1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương thanh hóa

117 344 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Cải Tiến Hệ Thống Canh Tác Theo Hướng Bền Vững Ở Huyện Quảng Xương – Thanh Hóa
Tác giả Trần Văn Cường
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Tiến Dũng
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Trồng Trọt
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 5,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: PGS TS Ph¹m TiÕn Dòng

Hµ Néi, 2006

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trần Văn Cường Trần Văn Cường

Trang 3

Lời cảm ơn

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Trường đại học nông nghiệp I, Khoa sau đại học, các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn Công nghệ sinh học và Phương pháp thí nghiệm, đặc biệt là thầy Phạm Tiến Dũng đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Trung tâm khuyến nông tỉnh Thanh Hoá, Trạm khuyến nông huyện Quảng Xương, các phòng ban thuộc UBND huyện Quảng Xương, UBND các xã, bà con nông dân trong huyện cùng các đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.

Tác giả

Trần Văn Cường Trần Văn Cường

Trang 4

Mục lục

1.1 Một số khái niệm và cơ sở khoa học về xây dựng nền nông nghiệp

1.2 Một số vấn đề về phương pháp luận trong nghiên cứu cải tiến hệ

Chương 2 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 30

Trang 5

nghiệp của huyện Quảng Xương 34

3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Quảng Xương 533.3 Thực trạng cơ cấu giống cây trồng ở huyện Quảng Xương 553.4 Diễn biến cơ cấu giống và năng suất lúa qua các năm 57

3.8 Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình canh tác hợp lý 88

Trang 6

NN : N«ng nghiÖp

BV : BÒn v÷ng NNBV: N«ng nghiÖp bÒn v÷ng PTNN: Ph¸t triÓn n«ng nghiÖp

HT : HÖ thèng HTNN: HÖ thèng n«ng nghiÖp HTCT: HÖ thèng canh t¸c HTTT : HÖ thèng trång trät HST : HÖ sinh th¸i

HSTNN: HÖ sinh th¸i n«ng nghiÖp CCCT : C¬ cÊu c©y trång

CTLC : C«ng thøc lu©n canh

NS : N¨ng suÊt HQKT: HiÖu qu¶ kinh tÕ SXNN: S¶n xuÊt n«ng nghiÖp TPCG: Thµnh phÇn c¬ giíi FAO : Food Agricultural Organization IRRI : International Rice Research Institute

Trang 7

Bảng 3.1 Diễn biến một số yếu tố khí tượng ở huyện Quảng Xương

Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu phát triển ngành nông nghiệp 48

Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu phát triển xK hội của huyện Quảng Xương thời

Bảng 3.7 Hiện trạng sử dụng đất NN của huyện Quảng Xương 54

Bảng 3.10 Diễn biến cơ cấu giống và năng suất lúa vụ xuân 58Bảng 3.11 Diễn biến cơ cấu giống và năng suất lúa vụ mùa 59

Bảng 3.15 Hiện trạng sử dụng đất SX nông nghiệp ở tiểu vùng 1 64Bảng 3.16 Tình hình sử dụng đất SXNN theo độ cao của địa hình 65Bảng 3.17 Thực trạng sử dụng phân bón cho lúa vụ mùa 2005 67Bảng 3.18 Động thái đẻ nhánh của giống lúa X21 qua các công thức

Trang 8

suất và năng suất giống lúa X21 ở các công thức bón phân

Bảng 3.24 Năng suất giống lúa lai D.−u 527 ở các mức bón lân khác

Bảng 3.25 Năng suất cây trồng ở các vụ sản xuất năm 2005 77Bảng 3.26 Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên đất cao 79Bảng 3.27 Khả năng tạo sinh khối và hệ số đa dạng cây trồng của các

Bảng 3.28 Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên đất vàn

Bảng 3.29 Khả năng tạo sinh khối và hệ số đa dạng cây trồng của các

Bảng 3.30 Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên đất vàn 85Bảng 3.31 Khả năng tạo sinh khối và hệ số đa dạng cây trồng của

Trang 9

Danh mục các hình

Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Quảng Xương 35Hình 3.2 Diễn biến nhiệt độ, giờ nắng và độ ẩm TB qua các tháng 38Hình 3.3 Diễn biến lượng mưa và lượng bốc hơi qua các tháng 38Hình 3.4 Tăng trưởng kinh tế các ngành thời kỳ 2000- 2005 46Hình 3.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 2000- 2005 47Hình 3.6 Động thái đẻ nhánh của giống lúa X21 ở các công thức bón

Trang 10

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển nông nghiệp (PTNN) là một tất yếu và rất cần thiết để phát triển kinh tế Bởi vì, nông thôn nước ta là một vùng rộng lớn với 75% dân số, GDP ở khu vực này rất thấp nhưng có vị trí quan trọng, là nền tảng của sự ổn

định xK hội và phát triển kinh tế các ngành Do vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng PTNN Mới đây là chủ trương PTNN theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng và đK được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng Tuy nhiên, ở mỗi

địa phương cần có những giải pháp phù hợp, nhằm khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo PTNN một cách bền vững

Quảng Xương là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hóa Với diện tích trên 20.000 ha gieo trồng lúa hàng năm, Quảng Xương là một trong

8 huyện trọng điểm lúa và có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Đây là huyện có tiềm năng lớn về đất đai, lao động và thế mạnh của một huyện có biển và đồng bằng Mặt khác, phía Bắc của huyện giáp với thành phố Thanh Hoá và thị xK Sầm Sơn đồng thời có đường Quốc lộ 1A chạy qua, là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa Đó là động lực thúc đẩy việc phát triển kinh tế - xK hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Mục tiêu của nông nghiệp bền vững (NNBV) là sản xuất nông nghiệp phải đi đôi với việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, thỏa mKn các nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm phương hại đến thế hệ tương lai Tuy nhiên, những năm qua, hệ thống nông nghiệp nói chung, Quảng Xương nói riêng chỉ đặt ra một mục tiêu chủ yếu là năng suất và sản lượng cao, nhất là lương thực Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu về các vấn đề

Trang 11

của hệ thống canh tác (HTCT) làm cơ sở cho một chiến lược PTNN năng suất cao và ổn định Đề tài “Nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện Quảng Xương” nhằm góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững ở Thanh Hóa

2 Mục đích yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích

Cải tiến HTCT, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân, đảm bảo sản xuất lâu bền, hướng tới một nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và bền vững

3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở khoa học cho việc PTNN theo hướng bền vững

Qua việc đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xK hội và HTCT của huyện Quảng Xương làm cơ sở cho những định hướng chỉ đạo sản xuất của địa phương theo hướng phát triển nông nghiệp bền vững

Thông qua việc triển khai một số mô hình HTCT theo hướng bền vững tại các

xK điểm, làm cơ sở để nhân rộng các mô hình này ra các xK , các vùng có điều kiện tương tự

Trang 12

4 Giới hạn của đề tài

Đề tài được thực hiện tại tiểu vùng 1 huyện Quảng Xương từ tháng 5/2005 đến tháng 6/2006 Đề tài tập trung nghiên cứu cải tiến một số vấn đề:

kỹ thuật bón phân, thử nghiệm giống lúa mới, đa canh, lựa chọn công thức luân canh theo hướng bền vững

Trang 13

Phần nội dung Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1 Một số khái niệm và cơ sở khoa học về xây dựng nền nông nghiệp bền vững

Phát triển nông nghiệp bền vững (NNBV) chiếm vị trí quan trọng và nhiều khi có tính quyết định trong sự phát triển chung của xK hội Khái niệm

về phát triển NNBV mới chỉ hình thành rõ nét trong những năm 1990 qua các hội thảo Điều cơ bản nhất của phát triển NNBV là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp cận đúng đắn về môi trường, để giữ gìn những tài nguyên cơ bản nhất cho thế hệ sau, (dẫn theo hội nghị khoa học đất Việt Nam, 2000) [18] Có rất nhiều định nghĩa về NNBV, tuỳ theo tình hình cụ thể

NNBV bao gồm quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người; đồng thời giữ gìn, cải thiện môi trường và bảo

vệ tài nguyên thiên nhiên (FAO, 1989) [60]

Theo Bill Mollison và Reny Mia Slay (1994) [4] NNBV là việc thiết kế những hệ thống cư trú lâu bền của con người, đó là một triết lý và một cách tiếp cận về việc sử dụng đất, tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, đất, nước và những nhu cầu của con người, xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả

Theo Trần Đức Viên (1998) [49] NNBV là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài Nếu không thiết lập được hệ thống sản xuất nông nghiệp ổn định, tồn tại lâu dài, đáp ứng nhu cầu mọi mặt của nông hộ như thức ăn cho người

và gia súc, nơi ở, mặc và một hệ sinh thái (HST) tốt lành làm môi trường sống tươi đẹp cho con người, thì nông dân sẽ bỏ mảnh đất ấy di cư đến nơi khác

Trang 14

Một trong những cơ sở quan trọng bậc nhất của NNBV là thiết lập được các hệ thống sử dụng đất

Hiện nay những vấn đề về môi trường được phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện đại như sự mài mòn tầng Ozon, hiệu ứng nhà kính, ô nhiễm hóa chất, … loại khác gây ra bởi các lối canh tác phản tự nhiên: phá rừng, xói mòn đất, lũ lụt, hạn hán, sa mạc hóa, … Nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới đang phát triển theo hai hướng: nông nghiệp năng lượng và nông nghiệp sinh thái Nông nghiệp thâm canh với các giống mới năng suất cao, sử dụng nhiều năng lượng hoá thạch (phân bón, thuốc hoá học, các chất kích thích tăng trưởng,…) đK làm cho con người phải

đối đầu với nhiều tiêu cực về môi trường: ô nhiễm đất , nguồn nước và không khí, suy thoái đất, mất cân bằng sinh thái, v.v Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên Điều đó buộc con người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Phương thức canh tác nào theo đúng các nguyên tắc của thiên nhiên thì

sẽ phục hồi được độ phì của đất và tạo lập sự cân bằng sinh thái, kết quả là năng suất tăng cao và ổn định Trái lại, lối canh tác phản tự nhiên mà chỉ nghĩ

đến lợi nhuận tức thời, thì sẽ làm đất thoái hóa và mất cân bằng sinh thái nhanh chóng, và về lâu dài làm cho sản lượng giảm sút

Thiên nhiên vốn hoàn hảo, chính con người đK làm đảo lộn thiên nhiên

Đất trong rừng tự nhiên không bao giờ được cày xới và bón phân nhưng nó vẫn nhẹ, giàu dinh dưỡng và tạo ra năng suất rất cao Đất nông nghiệp được nông dân cày xới và bón phân theo từng vụ, nhưng nó vẫn chặt, nghèo dinh dưỡng và tạo ra năng suất không cao

Hiện nay, những vấn đề môi trường đK trở nên rất nghiêm trọng trên toàn cầu và từng vùng NN sinh thái là một trong những tiếp cận chủ yếu để hành

động nhằm đi đến một giải pháp cho các vấn đề môi trường Nhiệm vụ của

Trang 15

NN là sản xuất lương thực, thực phẩm phục vụ sức khoẻ con người, phục vụ cho sự phát triển và sự hoàn thiện của nhân loại chứ không phải sản xuất ra các nông sản nhiễm độc hoá chất để mang lại lợi nhuận cao cho nông dân, hay phục vụ lợi ích của một nhóm người nào đó, nhưng lại làm phương hại đến môi trường và tài nguyên chung của nhân loại trong tương lai

Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xK hội loài người Phát triển bền vững là quản lý và bảo vệ nguồn lực tự nhiên và định hướng sự thay đổi công nghệ, nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của con người trong các thế hệ hiện tại và tương lai Phát triển bền vững (trong lĩnh vực nông, lâm, ngư) là bảo tồn đất đai, nguồn nước, các nguồn di truyền động – thực vật, là môi trường không bị suy thoái,

kỹ thuật phù hợp, kinh tế phát triển và một xK hội chấp nhận được (FAO, 1991) (Dẫn theo Trần Đức Viên) [51]

Để đảm bảo cho sự PTNN lâu bền, chúng ta phải xem xét trên cả 3 phương diện: Bền vững về sinh thái (môi trường), kinh tế và xK hội:

- Bền vững về mặt sinh thái: Trong phát triển nông nghiệp, con người đK thay thế HST tự nhiên bằng hệ thống nông nghiệp (nhân tạo) làm giảm tính

BV của nó Hệ thống nông nghiệp (HTNN) đưa thêm vào các nguồn năng lượng phụ (như lao động, năng lượng hoá thạch, động vật …) để tăng cường khả năng sản xuất của những cơ thể sống riêng biệt, sự đa dạng bị suy giảm nhanh chóng Để tăng cường sự bền vững của HTNN chúng ta cần hạn chế việc sử dụng nguồn năng lượng thương mại, tái tạo sự đa dạng sinh học nhưng không làm giảm năng suất

- Bền vững kinh tế- xK hội: trong quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp

NN truyền thống sang HTNN thị trường hiện đại, người nông dân gặp rất nhiều khó khăn và rủi ro, vì vậy làm giảm tính bền vững của hệ thống như lao

động dư thừa ở nông thôn, sự bấp bênh của thị trường nông sản, …

Những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, NN và các

Trang 16

thành tự khoa học kỹ thuật đK làm thay đổi hẳn bộ mặt trái đất và cuộc sống của con người Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa trước mắt nên cũng gây ra nhiều hậu quả tiêu cực đe dọa cuộc sống của con người trong tương lai Trước hết là nạn ô nhiễm môi trường, mất rừng và suy thoái đất, giảm tính đa dạng sinh học, … Trong NN việc lạm dụng hóa chất đK làm hỏng cấu tượng đất,

ảnh hưởng đến tập đoàn vi sinh vật đất, ô nhiễm nguồn nước,… NNBV góp phần tìm ta giải pháp tác động và cải thiện những vấn đề về môi trường

Trước những vấn đề phức tạp và khó khăn mà con người đang phải đương

đầu như sự bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, … nhiều nước trên thế giới đK xây dựng và PTNN theo quan điểm BV Theo Bill

M và Reny M.S (1994) [4], những nguyên tắc chính trong việc xây dựng hệ thống NNBV là: (1) mỗi yếu tố thực hiện nhiều chức năng; (2) mỗi chức năng quan trọng được nhiều yếu tố hỗ trợ; (3) ưu tiên sử dụng tài nguyên sinh học; (4) tái chu kỳ năng lượng tại chỗ; (5) đa canh và đa dạng hoá các loại cây trồng có lợi để tăng sản lượng và tăng mức độ tương tác trong hệ thống; và (6) tìm cách sử dụng không gian và mô hình tự nhiên có lợi nhất

NNBV chủ trương bảo vệ môi trường, tạo dựng một môi trường trong lành và sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên Mục đích của NNBV

là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế,

có khả năng thỏa mKn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, không làm ô nhiễm môi trường Để đạt được mục tiêu đó, NNBV dựa vào: (1)

sự khảo sát các HST tự nhiên; (2) kinh nghiệm quý báu của những hệ canh tác truyền thống; và (3) những kiến thức khoa học hiện đại

NNBV tạo ra một HST nông nghiệp sản xuất lương thực thực phẩm cho người, thức ăn cho chăn nuôi nhiều hơn so với hệ thống tự nhiên NNBV là một hệ thống trong đó con người tồn tại và sử dụng những nguồn năng lượng không độc hại, tiết kiệm và tái sinh năng lượng, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không phá hoại những nguồn tài nguyên đó

Trang 17

NNBV không chỉ bảo vệ những HST đK có trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những HST đK bị suy thoái

Triết lý của NNBV là phải hợp tác với thiên nhiên, tuân thủ những quy luật của thiên nhiên, không chống lại thiên nhiên Phải xem xét toàn bộ hệ thống trong sự vận động của nó, không tách rời từng bộ phận, suy nghĩ đến lợi ích của toàn cục Suy rộng ra trái đất là của toàn thể nhân loại và con người có trách nhiệm bảo vệ nó- nơi cư trú của mình Tấn công vào thiên nhiên chính là

sự tấn công vào mình và cuối cùng tự hủy diệt Như vậy, NNBV không chỉ thu hẹp trong phạm vi nông nghiệp mà còn tham gia vào việc giải quyết nhiều vấn

đề lớn toàn cầu và mở rộng ra cả lĩnh vực văn hoá, xK hội, đạo đức, cuộc sống (Nguyễn Văn Mấn – Trịnh Văn Thịnh, 1995) [28]

Altieri (1990 và 1995) (Dẫn theo Trần Đức Viên, 1998) [49] NNBV không loại trừ việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ cao, vấn đề là phải có sự hợp tác thật sự giữa người nông dân với nhóm cán bộ khoa học liên ngành Ông gọi đó là sự phát triển kỹ thuật có sự tham gia của người dân và cộng đồng Khuyến cáo quá trình áp dụng kỹ thuật trên cơ sở sinh thái học nên trải qua 6 bước: khởi động, thiết kế thí nghiệm, kiểm soát đầu ra, chia sẻ kết quả, phản hồi và tìm cách thức để quá trình tiếp tục

Nhờ có sự phát triển của khoa học kỹ thuật, NN các nước Châu á đK có những bước tiến nhảy vọt Hàng loạt các giống cây trồng ngắn ngày, năng suất cao được tạo ra cùng với việc áp dụng các kỹ thuật canh tác mới, dựa chủ yếu vào các loại thuốc trừ sâu, phân hóa học, …đK tạo ra năng suất và sản lượng cao

Theo Elsevier (1990) với những giống mới năng suất cao, người ta đK quên đi vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên Từ những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20, cuộc cách mạng xanh đK bắt đầu thể hiện mặt trái của nó Các loài dịch hại cây trông như rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, bệnh đạo ôn hại lúa gây thiệt hại nặng nề cho nhiều vùng trồng lúa Đất canh tác bị suy thoái nhanh chóng,

Trang 18

giá phân hóa học, thuốc trừ sâu, máy NN tăng nhanh, sản xuất NN ở nhiều nước bắt đầu mất ổn định Các nước đang phát triển đK chuyển từ sự phụ thuộc nước ngoài về lương thực sang phụ thuộc vật tư NN và công cụ sản xuất Cách mạng xanh đK góp phần to lớn vào việc phát triển nền kinh tế NN nước ta Cùng với việc tiếp thu những thành tựu của cách mạng xanh, chúng ta còn học hỏi được một số kinh nghiệm về phát triển NNBV nên đK hạn chế

được một phần những mặt trái của nó Tuy vậy, không phải sản xuất NN nước

ta không có những mâu thuẫn với vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, mà ngược lại, trong quá trình phát triển NN cũng đK và đang nảy sinh nhiều vấn đề về sinh thái cần được nghiên cứu làm cơ sở cho một chiến lược phát triển NN năng suất cao và ổn định (Lê Trọng Cúc và cộng sự, 1996) (Dẫn theo Trần Đức Viên, 1998) [49]

Tóm lại điều quan trọng nhất của NNBV là phải biết sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện tài nguyên môi trường, có hiệu quả kinh

tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống, bình đẳng giữa các thế hệ và hạn chế rủi ro Những năm gần đây nhiều nhà khoa học ở nước

ta đK chú ý tới vấn đề phát triển NNBV để điều chỉnh hệ thống cây trồng Theo Võ Tòng Xuân (1991) chương trình nghiên cứu hệ thống canh tác và khuyến nông ở Việt Nam cần nắm vững những mục tiêu về tác dụng lâu bền của từng mô hình, duy trì tính đa dạng sinh học

Ngành trồng trọt cần phải tìm mọi biện pháp để bảo vệ và nâng cao năng suất (NS) cây trồng theo 2 khả năng: (1) thâm canh ở vùng sinh thái khó khăn;

và (2) tăng vụ ở vùng sinh thái thuận lợi, nhất là cây vụ đông (Đào Thế Tuấn 1987) [44]

ở nhiều nước nông nghiệp châu á, vì tương lai của NN phát triển lâu bền

đK xây dựng nhiều chiến lược phát triển mới Chương trình nghiên cứu HTCT lấy công việc đồng áng của người nông dân làm đối tượng nghiên cứu, nhằm

đưa ra các tiến bộ khoa học kỹ thuật canh tác đến người lao động, phục vụ cho

Trang 19

mục tiêu chiến lược phát triển NN theo quy mô trang ấp nhỏ (FAO, 1994) [57] Các HTNN hiện đại là các HTCT hỗn hợp, có nhiều phương án lựa chọn khác nhau, phù hợp với nguồn lực của người nông dân và thích ứng được với hoàn cảnh sản xuất hiện thời

Theo Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998) [37 ] trong quá trình PTNN, con người đK xây dựng các HST nhân tạo thay thế cho các HST tự nhiên, do đó đK làm giảm dần tính bền vững của chúng Mặt khác NN là một ngành sản xuất đặc biệt, con người khai thác các nguồn lợi tự nhiên từ đất để

đảm bảo nhu cầu về thức ăn và vật dụng của xK hội Vì vậy, sản xuất NN là một hệ thống phức tạp tạo mối quan hệ của tự nhiên với kinh tế xK hội Đánh giá đất là một nội dung không thể thiếu trong chương trình phát triển nền NNBV, vì đất đai là tư liệu cơ bản nhất của người nông dân, họ phải có những hiểu biết khoa học về tiềm năng sản xuất của đất và những khó khăn, hạn chế trong sử dụng đất của mình, đồng thời nắm được những phương thức sử dụng

đất thích hợp

Để xác định loại hình sử dụng đất bền vững thích hợp cho sản xuất nông lâm nghiệp cần chú ý 3 yêu cầu : (1) bền vững về mặt kinh tế: các loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận; (2) bền vững về mặt môi trường: các loại hình sử dụng đất bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất; và (3) bền vững

về mặt xK hội: thu hút được lao động đảm bảo đời sống và xK hội phát triển 1.2 Một số vấn đề về phương pháp luận trong nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững

1.2.1 Lý thuyết về hệ thống

Theo Đào Châu Thu (2003) [38] trong thế giới tự nhiên cũng như trong

xK hội loài người, mọi hoạt động đều diễn ra bởi các hợp phần (components),

có những mối liên hệ tương tác hữu cơ với nhau được gọi là tính hệ thống Vì

Trang 20

vậy, muốn nghiên cứu một sự vật, hiện tượng, hoạt động nào đó chúng ta phải coi lý thuyết hệ thống là cơ sở của phương pháp luận và tính hệ thống là đặc trưng, bản chất của chúng

Cơ sở lý thuyết hệ thống đK được L.Vonbertanlanty đề xướng vào đầu thế

kỷ XX và đK được sử dụng như một cơ sở để giải quyết các vấn đề phức tạp và tổng hợp Trong thời gian gần đây, quan điểm này rất phát triển trong sinh học cũng như trong NN

Hệ thống (HT) là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể xác định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính, được liên kết tạo thành một chỉnh thể và nhờ đó hệ thống có đặc tính mới, gọi là tính trồi Như vậy, hệ thống không phải là phép cộng đơn giản của các yếu tố, các đối tượng, mà là sự kết hợp hữu cơ giữa các yếu tố, các đối tượng Một hệ thống bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hợp thành (Dẫn theo Cao Liêm và cộng sự, 1992) [25] Các yếu tố bên ngoài có tác động tương tác với hệ thống gọi là yếu tố môi trường Những yếu

tố môi trường tác động lên hệ thống gọi là yếu tố đầu vào Còn những yếu tố môi trường chịu sự tác động trở lại của hệ thống gọi là yếu tố đầu ra Phép biến đổi của hệ thống là khả năng thực tế khách quan của hệ thống trong việc biến đổi đầu vào thành đầu ra Thực trạng của hệ thống là khả năng kết hợp giữa đầu vào và đầu ra tại một thời điểm nhất định Trong hệ thống cây trồng, khả năng kết hợp đó ở một thời điểm nào đấy gọi là thực trạng của hệ thống cây trồng Hành vi của hệ thống là tập hợp các đầu ra của hệ thống có thể có

được trên cơ sở các giải pháp thích hợp, đem lại hiệu quả cao cho cả hệ thống Còn cơ cấu của hệ thống bao gồm sự sắp xếp các phần tử, các yếu tố, … trong

hệ thống cùng các mối quan hệ tác động và ràng buộc giữa chúng (Hoàng Tụy, 1987) (Dẫn theo Trần Đức Viên, 1998) [51]

Hệ thống là một tổng thể có trật tự các yếu tố khác nhau, có quan hệ và

Trang 21

tác động qua lại Một hệ thống có thể xác định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác Quan điểm hệ thống là sự khám phá đặc điểm của đối tượng bằng cách nghiên cứu bản chất

và đặc tính của các mối tác động qua lại giữa các yếu tố (Phạm Chí Thành, 1996) [35]

Trong thiên nhiên có hai loại hệ thống cơ bản: Hệ thống kín, các yếu tố tương tác với nhau trong phạm vi hệ thống; Hệ thống mở, ở đó các yếu tố tương tác với nhau giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài hệ thống Theo Trần Đức Viên (1998) [49], trong thực tiễn nghiên cứu hệ thống có 2 phương pháp cơ bản: (1) nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến một hệ thống đK có sẵn Điều đó có nghĩa là dùng phương pháp phân tích hệ thống, nhằm tìm ra điểm hẹp hay chỗ thắt lại của hệ thống cần được sửa chữa, khai thông để hệ thống hoàn thiện hơn, hoạt động có hiệu quả hơn; (2) nghiên cứu xây dựng hệ thống mới Phương pháp này mang tính chất vĩ mô, đòi hỏi phải có sự tính toán, cân nhắc kỹ càng Còn khi phân tích hệ thống thường dùng 2 công cụ là kỹ thuật mô hình hóa và phương pháp phân tích thống kê

Khái niệm về Hệ thống nông trại (Farming Systems) đK được nhà nông học Đức Von Wuffen đề xuất từ thế kỷ 19 Khái niệm Hệ thống nông nghiệp (Agricultural Systems) được các nhà địa lý dùng đầu tiên để phân kiểu nông nghiệp trên thế giới và nghiên cứu sự tiến hóa của chúng (Grigg, 1997) (Dẫn theo Phạm Chí Thành, 1996) [35]

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về Hệ thống nông nghiệp (HTNN) Phạm Chí Thành và các cộng sự (1996) [35] cho biết có các định nghĩa sau

Trang 22

trường tự nhiên (vissac, 1970)

HTNN trước hết là một phương thức khai thác môi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sức sản xuất thích ứng với các

điều kiện sinh khí hậu của một không gian nhất định, đáp ứng với các điều kiện và nhu cầu của thời điểm ấy (May Zoyer, 1986)

HTNN thích ứng với các phương thức khai thác NN của một không gian nhất định do một xK hội tiến hành, là kết quả của sự phối hợp của các nhân tố

tự nhiên, văn hóa xK hội, kinh tế và kỹ thuật (Jouve, 1988)

Đào Thế Tuấn (1989) [46] cho rằng HTNN thực chất là sự thống nhất giữa HST NN và hệ kinh tế – xK hội HST NN là một bộ phận của HST tự nhiên, bao gồm các vật sống (cây trồng, vật nuôi) trao đổi năng lượng, vật chất, thông tin với ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và năng suất thứ cấp (chăn nuôi) của HST Hệ kinh tế - xK hội, chủ yếu là sự hoạt động của con người trong sản xuất (SX) để tạo ra của cải vật chất cho xK hội

Tóm lại, có những định nghĩa khác nhau về HTNN nhưng các tác giả đều thống nhất rằng HTNN thực chất là HST NN đặt trong một điều kiện kinh tế -

xK hội nhất định, tức là HST NN được con người tác động bằng lao động, tập quán canh tác, hệ thống chính sách …

Hệ thống canh tác (HTCT) (Farming Systems) là một thành phần (phần tử) của HTNN Hiện nay có nhiều cách hiểu về HTCT (Phạm Thị Hương, 2004) [16] cho biết có các định nghĩa sau đây về HTCT

HTCT là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành nghề trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia đình trong một môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế – xK hội, phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của hệ (Shanor Philip, 1961)

HTCT là một tập hợp của đơn vị chức năng riêng biệt là hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, tiếp thị, chúng có quan hệ qua lại với nhau vì cùng nhận nguồn lực từ môi trường (IRRI, 1980)

Trang 23

HTCT là hình thức tập hợp của một tổ hợp đặc thù của các tài nguyên trong nông trại ở một môi trường nhất định bằng những phương pháp công nghệ sản xuất ra các sản phẩm NN sơ cấp (IRRI, 1989)

Qua 3 cách hiểu trên cho thấy HTCT là một HT bao gồm nhiều HT: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, tiếp thị, quản lý được bố trí một cách HT ổn

định phù hợp với mục tiêu của mỗi nông trại hay tiểu vùng nhất định Như vậy

hệ thống trồng trọt (HTTT) là một bộ phận chủ yếu của HTCT

Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [47] HTTT là hệ phụ trung tâm của HTNN, cấu trúc của nó quyết định sự hoạt động của các hệ phục khác như chăn nuôi, chế biến, ngành nghề

Nghiên cứu HTTT là một vấn đề phức tạp vì nó liên quan tới môi trường như môi trường đất, khí quyển, khí hậu, thời tiết, sâu bệnh ảnh hưởng đến cây trồng, mức đầu tư và trình độ khoa học kỹ thuật NN

Tất cả các nghiên cứu đều nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả đất đai, nâng cao năng suất cây trồng Vì vậy, hệ thống cây trồng là một bộ phận chủ yếu của HTTT, là trung tâm của HTTT (Phạm Chí Thành, 1996) [35]

HT cây trồng (Cropping Systems) cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Zandstra (1981) [56] cho rằng HT cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong không gian và thời gian của một HST NN nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế – xK hội Hay HT cây trồng là hoạt

động sản xuất cây trồng trong nông trại, bao gồm tất cả các hợp phần cần có

để sản xuất một tổ hợp các cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường Các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý và sinh học cũng như kỹ thuật, lao động và quản lý Cũng có thể hiểu một cách ngắn gọn HT cây trồng là các hình thức đa canh bao gồm trồng xen, trồng gối, luân canh, trồng thành băng, canh tác phối hợp, vườn hỗn hợp, …

Như vậy HT cây trồng là tập hợp tất cả các loại cây có quan hệ với môi trường tự nhiên, kinh tế – xK hội của nông trại hay của vùng để cùng tạo ra sản

Trang 24

phẩm nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao Cây trồng là tất cả các loại cây

được trồng và quản lý trong một vùng hay một nông trại, nhằm mục tiêu thoả mKn nhu cầu của con người Còn cơ cấu cây trồng (CCCT) là thành phần các giống và loài cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một HST NN, nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế – xK hội của nó (Đào Thế Tuấn, 1984) [42]

Cây trồng trong HT cây trồng ngoài mối quan hệ với nhau, nó còn có mối quan hệ với môi trường bên ngoài Môi trường bên ngoài gồm các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xK hội như lao động, thị trường, tập quán sản xuất,…

và như vậy mỗi điều kiện tự nhiên, kinh tế – xK hội khác nhau sẽ tồn tại các

HT cây trồng khác nhau

Xác định CCCT nhằm quyết định phương hướng sản xuất của nông trại hay của vùng, giúp cho việc phân vùng sản xuất, xây dựng kế hoạch cho nông trại hay vùng CCCT thay đổi thì thu nhập cũng thay đổi

Công thức luân canh (CTLC) là tổ hợp không gian và thời gian của các cây trồng trên một mảnh đất và biện pháp canh tác dùng để sản xuất chúng

Do HT cây trồng mang đặc tính động nên nghiên cứu HT cây trồng không thể dừng lại ở một không gian và thời gian rồi kết thúc mà phải làm thường xuyên

để tìm ra xu thế phát triển, yếu tố hạn chế và những giải pháp khắc phục để chuyển đổi HT cây trồng nhằm khai thác ngày càng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng hiệu quả kinh tế (HQKT), phục vụ cuộc sống con người (Đào Thế Tuấn, 1984) [42]

CCCT hợp lý là phát triển HT cây trồng mới trên cơ sở cải tiến HT cây trồng cũ hoặc xây dựng HT cây trồng mới Thực ra đó là sự tổ hợp lại các CTLC, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991) [36]

Trang 25

Để xây dựng kế hoạch sản xuất cho một vùng hay một đơn vị sản xuất, việc đầu tiên đề cập tới là diện tích, loại đất, số vụ trong năm, loại cây và giống cây trồng trong các vụ để cuối cùng có một tổng sản lượng cao nhất trong điều kiện tự nhiên và xK hội nhất định sẵn có (Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh, 1987) [29] Việc xác định HT cây trồng cho một vùng, một khu vực sản xuất đảm bảo HQKT, ngoài giải quyết tốt mối quan hệ giữa HT cây trồng với các điều kiện khí hậu, đất đai, sinh vật, tập quán canh tác còn có mối quan hệ chặt chẽ với phương hướng sản xuất của vùng, khu vực

đó Phương hướng sản xuất quyết định CCCT, ngược lại CCCT là cơ sở để xác

định phương hướng sản xuất Vì vậy bố trí HT cây trồng có cơ sở khoa học sẽ giúp cho các nhà quản lý xác định phương hướng sản xuất một cách đúng đắn (Đào Thế Tuấn, 1984) [43]

Tóm lại: để có HTCT thích hợp, đạt được một khối lượng sản phẩm cao trên một đơn vị diện tích, HT cây trồng phải đạt 6 yêu cầu: (1) sử dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và né tránh được tác hại của thiên tai; (2) lợi dụng tốt nhất các điều kiện đất đai, khai thác và bảo vệ bồi dưỡng độ phì của đất; (3) lợi dụng tốt nhất các đặc tính sinh học của cây trồng: tính ngắn ngày, thích ứng rộng, tính chống chịu với điều kiện ngoại cảnh; (4) hạn chế được tác hại của sâu bệnh, cỏ dại với việc sử dụng ít nhất các biện pháp hoá học; (5) cho HQKT cao, hỗ trợ các hoạt động về chăn nuôi, chế biến, khả năng tiêu thụ sản phẩm dễ dàng; và (6) đa dạng về sinh học, không gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

1.2 2 Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu

Tiếp cận hệ thống là cách thức nhìn nhận và giải quyết vấn đề, dựa trên ý tưởng cho rằng cần thiết phải nhận biết và mô tả hệ thống mà chúng ta muốn hiểu dù là để cải tiến, sửa chữa hay sao chép lại hoặc so sánh nó với HT khác

để chọn HT mà chúng ta mong muốn

Những năm trước đây, việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp

Trang 26

cho nông dân thường được tiến hành một chiều từ trên xuống (Top - down) và chỉ tập trung vào từng biện pháp riêng rẽ Thực tế họ cần tổng hợp các biện pháp kỹ thuật canh tác, vì mỗi hộ nông dân có một hoàn cảnh khác nhau Trong nghiên cứu phát triển NN theo quan điểm HT người ta áp dụng phương pháp tiếp cận từ dưới lên (bottom - up) hay tiếp cận có sự tham gia Phương pháp này dựa trên tình hình sản xuất thực tại của nông dân, có sự tham gia

đóng góp ý kiến tích cực của đại diện nông dân và thực sự vì lợi ích của nông dân Nông dân được đáp ứng tổng hợp các biện pháp chứ không phải chỉ một biện pháp riêng rẽ, phù hợp với điều kiện sản xuất và mong muốn cải tiến của nông dân

Spedding (1979) đK đưa ra 2 phương pháp cơ bản trong nghiên cứu CCCT: (1) nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến HT đK có sẵn, tức là dùng phương pháp phân tích HT để tìm ra điểm hẹp hay chỗ thắt lại của HT Đó là chỗ có ảnh hưởng xấu, hạn chế đến hoạt động của HT, cần có tác động cải tiến, sửa chữa khai thông để cho HT hoàn thiện hơn; (2) nghiên cứu xây dựng

HT mới Phương pháp này đòi hỏi phải có đầu tư, tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng Cách nghiên cứu này cần có trình độ cao hơn để tổ chức, sắp đặt các bộ phận trong HT dự kiến đúng vị trí trong các mối quan hệ giữa các phần tử để

đạt được mục tiêu tốt nhất của HT

Đào Thế Tuấn (1984) [43] đề xuất bố trí CCCT cho một cơ sở sản xuất theo các bước: (1) thu thập tài liệu về khí hậu, đánh giá những thuận lợi khó khăn; (2) thu thập các tư liệu về đất đai, đánh giá số lượng, chất lượng, khả năng khai thác và sử dụng, các mặt hạn chế của đất; (3) xem xét tổng hợp về nước, HT thủy lợi và các biện pháp quản lý khai thác nước; (4) xem xét bộ giống cây trồng đK sử dụng, diện tích tốt xấu của từng giống trong quá trình sản xuất Từ đó định hướng lựa chọn các giống cây trồng thích hợp cho CCCT

dự định tiếp tục phát triển; (5) xem xét tình hình sâu bệnh; (6) tìm hiểu các

định hướng mục tiêu phát triển sản xuất của cơ sở; và (7) phân tích đánh giá

Trang 27

nguồn nhân lực, tư liệu sản xuất

Carangal W R (1987) cho rằng HTCT phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, kinh tế, xK hội HTCT biểu thị tính đặc thù cao của môi trường Vì vậy, phải nghiên cứu HTCT ở nhiều môi trường khác nhau (Dẫn theo Nguyễn Văn Lạng, 2002) [24]

Chamber (1989) [62] đK đề xuất hướng nghiên cứu bắt đầu từ nông dân

Điểm xuất phát bắt đầu từ sự lựa chọn của nông dân, họ trực tiếp tham gia nghiên cứu cùng với nhà khoa học và phổ biến, chuyển giao kiến thức kỹ thuật cũng như kinh nghiệm sản xuất cho nông dân khác trong vùng

FAO (1992) [61] đưa ra phương pháp phát triển HTCT và cho đây là phương pháp tiếp cận, nhằm phát triển HTNN và cộng đồng nông thôn trên cơ

sở bền vững Theo đó việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt phải được bắt đầu từ phân tích HTCT truyền thống Những nghiên cứu của FAO nhằm bổ sung và hoàn thiện phương pháp tiếp cận

Theo Phạm Chí Thành và các cộng sự (1996) [35] khi nghiên cứu phát triển HTNN cần tiến hành qua các bước: (1) mô tả nhanh điểm nghiên cứu, bao gồm phương pháp không dùng phiếu điều tra và phương pháp dùng phiếu

điều tra; (2) phương pháp thu thập thông tin từ nông dân (KIP); (3) thu thập, phân tích và đánh giá thông tin (SWOT); (4) thu thập – chẩn đoán những hạn chế (WEB); (5) xây dựng bản đồ mặt cắt, mô tả HST NN và hoạt động sản suất của nông hộ; và (6) xử lý, phân tích số liệu và trình bày kết quả điều tra khảo sát

1.3 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Các nhà khoa học NN trên thé giới đK có nhiều nghiên cứu góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Do giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ nêu lên một số kết quả nghiên cứu về HTCT và phát triển nền NNBV Trên thế giới vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 ở các nước Tây Âu bắt đầu

Trang 28

có sự thay đổi chế độ độc canh bằng việc luân canh với 4 khu luân chuyển trong 4 năm giữa ngũ cốc và cỏ 3 lá Theo Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Chinh (1987) [29], Bùi Huy Đáp (1974) [10] : Việc thay đổi HT cây trồng đK làm thay đổi CCCT, cây thức ăn gia súc, cây họ đậu vào CTLC Nhờ đó NS cây trồng tăng lên đáng kể, đất đai được bồi dưỡng, cải tạo Chế

độ luân canh này bắt đầu được áp dụng rộng rKi và đem lại nhiều thắng lợi ở nước Anh, sau đó lan dần sang Bỉ, Hà Lan, Đức, Pháp và nhiều nước khác ở Tây Âu

Lịch sử phát triển NN đK trải qua nhiều giai đoạn Markov (1972) cho rằng yếu tố quyết định sự phát triển NN là công cụ lao động mà trước hết là công cụ làm đất nên ông đK chia sự phát triển thành 5 giai đoạn: (1) chọc lỗ bỏ hạt, điển hình là làm nương rẫy, (2) cái cuốc bằng đá, đồng hoặc sắt Giai

đoạn này xuất hiện ruộng cây trồng, NS lao động cao hơn, NS cây trồng cũng cao hơn, (3) cày gỗ xuất hiện, đất được làm tốt hơn, cây trồng được chăm sóc tốt hơn, quan hệ đồng ruộng được xác lập, (4) cày sắt xuất hiện, đồng ruộng ngày càng được chăm sóc tốt hơn, cây trồng được cải tiến, có chọn giống, (5) cày máy xuất hiện, NS lao động đạt mức cao nhất

Grigg (1974) chia sự phát triển NN thành các giai đoạn sau: (1) làm rẫy; (2) trồng lúa nước châu á; (3) du mục; (4) nền NN địa trung hải; (5) kinh doanh tổng hợp ở Tây Âu và Bắc Mỹ; (6) NN sản xuất sữa; (7) sản xuất kiểu

đơn điệu; (8) nuôi gia súc thịt; (9) sản xuất hạt ở quy mô hơn

Các tác giả Cao Liêm, Trần Đức Viên (1990) và Đường Hồng Dật (1980) chia phát triển NN thành 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn NN thủ công: bắt đầu từ khi con người biết làm ruộng, chăn nuôi vào thời đại đồ đá giữa (còn thời kỳ

đồ đá cũ con người sống bằng săn bắt hái lượm) Thời kỳ này con người tác

động vào thiên nhiên chủ yếu bằng lao động cơ bắp đơn giản, vật tư kỹ thuật còn rất thấp (thậm chí không có) NS sản phẩm ít, NS lao động thấp Kết thúc giai đoạn này vào thế kỷ 18 khi con người phát minh ra máy hơi nước; (2)

Trang 29

Giai đoạn cơ giới hóa Bắt đầu từ thế kỷ 18 đến thập kỷ 70 của thế kỷ 20 Con người tạo ra nhiều sản phẩm vật chất bằng việc tiến hành 5 hóa trong nông nghiệp: Cơ giới hóa, thuỷ lợi hóa, hoá học hóa, điện khí hóa và sinh học hoá Tuy vậy, sự phát triển mạnh mẽ đK làm ảnh hưởng không tốt đến thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường; (3) Giai đoạn làm nông nghiệp bằng trí tuệ (tối ưu hoá sản xuất trên cơ sở tư tưởng hệ thống) Con người sản xuất phù hợp với

điều kiện tự nhiên, kinh tế – xK hội Khoa học kỹ thuật thực sự trở thành yếu

tố quan trọng, sử dụng một cách hợp lý 5 hóa trong nông nghiệp (Dẫn theo Phạm Thị Hương, 2004) [16]

Từ những năm 60 của thế kỷ 20, các viện nghiên cứu NN trên thế giới hàng năm đK tuyển chọn ra nhiều loại giống cây trồng mới, đưa ra nhiều CTLC, quy trình kỹ thuật tiến bộ, đề xuất cơ cấu cây trồng thích hợp cho từng vùng sinh thái, nhằm tăng NS, sản lượng và giá trị sản lượng trên một đơn vị diện tích canh tác Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đK góp nhiều thành tựu

về cơ cấu giống lúa (Vũ Tuyên Hoàng, 1995) [21], Trần Đình Long,1997 [27] Vào những năm 70 của thế kỷ 20, các nhà khoa học của các nước Châu á

đK đi sâu nghiên cứu toàn bộ HT cây trồng trên đất lúa theo hướng lấy lúa làm nền, tăng cường phát triển các loại cây hoa màu, chế độ xen canh, gối vụ ngày càng được chú ý nghiên cứu ở châu á hình thành “Mạng lưới hệ canh tác châu á”- một tổ chức hợp tác nghiên cứu giữa Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) với nhiều quốc gia trong vùng, nhằm giải quyết 3 vấn đề: (1) tăng vụ bằng trồng cây ngắn ngày để thu hoạch trước mùa mưa lũ; (2) thử nghiệm tăng vụ màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh tăng vụ; và (3) xác

định HQKT của các CTLC, tìm và khắc phục những yếu tố hạn chế để phát triển công thức đạt hiệu quả cao (Lý Nhạc và các cộng sự, 1987) [29]

ở Thái Lan bằng việc chuyển vụ lúa xuân sang trồng đậu tương trong hệ thống lúa xuân – lúa mùa hiệu quả thấp do độc canh và thiếu nước tưới đK làm tăng HQKT lên gấp đôi, đồng thời độ phì cũng được tăng lên (Bùi Quang

Trang 30

Toản, 1992 [40] Mô hình sử dụng hợp lý đất dốc đK trồng cây họ đậu thành băng theo đường đồng mức để chống xói mòn Hệ thống trồng xen cây họ đậu với cây lương thực trên đất dốc làm tăng NS cây trồng, đất được cải tạo nhờ

được tăng cường thêm chất hữu cơ tại chỗ và tăng nguồn vi sinh vật có ích trong đất

Mô hình canh tác hỗn hợp ở vùng trũng bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, nghề cá, nghề phụ đK làm đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa nguồn thu nhập Đó là cách tốt nhất giúp người nghèo tránh được rủi ro, tăng nguồn thu tiền mặt hàng ngày, nên mô hình: lúa - cá - gia cầm - rau được gọi là ngân hàng sống (Living bank) của nông dân sản xuất nhỏ (theo Janet) (Dẫn theo Trần Đức Viên 1998) [49]

Cũng theo Trần Đức Viên ở Myanma, mô hình canh tác lúa – cá đK làm tăng NS lên 20%, mặc dù 10% diện tích đất đK sử dụng làm mương rKnh và bờ bao Hệ thống này đK làm giảm sử dụng phân hoá học, giảm cỏ dại và sâu bệnh gây hại ở làng Khaw Khok miền Đông Bắc Thái Lan nông dân mất 30% diện tích cấy lúa để làm bờ ngăn, mương, ao ươm cá cho mô hình canh tác lúa – cá, nhưng lại làm tăng năng suất lên 20%, cùng với 300 kg cá

Các nghiên cứu của Viện nghiên cứu cây lương thực Tây JAVA (Indonesia) cho thấy tình trạng độc canh lúa trên đất trũng với việc tăng cường

sử dụng năng lượng hóa thạch, tất yếu sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường Các nhà khoa học ở đây đK cùng nông dân đưa ra nhiều mô hình canh tác mới Trong đó mô hình canh tác lúa –cá là hệ thống duy trì lâu bền sức sản xuất của đất, tăng thu nhập và cải thiện đời sống dinh dưỡng cho người nông dân

Từ mối quan hệ giữa cây trồng với môi trường và quản lý nông nghiệp, Bill M (1994) [4] đK đưa ra phương pháp nghiên cứu hệ thống luân canh cây trồng mới với hệ canh tác đơn giản để thay thế hệ thống canh tác cũ, nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng sinh học, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả mKn các nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, ô

Trang 31

nhiễm môi trường

ở ấn Độ, chương trình phối hợp nghiên cứu từ năm 1960 đến 1972 lấy

hệ thống luân canh tăng vụ chu kỳ 1 năm làm hướng chiến lược phát triển nông nghiệp đưa ra kết luận: HTCT ưu tiên cây lương thực chu kỳ 1 năm 2 vụ ngũ cốc, đưa thêm vào 1 vụ đậu đỗ đK đáp ứng được 3 mục tiêu là khai thác tối

ưu tiềm năng của đất đai, ảnh hưởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng

và đảm bảo lợi ích của người nông dân (Hoàng Văn Đức, 1992) [14]

Nhiều chuyên gia phát triển nông thôn chủ trương xây dựng hệ thống nông lâm ngư kết hợp ở vùng trũng, nhằm nâng cao hiệu quả của HTCT và tính ổn định của chúng Giai đoạn đầu khi thiết lập mô hình, việc trồng rau trên các bờ giữ nước nuôi cá có vai trò quan trọng Các loại rau thông dụng không đòi hỏi đầu tư lớn Rau được tưới đủ nước bằng nguồn nước trong ruộng hay ao Rau xanh nhanh cho thu nhập và giúp nông dân có nguồn thu hàng ngày Cùng với trồng rau có thể trồng các cây đa mục đích như cỏ voi, cây keo đậu,… vừa làm thức ăn cho cá và gia súc, vừa là băng chắn gió và cung cấp củi đun Các loại cây này còn là giá leo cho nhiều loại đậu đỗ, cây thuốc,… Mặt khác có nhiều cây cối, chim chóc về nhiều góp phần kiểm soát côn trùng gây hại mùa màng, nâng cao tính đa dạng về loài trong HST Có thể trồng cây ăn quả trên bờ ao Nhiều nông dân Philipin đK trồng chuối trên bờ ruộng lúa - cá, và chuối đK cho họ một nguồn thu lớn (Julian G.1992) (Dẫn theo Trần Đức Viên) [49]

Hiện nay, xu hướng trong nghiên cứu của các nhà khoa học NN là tập trung nghiên cứu cải tiến HTCT trên các vùng đất, bằng cách đưa thêm một số loại cây trồng mới vào hệ canh tác nhằm tăng sản lượng nông sản trên một

đơn vị đất canh tác trong một năm, cải tiến CCCT theo hướng kết hợp hiệu quả kinh tế – xK hội với bảo vệ môi trường, nhằm xây dựng nền NN phát triển bền vững (Nguyễn Duy Tính, 1995) [47]

1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Trang 32

Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân có truyền thống trồng trọt, chăn nuôi từ lâu đời Ngay từ thời Hùng Vương, người dân đK di chuyển từ vùng gò đồi xuống vùng đồng bằng ven biển để khai hoang, xây dựng đồng ruộng, sản xuất NN và hình thành nên các thôn, bản Trong cuốn Vân đài loại ngữ Lê Quý Đôn đK ghi chép nhiều về giống lúa tẻ, lúa nếp mà nông dân ta đK gieo cấy từ thời tiền Lê (960-1005) (Bùi Huy Đáp, 1974) [10]

Từ những năm 60 của thế kỷ 20, khi mà NS lúa chiêm bình quân toàn miền Bắc chỉ đạt 13,61 tạ/ha, các nhà khoa học đK dày công nghiên cứu đưa

vụ lúa xuân trở thành vụ sản xuất chính, thay thế dần cho vụ lúa chiêm Một

hệ thống gieo cấy lúa xuân tương đối hoàn chỉnh đK được xây dựng từ vụ xuân

1968 ở huyện Hải Hậu – Nam Định với 100% diện tích lúa xuân Đến năm

1971, diện tích cấy lúa xuân ở đồng bằng sông Hồng vượt lúa chiêm và đK tạo

ra NS bình quân 31,9 tạ/ha vào năm 1985 tỉnh Thái Bình đạt 52 tạ/ha,… Sự nhảy vọt về NS là kết quả của vụ lúa xuân với các giống lúa NS cao, … Cùng với vụ lúa xuân là sự ra đời của vụ đông với các giống cây trồng có nguồn gốc

ôn đới như bắp cải, xu hào, khoai tây, cà chua, … với CTLC lúa xuân- lúa mùa- vụ đông hoặc màu xuân - lúa mùa - vụ đông (Bùi Huy Đáp, 1977, 1982) [11], [12] Sự ra đời của các giống lúa cảm ôn ngắn ngày như CN2, CR203 thay thế dần các giống lúa cảm quang cấy trong vụ mùa, đK hình thành vụ

đông với các cây trồng chịu lạnh như ngô, đậu tương,… đK góp phần tăng hiệu quả sử dụng đất như hiện nay Những vùng đất trũng chỉ cấy được một vụ lúa

đK hình thành mô hình lúa – cá hay lúa – cá - vịt (Phạm Chí Thành 1994) (Dẫn theo Trần Đức Viên, 1998) [49]

Nhiều nghiên cứu cho thấy trên đất 2 vụ lúa, đưa cơ cấu vụ lúa xuân với các giống lúa ngắn ngày tạo ra một khoảng thời gian trống giữa 2 vụ lúa, tạo

điều kiện để xây dựng một hệ thống cây trồng có hiệu quả cao nhất trên đất 2

vụ lúa Đồng thời đề xuất một số CCCT cụ thể cho vùng đồng bằng sông Hồng trên đất 2 vụ lúa chủ động nước:

Trang 33

+ lúa mùa – màu vụ đông (ngô, khoai tây, khoai lang) – lúa xuân

+ lúa mùa – rau vụ đông (cà chua, xu hào, bắp cải) – lúa xuân

Trên đất 2 lúa thấp ngập nước:

+ lúa mùa – bèo dâu – lúa xuân

+ lúa mùa – bèo dâu – lúa xuân - điền thanh

Chế độ canh tác trên từng bước được mở rộng ở châu thổ sông Hồng và các vùng khác của cả nước, đK tạo chuyển biến rõ nét về sản xuất lương thực, thực phẩm ở nước ta (Đào Thế Tuấn, 1987) [45]

Bùi Huy Đáp, (1977) [11] cho rằng: hệ thống màu đông – màu xuân – lúa mùa là chế độ canh tác khai thác triệt để tiềm lực của các loại đất cao trồng lúa mùa nhờ nước trời Trên đất chuyên màu ở ven sông, hệ thống cây trồng có hiệu quả ngay sau khi nước rút là trồng ngô thu đông (hoặc rau đậu sớm) sau đó trồng ngô xuân (hoặc đậu tương, đậu xanh)

Một số tác giả đề xuất 3 loại hình luân canh tăng vụ ở nước ta là: (1) luân canh giữa các cây trồng cạn với nhau; (2) luân canh giữa cây trồng cạn với cây trồng nước; và (3) luân canh giữa các cây trồng nước với nhau

Khi nghiên cứu đưa cây đậu tương vào hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt Nam, Lê Song Dự (1990) [19] kết luận: đậu tương hè có NS cao khá ổn định

có thể mở rộng ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ trong hệ thống: lúa xuân

- đậu tương hè - lúa mùa

Những năm gần đây, các nhà khoa học nước ta đK tạo ra nhiều giống cây trồng mới, thời gian sinh trưởng ngắn, NS cao, chống chịu khá với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí HT cây trồng hợp

Về nghiên cứu biện pháp xây dựng hệ thống NNBV ở Việt Nam trong thời gian qua, nhiều tác giả cho rằng vấn đề canh tác trước hết là luân canh và xen canh đK góp phần ổn định độ phì của đất

Cây vụ đông có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất trong hệ thống

Trang 34

luân canh trên đất bạc màu ở miền Bắc Việt Nam Bởi vì trong điều kiện khô hạn, đất màu bị thoái hóa nhanh nhất, đồng thời chất hữu cơ bị phân giải mạnh Nhờ có vụ đông mà đất trồng được che phủ trong suốt thời kỳ khí hậu khô hạn, cây vụ đông làm tăng độ ẩm đất lên 30 – 50% so với đất không trồng cây vụ đông Đất bạc màu có trồng cây vụ đông đều làm tăng NS cây trồng vụ sau một cách rõ rệt (Bùi Huy Đáp, 1977 [11], Nguyễn Hữu Tề và CTV, 1995 [38])

Võ Minh Kha, Trần Thế Tục, Lê Thị Bích (1996) [23] đK đánh giá tiềm năng sản xuất 3 vụ trên đất phù sa sông Hồng, địa hình cao không được bồi

đắp hàng năm có đủ điều kiện về tài nguyên đất, nhân lực có thể áp dụng hệ thống 3- 4 vụ cây ngắn ngày một năm Đưa hệ số sử dụng đất từ 2,4 lên 2,49 hoặc 2,6 lần Còn Tạ Minh Sơn (1996) [32] đK điều tra đánh giá HT cây trồng trên các nhóm đất khác nhau ở đồng bằng sông Hồng kết luận: Các HTCT 3 –

4 vụ/năm bằng các loại cây rau cao cấp đạt giá trị cao nhất (trên 60 triệu

đồng/ha/năm) Hiện nay những HTCT có giá trị thu nhập cao là các HT trên

đất chuyên màu, đất 2 màu – 1 lúa và đất 2 lúa – 1 màu

Vũ Tuyên Hoàng (1995) [20] khi nghiên cứu chọn tạo giống lúa cho các vùng khô hạn, ngập úng, chua phèn đK nhận xét: So với vùng thâm canh, các vùng khó khăn có thêm yêu cầu về giống mới thích hợp hơn nữa Các tiêu chuẩn yêu cầu về giống chống chịu cũng cần được xác định chuẩn xác hơn

Đối với các vùng khó khăn, công tác cải tạo đất và nguồn nước tưới luôn cần kết hợp với giống và các biện pháp kỹ thuật thích hợp để tăng năng suất

Mỗi vùng sinh thái có điều kiện đất đai, nước, khí hậu khác nhau, với những thuận lợi và khó khăn riêng Vì vậy, cần có những nghiên cứu xác định HTCT riêng cho từng vùng, nhằm khai thác hợp lý những tiềm năng và né tránh những bất lợi Đào Thế Tuấn (1984) [42] đK nhấn mạnh đến mối quan

hệ chặt chẽ giữa điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu) với đặc điểm sinh lý của từng cá thể cây trồng trong quần thể và không thể tách rời các yếu tố kinh

Trang 35

Đối với vùng đất cát ven biển, cần thiết phải lập các dải rừng phòng hộ trên các bờ cát bao quanh Đồng thời phải có các biện pháp xen canh, gối vụ các cây trồng như lạc, đậu tương, vừng, … trong đó quan trọng nhất là các cây

họ đậu để tạo nguồn hữu cơ bổ sung cho đất (Vũ Biệt Linh, 1995 )[26]

Có nhiều biện pháp cải tiến HTCT theo hướng bền vững Trần Đức Viên, (1998) [49] khi nghiên cứu xây dựng mô hình HTNN vùng trũng đồng bằng sông Hồng cho thấy: cấp 1 hoá giống lúa là một biện pháp quan trọng làm tăng năng suất lúa Những nghiên cứu của tác giả tại Hoa lư cho thấy giải pháp này đK góp phần làm tăng NS lúa lên 9 – 23% Cơ cấu giống lúa trong sản xuất của vùng trũng có liên quan đến cơ cấu các dạng địa hình và không nên quá lệch về một giống ưu thế Đa dạng hóa giống có vai trò to lớn trong việc tăng NS và tính ổn định của NS Trong điều kiện sản xuất hiện nay tỷ lệ các nhóm giống chính 30:30:30 là phù hợp Cũng không nên gieo cấy quá nhiều loại giống để đảm bảo tính hàng hóa của sản phẩm trồng trọt

Võ Minh Kha (1978) [22] đK nhấn mạnh vai trò của phân hữu cơ trong NNBV Ông đK đề cập đến sự di chuyển các chất trong đất ngập nước khi bón

Trang 36

phân hữu cơ, và đK đưa ra 4 giải pháp gồm: (1) thủy lợi, làm ải, rút nước phơi ruộng và đưa 1 vụ màu ngắn ngày vào trong chế độ canh tác; (2) bón vôi khử chua; (3) bón phù sa hoặc đất bồi vào ruộng lúa; (4) ủ phân hữu cơ trước khi bón

Lê Văn Tiềm (1992) [33] phát hiện thiếu lân là yếu tố hạn chế NS lúa chủ yếu của vùng chiêm trũng An Quang Vịnh (1993) [46] cho biết dùng lân nung chảy thích hợp cho vùng đất trũng, chua Nguyễn Quốc Cường (1990) [6] đưa ra một số giải pháp chuyển dịch mùa vụ, chuyển hướng HTCT, giải pháp thủy lợi để hạn chế ảnh hưởng do ngập úng ở vùng đồng bằng sông Hồng

Có hai loại HST: HST tự nhiên (đất, nước và không khí là môi trường cơ bản) và HST nhân tạo (đô thị và nông thôn là 2 môi trường cơ bản) Nguyễn Thượng Hùng (1999) khẳng định để có một nền NN phát triển bền vững trước hết cần quan tâm đến việc đa dạng sinh học Đa dạng sinh học, đặc biệt là số lượng loài và loại tương tác dinh dưỡng trong HST sẽ dẫn đến tính ổn định cao trong một HST nhân tạo Các loài trong một quần thể có thể có ích cho nhau trong việc phòng trừ sâu bệnh

Ninh Khắc Bản (2002) [2] cho rằng đa dạng sinh học trong các HTCT có các lợi ích sau: (1) cho phép người nông dân an toàn hơn về thu nhập và chất lượng cuộc sống; (2) cho lợi nhuận lâu dài vì cải thiện độ phì nhiêu của đất; (3) tạo việc làm ổn định, tránh được căng thẳng mùa vụ; (4) đa dạng hoá về số lượng sản phẩm và tăng chất lượng sản phẩm; (5) môi trường được bảo vệ tốt hơn

Lê Quý An (1999) [1] cho rằng để xác định và đánh giá một HTCT nào

đó tại một địa phương, chúng ta phải dựa trên quan điểm tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt quan tâm đến các vấn đề: (1) tiềm năng của đất và sử dụng đất; (2) giá trị về môi trường, sức chịu đựng và mức độ dễ hủy hoại của

đất; (3) những mục tiêu phát triển; (4) kỹ năng truyền thống, lợi ích và nguyện

Trang 37

vọng của nông dân; (5) quan tâm phát triển HTCT lâu bền ở các sườn đồi, các hình thức nông lâm kết hợp, trồng cây theo đường đồng mức, làm ruộng bậc thang; (6) thực hiện thâm canh tăng vụ, kiểm soát, hạn chế sử dụng hoá chất,

mở rộng việc thực hiện các biện pháp sinh học, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp

để hạn chế ô nhiễm môi trường và suy thoái đất; (7) chú ý bảo tồn sự đa dạng sinh học trong quá trình canh tác

Sự phát triển NN ở giai đoạn hiện nay là nền NN sinh thái bền vững – nền NN không làm suy thoái nguồn tài nguyên, không gây ô nhiễm môi trường, duy trì sức sản xuất của tài nguyên, không gây hậu quả cho các thế hệ sau Phạm Thị Hương (2004) [16] cho rằng để xây dựng nền NN sinh thái bền vững cần phải: (1) tạo các giống thích hợp với các vùng sinh thái, không dùng nhiều các tác động hoá học để thay đổi môi trường; (2) đầu tư hợp lý, không gây ô nhiễm môi trường; (3) dùng đạm sinh học (các cây cố định đạm, cây họ

đậu…) dùng phân bón hữu cơ; (4) duy trì sự đa dạng sinh học; và (5) trong bảo vệ thực vật phải dùng côn trùng có ích, duy trì sự cân bằng sinh thái Đặc biệt ở Việt Nam cần phát triển nông nghiệp đạt các mục tiêu: (1) phát triển và

ổn định (NS ngày càng cao, sản lượng ngày càng nhiều nhưng phải ổn định); (2) tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá; (3) Đẩy mạnh chế biến và phát triển thị trường; và (4) tăng thu nhập cho người nông dân

Những nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về HTCT đK góp phần rất lớn trong việc phát triển nền NN theo hướng bền vững Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ tập trung ở một số vùng sinh thái Nhiều kết quả nghiên cứu chỉ phù hợp ở một giai đoạn nhất định vì hệ thống cây trồng mang đặc tính động Nghiên cứu hệ thống cây trồng không thể dừng lại ở một không gian và thời gian mà phải tiếp tục để tìm ra xu thế phát triển, những yếu tố hạn chế cùng những giải pháp khắc phục để chuyển đổi hệ thống cây trồng Mặt khác mỗi vùng sinh thái có điều kiện đất đai, khí hậu khác nhau Vì vậy, cần

có những nghiên cứu và xác định HTCT riêng cho từng vùng, nhằm khai thác

Trang 38

hợp lý những tiềm năng và né tránh những bất lợi

Thanh Hoá là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Đặc biệt từ tháng 7 – 10 lượng mưa chiếm trên 70 – 80% lượng mưa cả năm, do đó trên nhiều vùng ở hạ lưu bị ngập úng, cứ 4 –

5 năm có bKo cấp 8-12 đổ bộ giây thiệt hại lớn cho sản xuất, và hàng năm từ tháng 5 – 7 thường có nhiều đợt gió Tây Nam khô nóng kéo dài mỗi đợt 3 – 4 ngày gây hạn hán cho cây trồng Vùng ven biển thường có sương muối vào mùa đông, ảnh hưởng không nhỏ đến SXNN Tuy nhiên những nghiên cứu về HTCT còn rất ít, riêng huyện Quảng Xương chưa có một nghiên cứu nào về HTCT theo hướng bền vững Do đó mục tiêu của đề tài này là đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế – xK hội và HTCT của huyện Quảng Xương,

đề xuất hướng cải tiến HTCT, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân, đảm bảo sản xuất lâu bền, hướng tới một nền nông nghiệp có HQKT cao và bền vững

Trang 39

Chương 2 đối tượng, địa điểm, nội dung

và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tài liệu điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xK hội của huyện Quảng Xương

- Hệ thống cây trồng hiện có ở điểm nghiên cứu

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Để nghiên cứu cải tiến HTCT theo hướng bền vững ở huyện Quảng Xương, chúng tôi tiến hành khảo sát chung điều kiện tự nhiên, kinh tế – xK hội của toàn huyện và chọn 24 xK đồng bằng làm vùng nghiên cứu Đây là vùng

đất khá bằng phẳng, phát triển kinh tế nông nghiệp là chủ yếu và chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của toàn huyện Để nghiên cứu, chúng tôi đK chọn 3 xK

đại diện cho vùng nghiên cứu, gồm Quảng Định, Quảng Văn và Quảng Khê Tại các xK này tiến hành điều tra, đánh giá hệ thống canh tác Qua đó phát hiện những mặt hạn chế và thiết kế HTCT mới

Địa điểm bố trí thí nghiệm tại xK Quảng Định và Quảng Khê

Địa điểm triển khai mô hình tại xK Quảng Văn và Quảng Đức

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế – xK hội của huyện Quảng Xương 2.3.2 Nghiên cứu cải tiến kỹ thuật bón phân cho lúa

- Nghiên cứu xác định mức bón lân hợp lý cho lúa thuần

- Nghiên cứu xác định mức bón lân hợp lý cho lúa lai

2.3.3 Nghiên cứu so sánh hiệu quả của các công thức luân canh

2.3.4 Nghiên cứu thử nghiệm giống lúa mới

2.3.5 Nghiên cứu xây dựng mô hình đa canh

Trang 40

đại diện, mỗi xK 60 phiếu ngẫu nhiên theo 3 nhóm hộ: sản xuất giỏi, trung bình và kém

2.4.2 Phương pháp thực nghiệm đồng ruộng

- Thí nghiệm bón lân cho lúa thuần

Thí nghiệm được thực hiện trong vụ xuân 2006, tại xK Quảng Định với giống lúa X21

Thí nghiệm được bố trí chính quy có nhắc lại, đảm bảo nguyên tắc sai khác duy nhất và tuân theo các phương pháp thí nghiệm chuyên ngành của Phạm Chí Thành Do giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ thực hiện thí nghiệm với phân lân supe Lâm Thao

Thí nghiệm gồm 5 công thức, 3 lần nhắc lại, bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), diện tích ô là 20m2

Nền : 120 kg N + 90 kg K2O + 8 tấn phân chuồng + 600 kg vôi bột /ha Công thức 1: nền

Công thức 2: nền + 60 kg P2O5

Ngày đăng: 06/12/2013, 19:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Quốc Cường (1990), “Sử dụng đất trũng”, báo cáo khoa học, Bộ NN và công nghiệp thực phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đất trũng
Tác giả: Nguyễn Quốc Cường
Năm: 1990
9. Lê Song Dự (1990), “Nghiên cứu đ−a cây đậu t−ơng vào hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt Nam”. Tài liệu hội nghị Hệ thống canh tác Việt Nam, tr.16- 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đ−a cây đậu t−ơng vào hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Lê Song Dự
Năm: 1990
10. Bùi Huy Đáp (1974), “Một số nghiên cứu đầu tiên về cơ cấu cây trồng”, Tạp chí KHKT nông nghiệp, số 7/1974, tr.20- 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nghiên cứu đầu tiên về cơ cấu cây trồng
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Năm: 1974
11. Bùi Huy Đáp (1977), Cơ sở khoa học của vụ đông, NXB khoa hoc kỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của vụ đông
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXB khoa hoc kỹ
Năm: 1977
14. Hoàng Văn Đức (1980), “Hệ thống canh tác, h−ớng phát triển nông nghiệp”, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, số 7/1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống canh tác, h−ớng phát triển nông nghiệp
Tác giả: Hoàng Văn Đức
Năm: 1980
22. Võ Minh Kha (1978), “Sự di chuyển các chất trong đất ngập nước khi bón các loại phân hữu cơ”, Báo cáo khoa học kỹ thuật nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự di chuyển các chất trong đất ngập nước khi bón các loại phân hữu cơ
Tác giả: Võ Minh Kha
Năm: 1978
25. Cao Liêm, Vũ Thị Bình, Quyền Đình Hà (1992), “Hiệu quả kinh tế một số HTCT trên các vùng sinh thái nông nghiệp đồng bằng sông Hồng”, Báo cáo khoa học, Hội nghị khoa học Hệ thống cây trồng Việt Nam lần thứ 3, tr.193- 197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh tế một số HTCT trên các vùng sinh thái nông nghiệp đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Cao Liêm, Vũ Thị Bình, Quyền Đình Hà
Năm: 1992
32. Tạ Minh Sơn (1996), “Điều tra đánh giá hệ thống cây trồng trên các nhóm đất khác nhau ở đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, số 2/1996, tr. 59- 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra đánh giá hệ thống cây trồng trên các nhóm đất khác nhau ở đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Tạ Minh Sơn
Năm: 1996
34. Phạm Chí Thành (1977), Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng, NXB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng
Tác giả: Phạm Chí Thành
Nhà XB: NXB
Năm: 1977
36. Lê Duy Thước (1991), “ Về khí hậu đất đai và vấn đề bố trí cây trồng ` miền Bắc Việt Nam”, Tạp chí tổ quốc, số 297, tr. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khí hậu đất đai và vấn đề bố trí cây trồng ` miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Lê Duy Thước
Năm: 1991
44. Đào Thế Tuấn (1987). “Hệ thống nông nghiệp đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí KHKTNN số 2/1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống nông nghiệp đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Năm: 1987
45. Đào Thế Tuấn (1987), “Hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, số 2/1987, tr. 113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Năm: 1987
46. Đào Thế Tuấn (1989), “Hệ thống nông nghiệp”, Tạp chí cộng sản, số 6/1989, tr. 4- 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống nông nghiệp
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Năm: 1989
47. Nguyễn Duy Tính (1995), Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Duy Tính
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
53. An Quang Vịnh “Bón phân và biện pháp thâm canh lúa trên đất trũng”, Báo cáo khoa học, ch−ơng trình KT 02- 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân và biện pháp thâm canh lúa trên đất trũng
54. Bùi Thị Xô (1994), “Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý các vùng đất nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội”, Tạp chí KH công nghệ và quản lý kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý các vùng đất nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Bùi Thị Xô
Năm: 1994
57. http/ www.vcn.vnn.vn, “Thành phần và giá trị dinh d−ỡng thức ăn gia sóc, gia cÇm”.TiÕng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần và giá trị dinh d−ỡng thức ăn gia sóc, gia cÇm
63. FAO (1992), “Land evaluation and farming systems analysis for land use planning”. Workshop Documents FAO, Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land evaluation and farming systems analysis for land use planning
Tác giả: FAO
Nhà XB: Workshop Documents FAO
Năm: 1992
1. Lê Quý An (1999), Chính sách môi tr−ờng và phát triển lâu bền của Việt Nam, NXB khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tr. 14-21 Khác
3. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2005), 575 giống cây trồng nông nghiệp mới, NXB nông nghiệp, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Diễn biến một số yếu tố khí t−ợng ở huyện Quảng X−ơng  Thanh Hoá (1990-2005) - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Bảng 3.1. Diễn biến một số yếu tố khí t−ợng ở huyện Quảng X−ơng Thanh Hoá (1990-2005) (Trang 45)
Hình 3.2. Diễn biến nhiệt độ, giờ nắng và độ ẩm TB qua các tháng. - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Hình 3.2. Diễn biến nhiệt độ, giờ nắng và độ ẩm TB qua các tháng (Trang 47)
Hình 3.4. Tăng tr−ởng kinh tế các ngành thời kỳ 2000- 2005 - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Hình 3.4. Tăng tr−ởng kinh tế các ngành thời kỳ 2000- 2005 (Trang 55)
Bảng 3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Bảng 3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Trang 55)
Hình 3.5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 2000- 2005 - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Hình 3.5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 2000- 2005 (Trang 56)
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu phát triển ngành nông nghiệp - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu phát triển ngành nông nghiệp (Trang 57)
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu phát triển xã hội của huyện Quảng X−ơng   thêi kú 2000 - 2005 - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu phát triển xã hội của huyện Quảng X−ơng thêi kú 2000 - 2005 (Trang 60)
Bảng 3.7. Hiện trạng sử dụng đất NN của huyện Quảng Xương - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Bảng 3.7. Hiện trạng sử dụng đất NN của huyện Quảng Xương (Trang 63)
Bảng 3.8. Biến động sử dụng đất sản xuất nông nghiệp - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Bảng 3.8. Biến động sử dụng đất sản xuất nông nghiệp (Trang 64)
Bảng 3.10. Diễn biến cơ cấu giống và năng suất lúa vụ xuân - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Bảng 3.10. Diễn biến cơ cấu giống và năng suất lúa vụ xuân (Trang 67)
Bảng 3.11. Diễn biến cơ cấu giống và năng suất lúa vụ mùa - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Bảng 3.11. Diễn biến cơ cấu giống và năng suất lúa vụ mùa (Trang 68)
Bảng 3.13. Phân loại đất ở tiểu vùng 1 - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Bảng 3.13. Phân loại đất ở tiểu vùng 1 (Trang 71)
Bảng 3.17. Thực trạng sử dụng phân bón cho lúa vụ mùa 2005 - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Bảng 3.17. Thực trạng sử dụng phân bón cho lúa vụ mùa 2005 (Trang 76)
Hình 3.6. Động thái đẻ nhánh của giống lúa X21 ở các công thức  bón phân khác nhau. - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Hình 3.6. Động thái đẻ nhánh của giống lúa X21 ở các công thức bón phân khác nhau (Trang 78)
Bảng 3.19. Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây của giống lúa X21 qua  các công thức bón phân khác nhau - Nghiên cưu cải tiến hệ thống canh tác theo hướng bền vững ở huyện quảng xương  thanh hóa
Bảng 3.19. Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây của giống lúa X21 qua các công thức bón phân khác nhau (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w