Luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Trang 2Lời cam ñoan
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam ñoan các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm
2008
T¸c gi¶ luËn v¨n
Lª VÜnh Té
Lª VÜnh Té
Trang 3Lời cảm ơn
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn lãnh ñạo Trường ñại học nông nghiệp Hà Nội, Khoa sau ñại học, các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn Hệ thống nông nghiệp ñặc biệt là thầy Phạm Tiến Dũng ñã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc Ninh, các phòng ban thuộc UBND huyện Quế Võ, UBND các
xã Mộ ðạo, Nhân Hòa, ðức Long, bà con nông dân trong huyện cùng các ñồng nghiệp và gia ñình ñã giúp ñỡ tôi trong quá trình thực hiện ñề tài
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2008
Tác giả
Lê Vĩnh Tộ
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BV : Bền vững BVTV : Bảo vệ thực vật CCCT : Cơ cấu cây trồng CTLC : Công thức luân canh HQKT : Hiệu quả kinh tế
HT : Hệ thống HTNN : Hệ thống nông nghiệp HTCT : Hệ thống canh tác HTTT : Hệ thống trồng trọt
HST : Hệ sinh thái
KD : Khang dân HSTNN : Hệ sinh thái nông nghiệp
NN : Nông nghiệp NNBV : Nông nghiệp bền vững
NS : Năng suất PTNN : Phát triển nông nghiệp SXNN : Sản xuất nông nghiệp
TPCG : Thành phần cơ giới FAO : Food Agricultural Organization IRRI : International Rice Research Institute
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: ðặc ñiểm một số yếu tố khí hậu thời tiết Huyện Quế Võ…… 34
Bảng 4.2: Các loại ñất ở Huyện Quế Võ………37
Bảng 4.3: Hiện trạng sử dụng ñất Huyện Quế Võ năm 2006 40
Bảng 4.4: Hiện trạng sản xuất trồng trọt qua các năm Huyện Quế Võ… 44
Bảng 4.5: Tình hình chăn nuôi qua các năm Huyện Quế Võ……….46
Bảng 4.6: Giá trị sản xuất của các ngành 47
Bảng 4.7: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế………49
Bảng 4.8: Tình hình dân số lao ñộng của Huyện Quế Võ qua các năm 50
Bảng 4.9: Cơ cấu giống và năng suất một số cây trồng năm 2006 55
Bảng 4.10: Hiện trạng hệ thống giống năm 2006 57
Bảng 4.11: ðầu tư phân bón cho các loại cây trồng trên 1ha năm 2006…59 Bảng 4.12: Hiệu quả ñầu tư phân bón trên lúa năm 2006……… 60
Bảng 4.13: Hiệu quả kinh tế của một số loại cây trồng năm 2006……….62
Bảng 4.14: Hiệu quả kinh tế của một số công thức luân canh chính 66
Bảng 4.15: Thời gian sinh trưởng và các yếu tố cấu thành năng suất……71
Bảng 4.16: Chiều cao của cây ngô qua các giai ñoạn sinh trưởng……….74
Bảng 4.17: Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô………… 76
Bảng 4.18: Hiệu quả kinh tế của ba giống ngô /ha………79
Bảng 4.19: Các yếu tố sinh trưởng của các giống lúa………80
Bảng 4.20: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 82
Bảng 4.21: So sánh hiệu quả kinh tế của các giống lúa 84
Bảng 4.22: Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh…… 86
Bảng 4.23 So sánh hiệu quả giữa công thức luân canh cũ và mới …… 87
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Diễn biến một số yếu tố khí hậu thời tiết Huyện Quế Võ… 35
Hình 4.2: Cơ cấu các loại ñất Huyện Quế Võ……….37
Hình 4.3: Cơ cấu diện tích ñất nông nghiệp………41
Hình 4.4: Giá trị sản xuất của các ngành kinh tế……….48
Hình 4.5: Cơ cấu kinh tế huyện Quế Võ……… 49
Hình 4.6: Hiệu quả kinh tế của một số công thức luân canh chính… 67
(trên ñất cao – ñất vàn) Hình 4.7: Năng suất các giống ñậu tương………72
Hình 4.8: ðộng thái tăng trưởng chiều cao của các giống ngô…………74
Hình 4.9: Hiệu quả kinh tế của các giống ngô……….79
Hình 4.10: Năng suất các giống lúa……….83
Hình 4.11: Hiệu quả kinh tế các giống lúa……… 85
Trang 7MỤC LỤC
Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các hình v
PHẦN 1 MỞ ðẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ðỀ TÀI 1
1.2 MỤC ðÍCH VÀ YÊU CẦU 3
1.2.1 Mục ñích 3
1.2.2 Yêu cầu 3
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ðỀ TÀI 4
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 4
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ðỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
2.1.1 Cơ sở lý luận hệ thống luân canh cây trồng 5
2.1.2 Cơ sở lý luận về cơ cấu cây trồng 6
2.1.2.1 Khái niệm về cơ cấu cây trồng 6
2.1.2.2 Khái niệm về cơ cấu cây trồng hợp lý 7
2.1.2.3 Khái niệm về chuyển ñổi cơ cấu cây trồng 8
2.1.2.4 Vai trò của cơ cấu và việc chuyển ñổi cơ cấu cây trồng hợp lý… 10
Trang 82.1.2.5 Hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồngẦẦẦ Ầ 12
2.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới cây trồngẦẦẦ12
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 20
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26
3.1.1 đánh giá ựiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Quế Võ 26
3.1.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp ở huyện Quế Võ 26
3.1.3 đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống luân canh chắnh hiện có .26
3.1.4 Thử nghiệm một số giống cây trồng mới trong hệ thống canh tác chắnh nhằm chứng minh các ựề xuất 26
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.2.1 đối tượng nghiên cứu 26
3.2.2 địa ựiểm và thời gian nghiên cứu 26
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
3.1.3.1 điều tra ựiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Huyện Quế Võ 27
3.2.3.2 điều tra thực trạng tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Quế Võ 27
3.2.3.3.đề xuất và thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật mới 28
3.2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 31
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
Trang 94.1 ðẶC ðIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN QUẾ VÕ
4.1.1 ðăc ñiểm tự nhiên huyện Quế Võ 33
4.1.1.1 Vị trí ñịa lý 33
4.1.1.2 ðiều kiện thời tiết và khí hậu 33
4.1.1.3 Nguồn nước và chế ñộ thuỷ văn 36
4.1.1.4 Tài nguyên ñất 36
4.1.1.5 Tình hình sử dụng ñất ñai 39
4.1.2 ðăc ñiểm kinh tế xã hội huyện Quế Võ 43
4.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế 43
4.1.2.2 Dân số lao ñộng và giáo dục 50
4.1.2.3 Thực trạng hệ thống kết cấu hạ tầng 51
4.1.2.4 Thực trạng về môi trường 52
4.2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT TRỒNG TRỌT HUYỆN QUẾ VÕ 4.2.1 Cơ cấu giống cây trồng 55
4.2.2 Tình hình ñầu tư phân bón cho cây trồng ……….58
4.3.3 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 61
4.3.4 Hiệu quả kinh tế của một số loại cây trồng 61
4.3.5 Một số công thức luân canh cây trồng chính huyện Quế Võ … 64
4.3 THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CHO HỆ THỐNG TRỒNG TRỌT Ở HUYỆN QUẾ VÕ 4.3.1 Thử nghiệm ñưa một số giống ñậu tương……… 70
4.3.2 Thử nghiệm ñưa một số giống Ngô……… 73
Trang 104.3.3.Thử nghiệm so sánh một số giống lúa lai 80
4.4 CẢI TIẾN HỆ THỐNG TRỒNG TRỌT BẰNG CÁC KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM……… 86 PHẦN 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 11PHẦN 1
MỞ ðẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ðỀ TÀI
Quế Võ là một huyện nông nghiệp ñang chuyển dịch kinh tế mạnh mẽ, nằm ở cửa ngõ phía Bắc của thủ ñô Hà Nội Với diện tích ñất tự nhiên rộng 177,93 km2, trong ñó diện tích ñất sản xuất nông nghiệp 102,78 km2 chiếm 57,7%, dân số 157.995 nhân khẩu (năm 2006) và ñược bao bọc bởi 3 hệ thống sông: sông ðuống, sông Cầu và sông Thái Bình ñã tạo cho huyện Quế Võ những lợi thế rất lớn trong phát triển sản xuất nông nghiệp Ngoài ra với hệ thống giao thông thuận lợi cũng ñưa Quế Võ trở thành một trung tâm công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh Huyện Quế Võ có 24 ñơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: Thị trấn Phố Mới và 23 xã
Trong những năm qua, cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, cơ cấu kinh tế huyện Quế Võ nói chung, cơ cấu sản xuất nông nghiệp nói riêng ñã có những chuyển biến tích cực Sản xuất nông nghiệp ñã phát triển theo hướng toàn diện, ña dạng hoá sản phẩm và từng bước gắn với nhu cầu của thị trường Trong ngành trồng trọt, cơ cấu giống cây trồng ñã và ñang ñược thay ñổi rất lớn Các giống lúa cũ, thoái hoá ñã từng bước ñược thay thế bằng các giống lúa mới có năng suất cao như: Khang Dân, Q5, DV108, Xi23, VH1 v.v… Tuy nhiên chỉ có năng suất cao chưa ñủ mà ngày nay nhu cầu thị trường ñang cần tới chất lượng, ngoài ra các giống lúa ñang trồng phổ biến ở ñây ñang cũ rồi, cần có những thay ñổi giống mới nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm
Cơ cấu trà vụ của Huyện cũng ñược bố trí hợp lý hơn; việc áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh, dịch hại ñã ñược chú trọng Nhiều ñịa phương ñã hình thành vùng sản xuất lúa giống và lúa hàng hoá như xã Mộ ðạo, Cách Bi, Việt Hùng… Ngoài việc sản xuất lúa thì ở nhiều cơ sở ñã ñưa những cây trồng có giá trị kinh tế cao vào sản xuất như:
Trang 12trồng dưa chuột xuất khẩu ở xã Việt Hùng, Phượng Mao, Phương Liễu, Bằng An; cây cà chua ở xã Hàn Quảng, Phương Liễu; cây ớt xuất khẩu ở xã Mộ đạo, Phương Liễu; khoai tây ở xã Việt Hùng, Quế Tân Tuy nhiên vẫn ựang ở mức manh mún nhỏ lẻ, cần phải có những thử nghiệm, chương trình mở rộng các giống năng suất, chất lượng cao ựể tạo thành một vùng hàng hóa
Cùng với sự lớn mạnh của ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi cũng từng bước phát triển điển hình như các chương trình: nuôi bò lai Sind ở xã đào Viên, Chi Lăng; nuôi lợn hướng nạc ở xã Nhân Hoà, Việt Thống, Việt Hùng, Quế Tân Các chương trình này ựã và ựang ựược ựẩy mạnh và nhân rộng Phong trào nuôi cá giống, cá thịt, ngan Pháp, vịt siêu trứng tiếp tục ựược mở rộng Nhiều hộ gia ựình ựã ựầu tư chăn nuôi, cải tạo ruộng trũng sản xuất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản ựem lại hiệu quả kinh tế cao
Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Quế Võ còn chậm, chưa phát huy hết tiềm năng ựất ựai, lao ựộng, một bộ phận cán bộ nhân dân còn giữ nếp nghĩ, cách làm cũ do ựó trong sản xuất nông nghiệp nhiều hộ gia ựình vẫn còn áp dụng những biện pháp kỹ thuật lạc hậu đây chắnh là một trong những lực cản chắnh, ảnh hưởng không nhỏ ựến hiệu quả của chương trình chuyển ựổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Quế Võ cũng như hiệu quả sản xuất trên một ựơn vị diện tắch
đứng trước tốc ựộ ựô thị hoá mạnh mẽ không chỉ riêng ở huyện Quế Võ
và ựặc biệt là sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất ựã làm cho diện tắch ựất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp một cách nhanh chóng Dân số ngày một tăng và một phần không nhỏ người lao ựộng
từ các ựịa phương khác ựược thu hút về các khu công nghiệp ựã tạo nên một
áp lực rất lớn về lương thực, thực phẩm để ựáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho các khu công nghiệp và nhân dân trong Huyện, cũng như góp phần cung cấp cho các ựô thị như Thành phố Bắc Ninh và Hà Nội thì việc tăng
Trang 13năng suất, chất lượng cũng như tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên một ñơn vị diện tích là hết sức bức thiết Ngoài ra việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và cho thu nhập lâu dài ñã và ñang là một trong những nhiệm vụ hàng ñầu của cán bộ và nhân dân trong Huyện ðứng trước những yêu cầu thực tiễn ñó, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu ñề tài:
“Nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại Huyện Quế
Võ - Tỉnh Bắc Ninh.”
1.2 MỤC ðÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1 Mục ñích
- Xác ñịnh, ñề xuất và thử nghiệm tiến tới phát triển ứng dụng ñại trà một
số biện pháp kỹ thuật cho hệ thống trồng trọt huyện Quế Võ, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và mức sống của người dân trong Huyện cũng như ñáp ứng ñược nhu cầu ngày càng cao của công nhân ở các khu công nghiệp và các ñô thị xung quanh Góp phần phát triển một nền nông nghiệp bền vững ở huyện Quế Võ nói riêng và tỉnh Bắc Ninh nói chung
Trang 141.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA đỀ TÀI
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của ựề tài sẽ góp phần bổ sung vào phương pháp luận trong việc nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp, biện pháp kỹ thuật và các công thức luân canh cây trồng Ngoài ra còn giúp ựịnh hướng việc sử dụng hợp lý tài nguyên ựất, nước và các tài nguyên thiên nhiên khác theo quan ựiểm sinh thái và nông nghiệp bền vững cũng như tận dụng tối ưu nguồn nhân lực của ựịa phương
- Việc xác ựịnh, ựề xuất và thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật cho hệ thống trồng trọt ở huyện Quế Võ là một trong những cơ sở quan trọng trong việc xác ựịnh và áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới, các cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý và bền vững ở các huyện khác của tỉnh Bắc Ninh cũng như các vùng khác có ựiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tương tự trong cả nước
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Việc thực hiện ựề tài góp phần nâng cao nhận thức và trình ựộ sản xuất của người dân Nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế xã hội cho huyện Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
- đáp ứng ựược nhu cầu lương thực, thực phẩm an toàn ngày càng cao của nhân dân trong vùng cũng như góp phần cung cấp cho các ựô thị xung quanh ựồng thời tạo nên một vùng hàng hoá xuất khẩu Ngoài ra việc tăng hiệu quả sản xuất trên một ựơn vị diện tắch cũng giúp cho việc chuyển ựổi cũng như phát triển các khu công nghiệp một cách mạnh mẽ trong ựịa bàn Huyện cũng như trong Tỉnh Bắc Ninh
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN đỀ NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Cơ sở lý luận hệ thống luân canh cây trồng
Hệ thống cây trồng (Cropping Systems), trên thế giới có rất nhiều cách
hiểu khác nhau, Zandstra (1981) [49] cho rằng hệ thống cây trồng là thành phần các giống và loài cây ựược bố trắ trong không gian và thời gian của một
hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế Ờ xã hội Hay hệ thống cây trồng là hoạt ựộng sản xuất cây trồng trong nông trại, bao gồm tất cả các hợp phần cần có ựể sản xuất một tổ hợp các cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường Các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý và sinh học cũng như kỹ thuật, lao ựộng và quản lý Cũng có thể hiểu một cách ngắn gọn hệ thống cây trồng là các hình thức ựa canh bao gồm trồng xen, trồng gối, luân canh, trồng thành băng, canh tác phối hợp, vườn hỗn hợp, v.v Ầ Trong ựó hệ thống luân canh cây trồng có vai trò rất lớn, nó góp phần tăng hiệu quả sản xuất trên một ựơn vị diện tắch cũng như khai thác tối ựa ựiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ngoài ra ựây là một trong những biện pháp sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên ựất, nước một cách có hiệu quả
Theo Viện sỹ đào Thế Tuấn thì hệ thống luân canh cây trồng là một tổ hợp về không gian và thời gian của các loại cây trồng trên một mảnh ựất và các biện pháp canh tác dùng ựể sản xuất chúng Tuy nhiên do hệ thống luân canh cây trồng mang tắnh biến ựộng nên khi tiến hành nghiên cứu hệ thống luân canh cây trồng không thể dừng lại ở một không gian và thời gian nhất ựịnh rồi kết thúc mà phải làm thường xuyên ựể tìm ra những xu thế phát triển, các yếu tố hạn chế và những giải pháp khắc phục ựể chuyển ựổi hệ thống luân canh cây trồng nhằm khai thác hợp lý ngày càng có hiệu quả các nguồn tài
Trang 16nguyên thiên nhiên, tăng hiệu quả kinh tế, xã hội phục vụ cuộc sống của con người (đào Thế Tuấn, 1984) [40]
Việc xác ựịnh hệ thống luân canh cây trồng hợp lý ngoài việc tăng hiệu quả sản xuất trên một ựơn vị diện tắch, góp phần tăng thu nhập cho hộ nông dân, thì nó còn là một trong những biện pháp chắnh trong việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững
2.1.2 Cơ sở lý luận về cơ cấu cây trồng
2.1.2.1 Khái niệm về cơ cấu cây trồng
Trong việc xác ựịnh hệ thống luân canh cây trồng hợp lý, việc phát triển nền nông nghiệp bền vững thì một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công ựó là việc xác ựịnh hợp lý cơ cấu cây trồng
Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây trồng có trong một vùng ở một thời ựiểm nhất ựịnh, nó phản ánh sự phân công lao ựộng trong nội
bộ ngành nông nghiệp, phù hợp với ựiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, nhằm cung cấp ựược nhiều nhất những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người (đào Thế Tuấn,1984)[40]; (Cao Liêm, Trần đức Viên, 1990)[21]
Cũng theo Viện sỹ đào Thế Tuấn, 1984, cơ cấu cây trồng là một trong những nội dung quan trọng của một hệ thống biện pháp kỹ thuật gọi là chế ựộ canh tác Ngoài cơ cấu cây trồng, chế ựộ canh tác bao gồm chế ựộ luân canh, làm ựất, bón phân, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại Cơ cấu cây trồng
là yếu tố cơ bản nhất của chế ựộ canh tác, vì chắnh nó quyết ựịnh nội dung của các biện pháp khác Ngoài ra cơ cấu cây trồng còn là thành phần của một nội dung rộng hơn gọi là cơ cấu sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp như trên ựã nói bao gồm nhiều ngành sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản (đào Thế Tuấn, 1984) [40]
Nghiên cứu cơ cấu cây trồng là một trong những biện pháp kinh tế kỹ
Trang 17thuật nhằm mục ựắch sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, nâng cao năng suất cây trồng và chất lượng sản phẩm (Nguyễn Duy Tắnh, 1995) [35] Xác ựịnh cơ cấu cây trồng còn là nội dung của phân vùng sản xuất nông nghiệp Muốn làm ựược công tác phân vùng sản xuất nông nghiệp, trước hết phải xác ựịnh cơ cấu cây trồng hợp lý nhất ựối với mỗi vùng đây là một công việc không thể thiếu ựược nếu chúng ta xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn (đào Thế Tuấn, 1962) [38]
2.1.2.2 Khái niệm về cơ cấu cây trồng hợp lý
Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự ựịnh hình về mặt tổ chức cây trồng trên ựồng ruộng về số lượng, tỷ lệ, chủng loại, vị trắ và thời ựiểm, có tắnh chất xác ựịnh lẫn nhau, nhằm tạo ra sự cộng hưởng các mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây trồng với nhau ựể khai thác và sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý nhất các nguồn tài nguyên cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (đào Thế Tuấn, 1978) [39]
Dựa trên quan ựiểm sinh học đào Thế Tuấn (1978) [39] cho rằng, bố trắ
cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn một cấu trúc cây trồng trong hệ sinh thái nhân tạo, làm thế nào ựể ựạt năng suất sơ cấp cao nhất Về mặt kinh tế, cơ cấu cây trồng hợp lý cần thỏa mãn yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao, bảo ựảm việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chắnh và phát triển chăn nuôi, tận dụng nguồn lợi tự nhiên, ngoài ra còn phải ựảm bảo việc ựầu tư lao ựộng
và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao
Theo Phùng đăng Chinh và CTV (1987) [7], đào Thế Tuấn (1989) [42],
cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với ựiều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của vùng Cơ cấu cây trồng hợp lý còn thể hiện tắnh hiệu quả của mối quan hệ giữa các loại cây trồng ựược bố trắ trên ựồng ruộng, làm cho sản xuất ngành trồng trọt phát triển toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc theo hướng sản xuất thâm canh gắn với ựa canh, sản xuất hàng hoá và có hiệu quả
Trang 18kinh tế cao Cơ cấu cây trồng là một thực tế khách quan, nó ựược hình thành
từ ựiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể và vận ựộng theo thời gian
Cơ cấu cây trồng hợp lý còn biểu hiện qua việc phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải biến hệ thống cây trồng cũ hoặc phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng, ựảm bảo cho các thành phần trong
hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc ựẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về ựiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991) [31] Xác ựịnh cơ cấu cây trồng hợp lý ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây trồng với ựiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cần phải dựa trên phương hướng sản xuất của mỗi vùng Phương hướng sản xuất quyết ựịnh cơ cấu cây trồng, nhưng cơ cấu cây trồng lại là cơ sở hợp lý cho các nhà hoạch ựịnh chắnh sách xác ựịnh phương hướng sản xuất (Phạm Chắ Thành và CTV, 1996) [27]
2.1.2.3 Khái niệm về chuyển ựổi cơ cấu cây trồng
Chuyển ựổi cơ cấu cây trồng là sự thay ựổi theo tỷ lệ % của diện tắch
gieo trồng, nhóm cây trồng, của cây trồng trong nhóm hoặc trong tổng thể và
nó chịu sự tác ựộng, thay ựổi của yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội Quá trình chuyển ựổi cơ cấu cây trồng là quá trình thực hiện bước chuyển từ hiện trạng
cơ cấu cây trồng cũ sang cơ cấu cây trồng mới (đào Thế Tuấn,1978) [39] Theo Nguyễn Duy Tắnh (1995) [35] cho rằng, việc chuyển ựổi cơ cấu cây trồng là cải tiến hiện trạng cơ cấu cây trồng có trước sang cơ cấu cây trồng mới nhằm ựáp ứng những yêu cầu của sản xuất Thực chất của chuyển ựổi cơ cấu cây trồng là thực hiện hàng loạt các biện pháp (kinh tế, kỹ thuật, chắnh sách xã hội ) nhằm thúc ựẩy cơ cấu cây trồng phát triển, ựáp ứng những mục tiêu của xã hội Cải tiến cơ cấu cây trồng có vai trò rất quan trọng
Trang 19nhất là trong ñiều kiện mà ở ñó kinh tế thị trường có nhiều tác ñộng ảnh hưởng ñến sản xuất nông nghiệp
ðể nghiên cứu cải tiến cơ cấu cơ cấu cây trồng phải ñánh giá thực trạng, xác ñịnh cơ cấu cây trồng phù hợp với thực tế phát triển cả về ñịnh lượng và ñịnh tính, dự báo ñược mô hình sản xuất trong tương lai; phải kế thừa những
cơ cấu cây trồng truyền thống và xuất phát từ yêu cầu thực tế, hướng tới tương lai ñể kết hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội (Lê Trọng Cúc và CTV, 1995) [3]
Chuyển ñổi cơ cấu cây trồng chính là phá vỡ thế ñộc canh trong trồng trọt nói riêng và trong nông nghiệp nói chung, ñể hình thành một cơ cấu cây trồng mới phù hợp và có hiệu quả kinh tế cao, dựa vào ñặc tính nông sinh học của từng loại cây trồng và ñiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể của từng vùng (Lê Duy Thước, 1997) [33]
Chuyển ñổi cơ cấu cây trồng phải ñược bắt ñầu bằng việc phân tích hệ thống canh tác truyền thống Chính từ kết quả ñánh giá phân tích ñặc ñiểm của hệ thống cây trồng tại khu vực nghiên cứu mới tìm ra ñược các hạn chế và lợi thế, so sánh ñể ñề xuất cơ cấu cây trồng hợp lý Khi thực hiện chuyển ñổi
cơ cấu cây trồng cần phải ñảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải căn cứ vào yêu cầu thị trường
- Phải khai thác hiệu quả các tiềm năng về ñiều kiện tự nhiên và ñiều kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùng
- Bố trí cơ cấu cây trồng phải biết lợi dụng triệt ñể những ñặc tính sinh học của mỗi loại cây trồng, ñể bố trí cây trồng phù hợp với các ñiều kiện ngoại cảnh, nhằm giảm tối ña sự phá hoại của dịch bệnh và các ñiều kiện thiên tai khắc nghiệt gây ra
- Việc chuyển ñổi cơ cấu cây trồng phải tính ñến sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật ñó vào sản xuất nông nghiệp
Trang 20- Về mặt kinh tế, việc chuyển ựổi cơ cấu cây trồng phải ựảm bảo có hiệu quả kinh tế cao, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng là tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản bằng cách áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào hệ thống cây trồng hiện tại hoặc ựưa ra những hệ thống cây trồng mới Hướng vào các hợp phần tự nhiên, sinh học, kỹ thuật, lao ựộng, quản lý, thị trường, ựể phát triển cơ cấu cây trồng trong những ựiều kiện mới nhằm ựem lại hiệu quả kinh tế cao nhất (Lê Minh Toán, 1998) [34]
2.1.2.4 Vai trò của cơ cấu và việc chuyển ựổi cơ cấu cây trồng hợp lý
Những năm 60 - 70 của thế kỷ XX, đào Thế Tuấn cùng các CTV ở Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam ựã tiến hành nghiên cứu về cơ cấu cây trồng vùng ựồng bằng châu thổ sông Hồng và ựã ựưa ra nhận ựịnh về những yêu cầu cần ựạt ựược của một cơ cấu cây trồng thắch hợp là phải:
Khai thác tốt nhất các ựiều kiện khắ hậu và tránh hoặc giảm ựược những tác hại của thiên tai ựối với cây trồng
Khai thác tốt nhất các ựiều kiện ựất ựai, bảo vệ và bồi dưỡng ựộ phì của ựất
Khai thác tốt nhất các ựặc tắnh sinh học của cây trồng (khả năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt, ngắn ngày, thắch ứng rộng, khả năng chống chịu cao) nhằm ựạt ựược hiệu quả sản xuất cao nhất
Tránh ựược tác hại của sâu bệnh, cỏ dại và các tác nhân sinh học khác với phương pháp sử dụng ắt nhất các biện pháp hoá học
đảm bảo tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao, ựảm bảo hiệu quả kinh tế cao
đảm bảo hỗ trợ cho các ngành sản xuất chắnh và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi thiên nhiên (đào Thế Tuấn, 1989) [42]
Trên những vùng ựất bạc màu huyện Quế Võ; việc xây dựng ựược những
Trang 21cơ cấu cây trồng hợp lý, ñặc biệt là ñưa cây họ ñậu vào cơ cấu cây trồng chắc chắn sẽ từng bước bồi dưỡng và nâng cao ñộ phì của ñất, ñồng thời lựa chọn các giống cây trồng mới có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, sẽ né tránh ñược các yếu tố khí hậu bất thuận của vùng như lụt, bão, hạn, rét Trên
cơ sở ñó, với các giống cây trồng hợp lý sẽ có sản phẩm nông nghiệp, bởi sự
có mặt của nhiều cây trồng trong cơ cấu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trên ñơn vị diện tích, ña dạng hóa sản phẩm, ñáp ứng với yêu cầu của thị trường, nâng cao tính thương mại của sản phẩm
Cơ cấu cây trồng hợp lý có vai trò quan trọng thúc ñẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất cây trồng, tăng giá trị hàng hoá, tăng thu nhập của người dân bản ñịa Do vậy, xác ñịnh cơ cấu cây trồng phải dựa trên cơ sở:
Các yếu tố khí hậu như chế ñộ nhiệt, chế ñộ mưa, bão,
Các yếu tố ñất ñai như thành phần cơ giới, thành phần hóa học và ñặc ñiểm ñịa hình của ñất
Yếu tố cây trồng, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn loại cây trồng tận dụng ñược tốt nhất các ñiều kiện khí hậu, ñất ñai và tài nguyên khác
Bố trí cơ cấu cây trồng là xây dựng một hệ sinh thái nhân tạo Mối quan hệ giữa các sinh vật và cây trồng trong cộng sinh, ký sinh Vì vậy, cải tiến cơ cấu cây trồng tạo nên những quan hệ có tỷ lệ mới phù hợp nhất, có hiệu quả, góp phần phát triển bền vững hệ sinh thái (Phạm Chí Thành, Trần ðức Viên, 2000) [28]
Như vậy, tiến hành nghiên cứu chuyển ñổi cơ cấu cây trồng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng một nền nông nghiệp ña dạng, tạo nhiều nông sản hàng hoá cũng như các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao Chuyển ñổi cơ cấu cây trồng là góp phần giải quyết việc làm cho lao ñộng ở những vùng nông thôn
Trang 222.1.2.5 Hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng
Sau khi xác ñịnh cơ cấu cây trồng cần phải tính toán ñến giá trị kinh tế
Cơ cấu cây trồng mới phải ñạt giá trị kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ Tất nhiên yêu cầu kinh tế cao thì các loại cây trồng ñều phải ñạt năng suất cao, nhưng do tăng vụ nên có thể một số vụ, một số cây trồng năng suất không cao
vì vậy khi hạch toán còn cần phải chú ý ñến vấn ñề phân công xã hội Sản phẩm nông nghiệp phải ñảm bảo lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp, thức ăn cho gia súc và sản phẩm làm hàng hóa
ðặc ñiểm của sản xuất nông nghiệp bền vững là phải sản xuất ña dạng, ngoài cây trồng chủ yếu, cần bố trí cây trồng bổ sung ñể tận dụng ñiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng và của cơ sở sản xuất Về mặt kinh tế cơ cấu cây trồng cần phải ñạt ñược các yêu cầu sau:
- Bảo ñảm yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao
- ðảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên
- ðảm bảo việc ñầu tư lao ñộng và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao
- ðảm bảo giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ Việc ñánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một
số chỉ tiêu năng suất, giá thành, thu nhập (giá trị bán sản phẩm sau khi ñã trừ
ñi chi phí ñầu tư) và mức lãi (% của thu nhập so với ñầu tư) Khi ñánh giá giá trị kinh tế của cơ cấu cây trồng cần dựa vào năng suất bình quân của cây trồng
và giá cả thu mua của thị trường [11]
Do ñó, ñể nâng cao hiệu quả kinh tế cao của toàn vùng, chỉ có thể thực hiện trên cơ sở ñã xây dựng một cơ cấu cây trồng hợp lý của tiểu vùng
2.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới cây trồng
* Giống:
Trang 23Giống cây trồng là một nhóm cây trồng có ñặc ñiểm kinh tế, sinh học và các tính trạng hình thái giống nhau, cho năng suất cao, chất lượng tốt ở các vùng sinh thái giống nhau và ñiều kiện kỹ thuật phù hợp Vì vậy, giống cây trồng phải mang tính khu vực hoá, tính di truyền ñồng nhất và không ngừng thoả mãn nhu cầu của con người (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [16]
Lúa lai là một tiến bộ kỹ thuật về di truyền học của thế kỷ XX ñã và ñang ứng dụng trên thế giới Ưu thế lai (ƯTL - Heterosis) là thuật ngữ ñể chỉ sự vượt trội của con lai F1 so với bố mẹ của chúng về các ñặc tính hình thái, khả năng sinh trưởng, sức sống, sức sinh sản, khả năng chống chịu và thích nghi; năng suất, chất lượng hạt và các ñặc tính năng suất khác
Vào năm 1983, Việt Nam bắt ñầu nghiên cứu lúa lai tại Hậu Giang và Hà Nội (Nguyễn Bá Thông, 2001) [29], nguồn vật liệu sử dụng trong việc nghiên cứu ñược nhập chủ yếu từ Viện lúa quốc tế (IRRI), xong ñây chỉ là những nghiên cứu mới ở giai ñoạn ñầu tìm hiểu về lúa lai ðến năm 1990, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn ñã cho phép một số tổ hợp lai ñược trồng thử vào vụ Xuân ở ðồng bằng Bắc Bộ và kết quả cho thấy các tổ hợp lúa lai cho năng suất cao hơn hẳn lúa thuần Nếu so với lúa thuần như giống CR203 thì lúa lai cao hơn từ 200- 1500kg/ha/vụ (Nguyễn Thị Trâm, 2002) [37]
Ở Việt nam diện tích lúa lai 2 dòng chiếm khoảng 100.000ha, lúa lai 3 dòng chiếm 380.000 ha, một số tổ hợp lúa lai mới có triển vọng như là Việt lai 20 (Bùi Bá Bổng, 2002) [2], giống lúa Việt lai 24(Nguyễn Văn Hoan và
Vũ Hồng Quảng, 2005) [17]
Trong những năm gần ñây nhiều ñịa phương ñã sử dụng các giống lúa lai, ở một số tỉnh phía Bắc diện tích lúa lai tăng lên rất nhanh ở các tỉnh như: Nam ðịnh, Thanh Hoá, Nghệ An, Ninh Bình, Hà Nam và Phú Thọ Ngoài ra, diện tích gieo trồng lúa lai còn ñược mở rộng ra các tỉnh ở miền Trung và Tây Nguyên như: Quảng Nam, ðaklak Ở một số vùng có trình ñộ thâm canh cao, năng suất lúa lai ñã ñạt ñược 13- 14 tấn/ha/vụ [13]
Trang 24Hướng tới ngành sản xuất lúa gạo của Việt Nam sẽ phát triển thành ngành sản xuất hàng hoá lớn, năng suất cao, chất lượng tốt, hiệu quả kinh tế cao và có tiềm năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế ðịnh hướng trong thời gian tới là tiếp tục phát triển lúa lai, mở rộng diện tích hàng năm trên 500 nghìn ha và ñến năm 2010 diện tích lúa lai ñạt 1 triệu ha, với năng suất bình quân là 65- 70 tạ/ha (Quách Ngọc Ân) [1]
* Phân bón:
Trong lịch sử nông nghiệp thế giới, các hệ thống nông nghiệp khác nhau,
do trình ñộ thâm canh khác nhau, mà chủ yếu là do khả năng bồi dưỡng ñất khác nhau, ñã cho năng suất rất khác nhau
Sang thế kỷ XX, nền nông nghiệp hiện ñại, nhờ sự phát triển của công nghệ sản xuất phân hoá học ñã khiến cho năng suất tăng gấp ñôi so với năng suất của nền nông nghiệp truyền thống, chỉ dựa vào chăn nuôi
Qua nghiên cứu người ta thấy khi giảm một nửa lượng phân ñạm trong trồng trọt, năng suất cây trồng giảm 22 lần nếu xét trong giai ñoạn ngắn và 25 – 30% trong trung hạn Lợi nhuận nông trại giảm 40%, thu nhập giảm 12%, tổng sản lượng hoa màu giảm 40% Do vậy công nghiệp chế biến giảm, xuất khẩu nông phẩm giảm, ñể ñảm bảo tiêu dùng phải nhập khẩu khiến cho giá ngũ cốc trên thị trường thế giới tăng 5%
Ở Việt Nam người nông dân cũng ñã sử dụng phân bón cho lúa từ rất lâu ñời Từ việc phát nương ñốt rẫy, ñể lại tro rồi chọc lỗ gieo hạt, gặt lúa, ñốt
Trang 25rơm rạ ngay tại ruộng sau ñó mới cho nước vào cày bừa, cấy, … và ñánh giá ñúng vai trò của nguyên tố tro với cây trồng
Khi công nghệ sản xuất phân hoá học ra ñời ñã làm thay ñổi bộ mặt nền nông nghiệp Việt Nam, chuyển từ nền nông nghiệp hữu cơ sang nền nông nghiệp hiện ñại
Lịch sử sử dụng phân hoá học ở nước ta có thể chia làm 3 giai ñoạn Trước năm 1972, nông dân chủ yếu dùng ñạm ñể bón Lân và kali không mấy ai dùng
Từ năm 1972 – 1992 sau ñạm, lân ñược dùng phổ biến trên nhiều vùng ñất trồng lúa
Từ năm 1992 trở lại ñây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các giống lúa lai nhu cầu sử dụng phân Kali tăng mạnh mẽ Theo tài liệu Trung Quốc công bố thì lúa lai rất nhạy cảm với kali, thường phải bón trên 200kg K2O/ha
So với ñối chứng không bón kali năng suất giống lúa lai Shanyou2 tăng 1,6 – 1,7 tấn/ha, Aiyou2 tăng 1,7 tấn/ha và Shanyou6 tăng từ 0,9 – 1,4 tấn/ha
Hiện nay diện tích ñất nông nghiệp không tăng mà còn có xu hướng giảm
do ñất ñược sử dụng vào nhiều mục ñích khác, trong khi ñó nhu cầu lương thực không giảm Vì vậy, ñể ñảm bảo an toàn lương thực thì phải tăng năng suất cây trồng và sử dụng phân hoá học là 1 giải pháp hữu hiệu ñể tăng năng suất Do ñó có thể thấy rằng nhu cầu sử dụng phân hoá học ngày càng tăng trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
Trang 262.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng và thay ựổi công thức luân canh ựược quan tâm ở hầu hết các quốc gia trên thế giới nhất là ở Châu Á, nơi ựược coi
là cái nôi của lúa gạo do chiếm tới 90% diện tắch và sản lượng lúa gạo của thế giới, nơi ựã diễn ra cuộc ỘCách mạng xanhỢ giữa thế kỷ XX
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà khoa học của các nước Châu
Á ựã ựi sâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng trên ựất lúa theo hướng lấy cây lúa làm nền, tăng cường phát triển các loại cây hoa màu, chế ựộ xen canh, gối vụ ngày càng ựược chú ý nghiên cứu Ở châu Á hình thành ỘMạng lưới hệ canh tác châu ÁỢ- một tổ chức hợp tác nghiên cứu giữa Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) với nhiều quốc gia trong vùng, nhằm giải quyết 3 vấn ựề: + Tăng vụ bằng trồng cây ngắn ngày ựể thu hoạch trước mùa mưa lũ; + Thử nghiệm tăng vụ màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh tăng vụ;
+ Xác ựịnh hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh, tìm và khắc phục những yếu tố hạn chế ựể phát triển công thức ựạt hiệu quả cao (Lý Nhạc
và các cộng sự, 1987) [23]
Như ở Thái Lan bằng việc chuyển vụ lúa xuân sang trồng ựậu tương trong hệ thống lúa xuân Ờ lúa mùa hiệu quả thấp do ựộc canh và thiếu nước tưới ựã làm tăng hiệu quả kinh tế lên gấp ựôi, ựồng thời ựộ phì của ựất cũng ựược tăng lên rất nhiều (Bùi Quang Toản, 1992) [36]
Cũng theo Trần đức Viên ở Myanma, mô hình canh tác lúa Ờ cá ựã làm tăng năng suất lên 20%, mặc dù 10% diện tắch ựất ựã sử dụng làm mương rãnh và bờ bao Hệ thống này ựã làm giảm sử dụng phân hoá học, giảm cỏ dại
và sâu bệnh gây hại Ở làng Khaw Khok miền đông Bắc Thái Lan nông dân mất 30% diện tắch cấy lúa ựể làm bờ ngăn, mương, ao ươm cá cho mô hình
Trang 27canh tác lúa – cá, nhưng lại làm tăng năng suất lên 20%, cùng với 300 kg cá Theo nhiều nghiên cứu của Viện nghiên cứu cây lương thực Tây JAVA (Indonesia) cho thấy tình trạng ñộc canh lúa trên ñất trũng cùng với việc tăng cường sử dụng năng lượng hóa thạch, tất yếu sẽ dẫn ñến những hậu quả khôn lường Các nhà khoa học ở ñây ñã cùng nông dân ñưa ra nhiều mô hình canh tác mới, trong ñó mô hình canh tác lúa – cá là hệ thống duy trì lâu bền sức sản xuất của ñất, tăng thu nhập và cải thiện ñáng kể ñời sống dinh dưỡng cho người nông dân
Ở Ấn ðộ, các nhà khoa học ñã ñề cập ñến cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý phụ thuộc vào ñiều kiện canh tác, các chính sách và giá cả nông sản hàng hoá Do ñó, hàng loạt các công thức luân canh cho các vùng, tiểu vùng sinh thái ñược khảo nghiệm, triển khai trên diện rộng và ñã cho hiệu quả cao Cũng ở Ấn ðộ thông qua các chương trình phối hợp nghiên cứu từ năm
1960 ñến 1972 lấy hệ thống luân canh tăng vụ chu kỳ 1 năm làm hướng chiến lược phát triển nông nghiệp, các nhà khoa học ñã ñưa ra kết luận: Hệ thống canh tác ưu tiên cây lương thực chu kỳ 1 năm 2 vụ ngũ cốc, ñưa thêm vào 1
vụ ñậu ñỗ ñã ñáp ứng ñược 3 mục tiêu là khai thác tối ưu tiềm năng của ñất ñai, ảnh hưởng tích cực ñến ñộ phì nhiêu của ñất trồng và ñảm bảo lợi ích của người nông dân Nhờ có việc phát triển nhiều giống cây trồng cùng với việc
bố trí lại cơ cấu cây trồng hợp lý ñã ñưa Ấn ðộ từ một nước thường xuyên thiếu lương thực trở thành một nước ñủ ăn và có dư thừa ñể xuất khẩu, một cường quốc về nông nghiệp (Hoàng Văn ðức, 1992) [15]
Nhiều chuyên gia phát triển nông thôn ñã và ñang chủ trương xây dựng
hệ thống nông lâm ngư kết hợp ở những vùng trũng, nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống canh tác và tính ổn ñịnh của chúng Giai ñoạn ñầu khi thiết lập
mô hình, việc trồng rau trên các bờ giữ nước nuôi cá có vai trò quan trọng Các loại rau thông dụng không ñòi hỏi ñầu tư lớn Rau ñược tưới ñủ nước
Trang 28bằng nguồn nước trong ruộng hay ao Rau xanh nhanh cho thu nhập và giúp nông dân có nguồn thu hàng ngày Cùng với trồng rau có thể trồng các cây ựa mục ựắch như cỏ voi, cây keo ựậu,Ầ vừa làm thức ăn cho cá và gia súc, vừa
là băng chắn gió và cung cấp củi ựun Các loại cây này còn là giá leo cho nhiều loại ựậu ựỗ, cây thuốc Mặt khác có nhiều cây cối, chim chóc về nhiều góp phần kiểm soát côn trùng gây hại mùa màng, nâng cao tắnh ựa dạng về loài trong hệ sinh thái Có thể trồng cây ăn quả trên bờ ao, nhiều nông dân Philippin ựã trồng chuối trên bờ ruộng lúa - cá, và chuối ựã cho họ một nguồn thu lớn (Julian G.1992) (Dẫn theo Trần đức Viên) [46]
Ở đài Loan, hệ thống canh tác ựược thực hiện trên cơ sở hệ thống canh tác thâm canh ngắn, xen giữa lúa và sau lúa, với công thức luân canh: Lúa - Lúa - Rau hoặc đậu tương; Lúa - Rau - Lúa hoặc đậu tương; Lúa - Dưa vàng
- Lanh hoặc Cải dầu
Ở Trung Quốc, ựã xác ựịnh ựược hệ thống canh tác hợp lý trên các ựất 2
vụ lúa với hệ thống canh tác chủ yếu là 2 vụ lúa và 1 vụ lúa mỳ hoặc khoai tây, cải, ựậu Hà LanẦ Trên các vùng ựất lúa 1 vụ hệ thống canh tác thường là
1 vụ lúa và 1 vụ cây trồng cạn (Triệu Kỳ Quốc, 1992) [18]
Một số nước ở khu vực đông nam Á ựã có nhiều công trình nghiên cứu
về hệ thống nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, kết quả nghiên cứu ựã góp phần nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất của cây trồng Ở Philippin
ựã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các loại ựất cao và thấp trong ựiều kiện có tưới và nhờ nước trời Còn Indonesia ựã thử nghiệm các mô hình tăng vụ và ựa dạng hoá cây trồng trên các loại ựất có tưới 10 tháng, 7 tháng và
5 tháng Những mô hình thử nghiệm có 3 vụ lúa, 2 vụ lúa, 2 vụ lúa - 1 vụ màu, 1 vụ lúa - 1 vụ màu ựã ựược áp dụng và nhân ra diện rộng, các cây màu chủ yếu là cây họ ựậu, các loại rau, ngô
Từ mối quan hệ giữa cây trồng với môi trường và quản lý nông nghiệp,
Trang 29Bill Mollison (1994) [50] ñã ñưa ra phương pháp nghiên cứu hệ thống luân canh cây trồng mới với hệ canh tác ñơn giản ñể thay thế hệ thống canh tác cũ, nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng sinh học, có tiềm lực về mặt kinh tế,
có khả năng thoả mãn các nhu cầu của con người mà không bóc lột ñất ñai, ô nhiễm môi trường
Trong nhiều nghiên cứu sử dụng khai thác hợp lý ñất dốc ở Thái Lan thì việc trồng cây họ ñậu thành băng theo ñường ñồng mức góp phần hạn chế chống xói mòn rất hiệu quả Hệ thống trồng xen cây họ ñậu với cây lương thực trên ñất dốc ngoài việc làm tăng năng suất cây trồng thì ñất còn ñược cải tạo nhờ ñược tăng cường thêm chất hữu cơ tại chỗ và tăng nguồn vi sinh vật
có ích trong ñất Qua ñó bình quân lương thực của Thái Lan trong 10 năm (1977 - 1987) ñã tăng 3%, trong ñó lúa gạo tăng 2,4%, ngô tăng 6,1%, ngoài
ra các cây trồng có giá trị kinh tế cao như dừa, cao su, cà phê, chè cũng ñược chú ý phát triển… nhờ sản xuất nông nghiệp theo hướng ña cây trồng, ña thời
vụ gắn với thị trường nên giá trị nông sản ñã chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu (Nguyễn ðiền, 1997)[14]
Mô hình canh tác hỗn hợp ở những vùng trũng bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, nghề cá, nghề phụ ñã làm ña dạng hóa sản phẩm, ña dạng hóa nguồn thu nhập ðây là một cách tốt nhất giúp cho người nghèo tránh ñược những rủi ro, góp phần tăng nguồn thu tiền mặt hàng ngày, nên mô hình: lúa -
cá - gia cầm - rau ñược gọi là ngân hàng sống (Living bank) của nông dân sản xuất nhỏ (theo Janet) (Dẫn theo Trần ðức Viên 1998) [46]
Nhìn chung trên thế giới, các nhà khoa học nông nghiệp ñã và ñang tập trung nghiên cứu cải tiến các hệ thống canh tác bằng cách ñưa thêm và thay thế một số cây trồng mới vào hệ thống canh tác cũ, chuyển ñổi cơ cấu cây trồng, phát triển mô hình nông, lâm, ngư kết hợp nhằn nâng cao năng suất,
Trang 30chất lượng nông sản phẩm cũng như ựa dạng về chủng loại ựể phục vụ nhu cầu phát triển của xã hội ựồng thời nâng cao thu nhập cho người nông dân
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nền nông nghiệp nước ta từ những thời kỳ xa xưa cũng ựã có một hệ thống cây trồng khá phong phú và ựược phát sinh từ rất sớm với lịch sử dân tộc Trong cuốn ỘVân ựài loại ngữỢ, tác giả Lê Quý đôn - một học giả nổi tiếng của Việt Nam ựã ghi chép nhiều về các giống lúa tẻ, lúa nếp mà dân ta thường gieo cấy
từ thời tiền Lê (980-1005) (Bùi Huy đáp, 1985) [10]
Cùng với lúa nước là loại cây lương thực chủ yếu, trong cơ cấy cây trồng
ở nước ta sớm ựã có thêm rất nhiều loại cây khác, bao gồm cả cây nhiệt ựới, á nhiệt ựới và một số rau ôn ựới Những giống cây trồng di thực từ phương Bắc xuống hoặc từ phương Nam lên, ựặc biệt là từ khi Thực dân Pháp ựô hộ nước
ta thì số lượng các loại cây trồng mới từ các lục ựịa khác ựem vào nước ta ngày càng nhiều và ựã làm cho hệ thống cây trồng ở một số vùng có những thay ựổi ựáng kể (Bùi Huy ựáp, 1993) [11]
Dưới thời thuộc Pháp (1867 - 1945), nhiều giống cây trồng mới ựã ựược tuyển chọn trong nước hoặc du nhập từ nước ngoài vào sản xuất trong nước ở các ựồn ựiền như cà phê, cam, quýt, chèẦ và ựặc bệt là cây cao su; cây cao
su ựã ựược trồng với quy mô rộng lớn ở phắa nam, Tây Nguyên và ựược mở rộng ra ựến tận Thanh Hoá Tuy nhiên, dù thời nào ựi nữa thì ở nước ta cây lúa nước vẫn là cây trồng chắnh Năm 1880, Việt Nam ựã xuất khẩu 300.000 tấn gạo cho các nước thuộc ựịa của Pháp (Mai Văn Quyền, 1996)[20]
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khi mà năng suất lúa chiêm bình quân toàn miền Bắc chỉ ựạt 13,61tạ/ha, các nhà khoa học ựã dày công nghiên cứu ựưa vụ lúa xuân trở thành vụ sản xuất chắnh, thay thế dần cho vụ lúa chiêm Một hệ thống gieo cấy lúa xuân tương ựối hoàn chỉnh ựã ựược xây dựng từ vụ xuân 1968 ở huyện Hải Hậu Ờ Nam định với 100% diện tắch lúa xuân đến
Trang 31năm 1971, diện tắch cấy lúa xuân ở ựồng bằng sông Hồng vượt lúa chiêm và
ựã tạo ra năng suất bình quân 31,9 tạ/ha và vào năm 1985 tỉnh Thái Bình ựạt năng suất lúa xuân là 52tạ/ha Sự nhảy vọt về năng suất là kết quả của vụ lúa xuân với các giống lúa năng suất cao, Ầ Ngoài ra cùng với vụ lúa xuân là sự
ra ựời của vụ ựông với các giống cây trồng có nguồn gốc ôn ựới như bắp cải,
xu hào, khoai tây, cà chua, Ầ Từ ựó ựã ựưa ra công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa - vụ ựông hoặc màu xuân - lúa mùa - vụ ựông ựạt hiệu quả cao (Bùi Huy đáp, 1977) [8]
Khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng trên ựất canh tác chủ yếu nhờ nước trời
ở miền Bắc, Bùi Huy đáp (1979) ựã ựề xuất cơ cấu cây trồng là 2 vụ màu ựông và xuân rồi sản xuất lúa tiếp chân, trong vụ xuân trồng các loại cây màu
có thời gian sinh trưởng dài, ngắn khác nhau tuỳ theo trồng lúa mùa sớm hay mùa chắnh vụ đây là chế ựộ canh tác có thể sử dụng triệt ựể tiềm năng của các loại ựất cao hạn cấy 1 vụ lúa mùa chờ nước trời Trên chân ựất chuyên màu của vùng ựất bãi ven sông, hệ thống cây trồng ựem lại hiệu quả kinh tế cao là ngô thu ựông (rau màu thu ựông) - ngô xuân (ựậu tương, rau ựậu các loạiẦ) Ngay sau khi nước rút tiến hành trồng ngô thu ựông (hoặc rau ựậu sớm), sau ựó trồng ngô xuân (hoặc ựậu tương, rau ựậu các loại)[9]
Các chân bãi ven sông thường trồng một vụ màu ựông xuân dài ngày và một vụ lúa mùa, tuy nhiên công thức này không chắc và có thể chuyển thành chế ựộ một vụ màu xuân có trồng xen, trồng gối và một vụ màu ựông thì cả hai vụ ựều chắc chắn, có hiệu quả kinh tế Ở vùng bán sơn ựịa, ựồi núi, trung
du, diện tắch ựất chỉ cấy một vụ lúa mùa, vụ đông xuân là vụ sản xuất cho phép sử dụng các loại ựất này một cách có lợi nhất với một hệ cơ cấu cây trồng có kết quả nhất
Trong hệ thống luân canh trên ựất bạc màu ở miền Bắc Việt Nam, cây vụ ựông có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ ựất, nhờ vụ ựông mà ựất trồng
Trang 32ựược che phủ trong suốt thời kỳ khắ hậu khô hạn (trong ựiều kiện khô hạn, ựất màu bị thoái hoá nhanh nhất, ựồng thời các chất hữu cơ phân huỷ mạnh) Cây
vụ ựông ựã làm tăng ựộ ẩm của ựất từ 30 - 50% so với không trồng cây vụ ựông đất bạc màu có trồng cây vụ ựông ựều làm tăng năng suất cây trồng vụ sau một cách rõ rệt (Bùi Huy đáp, 1979)[9]
Viện sỹ đào Thế Tuấn, 1987 [41] khi tiến hành nghiên cứu trên ựất 2 vụ lúa cho thấy việc ựưa cơ cấu vụ lúa xuân với các giống lúa ngắn ngày ựã tạo
ra một khoảng thời gian trống giữa 2 vụ lúa, góp phần tạo ựiều kiện ựể xây dựng một hệ thống cây trồng có hiệu quả cao trên ựất 2 vụ lúa đồng thời ựề xuất một số cơ cấu cây trồng cụ thể cho vùng ựồng bằng sông Hồng:
Trên ựất 2 vụ lúa chủ ựộng nước:
+ lúa xuân - lúa mùa Ờ màu vụ ựông (ngô, khoai tây, ựậu tương)
+ lúa xuân - lúa mùa Ờ rau vụ ựông (cà chua, xu hào, bắp cải)
Trên ựất 2 lúa thấp ngập nước:
+ lúa mùa Ờ bèo dâu Ờ lúa xuân
+ lúa mùa Ờ bèo dâu Ờ lúa xuân - ựiền thanh
Chế ựộ canh tác trên ựã từng bước ựược mở rộng ở vùng châu thổ sông Hồng và các vùng khác của cả nước, ựã tạo chuyển biến rõ nét về sản xuất lương thực, thực phẩm ở nước ta
Theo Lê Song Dự (1990)[6] khi tiến hành nghiên cứu ựưa cây ựậu tương vào hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt Nam ựã ựưa ra kết luận: ựậu tương hè trong công thức luân canh lúa xuân - ựậu tương hè - lúa mùa là một vụ thắch hợp năng suất khá cao và ổn ựịnh, công thức này có thể phát triển rộng rãi ở ựồng bằng và trung du Bắc Bộ
Khi nghiên cứu ựánh giá hệ thống canh tác ở tiểu vùng sinh thái bạc màu ngoại thành Hà Nội, đào Châu Thu và CTV (1990) [30] ựã khẳng ựịnh: có thể
Trang 33nâng cao hệ số sử dụng ựất (2 - 4 vụ/năm) và trồng ựược nhiều vụ lương thực, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày trên ựất bạc màu, trừ chân ruộng quá cao, hoặc quá thấp Tác giả cũng ựã nêu các giải pháp sử dụng có hiệu quả tài nguyên ựất, năng lượng mặt trời kết hợp với luân canh, xen canh, gối vụ, ựa dạng hóa cây trồng ở ngoại thành Hà Nội (Bùi Thị Xô, 1994) [48],
Dương Hữu Tuyền (1990) [44] tiến hành nghiên cứu hệ thống canh tác 3
- 4 vụ/năm ở vùng lúa ựồng bằng sông Hồng ựã kết luận: ựồng bằng sông Hồng có thể trồng 3 - 4 vụ/năm Khi trồng 3 vụ/năm không nên ựộc canh 3 vụ lúa mà nên bố trắ 2 vụ lúa 1 vụ màu hay 2 vụ màu 1 vụ lúa, trong ựó có thể 2
vụ cây ưa nóng, 1 vụ cây ưa lạnh hay cả 3 vụ là cây ưa nóng Trồng 4 vụ có thể thực hiện ở những chân ruộng ựất nhẹ, tưới tiêu chủ ựộng và nguồn nhân lực dồi dào
Theo Bùi Huy đáp (1993) [11] sắp xếp lại cách sản xuất, bố trắ lại các chế ựộ luân canh, sử dụng ựất ựai hợp lý hơn và phù hợp với ựiều kiện tự nhiên của mỗi ựịa phương thì có thể ựưa vụ ựông thành một vụ cây trồng chắnh Diện tắch cấy lúa 2 vụ khi cấy lúa xuân ựã tạo ựiều kiện cho việc gieo trồng một loại cây vụ ựông Trên những chân ruộng vàn hay cao nếu cấy lúa Mùa sớm cũng có thể làm một vụ màu ựông với những loại cây chịu lạnh khá, hoặc ở các chân ruộng thấp hơn có thể trồng rau mùa rét
Những diện tắch chỉ cấy một vụ lúa còn vụ ựông xuân thường trồng màu (phần lớn là các giống màu dài ngày 5 - 6 tháng) Thì việc thay ựổi
cơ cấu trà lúa mùa, tăng mùa sớm và chắnh vụ, hạn chế mùa muộn và thay ựổi cơ cấu các giống màu, sử dụng nhiều giống màu ở vụ xuân ngắn ngày hơn sẽ có thể sắp xếp ựược thời gian cho gieo trồng một vụ màu ựông
Ở các chân ựất quanh năm không ngập nước, thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước thường luân canh tăng vụ với cây họ ựậu (ựậu tương, lạc, ựậu côve, ựậu xanh ) Ngoài luân canh tăng vụ với cây lương thực, cây công
Trang 34nghiệp, cây thức ăn gia súc còn có những hệ thống cây trồng luân canh giữa cây dược liệu với cây lương thực hoặc cây công nghiệp ngắn ngày (Tôn Thất Chiểu, 1993) [4]
Trồng xen ñậu tương với cây ăn quả ở giai ñoạn cây chưa khép tán ñã mang lại hiểu quả kinh tế và cải tạo ñất rõ rệt Việc trồng xen ñậu tương với xoài ñã nâng cao khả năng giữ ẩm của ñất, hạn chế sự phát triển của cỏ dại, làm tăng sinh trưởng của xoài và tăng thu nhập của người nông dân, ñáp ứng ñược nhu cầu lấy ngắn nuôi dài
Nguyễn Hữu Tề và CTV (1995) [25] khi nghiên cứu chuyển ñổi cơ cấu cây trồng tại huyện Sóc Sơn ñã kết luận: mô hình 3 vụ cải tiến (lạc - lúa - ngô hoặc ñậu tương - thuốc lá) mang lại lợi nhuận 12.537.000 ñồng/ha/năm, tỷ suất lợi nhuận từ 12,7 – 17,6% Các mô hình 4 vụ (ñậu xanh - ñậu tương - lúa
- khoai lang hoặc lúa CN2 - ñậu tương - lúa ðH60 - khoai tây) mang lại lợi nhuận 15.852.000 ñồng/ha/năm
Theo ñiều tra nghiên cứu và ñánh giá hệ thống cây trồng trên các nhóm ñất khác nhau ở ñồng bằng sông Hồng, Tạ Minh Sơn và cộng sự (1996) ñã khẳng ñịnh hệ thống canh tác 3 - 4 vụ/năm bằng các loại rau cao cấp ñạt giá trị kinh tế cao nhất (trên 60 triệu ñồng/ha/năm) Những hệ thống cây trồng cho giá trị thu nhập cao phổ biến hiện nay là: chuyên màu, ñất 2 màu 1 lúa, hoặc ñất 2 lúa 1 màu) [24]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuận về sử dụng ñất một vụ lúa mùa và vụ lúa ñông xuân bỏ hoá ở một số tỉnh phía Bắc ñã rút ra kết luận: Hệ thống lúa mùa - ngô xuân (với các giống ngô mới, năng suất cao) là hệ thống cây trồng mới trong những năm gần ñây nhưng thực sự có hiệu quả trong kinh tế nông nghiệp Ngoài sản lượng lúa Mùa có phần tăng lên nhờ thay ñổi cơ cấu cây trồng thì hệ thống này làm tăng thêm sản lượng ngô 30 - 40 tạ/ha Vấn ñề ñặt
ra ñối với hệ thống này là chọn thời vụ thích hợp ñể ngô tránh ñược rét, tận
Trang 35dụng ẩm ñộ ñất và khi thu hoạch không ảnh hưởng ñến gieo cấy vụ Mùa và bảo quản tốt sản phẩm
Sự ra ñời của các giống lúa cảm ôn ngắn ngày như CN2, CR203 thay thế dần các giống lúa cảm quang cấy trong vụ mùa, ñã hình thành vụ ñông với các cây trồng chịu lạnh như ngô, ñậu tương, khoai tây… ñã góp phần tăng hiệu quả sử dụng ñất như hiện nay Thêm vào ñó những vùng ñất trũng chỉ cấy ñược một vụ lúa ñã chuyển dịch hình thành mô hình lúa – cá hay lúa – cá
- vịt làm tăng hiệu quả sản xuất rất lớn (Phạm Chí Thành 1994) (Dẫn theo Trần ðức Viên, 1998) [46]
Nói chung vấn ñề thay ñổi cơ cấu cây trồng, luân canh tăng vụ ñã và ñang là những vấn ñề ñược các nhà nông học Việt Nam quan tâm, nghiên cứu không ngừng trong những thập kỷ qua Nhờ ñó mà ngành nông nghiệp ñã có những thành tựu ñáng kể, sản lượng cũng như chất lượng lương thực, thực phẩm không ngừng ñược tăng lên Trước thực cảnh quá trình ñô thị hoá và sự phát triển các khu công nghiệp diễn ra với tốc ñộ rất nhanh Diện tích gieo trồng giảm một cách ñáng kể qua các năm gần ñây ñã gây ra áp lực rất lớn cho ngàng nông nghiệp Nhưng do việc luân canh tăng vụ, sử dụng những giống cây trồng mới có năng suất cao, chất lượng tốt mà các nhà nông học ñã chọn tạo ra, cơ cấu mùa vụ thích hợp ñã ñảm bảo ñược an ninh lương thực, ñáp ứng ñầy ñủ nhu cầu của không những người dân trong nước mà còn xuất khẩu nông sản tương ñối ổn ñịnh trong những năm vừa qua
Trang 36PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1.1 đánh giá ựiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Quế Võ 3.1.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp ở huyện Quế Võ
3.1.3 đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống trồng trọt hiện
có
3.1.4 Thử nghiệm một số giống cây trồng mới trong hệ thống trồng trọt nhằm chứng minh các ựề xuất
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 đối tượng nghiên cứu
- Các yếu tố tự nhiên bao gồm: ựất, nước, khắ hậuẦ
- Các yếu tố sinh vật trong ựó có cây trồng, vật nuôiẦ
- Các yếu tố về kinh tế xã hội như: giá cả, dịch vụ, ựiều kiện cơ sở hạ tầng và nông hộ Có ảnh hưởng trực tiếp ựến việc chuyển ựổi cơ cấu cây trồng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tăng hiệu quả sản xuất và mang tắnh bền vững ở huyện Quế Võ
- Hệ thống trồng trọt và các biện pháp kỹ thuật hiện ựang ựược sử dụng, hướng chuyển ựổi cơ cấu cây trồng trên ựồng ruộng các xã Nhân Hoà, Mộ đạo và đức Long
3.2.2 địa ựiểm và thời gian nghiên cứu
- địa ựiểm: Huyện Quế Võ
Thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật ựược bố trắ trên ựồng ruộng các xã ựại diện như Nhân Hoà, Mộ đạo và đức Long
- Thời gian: Từ tháng 8/2007 ựến tháng 6/2008
Trang 373.2.3 Phương pháp nghiên cứu
3.1.3.1 điều tra ựiều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Huyện Quế Võ
* điều kiện tự nhiên huyện Quế Võ
- Vị trắ ựịa lý
- điều kiện thời tiết và khắ hậu
- điều kiện ựất ựai, ựịa hình, nguồn nước và chế ựộ thuỷ văn
- Trình ựộ dân trắ, lao ựộng và nguồn nhân lực
* Kinh tế của nông hộ
- Tình hình thu nhập của nông hộ
- đánh giá kinh tế nông hộ
- Các loại hình sử dụng ựất, các công thức luân canh cây trồng
- Hiệu quả kinh tế của các hệ thống luân canh hiện tại và những hạn chế của các hệ thống luân canh ựó
3.2.3.2 điều tra thực trạng tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Quế Võ
- Chọn lựa ựịa ựiểm tiến hành nghiên cứu: Chọn 3 xã ựại diện cho toàn Huyện Các xã ựược lựa chọn phải ựạt các yêu cầu sau:
+ Phải ựại diện về ựiều kiện tự nhiên như: ựịa hình, ựất ựai, thuỷ vănẦ + Phải ựại diện về ựiều kiện kinh tế xã hội: trình ựộ dân trắ, tập quán canh tác, cơ sở hạ tầng, ựiều kiện kinh tế của hộ gia ựìnhẦ
Trang 38+ Có hệ thống giao thông thuận lợi ñể thuận lợi cho việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cũng như thuận lợi cho việc thăm quan, hội thảo, học hỏi… cho các ñịa phương xung quanh
Thông qua các chỉ tiêu lựa chọn trên, chúng tôi ñã chọn ra 3 xã Mộ ðạo, Nhân Hoà và ðức Long làm ñại diện cho toàn Huyện ñể tiến hành nghiên
cứu (Sử dụng số liệu thứ cấp tại ñịa phương)
- Tình hình ứng dụng các biện pháp kỹ thuật trên ñồng ruộng Chúng tôi
sử dụng phương pháp ñiều tra nhanh có sự tham gia của người dân (PRA) trong ñó sử dụng công cụ chính là:
+ Phỏng vấn các cán bộ và nông hộ có am hiểu
+ Quan sát trực tiếp
+ ðiều tra trực tiếp các hộ sản xuất theo phiếu ñiều tra lập sẵn:
Mỗi xã 100 phiếu ñiều tra 100 hộ
3.2.3.2.ðề xuất và thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật mới
- Thực hiện thử nghiệm mô hình, mỗi thử nghiệm ñược thực hiện ở 3 hộ gia ñình có ñiều kiện kinh tế tương tự như nhau:
+ ðậu tương DT84 (ñối chứng)
- Lượng phân bón cho 1ha: 8 tấn phân chuồng, 30kg N + 60kg P2O5 + 40kg K2O
- Cách bón:
+ Bón lót: 100% Phân chuồng + 20% N + 100% P2O5
Trang 39+ Bón thúc:
Lần 1: 8 - 10 ngày sau gieo, lượng phân 30% N Lần 2: 15 - 18 ngày sau gieo, lượng phân 30% N +30% K2O Lần 3: 25 - 28 ngày sau gieo lượng phân 20% N + 70% K2O ðịa ñiểm xã Mộ ðạo, thử nghiệm ñược thực hiện trong ñiều kiện sản xuất của nông dân, trên 3 mảnh ruộng của 3 hộ Diện tích mỗi mảnh ruộng là 800m2 Mỗi ruộng ñược chia làm 4 mảnh cho 4 công thức khác nhau với một nền phân bón chung
Với một số chỉ tiêu theo dõi chính sau:
+ Thời gian sinh trưởng + Số quả/cây
+ Số hạt/quả + Trọng lượng 1000 hạt + Năng suất
Thử nghiệm 2: So sánh một số giống ngô lai
+ Giống ngô LVN24 (ñối chứng) (Hiện ñang trồng phổ
biến ở ñịa phương)
Lượng phân: 10 tấn phân chuồng, 140kg N + 60kg P2O5 + 60kg K2O cho 1ha
Cách bón:
- Bón lót: 100% phân chuồng + 100% P2O5
- Bón thúc: 3 lần với liều lượng phân bón như sau:
+ Thúc lần 1: (khi cây ngô có 4 -5 lá): Bón 1/3 lượng N + 1/2 K2O
(có thể hòa tan phân vào nước tưới hoặc rắc phân kết hợp với xới nhẹ mặt luống rồi tưới nước nhẹ)
Trang 40+ Thúc 2 lần (khi cây ngô có 10 -11 lá): Bón 1/3 lượng N + 1/2 K2O (có thể hòa tan phân vào nước tưới hoặc rắc phân kết hợp xới vun cao gốc rồi tưới nước nhẹ)
+ Thúc lần 3 (khi cây ngô trỗ cờ phun râu xong): Bón 1/3 lượng N còn lại bằng cách hòa tan phân ñều trong nước tưới xung quanh gốc
ðịa ñiểm xã Nhân Hoà, thử nghiệm ñược thực hiện trong ñiều kiện sản xuất của nông dân, trên 3 mảnh ruộng của 3 hộ Diện tích mỗi mảnh ruộng là 600m2 Mỗi ruộng ñược chia làm 3 mảnh cho 3 công thức khác nhau với một nền phân bón chung
Với một số chỉ tiêu theo dõi chính sau: + Thời gian sinh trưởng
+ Chiều cao ñóng bắp + Chiều dài bắp + ðường kính bắp + Số hàng hạt/bắp + Số hạt/hàng + Tỷ lệ hạt chắc/bắp + Trọng lượng 1000 hạt + Sâu bệnh
+ Năng suất
* Vụ Xuân 2008
Thử nghiệm: So sánh một số giống lúa mới
+ Giống lúa TH3-4 + Giống lúa VL24 + Giống lúa TH3-3 + Giống lúa TH3-5 + Giống Khang Dân