LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Phân tích các yếu tố tuân thủ quy định pháp luật về kinh doanh phân bón của các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
HUỲNH THANH LAM
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ KINH DOANH PHÂN BÓN CỦA CÁC CƠ SỞ KINH DOANH VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
HUỲNH THANH LAM
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TUÂN THỦ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ KINH DOANH PHÂN BÓN CỦA CÁC CƠ SỞ KINH DOANH VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI
Tp Hồ Chí Minh – năm 2019
Trang 3MỤC LỤC DANH MỤC HỘP
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH, BIỂU ĐỒ
LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT LUẬN VĂN
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN 4
CHƯƠNG 2 5
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 ĐỊNH NGHĨA/KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 5
2.1.1 Định nghĩa cơ sở kinh doanh 5
2.1.2 Khái niệm về Kinh doanh 5
2.1.3 Trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh kinh doanh phân bón 6
2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ QUY ĐỊNH 6
2.2.1 Tuân thủ quy định và hiệu quả của chính sách 6
2.2.2 Lý thuyết lựa chọn, hành động hợp lý giải thích tuân thủ 10
2.2.3 Mô hình tuân thủ - Phương pháp T11 10
2.2.4 Mô hình tuân thủ tổng hợp - Phương pháp T14 17
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ 18
Trang 42.3.1 Nghiên cứu tại nước ngoài 18
2.3.2 Nghiên cứu trong nước 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 23
CHƯƠNG 3 24
PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 24
3.1 KHUNG PHÂN TÍCH 24
3.2 THU THẬP DỮ LIỆU 25
3.2.1 Cách thức thu thập 25
3.2.2 Bảng phỏng vấn 25
3.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 30
CHƯƠNG 4 31
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 31
4.2 ĐẶC ĐIỂM MẪU KHẢO SÁT 33
4.2.1 Đặc điểm cơ sở kinh doanh 34
4.2.2 Tình hình kinh doanh của cơ sở 35
4.2.3 Thách thức trong hoạt động kinh doanh 36
4.3 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TUÂN THỦ QUY ĐỊNH 37
4.3.1 Các yếu tố tự giác tuân thủ T11 37
4.3.2 Các khía cạnh kiểm soát 42
4.4 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ KHÓ KHĂN VÀ HIỆN TRẠNG KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH 49
4.4.1 Đánh giá mức độ khó khăn để tuân thủ quy định 49
4.4.2 Đánh giá tình hình không tuân thủ quy định kinh doanh phân bón 51
4.4.3.Tổng hợp kết quả chính về sự tuân thủ quy định kinh doanh phân bón 52 CHƯƠNG 5 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 54
5.1 KẾT LUẬN 54
Trang 55.2 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 55 5.2.1 Những giải pháp gia tăng tự giác tuân thủ qui định 58 5.2.2 Những giải pháp mang tính chất kiểm soát, cưỡng chế thi hành 59 5.3 HẠN CHẾ CỦA LUẬN VĂN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN
Trang 6DANH MỤC HỘP
Hộp 1 Trách nhiệm của Tổ chức, cá nhân buôn bán phân bón 28Hộp 2 Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón 29Hộp 3 Các hành vi bị nghiêm cấm 29
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Mô hình tuân thủ- Phương pháp T11 16
Bảng 2.2: Mô hình tuân thủ tổng hợp - Phương pháp T14 17
Bảng 3.1: Tổng hợp thang đo các yếu tố tuân thủ T11 26
Bảng 4.1: Bảng thống kê số lao động làm việc tại các cơ sở kinh doanh 35
Bảng 4.2: Tình hình kinh doanh của cơ sở (% trả lời của cơ sở kinh doanh) 36
Bảng 4.3: Những thách thức trong kinh doanh của cơ sở 37
Bảng 4.4: Kiến thức quy định (T1) 38
Bảng 4.5: Những yếu tố Chi phí - Lợi ích (T2) 39
Bảng 4.6: Mức độ chấp nhận (T3) 40
Bảng 4.7: Tuân thủ tôn trọng cán bộ - cơ quan quản lý (T4) 41
Bảng 4.8: Kiểm soát không chính thức (T5) 42
Bảng 4.9: Khả năng bị báo cáo (T6) 43
Bảng 4.10: Khả năng bị kiểm tra, thanh tra (T7) 44
Bảng 4.11: Khả năng bị phát hiện (T8) 45
Bảng 4.12: Kiểm tra chọn lọc (T9) 47
Bảng 4.13: Khả năng bị phạt (T10) 48
Bảng 4.14: Mức độ nghiêm trọng của hình phạt (T11) 48
Bảng 4.15: Bảng tổng hợp Cronbach’s Anpha và trung bình thang đo từ T1 đến T11 53
Bảng 5.1: Tóm tắt gợi ý chính sách nâng cao tự giác tuân thủ 56
Trang 8SƠ ĐỒ, HÌNH, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Khung phân tích của đề tài (theo Mô hình tuân thủ T11) 24
Hình 4.1: Bản đồ tỉnh Cà Mau 32
Biểu đồ 4.1: Phân bổ số cơ sở khảo sát theo huyện 34
Biểu đồ 4.2: Số năm kinh doanh của cơ sở 34
Biểu đồ 4.3: Mức độ khó khăn để tuân thủ qui định 50
Biểu đồ 4.4: Tình hình không tuân thủ quy định kinh doanh phân bón 51
Trang 9LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Phân tích các yếu tố tuân thủ quy định
pháp luật về kinh doanh phân bón của các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau” là đề tài nghiên cứu của cá nhân tôi, được sự hướng dẫn
khoa học của GS.TS Nguyễn Trọng Hoài Dữ liệu điều tra và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực, chính xác, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây Tôi xin chịu trách nhiệm
về lời cam đoan này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 02 năm 2019
Tác giả luận văn
Huỳnh Thanh Lam
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tỉnh Cà Mau có diện tích nông nghiệp lớn, nhu cầu sử dụng phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của người nông dân ngày càng tăng cao, nhiều cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh phân bón Do đó, các ngành chức năng quan tâm đến hành vi tuân thủ quy định pháp luật của các cơ sở kinh doanh mặt hàng này là thực sự cần thiết
Tác giả sử dụng cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu như lý thuyết hành vi về tuân thủ quy định gồm tuân thủ quy định và tác dụng chính sách, các chính sách về quản lý tuân thủ, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ, cơ sở lý thuyết về
mô hình tuân thủ T11 của Hà Lan, 27 biến quan sát trong mô hình T11 của Elffer và cộng sự (2003), và các nghiên cứu liên quan để hình thành bảng câu hỏi, phân tích thực trạng tuân thủ quy định pháp luật của các cơ sở có hoạt động kinh doanh phân bón Thực hiện khảo sát 85 cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp có hoạt động kinh doanh phân bón, phân tích đặc điểm mẫu khảo sát và đánh giá thực trạng hành vi tuân thủ quy định pháp luật về kinh doanh phân bón của các cơ sở thông qua việc đánh giá các khía cạnh tuân thủ tự giác, các khía cạnh kiểm soát, các khía cạnh hình phạt, xử phạt; đánh giá mức độ khó khăn của các doanh nghiệp khi tuân thủ và tình hình tuân thủ quy định trong lĩnh vực kinh doanh phân bón Kết quả phân tích cho thấy 9 yếu
tố trong 11 yếu tố là, Yếu tố lợi ích – chi phí, Khả năng bị thanh tra – kiểm tra, Khả năng bị báo cáo, Kiểm soát không chính thức, Tôn trọng cán bộ – cơ quan quản lý, Mức độ chấp nhận, Khả năng bị phát hiện, Khả năng bị phạt và Mức độ nghiêm trọng của hình phạt có giá trị trung bình mức độ đồng ý cao Trong đó yếu tố T3 (mức độ chấp nhận) và T4 (tôn trọng cán bộ – cơ quan quản lý) là cao nhất Kiến thức quy định (T1), yếu tố kiểm tra chọn lọc (T9) cũng đểu có ảnh hưởng nhưng với giá trị thấp hơn 9 yếu tố nêu trên
Điều này chứng tỏ, các yếu tố này ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy định pháp luật
về kinh doanh phân bón của các cơ sở kinh doanh Trên cơ sở này, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao việc tuân thủ quy định pháp luật của các cơ sở kinh doanh vật
tư nông nghiệp có tham gia hoạt động kinh doanh phân bón, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực kinh doanh phân bón
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chương 1 trình bày giới thiệu nghiên cứu của đề tài bao gồm tính cấp thiết của
đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phân bón là nguyên liệu thiết yếu góp phần làm tăng bình quân từ 35-40% năng suất cây trồng (Hiệp hội phân bón Việt Nam, 2016), phân bón có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp của nước ta, từ chỗ thiếu lương thực đến nay đã trở thành một trong những quốc gia có sản lượng nông sản xuất khẩu lớn như gạo, cà phê, và nhiều loại cây ăn trái khác
Với tầm quan trọng của phân bón, trong những năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, các quy định pháp luật để quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất, quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh phân bón một cách hiệu quả nhằm phát triển thị trường phân bón lành mạnh, đảm bảo chất lượng phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao giá trị các mặt hàng nông sản của Việt Nam có khả năng cạnh tranh với các mặt hàng nông sản của các quốc gia khác
Qua một thời gian thực hiện Nghị định 202/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản
lý phân bón và đến tháng 9/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số
108/2017/NĐ-CP về quản lý phân bón thay thế Nghị định số 202/2013/NĐ-108/2017/NĐ-CP, việc quản lý mặt hàng này đã có hiệu quả nhất định Tuy nhiên, qua thực tiễn cho thấy việc quản lý phân bón còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn dẫn đến các sản phẩm phân bón phát triển ồ ạt, tình trạng phân bón giả, phân bón kém chất lượng xuất hiện trên thị trường ngày càng nhiều nhưng tình trạng chưa kiểm soát được chất lượng
là rất phổ biến
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tại Hội nghị về phát triển phân bón hữu cơ, nhu cầu sử dụng phân bón trong nước ước tính khoảng 11 triệu tấn các loại Trong đó, nhu cầu sử dụng phân bón vô cơ trong cả nước vào
Trang 12khoảng 90%, nhu cầu tiêu thụ phân hữu cơ và một số chủng loại khác chỉ vào khoảng 10% Khu vực phía Nam chiếm 70% cơ sở sản xuất và lượng phân bón tiêu thụ trong
cả nước, đặc điểm phân phối của phân bón chủ yếu dựa trên hệ thống đại lý, cửa hàng
ở các tỉnh, thành, rất ít nhà sản xuất trực tiếp phân phối đến người sử dụng
Công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng đã góp phần tạo chuyển biến tích cực hơn trong việc tuân thủ quy định pháp luật trong hoạt động kinh doanh phân bón của các cơ sở sản xuất kinh doanh, từ khâu sản xuất đến phân phối sản phẩm
ra thị trường Tuy nhiên, thị trường vẫn còn tồn tại tình trạng phân bón giả, kém chất lượng gây thiệt hại về kinh tế cho nông dân và thiệt hại cho nền sản xuất nông nghiệp nước nhà
Cà Mau là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm của Đồng bằng Sông Cửu Long Kinh tế, xã hội phát triển, hoạt động kinh doanh, dịch vụ ngày càng mở rộng, bên cạnh đó các hành vi vi phạm hành chính trong thương mại cũng diễn ra, trong đó có
vi phạm trong hoạt động kinh doanh phân bón Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, trong 6 tháng đầu năm 2017 Qua kiểm tra 49 cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp, phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính 28 vụ Trước
đó, trong năm 2016, ngành nông nghiệp của tỉnh cũng đã phát hiện và xử lý 83 vụ sai
phạm ( https://nongnghiep.vn ) Tuy mức độ vi phạm ít nghiêm trọng nhưng đã tạo bức
xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến sự công bằng trong hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của địa phương, và làm giảm lòng tin của nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật
và việc thực thi pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước
Từ những thực trạng trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Phân tích các yếu tố
tuân thủ quy định pháp luật về kinh doanh phân bón của các cơ sở kinh doanh vật
tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau” nhằm giúp cơ quan quản lý nhà nước
đánh giá thực trạngviệc tuân thủ hoặc không tuân thủ quy định trong hoạt động kinh doanh phân bón của các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp Kết quả nghiên cứu được sử dụng để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tuân thủ quy định, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân bón trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Trang 131.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Với mục tiêu chung là khảo sát và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ hoặc không tuân thủ quy định quản lý nhà nước về phân bón của các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp có tham gia hoạt động kinh doanh phân bón, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tuân thủ quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh phân bón
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Với mục tiêu chung này, đề tài sẽ giải quyết 03 mục tiêu cụ thể, đó là:
– Phân tích các yếu tố và mức độ tuân thủ quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh phân bón của các các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau;
– Đánh giá mức độ khó khăn và hiện trạng tuân thủ quy định pháp luật hiện trạng trong hoạt động kinh doanh phân bón của các các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau;
– Đề xuất các giải pháp để nâng cao tuân thủ quy định, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân bón
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Hiện trạng kinh doanh phân bón của các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau (hoạt động kinh doanh và những thách thức họ đang gặp) như thế nào?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ quy định pháp luật trong hoạt động kinh doanh phân bón của các các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau?
Những giải pháp gì để nâng cao tuân thủ quy định, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân bón?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy định pháp luật về phân bón của các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn
Trang 14ra, dữ liệu thứ cấp còn được được thu thập từ niên giám thống kê tỉnh Cà Mau, các nguồn thông tin chính thống, có uy tín trên mạng internet, các báo cáo của các cơ quan có liên quan
1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Chương 1 Giới thiệu đề tài Nội dung Chương nêu lý do vì sao cần thiết thực hiện đề tài: mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài Tóm lược cơ bản lý thuyết hành vi về tuân thủ quy định Lược khảo các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Tác giả trình bày khung phân tích của đề tài, thiết kế bảng câu hỏi khảo sát, phỏng vấn, phương pháp phân tích số liệu cho luận văn
Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày tổng quan về mẫu nghiên cứu, phân tích thống kê mô tả
Chương 5 Kết luận và gợi ý chính sách Chương này trình bày những kết quả
mà đề tài đạt được, các gợi ý chính sách để nâng cao tuân thủ quy định, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân bón trên địa bàn tỉnh Cà Mau, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài gồm các cơ sở kinh doanh, trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh kinh doanh vật tư nông nghiệp có tham gia hoạt động kinh doanh phân bón Trình bày lý thuyết hành vi tuân thủ quy định pháp luật Lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
2.1 ĐỊNH NGHĨA/KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
2.1.1 Định nghĩa cơ sở kinh doanh
‘Cơ sở kinh doanh’ theo Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại năm 2005 được hiểu
là ‘các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một
cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Theo định nghĩa này thì
những cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi thương mại và bắt buộc phải có đăng
ký kinh doanh đểu được xem là cơ sở kinh doanh cơ sở kinh doanh do một cá nhân
hoặc một nhóm người do các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh (Khoản 1 Điều 66 Nghị định 66/2015/NĐ-
CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp)
2.1.2 Khái niệm về Kinh doanh
“Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Luật Doanh nghiệp 2014, tại Khoản 16 Điều 4)
Kinh doanh là một khái niệm rộng hơn thuật ngữ ‘hoạt động thương mại’ là ‘ hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Khoản 1, Điều
3 - Luật thương mại)
Đối với hoạt động mua bán hàng hóa, có những các cơ sở kinh doanh chuyên kinh doanh mua bán hàng hóa và có những các cơ sở kinh doanh đồng thời là nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ Vì vậy, pháp luật thương mại cũng có một số nội dung liên quan đến quá trình đầu tư sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ như tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ
Trang 162.1.3 Trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh kinh doanh phân bón
Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh phân bón phải tuân thủ các điều kiện về kinh doanh phân bón (Điều 19 Nghị định 108/2017/NĐ-CP), bao gồm: (1) được đăng
ký hoặc thành lập theo quy định của pháp luật; (2) Có cửa hàng buôn bán phân bón Cửa hàng buôn bán phân bón phải có: Biển hiệu; sổ ghi chép việc mua, bán phân bón; bảng giá bán công khai từng loại phân bón niêm yết tại nơi dễ thấy, dễ đọc; (3) Có khu vực chứa phân bón; có kệ hoặc bao lót để xếp đặt hàng; (4) Người trực tiếp bán phân bón phải có Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về phân bón, trừ trường hợp đã có trình độ trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành về lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, nông hóa thổ nhưỡng, nông học, hóa học, sinh học
Trường hợp cơ sở buôn bán phân bón không có cửa hàng phải có đăng ký doanh nghiệp; có địa điểm giao dịch cố định, hợp pháp; có sổ ghi chép việc mua, bán phân bón và đáp ứng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 19 Nghị định 108/2017/NĐ-CP
2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ QUY ĐỊNH
2.2.1 Tuân thủ quy định và hiệu quả của chính sách
Khái niệm tuân thủ quy định theo OECD (2000) là ‘việc chấp hành của cộng
đồng được quản lý về những quy định’ Triết lý của OECD lý giải nguyên nhân vì sao
mọi người trong công đồng cần phải tuân theo những nguyên tắc, luật lệ được đặt ra
Để hiểu được việc chấp hànhnày của người dân thì cần phải xem xét ít nhất trên ba
khía cạnhsau đây Thứ nhất, là người dân trong cộng đồng nhận thức và hiểu rõ được
những quy định về một vấn đề nào đó cần có sự chấp hành chung, nếu không rõ ràng
về quy định thì có thể đưa đến tình trạng vô tình không tuân thủ Thứ hai, là người
dân phải sẵn lòng tuân thủ Cần xem xét những động lực nào có thể khuyến khích sự tuân thủ, và những hành độg nào của nhà nước có thể làm giảm động lực cho những
hành vi không tuân thủ Thứ ba, là khả năng thi hành và tuân thủ của người dân Cần
xem xét liệu người dân có khả năng thi hành và tuân thủ không, và cung cấp thêm những hoạt động hỗ trợ như tuyê truyền, giải thích, cung cấp thông tin Hành vi không tuân thủ qui định nào đó sẽ xuất hiện khi 3 khía cạnh nêu trên không đồng thời diễn
ra Việc ban hành các qui định cũng phải xem xét điều kiện thực tiễn để bảo đảm 3 khía cạnh nêu trên có thể cùng xãy ra bằng cách xây dựng và thực hiện một số hoạt
Trang 17động như: (1) Thông tin, tuyên truyền rộng rãi cho người dân trong cộng đồng biết được quyền lợi và nghĩa vụ, giải thích rõ ràng về những yêu cầu thực thi trong qui định; (2) Cùng lúc ápdụng nhiều biện pháp khác nhau như thuế, cấm, trợ cấp, tiêu chuẩn để tác động đến hành vi tuân thủ trong cộng đồng, những hoạt động cưỡng chế thi hành (thanh tra, kiểm tra, xử phạt)
Trên thực tế, việc tuân thủ hoàn toàn với một quy định có thể không hoàn thành được mục tiêu mong muốn, có thể rất tốn kém và gây ra những thiệt hại không cần thiết (ví dụ nếu phần chi phí tuân thủ quá lớn nó có thể dẫn đến doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh dừng kinh doanh).Việc tuân thủ hoàn toàn là điều có thể đạt được nhưng không đồng nghĩa với việc đạt được mục tiêu mong muốn
Để đánh giá mức độ tuân thủ quy định, theo OECD thì các nhà hoạt định chính sách phải cần xem rằng hành vi tuân thủ của cộng động là quan trọng, không phải chỉ
là những tác dụng của quy định Do vậy, cần phải dự đoán đầy đủ về các yếu tố và các động lực phía sau của vấn đề, việc lựa chọn các công cụ chính sách, và tiến trình thực hiện.Đồng thờiphải xem xét, phân tích cả các yếu tố của việc tuân thủ quy định
và các yếu tố khác ảnh hưởng đến tác dụng của chính sách để có thể tìm ra được những cách thức cần thiết để cải tổ các quy định đã ban hành
Tuân thủ hoàn toàn là điều không thể luôn luôn có thể đạt được, ít nhất là với chi phí có thể chấp nhận, và nói chung chính phủ các nước hầu như luôn luôn phải có
sự thỏa mãn với sự tuân thủ đạt “mức độ có thể chấp nhận nào đó” Nói chung là không thể có câu trả lời cho câu hỏi “mức độ không tuân thủ có thể chấp nhận là bao nhiêu” vì mỗi lĩnh vực chính sách có những đặc thù riêng, những sự khác nhau, và những yếu tố nhạy cảm khác nhau Để định nghĩa mức độ không tuân thủ có thể chấp nhận được cần dựa vào bối cảnh cụ thể, vàmức độ rủi ro, thiệt hại nghiêm trọng của các vấn đề nảy sinh từ hành vi không tuân thủ Một mức độ/tỷ lệ không tuân thủ nào
đó có thể trở thành một vấn đề nghiêm trọng, mặc dù mức độ đó cũng đã tồn tại trong nhiều năm qua và không được xem là ở mức nghiêm trọng
Hành vi tuân thủ có thể được thấy ở 3 cấp độ khác nhau:
Cấp độ thứ nhất, là cấp độ mà người dân biết và hiểu các qui định đã ban hành
để tuân thủ; Cấp độ thứ hai, là người dân sẵn lòng tuân thủ qui định bất kể là do những
Trang 18động lực kinh tế, những thái độ chuẩn mực chủ quan của người công dân, sự chấp nhận vể mục tiêu của chính sách, hay là do sức ép từ các hoạt động cưỡng chế thi hành Nghĩa là nhận thức đánh giá của đối tượng thi hành về những yếu tố nào thuộc
về tuân thủ tự giác, và những yếu tố cưỡng chế thi hành về mặt hành chính ảnh hưởng đến ý định hành vi của họ; Thứ ba là mức độ mà người dân có thể tuân thủ những qui định đến đâu, tới mức kỳ vọng nào của các nhà làm chính sách
Tại mỗi cấp độ này, chính phủ cần sử dụng một số các hành động đồng thời để bảo đảm là chính sách đã ban hành có hiệu quả như sau:
Thông tin đến các người dân thuộc đối tượng thi hành qui định để họ biết về quyền lợi, nghĩa vụ cũng như giải thích rõ những điều qui định cần phải tuân thủ
Sử dụng nhiều công cụ chính sách khác nhau như thuế, hạn chế, cấm, trợ cấp để tác động đến hành vi của người dân, đồng thời thực hiện một số hoạt động cưỡng chế như thanh tra, kiểm tra việc thực hiện qui định
Thực thi đầy đủ những gì đã có trong qui định để bảo đảm chính sách được thi hành trong thực tế thông qua các kênh thông tin, các hỗ trợ kỹ thuật và kênh quản lý Thất bại trong việc thực thi các biện pháp giải quyết tại ba cấp độ không tuân thủ đã nêu trên sẽ dẫn đến thất bại chính sách (OECD, 2000) Khi hành vi không tuân thủ kéo dài và trải ra trên phạm vi rộng lớn thì được gọi là thất bại chính sách có hệ thống về mặt quản lý nhà nước, làm giảm giá trị của các công cụ quản lý, và sau cùng
là làm mất lòng tin đối với chính phủ
Theo lý thuyết có hai nhóm chính sách quản lý nhà nước thông qua ban hành các qui định quản lý là: chính sách quản lý hướng về tuân thủ và chính sách quản lý hướng về kết quả
Chính sách quản lý hướng về tuân thủ nhắm vào mục tiêu làm thế nào để đạt được mức độ tuân thủ cao nhất của đối tượng thuộc qui định chấp hành Các chính sách thuộc thể loại này tìm kiếm sự hiệu quả về nguồn lực của chính phủ để tránh những thất bại tiềm năng mà có thể làm giảm thấp mục tiêu cần đạt được của chính sách Các nhà làm chính sách cần phải hiểu và quan tâm đến đặc điểm của cộng đồng được quản lý theo quy định nào đó, xem xét những người này sẽ đáp ứng như thế nào đối với những quy định và các hoạt động cưỡng chế thi hành và cả những động lực
Trang 19bên trong và bên ngoài để tuân thủ với các mục tiêu quản lý
Ngược lại, chính sách hướng về kết quả được xây dựng nhằm cải thiện mạnh
mẽ các kết quả của chính sách Nghĩa là, việc phác thảo, thực thi, quan trắc và cưỡng chế được thiết kế theo cách tổng hợp để tối đa hóa tiềm năng của đối tượng thi hành nhằm đạt được các mục tiêu chính sách với chi phí thấp nhất
Về cách thức tiếp cận trong nghiên cứu về tuân thủ qui định, Parker và Nielsen (2011) phân biệt rõ 2 cách thức tiếp cận là “khách quan” và “thuyết phục” trong đó khái niệm tuân thủ dùng để chỉ thái độ và hành vi của cá nhân, doanh nghiệp đáp ứng với những quy định được ban hành
Cách tiếp cận “khách quan” về tuân thủ xác định và giải thích tại sao không chấp hành và chấp hành như thế nào, trong các trường hợp nào thì cá nhân và các doanh nghiệp sẽ chấp hành quy định, và khi nào, tại sao họ lại không chấp hành Ý nghĩa chính trong trong cách tiếp cận này là hành vi chấp hành đối với những yêu cầu
mà luật đã qui định Những nghiên cứu về tuân thủ theo cách tiếp cận khách quan cũng tìm cách giải thích những ý định, thái độ tuân thủ và không tuân thủ, các tiến trình quản lý, các hệ thống tổ chức cấp doanh nghiệp và hệ quả của việc chấp hành quy định nhằm đạt được các mục tiêu chính sách (ví dụ: mục tiêu chính sách về giảm
ô nhiễm có thực sự đạt được hay không, điều này khác biệt với việc các doanh nghiệp chấp hành với những yêu cầu bắt buộc về kỹ thuật)
Cách tiếp cận “thuyết phục” về tuân thủ cho rằng tuân thủ là một tiến trình phức tạp, mơ hồ mà trong đó ý nghĩa của quy định được chuyển tải theo những gì đã diễn giải, thực thi và thương thảo hàng ngày trong cuộc sống giữa những người liên quan đến một quy định nào đó Theo cách tiếp cận này thì tuân thủ muốn nói đến những ý nghĩa, những tập quán xã hội, thói quen, những tương tác, thông tin giữa những đối tượng khác nhau trong tiến trình thực hiện
Từ tham khảo các cách tiếp cận về lý thuyết nêu trên, trong nghiên cứu này tác giả tiếp cận khái niệm tuân thủ như sau: “Tuân thủ là thái độ mà cá nhân hoặc doanh nghiệp chấp hành các quy định của cơ quan quản lý nhà nước về một lĩnh vực nào đó” Trong đề tài này là tuân thủ quy định của các cơ sở kinh kinh doanh vật tư nông nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh phân bón
Trang 202.2.2 Lý thuyết lựa chọn, hành động hợp lý giải thích tuân thủ
Theo cách tiếp cận phân tích lựa chọn hợp lý của Becker (1968) là cách tiếp cận kinh tế của vấn đề tội phạm Cách tiếp cận này giả định rằng khi người dân sẽ phải lựa chọn giữa các phương án thì họ sẽ đánh giá kết quả kỳ vọng của các phương án, và sau cùng sẽ chọn phương án nào hứa hẹn mang lại kết qủa tốt nhất cho họ Trong bối cảnh không tuân thủ quy phạm pháp luật, người có ý định phạm tội sẽ cố gắng định giá điều
gì sẽ mang lại kết quả tốt nhất cho họ, tuân thủ với luật pháp hay không tuân thủ Người này sẽ chọn hành vi không tuân thủ nếu hành vi này họ kỳ vọng mang lại giá trị cao hơn giá trị của tuân thủ Cách tiếp cận này của tác giả là khá rõ ràng về ý tưởng triết lý, nhưng những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy một câu hỏi được nêu ra là chúng ta (hoặc ít nhất người có ý định phạm tội) cần phải quan tâm đến điều gì trong hàm giá trị? Chênh lệch giá trị bằng tiền giữa hai lựa chọn là một phần trong cách tiếp cận này Thuyết hành động hợp lý (TRA) của Fishbein và Azen (1975), nêu bật vai trò của các chi phí và lợi ích không phải bằng tiền như uy tín trong xã hội, hình ảnh của mình trong cộng đồng bị suy giảm Các tác giả đã nêu bật vai trò của các yếu tố niềm tin, thái độ, ý định và hành vi dưới một yếu tố đại diện là thái độ của người dân và chuẩn mực xã hội đối với một hành vi cụ thể nào đó Trong nhiều nghiên cứu về tội phạm, nhiều tác giả đã phối hợp cả hai nhóm yếu tố bằng tiền và không phải bằng tiền trong mô hình lý thuyết và thực nghiệm của họ
2.2.3 Mô hình tuân thủ - Phương pháp T11
Năm 1993, Bộ tư pháp Hà Lan phối hợp với Dick Ruimschotel và Đại học Rotterdam Erasmus và đề xuất 11 yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ (T11)
và được OECD sử dụng tại nhiều quốc gia khác nhau (OECD, 2000) Bảng 11 yếu tố hay còn gọi là mô hình tuân thủ 11 yếu tố bao gồm 11 yếu tố được đánh giá là có tính thực tiễn cao trong việc phân tích tuân thủ luật pháp và phát triển chính sách
Lý thuyết cơ bản của mô hình tuân thủ T11 thuộc lĩnh vực tâm lý xã hội dựa trênlý thuyết hành động hợp lý (TRA) của Fishbein và Azen (Elffers và cộng sự, 2003) Các thành phần của lý thuyết TRA có 3 cấu trúc cơ bản là: ý định hành vi, thái độ và chuẩn mực chủ quan Theo lý thuyết này thì những ý định hành vi của cá nhân sẽ phụ thuộc vào thái độ của người đó đối với một hành vi nhất định và chuẩn mực chủ quan,
Trang 21ý kiến hoặc quan điểm của những người khác trong xã hội Mô hình giải thích hành vi tuân thủ theo khía cạnh thái độ đối với chi phí và lợi ích
Mô hình phân tích tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến tác động của quy định, luật pháp vào đối tượng liên quan thi hành Các phân tích sử dụng mô hình này giúp cho chính phủ hiểu được hiện trạng hành vi tuân thủ/không tuân thủ của đối tượng chấp hành, việc cưỡng chế thi hành, và các vấn đề khác liên quan đến quy định hiện hành
Do vậy sẽ giúp thiết kế và cải thiện quy định có tác dụng hơn Mô hình phân tích 11 yếu tố xác định hành vi tuân thủ có thể được áp dụng để đánh giá độ mạnh, yếu của các điều quy định thông qua 2 cách: (1) thứ nhất là thông qua thảo luận với các chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, những nhà cưỡng chế thực thi, đại diện đối tượng quản lý, và các chuyên gia luật để xem xét mức độ mạnh, yếu của 11 yếu tố dựa theo ý kiến, nhận định riêng của từng người (2) Cách thứ hai có giá trị khách quan hơn là thực hiện khảo sát ý kiến các đối tượng thi hành để ghi nhận và phân tích ý kiến của họ về quy định mà họ phải thi hành
Trong cả hai cách thực hiện thì mỗi yếu tố được đánh giá theo thang đo Likert và gán một con số đánh giá từ mức 1 đến mức 5, trong đó mức 1 là tuân thủ thấp nhất và mức 5 biểu hiện yếu tố được tuân thủ mạnh nhất Kết quả phân tích từ khảo sát sẽ chỉ
ra được những yếu tố hoặc khía cạnh nào của tuân thủ bị thất bại Để có được kết quả thu thập ý kiến khách quan và hiệu quả, khi áp dụng mô hình phân tích này cần phải
sử dụng chính xác, rõ ràngnhững khái niệm chính như sau: (1) đối tượng quản lý, chấp hành qui định: là nhóm người (cộng đồng) hoặc các tổ chức (doanh nghiệp) phải tuân theo những quy định (2) Thuật ngữ tuân thủ dùng để chỉ hành vi tuân thủ của đối tượng (3) Thanh tra, cưỡng chế thi hành dùng để chỉ các hoạt động kiểm tra, phạt của các cơ quan chức năng quản lý thi hành
Việc sử dụng mô hình phân tích 11 yếu tố xác định tuân thủ sẽ chỉ cho biết mức
độ mà đối tượng được kỳ vọng để tuân thủ quy định tổng hợp từ quan điểm riêng của các cá nhân trong đối tượng quản lý Điều này có thể được giải thích bằng cách tập trung vào những yếu tố quan trọng nhất là tại sao nhóm đối tượng sẽ tuân thủ (hoặc không) quy định (yếu tố từ 1 đến 5) và giúp ước lượng được mức độ tuân thủ tự giác của đối tượng Trên cơ sở của các yếu tố từ 6 đến 11, việc phân tích cho thấy độ mạnh
Trang 22yếu, tác dụng của các hoạt động thanh tra, và hiệu quả của hoạt động cưỡng chế thực thi những yêu cầu của luật định
Nội dung cơ bản của mô hình 11 yếu tố chính về hành vi tuân thủ của Hà Lan năm 1993 như sau:
• Nhóm yếu tố thứ nhất: tự giác tuân thủ bao gồm những yếu tố ảnh hưởng đến việc tự giác tuân thủ của đối tượng, không nhất thiết có những hoạt động cưỡng
chế thi hành của cơ quan quản lý):
(1) Kiến thức của đối tượng về những quy định, quy phạm pháp luật
Kiến thức và sự hiểu biết của đối tượng thi hành về các quy phạm pháp luật, quy định và những yêu cầu về quản lý nhà nước là yếu tố chính cho doanh nghiệp, đối tượng chấp hành tuân thủ Không hiểu biết và xa lạ với những quy định của luật có thể dẫn đến việc vô tình không tuân thủ Mức độ rõ ràng, không mơ hồ của quy định, không đòi hỏi kiến thức huyên môn sâu sẽ tạo điều kiện cho đối tượng tuân thủ tốt
(2) Yếu tố chi phí và lợi ích của tuân thủ
Yếu tố thứ 2 trong nghiên cứu thái độ của người dân, doanh nghiệp đối với tuân thủ quy định là khía cạnh chi phí và lợi ích Doanh nghiệp và những đối tượng chấp hành cần thực thi quy định có thể cân nhắc liệu việc không tuân thủ thì hiệu quả chi phí và chấp nhận rủi ro bị phạt là hiệu quả hơn là phải tuân thủ thi hành Chi phí tuân thủ bao gồm cả chi phí tài chính, nhân lực trực tiếp và các chi phí gián tiếp khó thấy hơn, ví dụ như ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp Nói cách khác là cần xem xét lợi ích và chi phí về vật chất và phi vật chất
(3) Mức độ chấp nhận về quy định
Yếu tố này bao gồm 2 thành phần: mức độ chấp nhận về mục tiêu của chính sách
và mức độ chấp nhận về ảnh hưởng của chính sách tập trung phân tích mức độ chấp nhận của doanh nghiệp, đối tượng quản lý về lý lẽ của quy định, chính sách Đánh giá của đối tượng quản lý về qui định nói chung, và đánh giá ảnh hưởng nội hàm của qui định được ban hành đến bản thân doanh nghiệp, đối tượng quản lý Mức độ chấp nhận thấp có thể đưa đến việc tuân thủ không liên tục Đối với nhiều doanh nghiệp thì sự chấp nhận về quy định là để nâng cao, gìn giữ những tiêu chuẩn cho nghề nghiệp
Trang 23(4) Sự tôn trọng của đối tượng với cán bộ nhà quản lý nhà nước
Yếu tố này quan tâm đến thái độ tôn trọng của doanh nghiệp đối với nhà quản lý thực hiện quy định và cơ quan kiểm soát, cưỡng chế thi hành Do có sự “thiên vị” về cách đánh giá, nhìn nhận người quản lý của đối tượng, nên khó để thiết kế câu hỏi phù hợp nhằm khảo sát khía cạnh này một cách khách quan Một số người, doanh nghiệp chỉ biết thực hiện những gì cán bộ quản lý nhà nước yêu cầu hoặc luật đã quy định họ phải làm, không đưa ra những đánh giá khách quan
(5) Kiểm soát xã hội/Kiểm soát không chính thức
Kiểm soát xã hội/không chính thức nhằm khám phá những thái độ về hệ quả của việc bị phát hiện không tuân thủ chứ không phải là các hình phạt Những thiệt hại về
uy tín trong xã hội là điểm quan trọng trong khía cạnh này Kiểm soát không chính thức này là sự kiểm soát liên quan đến những chuẩn mực xã hội của các thành viên trong đối tượng quản lý, hoặc nhóm người cùng chuyên môn Kiểm soát xã hội cũng đồng thời diễn ra trong cộng đồng của đối tượng quản lý bao gồm người thân, bạn bè, đồng nghiệp, các doanh nghiệp liên quan, các đối thủ cạnh tranh Những khía cạnh sau đây thường được xem xét trong yếu tố kiểm soát xã hội: cảm nhận rủi ro khi bị phát hiện; mức độ không chấp nhận của cộng đồng về hành vi không tuân thủ; mức độ mà cộng đồng nhận thấy có trách nhiệm và phải thực thi
• Nhóm yếu tố thứ 2 bao gồm các yếu tố về kiểm soát, cưỡng chế thi hành
(6) Rủi ro khi bị báo cáo
Yếu tố rủi ro khi bị báo cáo được hiểu là sự rủi ro cảm nhận của đối tượng quản
lý khi việc vi phạm bị phát hiện bởi những người khác trong cộng đồng, không có sự can thiệp của chính quyền và bị báo cáo đến cơ quan quản lý nhà nước
Yếu tố thứ 6 xem xét các doanh nghiệp, đối tượng quản lý đánh giá cảm nhận như thế nào về khả năng bị người nào đó báo cáo hoặc phát hiện không tuân thủ đến
cơ quan chức năng Những thông tin báo cáo có thể trợ giúp cơ quan quản lý giải quyết các vấn đề không tuân thủ, và như thế nhà quản lý địa phương cần xem xét sự cần thiết của người dân trong cộng đồng và trợ giúp họ cũng như những người khác trong việc khuyến khích báo cáo Một số vấn đề được nêu ra trong yếu tố thứ 5 (kiểm soát xã hội) cũng có vai trò quan trọng ở yếu tố này
Trang 24(7) Rủi ro bị thanh, kiểm tra
Rủi ro bị thanh tra là đánh giá cảm nhận về rủi ro của doanh nghiệp, đối tượng quản
lý khi bị tiến hành thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước về những vi phạm quy định Trên thực tế, rủi ro khách quan do thanh, kiểm tra khác với rủi ro thực sự Mức
độ rủi ro thật sự (không phải rủi ro theo cảm nhận) bị ảnh hưởng bởi mật độ kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý và phương pháp thực hiện kiểm tra Việc thanh tra kiểm tra được diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau ví dụ như kiểm tra sổ sách, tài liệu kinh doanh hoặc thanh tra toàn diện, điều này sẽ ảnh hưởng đến mức độ rủi ro trên thực tế Yếu tố này cũng là một trong những thông tin nhạy cảm và “thiên vị”, doanh nghiệp, đối tượng quản lý ít khi trả lời thẳng và đúng như ý của họ muốn nói Một số doanh nghiệp cho rằng những cuộc làm việc với thanh tra, nhà quản lý là một trải nghiệm tốt cho doanh nghiệp, giúp học có thể nhận ra một số điểm không tuân thủ, nhận được những thảo luận,
đề xuất cơ hội để sửa chữa, cải thiện việc chấp hành quy định
(8) Rủi ro bị phát hiện
Yếu tố này đề cập đến khả năng bị phát hiện không tuân thủ thông qua thanh tra, kiểm tra sổ sách hoặc thanh tra trực tiếp và toàn diện tại cơ sở kinh doanh Khía cạnh này được xem là có ảnh hưởng quan trọng đến việc tuân thủ quy định trong cách tiếp cận của nhà quản lý nhằm tư vấn cho các cá nhân và doanh nghiệp Nhận thức của doanh nghiệp về khả năng của cán bộ thanh tra, kiểm tra để phát hiện được những hành
vi không tuân thủ thông qua những cuộc tiếp xúc làm việc cũng có thể giúp doanh nghiệp tuân thủ quy định tốt hơn Những vi phạm phải được phát hiện bằng nhiều cách thức khác nhau, phụ thuộc vào hình thức, mức độ vi phạm và phạm vi thanh tra, kiểm tra Trong nhiều trường hợp thì việc vi phạm rất dễ dàng phát hiện, nhưng khó để tra tìm ai thực hiện vi phạm nào đó Rủi ro bị phát hiện là tỷ số giữa số vi phạm bị kiểm tra và tổng số vi phạm thực sự bị phát hiện Do vậy, tỷ số này là một ước lượng về hiệu quả của biện pháp thanh tra, kiểm tra
(9) Kiểm tra chọn lọc
Kiểm tra chọn lọc được hiểu là rủi ro cảm nhận bị thanh tra và phát hiện vi phạm
từ việc chọn lọc doanh nghiệp, người, hành động, hoặc lĩnh vực bị kiểm tra Yếu tố này quan tâm đến mức độ mà các thanh tra nổ lực tìm kiếm những hình thức vi phạm qui
Trang 25định chứ không phải là mức độ tuân thủ Nói chung, chất lượng và hiệu quả của việc lựa chọn kiểm tra có thể đo lường bằng tỷ lệ của số lần bị phát hiện trong lựa chọn kiểm tra và kiểm tra ngẫu nhiên Yếu tố này đo lường thái độ của nhóm các doanh nghiệp được nằm trong mẫu khảo sát bị thanh tra có nghĩ rằng các thanh trasẽ tập trung những nguồn lực (bao gồm các cuộc tiếp xúc làm việc) vào những doanh nghiệp dường như không tuân thủ hay là nhắm vào những người, doanh nghiệp tuân thủ
(10) Rủi ro bị phạt
Rủi ro bị phạt là đánh gía cảm nhận của đối tượng vể rủi ro sẽ bị nhận một hình thức phạt nếu kết quả thanh tra, kiểm tra cho thấy một hoặc nhiều điểm trong quy định
bị vi phạm.Tuy nhiên, không phải hình thức phạt sẽ được thực hiện ngay khi phát hiện
vi phạm trong lúc thanh tra mà còn phụ thuộc nhiều vào kết luận của cơ quan lập pháp, tòa án Do vậy, yếu tố này quan tâm đến kỳ vọng của doanh nghiệp bị phát hiện vi phạm về khả năng bị nhận một mức phạt hay hình thức phạt nào đó của cơ quan chức năng Các doanh nghiệp lo lắng về thiệt hại thanh danh và uy tín trong nghề là quan trọng hơn là bị phạt Các doanh nghiệp thường quan tâm đến việc vô tình không tuân thủ và ảnh hưởng có thể có của việc này dẫn đến bị phạt và các dư luận liên quan khác
đế hành vi tuân thủ của doanh nghiệp trong tương lai Doanh nghiệp phải xem xét đến thiệt hại về tài chính cũng như các thiệt hại không phải bằng tiền khác Mức độ nghiêm trọng của các hình thức phạt có những tác động không giống nhau giữa các doanh nghiệp, hoặc nhóm đối tượng
11 yếu tố phân tích hành vi tuân thủ phân bổ trong 2 nhóm yếu tố: Nhóm yếu tố
tự giá tuân thủ và nhóm yếu tố kiểm soát, cưỡng chế thi hành được trình bày tóm lược trong bảng sau:
Trang 26Bảng 2.1: Mô hình tuân thủ - Phương pháp T11
Các yếu tố tự giác tuân thủ: những động lực để đối tượng quản lý, cộng đồng tuân thủ quy
– Chi phí và lợi ích về tài chính, vật chất, kinh tế
– Chi phí và lợi ích không phải bằng tiền (vô hình)
3 Mức độ chấp nhận của đối tượng về quy định
– Lý lẽ để hình thành các quy định cụ thể là
có cơ sở
– Chấp nhận các ảnh hưởng của chính sách
4 Sự tôn trọng cán bộ - cơ quan quản lý
– Tôn trọng hướng dẫn, tư vấn của cán
bộ quản lý
– Tôn trọng sự quản lý của
cơ quan chức năng nói chung
5 Ảnh hưởng của các kiểm soát không chính thức – Kiểm soát trong cộng đồng, xã hội – Tư vấn để thay đổi hành
vi tương tự như các đối tượng quản lý khác trong cộng đồng
Các yếu tố kiểm soát, cưỡng chế: nhận thức của đối tượng quản lý, cộng đồng về rủi ro và
hậu quả của việc bị phát hiện không tuân thủ quy định
– Rủi ro bị kiểm tra hành chính (hồ sơ, tài liệu)
– Rủi ro bị kiểm tra trực tiếp tại cơ sở
8 Rủi ro bị phát hiện
– Hành vi không tuân thủ bị phát hiện thông qua kiểm tra
hồ sơ
– Bị phát hiện không tuân thủ khi thanh tra, kiểm tra
cơ sở
9 Kiểm tra chọn lọc – Rủi ro bị chọn trong mẫu kiểm tra của cơ quan quản lý
– Tính khách quan của cơ quan quản lý
để kiểm tra
cơ sở vi phạm hay cơ sở không vi phạm để phát hiện tuân thủ
10 Rủi ro bị phạt
– Rủi ro bị phạt tới mức độ nào nếu bị phát hiện – Mức độ dễ dàng để kết luận cơ sở vi phạm, không tuân thủ
Trang 272.2.4 Mô hình tuân thủ tổng hợp - Phương pháp T14
Mô hình tuân thủ tổng hợp T14 được Nielsen và Parker (2012) phát triển từ mô hình T11 của Hà Lan Mô hình nhằm mục đích xem xét sự tương tác giữa những động lực, những đặc điểm và mô hình kinh doanh của doanh nghiệp nhằm có những tác động đến nhận thức của họ về những qui định của luật pháp, cưỡng chế thi hành và tuân thủ
Mô hình tuân thủ tổng hợp theo hai tác giả này nhấn mạnh sự tương tác giữa nhiều yếu tố và nhiều đối tượng khác nhau đến thúc đẩy hoặc khuyến khích tuân thủ Một số yếu tố có tác dụng ngay trong ngắn hạn, một số yếu tố là ảnh hưởng trong dài hạn, phụ thuộc vào tương tác của chúng với các yếu tố khác
Mục đích của mô hình nhằm thu thập thông tin về những lý do tiềm năng giải thích tại sao đối tượng quản lý tuân thủ hoặc không tuân thủ với những quy định Mô hình rất hữu ích từ giai đoạn thiết kế chính sách, trong giai đoạn thực thi, và sau cùng
là giai đoạn kiểm soát, đánh giá để xem xét tác động của các chiến lược quản lý để có những cải thiện về sau Tương tự như các yếu tố trong mô hình T11, tác giả đã nhấn mạnh rằng không phải 14 yếu tố có vai trò quan trọng như nhau trong mọi tình huống Khi thu thập thông tin cho 14 yếu tố, thường thì chỉ có một nhóm yếu tố đặc biệt nổi bật cung cấp được nhiều kết quả tốt dùng để giải thích và hiểu biết được hành vi tuân thủ hay không tuân thủ
Bảng 2.2: Mô hình tuân thủ tổng hợp - Phương pháp T14
Nhóm các yếu tố tự giác tuân thủ Nhóm các yếu tố bắt buộc tuân thủ
• Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội, chuẩn
mực xã hội
1 Chi phí, lợi ích: kinh tế, xã hội, vô hình
2 Mức độ chấp nhận quy định
3 Sự tôn trọng pháp luật nói chung
4 Sự hiện diện của các tác nhân ảnh hưởng
không chính thức đến nhận thức, hành vi
của đối tượng quản lý
• Nhóm các yếu tố về đặc điểm, khả năng
của đối tượng quản lý
1 Loại hình kinh doanh
2 Kiến thức về luật, quy định
3 Khả năng của cơ sở để tuân thủ
4 Sự tôn trọng cán bộ - cơ quan quản lý
• Nhóm các yếu tố kiểm soát, cưỡng chế
1 Rủi ro bị báo cáo về hành vi vi phạm đến cán bộ, cơ quan quản lý
2 Rủi ro bị thanh tra, kiểm tra
3 Rủi ro bị phát hiện không tuân thủ
4 Kiểm tra chọn lọc: bị chọn để thanh tra, kiểm tra
5 Rủi ro bị phạt sau khi bị thanh tra
6 Các hình thức phạt có mức độ nghiêm trọng như thế nào
Nguồn: Parker và Nielsen, 2012
Trang 28So sánh lựa chọn mô hình sử dụng trong đề tài: xem xét các yếu tố trong mô
hình T11 của Hà Lan (1993) và mô hình T14 của Parker và Nielsen (2012), thấy rằng không có sự khác biệt cơ bản về nội dung nhưng khác nhau ở phần lý luận và tên gọi của từng yếu tố Các yếu tố trong mô hình T11 được phân chia thành 2 nhóm: nhóm
tự giác tuân thủ và nhóm yếu tố kiểm soát và cưỡng chế thi hành.Các yếu tố trong mô hình 14 được xếp vào 3 nhóm: nhóm động lực kinh tế, xã hội và chuẩn mực xã hội; nhóm đặc điểm và khả năng tuân thủ của đối tượng; nhóm các yếu tố kiểm soát hành chính để tuân thủ Hai mô hình khác nhau có sự khác biệt ở chổ số lượng các yếu tố: yếu tố khả năng/năng lực của doanh nghiệp để tuân thủ, tôn trọng pháp luật nói chung,
và mô hình kinh doanh của doanh nghiệp
Qua phần lược khảo kết quả nghiên cứu trước đây, tác giả chưa thấy có nghiên cứu ứng dụng mô hình T14, nhưng có nhiều áp dụng T11 trong các nghiên cứu tại nước ngoài Do vậy, là một nghiên cứu ứng dụng và căn cứvào phân tích nêu trên tác giả đã sử dụng mô hình tuân thủ- phương pháp T11 của Hà Lan phân tích hành vi tuân thủ quy định của cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp có hoạt động kinh doanh phân bón trên địa bàn tỉnh Cà Mau
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ
2.3.1 Nghiên cứu tại nước ngoài
Nghiên cứu của Elffer và cộng sự (2003) về hành vi không tuân thủ luật Trợ cấp thuê nhà ở của cá nhân và luật Kiểm soát mua bán hóa chất nông nghiệp tại Hà Lan
đã áp dụng mô hình 11 yếu tố tuân thủ với tổng số biến quan sát là 27 Các tác giả áp dụng 2 phương pháp so sánh khác nhau để thu thập số liệu trong 2 vòng Kết quả chỉ
ra rằng với mỗi phương pháp thu thập số liệu và luật khác nhau thì ảnh hưởng của các yếu tố là không giống nhau Kết quả này tương tư như đã được khuyến cáo trong phương pháp T11 là kết quả của phương pháp tùy thuộc vào bối cảnh nghiên cứu, đối tượng thi hành
Nghiên cứu của SRA (2011) Năm 2011, cơ quan lập pháp quản lý các nhà hành nghề luật tại Anh và Xứ Wales (Solicitors Regulation Authority- SRA) thực hiện khảo sát 200 doanh nghiệp về thái độ của các doanh nghiệp đến các quy định quản lý nhà nước và tuân thủ các yêu cầu luật định Nghiên cứu được thực hiện với sự trợ
Trang 29giúp khoa học của Paul Domjan - Giám đốc Công ty John Howell, và Daniel Read- Giáo sư về Khoa học hành vi trường Đại học Kinh doanh Warwick
Cuộc khảo sát đã áp dụng mô hình tuân thủ T11 để xem xét thái độ của 200 doanh nghiệp trong phạm vi quản lý của SRA về thái độ tuân thủ của họ và thực hiện một báo cáo nền cho các nghiên cứu về sau Bản câu hỏi được xây dựng gồm 100 câu dựa theo mô hình tuân thủ T11 và những câu hỏi liên quan khác Kết quả cho thấy việc phân tích và đọc kết quả từ cuộc khảo sát giúp phát hiệu các yếu tố nào trong 11 yếu tố hiệu quả nhất để khuyến khích sự tuân thủ của doanh nghiệp
Elena Ostrovskaya, Jan Leentvaar và Natalya Taniuscheva (2014) áp dụng mô hình T11 để nghiên cứu hành vi tuân thủ và cưỡng chế thi hành luật môi trường tại Vùng Volga-Caspian Trên cơ sở xuất hiện quá nhiều trường hợp vi phạm về những quy định môi trường trong vùng Nghiên cứu đã phân tích những lý do có thể có phía sau của hành vi không tuân thủ trong cộng đồng Kết quả nghiên cứu đã xác định được hai nhóm có hành vi tuân thủ khác nhau và đề xuất những vấn đề quan trọng
mà chính quyền vùng cần quan tâm để thúc đẩy hành vi tuân thủ của doanh nghiệp với quy định bảo vệ môi trường
Greiner và cộng sự (2015) thực hiện nghiên cứu nhằm xác định những nguyên
do vì sao những người sử dụng nước tại hai vùng thủy nông ven biển Queensland nước Úc thường sử dụng nước vượt mức cho phép và do đó phạm vào tội ‘ăn cắp nước’ Nghiên cứu đã sử dụng mô hình T11 là mô hình các yếu tố tự giác tuân thủ khác biệt hẳn với các yếu tố cưỡng chế thi hành để khảo sát 67 người sử dụng nguồn nước thủy nông Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết người sử dụng nước tự giác tuân thủ những qui định sử dụng nước với tính tự giác cao dựa trên nền tảng tin rằng những quy định nhằm bảo vệ nguồn nước chung cho cộng đồng Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số người khác sử dụng quá mức cho phép nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận kinh doanh
Xem xét kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu được lược khảo trên đây, tác giả nhận thấy rằng mô hình tuân thủ T11 được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng trong nhiều trường hợp khác nhau về tuân thủ quy định, luật lệ tại các quốc gia Mỗi một yếu tố được phác thảo thành các câu hỏi quan sát (items), với cách thức đo lường
Trang 30dạng thang đo Likert 5 mức độ và một số đo lường khác dạng câu hỏi có/không (yes/no) Không có nghiên cứu nào lược khảo trên đây áp dụng hồi quy tuyến tính để xem xét ảnh hưởng của các yếu tố này đến mức độ tuân thủ (được hình thành từng các biến quan sát) Các biến quan sát trong từng yếu tố được dùng để tính điểm tổng hợp cho từng yếu tố, và điểm đánh giá từng biến quan sát được sử dụng để đề xuất những cải thiện về chính sách Thang đo của Elffer và cộng sự (2003) trong nghiên cứu về tuân thủ luật Kiểm soát mua bán hóa chất nông nghiệp với 27 biến quan sát trong 11 yếu tố được tác giả sử dụng trong khảo sát thực tế tại tỉnh Cà Mau và phân tích kết quả trong luận văn này
2.3.2 Nghiên cứu trong nước
Lược khảo các tài liệu nghiên cứu liên quan trong nước cho thấy có nhiều đề tài liên quan chủ yếu đến các yếu tổ ảnh hưởng đến tuân thủ thuế được thực hiện trên nhiều địa bàn khác nhau Mặc dù, các yếu tố tuân thủ thuế cũng dựa trên nền tảng của
lý thuyết hành động hợp lý (TRA), nhưng chưa thấy ứng dụng mô hình tuân thủ T11
Do vậy, trong phần lược khảo tài liệu nghiên cứu trong nước trình bày dưới đây chỉ với mục đích nêu minh họa một số nghiên cứu liên quan đến tuân thủ
Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu (2015) đã tổng hợp các nghiên cứu trước đây và đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế bao gồm 7 nhân tố: đặc điểm doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, chất lượng dịch vụ của cơ quan quản
lý thuế, chất lượng quản trị công, cấu trúc hệ thống thuế, yếu tố kinh tế, và chuẩn mực
xã hội Sử dụng phương pháp kỹ thuật Delphi phỏng vấn sâu nhóm 20 chuyên gia và phân tích định lượng (EGA, CFA) dựa theo thông tin khảo sát 474 đại diện các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ chí Minh Kết quả cho thấy cấu trúc hệ thống thuế có tác động mạnh nhất đến hành vituân thủ thuếcủa doanh nghiệp Các yếu tố, chất lượng quản trị công, chất lượng dịch vụ thuế cần cải thiện để gia tăng mức độ tuân thủ Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ trên khía cạnh nộp thuế đúng hạncủa doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân (2012)
đã lược khảo nhiều nghiên cứu của nước ngoài cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của chủ doanh nghiệp như: đặc điểm kinh doanh, thời điểm đánh giá tuân thủ, thái độ, nhận thức của chu cơ sở, và cấu trúc của hệ thống thuế (Chau và
Trang 31Leung, 2009); khả năng bị thanh tra/kiểm tra/kiểm toán, đánh giá cảm nhận về chi tiêu của Chính phủ, các biện phápcưỡng chế thi hành, khả năng tài chính để tuân thủ (Mohd
và Ahmad, 2011) Dựa trên cơ sở này hai tác giả đã xây dựng một thang đo gồm 16 yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế gồm: doanh thu, lợi nhuận, tổng tài sản,
nợ, tổng nguồn vốn, lợi nhuận/vốn, tỷ số lợi nhuận/doanh thu, thuế, ngành nghề, độ tuổi, giới tính, tôn giáo, trình độ học vấn, kinh nghiệm, số lao động Dữ liệu nghiên cứu thực tiễn từ khảo sát 170 doanh nghiệp tại TP Hồ Chí Minh, và phương trình hồi quy Logic Kết quả chỉ ra rằng các yếu tố có ảnh hưởng đặc biệt đến khả năng không tuân thủ thuế của doanh nghiệp là lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận, giới tính người trả lời, ngành nghề kinh doanh
Nghiên cứu của Đặng Thị Bạch Vân (2014) về vấn đề nộp thuế và hành vi tuân thủ của đối tượng nộp thuế, cũng đã lược khảo nhiều nghiên cứu liên quan của nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế để đưa ra những nhận định khi lựa chọn yếu tố để đưa vào các mô hình nghiên cứu Kết quả cho rằng mô hình cơ bản thường được nghiên cứu về hành vi không tuân thủ thuế gồm 4 yếu tố chính thuộc nhóm yếu tố kinh kế là: thu nhập thực tế, thuế suất, khả năng bị thanh kiểm tra và mức phạt bằng tiền Tuy nhiên, tác giả cũng đã lưu ý rằng tùy vào bối cảnh nghiên cứu khác nhau các yếu tố này có ảnh hưởng thuận hoặc nghịch đến hành
vi tuân thủ thuế hoặc hành vi không tuân thủ thuế Các yếu tố chuẩn mực xã hội chưa được đề cập nhiều trong đề tài
Nguyễn Văn Tuấn (2016) nghiên cứu hành vi tuân thủ thuế xuất nhập khẩu của doanh nghiệp tại Cục Hải quan tỉnh Long An Số liệu nghiên cứu được thu thập qua bảng phỏng vấn 255 doanh nghiệp kê khai xuất nhập khẩu trên địa bàn quản lý của cục thuế Long An (Long An, Tiền Giang và Bến Tre) Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có 4 nhân tố (26 biến quan sát) ảnh hưởng đếnhành vi và mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp theo thứ tự tầm quan trọng là: Kiến thức thuế và tình trạng tài chính, Kiểm tra thuế và hình phạt, Thuế suất và kê khai thuế, và Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế Mức độ tuân thủ có khác nhau theo địa bàn, và loại hình doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại của
cơ sở kinh doanh phân bón tại Cà Mau của Lê Khánh Hưng (2017) thông qua khảo
Trang 32sát các cơ sở kinh doanh trên địa bàn chỉ ra rằng có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng là nhóm đặc điểm chủ hộ: gồm giới tính, dân tộc, tuổi, trình độ văn hóa và nhóm yếu tố thuộc đặc điểm của cơ sở kinh doanh: gồm đăng ký kinh doanh, xuất xứ hàng hóa, địa điểm kinh doanh, số thuế phải nộp, vốn đăng ký kinh doanh, số lượng lao động tại cơ sở
Nghiên cứu tuân thủ định nghĩa gỗ hợp pháp ở cấp hộ gia đình do nhóm nghiên cứu của Hoàng Quốc Chính, Đặng Thanh Liêm, Trần Viết Đông, Hồ Văn Lộc, và Nguyễn Văn Toàn (2015) đã tập hợp các quy định liên quan đến định nghĩa về gỗ hợp pháp nhằm đề xuất các biện pháp gia tăng mức độ tuân thủ và giãm mất mát diện tích rừng Kết quả cho hiện trạng thiếu tuân thủ các quy định khá phổ biến ở cấp hộ gia đình do chiến thuật truyền thông, nội dung, kiến thứcsự hiểu biết về quy định của người dân tộc còn nhiều hạn chế, và cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý chức năng và cộng đồng địa phương
Nhìn chung, các nghiên cứu thực nghiệm nêu trên đã tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ các quy định trong kinh doanh của các cơ sở Thông qua các nghiên cứu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ các quy định bao gồm đặc điểm chủ hộ, đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cơ chế quản lý, trách nhiệm của cơ quan quản lý Các nhân tố trong các nghiên cứu này cũng bao gồm các yếu tồ về kinh tế, xã hội, chuẩn mực đạo đức, cưỡng chế thi hành Những kết quả này là cơ sở cần thiết để tác giả vận dụngvào việc phân tích các khía cạnh tuân thủ tự giác (kiến thức về quy định, chi phí – lợi ích, mức độ chấp nhận, tuân thủ chuẩn mực, kiểm soát không chính thức); các khía cạnh kiểm soát (khả năng bị báo cáo, khả năng bị thanh tra – kiểm tra, khả năng bị phát hiện, sự chọn lọc để kiểm tra); các khía cạnh hình phạt, xử lý (khả năng bị phạt, mức độ nghiêm trọng của hình phạt); phân tích mức độ khó khăn tuân thủ quy định Đồng thời, tác giả cũng tham khảo các biến quan sát, thuật ngữ từ các bảng phỏng vấn để điều chỉnh các biến quan sát trong bảng phỏng vấn của đề tài cho phù hợp với tình hình tại Việt Nam
Trang 33về mô hình 11 yếu tố tuân thủ và mô hình 14 khía cạnh tuân thủ của Nielsen và Parker (2012) Lược khảo các nghiên cứu liên quan đến đề tài Dựa vào tình hình nghiên cứu thực tiễn tại nước ngoài tác giả lựa chọn mô hình 11 khía cạnh tuân thủ của Hà Lan
để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ quy định của các cơ sở kinh doanh phân bón trên địa bàn tỉnh trong nghiên cứu này Đồng thời, thang đo của Elffer
và cộng sự (2003) trong nghiên cứu về tuân thủ luật Kiểm soát mua bán hóa chất nông nghiệp tại Hà Lan với 27 biến quan sát trong 11 yếu tố được tác giả sử dụng trong khảo sát thực tế tại tỉnh Cà Mau và phân tích kết quả trong luận văn này
Trang 34CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày phương pháp thực hiện nghiên cứu bao gồm khung phân tích, xây dựng thang đo, phương pháp phân tích số liệu
3.1 KHUNG PHÂN TÍCH
Qua lược khảo tài liệu nêu ở Chương 2, khung phân tích của đề tài dựa theo các biến phân tích (items) từ Mô hìnhT11 của Hà Lanđể khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy định pháp luật của các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp có hoạt động kinh doanh phân bón trên địa bàn tỉnh Cà Mau Đề tài mang tính chất nghiên cứu ứng dụng, do vậy các câu hỏi trong nghiên cứu và khảo sát này được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt dựa theo tài liệu vừa nêu trên Bản gốc tiếng Anh của mô hình tuân thủ T11 yếu tố có thể tham khảo trực tiếp tại www.iT11.nl Theo lý thuyết của
mô hình T11 có đề cập đến vấn đề cần xem xét bối cảnh của cộng đồng trong việc chấp hành quy định và quy định nào được xem xét trong nghiên cứu, tác giả cũng đưa thêm vào 2 nhóm yếu tố khác là: mức độ khó khăn để tuân thủ các quy định hiện hành trong kinh doanh phân bón, và nhóm yếu tố tình hình tuân thủ của các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu
Sơ đồ 3.1 Khung phân tích của đề tài (theo Mô hình tuân thủ T11)
Các khía cạnh kiểm soát, cưỡng chế:
- Khả năng bị báo cáo
- Khả năng bị thanh tra, kiểm tra
Các khía cạnh tuân thủ tự giác:
- Kiến thức quy định
- Chi phí – lợi ích
- Mức độ chấp nhận
- Tôn trọng cán bộ cơ quan quản lý
- Kiểm soát không chính thức
Tuân thủ quy định trong cộng đồng
Mức độ khó khăn để tuân thủ
Trang 353.2 THU THẬP DỮ LIỆU
3.2.1 Cách thức thu thập
Số liệu chính sử dụng trong đề tài là là số liệu sơ cấp được được thu thập qua cuộc khảo sát các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp thông qua bảng phỏng vấn Phương pháp chính để thu thập là phỏng vấn trực tiếp người đại diện của cơ sở kinh doanh (người chủ, hoặc quản lý chính, am hiểu các hoạt động kinh doanh) Trên địa bàn tỉnh Cà Mau chọn 03 huyện có số lượng các cơ sở kinh doanh kinh doanh phân bón nhiều nhất là Trần Văn Thời, Thới Bình và U Minh, tổng số mẫu khảo sát là 90
Cơ sở kinh doanh được phỏng vấn được mời trả lời cho biết quan điểm của mình
về hành vi tuân thủ quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh phân bón
và mức độ tuân thủ của cơ sở kinh doanh
3.2.2.1 Thang đo 11 yếu tố tuân thủ
Thang đo của 11 yếu tố cấu trúc từ các câu hỏi/biến quan sát (items) được trích
từ thang đo của Elffer và cộng sự (2003) nghiên cứu về tuân thủ luật Kiểm soát mua bán hóa chất nông nghiệp với 27 biến quan sát trong 11 yếu tố và các câu hỏi khác từ thang đo T11 của SRA (2011) Các câu hỏi trong thang đo được chuyển sang tiếng Việt và sử dụng trong khảo sát thực tế tại tỉnh Cà Mau, phân tích kết quả trong luận văn này Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy định trong nghiên cứu này chủ yếu
là yếu tố định tính được đánh giá cảm nhận qua thang đo Likert Các biến được đánh giá định lượng qua thang đo 5 mức độ Mức độ đánh giá cảm nhận về mức độ đồng ý: từ rất không đồng ý (giá trị 1) đến hoàn toàn đồng ý (giá trị 5); giá trị 3 là trung lập
Trang 36Bảng 3.1: Tổng hợp thang đo các yếu tố tuân thủ T11
T1 Kiến thức về quy định (kinh doanh phân bón - KDPB)
Anh/Chị biết các yêu cầu trong quy định KDPB 1 2 3 4 5 Hiểu rõ các yêu cầu trong quy định 1 2 3 4 5 Không cần các chuyên gia tư vấn vẫn có thể hiểu các yêu cầu 1 2 3 4 5 Nhận thấy những điều quy định rất phức tạp, mơ hồ 1 2 3 4 5 Những điều quy định rất cụ thể, rõ ràng 1 2 3 4 5
T2 Những yếu tố chi phí-lợi ích
Tốn nhiều nguồn lực (tài chính, nhân lực, …) để tuân thủ 1 2 3 4 5 Không tuân thủ sẽ có lợi nhiều hơn về tài chính 1 2 3 4 5 Tuân thủ sẽ có nhiều lợi ích hơn về tài chính 1 2 3 4 5 Tuân thủ sẽ nâng cao danh tiếng, uy tín trong cộng đồng 1 2 3 4 5
T3 Mức độ chấp nhận
Các điều, mục trong quy định là có thể chấp nhận 1 2 3 4 5 Mục đích của quy định là rõ ràng và chính xác 1 2 3 4 5 Nếu không có quy định thì việc KDPB rất phức tạp 1 2 3 4 5
T4 Tôn trọng cán bộ - cơ quan quản lý
Tuân thủ vì có niềm tin vào cơ quan quản lý nhà nước 1 2 3 4 5 Mọi cơ sở KDPB phải tuân thủ luật, quy định quản lý KDPB 1 2 3 4 5
Cơ sở KDPB có nhiều mâu thuẩn với yêu cầu trong quy định 1 2 3 4 5
Cơ sở KDPB tại địa phương luôn tuân thủ quy định quản lý 1 2 3 4 5
T5 Kiểm soát không chính thức
Cơ sở KDPB chúng tôi không ủng hộ việc không tuân thủ 1 2 3 4 5 Chúng tôi cùng nhau giữ uy tín trong việc tôn trọng quy định 1 2 3 4 5 Rất dễ dàng phát hiện việc không tuân thủ 1 2 3 4 5 Khi bị phát hiện, cơ sở KDPB có điều chỉnh hành vi ngay 1 2 3 4 5 Cộng đồng buôn bán phản đối hành vi vi phạm quy định 1 2 3 4 5
Có nhiều tổ chức xã hội khác nhau thúc ép phải tuân thủ 1 2 3 4 5
Trang 37Các khía cạnh kiểm soát, cưỡng chế
T6 Khả năng bị báo cáo
Cơ sở KDPB có xu hướng báo cáo cho cơ quản lý khi phát
hiện trường hợp không tuân thủ 1 2 3 4 5
Có nhiều cách khác nhau để báo cáo phát hiện cho cơ quan
Tôi biết báo cáo phát hiện cho ai, cơ quan nào 1 2 3 4 5 Tôi có mối quan hệ tốt với cán bộ quản lý 1 2 3 4 5
T7 Khả năng bị thanh tra, kiểm tra
Cơ quan quản lý thực hiện nhiều cách thức để kiểm tra 1 2 3 4 5
Cơ hội bị kiểm tra không nhiều 1 2 3 4 5 Nếu bị kiểm tra thì cũng không phải là điều nghiêm trọng 1 2 3 4 5
T8 Khả năng bị phát hiện
Kiểm tra theo hình thức hành chính khó phát hiện 1 2 3 4 5 Tài liệu, chứng từ bị làm giả khá dễ dàng 1 2 3 4 5 Phải có chuyên môn cao mới có thể phát hiện vi phạm 1 2 3 4 5 Khả năng bị phát hiện không tuân thủ là rất lớn 1 2 3 4 5 Kiểm tra thực tế toàn diện mới có thể phát hiện vi phạm 1 2 3 4 5 Cách thức thanh tra, kiểm tra quá đơn giản nên khó phát hiện 1 2 3 4 5
T11 Mức độ nghiêm trọng của hình phạt
Mức phạt có lưu ý đến khả năng tài chính của cơ sở 1 2 3 4 5
Bị phạt hành chính thì nhẹ hơn bị xử lý tại tòa án 1 2 3 4 5 Mức phạt hiện nay là rất nặng 1 2 3 4 5 Việc bị phạt làm mất uy tín trong việc mua bán 1 2 3 4 5
Trang 38Trên nền tảng của thang đo này, liên quan đến tuân thủ quy định, các trả lời có giá trị 1, 2 được giả định là có thái độ không ủng hộ và gán là không tuân thủ; giá trị 4,
5 được xem là có thái độ tích cực và hành vi tuân thủ quy định cao; và giá trị 3 là trung lập, không chắc chắn giữa tuân thủ hay không
3.2.2.2 Thang đo tình hình tuân thủ
Ngoài thang đo Likert đo lường các yếu tố tuân thủ, bảng phỏng vấn còn có hai nhóm câu hỏi khác liên quan đến việc thực hiện các quy định kinh doanh phân bón tại Việt Nam Tình hình tuân thủ quy định kinh doanh phân bón được trích trực tiếp về những quy định, hành vi nghiêm cấm trong sản xuất kinh doanh phân bón từ Nghị định 202/2013/NĐ-CP và Nghị định 108/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý phân bón
để đánh giá tình hình tuân thủ thực tiễn tại Cà Mau (Hộp 1, 2, 3) và được đo lường theo
2 thang đo đánh giá cảm nhận Đánh giá thứ 1 là đánh giá mức độ khó khăn để tuân
thủ qui định kinh doanh: từ rất khó khăn/rất ít (giá trị 1) đến rất dễ dàng/rất nhiều (giá
trị 5) Đánh giá thứ 2 là đánh giá mức độ phổ biến của những hành vi không tuân thủ
quy định: từ rất ít phổ biến (giá trị 1) đến rất phổ biến (giá trị 5)
Hộp 1 Trách nhiệm của Tổ chức, cá nhân buôn bán phân bón
Nguồn: Trích Nghị định 108/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý phân bón
a) Đáp ứng các điều kiện về buôn bán phân bón quy định tại Điều 19 Nghị định này và chỉ được buôn bán phân bón sau khi được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón;
b) Phân bón phải được xếp đặt riêng, không để lẫn với các loại hàng hóa khác, phải được bảo quản ở nơi khô ráo;
c) Quảng cáo thông tin về thành phần, hàm lượng, công dụng, cách sử dụng phân bón đúng với bản chất của phân bón, đúng với quy định của pháp luật;
d) Kiểm tra nguồn gốc phân bón, nhãn phân bón, dấu hợp chuẩn, hợp quy và các tài liệu liên quan đến chất lượng phân bón;
đ) Chấp hành sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện các điều kiện về buôn bán phân bón theo quy định tại Nghị định này
và các quy định của pháp luật có liên quan
Trang 39Hộp 2 Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón
Nguồn: Trích Nghị định 108/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý phân bón
Hộp 3 Các hành vi bị nghiêm cấm
Nguồn: Trích Nghị định 202/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý phân bón
1 Tổ chức, cá nhân buôn bán phân bón phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Tổ chức, cá nhân được đăng ký hoặc thành lập theo quy định của pháp luật; b) Có cửa hàng buôn bán phân bón Cửa hàng buôn bán phân bón phải có: Biển hiệu; sổ ghi chép việc mua, bán phân bón; bảng giá bán công khai từng loại phân bón niêm yết tại nơi dễ thấy, dễ đọc;
c) Có khu vực chứa phân bón; có kệ hoặc bao lót để xếp đặt hàng;
d) Người trực tiếp bán phân bón phải có Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn
về phân bón, trừ trường hợp đã có trình độ trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành
về lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, nông hóa thổ nhưỡng, nông học, hóa học, sinh học
2 Trường hợp cơ sở buôn bán phân bón không có cửa hàng phải có đăng ký doanh nghiệp; có địa điểm giao dịch cố định, hợp pháp; có sổ ghi chép việc mua, bán phân bón
và đáp ứng quy định tại điểm d khoản 1 Điều này
1 Sản xuất phân bón khi chưa được cấp Giấy phép sản xuất phân bón
2 Sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu phân bón giả, phân bón đã bị cấm sử dụng
3 Sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, trao đổi, tiếp thị phân bón không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc kinh doanh phân bón đã hết hạn sử dụng
4 Xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh phân bón không có hóa đơn chứng từ hợp pháp chứng minh rõ về nguồn gốc nơi sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc nơi cung cấp loại phân bón kinh doanh
5 Cố tình cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả thử nghiệm, kiểm tra, giám định, chứng nhận chất lượng phân bón
6 Giả mạo hoặc sử dụng trái phép dấu hợp quy, các dấu hiệu gian lận khác về chất lượng phân bón
7 Thay thế, đánh tráo, thêm, bớt thành phần hoặc chất phụ gia, pha trộn tạp chất làm giảm chất lượng phân bón so với tiêu chuẩn công bố áp dụng hoặc quy chuẩn kỹ thuật tương ứng
8 Thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng phân bón, về nguồn gốc và xuất xứ phân bón
9 Che giấu thông tin về khả năng gây mất an toàn của phân bón đối với con người và môi trường