Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá các yếu tố của Năng lực tâm lý và Áp lực nghề nghiệp ảnh hưởng như thế nào đến Chất lượng khám chữa bệnh ở một số bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Min
Trang 1-
ĐOÀN THỊ ĐIỆP
MỐI QUAN HỆ GIỮA NĂNG LỰC TÂM LÝ, ÁP LỰC NGHỀ NGHIỆP VÀ CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH CỦA CÁC BÁC SĨ Ở MỘT SỐ BỆNH VIỆN TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - 2020
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HỒ VIẾT TIẾN
Tp Hồ Chí Minh - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ với chủ đề: “MỐI QUAN HỆ GIỮA NĂNG LỰC TÂM LÝ, ÁP LỰC NGHỀ NGHIỆP VÀ CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH CỦA BÁC SĨ Ở MỘT SỐ BỆNH VIỆN TẠI TP HỒ CHÍ MINH” là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu
khoa học độc lập và nghiêm túc Số liệu trong luận văn được thu thập từ thực
tế, có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được xử lý trung thực, khách quan và
chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, Ngày 16 tháng 10 năm 2020
Người thực hiện
Đoàn Thị Điệp
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
1.6 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1 Năng lực tâm lý 6
2.2.1 Khái niệm về năng lực tâm lý 6
2.2.2 Các thành phần cơ bản của năng lực tâm lý 8
2.2 Áp lực nghề nghiệp 9
2.3 Chất lượng khám chữa bệnh 10
2.4 Mối quan hệ giữa năng lực tâm lý và chất lượng khám chữa bệnh 11
2.5 Mối quan hệ giữa áp lực nghề nghiệp và chất lượng khám chữa bệnh 12
2.6 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu 13
2.7.1 Mô hình nghiên cứu 13
2.7.2 Các giả thuyết nghiên cứu 14
Trang 53.1.1 Nghiên cứu định tính 16
3.1.2 Nghiên cứu định lượng 16
3.2 Qui trình nghiên cứu 16
3.3 Phương pháp nghiên cứu 17
3.3.1 Phân tích giá trị Cronbach’s Alpha 17
3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 17
3.3.3 Phần mềm SmartPLS 18
3.4 Thang đo 19
3.4.1 Đo lường năng lực tâm lý 19
3.4.2 Đo lường áp lực nghề nghiệp 20
3.4.3 Đo lường chất lượng khám chữa bệnh 21
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
4.1 Mô tả đặc điểm mẫu khảo sát 23
4.2 Kết quả kiểm định thang đo 24
4.2.1 Kiểm định độ tin cậy của các thang đo 24
4.2.1.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha lần 1 24
4.2.1.2 Kiểm định Cronbach’s Alpha lần 2 28
4.2.2 Kiểm định phân tích nhân tố khám phá EFA 29
4.2.2.1 Kết quả phân tích EFA lần 1 29
4.2.2.2 Kết quả phân tích EFA lần 2 31
4.2.3 Đánh giá mô hình đo lường 33
4.2.4 Đánh giá mô hình cấu trúc 35
Trang 6yếu tố tác động đến chất lượng khám chữa bệnh 38
4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 39
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 41
5.1 Kết luận và đóng góp của nghiên cứu 41
5.1.1 Kết luận 41
5.1.2 Đóng góp của nghiên cứu 42
5.2 Hàm ý chính sách 43
5.2.1 Hàm ý về năng lực tâm lý 43
5.2.1 Hàm ý về áp lực nghề nghiệp 46
5.2.1 Hàm ý về chất lượng khám chữa bệnh 48
5.3 Hạn chế của đề tài 49
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 50
Trang 7KMO: Kaiser Meyer Olkin Hệ số KMO
EFA : Exploratory Factor Analysis Hệ số khám phá EFA
P- value: Probability value Giá trị xác suất
AVE: Average Variance Extracted Phương sai trích trung bình
VIF: Variance Inflation Factor Hệ số phóng đại phương sai
Trang 8Bảng 3.2 Thang đo Áp lực nghề nghiệp
Bảng 3.3 Thang đo Chất lượng khám chữa bệnh
Bảng 4.1 Cơ cấu mẫu theo giới tính
Bảng 4.2 Cơ cấu mẫu theo độ tuổi
Bảng 4.3 Cơ cấu theo bệnh viện
Bảng 4.4 Kiểm định độ tin cậy thang đo Năng lực tâm lý
Bảng 4.5 Kiểm định độ tin cậy thang đo áp lực nghề nghiệp
Bảng 4.6 Kiểm định độ tin cậy thang đo Chất lượng khám chữa bệnh Bảng 4.7 Kiểm định độ tin cậy thang đo Hy vọng lần 2
Bảng 4.8 Giá trị KMO và kiểm định Bartlett lần 1
Bảng 4.9 Ma trận thành phần xoay (Rotated Component Matrixa)
Bảng 4.10 Giá trị KMO và kiểm định Bartlett
Bảng 4.11 Ma trận thành phần xoay (Rotated Component Matrixa)
Bảng 4.12 Kết quả phân tích độ tin cậy và giá trị hội tụ
Bảng 4.13 Giá trị phân biệt – kết quả phân tích Fornell – Lacker
Bảng 4.14 Bảng kiểm định Hệ số VIF
Bảng 4.15 Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc BOOTRAPPING, n= 5,000 Bảng 4.16 Kết quả kiểm định giả thuyết mô hình nghiên cứu
Hình 4.1 Mô hình đo lường các khái niệm
Hình 4.2 Mô hình đo lường cấu trúc
Hình 4.3 Biểu đồ hiệu suất quan trọng
Trang 9chuyên môn cao, đòi hỏi sự chính xác và luôn luôn hoàn thiện bản thân cũng như chuyên môn Sức khỏe con người luôn đặt lên hàng đầu, Y đức luôn đặt trong tim Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá các yếu tố của Năng lực tâm lý và Áp lực nghề nghiệp ảnh hưởng như thế nào đến Chất lượng khám chữa bệnh ở một số bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu xem xét các yếu tố trong Năng lực tâm
lý bao gồm yếu tố Tự Tin, Hy vọng, Kiên cường và Lạc quan xem xét yếu tố đặc trưng nào ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh thông qua các chỉ tiêu về sự hài lòng của bệnh nhân Áp lực nghề nghiệp tác động đến chất lượng khám chữa bệnh hay không Khảo sát thực nghiệm sử dụng các thang đo về hy vọng, lạc quan, kiên cường, tự tin Các thang đo về áp lực nghề nghiệp thông qua việc đánh giá sức khỏe của bác sĩ, sự căng thẳng trong công việc, áp lực về bản thân và gia đình ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng khám chữa bệnh của các bác sĩ Từ đó đưa ra các giải pháp và chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế của mỗi bệnh viện nhằm đem lại kết quả điều trị tốt nhất cho bệnh nhân và nâng cao mức sống cũng như tạo một môi trường làm việc thật chuyên nghiệp để phát huy năng lực và nhiệt huyết của người bác sĩ
Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ các báo cáo khoa học, các đề tài nghiên cứu trước đó làm cơ sở cho sự phát triển của đề tài này Tác giả dùng kiểm định Cronbach’s Alpha để khẳng định số lượng biến trong mỗi thang đo chính xác là bao nhiêu Đối với phân tích Cronbach’s Alpha cho kết quả nếu Hệ số Cronbach’s Alpha chung > 0,5 tất cả các hệ biến có giá trị Cronbach’s Alpha > 0.5 thì không loại biến Dùng Phân tích nhân tố khám phá EFA để khẳng định có bao nhiêu thang đo, mỗi thang đo có số lượng là bao nhiêu biến Sử dụng mô hình SEM thông qua phần mềm SMARTPSL để kiểm định khái niệm và các mô hình nghiên cứu
Từ khóa: năng lực tâm lý, áp lực nghề nghiệp, tình trạng kiệt sức của bác sĩ
Trang 10expertise and always perfecting yourself Human health always comes first The objective of the study is to evaluate how factors of psychological capacity and occupational pressure affect the quality of medical examination and treatment in several hospitals in Ho Chi Minh City The study examines factors in Psychological Competency including Confidence, Hope, Resilience and Optimism, and examines which specific factors affect the quality of medical examination and treatment through indicators of satisfaction Professional stress affects the quality of medical examination and treatment or not Experimental survey using scales of hope, optimism, resilience, and confidence The measures of professional stress through the assessment of the health of doctors, work stress, and pressure on oneself and family affect the quality of medical examination and treatment of doctors From there, propose solutions and policies to suit the actual situation of each hospital in order to bring the best treatment results for patients and improve living standards as well as create a professional working environment to promote the capacity and enthusiasm
of the doctor
Research data is taken from scientific reports, previous research topics as the basis for the development of this topic The author used Cronbach's Alpha test to confirm exactly how many variables on each scale are For the analysis of Cronbach's Alpha shows the results if Cronbach's Alpha coefficients are generally> 0.5 for all variables with Cronbach's Alpha's> 0.5 then no variables Use Exploratory Factor Analysis to confirm how many scales, each scale has a number of variables Using SEM model through SMARTPSL software to test concepts and research models
Keywords: psychological capacity, Professional stress, physician exhaustion professional stress, Physician care
Trang 11CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Sức khỏe luôn là mối quan tâm hàng đầu trong mỗi con người chúng ta vì vậy trong ngành Y tế chất lượng khám chữa bệnh luôn là mục tiêu hàng đầu Để đạt được kết quả tốt cần nhiều yếu tố như: Các chính sách hoạt động của ngành Y tế, trang bị các trang thiết bị y tế hiện đại, đội ngũ nhân viên có chuyên môn sâu Trong bệnh viện cần có sự kết hợp hài hòa giữa các phòng ban, từ Ban giám đốc đến bác
sĩ, điều dưỡng, hành chánh, nhân viên hổ trợ, hoạt động điều hành, bảo dưỡng vật chất….Trong đó năng lực chuyên môn của bác sĩ luôn là yếu tố quyết định đến chất lượng khám chữa bệnh nhưng bên cạnh đó Năng lực tâm lý như: sự hi vọng, sự lạc quan khi gặp khó khăn trong công việc tính kiên cường để giải quyết tình huống khi
có biến cố xảy ra, sự tự tin trong điều trị cũng không kém phần quan trọng giúp cho bác sĩ có những quyết định điều trị đúng lúc, kịp thời và mang lại hiệu quả điều trị tốt, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh
Nếu một bác sĩ không tự tin, không lạc quan, không kiên cường và hy vọng vào bản thân thì sẽ dễ bị áp lực, chán nản mệt mỏi Không yêu thích công việc dẫn đến thiếu sự nhiệt huyết trong công việc, thiếu sự đồng bộ trong khâu xử lí sẽ dễ dẫn đến xảy ra các biến cố trong y khoa Người luôn cảm thấy mệt mỏi, chán nản, căng thẳng lo âu khi phải giải quyết công việc sẽ ảnh hưởng đến kết quả điều trị Chính vì vậy yếu tố Năng lực tâm lý và Áp lực nghề nghiệp là mối quan tâm không thể bỏ qua khi đề cập đến vấn đề nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của các bác
sĩ trong môi trường bệnh viện
Trước tiên, chúng tôi xác định xem mối quan hệ giữa các yếu tố như sự lạc quan, sự tự tin, sự hi vọng và tính kiên cường với hiệu quả công việc của các yếu tố trước đây có là thước đo khách quan về hiệu suất hay không Dựa trên khái niệm về mối quan hệ giữa năng lực tâm lý và hiệu suất (ví dụ, Luthans, Youssef và cộng sự, 2007; Youssef & Luthans, trên báo chí) được thực hiện trong nghiên cứu ngắn hạn
và nghiên cứu cắt ngang trong khoản thời gian tối thiểu giữa các lần thu thập dữ liệu (Luthans, Avolio và công sự, 2007, Walumbwa và cộng sự, 2010) Hành vi tổ chức
Trang 12tích cực và năng lực tâm lý được rút ra từ lý thuyết và nghiên cứu về tâm lý học tích cực có liên quan đến những điểm mạnh của con người và phát triển nó thế nào áp dụng tại nơi làm việc theo Luthans, F., Norman, S.M., Avolio, B.J., & J.B (2008) Các tiêu chí của hành vi tổ chức tích cực được xác định với các tiêu chí là Hi vọng, lạc quan, tự tin, kiên cường (Luthans, 2002a; Luthans và cộng sự, 2004; Luthans & Youssef, 2004; Luthans, Youssef, Avolio, 2007)
Hiện nay tại Việt Nam, ngành Y tế đã thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng sự hài lòng của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân Ngành y tế đã tích cực tăng cường chỉ đạo thực hiện cải tiến nâng cao chất lượng khám chữa bệnh thực hiện mục tiêu hành động quốc gia về nâng cao năng lực quản lý khám chữa bệnh Xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn qui địnhvề quản lý chất lượng như phòng ngừa sự cố y khoa, hoàn thiện bổ sung các tiêu chuẩn chất lượng với an toàn phẫu thuật, công bố chỉ số đo lường và chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh…
Các cơ sở khám chữa bệnh trong cả nước luôn quan tâm thực hiện tiêu chí chất lượng, đổi mới phong cách phục vụ, nâng cao ý thức xây dựng cơ sở y tế xanh- sạch- đẹp hướng tới sự hài lòng của bệnh nhân Tích cực nâng cao chất lượng lâm sàng, xét nghiệm thực hiện các qui trình kỹ thuật chuẩn đoán điều trị, rà soát sửa đổi qui chế bệnh viện cho phù hợp với nhu cầu hiện nay Chất lượng khám chữa bệnh trong thời gian gần đây đã có sự tiến bộ rõ rệt, chất lượng lâm sàng đang ngày càng được dần nâng lên…
Nhưng bên cạnh những nổ lực của ngành y tế để phát triển đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Đáp ứng sự hài lòng của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân thì vai trò của bác sĩ quan trọng hàng đầu do bác sĩ là người trực tiếp tiếp xúc với bệnh nhân, ngoài chuyên môn giỏi người bác sĩ đó cũng cần
có một năng lực tâm lý vững vàng, không bị áp lực trong công việc Chính vì vậy rất cần có những đề tài nghiên cứu được tiến hành một cách khoa học đưa ra các số liệu chính xác về mối quan hệ giữa Năng lực tâm lý (sự tự tin, sự hi vọng, sự lạc quan, tính kiên cường), Áp lực nghề nghiệp và chất lượng khám chữa nhằm đưa ra
Trang 13các giải pháp, chính sách, các thước đo để khuyến khích và khơi dậy sự nhiệt huyết của bác sĩ góp phần đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng sự hài lòng cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân theo chỉ đạo của Ngành
y tế
Đó là lý do tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Mối quan hệ giữa năng lực tâm lý, áp lực nghề nghiệp và chất lượng khám chữa bệnh của các bác sỹ ở một
số bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh” Đề tài được tiến hành rộng rãi tại 3
bệnh viện (Bệnh viện chấn thương chỉnh hình, bệnh viện Hùng vương, Bệnh viện huyện Bình Chánh) nhằm đo lường ảnh hưởng của yếu tố năng lực tâm lý, áp lực nghề nghiệp, phân tích tác động tích cực hoặc tiêu cực đến chất lượng khám chữa bệnh Kết quả nghiên cứu là cơ sở khách quan để các bệnh viện có thể dựa vào đó đưa ra chính sách, những tiêu chuẩn đánh giá, khuyến khích nhân đội ngũ y bác sĩ làm việc hiệu quả
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này xác định cơ sở khoa học của việc đo lường các yếu tố chính trong năng lực tâm lý (sự tự tin, sự hy vọng, lạc quan và tính kiên cường), áp lực nghề nghiệp của người bác sĩ ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh ở một số bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của luận văn được xác định gồm mục tiêu quan trọng như sau:
1 Xác định mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực tâm lý với chất lượng khám chữa bệnh, mối quan hệ ngược chiều giữa năng lực tâm lý với áp lực nghề nghiệp và tác động ngược chiều giữa áp lực nghề nghiệp với chất lượng khám chữa bệnh
2 Phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng của năng lực tâm lý, áp lực nghề nghiệp và chất lượng khám chữa bệnh
3 Dựa vào các kết quả phân tích, đề xuất hàm ý, đưa ra một số hạn chế và góp
ý hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 141.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các bác sĩ làm việc ở một số bệnh viện tại thành phố
Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, bệnh viện
Hùng Vương và bệnh viện Huyện Bình Chánh
- Về thời gian: từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2020
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng cụ thể như sau:
Phương pháp nghiên cứu định tính: Xây dựng bảng câu hỏi dựa trên cơ sở
nền, sau đó phỏng vấn trực tiếp 5 bác sĩ đầu ngành trong lĩnh vực y khoa bao gồm 1 bác sĩ Giám đốc, 1 Giảng viên trường đại học Y khoa, 1 bác sĩ Trưởng khoa, 2 bác
sĩ Phó khoa sau đó chỉnh sửa câu từ cho phù hợp với các từ chuyên môn và tâm lý ngành y Tiếp tục đi gặp và gởi bảng khảo sát cho 30 bác sĩ ở các bệnh viện xem bảng câu hỏi khảo sát có phù hợp và đáp ứng theo đúng mục tiêu nghiên cứu đã đề
ra Cuối cùng xây dựng bảng câu hỏi khảo sát chuẩn cho từng thang đo và cho khảo sát trên diện rộng
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Khảo sát trên 250 bác sĩ ở 3 bệnh
viện, thu thập bảng khảo sát và các yếu tố nhân khẩu học để đánh giá thêm về độ chính xác của đề tài Các thành phần, giá trị, độ tin cậy của thang đo về năng lực tâm lý, áp lực nghề nghiệp và chất lượng khám chữa bệnh được kiểm định bằng hệ
số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và ước lượng mô hình tuyến tính SEM - PLS
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu sẽ chứng minh được các yếu tố của năng lực tâm lý (Sự
tự tin, lạc quan, hi vọng, kiên cường) ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh như thế nào Yếu tố về áp lực nghề nghiệp có ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh hay không và năng lực tâm lý bị tác động như thế nào khi bị áp lực trong công
Trang 15việc Để từ đó giúp cho giám đốc các bệnh viện có cái nhìn tổng quan hơn về chất lượng nhân sự, đo lường được năng lực chuyên môn cũng như các vấn đề tâm lý của nhân viên để từ đó có chính sách phù hợp nhằm xây dựng một môi trường làm việc thoải mái, hiệu quả, khơi dậy được nhiệt huyết, lòng đam mê và trách nhiệm của nhân viên đặc biệt là đội ngũ bác sĩ
Đề tài này có thể xem như là một nghiên cứu chính qui đầu tiên trong ngành
y tế Hi vọng sẽ là con đường tiếp theo cho các nghiên cứu về sau được sâu và rộng hơn, đi vào cụ thể từng bệnh viện, từng phòng ban nhằm nâng cao hơn nữa tính chuyên nghiệp và đồng bộ của các bộ phân góp phần hổ trợ đội ngũ bác sĩ làm việc hiệu quả mang lại chất lượng khám chữa bệnh tốt nhất cho bệnh nhân
1.6 Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn bao gồm 5 chương
Chương 1 Mở đầu – Trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu
nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, kết cấu luận văn
Chương 2 Cơ sở lý thuyết về năng lực tâm lý, áp lực nghề nghiệp và chất
lượng khám chữa bệnh – trình bày các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu Đặt ra các giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu – Trình bày thiết kế nghiên cứu, qui
trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và các thang đo liên quan đến các yếu tố nghiên cứu
Chương 4 Phân tích kết quả nghiên cứu – Thống kê mô tả, kiểm định thang
đo, lựa chọn mô hình phù hợp
Chương 5 Kết luận - Các kết luận chính, ý nghĩa đề tài, đưa ra các hàm ý
và chính sách Đồng thời nêu lên các hạn chế của nghiên cứu và đề nghị các bước nghiên cứu tiếp theo
Trang 16CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong chương 2 tập trung giới thiệu các khái niệm có liên quan trong đề tài nghiên cứu (1) Khái niệm về năng lực tâm lý, các yếu tố của năng lực tâm lý, (2) Khái niệm về áp lực nghề nghiệp, (3) Khái niệm về chất lượng khám chữa bệnh của bác sĩ là gì? (4) Mối quan hệ giữa năng lực tâm lý đến chất lượng khám chữa bệnh, (5) Mối quan hệ giữa áp lực nghề nghiệp đến chất lượng khám chữa bệnh (6) Tổng hợp các nghiên cứu trước đây sau đó rút ra các nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh Đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu
2.1 Năng lực tâm lý
2.1.1 Khái niệm về năng lực tâm lý
Theo Luthans, Avolio và cộng sự (2007) định nghĩa năng lực tâm lý là một tập hợp không thể tách rời của bốn yếu tố nguồn lực tâm lý tích cực đó là sự hy vọng, lạc quan, kiên cường và tự tin Năng lực tâm lý được xem như là một năng lực cơ bản ảnh hưởng đến quá trình xử lý nhận thức, khuyến khích tinh thần làm việc, tự tin để thành công, quyết đoán trong công việc Phù hợp với nhận thức xã hội của Bandura (1986, 1997), lý thuyết về động lực làm việc (Stajkovic, 2006), Lý thuyết về hành vi tổ chức năng lực của nhân viên được phân biệt ở hai dạng đặc điểm đó là năng lực thuộc về cá nhân và năng lực thuộc về tâm lý (Luthans và cộng
sự 2007) Năng lực cá nhân không dễ thay đổi và không phụ thuộc vào tính chất công việc, năng lực tâm lý thì dễ thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào tính chất công việc (Chen và cộng sự 2000)
Bốn yếu tố năng lực tâm lý được chứng minh là một cấu trúc đa chiều, bậc cao và là nguồn lực tích cực được kết hợp tạo ra một khái niệm đó là năng lực tâm
lý, kết quả đã được hình thành về mặt khái niệm (Luthans, Youssef và cộng sự, 2007; Stajkovic, 2006) và theo kinh nghiệm (Luthans, Avolio và cộng sự, 2007) Cụ thể, năng lực tâm lý là một cấu trúc cốt lõi cơ bản được chia sẻ giữa bốn nguồn lực thành phần của nó từ đó có thể dự đoán mục tiêu đạt được và hiệu suất thông qua
“sự đánh giá tích cực của một người về hoàn cảnh và xác suất thành công dựa trên
nỗ lực có động cơ và sự kiên trì” (Luthans, Avolio và cộng sự, 2007, trang 550)
Trang 17Hơn nữa, Bandura (1997, 2000) đã chứng minh các chiến lược hiệu quả để tăng hiệu quả của bản thân Wagnild và Young (1993) đã phát triển một phương pháp đo lường khả năng phục hồi Shifren và Hooker (1995) đã chứng minh đo lường tình huống Snyder và cộng sự (1996) công bố một thước đo được gọi là
“thang đo hy vọng của nhà nước” Seligman (1998) đã có một tác phẩm được công nhận rộng rãi nhấn mạnh “sự lạc quan” Snyder (2002) đã cung cấp bằng chứng rằng hy vọng có thể phát triển Carver và Scheier (2002) gần đây đã đưa ra các chiến lược để phát triển sự lạc quan
Nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra năng lực tâm lý không có tính ổn định bằng các đặc điểm tích cách hoặc tự đánh giá mặc dù nó có tính ổn định đo lường cao hơn ở trạng thái cảm xúc, điều này đã được chứng minh và phát triển thông qua các biện pháp can thiệp có mục tiêu (Luthans Avey, Avolio và Peteson, 2010; Luthans, Avey và Patera, 2008)
Năng lực tâm lý có thể tăng lên hoặc giảm xuống dựa trên cách xử trí từ lãnh đạo, đồng nghiệp và thậm chí chính công việc Trong một môi trường làm việc nếu nhà lãnh đạo quan tâm đến tâm lý của nhân viên, khích lệ kịp thời, đưa ra những lời nói động viên tích cực thì người nhân viên sẽ thấy thoải mái, lạc quan, hoặc tự tin hơn trong công việc sẽ đem lại hiệu quả công việc tốt hơn so với việc bị chỉ trích Điều quan trọng là các thành phần tâm lý là một tập hợp hổ trợ cho nhau, nếu một yếu tố nào bị ảnh hưởng như sự tự tin không có thì các yếu tố khác cũng bị ảnh hưởng khi làm việc theo thời gian Do đó, Peterson, Suzanne J.; Luthans, Fred; Avolio, Bruce J.; Walumbwa, Fred và Zhang, Zhen (2011 ) đã chứng minh năng lực tâm lý của nhân viên có thể tăng giảm theo thời gian
Theo Nguyễn Đình Thọ (2016) thì chứng minh năng lực của người lao động trong lĩnh vực marketing gồm hai dạng đó là năng lực chức năng và năng lực tâm
lý Sự phối hợp đồng bộ giữa hai dạng năng lực này sẽ giúp cho người lao động đạt được hiệu quả làm việc tốt nhất Năng lực tâm lý là một khái niệm bậc hai với bốn yếu tố: tự tin đo lường bằng bốn biến (Parker,1998), lạc quan đo lượng bằng 3 biến
Trang 18(Carver và Scheier, 2002), hy vọng được đo lường bằng bốn biến (Snyder và cộng
sự, 2002), kiên cường được đo lường bằng 4 biến (Block và Kremen, 1996)
2.1.2 Các thành phần cơ bản của năng lực tâm lý
Từ các lý thuyết trên năng lực tâm lý được định nghĩa là một cấu trúc hoàn hảo bao gồm bốn yếu tố đó là tự tin, hy vọng, lạc quan, kiên cường
Tự tin (Self – efficacy):
Theo Albert Bandura (1997, 2007) đã định nghĩa sự tự tin là nền tảng của động lực con người, thành tích hoạt động và sức khỏe tinh thần Mức độ hiệu quả của công việc bắt nguồn từ niềm tin, con người có thể tạo ra sự khác biệt của bản thân khi đối mặt với những khó khăn và thất bại dựa vào niềm tin mà họ chọn cách vượt qua thử thách như thế nào, phải nổ lực ra sao, và quyết định được thời gian để kiên trì vượt qua mặc dù các yếu tố khác có thể đóng vai trò là động lực là hướng dẫn nhưng chúng đều bắt đầu từ niềm tin cốt lõi
Stajkovic & Luthans (1998) đã định nghĩa sự tự tin là để thực hiện thành công một nhiệm vụ được đặt ra trong một môi trường và điều kiện cụ thể thì dựa vào khả năng của chính mình để tạo ra động lực, nhận thức và đưa ra các hành động cần thiết hay còn gọi là niềm tin cá nhân của mình để hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất
Hy vọng (Hope):
Theo Snyder, Irving và Anderson (1991) đã khái niệm hy vọng là “một trạng thái động lực tích cực dựa trên cảm giác tương tác bắt nguồn từ cơ quan (năng lượng hướng đến mục tiêu) và con đường (lập kế hoạch để đạt được mục tiêu)” Snyder và các cộng sự (1996) đã phát triển khái niệm hy vọng thành sự kiên trì hướng đến mục tiêu và khi cần thiết thì chuyển hướng nhiệm vụ để hướng bản thân đến mục tiêu chung, hy vọng để thành công
Theo Centin và Basim (2011) đã khẳng định hy vọng là một niềm tin để xác định các mục đích quan trọng và một quá trình khắc phục những trở ngại cá nhân
Lạc quan (Optimism):
Trang 19Martin Seligman (1998) đã khái niệm lạc quan là “một sự tự cảm nhận từ bên trong của nhận thức, tương đối ổn định, sự kết hợp liên quan đến sự kiện mang tính chất tích cực như là thành tựu, mục tiêu, mọi tác nhân từ bên ngoài, hoặc có thể biểu hiện đi cùng với một biến cố cụ thể của những sự kiện xảy ra mang tính chất tiêu cực trong khi đi tìm mục tiêu”
Bên cạnh đó Schneider (2001) và Degrandpre (2000) khẳng định lạc quan là
“trạng thái triển vọng tích cực được duy trì trong những sự bắt buộc của các hiện tượng và việc đo lường được tính toán trong xã hội”
Theo Zullow, Oettingen, Peterson, & Seligman (1988) lạc quan được định nghĩa là thói quen nghĩ rằng các sự kiện tốt đều có tính ổn định là do các yếu tố ổn định, toàn cầu và bên trong gây ra, trong khi các sự kiện xấu là do các yếu tố không
ổn định, cụ thể và bên ngoài gây ra Ví dụ như, khi anh ta được tăng lương anh ta không nghĩ rằng do công ty làm ăn tốt trong năm đó mà anh ta nghĩ rằng do năng lực anh ta có được
Kiên cường (Resiliency):
Là khả năng phục hồi - “khả năng phục hồi được định nghĩa là năng lực tâm
lý tích cực để thoát khỏi nghịch cảnh, xung đột, thất bại hoặc thậm chí các sự thay đổi tích cực, tiến bộ và tính trách nhiệm tăng lên” (Luthans, 2002, trang 702)
Rego và cộng sự (2011) định nghĩa Kiên cường là “sự chịu đựng, khả năng làm chủ tình thế, lật ngược tình thế và có cách giải quyết vấn đề tốt hơn, đem lại hiệu quả cao hơn”
2.2 Áp lực nghề nghiệp (Professional stress)
Theo May và Revicki (1985) Bác sĩ có khối lượng công việc quá nhiều, trách nhiệm lớn đối với người khác, công việc có độ phức tạp cao nên vấn đề căng thẳng trong công việc luôn luôn xảy ra và sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả công việc Với kỹ năng, cá tính của người bác sĩ và có sự hổ trợ của gia đình, bạn bè giúp cho người bác sĩ vượt qua căng thẳng công việc
Theo Geofrey, Riley (2004) cho rằng căng thẳng nghề nghiệp của các bác sĩ
do tính chất công việc đòi hỏi khắt khe, bác sĩ lúc nào cũng phải kiểm soát được
Trang 20công việc của mình, không được chủ quan Sự chủ quan lơ là của mình sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đó là nguồn căng thẳng của bác sĩ
Theo Swanson, Kenvin G (2008) cho rằng căng thẳng công việc có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống gia đình và ngược lại nhưng không phân biệt giới tính Nghiên cứu này nói rằng căng thẳng công việc chính là nguyên nhân gây ra xung đột cho gia đình và đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân
Luôn có nhiều áp lực đối với bác sĩ Những căng thẳng này ngày càng tăng lên trong điều kiện ngày càng hiện đại, tính cách của bác sĩ có phải là vấn đề làm cho căng thẳng tăng thêm khi gặp sự cố xảy ra thì Maddison (1974) đã chỉ ra điều
đó
Sức khỏe của bác sĩ ngày một quan tâm hơn vì có liên quan đến hiệu suất của
hệ thống y tế, sức khỏe của bác sĩ được xem như là một vấn đề quan trọng trong việc duy trì lực lượng lao động như doanh thu, giữ lại hay cho nghỉ hưu sớm cũng như ảnh hưởng đến kết quả chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân (ví dụ như an toàn, hiệu quả, kịp thời, lấy bệnh nhân làm trọng tâm), ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của bệnh nhân theo Brady và cộng sự (2019)
2.3 Chất lượng khám chữa bệnh
Chất lượng khám chữa bệnh được định nghĩa theo hai cách như sau: Theo Taguchi (2006) Chất lượng được đánh giá trên sự tổn thất của khách hàng Chất lượng càng cao thì tổn thất của khách hàng là nhất thấp và chất lượng thấp thì tổn thất khách hàng cao, do đó chất lượng khám chữa bệnh được xem như là một dịch
vụ mang lại sự hài lòng và ít tổn thất nhất cho người bệnh Còn Kano(2005) thì khái niệm chất lượng phụ thuộc vào nhu cầu và nhận thức của khách hàng Chất lượng là những đặc tính và thuộc tính của dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Theo Sở y tế ( 2016, trang 3), 80 sản phẩm chất lượng khám chữa bệnh của
ngành Y tế thành phố chất lượng khám chữa bệnh bao gồm 5 mục tiêu (1) An toàn,
(2) Hiệu quả, (3) Nhanh hơn, (4) Chi phí điều trị hợp lý, (5) Người bệnh hài lòng hơn
Trang 21Theo Puri và cộng sự (2012); Donabedian (1996) trong chăm sóc sức khỏe thì chất lượng khám chữa bệnh liên quan đến quá trình chuẩn đoán bệnh và cung cấp đầy đủ y tế điểu trị cho bệnh nhân Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh của bác sĩ cần có là sẵn sàng đúng giờ, sự thân thiện và hành vi của bác
sĩ đối với bệnh nhân, quá trình giao tiếp với y tá, giao tiếp với các nhân viên hổ trợ…
Theo Sardana (2003), Chahal và Sharma (2004) chất lượng khám chữa bệnh được đánh giá ở hành vi chăm sóc bác sĩ Người bác sĩ hiểu được tiền sử bệnh của bệnh nhân, nhân khẩu học của bệnh nhân và quan trọng là xử lý tình huống nhanh chóng kịp thời và đúng lúc giúp quá trình điều trị bệnh được tốt nhất
2.4 Mối quan hệ giữa năng lực tâm lý và chất lượng khám chữa bệnh
Youssef và Luthans (2007) nghiên cứu hành vi tích cực của tổ chức tại nơi làm việc tác động của 3 yếu tố Hy vọng, lạc quan và kiên cường đối với công việc mong muốn của nhân viên Nghiên cứu này chỉ ra rằng sự hài lòng trong công việc, niềm đam mê trong công việc, tính kiên cường của nhân viên sẽ đem lại sự hài lòng trong công việc và đạt được hiệu suất làm việc tốt mặc dù yếu tố hi vọng ở mức độ thấp hơn yếu tố lạc quan và kiên cường
Luthans, Avodio, Avey và Norman (2007) đo lường năng lực tâm lý tích cực với hiệu quả và sự hài lòng trong công việc thì chỉ ra rằng việc kết hợp 4 yếu tố năng lực tâm lý sẽ đem lại hiệu quả công việc tốt và thỏa mãn mức độ hài lòng của nhân viên vượt trội hơn việc các yếu tố này không được kết hợp đồng bộ
Theo Saeed và cộng sự (2012) nghiên cứu tại 4 bệnh viện lớn tại Mashha kết quả cho thấy sự tương quan giữa các yếu tố năng lực tâm lý là yếu tố chính tạo nên chất lượng cuộc sống và là yếu tố tác động đến chất lượng công việc của nhân viên
y tế
Jung và Yoon (2015) nghiên cứu tác động của Năng lực tâm lý đến sự hài lòng của nhân viên trong tổ chức khách sạn thì nói rằng trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt để ứng phó với những thay đổi thì yếu tố linh hoạt rất cần đối với nhân
Trang 22viên và kết quả cho thấy sự Hi vọng, lạc quan của nhân viên có ảnh hưởng tích cực đến sự hoài lòng trong công việc, yếu tố Hi vọng và tính kiên cường ảnh hưởng đến hành vi của nhân viên trong tổ chức
Aminikhah và công sự (2016) nghiên cứu về mối quan hệ giữa Năng lực tâm
lý và sự hài lòng trong công việc với cam kết của tổ chức của nhân viên ở sở giáo dục của tỉnh Yazd ở Iran, nghiên cứu một lần nữa khẳng định Năng lực tâm lý đóng vai trò rất quan trọng đối với sự hài lòng trong công việc của nhân viên, mà bên cạnh đó các nhà lãnh đạo nên có các chính sánh phù hợp khuyến khích nhân viên, quan tâm đến vốn năng lực tâm lý của nhân viên và phân bổ công việc cho phù hợp
sẽ đem lại hiệu quả tốt trong công việc
Nguyễn Đình Thọ (2011) năng lực tâm lý làm tăng chất lượng sống và nâng cao hiệu quả công việc của nhân viên marketing Năng lực tâm lý là một yếu tố quan trọng giúp cho nhân viên marketing hoàn thành công việc tốt, doanh nghiệp cần tập trung khai thác nguồn năng lực tâm lý của nhân viên song song với năng lực chuyên môn để đem lại kết quả công việc tốt nhất Nhân viên marketing cần có sự
tự tin, hy vọng và lạc quan thì mới đưa ra những chương trình phát triển thị trường hấp dẫn và sáng tạo Kiên cường theo đuổi mục tiêu thì sẽ đạt được kết quả tốt
Năng lực tâm lý bao gồm bốn yếu tố lạc quan, tự tin, kiên cường, hy vọng
có mối quan hệ với kết quả làm việc của nhân viên theo Luthan và cộng sự (2008); Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2011)
2.5 Mối liên hệ giữa áp lực nghề nghiệp với chất lượng khám chữa bệnh
Theo Maddison và cộng sự (1974) nghiên cứu về áp lực công việc của bác sĩ
và gia đình của bác sĩ ở Úc, ngiên cứu đặt ra vấn đề liệu căng thẳng của bác sĩ có thể tăng lên trong điều kiện hiện đại hay không, tích cách của bác sĩ có phải là vấn
đề ảnh hưởng đến sự căng thẳng hay không Nghiên cứu này đã nói rất rõ ảnh
Trang 23hưởng của việc căng thẳng của bác sĩ ảnh hưởng đến gia đình của bác sĩ và làm tác động đến công việc
Swanson và Power (2008) “Áp lực nghề nghiệp, sự hài lòng và sự xung đột giữa đồng nghiệp” tại dịch vụ Y tế quốc gia ở Scotlan Theo nghiên cứu này thì chứng minh vấn đề căng thẳng trong công việc có liên quan đến giới tính, nam căng thăng hơn nữ và khi tình trạng căng thẳng xảy ra thì sẽ ảnh hưởng đến gia đình và công việc của họ Mối quan hệ đồng nghiệp cũng bị xung đột tăng theo mức độ căng thẳng công việc
2.6 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu
2.6.1 Mô hình nghiên cứu
Dựa trên các khái niệm và mô hình nghiên cứu trước đây Mục đích chính của đề tài này là để làm rõ và khẳng định mối quan hệ giữa yếu tố Năng lực tâm lý được đánh giá dựa trên 4 yếu tố đó là Hy vọng, Lạc quan, Tự tin, Kiên cường, Áp lực nghề nghiệp và chất lượng khám chữa bệnh Để đo lường và chứng minh các mối liên hệ trên trong môi trường bệnh viện tại Việt Nam thì mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau:
Mô hình nghiên cứu
NĂNG LỰC TÂM
CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH
H1(+)
H2 (-)
H3(-)
Trang 242.6.2 Các giả thuyết nghiên cứu
Giả thiết H1: Năng lực tâm lý có tác động cùng chiều đến chất lượng khám chữa bệnh
Giả thiết H2: Năng lực tâm lý có tác động ngược chiều đến áp lực nghề nghiệp
Giả thiết H3: Áp lực nghề nghiệp có tác động ngược chiều đến chất lượng khám chữa bệnh
Tóm tắt chương 2: Trong chương 2 đã trình bày các lý thyết và những nghiên cứu liên quan đến yếu tố năng lực tâm lý, áp lực nghề nghiệp và chất lượng khám chữa bệnh Trên cơ sở đó đưa ra mô hình nghiên cứu dựa trên mối quan hệ giữa năng lực tâm lý đến áp lực nghề nghiệp, áp lực nghề nghiệp đến chất lượng khám chữa bệnh và năng lực tâm lý đến chất lượng khám chữa bệnh Chương 3 tiếp theo sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được đặt ra
Trang 25CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương này trình bày (1) Phương pháp nghiên cứu dựa trên nghiên cứu định tính và định lượng; (2) Qui trình nghiên cứu (3) Phương pháp nghiên cứu: Phân tích giá trị Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, kiểm định
mô hình đo lường và mô hình cấu trúc thông qua phần mềm SmartPLS 3.2.7
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành dựa trên việc khảo sát một số tài liệu của các nghiên cứu có liên quan, xem xét các mô hình nghiên cứu, thang đo và phương pháp nghiên cứu từ đó xây dựng các thang đo nghiên cứu (thang đo Liker 5) phù hợp với môi trường Việt Nam và tình hình thực tế
Cỡ mẫu trong nghiên cứu này gồm 250 bác sĩ làm việc tại 3 bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh đó là bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, bệnh viện Hùng vương, bệnh viện Huyện bình chánh Phỏng vấn sâu 5 chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực y tế chỉnh sửa câu từ và bảng câu hỏi phù hợp với chuyên ngành, sau đó phát bảng khảo sát cho 30 bác sĩ để xem ý kiến trả lời có đúng theo mục tiêu và hướng nghiên cứu của tác giả hay không Cuối cùng hoàn thiện bảng khảo sát và phát bảng khảo sát đại trà trên 250 bác sĩ và thu thập lại phiếu Kết thúc thời gian khảo sát, tác giả thu thập bảng khảo sát, tiến hành kiểm tra bảng khảo sát và loại bỏ các bảng khảo sát không đạt Bảng khảo sát thu thập được 212 bảng trả lời hoàn chỉnh đủ điều kiện để đưa vào nghiên cứu và 38 bảng bị loại do phiếu khảo sát trả lời không đầy đủ
Sau khi dữ liệu được thu thập tác giả nhập liệu qua Excel và sử dụng mô hình SEM thông qua phần mềm SmartPLS 3.2.7 để phân tích Tác giả dùng kiểm định Cronbach’s Alpha để khẳng định số lượng biến (yếu tố) trong mỗi thang đo chính xác là bao nhiêu Đối với phân tích Cronbach’s Alpha cho kết quả nếu hệ số Cronbach’s Alpha chung > 0,5 tất cả các hệ biến có giá trị Cronbach’s Alpha > 0.5 thì không loại biến Dùng phân tích nhân tố khám phá EFA để khẳng định có bao nhiêu thang đo, mỗi thang đo có số lượng là bao nhiêu biến (yếu tố) Để khẳng định các lý thuyết trong mô hình nghiên cứu là phù hợp với dữ liệu thực tế tác giả kiểm
Trang 26định mô hình đo lường và mô hình cấu trúc thông qua mô hình SEM bằng phần mềm SmartPLS 3.2.7
3.1.1 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được thực hiện với đối tượng là các bác sĩ làm việc tại
3 bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh (bệnh viện Chấn thương chỉnh hình, bệnh viện Hùng Vương, bệnh viện Huyện Bình Chánh), thông qua phỏng vấn sâu 5 bác sĩ đầu ngành có kinh nghiệm cụ thể 1 bác sĩ Giám đốc, 1 Giảng viên trường đại học Y khoa, 1 bác sĩ Trưởng khoa, 2 bác sĩ Phó khoa ở 3 bệnh viện từ đó điều chỉnh thang
đo cho phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu
3.1.2 Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng dựa trên việc trực tiếp phát câu hỏi khảo sát cho 30 bác sĩ ở các bệnh viện khác nhau và thu thập về Sau đó xem xét phù hợp với mục tiêu nghiên cứu thì phát câu hỏi khảo sát đại trà trên 250 bác sĩ
3.2 Qui trình nghiên cứu
Nghiên cứu
sơ bộ định
tính
Xây dựng thang đo
Phổng vấn sâu các chuyên gia
Khảo sát sơ bộ
Thang đo chính thức
Khảo sát đại trà
Phân tích Cronbach's Alpha
Độ tin cậy, giá trị hội tụ
Kiểm định giả thuyết - Kết quả phân tích IPMA
Trang 273.3 Phương pháp nghiên cứu
Các dữ liệu thu thập được nhập trên file Excel, loại bỏ các bảng khảo sát không phù hợp, tiến hành mã hóa và xử lý qua phầm mềm PLS - SEM Xử lý dữ liệu khảo sát, trước tiên việc kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, kiểm định nhân tố khám phá EFA và kiểm tra mô hình đo lường bằng phần mềm SmartPLS
3.3.1 Phân tích giá trị Cronbach’s Alpha
Vào năm 1951, Lee Cronbach đã đưa ra công cụ kiểm định với cái tên Cronbach’s Alpha nhằm phản ánh mức độ tương quan chặt chẽ giữa các biến quan sát trong cùng một nhân tố, loại bỏ các biến không phù hợp
Nhưng hệ số Cronbach’s Alpha không tính được độ tin cậy cho từng biến quan sát mà chỉ đo được độ tin cậy của thang đo bao gồm từ 3 biến quan sát trở lên (Nguyễn Đình Thọ, Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, NXB Tài chính, Tái bản lần 2, Trang 355) Về lý thuyết hệ số này càng cao càng tốt khi có giá trị biến thiên trong đoạn [0,1] chứng tỏ thang đo có độ tin cậy cao nhưng điều này không hoàn toàn chính xác, hệ số Cronbach’s Alphal khoảng từ 0,95 trở lên cho thấy có nhiều biến trong thang đo không có sự khác biệt gì nhau hiện tượng này gọi là trùng lắp trong thang đo (Nguyễn Đình Thọ, 2011, Trang 364)
Mức giá trị hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,8 đến gần bằng 1- thang đo lường rất tốt; từ 0,7 đến gần bằng 0,8 – thang đo lường sử dụng tốt; từ 0,6 trở lên - thang
đo lường đủ điều kiện (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc , 2008, Trang 24)
3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA
Cần đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo trước khi kiểm định lý thuyết khoa học Để đánh giá độ tin cậy của thang đo ta dùng hệ số Cronbach’s Alpha, còn phương pháp phân tích nhân tố EFA giúp chúng ta xác định xem có bao nhiêu thang
đo và trong mỗi thang đo có bao nhiêu biến quan sát Các biến và các thang đo có
đủ độ tin cậy để khảo sát hay không
Trang 28Phương pháp phân tích nhân tố EFA dựa vào mối tương quan giữa các biến với nhau, nó không có biến phụ thuộc và biến độc lập EFA dùng để rút gọn một tập
k biến quan sát thành một tập F (F<K) các nhân tố có ý nghĩa hơn
Theo Mayers, L.S., Gamst, G., Guarino A.J (2000) Trong phân tích nhân tố, phương pháp trích Pricipal Components Analysis đi cùng với phép xoay Varimax là cách thức được sử dụng phổ biến nhất
Theo Hair và cộng sự (1998, 111), hệ số tải nhân tố (trọng số nhân tố) là chỉ tiêu để đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA: Hệ số tải nhân tố > 0.3 đạt mức tối thiểu, hệ số tải nhân tố > 0.4 quan trọng, hệ số tải nhân tố > 0.5 có ý nghĩa thực tiễn Điều kiện để phân tích nhân tố khám phá là phải thỏa mãn các yêu cầu:
Hệ số tải nhân tố > 0.5
0.5 ≤ KMO ≤ 1: Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố Trị số KMO lớn có ý nghĩa phân tích nhân tố là thích hợp
Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig < 0.05): Đây là một đại lượng thống kê dùng để xem xét giả thuyết các biến không có tương quan trong tổng thể Nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê (Sig < 0.05) thì các biến quan sát có mối tương quan với nhau trong tổng thể
Phần trăm phương sai trích (Percentage of variance) > 50%: Thể hiện phần trăm biến thiên của các biến quan sát Nghĩa là xem biến thiên là 100% thì giá trị này cho biết phân tích nhân tố giải thích được bao nhiêu %
3.3.3 Phần mềm SmartPLS
Trong các nghiên cứu kinh tế sử dụng mô hình SEM để phân tích các dữ liệu
sơ cấp thì trước đây AMOS là phần mềm thường được sử dụng nhiều nhất nhưng hiện nay thì phần mềm SmartPLS đang được sử dụng nhiều hơn do cách sử dụng đơn giản hơn, ước lượng được dữ liệu nhỏ, có giá trị hội tụ cao, mẫu không cần đạt phân phối chuẩn, sử dụng cho các mô hình phức tạp
Ringle và cộng sự (2005) đã đưa ra phần mềm SmartPLS là công cụ thực hiện cho tất cả các phân tích PLS – SEM cỡ mẫu nhỏ, mô hình phức tạp cũng chạy
Trang 29được, không có giả định chuẩn, hổ trợ các mô hình đo lường nguyên nhân và kết quả cũng như khái niệm nghiên cứu đơn biến
Theo Hair và cộng sự (2013) việc kiểm định thông qua 2 bước (1) kiểm định
mô hình đo lường và (2) mô hình cấu trúc
(1) Kiểm định mô hình đo lường
Kiểm tra độ tin cậy và giá trị hội tụ của thang đo: Khi các biến đạt giá trị
như sau Cronbach’s Alpha > 6; rho – A> 0,7; Phương sai trích trung bình (AVE) >
0.5, độ tin cậy tổng hợp > 0.8
Kiểm tra giá trị phân biệt: dựa và kết quả phân tích Fornell – Lacker khi hệ
số ma trận trên cùng đều lớn hơn các hệ số trong cùng một cột điều này chứng tỏ các thang đo đạt được giá trị phân biệt
Kiểm tra tính đa cộng tuyến: dựa vào hệ số phóng đại phương sai VIF < 5
thì các biến nghiên cứu không có hiện tượng đa cộng tuyến
(2) Đánh giá mô hình cấu trúc: dựa trên phương pháp kiểm định
Bootstraping với mẫu phóng đại lên n = 5,000 Khi đạt độ lệch chuẩn từ < 0,5; giá trị P-value <5%; các trọng số của mẫu nằm trong khoảng tin cậy 95% thì mô hình
cấu trúc được đánh giá đáng tin cậy
3.4 Thang đo
3.4.1 Đo lường năng lực tâm lý
Dựa trên thang đo nguồn Nguyễn Đình Thọ (2011) Năng lực tâm lý và chất lượng sống trong công việc của nhân viên Marketing Thang đo nghiên cứu được xây dựng như sau:
Trang 30Bảng 3.1: Thang đo Năng lực tâm lý
HÓA
Hy vọng
1.Tôi chủ động theo đuổi mục tiêu công việc hiện tại của mình VAR1 2.Tôi có nhiều cách để theo đuổi mục tiêu công việc hiện tại của mình VAR2 3.Tôi có nhiều cách để giải quyết vấn đề tôi đang vướng mắc trong công việc VAR3
Lạc quan
4.Khi gặp khó khăn trong công việc, tôi luôn tin điều tốt nhất sẽ xảy ra VAR4
7.Tôi dễ dàng hồi phục sau khi gặp những vấn đề rắc rối trong công việc VAR7
9.Mỗi khi nổi giận, tôi rất dễ dàng lấy lại bình tĩnh VAR9
10.Tôi rất tự tin trong phân tích và tìm giải pháp cho vấn đề trong công việc VAR10 11.Tôi rất tự tin khi trình bày công việc với cấp trên VAR11 12.Tôi rất tự tin khi tiếp xúc với đối tác của tổ chức VAR12 13.Tôi rất tự tin khi thảo luận với đồng nghiệp về công việc VAR13
3.4.2 Đo lường áp lực nghề nghiệp
Được xây dựng trên thang đo gốc Dyrbye, L N., Satele, D., Sloan, J., & Shanafelt, T D (2014) Ability of the physician well-being index to identify residents in distress Journal of graduate medical education, 6(1), 78-84 và thảo luận
ý kiến của các bác sĩ đầu ngành trong lĩnh vực y khoa từ đó đưa ra thang đo nghiên cứu như sau:
Trang 31Bảng 3.2 Thang đo Áp lực nghề nghiệp
HÓA Trong 1 tháng qua
14.Tôi thường cảm thấy kiệt sức với cuộc sống hiện tại của mình VAR 14 15.Tôi thường lo lắng về cuộc sống hiện tại của mình VAR 15 16.Tôi thường suy sụp, chán nản và vô vọng với cuộc sống hiện
18 Tôi thưởng cảm thấy bị quá tải với cuộc sống hiện tại của
19.Tôi thường lo lắng trầm cảm cáu kỉnh với cuộc sống hiện tại VAR 19 20.Tôi thường cảm thấy sức khỏe ảnh hưởng không tốt đến hiệu
3.4.3 Đo lường chất lượng khám chữa bệnh
Thang đo trong nghiên cứu này được xây dựng dựa trên nguồn nghiên cứu của Chahal, H., và Mehta, S (2013) Modeling patient satisfaction construct in the Indian health care context International Journal of Pharmaceutical and Healthcare Marketing và xây dựng lại cho phù hợp lĩnh vực y khoa trong nước nhằm đem lại kết quả nghiên cứu khả thi Thang đo được xây dựng như sau:
Trang 32Bảng 3.3 Thang đo Chất lượng khám chữa bệnh
23.Tôi giải thích thỏa đáng các yêu cầu của người bệnh VAR 23 24.Tôi thường giải thích rõ quá trình điều trị cho người bệnh VAR 24 25.Tôi thường xác định chính xác các vấn đề sức khỏe của người bệnh VAR 25 26.Tôi giải thích cho người bệnh các cấn đề liên quan đến điều trị VAR 26 27.Tôi thường giao tiếp với y tá để họ có thể hỗ trợ tốt cho người bệnh VAR 27
29.Tôi thường xem xét và làm những gì tốt nhất cho người bệnh VAR 29
Tóm tắt chương 3: Trong chương này đã trình bày toàn bộ thiết kế nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn sâu 5 chuyên gia hình thành nên bảng câu hỏi khảo sát Nghiên cứu định lượng mô tả thiết kế mẫu, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, giới thiệu phần mềm SmartPLS Chương tiếp theo
sẽ trình bày cụ thể kết quả đánh giá thang đo bằng kiểm định mô hình đo lường và
mô hình cấu trúc thông qua phân tích Bootstraping bằng công cụ SmartPLS 3.2.7
Trang 33
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở các thang đo đã được xây dựng ở chương 3, trong chương 4 này tác giá tiến hành các bước như sau: Thứ nhất, Mô tả đặc điểm mẫu khảo sát Thứ hai, kiểm định giá trị thang đo đo lường các khái niệm nghiên cứu bằng mô hình đo lường (kiểm định độ tin cậy của các thang đo qua kết quả phân tích Cronbach’s Alpha, kiểm định phân tích nhân tố khám phá EFA) Thứ ba, Kiểm định các giả thiết bằng mô hình hóa cấu trúc tuyến tính – PLS-SEM
4.1 Mô tả đặc điểm mẫu khảo sát
Về giới tính: trong tổng số phiếu khảo sát là 212 phiếu, trong đó giới tính
Nam 169 phiếu (chiếm 80%), giới tính nữ là 43 phiếu (chiếm 20%) phần nào đó chứng minh đây là một lĩnh vực đặc biệt, vấn đề học đến vấn đề làm việc đòi hỏi áp lực rất cao, kiến thức phải trao dồi liên tục nên chỉ phù hợp cho đối tượng Nam giới
Bảng 4.1 Cơ cấu mẫu theo giới tính
Giới tính Tần suất Tỉ lệ (%) Tích lũy
Nguồn: Xử lý từ dữ liệu điều tra thực tế của tác giả
Về độ tuổi: Với độ tuổi từ 24 – 35 (chiếm 5%), từ 35 – 45 (chiếm 43%), từ
45 – 55 (chiếm 40%), trên 55 tuổi (chiếm 12 %) Dựa vào độ tuổi cho ta thấy được, Một sinh viên y khoa khi mới ra trường phải thật sự xuất sắc thì mới tiếp tục học nội trú 2 năm để có kinh nghiệm và chuyên môn sâu (số lượng rất ít), còn đối với sinh viên mới ra trường thì phải mất 2 năm đi làm cho một bệnh viện nào đó rồi mới được học lên chuyên khoa I (thời gian học 2 năm) Tổng cộng mất hết 10 năm để
có được chuyên khoa I thì lúc đó mới đủ điều kiện được vô bệnh viện làm việc Qua bảng khảo sát cho ta thấy đối với đội ngũ y bác sĩ làm việc trong các bệnh viện thì hầu như ở độ tuổi ngoài 35 mới vững kiến thức và đủ kinh nghiệm để xử lý các vấn
đề y khoa trong việc khám và điều trị bệnh
Trang 34Về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thì cũng đã thể hiện phần nào về sự đòi hỏi khắc khe của lĩnh vực này Gần 90% (187 phiếu) các bác sĩ đều có chuyên khoa I và kinh nghiệm trên 5 năm
Bảng 4.2 Cơ cấu mẫu theo độ tuổi
Độ tuổi Tần suất Tỉ lệ (%) Tích lũy
Nguồn: Xử lý từ dữ liệu điều tra thực tế của tác giả
Về cơ cấu theo bệnh viện: Tác giả chọn 3 bệnh viện đó là bệnh viện chấn
thương chỉnh hình chuyên về ngoại khoa, bệnh viện Hùng Vương chuyên về nội khoa và ngoại khoa, bệnh viện Huyện bình chánh chuyên về nội khoa với tỉ lệ như bảng 4.3 Tác giả chỉ nghiên cứu trên hành vi tâm lý của bác sĩ nên việc khảo sát ở 3 bệnh viện này là do sự thuận tiện nên đây là hạn chế trong nghiên cứu của đề tài này
Bảng 4.3 Cơ cấu mẫu theo bệnh viện
Bệnh viện Tần suất Tỉ lệ (%) Tích lũy
Nguồn: Xử lý từ dữ liệu điều tra thực tế của tác giả
4.2 Kết quả kiểm định thang đo
4.2.1 Kiểm định độ tin cậy của các thang đo
4.2.1.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha lần 1
Đánh giá độ tin cậy của thang đo qua Cronbach’s Alpha cho từng khái niệm: Năng lực tâm lý, Áp lực nghề nghiệp, Chất lượng khám chữa bệnh Để khẳng định
Trang 35số lượng biến trong mỗi khái niệm chính xác là bao nhiêu, kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho mỗi khái niệm được thể hiện dưới đây
• Thành phần Năng lực tâm lý bao gồm 4 khái niệm: Hy vọng, Lạc quan,
Kiên cường, Tự tin và kết quả phân tích dựa trên bảng 4.3 cho thấy:
Hy vọng có hệ số chung Cronbach’s Alpha là 0.643 đây là hệ số có độ tin
cậy và đủ điều kiện để đo lường Hệ số Cronbach’s Alpha của từng biến VAR1 -
Tôi chủ động theo đuổi mục tiêu công việc hiện tại của mình: 0.689, VAR3 - Tôi có nhiều cách để giải quyết vấn đề tôi đang vướng mắc trong công việc: 0.652 đạt độ
tin cậy, nhưng biến “VAR2 - Tôi có nhiều cách để theo đuổi mục tiêu công việc
hiện tại của mình” hệ sốCronbach’s Alpha = 0.343 < 0.5 không đạt độ tin cậy, tuy
nhiên nội dung trong biến này phản ánh phần nào trong biến “VAR1 – Tôi chủ động
theo đuổi mục tiêu công việc hiện tại của mình” Như vậy biến VAR2 bị loại ra khỏi
khái niệm Hy vọng và khái niệm Hy vọng còn 2 biến quan sát để đo lường khái niệm là VAR1, VAR3
Lạc quan có hệ số Cronbach’s Alpha chung là 0.714, hệ số Cronbach’s
Alpha của từng biến VAR4 -Khi gặp khó khăn trong công việc, tôi luôn tin điều tốt nhất sẽ xảy ra , VAR5 - Tôi luôn kỳ vọng mọi việc theo ý tôi , VAR6 - Tôi tin mọi việc tốt lành luôn đến với tôi lần lượt là 0.645; 0,688; 0.629 và hệ số tương quan
biến tổng đều > 0,3 Nên các biến này được giữ lại cho phân tích EFA
Thang đo Kiên cường và tự tin có hệ số Cronbach’s Alpha chung lần lượt là
0.714 và 0.838 Giá trị Cronbach’s Alpha cho từng biến nhỏ nhất là VAR9 -Mỗi khi nổi giận, tôi rất dễ dàng lấy lại bình tĩnh : 0.6 và lớn nhất là VAR13 - Tôi rất tự tin khi thảo luận với đồng nghiệp về công việc : 0.806 và tương quan biến tổng đều lớn
hơn 0.3 Như vậy các biến quan sát này có độ tin cậy cao và được giữ lại cho phân tích tiếp theo
Dựa trên kết quả chạy dữ liệu ta được kết quả chi tiết như bảng 4.4
Trang 36Bảng 4.4 Kiểm định độ tin cậy thang đo Năng lực tâm lý
Tương quan biến tổng
Cronbach's Alpha nếu loại biến
Nguồn: Xử lý từ dữ liệu điều tra thực tế của tác giả
Áp lực nghề nghiệp hệ số chung Cronbach’s Alpha là 0.904 đạt độ tin cậy
quá cao kết hợp với hệ số tương quan biến tổng thấp nhất là VAR15: 0.624; cao nhất là VAR16: 0.804 đều thỏa điều kiện hệ số tương quan biến tổng > 0.3 Đồng thời hệ số Cronbach’s Alpha từng biến riêng lẻ đều cao trên 0.8 Chứng tỏ khái niệm này có độ tin cậy quá tốt và được giữ lại để cho phân tích EFA Kết quả phân
tích được thể hiện qua bảng 4.5
Trang 37Bảng 4.5 Kiểm định độ tin cậy thang đo áp lực nghề nghiệp
Tương quan biến tổng
Cronbach's Alpha nếu loại biến
Áp lực nghề nghiệp - Cronbach's Alpha : 0.904
Nguồn: Xử lý từ dữ liệu điều tra thực tế của tác giả
• Chất lượng khám chữa bệnh đối với khái niệm này thì hệ số Cronbach’s
Alpha chung cũng tương đối cao đạt 0.872, tương quan biến tổng tất cả đều trên 0.3
Hệ số Cronbach’s Alpha của từng biến đều > 0.8 chứng tỏ độ tin cậy của thang đo rất tốt và được giữ lại cho phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả được thể hiện
Tương quan biến tổng
Cronbach's Alpha nếu loại biến
Chất lượng khám chữa bệnh - Cronbach's Alpha : 0.872
Trang 38Nguồn: Xử lý từ dữ liệu điều tra thực tế của tác giả
4.2.1.2 Kiểm định Cronbach’s Alpha lần 2
Dựa trên kết quả phân tích Cronbach’s Alpha lần 1 thì ta thấy biến VAR2 có
hệ số Cronbach’s Alpha chỉ bằng 0.343 < 0,5 nên biến này bị loại ra khỏi khái niệm
Hy vọng nên tác giả cho kiểm định lại hệ số Cronbach’s Alpha lần 2 cho khái niệm
Hy vọng và được kết quả như sau: Sau khi loại bỏ biến VAR2 thì kết quả càng bị
xấu đi hệ số chung Cronbach’s Alpha chỉ 0.343, tương quan biến tổng < 0.3 Kết quả được thể hiện ở bảng 4.7
Bảng 4.7 Kiểm định độ tin cậy thang đo Hy vọng lần 2
Tương quan biến tổng
Cronbach's Alpha nếu loại biến
1 Hy vọng - Cronbach's Alpha : 0.343
Nguồn: Xử lý từ dữ liệu điều tra thực tế của tác giả
Biến VAR1, VAR3 tiếp tục bị loại do hệ số Cronbach’s Alpha quá nhỏ không
đo lường được nên 2 biến này bị loại ra khỏi thang đo Điều này cho thấy khái niệm
Hy vọng không đạt được độ tin cậy và loại bỏ hoàn toàn trong mô hình nghiên cứu
Do trong lĩnh vực Y tế là một lĩnh vực đặc biệt yêu cầu độ chính xác cao, tính chuyên môn sâu, không cảm tính nên khái niệm Hy vọng không phải là khái niệm đáng tin cậy tác động đến chất lượng khám chữa bệnh trong mô hình nghiên cứu này
Trang 39Như vậy, với 6 khái niệm và 30 biến ban đầu sau khi phân tích Cronbach’s
Alpha thì 1 khái niệm “Hi vọng” bao gồm 3 biến “VAR1: Tôi chủ động theo đuổi
mục tiêu công việc hiện tại của mình, VAR2: Tôi có nhiều cách để theo đuổi mục tiêu công việc hiện tại của mình VAR3: Tôi có nhiều cách để giải quyết vấn đề tôi đang vướng mắc trong công việc” đã bị loại Còn lại 5 khái niệm và 27 biến đủ
điều kiện đưa vào phân tích nhân tố EFA
4.2.2 Kiểm định phân tích nhân tố khám phá EFA
Phân tích nhân tố khám phá EFA để khẳng định có bao nhiêu thang đo, mỗi thang đo có số lượng là bao nhiêu biến Kết quả của quá trình phân tích như sau:
4.2.2.1 Kết quả phân tích EFA lần 1
Kiểm định tính thích hợp của mô hình phân tích nhân tố EFA thông qua
thước đo KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) Dựa vào bảng 4.8 ta thấy giá trị KMO = 0.842 thỏa điều kiện 0.5<=KMO <= 1 như vậy phân tích nhân tố là phù hợp với dữ
liệu thực tế Và việc kiểm định tính tương quan giữa các biến quan sát thông
qua kiểm định Bartlett dựa trên kết quả của bảng 4.8 cũng cho ta được một giá trị Sig = 0.000 <0,05 chứng tỏ các biến quan sát tương quan nhau trong mỗi nhóm nhân tố
Bảng 4.8 Giá trị KMO và kiểm định Bartlett lần 1
Nguồn: Xử lý từ dữ liệu điều tra thực tế của tác giả
Kiểm định phương sai trích của các nhân tố (% Cumulative Variance)
Kết quả khi chạy nhân tố khám phá EFA ta thấy hệ số Eigen Values dừng lại ở dòng
số 6, nghĩa là nó trích được 6 thang đo Nên ta thấy ở đây có 6 thang đo được trích
ra với tổng phương sai trích được là 65.093% đáp ứng được tiêu chuẩn > 50%
Trang 40Điều này có nghĩa là đảm bảo được 6 thang đo trong mô hình nghiên cứu Kết quả
được thể hiện ở bảng phụ lục 1
Thật sự trong 6 thang đo trích được này thì mỗi một thang đó có bao bồm đúng các biến mà trong mô hình nghiên cứu đã đề xuất hay không thì ta nhìn vào
bảng 4.9 Kết quả cho thấy biến “VAR25 – Tôi thường xác định chính xác các vấn
đề sức khỏe của người bệnh” và “VAR30 - Tôi đáp ứng tốt mong đợi của người bệnh” bị loại do hệ số nhân tố tải lớn nhất <0.50 và có ít hơn 3 nhân tố được trích
ra từ ma trận thành phần xoay Về mặt nội dung 2 biến này bị loại đã chứa phần nào
trong biến “VAR29 - Tôi thường xem xét và làm những gì tốt nhất cho người bệnh”
Như vậy theo kết quả phân tích trên thì 1 thang đo và 2 biến VAR 25, VAR 30 bị loại Do vậy tác giả tiến hành chạy lại kết quả phân tích nhân tố EFA lần 2
Bảng 4.9 Ma trận thành phần xoay (Rotated Component Matrix a )