1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình

164 657 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện Yên Mô - Tỉnh Ninh Bình
Tác giả Lê Đức Hinh
Người hướng dẫn TS. Đinh Văn Đãn
Trường học Trường đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 3,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ Giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

Trang 2

Bộ Giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề sử dụng để bảo

vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong luận văn này đã đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Lê Đức Hinh

Trang 4

Lời cảm ơn

Hoàn thành luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế của mình ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi

đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của rất nhiều cá nhân và tập thể

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo khoa Kinh tế và PTNT, khoa Sau đại học - Trường đại học Nông nghiệp I, đặc biệt là sự quan tâm, tận tình chỉ dẫn của T.S Đinh Văn Đãn là người hướng dẫn chính trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Ngân sách sở Tài chính - vật giá tỉnh Ninh Bình, UBND huyện Yên Mô, phòng tài chính - KH huyện Yên Mô, UBND xã Yên Lâm, UBND xã Yên Thắng, đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân cùng bạn bè đồng nghiệp đã cổ vũ

động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lê Đức Hinh

Trang 5

Mục lục

Lời cam đoan ……… ……… ………… ….i

Lời cảm ơn ……….……… ……….ii

Mục lục ……… ……… … iii

Danh mục chữ viết tắt ……… ………… … vi

Danh mục bảng ……… ……… vii

Danh mục biểu đồ ……… viii

1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

2 Cơ sở khoa học về ngân sách x∙ 4

2.1 Cơ sở lý luận về ngân sách xã 4

2.1.1 Khái niệm chung về tài chính nhà nước và ngân sách nhà nước 4

2.1.2 Khái niệm, đặc điểm ngân sách xã 6

2.1.3 Vị trí, vai trò của ngân sách xã 10

2.1.4 Nội dung ngân sách xã 14

2.1.5 Quản lý ngân sách xã 21

2.2 Cơ sở thực tiễn 33

2.2.1 Vài nét về ngân sách xã ở một số nước trên thế giới 33

2.2.2 Sự hình thành ngân sách xã ở nước ta trong tiến trình lịch sử 35

2.2.3 Thực tiễn về quản lý ngân sách xã ở Ninh Bình 37

3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 39

3.1 Đặc điểm chung của địa bàn nghiên cứu 39

3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 39

3.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 42

Trang

Trang 6

3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Yên Mô. 45

3.2 Phương pháp nghiên cứu 50

3.2.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 50

3.2.2 Các phương pháp chuyên môn vận dụng trong nghiên cứu 50

3.2.3 Phương pháp chuyên khảo 55

3.2.4 Phương pháp chuyên gia 55

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 55

4 Kết quả nghiên cứu 56

4.1 Đánh giá thực trạng ngân sách xã ở huyện Yên Mô 56

4.1.1 Thực trạng bộ máy quản lý ngân sách xã ở huyện Yên Mô 56

4.1.2 Thực trạng thu, chi ngân sách xã ở huyện Yên Mô. 59

4.2 Thực trạng chu trình ngân sách xã ở huyện Yên Mô 85

4.2.1 Thực trạng công tác lập dự toán ngân sách xã 86

4.2.2 Thực trạng chấp hành dự toán ngân sách xã. 101

4.2.3 Thực trạng công tác quyết toán ngân sách xã. 126

4.3 Đánh giá chung tình hình quản lý NSX trên địa bàn huyện Yên Mô 127

4.3.1 Những kết quả đã đạt được và nguyên nhân 127

4.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 130

4.4 Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ 2005-2010 và một số khuyến nghị về công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Yên Mô 132

4.4.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội 132

4.4.2 Một số khuyến nghị về quản lý NSX trên địa bàn huyện Yên Mô 133

5 Kết luận 151

Tài liệu tham khảo 153

Trang 8

Danh mục hệ thống các bảng

Bảng 3-2: Dân số trung bình phân theo xã, phường 44

Bảng 3-3: Giá trị sản xuất 48

Bảng 3-4: Tình hình thu NSX của các xã trên địa bàn huyện Yên Mô 54

Bảng 4-1: Qui mô, cơ cấu thu ngân sách xã ở huyện Yên Mô 60

Bảng 4-2: Tình hình thu ngân sách xã ở huyện Yên Mô qua 3 năm 61

Bảng 4-3: Qui mô, cơ cấu nguồn thu ngân sách xã được hưởng 100% 62

Bảng 4-4: Các khoản thu NSX hưởng 100% qua 3 năm (2003-2005) 66

Bảng 4-5: Qui mô, cơ cấu nguồn thu NSX hưởng theo tỷ lệ phân chia giữa các cấp ngân sách 69

Bảng 4-.6: Các khoản thu NSX hưởng theo tỷ lệ (2003-2005) 71

Bảng 4-7: Tình hình thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 73

Bảng 4-8: Qui mô, cơ cấu nguồn thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 74

Bảng 4-9: Thu, chi thường xuyên và tỷ lệ bổ sung ngân sách xã toàn huyện Yên Mô 75

Bảng 4.10 : Qui mô, cơ cấu chi NSX ở huyện Yên Mô qua 3 năm 77

Bảng 4-11: Chi ngân sách xã huyện Yên Mô qua 3 năm 78

Bảng 4-12: Cơ cấu chi thường xuyên bình quân theo xã 78

Bảng 4-13: Qui mô, cơ cấu và tình hình biến động thường xuyên (2003-2005) 81

Bảng 4-14: Tổng hợp dự toán thu NSX xã Yên Lâm, năm 2005 88

Bảng 4-15: Tổng hợp dự toán thu NSX xã Yên Thắng, năm 2005 89

Bảng 4-16: Tổng hợp dự toán thu ngân sách xã huyện Yên Mô, năm 2005 92

Bảng 4-17: Tổng hợp dự toán chi ngân sách xã xã Yên Lâm, năm 2005 94

Bảng 4-18: Tổng hợp dự toán chi ngân sách xã Yên Thắng, năm 2005 95

Bảng 4-19: Tổng hợp dự toán chi ngân sách xã huyện Yên Mô, năm 2005 97

Bảng 4-20: Bảng cân đối tổng hợp dự toán ngân sách xã Yên Lâm, năm 2005 98

Bảng 4-21: Bảng cân đối tổng hợp dự toán ngân sách xã Yên Thắng, năm 2005 98

Bảng 4-22: Bảng cân đối tổng hợp dự toán ngân sách xã huyện Yên Mô, năm 2005 100

Bảng 4-23: Dự toán thu theo quý của xã Yên Lâm, năm 2005 104

Trang 9

Bảng 4-24: Tình hình chấp hành thu ngân sách xã Yên Lâm, năm 2005 107

Bảng 4-25: Tình hình chấp hành thu ngân sách xã Yên Thắng, năm 2005 108

Bảng 4-26: Tình hình chấp hành thu ngân sách xã trên địa bàn huyện Yên Mô 110

Bảng 4-27: Tình hình chấp hành dự toán các khoản thu xã hưởng 100% 112

Bảng 4-28: Tình hình chấp hành các khoản thu NSX hưởng theo tỷ lệ phần trăm 117

Bảng 4-29: Tình hình chấp hành chi ngân sách xã Yên Lâm, năm 2005 120

Bảng 4-30: Tình hình chấp hành chi ngân sách xã Yên Thắng năm 2005 121

Bảng 4-31: Tình hình chấp hành chi ngân sách xã huyện Yên Mô ( 2003-2005) 122

Bảng 4-32: Tình hình chấp hành chi thường xuyên huyện Yên Mô 125

Bảng 4-33: Tình hình chấp hành chi đầu tư phát triển ngân sách xã huyện Yên Mô (2003-2005) 126

Trang 10

Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 3-1: Cơ cấu đất đai 42

Biểu đồ 3-2: Tốc độ phát triển giá trị SX bình quân 3 năm 48

Biểu đồ 3-3: Cơ cấu giá trị sản xuất 49

Biểu đồ 4-1: Cơ cấu nguồn thu NSX qua 3 năm (2003 - 2005) 60

Biểu đồ 4-2: Cơ cấu nguồn thu NSX hưởng 100% 64

Biểu đồ 4-3: Cơ cấu nguồn thu NS phân chia theo tỷ lệ 70

Biểu đồ 4-4: Tình hình thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 74

Biểu đồ 4-5: So sánh thu, chi thường xuyên NSX qua 3 năm 76

Biểu đồ 4-.6: Cơ cấu chi ngân sách xã 77

Biểu đồ 4-7: Tình hình chấp hành chi NSX 123

Trang 11

1 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, công cuộc đổi mới

đã được khởi xướng mà nội dung chủ yếu là đổi mới cơ chế kinh tế - tài chính, chuyển hướng nền kinh tế nước ta từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa (XHCN) Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế nói chung, đổi mới chính sách và cơ chế quản

lý tài chính nói riêng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã và đang tạo

ra những biến đổi sâu sắc cả về nhận thức, lý luận cũng như thực tiễn Gần 20 năm qua, đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối kinh tế mới được minh chứng bằng những kết quả đầy sức thuyết phục mà chúng ta đã đạt được trong

sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước Sản xuất kinh doanh (SXKD) phát triển mạnh mẽ ở tất cả các lĩnh vực thuộc mọi thành phần kinh tế, hàng hoá sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày càng nhiều với chủng loại phong phú, chất lượng cao, mẫu mã đẹp, phù hợp với nhu cầu thị hiếu và khả năng thanh toán của người tiêu dùng

Đó là những tiền đề quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hoá (CNH)

và hiện đại hoá (HĐH) đất nước Có thể nói 20 năm qua chúng ta đã gặt hái

được nhiều thành tựu quan trọng, được các nước trong khu vực và trên thế giới

đánh giá cao

Tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng cả chiều rộng lẫn chiều sâu đã và

đang có những tác động sâu sắc đến hoạt động quản lý ngân sách của Nhà nước và đặc biệt là ngân sách xã (NSX) Hoạt động NSX đã góp phần không nhỏ vào thành tựu phát triển nông nghiệp nông thôn Sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống của người dân ngày càng cao, do đó nguồn thu, chi của NSX cũng không ngừng tăng lên Điều này đòi hỏi công tác quản lý NSX phải có sự vận động đi lên mới có thể vừa bao quát được các nguồn thu,

Trang 12

vừa đáp ứng nhiệm vụ chi tiêu có hiệu quả, giữ vững an ninh, trật tự và công bằng xã hội Hơn bao giờ hết, mục tiêu tăng cường công tác quản lý NSX đã

được đặt ra như một nhiệm vụ hàng đầu của công tác quản lý ngân sách nhà nước (NSNN)

Huyện Yên Mô - tỉnh Ninh Bình là một huyện thuần nông, đến nay vẫn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng trên 60% trong cơ cấu kinh tế của huyện, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2000 - 2005 đạt 9,3%, trong đó nông nghiệp đạt 4%), năm 2005 tỷ lệ hộ nghèo còn 6,2% (theo tiêu chí năm 2000)[13], cao hơn so với các huyện thị khác trong tỉnh Nguồn thu ngân sách còn hạn hẹp và tăng chậm, chưa tương xứng với tiềm năng, trong khi đó nhu cầu chi tiêu để đáp ứng với nhiệm vụ kinh tế - xã hội (KT-XH) của địa phương ngày một tăng Hàng năm nguồn thu bổ sung từ ngân sách cấp trên chiếm 35-40% tổng thu NSX[24] Đó là vấn đề đặt ra cho công tác quản lý KT-XH hội nói chung và công tác quản lý NSX nói riêng, nhất là trong tình hình hiện nay trong xu thế

đổi mới và hội nhập càng đòi hỏi công tác quản lý NSNN ở cấp xã phải được tăng cường Xuất phát từ đặc điểm tình hình đó, ngân sách xã ở Yên Mô cần thiết phải được nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng, tìm nguyên nhân để có những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý NSX, khai thác tốt các nguồn thu đáp ứng nhiệm vụ chi, thúc đẩy sự phát triển KT-XH của địa phương

Nhận thức được tính nóng bỏng và sự cần thiết của việc tăng cường công tác quản lý NSX trong điều kiện hiện nay trên địa bàn huyện Yên Mô,

tỉnh Ninh Bình, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng ngân sách x∙ trên địa bàn huyện Yên Mô - Tỉnh Ninh Bình”, trên cơ sở đó

khuyến nghị một số vấn đề quản lý NSX

Trang 13

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Mục tiêu chung

Tăng cường công tác quản lý NSX theo đúng luật pháp, góp phần phát triển KT-XH của địa phương

- Mục tiêu cụ thể

+ Hệ thống hoá một số vấn đề về lý luận và thực tiễn quản lý NSX + Đánh giá thực trạng NSX ở huyện Yên Mô - tỉnh Ninh Bình

+ Khuyến nghị một số vấn đề quản lý NSX của địa phương

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề về kinh tế tổ chức, quản lý NSX ở huyện Yên Mô

Trang 14

2 Cơ sở khoa học về ngân sách x∙

2.1 Cơ sở lý luận về ngân sách xã

2.1.1 Khái niệm chung về tài chính nhà nước và ngân sách nhà nước

- Tài chính nhà nước (TCNN) là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành bằng cách tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước, TCNN phản ảnh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội nảy sinh trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối các nguồn

+ Các quĩ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước

- Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế - lịch sử gắn với sự ra đời của nhà nước, gắn liền với kinh tế hàng hoà - tiền tệ Nói một cách khác, sự ra

đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá - tiền tệ là những điều kiện cần và đủ cho sự tồn tại và phát triển của NSNN Hai tiền đề trên xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhưng thuật ngữ “NSNN” lại xuất hiện muộn hơn, vào buổi bình minh của phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa

Xét theo hình thức biểu hiện bên ngoài và ở trạng thái tĩnh, NSNN là một bảng dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)[1]

Trang 15

Xét về thực chất và ở trạng thái động, NSNN là kế hoạch tài chính vĩ mô và là khâu tài chính chủ đạo của hệ thống tài chính nhà nước, được nhà nước sử dụng để phân phối một bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu

Đặc điểm của ngân sách nhà nước:

+ Các hoạt động tạo lập và sử dụng quĩ NSNN gắn chặt với quyền lực kinh tế, chính trị của nhà nước và thực hiện các chức năng của nhà nước Nói một cách cụ thể hơn, quyền lực của nhà nước và các chức năng của nó là những nhân tố trực tiếp quyết định mức thu, mức chi và cơ cấu thu chi của NSNN

+ Các hoạt động thu chi của NSNN đều được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định Đó là các luật thuế, pháp lệnh thuế, chế độ thu, chế độ chi tiêu, tiêu chuẩn định mức chi tiêu do Nhà nước ban hành

+ Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN - một quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước, là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và

được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến

Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung

dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm (Điều 3, Luật NSNN, số 01/2002/QH11, ngày 16/12/2002)

Hệ thống NSNN được biểu hiện là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp ngân sách (NS)

Trang 16

Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm NS của đơn vị hành chính các cấp có hội đồng nhân dân (HĐND) và uỷ ban nhân dân (UBND) theo qui định của Luật tổ chức HĐND và UBND, theo qui định hiện hành bao gồm:

+ Ngân sách tỉnh thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là NS tỉnh) bao gồm NS cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

+ Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là NS huyện) bao gồm NS cấp huyện và NS các xã, phường, thị trấn

+ Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là NS cấp xã)

- Chu trình ngân sách nhà nước bắt buộc phải có ba khâu nối tiếp nhau là: lập, chấp hành và quyết toán NSNN Một chu trình NS có độ dài thời gian hơn một năm NS vì năm NS trùng với khâu chấp hành NS, còn lập NS phải thực hiện năm NS trước đó, quyết toán NS lại được thực hiện trong năm NS tiếp đó[6]

- Mục lục ngân sách nhà nước là bảng phân loại các nội dung thu chi thuộc giao dịch thường niên của NSNN theo những tiêu thức và phương pháp nhất định nhằm phục vụ cho việc quản lý điều hành (lập, chấp hành và quyết toán) cũng như việc kiểm soát và phân tích các hoạt động của NSNN một cách hiệu quả và tiện lợi Mục lục NSNN đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quản lý điều hành NSNN[1]

2.1.2 Khái niệm, đặc điểm ngân sách x∙

2.1.2.1 Khái niệm ngân sách xã

Để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, tổ chức bộ máy Nhà nước ở mọi quốc gia đều có sự phân công, phân cấp quản lý KT-XH cho mỗi cấp quản lý hành chính nên hệ thống NSNN bao giờ cũng bao gồm một số cấp khác nhau Số cấp NS ở mỗi quốc gia nhiều ít khác nhau là tuỳ thuộc vào tổ

Trang 17

chức bộ máy quản lý hành chính và sự phân cấp quản lý kinh tế tài chính cho mỗi cấp đó Song, bao giờ cũng có cấp NS gắn liền với cấp quản lý hành chính

ở cơ sở và được gọi chung là ngân sách xã, (phường, thị trấn)

Sự xuất hiện và tồn tại của chính quyền nhà nước cấp cơ sở, đòi hỏi phải

có nguồn tài chính đảm bảo Vì vậy, trong cơ cấu tổ chức hệ thống NSNN, hầu hết các quốc gia đều có ngân sách cấp cơ sở (ngân sách xã hoặc vùng), tuy nhiên vấn đề quan niệm về NSX lại chưa có sự đồng nhất ở nước ta, trong khuôn khổ các văn bản pháp quy về NSX cũng có sự khác nhau

Điều lệ ngân sách xã ban hành tháng 4/1972 đã ghi: "Ngân sách xã là

kế hoạch thu, chi tài chính của chính quyền cấp xã để đảm bảo điều kiện vật chất cho hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính xã làm tròn trách nhiệm nhiệm vụ của mình: đảm bảo việc chấp hành pháp luật, giữ vững trật tự trị an, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, quản lý mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội trong xã, động viên và giám sát các hợp tác xã và công dân, thi hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đối với Nhà nước”[6]

Thông tư 14/TC-NSNN ngày 28/3/1997 của Bộ Tài chính và hướng dẫn quản lý thu, chi ngân sách xã, thị trấn xác định: "Ngân sách xã, thị trấn (sau

đây gọi tắt là ngân sách xã) là một bộ phận của ngân sách nhà nước do UBND xã, thị trấn (dưới đây gọi chung là cấp xã) xây dựng, quản lý và HĐND xã quyết định, giám sát thực hiện”[17]

Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước ban hành ngày 16/12/2002 thì NSX được xây dựng trên cơ sở nguồn thu và nhiệm vụ chi được phân cấp Mọi khoản thu, chi ở xã đều phải phản ánh vào NSX để HĐND xã thảo luận, quyết định và kiểm tra việc thực hiện

Trang 18

Điểm giống nhau cơ bản của các văn bản pháp quy về NSX từ trước đến nay đều khẳng định và thừa nhận sự tồn tại của NSX gắn với chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã Điểm khác nhau trong các văn bản trên là:

- Khi chưa có Luật ngân sách nhà nước, NSX vẫn là một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà nước Tuy nhiên một số nguồn thu, nhiệm vụ chi chưa được ghi vào trong báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm của xã,

ví dụ như các khoản thu do nhân dân đóng góp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như trường học, đường giao thông, thuỷ lợi nội đồng, hệ thống điện

- Từ khi có Luật ngân sách nhà nước, NSX được xác định là một bộ phận của NSNN, nằm trong hệ thống NSNN Mọi khoản thu, chi của NSX do UBND xã xây dựng quản lý; HĐND xã quyết định, giám sát toàn bộ các khoản thu chi của NSX được tổng hợp phản ánh đầy đủ vào hệ thống NSNN thông qua kho bạc nhà nước (KBNN)

Từ các hình thức biểu hiện có tính tương đối thống nhất của NSX, cho phép chúng ta có thể rút ra các đặc điểm của NSX là:

nước cấp cơ sở Hoạt động của quĩ này thể hiện trên hai phương diện: huy

động nguồn thu vào quĩ (gọi tắt là thu NSX) và phân phối, sử dụng các khoản vốn quĩ đó (gọi tắt là chi NSX)

nhiệm vụ của chính quyền xã đã được phân cấp, đồng thời luôn chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp xã Chính vì vậy, các chỉ tiêu thu, chi NSX luôn mang tính pháp lý

quan hệ về lợi ích giữa một bên là lợi ích chung của cộng đồng cấp cơ sở mà chính quyền xã là người đại diện với một bên là lợi ích của các chủ thể kinh

Trang 19

tế, xã hội khác (có thể là của tập thể hoặc có thể là của cá nhân) Các quan hệ lợi ích này phát sinh trong quá trình thu và chi NSX

thức khác nhau, nhưng số thu hoặc số chi theo từng hình thức chỉ có thể được thực thi một khi nó đã được ghi vào dự toán và đã được các cơ quan nhà nước

- Ngân sách xã là một cấp ngân sách trong hệ thống NSNN Điều này

đã được xác định cụ thể tại điều 3 nghị định 87/CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ quy định chi tiết việc phân cấp quản lý, lập, chấp hành và quyết toán NSNN

- Xã là một đơn vị dự toán đặc biệt vì dưới không có đơn vị dự toán nào trực thuộc nó Nó vừa phải tạo nguồn kinh phí thông qua các khoản thu NSX, vừa phải duyệt cấp, chi trực tiếp và phải tổng hợp ngay các khoản chi trực tiếp

đó vào NSX Nói một cách cụ thể hơn, NSX vừa quản lý ngân sách thông qua các nghiệp vụ thuế, tài vụ, quỹ ngân sách, lại vừa quản lý quỹ tiền mặt, vật tư,

Trang 20

tài sản và các hoạt động kinh tế xã hội khác trên địa bàn xã Chính vì vậy chi tiêu ở xã có những khoản phải chuẩn chi và thực hiện khoán theo đúng quy

định của pháp luật, song cũng có những khoản phải thuận chi Bởi vậy, quản

lý chi tiêu NSX không thể gò bó trong khuôn khổ hạn mức kinh phí như một cấp dự toán thông thường Việc nghiên cứu tìm ra luật, phương thức quản lý

có thể dung hoà được những nét đặc thù của NSX là vấn đề còn nhiều điểm bỏ ngỏ mà các nhà quản lý kinh tế quan tâm đến cần có lời giải đáp, để giúp cho công tác quản lý NSNN nói chung và NSX nói riêng ngày một tốt hơn

Sự thay đổi cơ chế quản lý nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã làm thay đổi căn bản vai trò của NSNN Nếu như trước đây, NSNN được coi là công cụ tài chính quan trọng để Nhà nước “làm kinh tế”, thì ngày nay nó được coi là công

cụ tài chính quan trọng để giúp Nhà nước thực hiện quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong bối cảnh đó, tất yếu vai trò của NSX - ngân sách cấp cơ sở trong hệ thống NSNN cũng phải thay đổi cho đồng bộ[6]

2.1.3 Vị trí, vai trò của ngân sách xã

Hệ thống ngân sách Nhà nước ở nước ta đã được thiết lập theo một thể thống nhất gồm các cấp ngân sách có tính độc lập tương đối với nhau nhưng

đều chịu sự điều hành thống nhất của Nhà nước trung ương

Điều 118 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công

bố 18/4/1992 quy định các cấp hành chính như sau:

"Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh Thành phố trực thuộc chia thành quận, huyện và thị xã

Huyện chia thành xã, thị trấn Thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh chia thành phường, xã"

Trang 21

Như vậy, hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước ta được chia thành 4 cấp: Trung ương - tỉnh (thành phố) - huyện (quận, thị xã) - xã (thị trấn, phường) mỗi cấp có các cơ quan quyền lực tương ứng là: Trung ương có Quốc hội và Chính phủ, các cấp địa phương có HĐND và UBND địa phương

Trong hệ thống NSNN, NSX được coi là ngân sách cấp cơ sở mà ở đó thể hiện rất sống động các quan hệ của Nhà nước với nhân dân Mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước mang tính khả thi như thế nào, hiệu lực quản

lý Nhà nước đạt được ở mức độ nào đều được thể hiện rất rõ ở cấp này Chính vì vậy, có thể nói NSX có vị trí rất quan trọng trong hệ thống NSNN

- Xã là một đơn vị hành chính nhà nước cuối cùng ở cơ sở Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp giải quyết toàn bộ các mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân trên cơ sở các quy định hiện hành của Nhà nước NSX là công cụ không thể thiếu để chính quyền cấp xã thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình Do đó, nếu xét trên giác độ kinh tế thì quy mô và mức độ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền xã phụ thuộc rất lớn vào khả năng nguồn kinh phí mà NSX có được

- Hội đồng nhân dân xã với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước tại

địa phương được quyền ban hành các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội,

an ninh quốc phòng và các nghị quyết có liên quan đến quản lý ngân sách xã mình

- Cơ cấu thu, chi của NSX thể hiện hầu hết các khoản thu, chi của ngân sách địa phương đã được phân định Đặc biệt, có những khoản thu mà chỉ có NSX quản lý và khai thác thì mới đạt hiệu quả cao như: thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế của các hộ kinh doanh buôn bán nhỏ, một số loại phí, lệ phí, hoa lợi công sản Hoặc có những khoản chi mà chỉ có NSX thực hiện thì mới đảm bảo tính kịp thời, đúng đối

Trang 22

tượng như trợ cấp khó khăn, giáo dục mầm non trong mẫu giáo, y tế, duy trì bảo dưỡng công trình công cộng tại xã

Khi đề cập đến vai trò của NSX trong nền kinh tế thị trường, người ta chủ yếu nhìn nhận dưới hai giác độ sau:

Thứ nhất, NSX cung cấp các phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt

động của bộ máy Nhà nước ở cơ sở

Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì mọi hoạt

động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước đều được coi là những hoạt động cung ứng dịch vụ cho xã hội, cho nền kinh tế Vì thế, các khoản thu ngân sách

chính là để nhà nước trang trải cho các chi phí cung ứng dịch vụ

Nguồn để trang trải cho các chi phí của bộ máy nhà nước chỉ có thể

được đảm bảo từ NSNN Trong điều kiện hình thành cấp NSX trong hệ thống NSNN thì đương nhiên chi phí của bộ máy nhà nước cấp xã phải do NSX đảm nhiệm Nhờ đó mà lương, sinh hoạt phí của cán bộ, các khoản chi tiêu cho quản lý hành chính hay mua sắm trang thiết bị cho văn phòng mới được đảm bảo Vì vậy, có thể nói không có các khoản chi của NSX thì bộ máy nhà nước

ở cơ sở không thể tồn tại và phát triển với tư cách là bộ máy quản lý mọi hoạt

động KT-XH trên địa bàn xã

Thứ hai, NSX là công cụ đặc biệt quan trọng để chính quyền cấp xã

thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội tại địa phương

Xã là một cấp chính quyền cơ sở trong hệ thống bộ máy quản lý nhà nước Trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân và giữa các công dân với nhau, với các tổ chức KT-XH Do đó, mọi chính sách chế độ của Nhà nước được thực thi ở mức độ nào, mọi sự quan tâm của nhà nước tới nhân dân như thế nào được thể hiện trên hai mặt hoạt động thu và chi của nó

Trang 23

Thông qua thu ngân sách mà các nguồn được tập trung nhằm tạo lập quỹ ngân sách, đồng thời giúp chính quyền xã thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác đi theo đúng pháp luật Việc kiểm tra ngành nghề kinh doanh, qua mặt hàng kinh doanh, qua sự lưu chuyển của hàng hoá từ đó có những điều tiết, kích thích các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ phát triển đúng hướng

Mặt khác, thu NSX còn góp phần thực hiện các chính sách xã hội như:

đảm bảo công bằng xã hội, có sự trợ giúp cho những đối tượng nộp khi họ gặp khó khăn hay thuộc diện ưu đãi theo chính sách của nhà nước thông qua công tác xem xét miễn giảm số thu Ngoài ra, việc áp dụng các hình thức và các mức thu phạt đối với các tổ chức và cá nhân vi phạm trật tự an toàn xã hội đã coi như một biện pháp buộc họ phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng

Qua những phân tích trên cho thấy thu NSX có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần thực hiện các mục tiêu KT-XH của địa phương Đồng thời, nếu xét trên phương diện quan hệ giữa hai mặt hoạt động của NSX thì thu NSX còn có ảnh hưởng mang tính quyết định tới chi NSX

Bởi lẽ có thu mới có chi, "lường thu mà chi" đã trở thành phương châm

điều hành ngân sách Tập trung các nguồn thu vào NSNN nói chung và NSX nói riêng là hết sức cần thiết để giải quyết các nhiệm vụ KT-XH của địa phương Song nếu tập trung quá mức sẽ hạn chế đến tích lũy của dân cư, hạn chế đến sản xuất Vì vậy, việc huy động các nguồn thu vào NSX phải đảm bảo

sự hài hoà giữa tập trung vào ngân sách với tích luỹ, tích tụ của các tổ chức và cá nhân, giữa cái chung và cái riêng Thông qua chi NSX mà các hoạt động của Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể chính trị xã hội ở xã được duy trì

và phát triển một cách liên tục và ổn định, nhờ đó mà nâng cao hiệu lực quản

lý của nhà nước ở cơ sở

Trang 24

Với các khoản chi cho sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp y tế, NSX đã thiết thực góp phần vào việc nâng cao dân trí, nâng cao sức khoẻ cho nhân dân Những vấn đề liên quan đến sức khoẻ của nhân dân đã được giải quyết thông qua mạng lưới y tế xã, thôn Các vấn đề xoá mù, chống tái mù, phổ cập, giáo dục mầm non tại mỗi địa phương được giải quyết với sự trợ giúp đắc lực của NSX

Các khoản chi nhằm thực hiện các chính sách xã hội như: cứu tế xã hội, trợ cấp gia đình thương binh liệt sỹ, trợ cấp những gia đình gặp thiên tai, rủi ro cũng được chính quyền cấp xã giải quyết thông qua hoạt động chi NSX

Ngân sách xã đã đầu tư xây dựng hệ thống truyền thanh, truyền hình, nhà văn hoá, sân vận động nhằm nâng cao dân trí, nâng cao nhận thức và đời sống văn hoá của nhân dân, góp phần loại trừ các hủ tục lạc hậu, xây dựng nông thôn mới cũng được giải quyết thông qua chi NSX

nhân dân giải quyết tốt các vấn đề về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Nhờ đó

mà kinh tế địa phương ngày một phát triển, đời sống nhân dân ngày một cải thiện, bộ mặt nông thôn ngày một thay đổi mới văn minh

Từ các phân tích trên đây cho thấy NSX có vai trò rất quan trọng đối với

sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng ở nông thôn, xúc tiến quá trình đô thị hoá nông thôn nhằm từng bước xoá đi sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị

Mặt khác, xét trong mối quan hệ biện chứng giữa 2 mặt hoạt động của NSX thì chi NSX thực hiện tốt sẽ tác động trực tiếp đến việc bồi dưỡng, phát triển nguồn thu ngân sách xã

2.1.4 Nội dung ngân sách x∙

Nội dung chủ yếu của hoạt động NSNN nói chung và NSX nói riêng bao gồm thu ngân sách và chi ngân sách

Trang 25

Nguồn thu và nhiệm vụ chi của NSX được hình thành trên cơ sở tiềm năng và nhu cầu phát triển KT- XH của địa phương, kết hợp với các nhiệm vụ

về quản lý KT-XH mà chính quyền xã được phân công, phân cấp thực hiện

Đó chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phân công, phân cấp về quản lý KT-XH với phân cấp về quản lý tài chính ngân sách Trên một phương diện nhất định, căn cứ vào nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSX được phân giao, có thể coi đó là nội dung của NSX

Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện KT-XH và sự phân cấp quản lý NSNN trong từng thời kỳ cụ thể mà nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSX sẽ có những thay đổi hoặc điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp

Trong điều kiện hiện nay, theo quy định của Luật ngân sách nhà nước (áp dụng từ năm ngân sách 2004) và Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/06/2003 của Bộ Tài chính qui định về quản lý NSX và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn thì:

a Nguồn thu của ngân sách xã

Nguồn thu của NSX do HĐND cấp tỉnh quyết định phân cấp trong phạm vi nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng

(1) Các khoản thu ngân sách xã hưởng 100%: Là các khoản thu dành

cho NSX sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn tài chính đảm bảo các nhiệm

vụ chi thường xuyên, đầu tư Căn cứ qui mô nguồn thu, chế độ phân cấp quản

lý kinh tế - xã hội và nguyên tắc đảm bảo tối đa nguồn tại chỗ cân đối cho các nhiệm vụ chi thường xuyên, khi phân cấp nguồn thu, HĐND tỉnh xem xét dành cho NSX hưởng 100% các khoản thu dưới đây [15]:

- Các khoản phí, lệ phí quy định thu vào ngân sách xã

- Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào NSNN theo chế

độ qui định

Trang 26

- Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản khác do xã quản lý

- Các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: các khoản

đóng góp theo quy định của pháp luật, các khoản đóng góp trên nguyên tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do HĐND xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý và các khoản đóng góp tự nguyện khác

- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho NSX theo chế độ qui định

- Thu kết dư ngân sách năm trước

- Các khoản thu khác của NSX theo quy định của pháp luật

(2) Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ giữa các cấp ngân sách

- Thuế chuyển quyền sử dụng đất

- Thuế nhà, đất

- Thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình

Trang 27

- Thu bổ sung cân đối ngân sách (được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa dự toán chi được giao và dự toán thu từ các nguồn được phân cấp)

- Thu bổ sung có mục tiêu (nếu có) tuỳ thuộc theo khả năng của ngân sách cấp trên

Việc phân định, phân cấp nguồn thu giữa NSX và ngân sách các cấp chính quyền dựa vào khối lượng từng khoản thu trên địa bàn các xã, đặc điểm tính chất của từng khoản thu trên cơ sở cân đối với nhiệm vụ chi của các xã, nhằm phân cấp nhiệm vụ thu cũng như tạo điều kiện để các cấp chủ động khai thác triệt để, động viên kịp thời các khoản thu vào ngân sách, đáp ứng các nhiệm vụ chi của ngân sách cấp mình

Các khoản thu phân cấp cho NSX được hưởng 100% chủ yếu là do tính chất phức tạp trong việc quản lý, khai thác thu và thường gắn liền hoạt động quản lý KT-XH của chính quyền cấp xã Các khoản thu này thường ổn định và xét về khối lượng trong các xã là không lớn hơn nhiệm vụ chi, song nó lại phân bố trong hầu khắp các hộ dân cư trên địa bàn các xã Do đó công tác quản lý thu, chi có thể giao cho chính quyền cấp xã tổ chức thực hiện mới

đảm bảo hiệu lực, hiệu quả Mặt khác, một số khoản thu gắn liền với hoạt

động quản lý KT-XH của chính quyền cấp xã cũng cần phải phân cấp cho NSX được hưởng 100% mới động viên, khuyến khích các xã đầu tư phát triển KT-XH nói chung, tăng thu ngân sách nói riêng

Việc huy động các khoản đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng trong xã nhằm đáp ứng quyền lợi trực tiếp của dân cư trong xã cũng cần phải phân cấp 100% cho ngân sách để chính quyền xã chủ động tổ chức bàn bạc với dân trong việc đóng góp cũng như tổ chức quản lý sử dụng các khoản đóng góp đó, đáp ứng yêu cầu quy chế dân chủ,

động viên khuyến khích phát huy nội lực, ổn định chính trị - xã hội

Trang 28

Đối với các khoản thu NSX được hưởng theo tỷ lệ phần trăm, chủ yếu là các khoản thu theo các luật thuế mang tính chất bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải thực hiện nghĩa vụ của mình, mặc dù các khoản thu này phát sinh trực tiếp trên địa bàn các xã nhưng việc quản lý tổ chức huy động các khoản thu này đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các cấp chính quyền trong đó có chính quyền xã để đề ra chủ trương, biện pháp, cơ chế và tổ chức lực lượng thu cho thích hợp Mặt khác, khối lượng những khoản thu này lớn hơn nhiệm

vụ chi, phân bố không đều, một số khoản không thường xuyên, do đó để động viên khuyến khích các cấp chính quyền phối hợp tổ chức quản lý huy động tốt các khoản thu trên vào NSNN, cần phải có sự phân chia giữa các cấp ngân sách sao cho hợp lý

Việc phân chia theo tỷ lệ phần trăm các khoản thu này cho NSX tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng xã để xác định tỷ lệ phần trăm cho từng xã và cho từng nguồn thu cụ thể trong mối tương quan giữa các xã với nhau nhằm điều hoà, hỗ trợ các địa phương khó khăn về nguồn thu, tạo sự phát triển

đồng đều về kinh tế, văn hoá, xã hội Tuy nhiên, phải có chính sách động viên hợp lý đối với những xã tích cực phát triển KT-XH mà có nhiều nguồn thu

b Nhiệm vụ chi của ngân sách xã

Chi NSX gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên HĐND tỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi cho NSX căn cứ chế độ phân cấp quản lý KT-XH của nhà nước, các chính sách chế độ về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhiệm vụ phát triển KT-XH của xã, khi phân cấp nhiệm vụ chi cho NSX, HĐND tỉnh xem xét giao cho NSX thực hiện các nhiệm vụ chi dưới đây[17]

(1) Chi đầu tư phát triển

- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH không

có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của cấp tỉnh

Trang 29

- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH của xã

từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân cho từng dự án nhất

định theo qui định của pháp luật, do HĐND xã quyết định đưa vào NSX quản lý

- Khoản chi đầu tư phát triển khác theo qui định của pháp luật

Theo sự phân cấp của tỉnh, chi đầu tư phát triển của NSX bao gồm: chi

đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng như đường giao thông nông thôn; trường học cấp 1, cấp 2, nhà trẻ mẫu giáo; trạm y tế xã; hệ thống kênh mương; thuỷ lợi nội đồng và các công trình phúc lợi khác Nguồn kinh phí chi cho đầu tư phát triển lấy từ ngân sách và nguồn huy động đóng góp theo quy

định của pháp luật, đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của các tổ chức và cá nhân cho từng dự án, từng mục tiêu cụ thể

Việc phân loại các nội dung chi NSX nêu trên giúp cho chính quyền cấp xã đảm bảo quản lý sử dụng ngân sách có hiệu quả, đúng mục đích, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương đồng thời giúp chính quyền địa phương tăng cường phát huy nội lực, động viên nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển KT-XH, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho cộng đồng dân cư trong xã

- Chi hoạt động của các cơ quan nhà nước cấp xã

+ Sinh hoạt phí đại biểu hội đồng nhân dân

+ Các khoản phụ cấp khác theo qui định của Nhà nước

Trang 30

+ Chi khác theo chế độ qui định

- Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở xã

- Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội của xã (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam) sau khi trừ các khoản thu theo điều lệ và các khoản thu khác (nếu có)

- Đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho các cán bộ xã và các đối t−ợng khác theo chế độ qui định

- Chi công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội:

+ Chi huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự vệ và các khoản chi khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của NSX theo qui định của pháp lệnh về dân quân tự vệ

+ Chi thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác thuộc nhiệm vụ chi của NSX theo qui định của pháp luật

+ Chi tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã

+ Các khoản chi khác theo chế độ qui định

- Chi công tác xã hội và hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao

do xã quản lý

+ Trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc theo chế độ qui

định (không kể trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc và trợ cấp thôi việc

1 lần cho cán bộ xã nghỉ việc từ ngày 1/1/1998 trở về sau do tổ chức bảo hiểm xã hội chi); chi thăm hỏi các hộ gia đình chính sách; cứu tế xã hội và công tác xã hội khác

+ Chi hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, truyền thanh do xã quản lý

Trang 31

- Chi sự nghiệp giáo dục: hỗ trợ các lớp bổ túc văn hoá, trợ cấp nhà trẻ, lớp mẫu giáo, kể cả trợ cấp cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã, thị trấn quản lý (đối với phường do ngân sách cấp trên chi)

- Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà văn hoá, thư viện, đài tưởng niệm, cơ sở thể dục thể thao, cầu, đường, giao thông, công trình cấp và thoát nước công cộng riêng đối với thị trấn còn có nhiệm vụ chi sửa chữa cải tạo vỉa hè, đường phố nội thị, đèn chiếu sáng, công viên, cây xanh (đối với phường do ngân sách cấp trên chi)

- Hỗ trợ khuyến khích phát triển các sự nghiệp kinh tế như khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, nuôi dưỡng phát triển nguồn thu ngân sách xã

- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật

Việc phân định rõ nội dung từng khoản chi trong chi thường xuyên của NSX nhằm xác định rõ nhiệm vụ chi của NSX, trên cơ sở nhiệm vụ chính trị của địa phương được phân cấp, đồng thời tạo điều kiện để chính quyền xã chủ động bố trí, sắp xếp ngân sách hợp lý, đảm bảo hoàn thành tốt các nhiệm

vụ chính trị của địa phương, giúp chính quyền địa phương sử dụng hợp lý nguồn thu, chi tiêu đúng mục đích, có hiệu quả, không bị chồng chéo, tránh tình trạng sử dụng ngân sách cấp này để chi thay cho nhiệm vụ của ngân sách cấp khác

2.1.5 Quản lý ngân sách x∙

2.1.5.1 Khái niệm về quản lý ngân sách xã

Quản lý NSX là một hoạt động quản lý kinh tế, nó biểu hiện ở việc quản lý các vấn đề thu chi NS trong chính quyền cấp xã thế nào cho hợp lý và

đạt hiệu quả kinh tế, chính trị cao nhất[9]

Trang 32

Đối tượng của quản lý NSX là toàn bộ các hoạt động thu chi NSX phát sinh trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước ở xã trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Quản lý NSX là sự liên kết hữu cơ giữa nhà nước mà chính quyền xã là một đại diện với tư cách là chủ thể quản lý, khách thể quản lý là chính quyền xã với tư cách là đơn vị sử dụng ngân sách

Cơ sở của quản lý NSX là sự vận dụng các qui luật KT-XH phù hợp với thực tiễn khách quan mà được cụ thể hoá bằng các văn bản pháp luật về quản

lý tài chính nói chung và quản lý NSX nói riêng

Mục tiêu quản lý NSX là các khoản thu phải được thu đúng, thu đủ và thu kịp thời Các khoản chi phải được kiểm soát chặt chẽ, đúng mục đích,

đúng đối tượng, đúng định mức tiêu chuẩn và đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của chính quyền nhà nước cấp cơ sở

Quản lý NSNN sử dụng hệ thống tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính, trong đó biện pháp quan trọng nhất là tổ chức hành chính, nó thể hiện quyền lực chính trị của nhà nước và bảo vệ lợi ích cộng

đồng, biện pháp này tác động quản lý theo hai hướng, đó là:

Thứ nhất, chủ thể quản lý ban hành các văn bản qui định tính chất mục

tiêu, qui mô, cơ cấu tổ chức, điều kiện hoạt động và các mối quan hệ

Thứ hai, chủ thể quản lý đưa ra các quyết định buộc khách thể quản

lý thực hiện những nhiệm vụ đó Đặc trưng của biện pháp tổ chức hành chính là cưỡng chế đơn phương của chủ thể quản lý, đặc điểm này thể hiện rất rõ nét trong cơ chế quản lý NSX ở Việt Nam Ngân sách xã được phân cấp cho chính quyền địa phương quản lý nhưng nhà nước thống nhất tập trung việc ban hành các cơ chế chính sách về quản lý NSX từ khâu lập dự toán, chấp hành và quyết toán

Trang 33

Phạm vi quản lý là tất cả các khoản thu và chi thuộc phạm vi nội dung NSX theo qui định pháp luật

Nguyên tắc quản lý NSX phải được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai, hiệu quả và tiết kiệm (Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính) [15]

2.1.5.2 Đặc điểm quản lý ngân sách xã

Trong hệ thống bộ máy các cấp chính quyền, cấp xã là cấp chính quyền nhà nước cuối cùng, là nơi trực tiếp giải quyết toàn bộ các mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân Ngân sách nhà nước cấp xã là cấp ngân sách cuối cùng trong hệ thống NSNN Do đó, quản lý NSX có những đặc điểm riêng

a Về quản lý nguồn thu ngân sách xã

Ngoài những nguồn thu được phân chia theo tỷ lệ giữa các cấp ngân sách do các cấp chính quyền phối hợp tổ chức thu Còn một số nguồn thu do chính quyền cấp xã trực tiếp quản lý, khai thác, động viên như thu từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản, các loại phí, lệ phí, thu đóng góp của nhân dân

và một số khoản thu khác Những nguồn thu này đòi hỏi phải quản lý có hiệu quả tài sản của nhà nước, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển KT-XH ở địa phương Mặt khác còn đòi hỏi phải đầu tư, bồi dưỡng phát triển nguồn thu, tăng thu cho NSNN Do đó chính quyền Nhà nước cấp xã không chỉ tổ chức thu NSNN mà còn phải quan tâm đến đầu tư nuôi dưỡng, phát triển nguồn thu

đi đôi với quản lý tài sản của nhà nước

Thực hiện chủ trương phát huy nội lực, động viên các tầng lớp nhân dân

đóng góp xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở của địa phương Đòi hỏi chính quyền cấp xã phải tổ chức vận động nhân dân đóng góp, đồng thời phải phải tổ chức quản lý sử dụng có hiệu quả các khoản đóng góp của nhân dân

đảm bảo công bằng, công khai, dân chủ Đặc điểm của nguồn thu này là nhiều khoản thu (cho nhiều công trình) đối tượng và mức thu nhiều, khả năng đóng

Trang 34

góp khác nhau, tính tích cực trong việc thực hiện đóng góp khác nhau, vừa

đóng góp bằng tiền, bằng ngày công, hiện vật Do đó, việc tổ chức thu, công tác quản lý và công tác kế toán NSX rất phức tạp

Ngoài ra, còn các khoản hỗ trợ bằng tiền mặt, bằng hiện vật của các cấp, các ngành, các tổ chức trong và ngoài nước cũng góp phần tạo nên tính phức tạp riêng của công tác quản lý nguồn thu ngân sách cấp xã

b Về quản lý chi ngân sách xã

Đặc điểm nhiệm vụ của chính quyền cấp xã- cấp cơ sở có rất nhiều hoạt

động khó định lượng, trong khi đó việc xây dựng dự toán chi đòi hỏi phải sát với yêu cầu thực tiễn luôn biến động và đáp ứng kịp thời Mặt khác, có nhiều hoạt động trên địa bàn xã do ngân sách cấp trên đảm nhận, phân cấp nhiệm vụ chi chưa rõ ràng hoặc NSX phải chi thêm Các khoản đóng góp của nhân dân bằng ngày công lao động, bằng hiện vật đòi hỏi phải quản lý theo dõi và quyết toán riêng từng công trình, công việc cụ thể để công khai với nhân dân

c Trong việc thực hiện chu trình quản lý ngân sách

Xã vừa là một cấp ngân sách lại vừa là một đơn vị dự toán đặc biệt vì dưới nó không có đơn vị trực thuộc nào Nó vừa tạo nguồn kinh phí thông qua các khoản thu được phân cấp, vừa phải duyệt cấp, chi trực tiếp và tổng hợp các khoản thu trực tiếp đó vào chi ngân sách xã luôn Các khoản đóng góp của nhân dân, ủng hộ của các tổ chức và cá nhân bằng ngày công, hoặc bằng hiện vật phải thực hiện "ghi thu, ghi chi" vào NSX

d Trong việc kiểm soát ngân sách xã

Quản lý NSX vừa quản lý ngân sách thông qua các nghiệp vụ thuế, tài

vụ, quỹ NSX, lại vừa quản lý quỹ tiền mặt, vật tư, tài sản và các hoạt động KT-XH khác trên địa bàn xã Chính vì vậy, chi tiêu ở xã có những khoản phải chuẩn chi và thực hiện kiểm soát theo đúng quy định của pháp luật

Trang 35

2.1.5.3 Nội dung quản lý ngân sách xã

a Lập dự toán ngân sách xã

™ Yêu cầu lập dự toán ngân sách xã [4];[17]

- Dự toán NSX phải tổng hợp theo từng lĩnh vực thu chi, theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển

- Báo cáo dự toán NSX phải kèm theo bảng thuyết minh chi tiết các cơ

sở, căn cứ tính toán

- Dự toán NSX phải đảm bảo cân đối theo nguyên tắc, phải cân bằng giữa thu và chi trên cơ sở số thu NSX dự kiến đạt được kỳ KH bao gồm:

o Các khoản thu NSX được hưởng 100%

o Các khoản thu NSX được phân chia theo tỷ lệ %

o Số bổ sung từ NS cấp trên cho NSX

Những yêu cầu cơ bản nêu trên đối với công tác lập dự toán NSX đòi hỏi các cơ quan chức năng có trách nhiệm trong quản lý NSX phải tôn trọng một cách đầy đủ Chỉ khi thoả mãn được tất cả các yêu cầu trên thì dự toán NSX mới thực sự được coi là khâu mở đầu có tầm quan trọng đặc biệt trong

suốt quá trình quản lý NSX

™ Căn cứ lập dự toán ngân sách xã [4];[17]

- Các nhiệm vụ phát triển KT-XH hội đảm bảo an ninh quốc phòng, trật

tự an toàn xã hội của xã

- Chính sách, chế độ thu NSNN, cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSX và tỷ lệ phân chia nguồn thu do HĐND cấp tỉnh qui định

- Chế độ, tiêu chuẩn định mức chi ngân sách do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và HĐND cấp tỉnh qui định

- Số kiểm tra về dự toán NSX do UBND huyện thông báo

Trang 36

- Tình hình thực hiện dự toán NSX năm hiện hành và các năm trước

™ Trình tự lập dự toán ngân sách xã

- Ban tài chính xã phối hợp với cơ quan thuế hoặc đội thu thuế xã (nếu có) tính toán các khoản thu NSNN trên địa bàn (trong phạm vi phân cấp cho xã quản lý)

- Các ban, tổ chức thuộc UBND xã căn cứ vào chức năng nhiệm vụ

được giao và chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi lập dự toán chi của đơn vị tổ chức mình

- Ban tài chính xã lập dự toán thu chi và cân đối NSX trình UBND xã báo cáo Chủ tịch và Phó chủ tịch HĐND xã để xem xét gửi UBND huyện và phòng tài chính huyện Thời gian báo cáo dự toán NSX do UBND cấp tỉnh qui

định

- Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, phòng tài chính huyện làm việc với UBND xã về cân đối thu chi NSX thời kỳ ổn định mới theo khả năng bố trí cân đối chung của NS địa phương Đối với các năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, phòng tài chính huyện chỉ tổ chức làm việc với UBND xã về

dự toán NS khi UBND xã có yêu cầu

™ Quyết định dự toán ngân sách xã

Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu chi NS của UBND huyện, UBND xã hoàn chỉnh dự toán NSX và phương án phân bổ NSX trình HĐND xã quyết định Sau khi dự toán NSX được HĐND xã quyết định, UBND xã báo cáo UBND huyện, phòng tài chính huyện, đồng thời thông báo công khai dự toán NSX cho nhân dân biết theo chế độ công khai tài chính về

NSNN

™ Điều chỉnh dự toán NSX hàng năm (nếu có)

Trang 37

b Chấp hành dự toán ngân sách xã

Căn cứ dự toán NSX và phương án phân bổ NSX cả năm đã được HĐND xã quyết định, UBND xã phân bổ chi tiết dự toán chi NSX theo mục lục NSNN, gửi kho bạc nhà nước nơi giao dịch để làm căn cứ thanh toán và kiểm soát chi

Căn cứ vào dự toán cả năm và khả năng thu, nhu cầu chi của từng quí, UBND xã lập dự toán thu, chi quí (có chia ra tháng) gửi kho bạc nhà nước nơi giao dịch Đối với những xã có các nguồn thu chủ yếu theo mùa vụ, UBND xã

đề nghị cơ quan tài chính cấp trên thực hiện tiến độ cấp số bổ sung cân đối trong dự toán đã được giao (nếu có) cho phù hợp để điều hành chi theo tiến độ công việc

Chủ tịch UBND xã (hoặc người được uỷ quyền) là chủ tài khoản thu, chi NSX

Xã có quĩ tiền mặt tại xã để thanh toán các khoản chi có giá trị nhỏ

Định mức tồn quĩ tiền mặt tại xã do kho bạc nhà nước huyện qui định cho từng loại xã Riêng những xã ở xa kho bạc nhà nước, điều kiện đi lại khó khăn, chưa thể thực hiện việc nộp trực tiếp các khoản thu của NSX vào kho bạc nhà nước Định mức tồn quĩ tiền mặt được qui định ở mức phù hợp

ắ Tổ chức thu ngân sách

Ban tài chính xã có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thuế, đảm bảo thu

đúng, thu đủ và thu kịp thời

Đơn vị, cá nhân có nghĩa vụ nộp NS, căn cứ vào thông báo thu của cơ quan thu hoặc của ban tài chính xã, lập giấy nộp tiền đến kho bạc nhà nước để nộp trực tiếp vào NSNN

Trường hợp đối tượng phải nộp NS không có điều kiện nộp tiền trực tiếp vào NSNN tạo kho bạc theo chế độ qui định thì:

Trang 38

- Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của cư quan thuế, cơ quan thuế thu, sau đó lập giấy nộp tiền và nộp vào kho bạc nhà nước Trường hợp cơ quan thuế uỷ quyền cho ban tài chính xã thu, thì cũng thực hiện theo qui

trình trên và được hưởng phí uỷ nhiệm thu theo chế độ qui định

- Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của ban tài chính xã, ban tài chính xã thu, sau đó lập giấy nộp tiền và nộp tiền vào kho bạc nhà nước hoặc nộp vào quĩ của NSX để chi theo chế độ qui định nếu là các xã niền núi, vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện giao dịch với kho bạc nhà nước

- Nghiêm cấm thu không có biên lai, thu để ngoài sổ sách, khi thu phải giao biên lai cho đối tượng nộp Cơ quan thuế, phòng tài chính huyện có nhiệm vụ cung cấp biên lai đầy đủ kịp thờ cho ban tài chính xã để thực hiện thu nộp NSNN Định kỳ ban tài chính xã báo cáo việc sử dụng và quyết toán biên lai đã được cấp với cơ quan cung cấp biên lai

- Trường hợp cơ quan có thẩm quyền quyết định phải hoàn trả khoản thu NSX, kho bạc nhà nước xác nhận rõ số tiền đã thu vào NSX của các đối tượng nộp trực tiếp hoặc chuyển khoản vào kho bạc nhà nước, đối với đối tượng nộp qua cơ quan thu thì cơ quan thu xác nhận để ban tài chính xã làm căn

cứ hoàn trả

Việc luân chuyển chứng từ thu được thực hiện như sau:

- Đối với các khoản thu NSX được hưởng 100%, kho bạc nhà nước chuyển 1 liên chứng từ thu cho ban tài chính xã

- Đối với khoản thu phân chia với NS cấp trên, kho bạc nhà nước lập bảng kê các khoản thu NS có phân chia cho xã gửi ban tài chính xã

Đối với số thu bổ sung từ NS huyện cho NSX, phòng tài chính huyện căn cứ vào dự toán số bổ sung đã giao cho từng xã, dự toán thu chi hàng quí của các xã và khả năng cân đối của NS huyện, thông báo số bổ sung hàng quí

Trang 39

(chia ra tháng) cho xã chủ động điều hành NS Phòng tài chính huyện cấp bổ sung cho xã (bằng lệnh chi) theo định kỳ hàng tháng

ắ Tổ chức thực hiện nhiệm vụ chi

- Trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân trong việc quản lý chi ngân sách xã

+ Đối với các tổ chức, đơn vị thuộc xã: Chi đúng dự toán được giao,

đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, đúng mục đích, đối tượng và tiết kiệm, có

hiệu quả

Lập dự toán sử dụng kính phí hàng quí (có chia tháng) gửi ban tài chính xã Khi có nhu cầu chi làm thủ tục đề nghị ban tài chính xã rút tiền tại kho bạc hoặc quĩ tại xã để thanh toán

Chấp hành đúng qui định của pháp luật của kế toán, thống kê và quyết toán sử dụng kinh phí với ban tài chính xã và công khai kết quả thu chi tài chính của tổ chức, đơn vị

+ Đối với ban tài chính xã: Thẩm tra nhu cầu sử dụng kinh phí của các

tổ chức, đơn vị, bố trí nguồn theo dự toán năm và dự toán quí để đáp ứng nhu cầu chi, trường hợp nhu cầu chi lớn hơn thu trong quí cần có biện pháp đề nghị cấp trên tăng tiến độ cấp bổ sung hoặc tạm thời sắp xếp lại nhu cầu chi phù hợp với nguồn thu, theo nguyên tắc đảm bảo chi lương, có tính chất lương

đầy đủ, kịp thời

Kiểm tra giám sát việc thực hiện chi NS, sử dụng tài sản của các tổ chức

đơn vị sử dụng NS, phát hiện và báo cáo đề suất kịp thời chủ tịch UBND xã về những vi phạm chế độ, tiêu chuẩn, định mức để có biện pháp đảm bảo thực hiện mục tiêu và tiến độ qui định

Trang 40

Việc quyết định chi phải theo đúng chế độ, tiêu chuẩn và mức chi trong phạm vi dự toán được phê duyệt và người ra quyết định chi phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình

- Nguyên tắc chi ngân sách [17]

+ Việc thực hiện chi phải đảm bảo các điều kiện:

Đã được ghi trong dự toán được giao, trừ trường hợp dự toán và phân

bổ dự toán chưa được cấp có thẩm quyền quyết định và chi từ nguồn tăng thu, nguồn dự phòng NS

Đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức qui định

Được chủ tịch UBND xã hoặc người được uỷ quyết định chi

Căn cứ vào dự toán chi cả năm, dự toán quí có chia tháng và tiến độ công việc, ban tài chính xã làm thủ tục chi trình chủ tịch xã hoặc người được

uỷ quyền quyết định gửi kho bạc nhà nước nơi giao dịch và kèm theo các tài liệu cần thiết theo qui định của pháp luật Việc thanh toán các khoản chi NSX bằng lệnh chi NSX, đối với khoản chi lớn phải kèm theo tài liệu chứng minh Trường hợp thanh toán bằng tiền mặt sử dụng lệnh chi NSX bằng tiền mặt, kho bạc nhà nước kiểm tra, nếu đủ điều kiện thì thanh toán cho khác hàng hoặc người sử dụng

Trong trường hợp cần thiết như tạm ứng công tác phí, ứng tiền trước cho khách hàng, cho nhà thầu theo hợp đồng, chuẩn bị hội nghị, tiếp khách, mua sắm nhỏ được tạm ứng để chi Trong trường hợp này, trên lệnh chi NSX chỉ ghi tổng số tiền cần tạm ứng Khi thanh toán tạm ứng phải có đủ chứng từ hợp

lệ gửi kho bạc nhà nước nơi giao dịch làm thủ tục chuyển tạm ứng sang thực chi ngân sách

Các khoản thanh toán NSX qua kho bạc nhà nước cho các đối tượng có tài khoản giao dịch ở kho bạc hoặc ở ngân hàng phải được thực hiện bằng hình

Ngày đăng: 06/12/2013, 19:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn ái, Hồ Xuân Ph−ơng, (2004), Giáo trình quản lý tài chính nhà n−ớc, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý tài chính nhà n−ớc
Tác giả: Lê Văn ái, Hồ Xuân Ph−ơng
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2004
2. Bộ Tài chính (2003), Luật Ngân sách Nhà n−ớc và các văn bản h−ớng dẫn thực hiện (quyểnI), NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân sách Nhà n−ớc và các văn bản h−ớng dẫn thực hiện (quyểnI)
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2003
3. Bộ Tài chính (2004), Chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2004
4. Bộ Tài chính (2005), Văn bản pháp qui về quản lý tài chính đối với xã, ph−ờng, thị trấn, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản pháp qui về quản lý tài chính đối với xã, ph−ờng, thị trấn
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2005
5. D−ơng Đăng Chinh, Phạm Văn Khoan, (2005), Giáo trình quản lý tài chính công, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý tài chính công
Tác giả: D−ơng Đăng Chinh, Phạm Văn Khoan
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2005
6. Nguyễn Văn Du, Ngô Thế Vinh, Vũ Công Ty (1999), Quản lý, sử dụng và kế toán ngân sách xã, ph−ờng, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý, sử dụng và kế toán ngân sách xã, ph−ờng
Tác giả: Nguyễn Văn Du, Ngô Thế Vinh, Vũ Công Ty
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
7. Kim Thị Dung (1997), “Một số vấn đề cơ bản về hệ thống tài chính trong nền kinh tế thị tr−ờng”, Kết quả nghiên cứu khoa học - khoa kinh tế và phát triển nông thôn, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề cơ bản về hệ thống tài chính "trong nền kinh tế thị tr−ờng”, Kết quả nghiên cứu khoa học - khoa kinh tế và phát triển nông thôn
Tác giả: Kim Thị Dung
Năm: 1997
8. Nguyễn Thị Dung (1998), Đánh giá tình hình quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình, Luận văn thạc sỹ kinh tế,Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình quản lý ngân sách xã "trên địa bàn huyện L−ơng Sơn, tỉnh Hoà Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Năm: 1998
9. Nguyễn Thị Ngọc Dung (2004), Đánh giá tình hình quản lý ngân sách xã của huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đạihọc Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình quản lý ngân sách xã của huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Dung
Năm: 2004
10. Vũ Đình Hảo (1996), “Quản lý ngân sách xã ở Việt Nam và các n−ớc”, Tạp chí Tài chính, số 18, tr.23-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý ngân sách xã ở Việt Nam và các n−ớc”", Tạp chí Tài chính
Tác giả: Vũ Đình Hảo
Năm: 1996
11. Hồ Thị Mỹ Hạnh (1996), “Đổi mới cơ chế quản lý ngân sách xã trong nền kinh tế thị tr−ờng hiện nay ở hà Nội”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Tài chính kế toán Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới cơ chế quản lý ngân sách xã trong nền kinh tế thị tr−ờng hiện nay ở hà Nội”
Tác giả: Hồ Thị Mỹ Hạnh
Năm: 1996
12. h−ớng dẫn thực hiện Luật ngân sách nhà n−ớc (1998), NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: h−ớng dẫn thực hiện Luật ngân sách nhà n−ớc
Tác giả: h−ớng dẫn thực hiện Luật ngân sách nhà n−ớc
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 1998
13. Huyện uỷ huyện Yên Mô (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Yên Mô lần thứ XV, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Yên Mô lần thứ XV
Tác giả: Huyện uỷ huyện Yên Mô
Năm: 2005
18. Nguyễn Bá Sơn (2000), Khoa học quản lý, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Bá Sơn
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2000
19. Sổ tay nghiệp vụ tài chính - kế toán xã, ph−ờng (2004), NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay nghiệp vụ tài chính - kế toán xã, ph−ờng
Tác giả: Sổ tay nghiệp vụ tài chính - kế toán xã, ph−ờng
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2004
20. UBND tỉnh Ninh Bình (2003), Quyết định 1480/2003/QD-UB ngày 5/7/2003, qui định tỷ lệ phân chia các khoản thu giữa các cấp NS địa ph−ơng trong tỉnh, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 1480/2003/QD-UB ngày 5/7/2003, qui định tỷ lệ phân chia các khoản thu giữa các cấp NS địa ph−ơng trong tỉnh
Tác giả: UBND tỉnh Ninh Bình
Năm: 2003
21. Phòng Thống kê huyện Yên Mô (2005), Niên giám thống kê huyện Yên Mô 2005, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Yên Mô 2005
Tác giả: Phòng Thống kê huyện Yên Mô
Năm: 2005
22. Chu Tiến Quang- Nguyễn thị thu Hằng (2006), “Về chính sách đầu t− Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách đầu t−
Tác giả: Chu Tiến Quang, Nguyễn thị thu Hằng
Năm: 2006
23. Quốc hội n−ớc CHXHCNVN (1998), Luật ngân sách nhà n−ớc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật ngân sách nhà n−ớc
Tác giả: Quốc hội n−ớc CHXHCNVN
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
14. Lịch sử Tài chính Việt Nam, (1992), NXB Thống kê, Hà Nội 15. Những vấn đề cốt yếu của quản lý, (1995), NXB thống kê, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tốc độ phát triển bình quân 3 năm (2003-2005) - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
c độ phát triển bình quân 3 năm (2003-2005) (Trang 58)
Bảng 3-3 Giá trị sản xuất - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 3 3 Giá trị sản xuất (Trang 58)
Bảng 3-4: Tình hình thu NSX của các xã trên địa bàn huyện Yên Mô - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 3 4: Tình hình thu NSX của các xã trên địa bàn huyện Yên Mô (Trang 64)
Về tình hình biến động qui mô thu NSX thì tổng thu NSX qua 3 năm - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
t ình hình biến động qui mô thu NSX thì tổng thu NSX qua 3 năm (Trang 70)
Bảng 4-1: Qui mô, cơ cấu thu ngân sách xã ở huyện Yên Mô - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 1: Qui mô, cơ cấu thu ngân sách xã ở huyện Yên Mô (Trang 70)
Bảng 4-4 Các khoản thu NSX h−ởng 100% qua 3 năm (2003-2005) - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 4 Các khoản thu NSX h−ởng 100% qua 3 năm (2003-2005) (Trang 76)
h −ởng theo tỷ lệ phân chia giữa các cấp ngân sách - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
h −ởng theo tỷ lệ phân chia giữa các cấp ngân sách (Trang 79)
Tình hình nguồn thu bổ sung từ ngân sách cấp trên - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
nh hình nguồn thu bổ sung từ ngân sách cấp trên (Trang 84)
Tình hình thu- chi th−ờng xuyên NSX qua 3 năm (2003-2005) - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
nh hình thu- chi th−ờng xuyên NSX qua 3 năm (2003-2005) (Trang 86)
Bảng 4.10 Qui mô, cơ cấu chi NSX ở huyện Yên Mô qua 3 năm                                                                                                            - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4.10 Qui mô, cơ cấu chi NSX ở huyện Yên Mô qua 3 năm (Trang 87)
Bảng 4-11 Chi ngân sách xã huyện Yên Mô qua 3 năm - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 11 Chi ngân sách xã huyện Yên Mô qua 3 năm (Trang 88)
Bảng 4-12 Cơ cấu chi th−ờng xuyên bình quân theo xã - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 12 Cơ cấu chi th−ờng xuyên bình quân theo xã (Trang 88)
Bảng 4-13 Qui mô, cơ cấu và tình hình biến động th−ờng xuyên (2003-2005) - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 13 Qui mô, cơ cấu và tình hình biến động th−ờng xuyên (2003-2005) (Trang 91)
Bảng 4-15 Tổng hợp dự toán thu NSX xã Yên Thắng, năm 2005 - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 15 Tổng hợp dự toán thu NSX xã Yên Thắng, năm 2005 (Trang 99)
Bảng 4-16 Tổng hợp dự toán thu ngân sách xã                                            huyện Yên Mô, năm 2005  - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 16 Tổng hợp dự toán thu ngân sách xã huyện Yên Mô, năm 2005 (Trang 102)
I Chi th−ờng xuyên 912,70 1.023,30 112,12 - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
hi th−ờng xuyên 912,70 1.023,30 112,12 (Trang 105)
Bảng 4-18 Tổng hợp dự toán chi ngân sách xã                                                          xã Yên Thắng, năm 2005  - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 18 Tổng hợp dự toán chi ngân sách xã xã Yên Thắng, năm 2005 (Trang 105)
năm 2005 của toàn huyện Yên Mô đ−ợc phản án hở Bảng 4-19. - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
n ăm 2005 của toàn huyện Yên Mô đ−ợc phản án hở Bảng 4-19 (Trang 107)
Bảng 4-20 Bảng cân đối tổng hợp dự toán ngân sách xã                xã Yên Lâm, năm 2005 - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 20 Bảng cân đối tổng hợp dự toán ngân sách xã xã Yên Lâm, năm 2005 (Trang 108)
Bảng 4-21 Bảng cân đối tổng hợp dự toán ngân sách xã         xã Yên Thắng, năm 2005  - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 21 Bảng cân đối tổng hợp dự toán ngân sách xã xã Yên Thắng, năm 2005 (Trang 108)
Bảng 4-22 Bảng cân đối tổng hợp dự toán ngân sách xã  huyện Yên Mô, năm2005  - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 22 Bảng cân đối tổng hợp dự toán ngân sách xã huyện Yên Mô, năm2005 (Trang 110)
Bảng 4-25 Tình hình chấp hành thu ngân sách xã     xã Yên Thắng, năm 2005  - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 25 Tình hình chấp hành thu ngân sách xã xã Yên Thắng, năm 2005 (Trang 118)
Bảng 4-27 Tình hình chấp hành dự toán các khoản thu xã h−ởng 100% - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 27 Tình hình chấp hành dự toán các khoản thu xã h−ởng 100% (Trang 122)
Bảng 4-28 Tình hình chấp hành các khoản thu NSX h−ởng theo tỷ lệ phần trăm - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 28 Tình hình chấp hành các khoản thu NSX h−ởng theo tỷ lệ phần trăm (Trang 127)
- Sự nghiệp nông- lâ m- thuỷ lợi 10,50 2,36 27,1 4,06 258,10 - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
nghi ệp nông- lâ m- thuỷ lợi 10,50 2,36 27,1 4,06 258,10 (Trang 130)
Bảng 4-30 Tình hình chấp hành chi ngân sách xã - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 30 Tình hình chấp hành chi ngân sách xã (Trang 131)
Bảng 4-31 Tình hình chấp hành chi ngân sách xã                                          huyện Yên Mô ( 2003-2005)  - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
Bảng 4 31 Tình hình chấp hành chi ngân sách xã huyện Yên Mô ( 2003-2005) (Trang 132)
Tình hình chấp hành chi NSX - Đánh giá thực trạng ngân sách xã trên địa bàn huyện yên mô – tỉnh ninh bình
nh hình chấp hành chi NSX (Trang 133)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w