1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội

135 676 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và đậu quả ở nhãn tại vùng Gia Lâm, Hà Nội
Tác giả Lê Thái Nghiệp
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Thị Hương
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Trồng Trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 8,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-

LÊ THÁI NGHIỆP

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ðIỀU KHIỂN SINH TRƯỞNG, RA HOA VÀ ðẬU QUẢ Ở NHÃN TẠI VÙNG GIA LÂM – HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT

Mã số : 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM THỊ HƯƠNG

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

LỜI CAM ðOAN

- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn

ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Lê Thái Nghiệp

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn này, tôi luôn nhận ñược sự giúp ñỡ tận tình của các thầy cô giáo Trường ñại học nông nghiệp Hà - Nội, Trại thực nghiệm vườn cây ăn quả, vườn nhãn của trung tâm thực nghiệm nghiên cứu rau hoa quả Gia Lâm- Hà Nội và các ñồng nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô hướng dẫn khoa học PGS.TS Phạm Thị Hương - bộ môn Rau hoa quả, khoa Nông học, Trường ñại học nông nghiệp - Hà Nội - Là người trực tiếp hướng dẫn và giúp

ñỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện ñề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy cô trong Bộ môn Rau hoa quả, tập thể cán bộ trại thực nghiệm vườn cây ăn quả, các thầy cô trong khoa Sau ñại học, khoa Nông học - Trường ñại học nông nghiệp Hà Nội và tập thể cán bộ trung tâm thực nghiệm nghiên cứu rau hoa quả trung ương ñã giúp ñỡ và ñóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn này

Xin cảm ơn bạn bè ñồng nghiệp, gia ñình ñã cổ vũ và giúp ñỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Lê Thái Nghiệp

Trang 4

2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới và Việt Nam 8 2.4 Một số ñặc ñiểm sinh trưởng lộc và ra hoa ñậu quả của cây nhãn 13

2.7 Các giống nhãn ñược trồng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam 22 2.8 Kết quả nghiên cứu thúc ñẩy quá trình ra hoa, ñậu quả ở nhãn 26

3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

3.2 Nội dung nghiên cứu 37

Trang 5

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

4.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa truyền thống ñến năng suất

4.1.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa truyền thống ñến khả năng ra

hoa,

4.1.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa ñến khả năng ñậu quả và duy trì

4.1.3 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa truyền thống ñến năng suất

4.2.2 Khả năng sinh trưởng phát triển và chất lượng các ñợt lộc của

4.2.3 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa ñến kích thước và diện tích lá

4.2.4 ðặc ñiểm sinh trưởng phát triển của nhãn Lồng sau khi cắt tỉa và

4.2.5 Ảnh hưởng của kỹ thuật xử lý KClO3 ở các liều lượng khác nhau

4.3 Ảnh hưởng của việc phun KClO3 ñến khả năng ra hoa, ñậu quả,

4.3.1 Ảnh hưởng của nồng ñộ KClO3 ñến thời gian và khả năng ra hoa

4.3.2 Ảnh hưởng của nồng ñộ KClO3 ñến các chỉ tiêu về hoa của

Trang 6

4.3.3 Ảnh hưởng của nồng ựộ KClO3 ựến các chỉ tiêu về hoa của

4.3.4 Ảnh hưởng của nồng ựộ KClO3 ựến khả năng giữ quả của giống

4.3.5 Khả năng tăng trưởng quả của nhãn Hương Chi sau khi phun

4.3.6 Ảnh hưởng của nồng ựộ phun KClO3 ựến các yếu tố cấu thành

4.3.7 Ảnh hưởng của nồng ựộ phun KClO3 ựến thành phần cơ giới quả

4.3.8 Ảnh hưởng của nồng ựộ xử lý KClO3 ựến phẩm chất nhãn Hương Chi 73 4.3.9 đánh giá hiệu quả kinh tế của biện pháp kỹ thuật phun KClO3 74 4.4 Ảnh hưởng của việc loại bỏ ngồng hoa kết hợp xử lý KClO3 ựến

4.4.1 Ảnh hưởng KClO3 ở liều lượng 40g/m ựường kắnh tán ựến thời

gian và khả năng ra hoa muộn lại của nhãn Hương Chi 76 4.4.2 Ảnh hưởng của KClO3 ựến các chỉ tiêu ra hoa trái vụ của nhãn

4.4.3 Ảnh hưởng của biện pháp xử lý KClO3 ựến chất lượng chùm hoa

4.4.4 Ảnh hưởng của biện pháp xử lý KClO3 ựến khả năng duy trì quả

Trang 7

IBA: Axit β – Indol Bytyric

α-NAA: α- Naphtyl Axetic Axit

DANH MỤC BẢNG

Trang 8

STT Tên bảng Trang

2.1 Diện tích và sản lượng nhãn của một số nước trên thế giới 9 2.2 Diện tích trồng và sản lượng nhãn của một số vùng trong cả nước

2.3 Lượng phân bón cho cây nhãn kinh doanh 6- 7 năm tuổi ở Viện

4.1 ðặc ñiểm hoa, chùm hoa, giới tính hoa nhãn Lồng ở thí nghiệm cắt

4.2 Khả năng ñậu quả và giữ quả từ sau tắt hoa của giống nhãn Lồng 46 4.3 Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa truyền thống ñến các yếu tố cấu

4.4 Thời gian xuất hiện các ñợt lộc sau cắt tỉa ở nhãn Lồng 50

4.7 Một số ñặc ñiểm về sinh trưởng, phát triển của giống nhãn Lồng

4.8 Kỹ thuật xử lý các liều lượng KClO3 cho nhãn 58 4.9 Ảnh hưởng của nồng ñộ KClO3 ñến khả năng ra hoa và thời gian ra

4.10 Ảnh hưởng của nồng ñộ KClO3 ñến các chỉ tiêu về kích thước chùm

4.11 Ảnh hưởng của nồng ñộ KClO3 ñến các chỉ tiêu về hoa của nhãn

4.12 Ảnh hưởng của nồng ñộ KClO3 ñến khả năng giữ quả ở nhãn

Trang 9

4.13 ðộng thái tăng trưởng quả từ sau khi tắt hoa của nhãn Hương Chi

4.14 Ảnh hưởng của nồng ñộ phun KClO3 ñến các yếu tố cấu thành năng

4.15 Ảnh hưởng của nồng ñộ phun KClO3 ñến thành phần cơ giới quả

4.16 Ảnh hưởng của nồng ñộ phun KClO3 ñến phẩm chất quả nhãn

4.19 Kích thước chùm hoa của nhãn Hương Chi trái vụ khi xử lý KClO3

4.20 Ảnh hưởng của liều lượng KClO3 ñến chất lượng chùm hoa và khả

4.21 Ảnh hưởng của liều lượng KClO3 ñến khả năng duy trì quả nhãn

4.22 ðộng thái tăng trưởng quả từ sau khi tắt hoa của nhãn Hương Chi

4.23 Ảnh hưởng của xử lý KClO3 ñến năng suất nhãn Hương Chi trái vụ 82

Trang 10

DANH MỤC ðỒ THỊ

4.1 Khả năng duy trì quả nhãn của các công thức thí nghiệm 47

4.3 Khả năng duy trì quả nhãn của các công thức phun KClO3 67

4.5 Năng suất cá thể sau khi phun KClO3 ở các nồng ñộ khác nhau 72 4.6 Khả năng duy trì quả nhãn trái vụ của các công thức thí nghiệm 80

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

2: Ảnh hưởng của nồng ñộ KClO3 ñến khả năng ra hoa nhãn 60

4: Cây ra hoa cách năm xử lý KClO3 tưới ẩm vào ñất kích thích ra hoa

5: Cây ra hoa chính vụ bẻ ngồng hoa, xử lý KClO3 tưới ẩm vào ñất

Trang 12

1 MỞ đẦU

1.1 đặt vấn ựề

Cây nhãn (Dimocapus longan Lour.) thuộc họ bồ hòn (Sapindaceae) là

cây ăn quả thân gỗ, thường xanh ựược trồng ở nước ta cũng như các nước trong khu vực Cây nhãn là cây có giá trị kinh tế cao ựã và ựang ựược phát triển ở hầu hết các tỉnh từ bắc vào nam Cây nhãn góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, ựặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi Quả nhãn ựược xếp vào loại quả ngon và có nhiều thành phần dinh dưỡng như protein, chất béo, chất khoáng và các vitamin So với các loại quả khác thì hàm lượng các chất khoáng như phốt pho, kali và vitamin C rất cao Theo phân tắch 100g cùi nhãn hàm lượng vitamin C: 84.0 mg, kali: 266.0 mg, phốt pho: 21.0 mg, magiê: 10.0 mg, sắt: 10.0 mg, canxi: 1.0 mg, protein: 1.3 g

và chất béo 0.1 g [33] [38], [66]

Ngoài việc sử dụng ựể ăn tươi, chế biến ựồ hộp, sấy khô làm long, nhãn còn là một vị thuốc quý, ựược sử dụng trong các bài thuốc ựông y cổ truyền như nhãn sấy khô làm thuốc bổ, thuốc an thần ựiều trị chứng suy nhược thần kinh, sút kém trắ nhớ, mất ngủ, hay hoảng hốt Hạt nhãn, vỏ quả nhãn ựều dùng làm thuốc trong ựông y Cây nhãn còn là cây xanh, cây bóng mát, cung cấp cấp nguồn mật quan trọng có chất lượng cao cho nghề nuôi ong phát triển [33], [38], [55], [66]

Cây nhãn cùng họ với cây vải và cây chôm chôm, là cây ăn quả nhiệt ựới và á nhiệt ựới có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc Do vậy cây nhãn ựược trồng nhiều ở Trung Quốc, đài Loan, Thái Lan và Việt Nam Năm

2001, Trung Quốc có diện tắch 444.400 ha, sản lượng 495.800 tấn Thái Lan, diện tắch 57.261 ha, sản lượng 186.800 tấn Việt Nam năm 2002 diện tắch

Trang 13

144.321 ha, sản lượng 647.583 tấn và đài Loan diện tắch 12.258 ha, sản lượng110.925 tấn với năng suất trung bình 9353 kg/ha, bình quân cây 31 kg/cây Ngoài ra cây nhãn còn trồng ở một số nước như Philipin, Malaysia,

Ấn độ, Braxin, Israel, Australia, Trinidat, MỹẦ nhưng diện tắch và sản lượng không ựáng kể [51], [54], [67]

Ở Việt Nam, nhãn là loại cây ăn quả ựặc sản, ựược nhiều người ưa chuộng Nhãn ựược coi là quà tặng của trời cho ựất phố Hiến, thuộc xã Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Cây nhãn là cây thân gỗ có tán lá rộng, xanh quanh năm, có khả năng thắch ứng rộng với ựiều kiện môi trường như chịu hạn, chịu râm, dễ trồng nên hiện nay cây nhãn ựã ựược phát triển hầu hết ở các tỉnh trong cả nước Nhãn trở thành cây ăn quả ựặc sản chiếm một vị trắ quan trọng trong việc chuyển ựổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp, góp phần làm ựa dạng sản phẩm hoa quả hàng hoá trên thị trường trong nước và xuất khẩu, tác ựộng tắch cực tới kinh tế nông nghiệp nông thôn, nhất là các tỉnh trung du và miền núi Năm 2005, diện tắch trồng nhãn cả nước ựạt 120.300 ha với sản lượng 628.800 tấn [30]

Ở nước ta nhiều lợi thế cho phát triển sản xuất nhãn hàng hóa như: khắ hậu thắch hợp, tiềm năng ựất ựai lớn, người dân có kinh nghiệm trồng nhãn lâu ựời, nguồn giống tốt có sẵn Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi sản xuất nhãn còn tồn tại không ắt những vấn ựề như quảng canh, năng suất thấp, ra quả cách năm Ngoài ra, còn gặp một số vấn ựề về giống, phòng trừ sâu bệnh, chế biến bảo quản sau thu hoạch [12], [13]

Mặc dù diện tắch và sản lượng nhãn ở Việt Nam trong một vài năm gần ựây ựã có sự tăng trưởng ựáng kể so với một số chủng loại cây ăn quả khác, nhưng ựể ựưa cây nhãn trở thành cây hàng hóa có giá trị cao, cần phải có bộ giống tốt, rải vụ thu hoạch và kỹ thuật thâm canh tiên tiến, ựáp ứng nhu cầu

Trang 14

ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế Các giống hiện nay ựang ựược trồng phổ biến ở các tỉnh miền Bắc chủ yếu vẫn là các giống nhãn chắn sớm và chắnh vụ có thời gian thu hoạch ngắn và tập trung, dẫn ựến tình trạng rớt giá trong những năm ựược mùa nên hiệu quả kinh tế thấp

để phát triển cây ăn quả nói chung và cây nhãn nói riêng theo hướng sản xuất hàng hoá, ngoài việc phải có sản phẩm quả chất lượng tốt, mẫu mã ựẹp, cần phải có một cơ cấu giống hợp lý gồm các nhóm chắn sớm, trung bình và muộn ựể rải vụ thu hoạch dài, bên cạnh ựó việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tiên tiến ựể ựiều khiển nhãn ra hoa theo ý muốn nhằm kéo dài thời gian thu hoạch là một giải pháp quan trọng góp phần giải quyết những mặt tồn tại kể trên và khẳng ựịnh vị trắ xứng ựáng của cây nhãn trong nền

kinh tế hàng hoá đó là lý do chúng tôi thực hiện ựề tài ỘNghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ựiều khiển sinh trưởng, ra hoa và ựậu quả ở nhãn tại vùng Gia Lâm, Hà Nội

1.2 Mục ựắch và yêu cầu của ựề tài

- đánh giá ảnh hưởng của biện pháp cắt cành ựến sinh trưởng lộc ựến sự

ra hoa, ựậu quả ở nhãn

- đánh giá ảnh hưởng thời gian xử lý và liều lượng KClO3 ựến sự ra hoa, ựậu quả, năng suất và phẩm chất quả nhãn

- Ảnh hưởng của việc loại bỏ ngồng hoa và xử lý KClO3 làm nhãn hoa

Trang 15

Dựa trên cơ sở này có thể xác ñịnh một số biện pháp kỹ thuật sử dụng hoá chất ñiều khiển sự ra hoa nhãn theo hướng có lợi cho người sản xuất Kết quả của ñề tài là cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo ñể góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học về qui trình kỹ thuật nhằm ổn ñịnh và nâng cao năng suất cây trồng

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả ñề tài góp phần giải quyết yêu cầu thực tế sản xuất của các hộ nông dân nâng cao giá trị hàng hoá của nhãn kéo dài thời gian thu hoạch ở vùng phia bắc nước ta

Những kết quả này sẽ giúp các nhà nghiên cứu và cán bộ kỹ thuật ñề ra biện pháp canh tác phù hợp cho cây nhãn góp phần vào sự phát triển sản xuất cây ăn quả hàng hoá ở Việt Nam

Trang 16

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của ñề tài

Xây dựng một vùng trồng nhãn phù hợp và có hiệu quả là phải nắm vững ñiều kiện thời tiết, ñất ñai, tiếp ñến là phải hiểu rõ các ñặc tính của giống trong mối tương quan ñến các biện pháp kỹ thuật trồng trọt Trong khi

ñó, cây ăn quả là loài cây có chu kỳ kinh tế dài, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như sử dụng một số hóa chất, các chất ñiều tiết sinh trưởng, biện pháp cắt tỉa tác ñộng làm tăng khả năng ra hoa, ñậu quả, tăng năng suất

và tăng thu nhập cho người dân sẽ có ý nghĩa rất quan trọng [3], [12], [38] Trên cơ sở cây nhãn là cây ra lộc hàng năm, số lần ra lộc tuỳ thuộc vào

ñộ tuổi của cây Khi cây nhãn ra lộc hè, ñến lộc thu thì sẽ có nhiều khả năng

ra hoa vào năm sau Dựa vào ñặc tính này, dùng biện pháp cắt cành (cắt ñến cành cấp 3 và cấp 4), Sẽ kích thích sự ra lộc rồi từ ñó ñiều khiển những cành lộc phát triển khoẻ mạnh ñể sau này ra hoa mang quả tốt hơn

Cây nhãn cần có một thời kỳ gần như ngừng sinh trưởng (thời kỳ ngủ nghỉ) ñể chuẩn bị phân hóa mầm hoa (qua hai tiểu thời kỳ là tiền phân hóa hoa và phân hóa hoa), sau ñó là ra hoa và ñậu quả Trên cơ sở tỷ lệ C/N có thể là yếu tố quan trọng quyết ñịnh quá trình phân hoá mầm hoa Nếu tỷ lệ C/N cao dẫn ñến quá trình phân hoá mầm hoa, Nếu tỷ lệ này quá thấp thì cây không ra hoa Dựa vào ñó nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tác ñộng làm tăng khả năng ra hoa, ñậu quả của các giống nhãn là ñiều rất cần thiết [3], [8], [15]

Cây nhãn từ sau khi ñậu quả và trước khi quả nhãn chín có hai thời kỳ rụng quả chính Sau khi hoa tàn khoảng một tháng thì xẩy ra rụng quả lần thứ nhất (chiếm 40% - 70% tổng số quả rụng) Lần rụng quả thứ 2 vào khoảng

Trang 17

giữa tháng 6 ñến tháng 7 Khi quả chín vẫn còn hiện tượng rụng quả nhưng tỷ

lệ rụng hầu như không ñáng kể Cùng với yếu tố thời tiết, khí hậu, sâu bệnh phá hại thì hiện tượng thụ phấn, thụ tinh không hoàn toàn và thiếu chất dinh dưỡng ñã gây ra hiện tượng rụng quả hàng loạt ở nhãn Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tác ñộng làm cân bằng dinh dưỡng, giúp cho cây thụ phấn ñược thuận lợi hơn, ñiều khiển cây ra hoa ñậu quả dưới tác ñộng của con người, bên cạnh ñó làm giảm sự thiệt hại của sâu bệnh, nâng cao năng suất nhãn [13], [15], [38]

Cây nhãn có yêu cầu về ñiều kiên ngoại cảnh trong thời gian phân hoá mầm hoa không khắt khe như cây vải Vì vậy dùng biện pháp xử lý hoá chất cho cây nhãn ra hoa ñồng loạt hoặc trái vụ rất tốt trong giai ñoạn hiện nay

[61], [64], [65]

2.2 Nguồn gốc phân bố của cây nhãn

Cây nhãn (Dimocapus longan Lour.) thuộc họ bồ hòn (Sapindaceae)

Trong họ bồ hòn có khoảng hơn 1000 loài nằm trong 125 chi Hầu hết các cây trong họ thuộc loại thân gỗ, thân bụi Chúng ñược phân bố rộng rãi ở các

vùng nhiệt ñới và á nhiệt ñới ấm Trong chi Dimocapus có 6 loài thân gỗ và thân bụi (Leenhouts, 1971, 1973) 5 loài Dimocarpus longan, Dimocarpus dentatus, Dimocarpus gardneri, Dimocarpus foveolatus, Dimocarpus fumatus

có nguồn gốc ở Châu á từ Sri Lanka và India tới ñông Malaysia và một loài

Dimocarpus australianus ở Queensland, Australia Tất cả các loài trên thì loài

Dimocarpus longan ñược trồng trọt rộng rãi Ngoài ra trong cùng họ với cây

nhãn, loài có giá trị kinh tế quan trọng là cây vải (Litchi sinensis), chôm chôm (Neplelium lappaceum) và một số loài khác như Nephelium mutabile, Melicocus bijugata và Pometia pinnata [49], [66]

Một số tác giả cho rằng nhãn có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc, từ

Trang 18

ựời Vũ Hán đế cách ựây 2000 năm ựã có sách ghi lại về cây nhãn Những cây nhãn dại ựược tìm thấy ở ựảo Hải Nam trong vùng rừng mưa ẩm (Zhong, 1983) Một số tác giả cho rằng nguồn gốc cây nhãn là những vùng ựất thấp thuộc Srilanca, phắa tây nam Ấn độ, Miến điện và Trung Quốc Hiện nay nhãn ựược trồng trên những vùng ựất bằng cho ựến ựất có ựộ cao trên 1000m

so với mặt nước biển từ Miến điện sang ựến miền nam Trung Quốc, chủ yếu

là các nước Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Việt Nam Ở Trung Quốc, Cây nhãn ựược giả thuyết cho rằng trung tâm nguyên thuỷ nguồn gốc cây nhãn là tỉnh Vân Nam và trung tâm thứ hai là tỉnh Quảng đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam ( Ke et al 2000) điều này là dựa trên sự nghiên cứu ựặc ựiểm hình thái học phấn hoa của trồng trọt cây nhãn và các loài hoang dại của chúng ở năm vùng của Trung Quốc trùng khớp với sự phân tắch của ựịa lý học và sự tiến hoá của thực vật học Thập niên1940 Cây Nhãn ựược di thực sang Mỹ, hiện nay trồng ở nam Florida, Hawaii và California [36], [49],

Theo Decandolle (trắch theo Popenoe Wilson, 1924) [56], cây nhãn có nguồn gốc ở vùng Ấn độ, vùng có khắ hậu lục ựịa, vùng tây Ghats ở ựộ cao

1600 m còn có rừng nhãn dại, các bang Bengal và Assam ở ựộ cao 100 m trồng nhiều nhãn Theo Loenhouto thì cho rằng Kalimantan(Indonexia) cũng

là một cái nôi của cây nhãn

Trong số các nước trồng nhãn hàng hoá trên thế giới, Trung Quốc vẫn ựược xem như là quê hương của cây nhãn, ựồng thời Trung Quốc cũng là nước có diện tắch và sản lượng nhãn ựứng hàng ựầu trên thế giới [7], [11] Vùng trồng nhãn chủ lực là các tỉnh: Phúc Kiến, Quảng đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, đài LoanẦ[36]

Theo Lô Anh Mỹ, trường đại học Nông nghiệp Quảng Tây, diện tắch nhãn trồng ở Phúc Kiến, Quảng đông, Quảng Tây và Tứ Xuyên là tương ựối

Trang 19

lớn Năm 1997, riêng tỉnh Phúc Kiến ựã có diện tắch trồng nhãn là 11.300 ha

và sản lượng năm cao nhất là 50,7 ngàn tấn [33], [38], [66]

Ở Thái Lan, diện tắch trồng nhãn ựạt 31.855 ha, sản lượng ựạt tới 87.000 tấn Vùng nhãn lớn nhất của Thái Lan tập trung ở miền Bắc và đông Bắc, nổi tiếng nhất là vùng Chiềng Mai và Lăm Phun Sau thế kỷ 19 nhãn ựược nhập vào trồng ở các nước châu Mỹ, Châu Phi, Australia, vùng nhiệt ựới và á nhiệt ựới [38], [53], [66]

Ở Việt Nam, nhãn ựược trồng từ bao giờ chưa ựược nghiên cứu xác ựịnh mặc dù cây nhãn ựã có mặt rộng rãi ở khắp mọi miền trên ựất nước Theo Vũ Công Hậu (1996) [11], cũng cho rằng miền Bắc nước ta có thể là một trong những vùng quê hương của cây nhãn Cây nhãn ựược trồng lâu nhất ở chùa Phố Hiến thuộc xã Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên (cách ựây khoảng 300 năm) [11], [37]

Hiện nay, cây nhãn ựã ựược trồng và phát triển ở các tỉnh miền Bắc như Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Bắc GiangẦ Hưng Yên là tỉnh có diện tắch nhãn lớn, tập trung ở thị xã Hưng Yên và các huyện Phủ Cừ, Tiên Lữ, Kim động, Ân ThiẦ Nhãn còn ựược trồng ở các vùng phù sa ven sông Hồng, sông Thao, sông Lô, sông Mã, vùng gò ựồi ở tỉnh Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Sơn La và các tỉnh phắa Nam như: Cao Lãnh, đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Bà rịa vũng tàu [37], [38]

2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới

Trên thế giới, Trung Quốc là nước có diện tắch và sản lượng lớn nhất Vùng trồng nhãn chủ lực là các tỉnh Phúc Kiến, Quảng ựông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, đài Loan nhưng cũng là thị trường tiêu thụ nhãn lớn nhất Năm

Trang 20

2001 diện tắch trồng nhãn ở Trung Quốc ựạt khoảng 444.400 ha, sản lượng ựạt khoảng 495.800 tấn Tại đài Loan, năm 1998 diện tắch trồng nhãn chỉ ựạt khoảng 11,808 ha, sản lượng khoảng 53,385 tấn Năm 2002 diện tắch 12,258 ha, sản lượng 110,925 tấn, nhìn chung diện tắch cây nhãn của nước này không tăng nhưng sản lượng tăng gấp ựôi Ở đài Loan cây nhãn chiếm 5% tổng dện tắch trồng cây ăn quả Cây nhãn ựứng sau cam quýt và xoài, phần lớn sản lượng quả tươi tiêu thụ nội ựịa còn long nhãn khô xuất khâu ựi

Mỹ và Singapore với số lượng ắt [51], [54], [66], [67]

Bảng 2.1 Diện tắch và sản lượng nhãn của một số nước trên thế giới

Trang 21

nhãn ựông lạnh và nhãn ựóng hộp Các nước nhập khẩu nhãn từ Thái Lan là Hồng Kông, Canada, Indonexia, Singapo, Anh, Pháp (Subhadrabandhu and Yapwttanaphus, 2000) [54], [66]

Ở Mỹ, nhãn ựược trồng tập trung ở phắa nam Florida với các giống nhãn ựược ựưa từ Trung Quốc sang từ những năm 1940 Sản phẩm nhãn của Mỹ chủ yếu ựược bán ở thị trường ựịa phương (Cambell, 2000) [47], [49]

Ở Australia, năm 1995 cây nhãn ựược trồng ước lượng khoảng 200 ha, năng suất khoảng 1000 tấn quả tươi Các giống trồng phổ biến ựược nhập từ Trung Quốc, đài Loan, Thái Lan như: Biew Khiew, Chompoo, Haew, Dang, Kay Sweeney, và Fuhko2 (Chacko and Downton, 1995; Sing et al., 2000)

Ở Việt Nam, năm 2002 diện tắch trồng nhãn ựã ựạt khoảng 144.321 ha, sản lượng ựạt 647.583 tấn Diện tắch trồng nhãn và sản lượng nhãn ở Việt Nam ựạt tương ựối cao so với các nước trồng nhãn trên thế giới [30]

Ở các nước khác như Campuchia, Lào, Mianma, nhãn ựược trồng với diện tắch nhỏ vì họ ưu tiên cho cây vải Giống nhãn trồng ở các nước này chủ yếu ựược nhập từ Thái Lan, Ixaren (Blumenfeld et al., 2000) [66]

2.3.2 Tình hình sản suất và tiêu thụ nhãn ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nằm ở vùng khắ hậu nhiệt ựới gió mùa, có nhiều loại cây ăn trái phong phú Trải dài từ bắc vào nam, sự ựa dạng về khắ hậu, ựất ựai ựã tạo ra tắnh ựa dạng về chủng loại hoa quả cho từng vùng Trong những cây ăn quả ựó có cây nhãn là một trong những loại cây ăn quả chủ ựạo ở nước

ta ựược nhiều ựịa phương quan tâm Nhãn ựược coi là cây trồng quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh ựồng bằng cũng như trung du miền núi Do vậy, diện tắch nhãn ở Việt Nam trong những năm gần ựây ựã không ngừng tăng Theo số liệu của tổng cục thống kê năm

2005, cả nước có trên 60 tỉnh trồng nhãn Diện tắch trồng nhãn giữa hai miền Nam Bắc chênh lệch nhau khá rõ Tắnh ựến năm 2005, diện tắch nhãn của cả

Trang 22

nước ựạt 120.300 ha với sản lượng 628.800 tấn Trong ựó miền Bắc 46.700

ha, sản lượng ựạt 135.500 tấn (chiếm 38,8% về diện tắch và 21,5% về sản lượng) Miền Nam có diện tắch trồng nhãn là 73.700 ha, sản lượng ựạt 493.300 tấn (chiếm 62,2% về diện tắch và 78,5% về sản lượng) So với năm

1998, diện tắch tăng 33.914 ha và sản lượng tăng 320.000 tấn Trong những năm gần ựây, diện tắch và sản lượng của nhãn có xu hướng tăng hơn so với những năm 1996, 1997 (ựạt 6.200 ha và sản lượng ựạt 275.900 tấn) điều này khẳng ựịnh ựược cây nhãn ựã giữ vị trắ rất quan trọng trong việc chuyển ựổi

cơ cấu cây trồng, làm tăng sản lượng và nâng cao thu nhập cho người nông dân [29] Một số tỉnh có diện tắch trồng tương ựối nhiều và tập trung bao gồm: Hưng Yên có diện tắch trồng khoảng 7000 ha, sản lượng ựạt 21.600 tấn Hà Tây có diện tắch trồng nhãn là 2.000 ha, sản lượng ựạt 6.400 tấn Sơn La có diện tắch trồng nhãn khoảng 13.500 ha, sản lượng ựạt 42.500 tấn Nhìn chung, sản lượng nhãn của miền Bắc còn thấp, ựặc biệt là các tỉnh vùng núi như Sơn

La, Lào Cai, tuy nhiên chất lượng giống nhãn trồng còn chưa cao và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh chưa phù hợp, sử dụng các biện pháp tác ựộng cơ giới và hoá học nói chung còn nhiều hạn chế, do vậy hiệu quả kinh tế trên 1 ựơn vị diện tắch chưa cao [30]

Diện tắch trồng nhãn lớn nhất tại miền Nam tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng miền đông Nam Bộ Tắnh ựến năm 2005 diện tắch nhãn của vùng đồng bằng sông Cửu Long ựạt 47.700 ha, sản lượng ựạt khoảng 413.300 tấn Trong ựó, 3 tỉnh có diện tắch lớn nhất là Vĩnh Long (10.700 ha), sản lượng ựạt khoảng 100.900 tấn; Bến Tre (10.200 ha), sản lượng ựạt 112.400 tấn; Tiền Giang (9.800 ha), sản lượng 104.300 tấn Tại vùng đông Nam Bộ diện tắch trồng nhãn ựạt 24.800 ha, tập trung ở các tỉnh: Bình Phước (7.600 ha), Tây Ninh (3.600 ha), đồng Nai (4.900 ha) [30]

Trang 23

Bảng 2.2 Diện tích trồng và sản lượng nhãn của một số vùng trong cả nước qua các năm

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

ðồng Bằng Sông Cửu Long 55.366 465.681 52.896 425.133 49.070 411.130 47.700 413.000

Nguồn: Số liệu thống kê Nông - Lâm nghiệp - Thuỷ sản Việt Nam 2005 [30]

Trang 24

ðối với Việt Nam, trồng nhãn trước hết ñáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ quả tươi trong nước Một số sản phẩm nhãn sấy khô ñược bán sang Trung Quốc bằng con ñường tiểu ngạch, vì vậy, vào các thời kỳ thu hoạch sản phẩm thường bị ứ ñọng, ñặc biệt là những năm ñược mùa Theo thông tin của sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hưng Yên (1998), các sản phẩm nhãn ñược tiêu thụ chính là: Chế biến ñồ hộp 5%, sấy khô 45%, nhãn dùng ñể

ăn tươi 50% ðối với nghề trồng nhãn hiện nay, những vấn ñề ñặt ra và phải quan tâm ñó là áp dụng công nghệ bảo quản và chế biến các loại sản phẩm nhãn ñể ña dạng hoá sản phẩm cho thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước [2], [4], [32]

2.4 Một số ñặc ñiểm sinh trưởng lộc và ra hoa ñậu quả của cây nhãn

2.4.1 Sinh trưởng của lộc

Theo quan sát của các nhà khoa học Trung Quốc, hàng năm cây nhãn ra lộc nhiều lần, trong ñiều kiện bình thường, cây nhãn tơ chưa ra quả, ra năm ñợt lộc trên năm Cây trưởng thành bước vào thời kỳ kinh doanh thì thời gian

và số lần ra lộc hàng năm thay ñổi theo lượng quả, dinh dưỡng trong cây, tuổi cây, mức ñộ chăm sóc và ñiều kiện ngoại cảnh Nói chung lượng quả trong năm ít, dinh dưỡng trong cây cao, tuổi cây thấp, ñiều kiện ngoại cảnh tốt thì cây ra lộc nhiều lần và khoẻ Cây nhãn thường ra 4 ñợt lộc chính trong năm là lộc xuân (tháng 1 - 4), lộc hè (5 – 7), lộc thu (8 – 10), lộc ñông (11 – 12), (hay còn gọi là cành xuân, cành hè, cành thu và cành ñông), trong ñó cành thu là cành cho quả năm sau [11], [12], [13], [27], [66] Với những cây còn nhỏ, chưa có quả, nếu mùa ñông ấm áp thì lộc ñông xuất hiện ðối với những cây ñang ở thời kỳ sung sức, cho quả nhiều, cành ñông ít khi hình thành, những năm cuối thu ñầu ñông trời ấm áp và ñủ ẩm, cành ñông rất có khả năng hình

Trang 25

thành và phát triển Do cành ñông có thời gian mọc ngắn và trong thời gian này có nhiều yếu tố bất lợi nên cành ñông thường yếu, khó có khả năng trở thành cành cho quả ở vụ xuân năm sau Dựa vào mùa vụ phát sinh của các cành lộc, nắm ñược quy luật sinh trưởng và chức năng của từng loại cành ñể ñiều khiển nó một cách hợp lý trong quá trình hình thành tán cây, ra hoa ñậu quả là rất cần thiết [35], [38]

Trên cành nhãn các mầm ngọn hay mầm nách ñều có thể phát triển thành cành mới Việc hình thành thân cành của nhãn có những ñiểm khác với cây ăn quả khác là khi cây ñã ngừng sinh trưởng, mầm ngọn ở ñỉnh ñược các

lá kép rất non bọc lấy, gặp ñiều kiện thuận lợi mầm ở ñỉnh này kéo dài thêm Qua các ñợt lộc trong năm, cứ mỗi ñợt ở phần ngọn lại ñược bao bọc bởi các tầng lá kép, dần dần các lá này rụng ñi ñể trơ ra một ñoạn trống Chúng ta có thể dễ phân biệt ñược các ñợt lộc cành trong năm trên ñoạn cành dài từ gốc ñến ngọn Tuy nhiên, trong mùa hè, do nhiệt ñộ, ẩm ñộ cao các ñợt lộc mọc liền nhau, lá kép ở ngọn cành cũng ít rụng nên khó phân biệt hơn, nhưng cũng

có thể phân biệt ñược qua ñộ thành thục và màu sắc của cành Ở mỗi ñợt lộc, cành thường có những lá kép mà số lá chét ở ñây rất ít, cành càng thành thục thì lớp vỏ càng cứng và thô, màu nâu sẫm và trên vỏ cành có những ñường vân nứt [35], [38]

2.4.2 Sự ra hoa

Hàng năm vào khoảng thượng tuần tháng 1, chồi ngọn của cành mẹ bắt ñầu nhú Do nhiệt ñộ thấp, ít mưa nên sinh trưởng chậm, ñến tháng 2, mới từ từ mọc ra 1 ñoạn cành mới Khi ñó nhiệt ñộ thấp thì các lá non trên cành mới sẽ héo rụng, dần dần xuất hiện mầm hoa, sau phát triển thành chùm hoa, sau ñó nhiệt ñộ tăng lên thì ñầu cành kéo dài ra, lá non xòe ra thành lá kép, nụ hoa nở ở lách lá khô rụng Hoa nhãn nở vào ban ñêm, bắt

Trang 26

ñầu có ánh sáng thì hoa ngừng nở, nhãn ra hoa kết quả trong cùng một năm [28], [38] Theo Trần Thế Tục (1996) [35], có thể chia quá trình phân hóa mầm hoa thành các thời kỳ sau:

- Chưa phân hóa mầm hoa

- Trước khi phân hóa mầm hoa

- Thời kỳ phân hóa trục chính của mầm hoa

- Thời kỳ phân hóa mầm hoa và hình thành nhánh hoa

- Thời kỳ phân hóa các cơ quan của hoa

Hoa nhãn xếp thành từng chùm mọc ở ngọn và nách lá Chùm hoa có

từ 10 – 20 nhánh chính, mỗi nhánh chính lại có nhiều nhánh nhỏ Trên mỗi nhánh nhỏ thường có 3 hoa Hoa nhãn có màu trắng vàng, có 5 cánh, phía ngoài có lông tơ Khi hoa nở, ñộ lớn hoa ñạt 4 - 5µ (micron), mùi thơm nhẹ,

có nhiều mật, hoa xếp thành từng chùm mọc ở nách lá Trên một chùm hoa có

từ 1.500 ñến 3.000 hoa Nhãn có các loại hoa: Hoa ñực, hoa cái là chủ yếu, ngoài ra còn có hoa lưỡng tính và hoa dị hình [37]

Hoa ñực: ðường kính hoa 4 - 5 µ (micron), nhị cái thoái hóa, hoa có

năm cánh màu vàng nhạt, có 7 - 8 chỉ nhị, túi phấn xếp hình vòng, túi phấn ñính vào ñầu chỉ nhị, khi thành thục túi phấn nứt ra, phấn hoa tung ra ngoài ñể thụ phấn thụ tinh

Hoa cái: Ngoại hình và ñộ lớn giống hoa ñực Hoa cái có 7 - 8 chỉ nhị, nhưng nhị ñực ñã bị thoái hóa, cả hai bầu nhụy kết hợp làm một, ở giữa có nhụy Khi thành thục, ñầu nhụy chẻ làm ñôi, cong lại Sau khi hoa cái nở, nhụy hoa tiết ra một loại dịch nước Sau thụ phấn, thụ tinh 2 - 3 ngày, cánh hoa héo, bầu hoa phát triển, bầu có màu xanh

Hoa lưỡng tính: Hình thái hoa giống hoa ñực và hoa cái, nhị ñực và

Trang 27

nhị cái của hoa phát triển bình thường, bầu thượng có khả năng phát triển bình thường ñể phát triển thành quả

Hoa dị hình: Một bộ phận nào ñó của hoa phát triển không bình

thường Ví dụ, nhị hoa không tách, chỉ nhị phát triển, túi phấn không mở ra và không có khả năng tung phấn Trong sản xuất loại hoa này không có ý nghĩa [10], [11], [38]

Trên cây, hoa ñực chiếm số lượng nhiều nhất, có ñến 80%, Thông thường tỷ lệ hoa cái và hoa ñực là 1 : 3,5 – 5,5 lần, nhưng tỷ lệ này phụ thuộc vào giống, khí hậu và phân bón Hoa nhãn nở nhiều lần và thời gian nở kéo dài ở ñiều kiện bình thưòng, cây nhãn nở hoa trong khoảng từ 30 – 45 ngày, thời gian nở của một chùm hoa khoảng 15 ñến 30 ngày và một hoa nở từ 1- 3 ngày Trên một chùm hoa, hoa ở gốc chùm nở trước, sau ñến hoa trên ngọn Ở các nhánh nhỏ, hoa ở giữa nở trước sau ñó mới ñến các hoa 2 bên Theo Lian

và Chien (1965) ghi nhận theo thứ tự như sau: ñầu tiên là hoa ñực, tiếp theo là hoa cái, hoa lưỡng tính và cuối cùng là hoa ñực.Có khi hoa cái nở trước, sau

ñó cả hoa ñực lẫn hoa cái cùng nở Cũng có trường hợp hoa ñực và hoa cái cùng nở, sau ñó kết thúc lại là hoa ñực.[37] [42], [59]

Thời gian ra hoa của nhãn tùy thuộc vào giống, tuổi cây, và các ñiều kiện ngoại cảnh, thông thường thời gian ra hoa của nhãn vào khoảng ñầu tháng 2 ñến cuối tháng 3 Hoa nhãn thụ phấn chéo chủ yếu nhờ côn trùng như: ruồi (Apis cerana), kiến (A florea) và ong mật (A dorsata) [10]

2.4.3 Sự ñậu quả và sinh trưỏng quả, chùm quả

Sau khi hoa nhãn nở thì bầu nhuỵ cái hoàn thành thụ phấn thụ tinh sẽ dần dần hình thành quả Số hoa cái ñậu thành quả chỉ chiếm khoảng 10– 20%,

số còn lại là rụng Yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất quan trọng ñến sự ra hoa và ñậu quả Mưa nhiều trong thời kỳ ra hoa làm cho hoa bị rụng ðiều

Trang 28

kiện khí hậu nóng và khô làm cho tỷ lệ ñậu quả thấp và làm rụng quả non.(Othman, 1995) Nhiệt ñộ thích hợp cho sự ra hoa và ñậu quả nhãn từ 20 – 25 0C, Nhiệt ñộ trên 40 0C làm quả bị thiệt hại và gây ra sự rụng quả non Việc thiếu dinh dưỡng, ñặc biệt là ñạm và kali cũng gây ra sự rụng quả, quả nhỏ và phẩm chất kém (Menzel và ctv., 1990) Nhưng cây nhãn vẫn có tỷ lệ ñậu quả là khá cao so với một số cây ăn quả khác (Cam, chanh thường chỉ ñạt 2,1 – 2,3%, Xoài từ 1 -3 % ) Sau khi ñậu quả, ở tháng ñầu, chiều cao quả phát triển nhanh hơn ñường kính quả, ñồng thời hạt cũng to dần lên, ở thời

kỳ sau tốc ñộ phát triển của ñường kính quả nhanh hơn so với chiều cao của quả.[37]

Sau khi hoa tàn khoảng 1 tháng thì xảy ra ñợt rụng quả lần thứ nhất, chiếm 40 – 70% tổng số quả rụng, do thụ phấn thụ tinh không hoàn toàn hoặc

do noãn phát triển kém Vào giữa tháng 6 ñến tháng 7 là lần rụng quả lần thứ

2 vì phát lộc hè, thiếu phân hoặc khí hậu không thuận Sau rụng quả lần thứ 2 ñến quả chín vẫn rụng quả nhưng số lượng rất ít

Quả nhãn có hình cầu tròn dẹt, cân ñối hay hơi lệch, cuống quả hơi lõm Cùi nhãn là một lớp vỏ giả bao bọc lấy hạt Hạt nhãn có hình tròn, dẹt, màu ñen hay nâu ñen bóng ðộ lớn của hạt cũng rất khác nhau giữa các giống Bình thường khối lượng hạt nhãn ñạt từ 1,6 - 2,6 g (chiếm 17,3 - 42,9% khối lượng quả) Cũng có giống nhãn hạt rất bé, hầu như không có hạt [36], [37] Căn cứ vào hình thái, ñặc ñiểm chùm hoa, chùm quả nhãn ñược phân chia thành các dạng sau:

- Chùm sung có dạng chùm quả gần giống với chùm quả sung cuống chùm quả từ trục chính ñến quả thường ngắn và ñều

- Chùm bị là dạng trung gian giữa chùm sung với chùm dâu da, cuống của các nhánh chùm quả không ñều nhau, chùm quả có dạng hình chóp hay

Trang 29

hình cái bị

- Chùm dâu da có cuống chùm quả từ trục chính thường dài có khi ñạt tới 50 cm tạo cho chùm quả có ñộ uốn cong mềm mại, quả trên chùm phân bố rất thoáng [36], [37]

Ở nước ta, thông thường các tỉnh miền bắc nhãn chín vào giữa tháng 7 ñến hết tháng 8, một số giống chín muộn sang ñầu tháng 9 Ở miền nam nhãn chín rải rác hơn, kéo dài từ tháng 6 cho ñến cuối năm

2.5 Yêu cầu ngoại cảnh của cây nhãn

Có thể căn cứ vào thời gian phát dục, khả năng thích nghi với ñiều kiện

khí hậu á nhiệt ñới nên nhãn ñược xếp vào cây ăn quả á nhiệt ñới

2.5.1 ảnh hưởng của nhiệt ñộ ñến khả năng sinh trưởng phát triển của nhãn

Nhiệt ñộ là một trong những nhân tố khí hậu chính không thể ñiều khiển ñược Theo Phạm Văn Côn (2000), Trần Thế Tục (1998) [3], [37] thì nhiệt ñộ

có ảnh hưởng rõ rệt ñến ñến quá trình sinh trưởng, phát triển, ra hoa, ñậu quả

và năng suất cây trồng Những vùng có nhiệt ñộ bình quân năm từ 20oC trở lên

là thích hợp với cây nhãn và là vùng trồng nhãn có hiệu quả kinh tế Nhiệt ñộ tối thấp không ñược dưới 1oC Theo Menzel và Simpson (1994), cây nhãn phải

có một mùa ñông ngắn với nhiệt ñộ thấp từ 15 – 22 0C trong 8 – 10 tuần ñể kích thích sự phân hóa mầm hoa Khi nhãn ra nụ, gặp năm có nhiệt ñộ cao, lá ở chùm hoa phát triển sẽ ảnh hưởng ñến sự ra hoa và ñậu quả của nhãn Khi hoa nhãn nở, yêu cầu nhiệt ñộ cao hơn từ 18 - 27oC Nếu gặp nhiệt ñộ thấp, việc thụ tinh không thuận lợi dẫn ñến năng suất thấp Vào thời ñiểm thu hoạch quả, nhiệt ñộ không khí có tác dụng cải thiện chất lượng quả, nhưng nếu nhiệt ñộ lớn hơn 40oC gây rụng quả, nếu nhiệt ñộ nhỏ hơn 0oC có thể làm cho nhãn bị chết, hoặc bị tổn thương rất nặng [6], [11], [38]

Trang 30

2.5.2 Ảnh hưởng của nước và ánh sáng ñến khả năng sinh trưởng phát triển của nhãn

Kinh nghiệm của nông dân Trung Quốc ghi nhận rằng “Can chi, thấp nhãn” tức là “vải thích khô, nhãn thích ẩm” Trong dân gian ñã ñúc rút ñược kinh nghiệm nên thường trồng nhãn ở những vùng thấp như ñồng bằng, các thung lũng, dưới chân ñồi Trong quá trình sinh trưởng phát triển cây nhãn rất cần nước, lượng mưa hàng năm cần thiết 1300 - 1600 mm Lúc cây ra hoa gặp thời tiết ấm, tạnh ráo có lợi cho thụ phấn thụ tinh, ñậu quả tốt và năng suất cao Nhãn thường cho năng suất cao nhất khi lượng mưa ñạt 1300 – 1400 mm

và phân bố chủ yếu vào tháng 3 – 6 hàng năm Nhãn là cây ưa nước, nhưng ñồng thời là cây chịu hạn nhờ bộ rễ, do vậy nhãn trồng ở vùng ñồi nếu chăm sóc tốt vẫn ñạt ñược năng suất cao Nhãn còn là cây chịu úng, nếu ngập nước

3 - 5 ngày vẫn chịu ñược, nhưng nếu ñể ngập lâu, rễ bị thối, cây yếu dần và chết [5] [11], [35]

Nhãn cần ñầy ñủ ánh sáng và thoáng hơn so với vải Nhãn thích râm hơn Trong quá trình sinh trưởng phát triển thích ánh sáng tán xạ hơn là ánh sáng trực xạ, nhãn không chịu ñược các nơi quá khô, ánh sáng gay gắt Trong tạp chí Pacific garden, ông Barnhant cho rằng cần bảo vệ nhãn vì nó không chịu ñược ánh sáng găy gắt và khí hậu khô vào mùa hè và cũng không chịu ñược giá rét của mùa ñông[34], [38], [56]

2.5.3 Ảnh hưởng của ñất, gió và bão ñến khả năng sinh trưởng phát triển của nhãn

Cây nhãn không kén chọn ñât lắm, người Trung Quốc cho rằng trồng cây nhãn trên ñất ñỏ nghèo dinh dưỡng, khô hạn và chua cũng sinh trưởng ñược ñất ñỏ sườn ñồi có tầng dầy, thoát nước nhanh, thoáng khí, ánh sáng dồi dào Nếu cải tạo ñất bón nhiều phân hữu cơ thì cây nhãn sinh trưởng rất tốt và cho thu hoạch cao Nhưng trồng nhãn ở sườn ñồi cần chú ý giữ ñất, giữ nước,

Trang 31

chọn sườn phía ñông – nam, phía nam hoặc phía tây – nam ñể làm vườn trồng nhãn là thích hợp, tránh ñược gió rét gây hại[33]

Ở Việt Nam, thường trồng nhãn trên ñất khá tốt, ở miền Bắc ñều tập trung trên ñất phù sa ven các con sông lớn như sông Hồng (Hưng Yên), sông Lô (Tuyên Quang), sông Mã (Sơn La) Ở miền Nam, tỉnh Tiền Giang, nhãn ñược trồng trên ñất phù sa, tầng ñất dày, tuy có cát nhưng thành phần limon cũng phong phú, có nhiều chất dinh dưỡng, ñộ ẩm ñược bảo ñảm quanh năm Nhãn Vĩnh Châu (Bạc Liêu), Vũng Tàu cũng nổi tiếng do ñược trồng trên ñất cát non, thoát nước lại luôn ñủ ẩm ðộ pH thích hợp khoảng 4,5 - 6,0 [5], [11], [36]

Ở Việt Nam, gió tây và bão thường gây hại nhiều cho nhãn Gió tây thường gây nóng, khô làm núm nhị mất nước, khô teo làm ảnh hưởng ñến quá trình thụ phấn thụ tinh, làm rụng quả và làm quả kém phát triển

Bão sớm ở miền Bắc có thể gây rụng quả, gãy cành, gây tổn thất lớn cho vườn nhãn ðể khắc phục có thể trồng các giống nhãn chín sớm, tạo tán cây thấp, trồng dày vừa phải, che tủ gốc và trồng ñai rừng chắn gió [38]

2.6 Nhu cầu về dinh dưỡng của cây nhãn

Theo Viện nông học Quảng Tây (1990 – 1991), qua phân tích sơ bộ thấy:

Cứ sản xuất ra 1000 kg nhãn tươi thì cây nhãn lấy ñi từ ñất 4,01 – 4,8 kg N; 1,46 – 1,58 kg P2O5; 7,54 – 8,96 kg K2O Tỷ lệ N : P : K là 1 : 0,28 – 0,37 : 1,76 -2,15 Trong sản xuất, có thể căn cứ vào năng suất ñể bón phân Hàng năm cứ thu hoạch 100 kg nhãn tươi thì phải bón 2 kg N; 1kg P2O5; 2 kg K2O

Theo Sở nghiên cứu á nhiệt ñới Phúc Kiến (Trung Quốc) phân tích ñề xuất cây nhãn quả trên ñất ñỏ trung du, năng suất bình quân 4 năm là 1189 kg trên mẫu thì phân bón cho một cây trong cả năm là: 1,24 kg N; 0,63 kg P2O5; 1,5 kg K2O

Trang 32

Bảng 2.3 Lượng phân bón cho cây nhãn kinh doanh 6- 7 năm

tuổi ở Viện nông học Quảng Tây

Chủng loại và lượng phân bón ( kg/cây)

1 – 4 năm 5 -10 năm Trên 10 năm

ðạm sun fat 0,5 – 0,7 1,0 – 1,5 2,0 – 3,0

Cách bón các loại phân trên có thể chia ra làm 4 - 5 lần bón:

- Lần thứ nhất: Bón vào ñầu tháng 2 lúc cây phân hoá mầm hoa, mỗi cây bón 15 – 20 lít nước phân chuồng, không bón ñạm quá nhiều

- Lần thứ 2 : Bón vào cuối tháng 3 ñầu tháng 4 với 30% phân ñạm, 30%

Trang 33

kali và 10 – 20% lân Mục ñích của ñợt bón là thúc hoa và nuôi lộc xuân

- lần thứ ba: Bón vào tháng 6 ñến tháng 7 với 40% phân ñạm và 40% Kali Mục ñích của ñợt bón này là bổ sung dinh dưỡng cho quả phát triển

- Lần thứ tư: Bón sau khi thu hoạch quả vào tháng 8 ñến tháng 10 với toàn bộ phân hữu cơ, 80 – 90% phân lân và toàn bộ lượng phân ñạm, lân, kali còn lại

Ngoài phương pháp bón phân vào ñất, người ta có thể bón phân trực tiếp qua lá non, lộc non ñều có sức hấp thụ phân bón mạnh và nhanh Phương pháp bón ñơn giản, lượng phân ít, hiệu lực nhanh, có thể bổ sung kịp thời nhu cầu thiếu hụt phân của cây ở Trung Quốc thường sử dụng phân Urê, Kali hydrogen phốt phát, cách 10 – 15 ngày phun 1 lần ñặc biệt là lộc thu phát ra chồi muộn hoặc thế sinh trưởng của cây hơi kém, phun 0,3% urê, 0,3 – 0,4% kali hydrogen phôt phát thuận lợi cho lộc thu chuyển xanh nhanh và thành thục, nâng cao chất lượng lộc thu Lộc thu sau khi thành thục phun kali hydrogen phôt phat có thể nâng cao hàm lượng kali trong lá, thuận lợi cho phân hoá mầm hoa, nâng cao tỷ lệ phát sinh chùm hoa [33]

Ở nước ta, hiện nay các loại bón qua lá rất ña dạng, ñược sử dụng rộng rãi ñể góp phần tăng năng suất cây trồng

2.7 Các giống nhãn ñược trồng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam

2.7.1 Các giống nhãn ñược trồng ở các vùng chính trên thế giới

Hiện nay, các nước trên thế giới ñang trồng nhãn có nhiều bộ giống khá phong phú và ña dạng

Trung Quốc có khoảng 400 giống khác nhau và có 40 giống ñược trồng với mục ñích thương mại trong ñó 14% là giống chín sớm, 68% là giống

Trang 34

chắnh vụ, 18% là giống chắn muộn Thời gian thu hoạch nhãn ở Trung Quốc kéo dài từ cuối tháng 7 ựến cuối tháng 9 Các giống nổi tiếng như: đại Ô Viên, Thạch Hiệp, Nhãn Phúc, Trữ Lương, Ô Long Linh, đông Bắch, Quảng Nhân, Băng đường Nhục [27], [28] Ngoài ra, Trung Quốc còn có giống nhãn ựặc biệt có tên là Long Nhãn giống này ra hoa vào tháng 12, kết quả vào tháng 3 âm lịch, nhưng ựến tháng 12 quả mới chắn, quả to, vỏ mỏng, cùi dày

và nhiều nước Một số giống khác là nhãn không hạt, cùi ngọt sắc [36]

Ngoài ra, Jin Song Huang và cộng sự ở Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Phúc Kiến 2000 cũng ựã theo dõi và ựánh giá một số dòng nhãn hạt lép trên 30 năm Các dòng nhãn hạt lép có triển vọng là: Minjiao N01, N02, N03, N04, N05 Trong ựó dòng Minjiao N04 là dòng có triển vọng nhất, vì có

tỷ lệ hạt lép cao, quả to, chất lượng tốt và năng suất cao [56], [58]

đài Loan có hơn 40 giống nhãn và ựược phân chia thành 3 nhóm giống: chắn sớm, chắnh vụ và chắn muộn Những giống chủ yếu gồm: Nhãn trên vỏ có phấn, nhãn vỏ ựỏ, nhãn vỏ xanh, nhãn tháng 10, Fengko, Hongko

và Chingko (trong ựó giống Fengko chiếm 95%) [36], [66]

Ở Thái Lan, các giống nhãn chủ lực cho sản xuất thương mại ựược trồng phổ biến là E-Daw, Si-chompoo, Haew, Biew-kiew, Dang, Baidum, Talub Nak, Phestakon, Chom Pu Các giống nhãn này có thời gian thu hoạch

từ tháng 6 ựến cuối tháng 8 [56], [58]

Ở Mỹ, có các giống Blackball, Kona, Homestead N01, N02, Dagelmen, Choompook, Sweeney [60] Ở khu vực Hawaii có các giống nhãn chủ yếu là Kohala, Biew, Chompoo, Egami, R3, R9, Florida có các giống: Fukho N02, Wai, Carambo, [47]

2.7.2 đặc ựiểm của các giống nhãn phổ biến ở Việt Nam

Với ựặc ựiểm tắnh thắch ứng rộng, cây nhãn ở nước ta ựược trồng khắp

Trang 35

mọi miền từ Bắc ñến Nam Trong những năm gần ñây, cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ trong sản xuất, tình hình tiêu thụ hoa quả của thị trường nội ñịa cũng có sự phát triển ngày càng cao cả về lượng và chất Do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong ñó chủ yếu là việc sử dụng phương thức nhân giống bằng hạt, dưới tác ñộng của các yếu tố ngoại cảnh, sự biến dị ñã tạo nên quần thể các giống nhãn rất ña dạng về kiểu hình Kết quả ñiều tra về các giống nhãn ở hai miền ñất nước cho thấy: giống nhãn ở miền Bắc khác xa so với giống nhãn ở miền Nam Giống nhãn ở miền Bắc thuộc loài phụ Dimocarpus Sub Sp.longan, còn các giống nhãn trồng ở miền Nam thuộc loài phụ Dimocarpus.Sp.longan var Obtutus [11] Ở miền Bắc chủ yếu là giống nhãn lồng Hưng Yên Giống nhãn này gần với giống nhãn lồng á nhiệt ñới và chỉ sản xuất ñược một vụ quả trong năm [66] Có thể xếp các giống nhãn dựa vào một số ñặc ñiểm:

* Dựa vào ñặc ñiểm hình thái thực vật và phẩm chất quả có thể xếp các giống nhãn miền Bắc theo hai nhóm chủ yếu sau

- Nhóm nhãn cùi: bao gồm các giống

Nhãn lồng: Quả nhãn lồng to hơn các giống nhãn khác Khối lượng trung bình quả ñạt 11 - 12 g/quả, tỷ lệ phần ăn ñược trung bình ñạt 62,7%, ñộ Brix ñạt từ 18 - 20%

Nhãn cùi: Khối lượng quả trung bình ñạt 9 - 11 gam/quả, tỷ lệ phần ăn ñược ñạt 63%

Nhãn cùi ñiếc: Có khối lượng quả trung bình ñạt 7,5 gam/quả, tỷ lệ phần ăn ñược ñạt 74,7%

Nhãn ñường phèn: Quả nhỏ hơn nhãn lồng, khối lượng quả trung bình ñạt 8- 10 gam/quả, tỷ lệ phần ăn ñược ñạt 60%

Trang 36

Nhãn Hương Chi: Có khối lượng quả trung bình ñạt từ 12 - 14 gam/quả, tỷ lệ phần ăn ñược ñạt 62 - 64% [44], [45]

- Nhóm nhãn nước: bao gồm các giống

Nhãn nước: nhóm nhãn nước có quả bé, khối lượng quả trung bình từ

6 - 8 gam/quả, tỷ lệ phần ăn ñược ñạt 51%

Nhãn thóc: một số nơi còn gọi là nhãn trơ có khối lượng trung bình ñạt 5,3 gam/quả, tỷ lệ phần ăn ñược 27,4%, hạt to chiếm 55% khối lượng quả

* Dựa vào thời gian thu hoạch có thể chia nhãn thành ba nhóm sau:

- Nhóm chín sớm: Có thời gian thu hoạch từ 15/7 - 05/8

- Nhóm chính vụ: Có thời gian thu hoạch từ 05 - 25/8

- Nhóm chín muộn: Có thời gian thu hoạch từ 25/8 - 15/9

Riêng giống nhãn chín muộn HTM-1, thời gian thu hoạch có thể kéo dài ñến 20 - 25/9 [15]

Từ năm 1993 ñến nay, Viện Nghiên cứu Rau Quả phối hợp với các tổ chức và người làm vườn ñịa phương ñã tiến hành ñiều tra tuyển chọn giống, kết hợp với hội thi cây nhãn ñược tổ chức tại Sơn La, Hà Tây [23], ñã chọn ra ñược rất nhiều cây nhãn ñầu dòng có năng suất cao, ổn ñịnh, phẩm chất tốt Tại Hưng Yên, sau hơn 4 năm ñã tuyển chọn ñược 14 giống nhãn thuộc 3 nhóm giống, nhóm chín sớm, chính vụ và nhóm chín muộn, có năng suất cao chất lượng tốt ñã ñược Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận cây ñầu dòng ðây cũng là nguồn vật liệu khởi ñầu quý giá cho công tác chọn tạo giống trong tương lai [13], [41], [43], [44], [45] Năm 2005, ba giống nhãn PH-M99-1.1, PH-M99-1.2 và giống nhãn HTM-1 ñã ñược Bộ nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tạm thời

Hiện nay, ở ðồng bằng Sông Cửu Long có rất nhiều giống nhãn Theo Nguyễn Minh Châu và cộng tác ñã phân thành 3 nhóm:

Trang 37

- Nhóm nhãn Long: bao gồm có nhãn Long, nhãn Super ra hoa tự nhiên theo mùa và có thể kích thích cho ra hoa quanh năm

- Nhóm nhãn Giồng bao gồm: Nhãn Giồng Bạc Liêu, Vĩnh Châu, Nhị Quí, nhãn Xuồng Cơm Vàng, Cơm Trắng ra hoa theo mùa và khó kích thích

ra trồng phổ biến trong sản xuất [39], [40]

Nhãn Xuồng Cơm Vàng có khối lượng quả trung bình từ 16 - 20 gam/quả, tỷ lệ phần ăn ñược ñạt 60 - 70%, ñộ Brix ñạt 21 - 24%

Nhãn Tiêu Da Bò có khối lượng quả trung bình ñạt 10 gam/quả, tỷ lệ phần ăn ñược ñạt khoảng 60%

Nhãn Tiêu Lá Bầu có trọng lượng quả ñạt từ 9 - 14 gam/quả, tỷ lệ phần

ăn ñược ñạt 60 - 70%, ñộ Brix khoảng 23 - 26% [38], [39], [40]

Cây nhãn Super ra hoa tự nhiên và có thể cho 2 vụ quả trong năm, chùm quả sai, ñóng thưa vừa, quả khá to, trọng lượng trung bình 10- 14g/quả,

vỏ quả chín màu vàng sáng ñến hơi sậm, thịt quả dầy, màu trắng ñục, cấu trúc ráo, giòn, vị ngọt

2.8 Kết quả nghiên cứu thúc ñẩy quá trình ra hoa, ñậu quả ở nhãn

Sự phân hoá mầm hoa ở nhãn cũng như các cây trồng khác phụ thuộc

Trang 38

vào giống, vùng trồng, ñiều kiện khí hậu, mức ñộ thâm canh, biện pháp chăm sóc Quá trình phân hoá mầm hoa là một quá trình sinh lý sinh hoá phức tạp nhưng ñều diễn ra theo một quy luật chung Thuyết phát triển theo giai ñoạn, thuyết tương quan giữa cơ quan sinh sản và cơ quan dinh dưỡng, thuyết cảm ứng ra hoa, thuyết hoóc môn là những cơ sở lý luận chung nhất ñể giải thích

về sự phân hoá mầm hoa [3]

Dựa trên những hiểu biết về sự phân hoá mầm hoa cũng như quá trình

ra hoa ñậu quả của nhãn, ñã có nhiều nghiên cứu về các biện pháp ñiều khiển quá trình ra hoa ñậu quả ở nhãn Tuy nhiên, cho ñến nay ở nước ta nói riêng

và các nước trên thế giới nói chung, việc nghiên cứu về tác ñộng của các biện pháp kỹ thuật ñến khả năng ra hoa, ñậu quả, tăng năng suất ñối với nhãn còn chưa nhiều và giải pháp ñưa ra còn thiếu ñồng bộ

Khoanh vỏ cành là biện pháp nhằm ngăn cản sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp từ lá xuống thân, rễ làm tăng tỷ lệ C/N, giúp cho cây phân hoá và hình thành mầm hoa Biện pháp này phụ thuộc nhiều yếu tố, mùa vụ, tình trạng sinh trưởng của cây, kỹ thuật và thời ñiểm khoanh Trên giống dễ ra hoa “Phetsakon”, có thể kích thích ra hoa bằng biện pháp khoanh cành cũng làm cho cây ra hoa sớm và ñồng ñều (Subhadrabandrahu và Yapwattanaphn, 2000-Wong,2000), trong khi các giống khác thì biện pháp khoanh cành ñạt kết quả không ổn ñịnh So sánh hiệu quả của biện pháp khoanh cành và xử lý Chlorate kali bằng cách phun lên lá ở nồng ñộ 2000ppm, Charoensri và ctv (2005) nhận thấy xử lý cây ở 2 ñộ tuổi lá là 21 và 27 ngày hiệu quả kích thích

ra hoa của biện pháp khoanh cành ñều cao hơn so với biện pháp phun Chlorate kali Ngoài ra, qua kết quả quan sát dưới kính hiển vi, tác giả cũng nhận thấy mầm hoa xuất hiện 4 tuần sau khi khoanh cành, sớm hơn so với biện pháp phun Chlorate kali [47]

Theo Trần Văn Hậu, ở Miền Nam giống nhãn Long do ñặc ñiểm phát

Trang 39

triển chậm, lâu liền da nên khi khoanh thường dùng cưa hay kéo có bề dày từ 1-2 mm ñể khoanh giáp vòng thân hay cành chính của cây gọi là “xiết” hay

“sứa” cành, nhưng cây nhãn Da bò do ñặc ñiểm phát triển mạnh, mau liền da nên phải dùng dao khoanh và lột một ñoạn da dài từ 0,5 – 2 cm, tuỳ theo kích thước cành và mùa vụ ñể kích thích cho cây ra hoa ñặc biệt giống nhãn Da

Bò phải chừa “nhánh thở” khoảng 20%, ñể những nhánh này cung cấp chất ñồng hoá nuôi rễ Thời ñiểm khoanh cành thường ñược căn cứ vào ñộ trưởng thành của lá thông qua màu sắc của nó Vào mùa mưa, tiến hành kích thích ra hoa cho nhãn Da bò khi lá lụa có màu ñọt chuối non ( lá chưa thẳng gân) Trên giống nhãn Long khi thấy chồi non vừa tách ra, còn gọi là hở mỏ kết hợp với ñộ già của lá là có thể tiến hành khoanh cành cho cây ra hoa.[ 10] Theo Phạm Văn Côn (2004), sử dụng các biện pháp kỹ thuật ñiều khiển ra hoa bằng các biện pháp tác ñộng cơ giới như khoanh vỏ thân, buộc vòng trên thân cây hoặc buộc dây thép hoặc dây nilon có ñường kính 2,5 - 3,0

mm thắt chặt vòng quanh thân hoặc cành khung sau 1 - 1,5 tháng nhằm hạn chế rụng quả và tăng khả năng ñậu quả, có thể dùng một biện pháp hoặc áp dụng các biện pháp ñể nâng cao tỷ lệ ñậu quả [3], [27], [44]

Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần [27], các biện pháp kỹ thuật

có ảnh hưởng rất lớn ñến khả năng ra hoa ñậu quả ðối với cây có thể hoặc ñã

ra lộc ñông nên dùng các biện pháp cắt ñứt rễ, làm lộ rễ, khoanh vỏ, bấm ngọn hoặc dùng thuốc, có thể dùng một biện pháp hoặc áp dụng tổng hợp các biện pháp ñể xử lý ức chế lộc ñông sinh trưởng ðể nâng cao tỷ lệ ñậu quả trong thời gian cây nở hoa có thể thả ong, thụ phấn nhân tạo, lắc hoa sau mưa, phun nước khi khô hạn, cắt bớt chùm hoa Ngoài ra có thể dùng hoá chất riêng rẽ hoặc hỗn hợp ñể bảo vệ quả Theo thí nghiệm của Trung Dương Vỹ, Thời kỳ quả non sau khi hoa cái nở rộ 21 ngày phun 2,4 D nồng ñộ 5 ppm hỗn hợp với Gibbelin 20 ppm có tác dụng bảo vệ quả rõ rệt [27], [33]

Trang 40

Các chất ñiều hoà sinh trưởng có vai trò rất quan trọng trong quá trình ñiều khiển sinh trưởng, phát triển của các loại cây ăn quả nói chung và cây nhãn nói riêng, tất cả các quá trình hoạt ñộng của cây ñều có sự tham gia của các chất ñiều hoà sinh trưởng Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng loại chất mà chúng có thể tham gia vào các quá trình cơ bản như ñiều khiển các quá trình

ra lá, tăng trưởng chiều cao cây, ñiều khiển quá trình ra hoa, ñậu quả trái vụ, ñiều khiển quá trình ra rễ cho cành giâm, chiết cành, ñiều chỉnh quá trình già hoá của các bộ phận trên cây (Hoàng Minh Tấn và cộng sự, 1994) [31] Khi nghiên cứu ảnh hưởng của Chlorat kali (KClO3), Natri hypochlorit (NaOCl), và Canxi hypochlorit Ca(ClO3)2 ñến sự ra hoa và thay ñổi sinh lý ở giống nhãn E-Daw Sritontip, C và cộng sự (2003), ñã tiến hành thí nghiệm

xử lý các chất hóa học trên cây nhãn từ 10 - 12 tuổi vào ngày 30/11/1999 với nồng ñộ tương ứng là 5,25 và 5,55 g/m2 ñường kính vòm tán Kết quả cho thấy, ở những cây ñược xử lý, ra hoa tốt hơn ở những cây không xử lý Cụ thể

là, những cây có xử lý KClO3 và NaOCl, hoa ra sớm hơn so với những cây xử

lý Ca(ClO3)2 và các chất hóa học này không làm ảnh hưởng ñến số quả trên chùm, kích cỡ quả và các thành phần trong quả [61]

Xử lý ethrel với nồng ñộ 1000 ppm, GA3, IAA phối hợp với ethrel, GA3 phối hợp với ethrel làm tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ ñậu quả ñã có hiệu quả làm tăng năng suất rõ rệt Trong thời kỳ cây ra hoa, dùng thuốc trừ bệnh Rhidomil MZ và oxyclorua ñồng cũng làm tăng tỷ lệ ñậu quả và hạn chế rụng quả ðối với những cây vải có ñặc tính sinh trưởng mạnh Biện pháp khoanh vỏ có ý nghĩa rất rõ rệt trong việc làm giảm sự phát lộc mùa ñông, xúc tiến sự phân hoá mầm hoa tốt và phương pháp khoanh xoắn ốc có hiệu quả cao nhất [31]

Cây nhãn thường có hiện tượng ra quả cách năm Vì vậy, cần phải có một số các biện pháp tác ñộng ñể cho nhãn ra hoa ñược ñồng ñều làm tăng

Ngày đăng: 06/12/2013, 19:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Diện tích trồng và sản lượng nhãn của một số vùng trong cả nước qua các năm - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 2.2. Diện tích trồng và sản lượng nhãn của một số vùng trong cả nước qua các năm (Trang 23)
Bảng 2.3. Lượng phân bón cho cây nhãn kinh doanh 6- 7 năm   tuổi ở Viện nông học Quảng Tây - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 2.3. Lượng phân bón cho cây nhãn kinh doanh 6- 7 năm tuổi ở Viện nông học Quảng Tây (Trang 32)
Bảng 2.4. Lượng phân bón cho cây nhãn theo tuổi ( kg/cây ). - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 2.4. Lượng phân bón cho cây nhãn theo tuổi ( kg/cây ) (Trang 32)
Bảng 4.1. ðặc ủiểm hoa, chựm hoa, giới tớnh hoa nhón Lồng   ở thí nghiệm cắt tỉa truyền thống - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 4.1. ðặc ủiểm hoa, chựm hoa, giới tớnh hoa nhón Lồng ở thí nghiệm cắt tỉa truyền thống (Trang 56)
Bảng 4.2. Khả năng ủậu quả và giữ quả từ sau tắt hoa   của  giống nhãn Lồng - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 4.2. Khả năng ủậu quả và giữ quả từ sau tắt hoa của giống nhãn Lồng (Trang 57)
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa truyền thống ủến cỏc yếu tố cấu  thành năng suất và  năng suất nhãn Lồng - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa truyền thống ủến cỏc yếu tố cấu thành năng suất và năng suất nhãn Lồng (Trang 59)
Bảng 4.5. Các chỉ tiêu sinh trưởng của lộc nhãn - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 4.5. Các chỉ tiêu sinh trưởng của lộc nhãn (Trang 63)
Hình 1: Cây nhãn Lồng cắt cành tạo tán - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Hình 1 Cây nhãn Lồng cắt cành tạo tán (Trang 65)
Bảng 4.6. Các chỉ tiêu sinh trưởng của lá - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 4.6. Các chỉ tiêu sinh trưởng của lá (Trang 66)
Bảng 4.7. Một số ủặc ủiểm về sinh trưởng, phỏt triển của giống    nhãn Lồng sau cắt tỉa tạo tán và xử lý KClO 3 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 4.7. Một số ủặc ủiểm về sinh trưởng, phỏt triển của giống nhãn Lồng sau cắt tỉa tạo tán và xử lý KClO 3 (Trang 68)
Bảng 4.8. Kỹ thuật xử lý các liều lượng KClO 3  cho nhãn - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 4.8. Kỹ thuật xử lý các liều lượng KClO 3 cho nhãn (Trang 69)
Hỡnh 2: Ảnh hưởng của nồng ủộ KClO 3  ủến khả năng ra hoa nhón - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
nh 2: Ảnh hưởng của nồng ủộ KClO 3 ủến khả năng ra hoa nhón (Trang 71)
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của nồng ủộ KClO 3  ủến khả năng ra hoa và thời  gian ra hoa của nhãn - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của nồng ủộ KClO 3 ủến khả năng ra hoa và thời gian ra hoa của nhãn (Trang 72)
Bảng 4.10.Ảnh hưởng của nồng ủộ KClO 3  ủến cỏc chỉ tiờu   về kích thước chùm hoa của nhãn Hương Chi - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của nồng ủộ KClO 3 ủến cỏc chỉ tiờu về kích thước chùm hoa của nhãn Hương Chi (Trang 73)
Bảng 4.11. Ảnh hưởng của nồng ủộ KClO 3  ủến cỏc chỉ tiờu về   hoa của nhãn Hương Chi - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sinh trưởng, ra hoa và quả ở nhãn tại vùng gia lâm, hà nội
Bảng 4.11. Ảnh hưởng của nồng ủộ KClO 3 ủến cỏc chỉ tiờu về hoa của nhãn Hương Chi (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w