1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận

127 804 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và mepiquat chloride đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở Ninh Thuận
Tác giả Dương Thị Việt Hà
Người hướng dẫn GS. TS. Hoàng Minh Tấn
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 7,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG NGHIệP I

-

DƯƠNG THị VIệT Hà

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, phân bón và mepiquat chloride đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và phát triển của một số giống

LUậN VĂN THạC Sĩ NÔNG NGHIệP

Hà Nội - 2007

Trang 2

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG NGHIệP I

-

DƯƠNG THị VIệT Hà

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, phân bón và mepiquat chloride đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và phát triển của một số giống

bông mới ở Ninh Thuận

LUậN VĂN THạC Sĩ NÔNG NGHIệP

Chuyên ngành: Trồng trọt Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: GS TS HOàNG MINH TấN

Hà Nội - 2007

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng trong việc bảo vệ bất cứ học vị nào khác

Tôi xin cam đoan tất cả những các thông tin trích dẫn trong luận văn

đều đ6 được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Dương Thị Việt Hà

Trang 4

Lời cảm ơn

Trước tiên, Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban l6nh đạo Viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp Nha Hố đ6 tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học viên học tập, nghiên cứu và hoàn thành công trình nghiên cứu này

Học viên xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Bộ môn Sinh

lý thực vật - Khoa nông học, Khoa sau đại học, dự án PHE, Trường Đại học Nông nghiệp I đ6 hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho học viên trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn - GS TS Hoàng Minh Tấn đ6 tận tình hướng dẫn, giúp đỡ học viên trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Học viên xin chân thành cảm ơn l6nh đạo phòng nghiên cứu Nông học, Phòng nghiên cứu Di truyền - Giống, Phòng Khoa học & Hợp tác quốc tế, tổ văn thư - thư viện và các phòng ban thuộc Viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp Nha Hố đ6 tạo điều kiện thuận lợi để học viên thực hiện và hoàn thành đề tài

Học viên xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp Th.S Dương Xuân Diêu, KS Trần Đức Hảo, KS Lê Huỳnh Bảo Tiến, KS Trần Mạnh Công, KTV Nguyễn Do6n Quang đ6 giúp đỡ học viên trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, học viên xin bày tỏ lòng biết ơn đến Cha, Mẹ, các anh, các chị, chồng và các con đ6 tạo điều kiện thuận lợi để học viên hoàn thành công trình nghiên cứu này

Tác giả luận văn

Dương Thị Việt Hà

Trang 5

Mục lục

Trang

1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Tình hình sản xuất bông trên thế giới và ở Việt Nam 4

2.2 Đặc điểm của vùng trồng bông Duyên hải Nam Trung bộ 6

2.3 Một số đặc điểm thực vật học và sinh lý, sinh thái của cây bông 7

2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 17

3 đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 28

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 28

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29

3.3 Nội dung nghiên cứu 29

3.4 Phương pháp nghiên cứu 29

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 34

4.1 ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng, phát triển và năng suất bông 34

4.1.1 ảnh hưởng của mật độ cây đến một số chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của cây bông 34

4.1.2 ảnh hưởng của mật độ đến động thái chỉ số diện tích lá (LAI) và động thái tích lũy chất khô 36

4.1.3 ảnh hưởng của mật độ cây đến động thái hình thành quả và sự phân bố quả trên cành quả của các giống bông 40

4.1.4 ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 45

4.1.5 Mối quan hệ giữa mật độ, LAI tối đa và năng suất của các giống bông 47

Trang 6

4.2 ảnh hưởng của phân bón đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng,

phát triển và năng suất bông 51

4.2.1 ảnh hưởng của phân bón đến một số đặc điểm thực vật học của cây bông 51

4.2.2 ảnh hưởng của phân bón đến động thái chỉ số diện tích lá (LAI) và sự tích lũy chất khô của các giống bông 52

4.2.3 ảnh hưởng phân bón đến động thái hình thành quả trên cây và tỷ lệ đóng góp số quả trên các cành 56

4.2.4 ảnh hưởng phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất bông và hiệu quả kinh tế 58

4.2.5 Mối quan hệ giữa lượng phân bón, LAI tối đa với năng suất bông của các giống 61

4.3 ảnh hưởng của xử lý PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và phát triển của cây bông 64

4.3.1 ảnh hưởng của liều lượng phun PIX đến sinh trưởng của cây bông 64

4.3.2 ảnh hưởng của việc phun PIX đến động thái chỉ số diện tích lá 66

4.3.3 ảnh hưởng của việc phun PIX đến động thái hình thành quả trên cây và tỷ lệ đóng góp số quả trên các loại cành 67

4.3.4 ảnh hưởng của việc phun PIX đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất bông hạt 70

4.4 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý của mô hình thâm canh đạt năng suất cao 74

5 KếT LUậN Và Đề NGHị 79

Kết luận 79

Đề nghị 80

Tài liệu tham khảo 81

Tiếng Việt 81

Tiếng Anh 85

Phụ lục 90

Trang 7

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t vµ ký hiÖu

Trang 8

Danh mục bảng

4.1 ảnh hưởng của các mật độ gieo trồng đến thời gian sinh trưởng

của các giống tham gia thí nghiệm, vụ mưa 2006 tại Ninh Thuận

35

4.2 ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao cây và chiều dài cành quả

của các giống bông, vụ mưa 2006 tại Ninh Thuận

36

4.3 Động thái chỉ số diện tích lá qua các giai đoạn của các giống ở

mật độ gieo trồng khác nhau, vụ mưa năm 2006 tại Ninh Thuận

37

4.4 Động thái tích lũy chất khô qua các giai đoạn của các giống ở

mật độ gieo trồng khác nhau, vụ mưa 2006 tại Ninh Thuận

39

4.5 ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng số quả trên cây

qua các giai đoạn của các giống bông, vụ mưa năm 2006 tại

Ninh Thuận

40

4.6 Tỷ lệ thành quả và phân bố số lượng quả theo chiều thẳng đứng

của các giống bông, vụ mưa 2006 tại Ninh Thuận

4.9 ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng

suất bông hạt và hiệu quả kinh tế của các giống bông, vụ mưa

năm 2006 tại Ninh Thuận

46

4.10 ảnh hưởng của các liều lượng phân bón đến quá trình sinh trưởng,

phát triển của các giống bông, vụ mưa 2006 tại Ninh Thuận

52

4.11 ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến động thái chỉ số diện

tích lá (LAI) của các giống, vụ mưa 2006 tại Ninh Thuận

53

4.12 Động thái tích lũy chất khô của các giống ở các mức phân bón

khác nhau, vụ mưa năm 2006 tại Ninh Thuận

55 4.13 ảnh hưởng của phân bón đến động thái hình thành quả trên cây 56

Trang 9

qua các giai đoạn của các giống tại Ninh Thuận, vụ mưa 2006

4.15 ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và

năng suất bông hạt của các giống bông, vụ mưa 2006 tại Ninh

Thuận

59

4.17 ảnh hưởng của PIX đến chiều cao cây, chiều dài cành quả và

số cành quả trên cây của các giống bông, vụ mưa 2006 tại

Ninh Thuận

65

4.18 Động thái chỉ số diện tích lá qua các giai đoạn ở liều lượng

phun PIX khác nhau của các giống (Vụ mưa năm 2006, tại

Ninh Thuận)

66

4.19 ảnh hưởng của PIX đến tỷ lệ thành quả và tỷ lệ đóng góp quả

(%) của các cành quả trên cây, vụ mưa 2006 tại Ninh Thuận

68

4.20 ảnh hưởng của liều lượng phun PIX đến tỷ lệ thành quả và tỷ

lệ đóng góp số quả cộng dồn của các vị trí trên cành của các

giống bông

69

4.21 ảnh hưởng của các liều lượng phun PIX đến các yếu tố cấu

thành năng suất và năng suất của các giống bông (Tại Ninh

Thuận, vụ mưa 2006)

71

4.23 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất bông của các mô hình 75

Trang 10

Danh mục hình

4.3 Mối quan hệ giữa LAI và năng suất sinh vật học của các

giống bông ở các mật độ gieo trồng khác nhau

48

4.4 Quan hệ giữa LAI và năng suất bông hạt của các giống bông ở

các mật độ gieo trồng khác nhau

48

4.5 Một số hình ảnh "Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng

đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng, phát triển và năng

suất bông"

50

4.8 Quan hệ giữa LAI tối đa và năng suất của các giống bông ở

các liều lượng phân bón khác nhau

61

4.9 Một số hình ảnh "Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến một

số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng, phát triển và năng suất bông"

63

4.11 Quan hệ giữa LAI tối đa và năng suất bông hạt ở liều lượng

phun PIX khác nhau

72

4.12 Một số hình ảnh "Nghiên cứu ảnh hưởng của việc phun PIX

đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng, phát triển và năng

Trang 11

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây bông (Gossypium spp.) là một trong những cây trồng lấy sợi quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới Sản phẩm của nó được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và mang lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài vai trò chính là cung cấp sợi cho may mặc, cây bông còn cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, thức ăn cho người và gia súc Hạt bông chứa 18-20% dầu và một số axít amin quan trọng Vỏ hạt bông dùng để sản xuất phân kali và các hóa chất khác như rượu metilic, các axit hữu cơ Khô dầu bông có thể làm thức ăn gia súc hoặc làm phân bón có giá trị dinh dưỡng cao (Vũ Công Hậu, 1971) [13]; (Nguyễn Thơ, 1987) [27]

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 80 nước trồng bông với diện tích hàng năm vào khoảng 33,89 triệu ha và phân bố ở khắp các châu lục Tổng sản lượng bông xơ trên thế giới trong những năm gần đây đạt 19,5 triệu tấn, các nước có sản lượng bông trên 1 triệu tấn/năm là Trung Quốc, Mỹ, ấn Độ, Pakistan, Uzbekistan và Brazil Các nước và khu vực nhập khẩu bông với số lượng lớn là Liên minh châu Âu, Đông Nam á, Liên bang Nga, Nhật Bản và Triều Tiên Hai nước xuất khẩu bông lớn nhất là Mỹ và Uzbekistan (International cotton advisory committee, 2001) [51]

ở nước ta, mặc dù cây bông đ6 được trồng từ lâu nhưng đến nay tổng diện tích đất trồng bông của cả nước còn thấp, năng suất và chất lượng bông còn thua kém nhiều nước trên thế giới Theo báo cáo của ngành Dệt May Việt Nam, trong năm 2005, Việt Nam đ6 phải nhập khẩu trên 150.000 tấn bông xơ, trong khi sản lượng bông sản xuất trong nước chỉ đạt khoảng 11.000 đến 13.000 tấn/năm, chưa đáp ứng được 10% nhu cầu nguyên liệu trong nước Trong những

Trang 12

năm gần đây Đảng và Chính phủ đ6 quan tâm khuyến khích phát triển nghề trồng bông Tại quyết định số 17/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về

định hướng phát triển cây bông công nghiệp thời kỳ 2001 đến 2010 đ6 khẳng

định, đến năm 2010 diện tích trồng bông của cả nước phải đạt 230.000 ha với năng suất bình quân 18 tạ/ha

Để mở rộng diện tích bông trong toàn quốc, dần đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu cho công nghiệp dệt, từng bước ổn định sản xuất và giảm nhập khẩu thì việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng suất và sản lượng bông cần được quan tâm Hiện nay, việc sử dụng các giống bông mới có khả năng chống chịu với sâu bệnh đ6 tạo tiền đề cho việc nâng cao năng suất bông ở Việt Nam Tuy nhiên, mỗi một giống mới ra đời, đòi hỏi phải nghiên cứu các

đặc tính sinh lý, sinh trưởng và phát triển của giống, trên cơ sở đó để xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác bông phù hợp nhằm phát huy hết tiềm năng vốn có của mỗi giống Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đ6 tiến hành đề tài: " Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, phân bón và mepiquat chloride

đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở Ninh Thuận "

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Xác định ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật chính tác động đến một

số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và phát triển của các giống bông mới có triển vọng, làm cơ sở để xây dựng quy trình kỹ thuật thích hợp nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho các giống bông ở vùng Duyên hải Nam Trung bộ 1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 ý nghĩa khoa học

Các kết quả thu được của đề tài sẽ cung cấp dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và

Trang 13

phát triển của cây bông trong điều kiện sinh thái của vùng Duyên hải Nam Trung bộ

Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị trong việc giảng dạy và nghiên cứu về cây bông ở Việt Nam

1.4.2 Địa bàn nghiên cứu: Đề tài của chúng tôi nghiên cứu ở vùng Duyên hải Nam Trung bộ, tập trung chủ yếu ở Viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp Nha Hố, Ninh Thuận

1.4.3 Thời gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành trong vụ m−a năm 2006

Trang 14

2 Tæng quan tµi liÖu

2.1 T×nh h×nh s¶n xuÊt b«ng trªn thÕ giíi vµ ë ViÖt Nam

S¶n l−îng b«ng x¬ qua c¸c n¨m (1000 tÊn x¬) N−íc

Tõ hµng ngµn n¨m nay, ë ViÖt Nam, c©y b«ng ®6 ®−îc trång r¶i r¸c ë mét

sè tØnh vïng nói phÝa B¾c víi chñng b«ng Cá (G arboreum L.) D−íi thêi Ph¸p thuéc, diÖn tÝch b«ng ®6 ®−îc më réng víi gièng b«ng Luåi (G hirsutum L.) vµ

Trang 15

giống bông Hải Đảo (G barbadense L.), nhưng năng suất thấp vì chưa có những hiểu biết cần thiết về việc phát triển bông trong điều kiện nhiệt đới hoặc chưa mạnh dạn đầu tư khoa học kỹ thuật

Sau cách mạng tháng tám, Đảng và Chính phủ đ6 có chủ trương đẩy mạnh việc phát triển nghề trồng bông, ban hành những chính sách khuyến khích, giúp đỡ nông dân nên diện tích và năng suất bông đ6 tăng lên, chất lượng bông từng bước được cải thiện Từ năm 1962 đến năm 1980, nghề trồng bông ở nước ta bị mai một, sâu bệnh trầm trọng và năng suất thấp (bình quân chỉ đạt 5-

6 tạ/ha), chi phí sản xuất cao chủ yếu là đầu tư thuốc sâu, người trồng bông bị thua lỗ, môi trường bị ô nhiễm nặng và diện tích trồng bông bị thu hẹp (Nguyễn Thơ, 1998) [28]

Trong những năm qua, nhờ có những tiến bộ kỹ thuật về giống, bảo vệ thực vật và canh tác cũng như phương thức quản lý sản xuất, ngành bông Việt Nam đ6 có những tiến bộ rõ rệt Diện tích bông đ6 gia tăng và năng suất cũng

đ6 được cải thiện đáng kể vào những năm 2001 - 2004 Tuy nhiên, trong hai năm 2004/2005 và 2005/2006, diễn biến khí hậu thời tiết rất đặc biệt đ6 gây

ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất bông Tình trạng bông bị hạn ở vụ mưa nhờ nước trời và thiếu nguồn nước tưới trong vụ khô đ6 làm cho năng suất, diện tích và sản lượng bông giảm sút đáng kể Diễn biến tình hình sản xuất bông trong những năm qua như sau:

(ha)

Năng suất bông hạt (kg/ha)

Sản lượng bông hạt (kg)

Trang 16

2.2 Đặc điểm của vùng trồng bông Duyên hải Nam Trung bộ

2.2.1 Điều kiện khí hậu

Duyên hải Nam Trung bộ là một dải dài nằm dọc theo kinh tuyến và trải dài trên nhiều vĩ độ khác nhau Đặc điểm phân bố này cùng với sự phức tạp của địa hình đ6 kéo theo sự biến động rất lớn về khí hậu và thời tiết, như

sự tăng dần của nhiệt độ từ Quảng Trị tới Bình Thuận và ngược lại là sự giảm dần của lượng mưa và ẩm độ không khí (Trần Anh Hào, 1996) [9] Vùng này được đánh giá là vùng khô hạn nhất trong cả nước, lượng mưa thấp Mùa mưa trong năm đến chậm hơn so với các vùng khác và tập trung chủ yếu trong 3 tháng (9, 10 và 11), chỉ riêng tháng 10 và tháng 11 có thể

đạt 50% tổng lượng mưa cả năm ẩm độ không khí thấp (khoảng 75% đến 80%), số giờ nắng cao (200 đến 315 giờ trên tháng), 3000 giờ trên năm, vào loại cao nhất Việt Nam (Trần Đức Hạnh và ctv., 1997) [10] Nhiệt độ bình quân trong các tháng cao và ẩm độ không khí tương đối thấp là đặc điểm rất có lợi cho cây bông sinh trưởng và phát triển

2.2.2 Điều kiện đất đai

Đất của vùng này chủ yếu là đất phù sa của các con sông ngắn của miền Trung tạo thành Đất thường bị thiếu nước và phân bố không tập trung Tuy nhiên, điều kiện khô hạn của vùng Duyên hải Nam Trung bộ đ6 được bù đắp lại bởi đất đai còn giữ được các ion kiềm và kiềm thổ khá phong phú Đất có

pH gần trung tính đến kiềm Do vậy, ở đây nếu có chế độ canh tác tốt, mùa vụ thích hợp thì năng suất cây trồng nói chung và cây bông nói riêng sẽ khá cao (Lê Xuân Đính, 1991) [7]

2.2.3 Điều kiện xG hội

Duyên hải Nam Trung Bộ là vùng có truyền thống trồng bông lâu đời Tại đây, cây bông đ6 được trồng ở hầu hết các tỉnh, như Quảng Ng6i, Bình

Trang 17

Định, Phú Yên, Khánh Hòa, đặc biệt là Ninh Thuận và Bình Thuận Tiềm năng

mở rộng diện tích đất trồng bông ở vùng này rất lớn nhưng rải rác Muốn phát triển bông ở vùng này cần phải có chiến lược, không chỉ về giá cả, mà còn cả về

tổ chức và công tác khoa học, kỹ thuật kèm theo (Lê Xuân Đính, 1998) [8] 2.3 Một số đặc điểm thực vật học và sinh lý, sinh thái của cây bông 2.3.1 Đặc điểm thực vật học

2.3.1.1 Rễ bông

Bông là loại cây có bộ rễ dài và khá phát triển Rễ cái có thể đâm sâu 2 - 3 mét, rễ con có thể dài 0,6 - 1 mét Mạng lưới rễ phân bố tập trung ở tầng đất canh tác (5 - 30 cm), là nơi đất có nhiều màu Những ngày đầu hạt mới nảy mầm thì tốc độ dài ra của rễ cái là 4 - 5 cm/ ngày đêm Khi bông bắt đầu ra nụ thì bộ rễ phát triển nhanh về chiều sâu cũng như chiều ngang, đây là giai đoạn phát triển chủ yếu của bộ rễ Từ nụ đến hoa đầu, rễ tiếp tục phát triển nhanh,

đồng thời thân, cành lá cũng bắt đầu phát triển mạnh hơn trước, tuy chưa bằng

rễ Khi ra hoa rộ thì rễ bắt đầu phát triển chậm dần rồi ngừng lại (Hoàng Đức Phương, 1983) [22]

2.3.1.2 Thân, cành và hình dạng cây bông

Thân chính của cây bông cao hay thấp tùy thuộc vào giống và điều kiện sinh sống Thông thường cây bông cao khoảng 0,7 - 1,5 mét, trong điều kiện nhiệt độ cao và dài ngày, thân chính có thể cao đến 2m (Hoàng Đức Phương, 1983) [22] Từ khi gieo đến lúc cây bông ra lá thật, thân phát triển chậm nhưng trong giai đoạn từ lá thật đến nụ, thân và cành bông phát triển mạnh và nhất là từ khi có nụ đến ra hoa, các bộ phận trên mặt đất của cây bông gồm thân, cành, lá v.v… phát triển ngày càng mạnh; do đó lúc này cây bông đòi hỏi nhiệt, nước và chất dinh dưỡng cao hơn các giai đoạn sinh dục trước nhiều (Nguyễn Khắc Trung, 1962) [30]

Trang 18

2.3.1.3 Lá bông

Gồm lá mầm (lá sò) và lá thật Lá mầm mọc thành đôi và thường là một lá to, một lá nhỏ Lá thật sinh ra sau lá sò Một số lá thật đầu tiên không

có khía Từ lá thứ 5 trở đi, hình dáng lá của từng giống bông không biến đổi vì mỗi giống có hình dáng lá đặc trưng của giống Tuy nhiên, những lá ở gần ngọn cây sẽ nhỏ đi và ít khía hơn lá ở giữa thân cây Lá bông có đặc tính là ban ngày xoay chiều phiến lá thẳng góc với ánh nắng mặt trời nhiều nhất, còn ban đêm thì rủ xuống (Vũ Xuân Long, 2001) [18]

2.3.1.4 Nụ, hoa bông

Nụ bông thường xuất hiện cùng cành quả đầu tiên Khi mới mọc, nụ chỉ to bằng hạt đậu, có hình tháp tam giác cân, 3 mặt giới hạn bằng 3 tai nụ (lá bắc) khép kín Khi hoa sắp nở thì tràng hoa vươn lên rất nhanh, thò ra khỏi lá bắc Hoa bông là hoa lưỡng tính, gồm: cuống, lá bắc, đài, tràng, nhị

và nhụy Lá bắc có khả năng quang hợp để cung cấp dinh dưỡng nuôi quả non, vì vậy nếu bóc lá bắc thì khối lượng quả, chỉ số xơ, trọng lượng hạt đều

có thể bị giảm (Hoàng Đức Phương, 1983) [22]

2.3.1.5 Quả bông

Quả bông thuộc loại quả nẻ, có hình dáng khác nhau tùy thuộc vào giống Vỏ quả có màu xanh, khi sắp chín thường có vết đỏ tía hay nâu ở đầu quả Mỗi quả bông thường có 3 - 5 ngăn, mỗi ngăn chứa nhiều múi bông, mỗi múi gồm nhiều ánh bông

Trang 19

và chất dinh dưỡng trong phôi tích lũy chủ yếu là trong tử diệp, để cung cấp cho

sự nảy mầm và cây con Thành phần hóa học của hạt bông gồm có:

2.3.1.7 Xơ bông

Trên hạt bông có hai loại xơ: xơ ngắn (lông áo) và xơ dài Xơ dài là một

tế bào rất lớn dài đến 30 - 40 mm, có khi 60 mm, khi chín thì ruột rỗng, dẹp

và xoăn lại Xơ bông được hình thành từ một tế bào biểu bì của hạt Xơ đạt

đường kính tối đa ít lâu sau khi hình thành Sự dài ra của xơ tiếp tục trong vòng 20 ngày, và bắt đầu sự dày lên của vách tế bào, quá trình dày lên kết thúc vào ngày thứ 45 - 50 Thành phần hóa học của xơ chủ yếu là xellulo (chiếm trung bình 94%)

2.3.2 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây bông

2.3.2.1 Giai đoạn nảy mầm

Giai đoạn này thường kéo dài từ 4 đến 7 ngày Yêu cầu cơ bản của giai

đoạn này là nhiệt độ, ẩm độ và oxy Nhiệt độ tốt nhất cho quá trình nảy mầm

là 25 - 300C, dưới 100C và trên 400C hạt gần như không mọc, 55 - 600C kết hợp với ẩm thì hạt chết Độ ẩm đất thích hợp cho quá trình nảy mầm là 90%

độ giữ ẩm của đất Đồng thời, đất phải thoáng, đảm bảo đủ oxy

2.3.2.2 Giai đoạn mọc - nụ (giai đoạn cây con)

Giai đoạn này thường kéo dài khoảng 24 đến 36 ngày Điều kiện để phát triển tốt ở giai đoạn này là: nước, oxy, dinh dưỡng đủ Đây là giai đoạn rễ được phát triển ưu tiên và cuối giai đoạn cành và lá mới bắt đầu phát triển Vì vậy, giai

đoạn này cần chú ý tác động các biện pháp kỹ thuật thích hợp để tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt, tạo tiền đề cho cây sinh trưởng phát triển khỏe về sau

Trang 20

2.3.2.3 Giai đoạn nụ - hoa

Thường kéo dài 20 - 25 ngày Từ khi có 2 - 3 lá thật, mầm hoa đ6 được phân hóa và khi có 4 - 8 lá thật, cây bông xuất hiện nụ đầu tiên Cây bông, cùng một lúc vừa ra cành lá, vừa ra hoa, quả, tức là cây bông vừa sinh trưởng dinh dưỡng, vừa sinh trưởng sinh thực Quan hệ giữa sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực là quan hệ thúc đẩy lẫn nhau Sinh trưởng dinh dưỡng cung cấp cơ sở vật chất cần thiết cho sinh trưởng sinh thực, cây bông có thể ra hoa, quả nên khi không có đủ diện tích lá, chất hữu cơ chế tạo ra không đầy đủ, sẽ trở ngại tới việc ra nụ, nở hoa, kết quả, hình thành những cây bông còi cọc, suy nhược Nếu sinh trưởng quá mạnh, chất dinh dưỡng tiêu phí chủ yếu vào việc làm cho thân cành, lá nhiều thêm, hình thành những cây bông bốc lá, không đáp ứng đầy

đủ những yêu cầu của ra nụ, hoa, quả và gây hiện tượng rụng nụ, hoa, quả

2.3.2.4 Giai đoạn nở hoa và ra hoa rộ

Thường kéo dài khoảng 42 - 55 ngày Lúc này, cây bông sinh trưởng và phát triển mạnh, bộ rễ sinh trưởng chậm hơn trước nhưng hoạt động rất mạnh

Do đó, cây bông yêu cầu cung cấp nước và dinh dưỡng tối đa Ruộng bông cần thông thoáng và đủ ánh sáng Nếu gặp điều kiện bất thuận hoặc thiếu dinh dưỡng, đài sẽ rụng nhiều Hoa bông nở từ 7 - 9 giờ sáng Nhiệt độ cao hoa nở sớm, nhiệt độ thấp hoa nở muộn Phấn hoa sau khi chín sẽ giữ được năng lực nảy mầm tương đối cao trong 24 giờ, sau đó giảm và mất hẳn Năng lực hoạt

động của đầu nhụy có thể giữ được 2 ngày Thời gian từ lúc thụ phấn đến khi hoàn thành thụ tinh cần khoảng 24 - 48 giờ

2.3.2.5 Giai đoạn nở quả

Giai đoạn này từ 42 - 55 ngày tùy giống, tùy quả to, nhỏ Sau khi thụ phấn tốt, đài không rụng thì quả bông lớn dần Nửa thời gian đầu 20 - 25 ngày quả lớn rất nhanh, xơ bông (tế bào lớp ngoài của biểu bì hạt) dài ra rất nhanh nhưng vỏ xơ còn mỏng 20 - 25 ngày sau, quả bông khô dần, cứng lại, vỏ hạt

Trang 21

cũng cứng dần, những lớp xellulo được bồ đắp dần, vỏ xơ bông dày tăng thêm

độ bền cho xơ Khi quả đ6 già, thành thục hoàn toàn thì vỏ quả mất nước co lại, trụ giữa bị linhin hóa cứng, không co đuợc nên bị sức kéo của vỏ kéo vỡ thành 4 - 5 mảnh Xơ bông khô đi và nở bồng lên

2.3.3 Yêu cầu của cây bông về điều kiện ngoại cảnh

2.3.3.1 Về nhiệt độ

Cây bông là cây có nguồn gốc nhiệt đới nên đòi hỏi cao về nhiệt Nhu cầu của cây bông đối với nhiệt độ khá chặt chẽ, tùy theo mỗi thời kỳ sinh trưởng phát triển mà cần có nhiệt độ khác nhau Nhìn chung, để cho cây bông sinh trưởng và phát triển bình thường, kể cả giai đoạn nảy mầm thì nhiệt độ tối

ưu là 25 - 300C Nhiệt độ thấp hơn 250C làm cho sự phát triển của cây bông chậm lại, và nhiệt độ dưới 170C thì cây bông bắt đầu cằn lại (Lê Quang Quyến

và ctv, 1998) [24] Theo Vũ Công Hậu (1962) [12], bất kể nhiệt độ cao hay thấp cây bông đều có thể nở hoa được, nhưng nếu nhiệt độ quá thấp, dưới

200C nhị đực không tung phấn được, hoa có nở nhưng không đậu quả Còn nhiệt độ quá cao khi hoa nở kết hợp với ẩm độ cao làm tăng tỷ lệ rụng đài

Nhiệt độ không khí dưới 200C vào ban đêm đ6 làm tăng thời gian yêu cầu cho xơ bông đạt tới tiềm năng về chiều dài Nhiệt độ thấp hơn 200C đ6 làm giảm chiều dài xơ và giảm mạnh ở những giống có xơ dài (Gipson và ctv, 1969) [47] Theo Reddy và ctv (1992) [67] khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ ngày /đêm đến sinh trưởng, phát triển và quang hợp của cây bông cho thấy, nhiệt độ ngày /đêm thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của cây bông là 30/200C Nhiệt độ ban ngày thích hợp cho cây bông là 30-350C Trong điều kiện nhiệt độ ngày /đêm là 35/250C, cây bông sẽ có rất ít quả Còn cây bông sẽ không có quả trong điều kiện nhiệt độ ngày /đêm là 40/300C

Nhiệt độ cao làm quá trình hô hấp của cây tăng, tiêu hao nhiều chất dinh dưỡng, dẫn đến giảm sức sống và dễ bị sâu bệnh Nhiệt độ quá cao làm

Trang 22

suy yếu sức nảy mầm của hạt phấn và dẫn đến không đậu quả Nhiệt độ tối cao sinh vật học của cây bông là 400C, nhiệt độ tối thấp sinh vật học là

140C và nhiệt độ tối thích cho thời kỳ nở hoa là 300C (Trần Đức Hạnh và ctv., 1997) [11]

2.3.3.2 Về ánh sáng

Bông là cây trồng rất thích ánh sáng, không chịu được rợp, do vậy lá của cây bông trong một ngày luôn thay đổi vị trí để làm sao cho phiến lá luôn vuông góc với các tia chiếu của mặt trời, và chỉ khi mặt trời lặn lá bông mới rủ xuống ở giai đoạn nụ, hoa và hình thành quả, nếu bị thiếu sáng thì đài, nụ và quả non sẽ bị rụng nhiều Trong điều kiện thiếu ánh sáng, cây bông phát triển chậm, cây mọc vống lên, bốc lá và rụng quả non Khi thiếu ánh sáng, cường độ quang hợp của cây bông giảm Theo các tác giả Nga, trong điều kiện chiếu sáng tối ưu của ánh sáng mặt trời thì 1 m2 phiến lá trong một giờ có thể tổng hợp

được 1,46g chất khô, ngược lại trong điều kiện ánh sáng không đầy đủ thì chỉ

số đó chỉ còn 0,073 g (dẫn theo Lê Quang Quyến, 1991) [23]

Cây bông đòi hỏi cường độ ánh sáng cao và ngày ngắn, nhưng có khả năng thích nghi nhanh với ngày dài Các giống ở vĩ tuyến cao, trồng trong

điều kiện ngày dài thường chín sớm hơn các giống nhiệt đới (Vũ Công Hậu, 1978) [14] Cây bông Luồi không có hiện tượng quang chu kỳ Còn cây bông Hải đảo lại có hiện tượng này Các giống bông mới nhập vào Việt Nam thuộc chủng bông Luồi, nên không có quang kỳ tính Nghĩa là có thể

nở hoa bất cứ lúc nào, ngày dài hay ngày ngắn Tuy nhiên, nếu thiếu ánh sáng, vân lượng nhiều (trời mây mù) thì nụ hoa và quả non sẽ bị rụng nhiều (Tôn Thất Trình, 1974) [29]

Theo Vũ Công Hậu (1971) [13], cây bông có nguồn gốc ở miền nhiệt đới khô hạn, ánh sáng nhiều nên đòi hỏi điều kiện ngày ngắn và cường độ ánh sáng cao Bất cứ lý do gì làm cho ánh sáng yếu đi như trời nhiều mây, bóng che đều

Trang 23

làm giảm sản lượng Tuy có một vài giống bông ít rụng đài khi trời âm u nhưng thực sự không có giống bông nào thích ánh sáng yếu

Chu Hữu Huy và ctv (1991) [15] cho rằng, ánh sáng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới rụng nụ và rụng quả non Cường độ ánh sáng giảm, dẫn đến vật chất tạo nên nhờ quang hợp ít, số lượng nụ và hoa ít đi, hàm lượng đường giảm xuống, tỷ lệ rụng tăng lên ánh sáng không đầy đủ, còn làm cho phát dục của phấn hoa chậm lại, giảm đáng kể năng lực nẩy mầm của hạt phấn

Kết quả nghiên cứu của Vũ Xuân Long (1999) [17] về tác động của các yếu tố khí tượng đến tỷ lệ đậu quả của cây bông cho thấy, hiệu quả trực tiếp của nhiệt độ và ẩm độ không khí đến tỷ lệ đậu quả là dương Các hiệu quả gián tiếp của chúng thông qua nhau đến tỷ lệ đậu quả đều mang giá trị âm Hiệu quả trực tiếp của số giờ nắng đến tỷ lệ đậu quả có giá trị rất nhỏ, nhưng hiệu quả gián tiếp của nó thông qua nhiệt độ và ẩm độ lại khá lớn Còn hiệu quả trực tiếp của lượng mưa đến tỷ lệ đậu quả là âm

2.3.3.4 Về đất

Cây bông rất khó tính với đất trồng do yêu cầu về pH đất của nó rất nghiêm ngặt Những đất thoái hóa, đất có tầng canh tác nông, đất không thoát nước, đất chua và đất mặn đều không thích hợp cho cây bông Cây bông đòi hỏi đất tơi xốp, có thành phần cơ giới trung bình, dễ tưới, tiêu và có độ mùn Trên đất chua (pH = 5,5) và đất mặn cây bông sẽ giảm năng suất rất lớn

Trang 24

Thích hợp nhất cho cây bông là pH = 6,5 - 7,5 (Lê Quang Quyến, Vũ Xuân Long, 1998) [24]

Theo Lê Xuân Đính (1991) [7], đất có hàm lượng nhôm di động cao hơn

4 mg/100 gam đất và độ chua cao (pHKCl < 4,5) không có khả năng trồng bông Những loại đất có hàm lượng nhôm di động trong khoảng 1,0 đến 3,5 mg/100g

đất và pHKCl gần bằng 4,5 thì cây bông có thể sống nhưng còi cọc và ít khả năng cho năng suất Cây bông có khả năng sinh trưởng bình thường và cho năng suất khá trên đất có pHKCl lớn hơn 4,5 và hàm lượng nhôm di động nhỏ hơn 1mg/100 gam đất Độ pH của môi trường có ảnh hưởng nhiều đến sự xâm nhập ưu thế anion hay cation Trong môi trường kiềm, việc hút cation mạnh hơn anion, còn trong môi trường acid thì ngược lại, cây hút anion mạnh hơn cation Trong môi trường acid, độ linh động của Ca, Na và P bị giảm, còn độ linh động của Al, Mn, lại tăng lên đến mức gây độc cho cây (Vũ Văn Vụ và ctv., (1997) [37] 2.3.4 Yêu cầu về dinh dưỡng của cây bông

Cũng như những cây trồng khác, nguồn dinh dưỡng cho cây bông được cung cấp chủ yếu từ đất và một phần do con người cung cấp thông qua việc bón phân Những nguyên tố chính cần thiết cho bông là đạm, lân, kali và các nguyên tố trung lượng, vi lượng Theo kết quả nghiên cứu của Milsted và ctv (1973) [65] để đạt năng suất bông 500 kg/ha, cây bông đ6 lấy đi 40 kg N/ha, 16

kg P2O5 và 17 kg K2O/ha Khi năng suất bông đạt 15 tạ/ha thì lượng dinh dưỡng lấy đi là 125 kg N, 50 kg P2O5 và 52 kg K2O/ha Theo Hoàng Đức Phương (1983) [22], NPK là các yếu tố dinh dưỡng khoáng rất quan trọng đối với cây bông, chiếm hàm lượng lớn Song trong xơ bông thì hàm lượng NPK lại rất ít, chúng có nhiều nhất trong hạt và trong lá, thứ đến là trong thân và vỏ quả 2.3.4.1 Vai trò của nitơ (N) đối với cây bông

N là nguyên tố cây bông cần để sinh trưởng và phát dục, là thành phần cấu tạo nên các chất protein, acid nucleotic, diệp lục tố, các loại men và các

Trang 25

loại sinh tố Cung cấp phân đạm đầy đủ làm tăng diện tích lá, hàm lượng protein trong thịt lá, sự tổng hợp diệp lục tố cũng tăng, quang hợp và các hoạt

động sinh lý khác mạnh lên (Lê Công Nông, 1998) [20] Thiếu N, cây bông còi cọc, thân thấp, cành ngắn; lá xanh vàng, lá phía gốc vàng và rụng sớm do

đạm được vận chuyển từ lá già sang lá non, trong cây tích lũy gluxit và giảm protein; sự phát triển rút ngắn, cây ra hoa kết quả sớm Ngược lại, nếu N nhiều quá thì sinh trưởng dinh dưỡng mạnh, protein tăng nhiều và gluxit giảm một cách tương ứng, lá to, dầy, xanh đậm, thân cao, cành dài, cây lốp,

nụ đài rụng nhiều, do đó thường xuất hiện hoa ở vị trí ngoại vi, chín kéo dài

và dễ bị sâu bệnh (Hoàng Đức Phương, 1983) [22] Khi cung cấp N thích

đáng thì cây bông sinh trưởng, phát triển cân đối, đậu nhiều quả, chín đúng lúc, khối lượng quả, khối lượng hạt, độ dài xơ và chỉ số xơ đều tăng

2.3.4.2 Vai trò của phospho (P) đối với cây bông

P là nguyên tố cấu tạo nên axit nucleotic (ARN, ADN), phospholipit cấu tạo nên các màng sinh học, ADD và ATP, đóng vai trò trong trao đổi năng lượng của tế bào P có tác dụng rất lớn trong sinh trưởng phát dục của cây trồng, di truyền biến dị, truyền tiếp năng lượng, vận chuyển dinh dưỡng P là nguyên tố quan trọng giúp xúc tiến bộ rễ phát triển sớm (Lê Văn Căn và các tác giả, 1978) [3]

Khi thiếu P, cây sinh trưởng chậm, bộ rễ kém phát triển, lá có màu lục tối, cây nhỏ và thấp, khó nở hoa, đậu quả muộn, quả nhẹ, hạt nhỏ, nhiều hạt lép, độ chín xơ bông thấp, năng suất và chất lượng bông đều giảm (Lý Văn Bính, Phan Đại Lục, 1991) [2]

2.3.4.3 Vai trò của kali (K) đối với cây bông

Kali là nguyên tố có số lượng lớn nhất trong các chất vô cơ có mặt trong cây bông, là chất hoạt hóa của hơn 60 loại men trong cơ thể sinh vật, có thể xúc tiến những hoạt động trao đổi chất (Lê Công Nông và ctv, 1998) [20]

Trang 26

Kali phần nhiều tồn tại trong các bộ phận non của cây, khi các bộ phận này già, đi đôi với canxi tăng lên, kali sẽ được vận chuyển đi Kali giúp cho cây tăng tính chịu hạn, chịu rét và chịu nhiệt độ cao Kali xúc tiến xơ bông phát triển,

do đó tăng độ dài và độ bền của xơ bông (Hoàng Đức Phương, 1983) [22]

2.3.4.4 Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng khác đối với cây bông

* Canxi (Ca): Ca có mặt trong pectatcanxi gắn kết các tế bào với nhau, trung hòa các loại axit độc, có tác dụng đối kháng với nhiều ion trong cây Khi cây bông già thì đại bộ phận Ca lưu lại trong lá, lá rụng xuống đất, bồi hoàn một phần Ca cho đất

* Magiê (Mg): là một trong những thành phẩm chủ yếu của diệp lục Thiếu Mg thì trở ngại cho sự sử dụng P và sự tổng hợp protein, do đó trở ngại cho sự phát triển của đỉnh sinh trưởng ở rễ và thân, trở ngại cho sự chín của hạt

* Lưu huỳnh (S): tồn tại trong protein và có liên quan đến sự hình thành diệp lục Thiếu S thì cây thấp, lá vàng, quả ít nhưng ít ảnh hưởng đến khối lượng quả, độ dài xơ Theo Lê Công Nông (1996) [19], hàm lượng S trong

đất trồng bông ở Việt Nam nói chung đều nghèo, do vậy trong quy trình bón phân cho bông cần chú ý bón các loại phân có chứa S để tránh hiện tượng đói

S cho cây

* Bo (B): Cần thiết cho sự hình thành nụ bông, thiếu B thì hoa không thụ tinh và bị rụng, ngọn bông thường bị thui, cây bông thấp và nhiều cành, lá vàng sớm, lá bắc của hoa xòe ra

Ngoài ra, các nguyên tố vi lượng như Mn, Cu, Zn cũng có ảnh hưởng

đến quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất và phẩm chất xơ bông Tuy nhiên, cũng cần chú ý là các nguyên tố vi lượng rất cần thiết đối với cây bông, nhưng nếu bón quá nhiều sẽ trở nên độc đối với cây bông, vì vậy cần phải nghiên cứu xác định liều lượng sử dụng thích hợp

Trang 27

2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.4.1 ảnh hưởng của mật độ cây đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất bông

Quang hợp là nguồn gốc để tạo ra năng suất và phẩm chất cây trồng, quyết

định 90 - 95% năng suất cây trồng Do đó, việc trồng trọt của con người thực chất là điều khiển hoạt động quang hợp của cây trồng thông qua điều khiển bộ lá (Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch, 1996) [26] Năng suất sinh vật học

và diện tích lá có tương quan mật thiết với nhau Trong trường hợp lá quá nhiều,

sự tiêu hao chất hữu cơ tăng lên và sự tích lũy sản phẩm của quang hợp giảm xuống Khi LAI cao quá mức tối thích, năng suất sinh vật học giảm xuống Muốn đạt năng suất 125 kg bông xơ/mẫu (1/15 ha) thì LAI duy trì ở mức 3,0 Trong thực tế sản xuất, LAI tối cao là 3,5 (Lý Văn Bính và Phan Đại Lục, 1991) [2] LAI tối thích với năng suất bông cao nhất thay đổi tùy theo điều kiện canh tác (Wells và ctv., 1984) [72] Trong điều kiện trồng bông có tưới, để đạt năng suất cao thì LAI bằng 5 là thích hợp (Ashley D A và ctv., 1965) [38] Ruộng bông cao sản có đỉnh cao nhất về diện tích lá vào khoảng 25 ngày sau khi nở hoa (thời kỳ đậu quả) Thời gian này, cây bông chuyển từ sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực Diện tích lá được duy trì ở mức khá cao khoảng 30 ngày (LAI ổn định ở mức trên dưới 3), sau đó giảm dần và đến khi quả nở, LAI

đạt gần 1,5, là cơ sở quan trọng để đạt sản lượng cao (Lý Văn Bính và Phan Đại Lục, 1991) [2] ở mật độ bình thường, cây khép tán khi LAI đạt 2,8 vào ngày thứ

100 sau gieo (Hearn, 1971) [50]

Mật độ càng cao thì khối lượng chất khô trên cây càng nhỏ, tuy nhiên khối lượng chất khô trên đơn vị diện tích càng tăng Kết quả nghiên cứu tại ấn

Độ cho thấy khi mật độ tăng dần từ 8.000 đến 16.000 và 32.000 cây/ha thì khối lượng chất khô trên cây là 33,6g, 30,7g và 27,1g; tương ứng với lượng chất khô/1 yard2 (0,914m2) là 80g, 147g và 244g (Dastur R.H., 1960) [44] Tóm lại, muốn đạt năng suất kinh tế cao thì cần phải xúc tiến khả năng tích

Trang 28

lũy chất khô lớn bằng cách tăng diện tích lá thích hợp, cần phải tăng mật độ trồng dày hợp lý, đồng thời bảo đảm đủ nước và dinh dưỡng cho cây

Khi tăng mật độ, chỉ số diện tích lá tăng lên, tổng lượng chất khô trên

đơn vị diện tích cũng tăng và năng suất bông hạt cũng tăng (Bhatt J.G và ctv., 1976) [39] Kết quả nghiên cứu của Kerby T A và ctv., (1990) [59] cho thấy khi mật độ tăng với 3 mức 5, 10 và 15 cây/m2 thì chỉ số diện tích lá và tổng lượng chất khô tăng, tuy nhiên hệ số kinh tế giảm Cùng mật độ 10 vạn cây/ha, không có sự sai khác về chỉ số diện tích lá và hệ số kinh tế ở các khoảng cách hàng 1,0 m và 0,5 m (James J Heitholt và ctv., 1992) [53]

Đối với cây bông, khi tăng mật độ thì số quả/cây giảm, nhưng nhờ số cây tăng nên số quả/đơn vị diện tích tăng ở mật độ tối thích, số quả/đơn vị diện tích lớn nhất và năng suất cao nhất Vượt quá mật độ tối thích, năng suất không tăng mà giảm dần Ruộng bông trồng với mật độ quá cao, các cây bông mọc gần nhau quá, làm cho cành lá chen nhau dẫn đến thiếu ánh sáng

và ẩm độ không khí trong ruộng bông tăng, việc rụng đài xảy ra nghiêm trọng (Nguyễn Khắc Trung, 1962) [30] Trong trồng trọt, nên áp dụng các biện pháp tổng hợp, chọn lọc các giống thích hợp với trồng dày, hệ số diện tích lá tối cao có thể đạt 5, vừa cao sản vừa chất lượng tốt (Lý Văn Bính, Phan Đại Lục, 1991) [2]

Theo Dương Xuân Diêu (2003) [6], hệ số tương quan (r) giữa mật độ gieo trồng và chỉ số diện tích lá tối đa vào giai đoạn 95 ngày sau gieo đạt 0,92** Đây là tương quan thuận và rất chặt, có nghĩa là khi mật độ gieo trồng tăng thì chỉ số diện tích lá đồng thời cũng tăng theo Mật độ của giống bông lai VN01-2 trong điều kiện không xử lý PIX cho năng suất cao nhất là 7,5 vạn cây/ha, ở mật độ này ứng với chỉ số diện tích lá tối đa là 4,12 Khi tăng mật độ gieo trồng đối với giống bông lai VN15 thì LAI tăng theo và mật

Trang 29

độ 10,0 vạn cây/ha với LAI là 4,98 cho năng suất bông cao nhất (Lê Công Nông và ctv, 2005) [21]

Trong điều kiện trồng bông cao sản, hệ số kinh tế của cây bông vào khoảng 0,35 Cây sinh trưởng bình thường cân đối thì hệ số kinh tế cao Ruộng bông bị lốp, hệ số kinh tế thấp Mật độ trồng thưa cho hệ số kinh tế tương đối cao và ngược lại, trồng dày thì hệ số kinh tế thấp (Lý Văn Bính và Phan Đại Lục, 1991) [2]

Các kết quả nghiên cứu của Rimon D., (1994) [68] tại Hassadeh (Israel) cho thấy trồng với mật độ 8 vạn cây/ha (khoảng cách hàng 1m) cho năng suất bông cao nhất trong các công thức nghiên cứu ở mật độ này, tỷ lệ chất tươi giữa cơ quan sinh sản và cơ quan dinh dưỡng trước khi nở quả là 1:1 Mật độ 15 vạn cây/ha (khoảng cách hàng 0,5m) cho năng suất thấp và tỷ

lệ này chỉ là 0,7 Tỷ lệ chất khô giữa cơ quan sinh sản và cơ quan sinh dưỡng lúc thu hoạch ở mật độ trồng dày (12 vạn cây/ha) là 0,51- 0,56 so với trồng thưa (2 vạn cây/ha) là 0,32 - 0,38 (Jones M A và Wells R., 1997) [56] Kết quả nghiên cứu của Mauney năm 1981 tại Phoenix, Arizona cho thấy với giống bông Luồi DPL70 ở mật độ 80 vạn cây/ha thì tích lũy chất khô

đạt cao nhất là 25 - 30 g/m2/ngày và thu được năng suất 5.780 kg/ha (Jack R

và ctv, 1986) [52] Các tác giả ở Liên Xô cho rằng, trong điều kiện chiếu sáng mặt trời tối ưu thì 1m2 phiến lá trong 1 giờ có thể tổng hợp được 1,46 g chất khô, ngược lại, trong điều kiện ánh sáng không đầy đủ thì chỉ số đó chỉ là 0,073 (dẫn theo Lê Quang Quyến, 1991) [23]

Như vậy, mật độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến các yếu

tố cấu thành năng suất và các chỉ tiêu sinh lý khác liên quan đến năng suất Tùy theo điều kiện đất đai, khí hậu và điều kiện canh tác của vùng, với mỗi giống muốn phát huy hết tiềm năng năng suất thì cần phải xác

định được mật độ tối thích

Trang 30

2.4.2 ảnh hưởng của phân bón đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất bông

Phân bón là một trong những điều kiện để cây bông có thể tổng hợp và

điều tiết dinh dưỡng hữu cơ Thông qua việc bón phân hợp lý, làm cho cây bông khỏe mạnh thời kỳ đầu, sinh trưởng ổn định thời kỳ giữa, không bị vống và không sớm tàn ở thời kỳ cuối, từ đó tăng diện tích quang hợp, tăng cường độ quang hợp, kéo dài thời gian quang hợp, gia tăng vật chất quang hợp được, tăng năng suất và chất lượng bông (Lý Văn Bính, Phan Đại Lục, 1991) [2]; (Lê Công Nông, 1998) [20]

Có tương quan rất chặt giữa hàm lượng Nitơ trong lá và diện tích lá (r2= 0,80); giữa hàm lượng nitơ trong lá và số quả (r2 = 0,89), thiếu nitơ sẽ làm giảm

số lá, số quả và khối lượng quả (Gerik T.J và ctv., 1994) [46]

Theo Lý Văn Bính và Phan Đại Lục (1991) [2], cường độ quang hợp của công thức có bón phân đạm tăng hơn so với không bón, khi cây có 5, 6, 8,

10, 12 lá cường độ quang hợp tăng hơn so với cây không bón là 30%, 165,8%, 144%, 323% và 780% Bón phân đạm diện tích lá tăng lên và làm chậm lại quá trình suy l6o của lá bông, từ đó tăng quang hợp và năng suất bông

Dastur R.H., (1960) [44], tiến hành thí nghiệm với 3 mức phân đạm: 0, 33

và 66 lb./acre (tương đương 0; 37,125 và 74,25 kg/ha) tại Malwa và 2 mức phân

đạm 0 và 50 lb./acre (tương đương với mức 0 và 56,25 kg/ha) tại vùng Punjab và Surat đều cho thấy bón đạm làm tăng hoạt động của mô phân sinh, kéo dài thời gian sinh trưởng, tăng chất khô, tăng số hoa, số quả/cây và tăng khối lượng quả

Các thí nghiệm nằm trong hệ thống nghiên cứu bông ở Amravati cho thấy, phân lân làm tăng năng suất bông hạt, khối lượng quả và số hạt/quả Bón phân cũng thúc đẩy bông thành thục nhanh (De Geus J.G., 1983) [5]

Tại ấn Độ, trên các vùng bông có tưới, người ta bón phân đạm với lượng hơn 100 kg N/ha, đối với bông lai có thể bón với lượng 320 kg N/ha,

Trang 31

tỷ lệ N: P2O5: K2O thường là 2:1:1 hoặc 3:1:1 (Mannikar N.D và Pundarikakshudu R., (1990) [62] Khi tăng lượng phân bón thì số lá, số hoa/cây, chiều cao cây và năng suất bông hạt đều tăng, tuy nhiên khi vượt quá lượng 135 kg N + 45 kg P2O5 + 45 kg K2O/ha thì năng suất bông giảm (Hanumantha Rao và ctv., 1973) [49] Các kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu và phát triển cây bông trong những năm qua đ6 kết luận, tỷ lệ phân N: P2O5: K2O có thể sử dụng để bón cho bông thích hợp trên các vùng sinh thái là 2: 1: 1 (Nguyễn Hữu Bình, Lê Quang Quyến và ctv., 2001) [1] Theo Đinh Quang Tuyến và ctv (2005) [32], trong điều kiện trồng bông thâm canh cao, LAI và quang hợp thuần sớm đạt giá trị cao và kéo dài hơn so với sản xuất bình thường

Kết quả nghiên cứu ở các nước trồng bông nhiệt đới cho thấy, lượng phân bón thay đổi rất lớn tùy điều kiện thổ nhưỡng từng vùng Lượng N biến

động 40-100 kg/ha Vùng châu Phi nhiệt đới, ấn Độ và một số vùng bông Trung Quốc thường bón 40 - 50 kg N/ha, ở Ai Cập là 140 kg N và ở Xu Đăng là

160 kg Đặc biệt ở Liên Xô (cũ), để đạt năng suất 24 - 25 tạ/ha người ta đ6 bón 130-140 kg N/ha ở Mỹ và Ixrael, người ta cho rằng lượng N khoảng 110 - 120 kg/ha là kinh tế nhất và có thể đạt 20 tạ bông hạt/ha (De Geus J.G., 1983) [5]

Kết quả nghiên cứu của Mc Michael và ctv (1984) [64] tại Pakistan, trên giống luồi B557, với khoảng cách trồng 0,76m x 0,3m, ở mức phân bón

120 kg N + 50 kg P2O5 /ha cho thấy ở giai đoạn cây con (từ khi gieo đến 30 ngày tuổi), diện tích lá tăng chậm (LAI = 0,05), lúc bắt đầu nở hoa, diện tích lá tăng nhanh Với cây bông trước khi nở hoa, lá trên thân chính có vai trò chủ yếu, từ khi ra hoa thì lá trên cành đóng góp phần lớn diện tích lá, vì ở thời kỳ này cành đ6 phát triển đầy đủ

Khi bón đồng bộ các nguyên tố đa lượng và vi lượng thì năng suất và chất lượng bông tăng lên Ví dụ giống Taxken-3 trên đất Xeroziom khi bón 180 kg N

Trang 32

+ 180 kgP2O5 + 90 kg K2O/ha năng suất bông hạt đạt 35,4 tạ/ha; khi tăng lượng bón 320 kg N + 320 kgP2O5 + 160 kg K2O/ha thì năng suất đạt 45,7 tạ/ha; còn không bón phân năng suất chỉ đạt 22,8 tạ/ha (Imaleliep, 1977) ở điều kiện đó, cường độ quang hợp và sự sử dụng năng lượng mặt trời, hệ số hữu ích năng lượng hấp thụ tăng 5,6% và hiệu suất quang hợp của năng lượng bức xạ tới tăng 3,9% (Naxurop, 1983) (dẫn theo Krugiưlin A.X., 1988) [16] Cũng theo Krugiưlin A.X., (1988) [16] lượng dinh dưỡng khoáng cao bảo đảm cho cây phát triển tốt hơn và tán lá che nhau nhiều nhưng năng suất vẫn cao hơn so với lượng dinh dưỡng vừa phải Năng suất tăng 22% hay là 8,6 tạ/ha ở mật độ trung bình (7,1 vạn cây/ha), so với khi bón vừa phải ở mật độ dày hơn (9,5 - 14,3 vạn cây/ha)

Nếu cung cấp chất dinh dưỡng một cách hợp lý thì tỷ lệ khối lượng bông hạt trên khối lượng cơ quan dinh dưỡng sẽ là từ 1/1,1 đến 1/1,3, tức bông hạt chiếm 40 - 45% tổng khối lượng toàn cây; nếu cung cấp chất dinh dưỡng không hợp lý thì tỷ lệ trên sẽ giảm (Hoàng Đức Phương, 1983) [22]

Khi năng suất sinh vật học và năng suất kinh tế của cây bông tăng thì sự hấp thụ NPK cũng tăng về số lượng Theo kết quả nghiên cứu của Sở nghiên cứu đất và phân tỉnh Hà Bắc - Trung Quốc, nếu năng suất đạt 50 kg bông xơ/mẫu (tương đương 750 kg/ha) thì cây bông hấp thụ 133 kg N/ha Nếu năng suất đạt 100 kg bông xơ/mẫu (tương đương 1500 kg/ha) thì hấp thụ 197 kg N/ha Do đó có thể thấy khi sản lượng tăng gấp đôi thì hấp thụ N chỉ tăng 48,27% Với P và K, ảnh hưởng của chúng cũng có xu thế tương tự (Lý Văn Bính và Phan Đại Lục, 1991) [2]

Tóm lại, phân bón ảnh hưởng lớn đến quang hợp, sinh trưởng và phát triển của cây bông qua đó ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng bông Vì vậy, việc xác định liều lượng phân bón hợp lý cho từng vùng sinh thái cho từng giống cụ thể để đạt năng suất và hiệu quả cao là rất cần thiết

Trang 33

2.4.3 ảnh hưởng của việc phun mepiquat chloride (PIX) đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất bông

Tại Trung Quốc, việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng đ6 mở ra triển vọng mới cho nghề trồng bông Sử dụng PIX kết hợp với việc giảm khoảng cách hàng và tăng mức phân bón cũng đ6 được đề cập bởi Yao X.Y và ctv (1990) [75]

Nếu trồng với mật độ cao và bón hàm lượng N lớn thì cây bông sinh trưởng mạnh, cho năng suất thấp Tuy nhiên, khi kết hợp phun PIX thì sẽ kìm h6m sinh trưởng của cây bông và cho năng suất cao hơn so với đối chứng không phun (York A.C., 1983) [76], có thể làm cho quả chín sớm (Reddy V.R

và ctv., 1992) [67] Kết quả nghiên cứu của Williford J.R (1992) [73] cho thấy, trong điều kiện khoảng cách hàng hẹp, phun PIX đúng lúc sẽ có tác dụng làm giảm sinh trưởng chiều cao cây và làm tăng năng suất bông so với đối chứng không phun

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Tạm (2001) [25] trên giống VN15 cho thấy, trong điều kiện có phun PIX thì trồng ở mật độ cao cho số quả/m2 và năng suất cao hơn so với trồng thưa

Theo Williford J.R (1992) [73], năng suất bông trung bình trong 5 năm

ở khoảng cách hàng 0,76 m tăng từ 6,5 % đến 8,6 % so với khoảng cách hàng 1,02 m tuỳ thuộc từng loại đất Việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng PIX

đồng thời với việc giảm khoảng cách hàng đ6 làm tăng năng suất bông

Brar A.S và ctv (1990) [41] đ6 tiến hành nghiên cứu việc trồng bông với các khoảng cách hàng là 100, 75 và 68 cm và khoảng cách cây 30, 15 và 7,5 cm trên giống bông LH900 và F286 Kết quả cho thấy, năng suất bông hạt của giống LH900 cao nhất ở các khoảng cách 68 cm x 30 cm và giống F286 cho năng suất cao nhất ở khoảng cách 75 cm x 7,1 cm Nhìn chung, năng suất bông giảm ở các khoảng cách hàng rộng

Trang 34

Việc phun PIX có tác dụng hạn chế sinh trưởng của cây bông Phun PIX kết hợp với tăng mật độ cây trên đơn vị diện tích đ6 làm tăng năng suất bông so với đối chứng (Khasanov T và ctv., 1986) [60], (Rajeswari V.R và ctv., 1997) [66]

McCarty W.H và ctv (1989) [63] đ6 kết luận, các công thức phun PIX với lượng 141,75 g hoặc 283,50 g /ha vào giai đoạn nụ nhỏ đều có tác dụng cải thiện năng suất bông và làm tăng tỷ lệ quả ở vị trí thứ nhất của cành quả

Nghiên cứu của Malik M.N.A và ctv (1990) [61] cho thấy, phun PIX với lượng 1 lít /ha vào các giai đoạn 55, 70 và 85 ngày sau gieo cho giống Niab-78 có tác dụng làm tăng tỷ lệ xơ, nhưng không ảnh hưởng đến khối lượng quả, năng suất bông hạt, chỉ số hạt và chất lượng bông xơ

Mepiquat chloride được sử dụng để điều khiển sự sinh trưởng dinh dưỡng quá mức ở cây bông từ năm 1981 Xử lý PIX với lượng 1,4 lít /ha có tác dụng rút ngắn thời gian sinh trưởng so với đối chứng (Kerby T.A, 1985) [57]

Theo Kerby T.A và ctv (1987) [58], sử dụng PIX phun cho bông vào giai đoạn chiều cao cây trung bình 57cm với lượng 49 g /ha thu được kết quả, PIX không có tác dụng làm gia tăng tổng số quả /cây Tuy nhiên, PIX lại kích thích sự chín sớm của quả, vì vậy sử dụng PIX sẽ có lợi trong điều kiện mùa vụ kéo dài để thúc ép tiềm năng năng suất của cây bông

Kết quả phun PIX 3 lần /vụ, định kỳ 1 tuần 1 lần, với lượng 1 lít/ha cho cây bông giống SSR60 tại tỉnh Lopburi (Thái Lan) cho thấy, phun PIX

có tác dụng ức chế sinh trưởng chiều cao cây, chiều dài đốt thân và số đốt trên thân chính Công thức phun PIX cho chỉ số thu hoạch và khối lượng quả cao hơn đối chứng, nhưng sự sai khác về năng suất không có ý nghĩa so sánh (Crozat Y và ctv, 1994) [43]

PIX làm giảm sinh trưởng chiều cao và chiều ngang của cây bông Như vậy, khoảng cách hàng trống sinh ra có tác dụng làm tăng sự đậu quả, giảm

Trang 35

quả thối và cây thành thục sớm PIX có thể cho hiệu quả đặc biệt ở những nơi bông sinh trưởng quá tốt Sử dụng PIX với lượng 1,0 lít /ha vào thời kỳ trước khi bắt đầu nở hoa cho hiệu quả tốt nhất (Schott P E., 1979) [71]

Theo Sawan Z.M và Sakr R.A (1990) [70], phun PIX cho bông Hải

đảo vào giai đoạn 90 hoặc 90 và 110 ngày sau gieo đều có tác dụng làm cho

số quả /cây, khối lượng quả, chỉ số hạt, chỉ số xơ, năng suất bông hạt và năng suất bông xơ tăng so với đối chứng, nhưng phun PIX có ảnh hưởng không

Việc xử lý hạt trước khi gieo bằng PIX với lượng 500 mg /kg có tác dụng thúc đẩy bộ rễ phát triển, đặc biệt tăng khối lượng lá và hàm lượng diệp lục Thành công nhất là sử dụng PIX để thay đổi kiểu rễ, cây hút được nước dưới tầng sâu và tăng khả năng chịu hạn của cây bông con (Xu X và Taylor H.M., 1992) [74]

Các công thức xử lý hạt bằng mepiquat chloride với lượng 0,2, 1,0 và 2,0 g/kg có tác dụng làm giảm số nốt, số lá, số nụ, chiều cao cây và diện tích lá so với đối chứng không xử lý (Zhang S và ctv., 1990) [77]

Như vậy, PIX là chất điều hòa sinh trưởng ngoại sinh có tác dụng ức chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng của thực vật Trên cây bông, PIX ngăn chặn được sự sinh trưởng rậm rạp, làm giảm sinh trưởng chiều cao cây, làm

Trang 36

tăng hàm lượng diệp lục trong lá, tăng khả năng quang hợp, tăng sự đậu quả, giảm quả thối và làm cho cây phát dục sớm

2.4.4 Những nghiên cứu về phân bố quả của cây bông

Sự phân bố quả trên cây bông phụ thuộc vào giống và điều kiện canh tác nhưng nhìn chung tỷ lệ đậu quả giảm dần theo thứ tự cành quả từ gốc lên ngọn Tỷ lệ đậu quả của cành thứ nhất là 70% và của cành thứ 13 giảm xuống còn 10-20% (Saimaneerat A và ctv, 1994) [69] Số lượng quả đ6 đậu trên cây càng tăng càng làm giảm tỷ lệ đậu quả của những hoa nở tiếp theo trong ngày

Đồng thời, số lượng quả đ6 đậu trên cây là nhân tố chính hạn chế tỷ lệ đậu quả diễn ra hàng ngày của cây bông (Vũ Xuân Long, 1999) [17]

Chu Hữu Huy và ctv (1991) [15] cho rằng, nụ và quả thuộc cành quả phía ngọn rụng nhiều hơn nụ và quả thuộc cành quả phía dưới Trên cành quả, những vị trí xa thân chính rụng nụ, rụng quả cao hơn những vị trí gần thân chính Tuy nhiên, ở ruộng bông đất tốt, nếu chăm sóc không thích hợp, cây bông bốc lá thì lại thấy một tình trạng ngược lại, ở cành quả phía giữa và phía dưới rụng nhiều hơn Theo Đinh Quang Tuyến (2004) [31], các giống bông Luồi có số quả tập trung chủ yếu trên cành quả, phân bố theo quy luật giảm dần

từ gốc đến ngọn và tập trung ở các vị trí thứ nhất và thứ hai của 13 cành quả đầu tiên Theo John M Munro (1987) [55], trồng với khoảng cách 0,3m x 0,9m x 1 cây cho tỷ lệ quả thuộc cành quả là 69% và tỷ lệ quả thuộc cành đực là 31%

Kết quả nghiên cứu của Vũ Xuân Long (1999) [17] cho thấy, trên giống bông lai L18, khoảng cách hàng càng hẹp (hay mật độ trồng càng dày) dẫn đến tỷ lệ quả thuộc cành đực càng giảm, tỷ lệ quả thuộc cành quả càng tăng và ngược lại Kết quả nghiên cứu sơ đồ cây của tác giả Godoy và ctv cho thấy, đối với các giống bông mới (Cian Precoz và Cian 95), số quả cho thu hoạch trên toàn cây được tạo ra ở vị trí số 1 (P1) của các cành quả là

Trang 37

78% và 73% Còn đối với giống Launa 89 và Deltapine 80 thì tỷ lệ này thấp hơn, chỉ đạt 69 và 63% (dẫn theo Vũ Xuân Long, 1999) [17]

Theo Jenkins J.N và ctv (1990) [54], giống bông Luồi trong điều kiện trồng ở mật độ 9,5 cây/m2 thì số quả thuộc vị trí thứ nhất (P1) đóng góp từ 66 đến 75% năng suất; vị trí thứ hai (P2) của cành quả đóng góp 18-21% năng suất; các

vị trí còn lại của cành quả chỉ đóng góp 2-4% năng suất và số quả thuộc cành đực chỉ chiếm 3-9% về năng suất Tại Việt Nam, trên giống bông thuần CS95, cành quả đóng góp 61% và cành đực đóng góp 39% khối lượng bông hạt Đối với giống bông lai VN15, cành quả đóng góp 68%, cành đực đóng góp 32% khối lượng bông hạt Các cành quả thứ nhất đến thứ 15 của giống CS95 đóng góp 93% khối lượng bông hạt toàn cây (Nguyễn Văn Tạm, 2001) [25]

Thí nghiệm về liều lượng N trên giống Deltapine 41 tại Mỹ cho thấy, N

có tác dụng làm tăng vị trí đậu quả trên cây, tăng số quả đậu ở vị trí thứ hai và thứ ba của cành quả (Boquet D J., 1989) [40]

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu tổng hợp ở trên cho thấy rằng, với cây bông, ngoài yếu tố giống ra thì mật độ, phân bón thích hợp và điều khiển sự sinh trưởng phát triển của cây bông bằng biện pháp hóa học có ý nghĩa quan trọng nhất cho việc sản xuất bông đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao Các biện pháp kỹ thuật đó ảnh hưởng đến các hoạt động sinh lý của cây bông, thông qua đó ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, cũng như việc hình thành năng suất bông Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật này phụ thuộc vào đặc điểm của giống

Trang 38

3 đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.1.1 Giống bông:

- Giống bông lai VN02-2: Con lai F1 của cặp lai cùng loài luồi do Viện nghiên cứu & phát triển cây bông (nay là Viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp Nha Hố) lai tạo năm 2001, được công nhận giống tạm thời năm

2004 Giống thuộc nhóm chín trung bình sớm, ra hoa và đậu quả tập trung Giống có khả năng kháng sâu xanh, nhưng khả năng kháng rầy xanh kém, đặc biệt là có khả năng chịu thuốc trừ cỏ Round up phun qua lá Giống có tiềm năng năng suất cao, ổn định và thích nghi tương đối rộng về năng suất, tỷ lệ xơ cao, chất lượng xơ đạt tiêu chuẩn ngành cấp I [33]

- Giống bông lai VN04-3 và VN04-4: Con lai F1 của các cặp lai đơn trong loài luồi do Viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp Nha Hố lai tạo năm 2001, được Hội đồng khoa học công nghệ Bộ NN & PTNT công nhận giống tạm thời năm 2004 Các giống này thuộc nhóm có thời gian sinh trưởng trung bình, ra hoa và đậu quả tập trung, dạng cây khỏe, có khả năng kháng sâu xanh, kháng rầy trung bình khá VN04-3 và VN04-4 có tiềm năng năng suất cao, ổn định và thích nghi rộng, tỷ lệ xơ cao, chất lượng xơ tốt [34] [36]

- Giống bông thuần NH04-2: Là giống nhập nội từ Trung Quốc, do Viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp Nha Hố chọn lọc năm 2001, khảo nghiệm giống và sản xuất thử năm 2004-2005 Giống thuộc nhóm chín sớm, ra hoa và đậu quả tập trung, có dạng hình gọn, cành ngắn Giống có khả năng kháng sâu xanh, nhưng khả năng kháng rầy xanh yếu [35]

Trang 39

3.1.2 Chất điều hòa sinh trưởng mepiquat chloride (PIX)

Mepiquat chloride có tên hoá học là 1,1-dimethyl-piperidinium chloride, công thức hóa học là C7H16ClN, tên thương mại là PIX, chứa 400g a.i/lít, có màu vàng nhạt, tan tốt trong nước, được nhập nội từ Trung Quốc PIX thuộc nhóm chất làm chậm sinh trưởng (retardant), có khả năng ức chế sự sinh trưởng của cơ quan dinh dưỡng, tạo điều kiện cho sự ra hoa và tích lũy vào cơ quan kinh tế

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.2.1 Thời gian nghiên cứu: Vụ mưa 2006

3.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Ninh Thuận

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng, phát triển và năng suất bông

3.3.2 Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng, phát triển và năng suất bông

3.3.3 Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc phun PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng, phát triển và năng suất bông

3.3.4 Nội dung 4: Thực nghiệm một số mô hình trồng bông đạt năng suất cao 3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Bố trí thí nghiệm

3.4.1.1 Phương pháp bố trí: Tất cả các thí nghiệm được tiến hành trên

đồng ruộng, bố trí theo phương pháp khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCB) được mô tả bởi Gomez K.A và Gomez A.A (1984) [48] Thực nghiệm mô hình được

bố trí theo phương pháp ô lớn, không nhắc lại

Trang 40

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng, phát triển và năng suất bông

Thí nghiệm gồm 2 yếu tố, bố trí theo phương pháp khối đầy đủ ngẫu nhiên, nhắc lại 3 lần

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến một số chỉ tiêu sinh

lý, sinh trưởng, phát triển và năng suất bông

Thí nghiệm gồm 2 yếu tố, bố trí theo phương pháp khối đầy đủ ngẫu nhiên, nhắc lại 3 lần

- Yếu tố phân bón: 4 mức phân bón như sau

P1: Không bón P2: 100 kg N + 50 kg P2O5 + 50 kg K2O /ha P3: 150 kg N + 75 kg P2O5 + 75 kg K2O /ha P4: 200 kg N + 100 kg P2O5 + 100 kg K2O /ha

- Yếu tố giống: 3 giống bông

Ngày đăng: 06/12/2013, 19:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. ảnh hưởng của các mật độ gieo trồng đến thời gian sinh trưởng    của các giống bông, vụ m−a 2006 tại Ninh Thuận - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Bảng 4.1. ảnh hưởng của các mật độ gieo trồng đến thời gian sinh trưởng của các giống bông, vụ m−a 2006 tại Ninh Thuận (Trang 45)
Bảng 4.2. ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao cây và chiều dài cành quả - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Bảng 4.2. ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao cây và chiều dài cành quả (Trang 46)
Bảng 4.3.  Động thái chỉ số diện tích lá qua các giai đoạn của các giống   ở mật độ gieo trồng khác nhau, vụ m−a năm 2006 tại Ninh Thuận - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Bảng 4.3. Động thái chỉ số diện tích lá qua các giai đoạn của các giống ở mật độ gieo trồng khác nhau, vụ m−a năm 2006 tại Ninh Thuận (Trang 47)
Hình 4.1. Động thái LAI ở các mật độ gieo trồng khác nhau  (Tính trung bình cho 3 giống) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Hình 4.1. Động thái LAI ở các mật độ gieo trồng khác nhau (Tính trung bình cho 3 giống) (Trang 48)
Hình 4.2. Động thái tích lũy chất khô ở các mật độ trồng  (Tính trung bình cho 3 giống) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Hình 4.2. Động thái tích lũy chất khô ở các mật độ trồng (Tính trung bình cho 3 giống) (Trang 48)
Bảng 4.6. Tỷ lệ thành quả và phân bố số l−ợng quả theo chiều thẳng đứng  của các giống bông, vụ m−a 2006 tại Ninh Thuận - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Bảng 4.6. Tỷ lệ thành quả và phân bố số l−ợng quả theo chiều thẳng đứng của các giống bông, vụ m−a 2006 tại Ninh Thuận (Trang 52)
Bảng 4.7.  ảnh hưởng của các mật độ đến tỷ lệ thành quả và tỷ lệ đóng góp  quả của các cành quả trên cây (Tính trung bình cho các giống) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Bảng 4.7. ảnh hưởng của các mật độ đến tỷ lệ thành quả và tỷ lệ đóng góp quả của các cành quả trên cây (Tính trung bình cho các giống) (Trang 53)
Bảng 4.9. ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng  suất bông và hiệu quả kinh tế của các giống (Vụ m−a 2006 tại Ninh Thuận) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Bảng 4.9. ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất bông và hiệu quả kinh tế của các giống (Vụ m−a 2006 tại Ninh Thuận) (Trang 56)
Hình 4.3. Quan hệ giữa NSSVH và LAI của các giống bông ở  các mật độ gieo trồng khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Hình 4.3. Quan hệ giữa NSSVH và LAI của các giống bông ở các mật độ gieo trồng khác nhau (Trang 58)
Hình 4.5. Một số hình ảnh &#34; Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Hình 4.5. Một số hình ảnh &#34; Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng (Trang 60)
Bảng 4.10. ảnh hưởng của các liều lượng phân bón đến quá trình sinh trưởng,   phát triển của các giống bông, vụ m−a 2006 tại Ninh Thuận - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Bảng 4.10. ảnh hưởng của các liều lượng phân bón đến quá trình sinh trưởng, phát triển của các giống bông, vụ m−a 2006 tại Ninh Thuận (Trang 62)
Hình 4.6. ảnh hưởng của phân bón đến động thái LAI  (Tính trung bình cho 3 giống) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Hình 4.6. ảnh hưởng của phân bón đến động thái LAI (Tính trung bình cho 3 giống) (Trang 64)
Bảng 4.12. Động thái tích lũy chất khô của các giống ở các mức   phân bón khác nhau, vụ m−a năm 2006 tại Ninh Thuận - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Bảng 4.12. Động thái tích lũy chất khô của các giống ở các mức phân bón khác nhau, vụ m−a năm 2006 tại Ninh Thuận (Trang 65)
Bảng 4.13. ảnh hưởng của phân bón đến động thái hình thành quả trên cây      qua các giai đoạn của các giống tại Ninh Thuận, vụ m−a 2006 - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Bảng 4.13. ảnh hưởng của phân bón đến động thái hình thành quả trên cây qua các giai đoạn của các giống tại Ninh Thuận, vụ m−a 2006 (Trang 66)
Bảng 4.14. ảnh hưởng của phân bón đến sự phân bố quả trên cành quả - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ phân bón và MEPIQUAT  CHLORIDE đến một số chỉ tiêu sinh lý,sinh trưởng và phát triển của một số giống bông mới ở ninh thuận
Bảng 4.14. ảnh hưởng của phân bón đến sự phân bố quả trên cành quả (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w