1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Huong dan hoc sinh lop 7 khai thac kien thuc dia liqua cac so lieu thong ke

16 28 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 28,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua bảng số liệu thống kê về tỉ lệ dân thành thị của các quốc gia ở Châu Phi (học sinh thấy được nguyên nhân của quá trình đô thị hoá đất nước của các quốc gia, qua đó nói lên mối qua[r]

Trang 1

A- ĐẶT VẤN ĐỀ

Hoạt động tư duy mang lại kết quả mới về chất trong quá trình nhận thức của học sinh Nhưng tư duy chỉ có thể đạt được trên cơ sở kiến thức đã học vì không có nội dung, không có kiến thức thì không thể có tư duy Để lĩnh hội được kiến thức Địa lí không phải chỉ cần có trí nhớ mà quan trọng hơn là nhận thức chúng trên cơ sở phân tích tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá các hiện tượng địa lí cụ thể Như vậy, người giáo viên phải rèn luyện và phát huy năng lực tư duy cho học sinh trong quá trình học tập, không chỉ dừng lại ở việc dạy cái gì mà là dạy như thế nào để học sinh có suy nghĩ độc lập, sáng tạo,

có khả năng tư duy nhanh Kiến thức theo thời gian có thể quên đi, nhưng cái còn lại là phương pháp tư duy độc lập - sáng tạo để học sinh biết tự học trong

cuộc sống, ngoài thực tiễn Chính vì vậy "Hướng dẫn học sinh lớp 7 khai

thác kiến thức địa lí qua các số liệu thống kê" là phương pháp giúp hình

thành và phát triển khả năng tư duy của học sinh

Số liệu thống kê là một yếu tố đóng vai trò khá quan trọng trong giảng dạy Địa lí: Tuy nhiên, số liệu chỉ có tác dụng làm rõ hoặc làm chỗ dựa để nêu bật ý nghĩa của những tri thức địa lý Qua số liệu thống kê, học sinh có thể phân tích, nhận xét và đánh giá về tài nguyên thiên nhiên, dân cư, lao động , tình hình phát triển , phân bố chủ yếu các ngành kinh tế - xã hội của một nước,một khu vực Số liệu thống kê chủ yếu biểu hiện mặt Lượng của các hiện tượng kinh tế

- xã hội ,nhưng mặt Lượng lại có liên quan chặt chẽ với mặt Chất nhờ đó học sinh có thể thấy được đặc điểm của các hiện tượng địa lí, cũng như các đặc trưng kinh tế - xã hội của từng nước, từng khu vực

Hiên nay, trong quá trình dạy học Địa lý, giáo viên vẫn thường sử dụng các số liệu thống kê để minh hoạ, giải thích làm cho bài giảng được sáng tỏ và

dễ hiểu Nhưng cách sử dụng số liệu thống kê như thế chưa làm cho học sinh phát triển tư duy mà còn làm cho học sinh coi nhẹ vai trò của các số liệu

Trang 2

thống kê Cũng như bản đồ, số liệu và các bảng số liệu thống kê, biểu đồ được coi như nguồn tri thức và phương pháp sử dụng các bảng số liệu thống kê tốt nhất là tổ chức , hướng dẫn cho học sinh khai thác để tìm ra tri thức địa lí mới Muốn vậy việc sử dụng số liệu thống kê cần có mức độ, đúng lúc, đúng chỗ, nghĩa là phải có mục đích rõ ràng

Thực tế giảng dạy Địa lí ở trường THCS, việc sử dụng số liệu thống kê và phương pháp giảng dạy với số liệu thống kê của nhiều giáo viên chưa tốt Nguyên nhân chính có lẽ một phần do chưa nắm được cơ sở lý luận, các nội dung và hình thức cơ bản của một việc sử dụng số liệu thống kê trong dạy học

bộ môn cũng như khả năng ứng dụng nó vào việc giúp học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản, phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng Địa lí Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút hứng thú và chất lượng của việc dạy học bộ môn này ở nhà trường hiện nay

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Địa lí 7 ở trường THCS Nguyễn Huy Tưởng, tôi nhận thấy khối lượng kiến thức của khối lớp 7 rất rộng bao gồm cả Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội , bên cạnh các kiến thức lí thuyết còn có các tranh, ảnh, lược đồ, biểu đồ và hệ thống các bảng số liệu thống kê Trong quá trình khai thác tri thức, học sinh phải hiểu ý nghĩa của các

số liệu thống kê, hiểu ý nghĩa sử dụng chúng trong nội dung của từng bài Để giúp học sinh tốt, trong quá trình giảng dạy môn Địa lí 7, tôi đã thường xuyên

"hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức Địa lí qua các số liệu thống kê" một cách thích hợp đối với từng vấn đề, từng nội dung trong các loại bài và đem lại hiệu quả tốt

Trang 3

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC KHAI THÁC KIẾN THỨC ĐỊA LÝ QUA SỐ LIỆU THỐNG KÊ

Trong giảng dạy Địa lí, người giáo viên tiến hành bất cứ việc thu thập, phân tích một số liệu thống kê nào không phải chỉ là để thu thập một số tài liệu bằng con số mà chủ yếu là phục vụ cho công tác giảng dạy nhằm cung cấp những chứng cứ để nhận thức những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội mà giáo viên phải truyền đạt cho học sinh Vì vậy vấn đề ở đây chủ yếu không phải là quan tâm đến bản thân con số mà là nội dung của chúng phản ánh Muốn nhìn rõ nội dung của các số thống kê , tức là muốn biết chúng phản ánh cái gì thì phải tiến hành phân tích Phân tích số liệu thống kê trước hết là làm nổi bật hiện tượng được nghiên cứu Thông qua phân tích, so sánh, đối chiếu người giáo viên rút ra những kết luận cần thiết để truyền đạt tri thức, phát triển

tư duy, rèn luyện kỹ năng bộ môn cho học sinh Chính vì vậy phải phân tích số liệu một cách khoa học Số liệu thống kê không phải là không có giá trị Như như Lênin đã nói: Báo chí đã cung cấp được nhiều tài liệu quí báu về mặt kiến thức của đất nước, nhất là các tài liệu thống kê, tuy nhiên những tài liệu này có

2 khuyết điểm: Không thường xuyên, không hoàn chỉnh, không có hệ thống chưa qua chỉnh lí và phân tích" (LêNin toàn tập) Cho nên vấn đề là dạy học không chỉ dừng lại ở việc cung cấp số liệu mà là phân tích số liệu Vậy là chúng

ta có thể nói chỉ có những số liệu thống kê đã qua phân tích khoa học mới có ý nghĩa thực tế

Khi phân tích số liệu thống kê, phải tìm mối liên hệ giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan trong không gian và thời gian: Tuyệt đối không phân tích số liệu một cách độc lập, bởi vì bản thân các hiện tượng luôn tồn tại trong một khối thống nhất, có liên quan và ràng buộc với nhau

VD: Khi phân tích tình hình sản xuất - xã hội ở một nước, một khu vực hay trong một ngành, một xí nghiệp: không những phải nhận xét sản xuất đã

Trang 4

tăng lên bao nhiêu % mà còn phải phân tích nguyên nhân đã làm cho sản xuất

xã hội tăng lên với tộc độ như vậy, bởi vì sản xuất xã hội có liên quan đến đường lối phát triển kinh tế, điều kiện lịch sử cụ thể, điều kiện tự nhiên …

II THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DẠY VÀ HỌC QUA BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ

Ở LỚP 7 HIỆN NAY

Trước kia học sinh học môn địa lí thường có thói quen là học thuộc lòng những kiến thức lý thuyết mà giáo viên truyền thụ, đặc biệt khi sử dụng SGK học sinh chỉ chú ý tới kênh chữ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh còn các bảng số liệu thống kê đối với học sinh là kiến thức còn khá mới Ở lớp 6 các em đã làm quen với một vài bảng số liệu thống kê đã tiến hành phân tích nhưng kỹ năng này chưa được rèn luyện nhiều Lên lớp 7 các em được làm nhiều việc hơn với các bảng số liệu ( khoảng 18 bảng số liệu) nhưng trong thực tế dạy học tôi thấy rằng nhiều học sinh khi đọc bảng số liệu còn rất lúng túng, đó là chưa kể tới việc phải phân tích bảng số liệu vừa đọc Hoặc là có em đã đọc tốt bảng số liệu nhưng khi phân tích thì chưa theo trình tự, lôgic, chưa phát hiện ra được mối quan hệ giữa các số liệu với nhau Nếu việc đọc bảng số liệu cũng như khi phân tích bảng số liệu chưa tốt thì quá trình học tập môn Địa lý đạt kết quả không cao

III- MỘT SỐ BIỆN PHÁP, CÁCH THỨC HỌC SINH HỌC SINH LỚP 7 KHAI THÁC KIẾN THỨC ĐỊA LÝ QUA BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ

1- Các loại số liệu thống kê:

Các số liệu thống kê có một vị trí quan trọng và không thể thiếu được trong việc làm sáng tỏ các kiến thức, rèn luyện các kỹ năng và hình thành cho học sinh

tư duy địa lý các số liệu này rất đa dạng, chúng được đưa vào rất nhiều trong sách giáo khoa Địa lý 7 với nhiều mục đích khác nhau Có thể chia các số liệu thống kê ra làm 2 loại chính: Các số liệu riêng biệt (đơn độc) và các số liệu được xếp thành bảng

Trang 5

a- Các số liệu riêng biệt :

Là những số liệu thống kê dùng riêng rẽ để cụ thể hoá một đối tượng địa lí nào đó về mặt số lượng Ví dụ: Diện tích lãnh thổ châu Phi là: 30 triệu km2 sẽ làm cho học sinh có nhận định bước đầu về quy mô lãnh thổ và diện tích châu lục so với châu lục khác

Ngoài ra, các số liệu riêng biệt còn dùng để định lượng, minh hoạ, lý giải giúp việc chứng minh, phân tích các hiện tượng khái niệm, quy luật địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội

Ví dụ: nền kinh tế của nước nào cũng đều có các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, ngoại thương nhưng đó chỉ là sự giống nhau về hình thức Mỗi nước trên thực tế lại có đặc điểm riêng về xã hội, tài nguyên, khoáng sản về năng lực sản xuất Vì vậy, mỗi nước cũng có những sắc thái riêng và mỗi ngành kinh tế của từng nước lại có những điểm riêng biệt Muốn xác định mức độ phát triển cũng như tính chất của chúng còn phải căn cứ vào các số liệu về sự phát triển, số lượng lao động, số vốn đầu tư, số lượng hàng hoá,

số lượng sản phẩm muốn thế phải dẫn chứng bằng những số liệu thống kê cụ thể

b- Các số liệu được xếp thành bảng :

Mục đích của việc đưa các số liệu vào bảng là muốn đặt các số liệu là có liên quan với nhau ở vị trí gần nhau để người ta đọc dễ dàng nhận xét, so sánh,

từ đó rút ra được những kết luận có căn cứ về các hiện tượng và quá trình địa lý

tự nhiên, kinh tế - xã hội

Bảng số liệu gồm 2 loại: bảng số liệu đơn giản và bảng số liệu phức tạp

B1: Bảng số liệu đơn giản là bảng gồm có nhiều số liệu nhưng trong đó

chỉ nói về một nội dung

Ví dụ: Bảng số liệu thể hiện tính chất trung gian của khí hậu đới ôn hoà ( SGK Địa lý - 72)

Trang 6

Đới Địa điểm Nhiệt độ TB

năm

Lượng mưa

TB năm

Đới nóng TP Hồ Chí Minh ( 10047'B) 270C 1931mm

B2: Bảng số liệu phức tạp: Là bảng gồm có nhiều số liệu, chia ra nhiều đề

mục có quan hệ với nhau hoặc bao gồm nhiều đề mục khác nhau tính theo thời gian

Ví dụ:

B ng s li u v m t ả ố ệ ề ậ độ dân s v t l dân th nh th m t s qu c giaố à ỷ ệ à ị ở ộ ố ố thu c Châu ộ Đại Dương ( n m 2001) - SGK ă Địa lý7 - 147

Tên nước Diện tích

( nghìn km 2 )

Dân số (Triệu người )

MĐDS ( Người/ km 2 )

Tỷ lệ dân thành thị (%)

Toàn châu Đại Dương 8537 31 3,6 69

Ví dụ: B ng s li u nông nghi p các nả ố ệ ệ ước B c M ( SGK ắ ĩ Địa lý 7- 119)

Tên nước Dân số

( triệu người)

Tỷ lệ LĐ trong nông nghiệp ( %)

Lương thực

có hạt ( triệu tấn)

Bò ( triệu con )

Lợn ( triệu con

Trang 7

2- Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức địa lí qua các số liệu thống kê:

a- Giá trị của việc phân tích số liệu:

Các số liệu thống kê dùng làm cơ sở để rút ra các nhận xét địa lí khái quát,

có thể dùng để cụ thể hoá, minh hoạ làm rõ kiến thức địa lí Chúng không phải

là những tri thức địa lí cần ghi nhớ kĩ mà chỉ đóng vai trò phương tiện của học sinh trong nhận thức Bằng việc phân tích các số liệu, học sinh có thể tự mình thu nhận được các kiến thức địa lí cần thiết từ đó, hoặc nhờ vào việc xem xét các mối liên quan của số liệu tương ứng, học sinh sẽ nắm chắc và rõ ràng hơn các tri thức địa lí Không thể hình dung ra được một nước nếu không biết kích thước,

số dân, mật độ dân số, cơ cấu kinh tế, sản lượng các ngành kinh tế của nước

đó Tuy nhiên những số liệu trên đây chỉ trở thành thật cụ thể, trở thành có ý nghĩa nếu so sánh với những số liệu tương ứng về các nước khác

Khi học về địa lí các châu lục, chúng ta sẽ gặp các số liệu về diện tích, dân

số, thu nhập bình quân đầu người

VD; Liên Bang Nga có diện tích 17,07 triệu km2, dân số 150 triệu người, thu nhập bình quân đầu người 1000 đô la (1992) Các số liệu đó tự chúng không

có mấy ý nghĩa đối với học sinh, không mang lại cho các em một khái niệm rõ ràng về nước Nga Nhưng nếu so sánh với diện tích các châu lục đã học như châu Âu (10 triệu km2), Châu Nam cực (14 triệu km2), Châu Đại Dương (9 triệu km2) thì học sinh sẽ hình dung được ngay kích thước lãnh thổ nước Nga,

so sánh với dân số Châu Âu (600 triệu) hoặc dân số Châu Đại Dương (31 triệu)

sẽ thấy ngay Nga thuộc loại nước đông dân trên thế giới, tiếp tục so sánh thu nhập bình quân đầu người (1000 USD) với Hoa Kì (29.000 USD), Đức (21.000 USD), Braxin (6400 USD), Ả râpxêút (10.000USD) ta sẽ có một khái niệm rõ ràng, cụ thể hơn về mức sống của người Nga và qua đó thấy được tình hình kinh tế của Nga sau sự tan rã của Liên Xô

Khi nêu diện tích của nước Anh là 224.000km2 Bản thân con số 244.000km2 chưa có ý nghĩa nhiều đối với học sinh Nó chỉ có giá trị khi học

Trang 8

sinh biết thêm các mối quan hệ kèm theo nó, VD = 2/3 diện tích Việt Nam, bằng 2,5% diện tích châu Âu hoặc khi nêu dân số của Trung Quốc là 1,12 tỉ người (1990) thì điều quan trọng không phải là con số 1,2 tỉ người mà kèm theo nó phải có 1 mối quan hệ như bằng 1/5 dân số của toàn thế giới Cũng có thể khi trình bày về quy luật của sự phát triển dân số (Biểu đồ dân số thế giới từ đầu Công nguyên và dự báo đến năm 2050 - SGK địa lí 7 trang 4) Số liệu được đặt trong mối quan hệ với thời gian như: Từ 1 tỉ người tăng lên 2 tỉ người, đầu tiên phải mất 100 năm, nhưng từ tỉ thứ 4 lên tỉ thứ 5 chỉ còn 12 năm qua đó có thể rút

ra được kết luận về thời gian để dân số tăng thêm một tỉ ngày càng ngắn lại Việc áp dụng các số liệu đặt trong các mối quan hệ như vậy không những

có thể làm cho các số liệu trở nên sinh động, có ý nghĩa mà còn có tác dụng tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy, giúp các em biết làm việc với các số liệu một cách thông minh và có hiệu quả nhất

b- Cách thức hướng dẫn học sinh phân tích số liệu

Bên cạnh đó việc sử dụng bảng số liệu thống kê có tác dụng lớn hơn cả là khi dùng chúng với mục đích làm phương tiện hướng dẫn học sinh khai thác tri thức Thông qua các số liệu trong bảng, học sinh có thể vận dụng các thao tác tư duy: Phân tích, so sánh, đối chiếu để tìm ra những mối liên hệ, những nguyên nhân dẫn đến hiện trạng địa lí tự nhiên, kinh tế - xã hội của 1 quốc gia, 1 khu vực giáo viên cần hướng dẫn học sinh một số qui tắc chung khi làm việc với

số liệu thống kê như sau:

Đọc kĩ nhan đề của bảng thống kê xem nội dung nói vấn đề gì và nhằm mục đích gì?

Đọc nhan đề các cột dọc và ngang (hoặc dòng ngang) tìm hiểu kĩ những từ hoặc thuật ngữ chưa hiểu rõ

Xem các số liệu trong bảng được biểu hiện bằng những đơn vị nào, thống

kê vào thời gian nào?

Đọc kĩ các số liệu theo cột dọc và theo hàng ngang

Trang 9

Phân tích, đối chiếu so sánh các số liệu và rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết

VD1: B ng s li u ph n óng góp c a các ng nh kinh t trong t ng thuả ố ệ ầ đ ủ à ế ổ

nh p qu c dân c a các nậ ố ủ ước B c M ( 2001) ắ ĩ

(Triệu USD)

Cơ cấu trong GDP (%) Công nghiệp Nông nghiệp Dịch vụ

Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc bảng số liệu

+ Đọc nhan đề của bảng xem nội dung đề cập đến vấn đề gì và nhằm mục đích gì? (Phần đóng góp của các ngành kinh tế trong tổng thu nhập quốc dân của một số nước Bắc Mĩ và qua đó có thể thấy rõ trình độ phát triển kinh tế của các nước)

+ Hiểu thế nào là tổng thu nhập quốc dân, thế nào là dịch vụ ?

+ Bảng có mấy cột dọc, các cột đó có tên gì?

+ Có bao nhiêu dòng ngang? nhan đề của các dòng đó?

+ Các số liệu trong bảng được thống kê vào thời gian nào?

+ Các số liệu được biểu thị theo đơn vị nào?

+ Để tìm hiểu phần đóng góp của các ngành kinh tế trong tổng thu nhập quốc dân mỗi nước, ta phải đọc theo cột dọc hay theo hàng ngang? (hàng ngang)

+ Dựa vào bảng, cho biết phần đóng góp của các ngành kinh tế (thường gọi là cơ cấu của tổng thu nhập quốc dân) trong tổng thu nhập quốc dân của các nước ghi trong bảng

+ Ngành nào chiếm tỉ trọng nhỏ nhất trong cơ cấu tổng thu nhập quốc dân mỗi nước? Ngành nào chiếm tỉ trọng cao nhất?

+ Từ sự phân tích trên đây, có thể rút ra nhận xét về đặc điểm chung của nền kinh tế các nước phát triển Đặc điểm đó là gì? (nông nghiệp chỉ chiếm một

Trang 10

tỉ trọng rất nhỏ (từ 2-5% trong tổng thu nhập quốc dân, dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn nhất)

+ Tỉ trọng công nghiệp trong cơ cấu tổng thu nhập quốc dân của các nước không lớn bằng tỉ trọng của khu vực dịch vụ, như vậy phải chăng là vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân kém quan trọng? (không phải như vậy, công nghiệp vẫn còn có vai trò quyết định Nhờ máy móc, thiết bị máy móc trang bị của các ngành kinh tế kể cả khu vực dịch vụ có chất lượng tốt, đảm bảo tốc độ phát triển kinh tế ngày càng cao Mặt khác, một phần quan trọng của khu vực dịch vụ phục vụ trực tiếp cho công nghiệp như: Tài chính, ngân hàng, tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ đào tạo công nhân, quảng cáo

+ Muốn so sánh tỉ trọng của mỗi ngành kinh tế trong cơ cấu tổng thu nhập quốc dân của các nước liệt kê trong bảng, phải đọc theo cột dọc hay theo hàng ngang? (theo cột dọc) Đọc lần lượt các cột rồi so sánh với các nước, rút ra nhận xét? (Hoa Kì có tỉ trọng nông nghiệp và công nghiệp thấp hơn cả, nhưng tỉ trọng khu vực dịch vụ cao nhất) Có thể rút ra kết luận gì? (Hoa Kì có nền kinh tế phát triển nhất và đang bước sang giai đoạn thứ 3 của nền văn minh nhân loại: giai đoạn hậu công nghiệp)

VD2: Bảng tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên và sự phân bố dân cư thế giới theo các châu lục (SGK địa lí 7- 6)

Châu lục và khu

vực

Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên % Dân số so với toàn thế giới

(%)

Ngày đăng: 17/05/2021, 18:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w