cơ sở lý luận về mối quan hệ đ4 nêu trên Đặc biệt, trong
vụ lúa Đông xuân 2005-2006 ở ĐBSCL, thực tế ngoài đồng ruộng đ4 chứng minh rõ mối quan hệ trong cùng loại giống lúa nhiễm rầy thì ở những ruộng gieo sạ dày (trên 150-200 kg/ha) và bón nhiều phân đạm ( 100 kg N/ha) bị nhiễm rầy nâu mật số cao (trên 4000-5000 con/m2), trong khi ở các ruộng áp dụng “Ba giảm, Ba tăng” mật độ sạ thưa (80 kg/ha), bón đạm vừa phải (70-80
kg N/ha) có mật số rầy nâu rất thấp (< 1000 con/m2) không cần phải phun
Trang 40thuốc trừ rầy, đồng thời cũng nhiễm đạo ôn rất thấp [9]
Được sự hỗ trợ của Hợp phần IPM - DANIDA, trong 2 năm 2002-2003, Chi cục Bảo vệ thực vật Nam Định đ4 tổ chức triển khai các hoạt động sau:
- Mở 19 lớp huấn luyện nông dân về quản lý dinh dưỡng cây lúa với
570 nông dân tham gia Các nông dân tham gia lớp huấn luyện đ4 được hướng dẫn thảo luận 19 chuyên đề về phân bón, yêu cầu dinh dưỡng của cây lúa, các biện pháp tác động để trồng cây lúa khỏe
- Triển khai 90 nghiên cứu đồng ruộng về “ảnh hưởng của dinh dưỡng
đến sâu bệnh hại chính và năng suất lúa tự nhiên ngoài đồng ruộng” cho 450 nông dân tham gia
- Tổ chức 32 cuộc Hội thảo đầu bờ nhằm giới thiệu kết quả các hoạt
động về quản lý dinh dưỡng trên cây lúa cho 2.260 nông dân trong tỉnh
Mỗi thí nghiệm nghiên cứu đồng ruộng của nông dân về ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sự phát sinh gây hại của sâu bệnh hại, năng suất lúa được bố trí 2 công thức:
Công thức 1:
Bón theo quy trình cải tiến
+ Lượng phân bón: Phù hợp với từng ruộng thí nghiệm