Luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp i
-
Nguyễn ngọc vững
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học của các tổ hợp lai F1 giống ong ngoại (Apis mellifera Linnaeus) tại miền Bắc Việt Nam
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 60-62-10 Người hướng dẫn khoa học: TS Phùng Hữu Chính
Hà nội - 2006
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu trọng luận án là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng
để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đ7 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ7 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Vững
Trang 3Lời cảm ơn
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ và động viên của bạn bè và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS Phùng Hữu Chính, người đã dành cho tôi sự chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ, hợp tác và tạo điều kiện của các thầy cô giáo, các đồng chí lãnh đạo, các anh, chị và bạn đồng nghiệp ở các cơ quan, đơn vị:
Trung tâm Nghiên cứu ong, Công ty ong Trung ương
Bộ môn Giống ong, Trung tâm Nghiên cứu ong
Bộ môn Sinh học ong, Trung tâm Nghiên cứu ong
Bộ môn Côn trùng, khoa Nông học, Trường Đại học Nông Nghiệp I Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông Nghiệp I
Dự án Giống ong mật chất lượng cao, Trung tâm Nghiên cứu ong
Đề tài “Lai tạo con lai F1 giống ong ngoại chất lượng cao”, Trung
tâm Nghiên cứu ong
Các đồng chí lãnh đạo địa phương và bà con nông dân nơi tôi đặt
ong và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự chỉ dẫn khoa học tận tình của thầy giáo hướng dẫn; sự giúp đỡ, hợp tác và động viên quí báu của các anh chị, các bạn đồng nghiệp, bạn bè trong lớp Cao học BVTV khoá 13 và người thân trong việc hoàn thành bản luận văn này
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2006
Tác giả luận văn: Nguyễn Ngọc Vững
Trang 4Mục lục
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các biểu Đồ vii
Danh mục các ảnh viii
Danh mục Các chữ viết tắt ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
1.3 Yêu cầu của đề tài 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Sơ l−ợc lịch sử, tình hình nuôi ong trên thế giới và ở Việt Nam 4
2.1.1 Sơ l−ợc lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới 4
2.1.2 Lịch sử và tình hình nuôi ong ở Việt Nam 8
2.2 Phân loại ong mật và các phân loài ong Apis mellifera đ−ợc nuôi phổ biến trên thế giới 10
2.2.1 Phân loại ong mật 10
2.2.2 Các phân loài ong A mellifera đ−ợc nuôi phổ biến trên thế giới 10
2.2.2.1 Phân loài Apis mellifera ligustica 11
2.2.2.2 Phân loài Apis mellifera carnica 12
2.2.2.3 Phân loài Apis mellifera mellifera 13
2.2.2.4 Phân loài Apis mellifera caucasica 14
2.3 Sinh học ong Apis mellifera 14
2.3.1 Ong chúa 15
2.3.1.1 Buồng trứng của ong chúa 15
2.3.1.2 Sự phát triển của trứng 15
Trang 52.3.1.3 Quá trình giao phối của ong chúa 16
2.3.1.4 Sự đẻ trứng của ong chúa 17
2.3.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chúa tạo ra 18
2.3.1.6 Pheromon của ong chúa 18
2.3.2 Ong đực 19
2.3.3 Ong thợ 19
2.4 Nghiên cứu về chọn lọc giống ong Apis mellifera 20
2.4.1 Cơ sở khoa học của chọn giống ong mật 21
2.4.1.1 Ong đực đơn bội, ong đực lưỡng bội và vấn đề cận huyết của đàn ong 21
2.4.1.2 Cơ sở di truyền 23
2.4.1.3 Kiểm soát giao phối và ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo.25 2.4.1.4 Các yếu tổ ảnh hưởng đến năng suất mật của đàn ong 28
2.4.1.5 Các phương pháp chọn giống ong mật 29
2.4.2 Một số thành tựu chọn tạo giống ong trên thế giới 31
2.4.3 Một số thành tựu chọn tạo giống ong trong nước 33
Phần 3 đối tượng, Nội dung, phương pháp, địa điểm và thời gian nghiên cứu 35
3.1 Đối tượng nghiên cứu 35
3.2 Nội dung nghiên cứu 35
3.3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.3.1 Vật liệu nghiên cứu 35
3.3.2 Dụng cụ nghiên cứu 35
3 3 3 Phương pháp nghiên cứu 38
3.3.3.1 Bố trí thí nghiệm 38
3.3.3.2 Các công thức lai tạo 39
3.3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 40
3.3.4 Xử lý số liệu: 45
3.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 45
3.4.1 Địa điểm nghiên cứu 45
Trang 6Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 46
4.1 Đặc điểm hình thái của các giống ong thuần và tổ hợp lai 46
4.2 Tỷ lệ cận huyết của các giống ong thuần và tổ hợp lai 52
4.3 Số l−ợng nhộng của các giống ong thuần và tổ hợp lai 54
4.3.1 Biến động số l−ợng nhộng của các giống ong thuần và tổ hợp lai 54 4.3.2 Số l−ợng nhộng trung bình của các giống ong thuần và tổ hợp lai57 4.4 Thế đàn của các giống ong thuần và tổ hợp lai 59
4.4.1 Biến động thế đàn của các giống ong thuần và tổ hợp lai 59
4.4.2 Thế đàn trung bình của các giống ong thuần và tổ hợp lai 62
4.5 Khả năng dọn vệ sinh của các giống ong thuần và tổ hợp lai 65
4.6 Tỷ lệ nhiễm ký sinh của các giống ong thuần và tổ hợp lai 67
4.6.1 Tỷ lệ nhiễm ký sinh Varroa destructor 67
4.6.2 Tỷ lệ nhiễm ký sinh Tropilaelaps clareae 70
4.6.3 Tỷ lệ nhiễm ký sinh tổng số 73
4.7 Tỷ lệ bệnh thối ấu trùng của các tổ hợp lai và giống ong thuần 76
4.8 Năng suất mật thu hoạch của các giống ong thuần và tổ hợp lai 78
Phần 5 kết luận và đề nghị 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Đề nghị 83
Tài liệu tham khảo 84
Tiếng Việt 84
Tiếng Anh 85
Phụ lục 89
Trang 7Danh mục các bảng Tên bảng Trang Bảng 4.1 Chiều dài vòi hút, chỉ số Cubital, chiều dài và chiều rộng đốt bàn chân của các giống ong thuần và tổ hợp lai 46Bảng 4.2 Chiều dài cánh trước, chiều rộng cánh trước, số móc cánh, chiều ngang-dọc gương sáp của các giống ong thuần và tổ hợp lai 49Bảng 4.3 Chiều ngang-dọc tấm lưng, tấm bụng số 3 của các giống ong thuần
và tổ hợp lai 50Bảng 4.4 Tỷ lệ cận huyết của các giống ong thuần và tổ hợp lai 52Bảng 4.5 Biến động số lượng nhộng của các giống ong thuần và tổ hợp lai 55Bảng 4.6 Số lượng nhộng trung bình của các giống ong thuần và tổ hợp lai 57Bảng 4.7 Biến động thế đàn của các giống ong thuần và tổ hợp lai 61Bảng 4.8 Thế đàn trung bình của các giống ong thuần và tổ hợp lai 63Bảng 4.9 Khả năng dọn vệ sinh của các giống ong thuần và tổ hợp lai 65Bảng 4.10 Biến động tỷ lệ ký sinh V destructor của các giống ong thuần và
tổ hợp lai 68Bảng 4.11 Biến động tỷ lệ ký sinh T clareae của các giống ong thuần và tổ tợp lai 71Bảng 4.12 Biến động tỷ lệ ký sinh tổng số của các giống ong thuần và tổ hợp lai 74Bảng 4.13 Tỷ lệ bệnh thối ấu trùng của các giống thuần và tổ hợp lai 77Bảng 4.14 Năng suất mật của các giống ong thuần và tổ hợp lai 79Bảng 4.15 Tổng hợp chỉ tiêu sinh học, năng suất của các giống ong thuần và
tổ hợp lai 81
Trang 8Danh mục các biểu Đồ Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ cận huyết của các giống ong thuần và tổ hợp lai 53
Biểu đồ 4.2 Biến động số l−ợng nhộng của các giống ong thuần và tổ hợp lai .56
Biểu đồ 4.3 Số l−ợng nhộng trung bình của các giống ong thuần và tổ hợp lai .58
Biểu đồ 4.4 Biến động thế đàn của các giống ong thuần và tổ hợp lai 62
Biểu đồ 4.5 Thế đàn trung bình của các giống ong thuần và tổ hợp lai 64
Biểu đồ 4.6 Khả năng dọn vệ sinh của các giống thuần và tổ hợp lai 66
Biểu đồ 4.7 Biến động tỷ lệ ký sinh V destructor của các giống ong thuần và tổ hợp lai 69
Biểu đồ 4.8 Tỷ lệ ký sinh V destructor trung bình của các giống ong thuần và tổ hợp lai 70
Biểu đồ 4.9 Biến động TL ký sinh T clareae của các giống ong thuần và tổ hợp lai 72
Biểu đồ 4.10 Tỷ lệ ký sinh T clareae trung bình của các giống ong thuần và tổ hợp lai 73
Biểu đồ 4.11 Biến động tỷ lệ ký sinh tổng số của các giống ong thuần và tổ hợp lai 75
Biểu đồ 4.12 Tỷ lệ ký sinh tổng số trung bình của các giống ong thuần và tổ hợp lai 76
Biểu đồ 4.13 Năng suất mật của các giống ong thuần và tổ hợp lai 80
Trang 9Danh mục các ảnh
Hình 1 Cầu tạo chúa 36
Hình 2 Giống ong A m ligustica S (Việt Nam) 36
Hình 3 Giống ong A m ligustica S (Niudilân) 37
Hình 4 Giống ong A m carnica P 37
Hình 5 Lấy tinh trùng ong đực 38
Hình 6 Thụ tinh nhân tạo cho ong chúa 38
Hình 7 Đo số l−ợng nhộng 40
Hình 8 ấu trùng bị bệnh ấu trùng tuổi lớn 42
Hình 9 Nhộng ong bị nhiễm ký sinh V destructor 42
Hình 10 Đo chiều dài vòi hút và chỉ số Cubital 44
Trang 10Danh mục Các chữ viết tắt ATT ấu trùng túi
Tên các giống thuần và tổ hợp lai
K Giống ong thuần Apis mellifera carnica Đức
N Giống ong thuần Apis mellifera ligustica Niu Dilân
S Giống ong thuần Apis mellifera carnica áo
V Giống ong đối chứng Apis mellifera ligustica Việt Nam
K.V Tổ hợp lai F1 hai nguồn: Mẹ là giống Đức, bố là giống Việt Nam N.V Tổ hợp lai F1 hai nguồn: Mẹ là giống Niu Dilân, bố là giống Việt Nam S.V Tổ hợp lai F1 hai nguồn: Mẹ là giống áo, bố là giống Việt Nam
V.K Tổ hợp lai F1 hai nguồn: Mẹ là giống Việt Nam, bố là giống Đức V.N Tổ hợp lai F1 hai nguồn: Mẹ là giống Việt Nam, bố là giống Niu Dilân V.S Tổ hợp lai F1 hai nguồn: Mẹ là giống Việt Nam, bố là giống áo
KV.N Tổ hợp lai F1 ba nguồn: (Đức x Việt Nam) x Niu Dilân
NK.V Tổ hợp lai F1 ba nguồn: (Niu Dilân x Đức) x Việt Nam
NV.K Tổ hợp lai F1 ba nguồn: (Niu Dilân x Việt Nam) x Đức
NV.S Tổ hợp lai F1 ba nguồn: (Niu Dilân x Việt Nam) x áo
SV.N Tổ hợp lai F1 ba nguồn: (áo x Việt Nam) x Niu Dilân
VK.N Tổ hợp lai F1 ba nguồn: (Việt Nam x Đức) x Niu Dilân
VN.K Tổ hợp lai F1 ba nguồn: (Việt Nam x Niu Dilân) x Đức
VN.S Tổ hợp lai F1 ba nguồn: (Việt Nam x Niu Dilân) x áo
VS.N Tổ hợp lai F1 ba nguồn: (Việt Nam x áo) x Niu Dilân
Trang 11Phần 1 Mở đầu 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nhiệt đới có thảm thực vật, nguồn hoa phong phú, mật ong được coi là chất bổ cho sức khoẻ con nguời, là tiền đề cho nghề nuôi ong
ở nước ta nuôi ong nội (Apis cerana) đ7 có từ rất lâu, nhưng giống ong ngoại (Apis mellifera ligustica) mới được du nhập vào Việt Nam từ đầu những năm 1960 với số lượng khoảng 200 đàn ong (Tạ Thành Cấu, 1986) [2], đến nay số lượng đàn ong ngoại cả nước đạt trên 400.000 đàn [6] Mặc dù đ7 qua thời gian thích nghi với điều kiện khí hậu và nguồn hoa của Việt Nam, nhưng
do không được bổ sung nguồn gen mới nên giống ong ý Việt Nam (A m ligustica) có biểu hiện cận huyết cao 10-12%, sức đẻ trứng trung bình thấp, năng suất mật không cao 25-30kg/đàn/năm (Phạm Xuân Dũng, 1994) [11] Giống ong ý Việt Nam cho năng suất mật thấp nên chưa khai thác hết được tiềm năng và nguồn hoa của Việt Nam, hiệu quả kinh tế còn chưa cao (Trần
Đức Hà, 1991) [15]
Trong những năm gần đây nghề nuôi ong có xu hướng tăng trưởng rõ rệt:
số lượng đàn, sản lượng mật và lượng mật xuất khẩu tăng khá nhanh nhờ chính sách về đầu tư vốn của nhà nước, đầu tư cho nghiên cứu, khuyến nông ong và một nguyên nhân quan trọng là thị trường xuất khẩu các sản phẩm ong tăng
Đầu những năm 1980, Công ty Ong Trung ương có nhập thử nghiệm một
số chủng ong Apis mellifera caucasica, A m carpatica từ Liên xô (cũ) và A mellifera từ Cu Ba [14] Qua việc lai kinh tế giữa mẹ là A m caucasica với bố
là A m ligustica cho năng suất vượt so với đối chứng là A m ligustica là 20% [15] Tuy nhiên, các chủng ong trên tỏ ra không thích nghi với điều kiện
Trang 1215-tự nhiên ở Việt Nam đặc biệt có tỷ lệ nhiễm ký sinh Varroa và Tropilaelaps cao nên không tồn tại được [11]
Năm 1989, Trung tâm nghiên cứu ong phối hợp với bộ môn Di Trường Đại học Tổng hợp và tổ chức KWT (Hà Lan) tiến hành chọn lọc giống ong ngoại (Apis mellifera) theo hướng năng suất mật cao theo chương trình quần thể khép kín Sau 4 năm chọn lọc cho thấy ở ong ngoại năng suất mật tăng 10%, một số dòng có sức đẻ trứng tăng 10-15% so với đối chứng và các dòng khác (Phạm Xuân Dũng, 1994) [11]
truyền-Nghiên cứu lai tạo giống giữ vai trò quan trọng trong việc cải tạo năng suất, chất lượng giống cây trồng, vật nuôi Chọn lọc và lai tạo giống ong đ7
được các nước nghiên cứu từ lâu theo các mục đích như: chọn giống chống bệnh thối ấu trùng châu Mỹ-American Foulbrood (Rothenbuhler, 1979) [48], chọn giống có sức đẻ trứng cao (Farrar, 1937; Cale và Gowen, 1956) [26], [22], chọn giống chống ve ký sinh Acarapis woodi (Adam, 1954; Bailey, 1964) [18], [20], và chọn giống để nâng cao năng suất mật (Kulincevic, 1986) [30]
Các phương pháp chọn giống bao gồm chọn lọc đại trà, chọn lọc cá thể, chọn lọc theo chương trình quần thể khép kín (Page và Laidlaw, 1982; Kulincevic, 1986) [40], [30]
Để nâng cao năng suất mật, sức đẻ trứng của ong chúa, sức đề kháng bệnh, thích nghi được với điều kiện môi trường và nguồn hoa của Việt Nam, ngoài việc chọn lọc tốt giống ong ý trong nước thì năm 2001-2002 Trung tâm Nghiên cứu ong đ7 nhập một số giống ong có chất lượng cao để lai tạo, bổ sung nguồn gen nhằm cải thiện chất lượng cho giống ong trong nước Vì vậy, chúng tôi đ7 thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học của các tổ hợp lai F1giống ong ngoại (Apis mellifera Linnaeus) tại miền Bắc Việt Nam”
Trang 131.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Lai tạo giữa giống ong Apis mellifera trong nước với giống ong Apis mellifera nhập nội nhằm chọn ra tổ hợp lai có năng suất mật cao, khả năng kháng bệnh, ký sinh khá cung cấp cho người nuôi ong ở miền Bắc Việt Nam 1.3 Yêu cầu của đề tài
- Lai tạo được các tổ hợp lai F1 hai và ba nguồn giống ong ngoại (A mellifera L.), tạo dòng thuần của các giống ong làm vật liệu lai tạo
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của các giống ong thuần và tổ hợp lai
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học và năng suất của các giống ong thuần và tổ hợp lai
- Bước đầu đề xuất các tổ hợp lai có năng suất cao và tính chống bệnh khá cho sản xuất
Trang 14Phần 2 Tổng quan tài liệu 2.1 Sơ lược lịch sử, tình hình nuôi ong trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1 Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới
Theo Crane (1983) từ xa xưa con người đ7 biết săn ong lấy mật để thu
được các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của họ và tập quán săn bắt ong rừng vẫn còn duy trì tới ngày nay, việc khai thác mật ong được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau Những tổ ong mà người ta thường săn lấy mật
là thuộc giống ong Apis, mật ong được coi là một sản phẩm quý hiếm của tự nhiên ban tặng cho con người Từ việc quan sát và khai thác mật ong tự nhiên, dần dần con người đ7 biết sử dụng đõ để nuôi ong, việc sử dụng đõ bắt đầu ít nhất từ 4500 năm nay [24]
Hiểu biết về lịch sử săn ong và nuôi ong của chúng ta đ7 tăng lên rất nhiều trong mấy thập kỷ qua nhờ kết quả của các công trình nghiên cứu khảo
cổ, ngôn ngữ, qua những văn bản lưu trữ và nhờ giao thông thuận lợi cho phép người ta đi đến khắp nơi trên trái đất Người Ai Cập đ7 có nghề nuôi ong Apis mellifera từ 5.000 năm trước Công nguyên Vào khoảng năm 2.500 trước Công nguyên, ở Ai Cập cổ đại đ7 thực sự hình thành một nghề nuôi ong thịnh vượng Những tư liệu sớm nhất ghi chép về nuôi ong trong đõ được ra đời khoảng 1.500 năm trước Công nguyên: đó là một phần của bộ luật Hittite ghi trên những phiến đá sét, tìm thấy ở cao nguyên Anatoli không cây cối, cách
Ai cập 100 km về phía Bắc Ong Apis mellifera được nuôi trong các đõ bằng
đất nung, bằng gỗ, đất bùn, sành… Những đõ ong ra đời sớm nhất vào khoảng những năm 2.450 trước Công nguyên được thể hiện trong cảnh lấy mật ong, một phần của bức hội hoạ tại một ngôi đền thờ mặt trời Ai Cập, gần vùng hạ sông Nil Có 4 bức tranh tương tự đ7 được phát hiện, mô tả mật ong được cất trong những bình chứa, những trại ong cổ truyền có hàng trăm đõ ong với cảnh lấy mật y như ngày nay còn phổ biến ở Ai cập Và kiểu đõ hình trụ đặt
Trang 15nằm ngang cổ truyền ngày nay vẫn được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới: ở Châu Phi, Nam Hy Lạp, các đảo vùng Địa Trung Hải, từ miền Nam Balkan
đến Tiểu á, từ Nam ấn Độ đến Kasmia, một phần afghanistan, Nam Thái Lan, Bali- Indonexia [24]
Lịch sử nuôi ong Apis cerana ở Châu á cũng lâu đời như lịch sử nuôi ong Apis mellifera ở Châu Âu, như ở Trung Quốc là hơn 3.000 năm, ấn Độ 2.000 năm (Shahid, 1992; Punchihewa, 1994), [51], [41] Nghề nuôi ong cổ truyền vẫn được tồn tại ở các nước và hầu như không thay đổi so với được miêu tả trong các tài liệu cũ Tất cả các loại đõ được làm do con người bắt chước tập tính làm tổ tự nhiên trong các hốc cây, hốc đá Các loại đõ đều giống nhau ở chỗ ong xây các bánh tổ gắn chặt vào phía trên của đõ nên người
ta gọi là đõ có bánh tổ cố định Các đõ thường được đặt xung quanh nhà, dưới gốc cây, trên giá đỡ, trong rừng hoặc trên các ch7ng của các cành cây to
Sự phát triển của các kiểu thùng ong góp phần quan trọng đối với nghề nuôi ong và có thể bắt đầu ở Hy Lạp, từ những mô tả của Georg Wheler (1682) về kiểu đõ có dạng bình hoa lớn sử dụng ở Hy Lạp, có các thanh xà đặt
ở phía trên để ong xây bánh tổ, những thanh ngang không gắn chặt vào đõ nên
có thể lấy bánh tổ ra được, khoảng cánh giữa các tâm của các thanh xà bằng khoảng cách ở bánh tổ tự nhiên Các tác giả đ7 nghiên cứu và nhận thấy tầm quan trọng của khoảng không gian đều giữa các cầu ong và dựa trên những hiểu biết đó, đ7 thiết kế ra những thùng ong mới (dẫn theo [24])
Năm 1649, William Me ở Anh đ7 làm thùng ong bằng gỗ nhiều tầng chồng lên nhau nhưng không có xà hay khung cầu Năm 1675 Gedde cũng sáng tạo ra kiểu thùng tương tự nhưng mỗi tầng có khung cầu để ong gắn bánh
tổ F Huber (1792) tạo ra kiểu đõ dạng “quyển sách” F.I Prokopovich (1806), J Dziezion (1848) tạo ra các kiểu đõ có khung cầu cố định gắn vào thành thùng (Crane, 1990 (dẫn theo [24])
Trang 16Kiểu thùng Stewarton do Robin Ker ở Scotland sáng tạo năm 1819 có
xà cầu cố định Đến năm 1844, Augustus Munn ở Anh đ7 làm một kiểu thùng tầng có khung cầu Năm 1851, giáo sĩ L L Langstroth (Philadelphia, Mỹ) [34] đ7 sáng tạo ra kiểu thùng có khung cầu di động nhờ phát hiện ra khoảng cách con ong Với kiểu thùng này rất thuận tiện cho việc nuôi ong, nhờ áp dụng nó mà nghề nuôi ong Apis mellifera được phát triển rất nhanh ở Châu Âu
và Bắc Mỹ, sau đó phát triển tới các châu khác trên thế giới (Crane, 1990) [10] Kiểu thùng này cho phép người nuôi ong kiểm tra tình hình đàn ong, từ
đó tác động những biện pháp kỹ thuật một cách dễ dàng, cho phép trao đổi giữa các đàn ong với nhau và giữa người nuôi ong khác Ngày nay, kiểu thùng này vẫn đang được áp dụng phổ biến ở khắp nơi và được cải tiến tuỳ theo yêu cầu của người sử dụng
Năm 1863, Dadant đ7 xuất bản sách về những cải tiến và sáng kiến của
ông Nhờ đó, nhiều sáng kiến khác được nẩy sinh ra từ nước Mỹ, trong đó quan trọng nhất là sáng kiến làm những tấm sáp in hình lỗ tổ ong hay còn gọi
là tầng chân, theo đó là các khung cầu được căng dây thép có gắn tầng chân,
có khả năng chịu được sức văng khi quay mật ở thùng ly tâm [25]
Crane (1990) [10] đ7 tổng kết tình hình nuôi ong ở Châu Âu và trên thế giới như sau:
ở Châu Âu, tỷ lệ cây xanh cao hơn các lục địa khác, có truyền thống nuôi ong lâu đời nên nghề nuôi ong ở Châu Âu rất tập trung có mật độ 3,2
đàn/km2 Có tổng số 13-15 triệu đàn ong đều là giống ong Apis mellifera, sản lượng mật là 123-165 ngàn tấn, năng suất mật bình quân 11kg/đàn
Nước Mỹ có 4,3 triệu đàn ong thuộc loài Apis mellifera, năng suất năm
1984 đạt 17kg/đàn, tổng sản lượng mật 75.000 tấn
Canada có gần 700.000 đàn ong thuộc loại Apis mellifera, sản lượng mật
đạt 43.000 tấn, năng suất bình quân cao nhất trên thế giới 63kg/đàn
Trang 17ở Châu Đại Dương Australia có nghề nuôi ong Apis mellifera phát triển với hơn 500 nghìn đàn ong đạt năng suất cao 46,5 kg/đàn
Châu Phi có các chủng ong đều thuộc loài ong Apis mellifera Bằng chứng sớm nhất về nghề nuôi ong của nhân loại được phát hiện ở đây 4.500 năm trước Etopia có tới 2,52 triệu đàn, năng suất mật 8,3kg/đàn Kenia có 2,1 triệu đàn, năng suất mật 5,7kg/đàn
Hiện nay loài ong Apis mellifera được du nhập vào rất nhiều vùng khác nhau và được những người nuôi ong trên khắp thế giới sử dụng
Loài ong Apis mellifera Châu Âu có ưu thế hơn các loài ong nhiệt đới vì chúng sản xuất mật tốt hơn, hiền lành, dễ chăm sóc quản lý, có sức sinh sản cao, thế đàn lớn, không phản ứng bốc bay với vụ thiếu thức ăn, có màu vàng
được nhiều người ưa chuộng Người ta tính rằng nuôi giống ong Châu Âu phải chi phí nhiều hơn giống ong Châu á, tuy nhiên nó lại cho hiệu quả kinh tế cao hơn Chính vì vậy từ Châu Âu chúng được du nhập vào nhiều Châu lục khác Crane (1990) [10] đ7 mô tả quá trình nhập ong Apis mellifera Châu Âu vào vùng nhiệt đới Châu á như sau:
ở Trung Quốc ong Apis mellifera được nhập lần đầu vào năm 1913 Bảy mươi năm nay ong ý đ7 thích nghi và được sử dụng chính để sản xuất mật hàng hoá ở khu vực á nhiệt đới Việc nhập ong Apis mellifera là một cuộc cách mạng trong nghề nuôi ong ở Trung Quốc, làm cho Trung Quốc trở thành nước có nghề nuôi ong đứng thứ hai và là nước xuất khẩu nhiều mật nhất thế giới với hơn 5 triệu đàn ong Apis mellifera xuất khẩu 160 ngàn tấn mật
Thái Lan đ7 nhập ong Apis mellifera nuôi tại Chiềng Mai, nơi đây có cây nh7n là cây nguồn mật chính và cho sản lượng cao
Tại Miến Điện, vùng trồng cây Guizotia absyssinica, cây hướng dương, ong Apis mellifera đ7 được nhập với số lượng lớn để phù hợp với nguồn mật
và phấn từ hai loại cây trồng này
Trang 18Theo G Ratia (2002) [65] tình hình sản xuất mật ong ở các châu lục từ năm 1991 đến 2001 thì sản lượng cao nhất là Châu á và lượng mật sản xuất ra của thế giới tăng dần (số liệu trong bảng 2.1)
Bảng 2.1 Sản lượng mật ong thế giới và của các châu lục (x 1.000 tấn) Năm
Châu lục 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 Châu Phi 109 117 129 131 138 142 140 139 141 144 145
2.1.2 Lịch sử và tình hình nuôi ong ở Việt Nam
ở Việt Nam, nghề nuôi ong đ7 được khai thác và nuôi từ lâu đời Ngay từ thế kỷ thứ 8, thượng thư phụ trách về nông nghiệp Phạm Lê đ7 viết tài liệu bằng chữ Hán về kỹ thuật nuôi ong [8] Lê Quý Đôn thế kỷ 18 đ7 có một số nhận xét về đặc điểm sinh học của đàn ong Trải qua quá trình tích luỹ kinh nghiệm và cải tiến kỹ thuật, nghề nuôi ong Việt Nam đ7 dần dần được cải tiến
từ đơn giản đến hoàn thiện như ngày nay [13]
Người Việt Nam đ7 có thói quen đi lấy mật, săn ong từ rất lâu dựa vào kinh nghiệm qua nhiều đời được truyền lại, họ khai thác từ những loại ong mật khác nhau như ong ruồi Apis florea, ong nội Apis cerana, ong khoái Apis dorsata, ong đá Apis laboriosa Giống ong Apis cerana rất phổ biến ở tự nhiên, có ở khắp đất nước, thường làm tổ ở nơi kín như trong hốc cây, hốc đá, trong các hang, đôi khi cả trong các tổ mối Dựa vào những kinh nghiệm thực
tế và đặc điểm tự nhiên của ong nội, các kiểu nuôi ong dần được hình thành và không ngừng được cải tiến từ kiểu đõ nằm ngang chuyển sang kiểu đõ đứng
Trang 19khung cầu di động như ngày nay Khi áp dụng nuôi ong trong thùng cải tiến
có khung cầu di động cho phép sử dụng thùng quay và dùng tầng chân nhân tạo gắn vào khung cầu, làm nền để ong xây nên các bánh tổ đ7 làm năng suất mật tăng lên đáng kể Việc áp dụng những tiến bộ khoa học đ7 làm cho năng suất mật trung bình/đàn/năm được tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 2-5kg/đàn/năm đến nay đ7 đạt 15kg/đàn/năm [5], [9]
Từ những năm 1960-1962 chủng ong A m ligustica (ong ý) được một số người Hồng Kông đưa vào miền Nam Việt Nam một số đàn nhưng phát triển kém, phải tiếp tục nhập thêm nhiều lần từ Hồng Kông, Đài Loan, úc và đến năm 1975 chỉ tồn tại khoảng 200 đàn (Tạ Thành Cấu, 1986) [2] Những đàn ong này đều bị ký sinh Varroa và Tropilaelaps gây hại ở mức độ cao [64]
So với ong ý (A m ligustica) một số nước có sức đẻ trứng 1.500-2.000 trứng/ngày đêm thì ong chúa ý Việt Nam chỉ đạt trung bình năm là 846 trứng/ngày đêm, gần bằng ong ý ở Thái Lan (963 trứng/ngày đêm) [14] Năm 1977, Công ty ong cấp I thuộc Bộ Nông nghiệp đưa 50 đàn ong ý
và tiếp đó, năm 1978 Trại nghiên cứu ong Đốc Tín cũng đưa 50 đàn ong ý ra miền Bắc nuôi thí nghiệm nhưng không phát triển được, đến năm 1979 bị chết hoàn toàn Từ năm 1980-1985, một số đơn vị sản xuất cũng đưa ong ý ra Bắc nhưng không duy trì được quanh năm, ký sinh phát triển mạnh, đàn ong bị sa sút phải đưa trở lại miền Nam để phục hồi [17]
Từ sau năm 1985, các đơn vị nuôi ong đ7 áp dụng các phương pháp chọn lọc, những biện pháp phòng trị ký sinh có hiệu quả nên cho đến nay ong ý đ7
được nuôi quanh năm ở nhiều tỉnh của miền Bắc và cho hiệu quả kinh tế cao Hiện nay Việt Nam đ7 hình thành những vùng nuôi ong rõ rệt Miền Bắc
có nghề nuôi ong nội Apis cerana phát triển, thích hợp với điều kiện nguồn
Trang 20hoa phân tán, miền Nam phù hợp với nuôi ong ý Apis mellifera với quy mô lớn do có điều kiện thuận lợi là cây nguồn mật tập trung
2.2 Phân loại ong mật và các phân loài ong Apis mellifera được nuôi phổ biến trên thế giới
2.2.1 Phân loại ong mật
Ong gồm gần 20.000 loài, thuộc ngành chân đốt Arthropoda, lớp côn trùng Insecta, bộ cánh màng Hymenoptera, tổng họ ong Apoidea, họ Apidae Những loài ong lấy mật và con người có thể thu được mật thuộc hai họ phụ là Apinae (ong mật) và Meliponiae (ong không ngòi đốt) Họ phụ ong mật Apinae chỉ có một giống Apis, giống Apis có 9 loài ong khác nhau là: Apis mellifera, A cerana, A nuluensis, A nigrocincta, A vechti, A dorsata, Apis laboriosa, Apis florea, Apis andreniformis Trong số các loài của giống Apis thì loài Apis mellifera là có ý nghĩa kinh tế hơn cả [50]
Apis mellifera cư trú ở lục địa Châu Âu (Ong mellifera vùng ôn đới) và Châu Phi (Ong mellifera vùng nhiệt đới) Hiện nay chúng được du nhập vào rất nhiều vùng khác nhau và được những người nuôi ong hầu khắp thế giới sử dụng (Crane E, 1990) [10]
Theo F Ruttner (1988) [50] thì loài ong A mellifera bao gồm 24 loài phụ (chủng) và do Linnaeus phân loại năm 1758, các phân loài đó là: Apis mellifera ligustica Spinola (ong Liguria), A m carnica Pollmann (ong Carniolan), A m mellifera Linnaeus, A m carpathica, A m caucasica Gorbatschew, A m adamsonii Latreille, A.m scutellata Lepeletier, A.m capensip Escholtz…
2.2.2 Các phân loài ong A mellifera được nuôi phổ biến trên thế giới Trong số 24 phân loài ong A mellifera thì có 4 phân loài được nuôi phổ biến và có ý nghĩa kinh tế hơn cả đó là: Apis mellifera ligustica Spinola (ong
Trang 21Liguria), A m carnica Pollmann (ong Carniolan), A m mellifera Linnaeus, và A
m caucasica
2.2.2.1 Phân loài Apis mellifera ligustica
+ Apis mellifera ligustica, do Spinola phân loại năm 1806, được gọi là giống ong ý Giống ong này có nguồn gốc từ phần lục địa của ý, Nam của d7y Alps và Bắc của đảo Xisin Ong có màu sắc điển hình vàng sáng, chỉ số Cubital của ong thợ 2,2-2,8; chiều dài vòi hút 6,5-6,7 mm; đường kính lỗ tổ ong thợ 5,25 mm Đây là giống ong thích nghi với vùng khí hậu ẩm dịu, về mùa đông ít lạnh của vùng khí hậu Địa Trung Hải (Alpatov, 1948) [19]
ở những nước có mùa đông không quá lạnh, ong ý có khả năng qua
đông khá tốt với việc duy trì thế đàn lớn vì vậy khi bước vào vụ Xuân chúng phát triển sớm hơn so với ong Carniolan (A m carnica P), tuy nhiên tốc độ phát triển trong vụ Xuân không nhanh như ong Carniolan Ong ý là giống có
xu tính chia đàn thấp, tiết sáp xây tổ nhiều, nhưng chúng lại có xu tính ăn cướp, dễ bị trôi dạt do định hướng kém hơn ong Carniolan Đây là giống ong
được nuôi rộng r7i nhất trên thế giới và phổ biến ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Nam Châu âu vì khả năng thích nghi rất rộng nên chúng được gọi là giống ong thương mại Ong ý có đặc điểm là khả năng đẻ trứng cao trong thời vụ khan hiếm nguồn hoa cũng như ngay cả trong vụ mật vì vậy nó ít bị suy giảm thế
đàn trong các vụ khó khăn tuy nhiên cũng tiêu tốn thức ăn nhiều hơn các giống ong khác, điều này cũng chính là nhược điểm của giống ong này khi qua đông ở những nước có mùa đông dài vì phải dự trữ cho đàn ong một lượng thức ăn nhiều hơn các chủng ong khác Ong ý có khả năng chống bệnh thối
ấu trùng cao nhưng dễ bị nhiễm bệnh Nosema [44]
ở Mỹ giống ong ý đ7 được du nhập vào giữa thế kỷ 19, cùng với hầu hết các giống ong Châu Âu khác để chọn lọc và lai tạo Đặc biệt trong quá trình
Trang 22ý mới có màu sắc khác với màu sắc giống ong ý bản địa là: từ 3 sọc vàng tấm lưng bụng của ong thợ thành 4 hoặc 5 sọc vàng tấm lưng bụng, làm con ong vàng hơn Theo Anpatov (1948) [19] thì công tác chọn lọc theo các chỉ tiêu hình thái của ong ý, thậm chí theo các chỉ tiêu sinh học hay kinh tế khác của
nó để chỉ ra được sự khác biệt của giống ong đó đối với giống ong khác và có thể coi đó là giống ong bán tự tạo hay giống ong tự tạo
Ong A m ligustica được nhập vào Niu Dilân vào năm 1880 và tỏ ra thích nghi tốt với khí hậu và nguồn hoa của nước này nên được người nuôi ong nuôi rộng r7i, từ năm 1950 việc nhập ong vào Niu Dilân bị cấm Hiện nay Niu Dilân là một trong nước xuất khẩu số lượng lớn ong chúa và ong đàn nhỏ (Packet) đi các nước khác vì ong ý ở đây được đánh giá là có độ thuần và có năng suất mật cao Ve Varroa mới xâm nhập vào ong Apis mellifera của Niu Dilân từ năm 2000 bắt đầu ở các tỉnh miền Nam của nước này (dẫn theo [7]) 2.2.2.2 Phân loài Apis mellifera carnica
+ Apis mellifera carnica do Pollmann phân loại năm 1879, Chúng được biết đến với cái tên “ong mật Carrniolan” Giống ong Carniolan là giống ong
có nguồn gốc xuất xứ từ Kranska của Slovenia, miền nam của d7y Alps thuộc
áo nên nó còn có tên là ong Kọrntner (Carinthian) Chúng phân bố từ vùng lòng chảo Danube và từ Balkans cho đến núi Alps (d7y núi kéo dài qua Pháp, Thụy sỹ, và Italia) do vậy từ phía Nam và Đông của đỉnh Alps (đỉnh cao nhất tại Thụy sỹ) đều tìm thấy bằng chứng đây là nơi định cư của giống ong này Carrniolan là giống ong rất thích hợp với các vùng khí hậu lạnh Tuy nhiên hiện nay do việc nuôi ong di chuyển và hoạt động trao đổi, xuất nhập khẩu giống ong nên chúng đ7 có mặt ở rất nhiều nước
Carniolan là giống ong thích nghi với những vùng khí hậu hoàn toàn lục
địa điển hình là mùa đông giá lạnh, mùa xuân cực ngắn, mùa hè nóng nực Chúng là giống ong có đặc điểm nổi trội là khả năng phát triển rất nhanh vào
Trang 23vụ Xuân, giảm sức đẻ trứng khi thời tiết lạnh và nguồn hoa giảm sút, chúng có khả năng qua Đông trong tình trạng đàn rất nhỏ (6 cầu), chúa có thể ngừng đẻ hoặc đẻ rất ít
Apis mellifera carnica là giống ong có màu đen điển hình, trọng lượng ong thợ mới nở và ong thợ đi làm cao hơn ong A m ligustica, ong thợ có chỉ
số Cubital từ 2,4-3,0; chiều dài vòi hút 6,5-6,8 mm; đường kính lỗ tổ ong thợ 5,5 mm [50] Carniolan là giống ong rất hiền lành, ít bị xáo động trên cầu khi kiểm tra, ít lấy keo và có xu tính ăn cướp thấp Giống ong này có khả năng
định hướng tốt hơn nên ít bị trôi dạt vào nhầm tổ khác như ong ý Ong Carniolan có sức đề kháng cao với các bệnh thối ấu trùng Khoảng cách bay
để kiếm thức ăn xa hơn so với ong ý Ong Carniolan là loài ong được nuôi rộng r7i thứ hai trên thế giới Tuy nhiên, giống ong này cũng có nhược điểm là khả năng chống chịu với mùa hè nóng nực kém, chúng không phát triển tốt ở các vùng có mùa hè nóng và dài, tiết sáp xây tổ ít hơn ong ý Giống ong này ở
Đức và áo bắt đầu bị Varroa xâm nhập từ năm 1981 (Kulincevic, 1986) [30] Hiện nay, tại các nước như Đức, Jugoslavia, Slovenia và áo chúng đ7 và
đang được các nhà chọn giống chọn lọc theo hướng dòng thuần rất tốt: ở áo
đ7 chọn ra các dòng ong từ giống ong này với các tên như: dòng Sklennar, Troiseck và từ năm 1948, sau 30 năm chọn lọc họ đ7 chọn ra dòng Lunz từ dòng Troiseck ở Đức các nhà chọn giống đ7 chọn ra dòng Peschetz Nhìn chung các dòng thuần này rất tốt, có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, nguồn hoa tại vùng sản xuất, năng suất vượt trội so với các đàn không qua chọn lọc [57]
2.2.2.3 Phân loài Apis mellifera mellifera
+ Apis mellifera mellifera, do Linnaeus phân loại năm 1758, đây là giống ong đen có nguồn gốc từ Bắc Âu hay có thể gọi là giống ong Đức Chúng có
Trang 24rất lạnh cho đến cả những vùng khí hậu nóng ẩm như khí hậu của Atlantic nên hiện nay sự có mặt của chúng cũng rất phổ biến trên thế giới A m mellifera hiện nay có thể được gọi là phân loài bản địa của rất nhiều ngành ong của các nước Châu Âu, chúng tự di cư từ phía tây Địa trung hải qua Đức, Pháp để sang Anh, phía bắc của Nga; đồng thời chúng cũng đi qua phía tây Địa trung hải để
đến d7y Alps và phía nam của Nga (Rinderer, 1986) [44]
Đây là giống ong có kích thước cơ thể bé, màu sắc sẫm nên được gọi là ong đen, chúng có khả năng qua đông rất tốt thậm chí nhiệt độ xuống đến -
450C, A m mellifera là giống ong có ưu thế hơn các giống ong khác ở những vùng có mùa hè ngắn và nguồn mật dồi dào Trong một số trường hợp bị quấy rối chúng rất hung dữ, hiện nay chúng đ7 bị lai tạp rất nhiều (đặc biệt là ở Châu Âu) (Ruttner, 1988) [50]
2.2.2.4 Phân loài Apis mellifera caucasica
+ Apis mellifera caucasica, do Gorbatschev phân loại năm 1916, đây là giống ong có nguồn gốc từ vùng núi Caucasus
Theo Vinogradova (1977) [55] thì A m caucasica là phân loài có vòi hút rất dài (ở một số nơi chiều dài vòi hút trên 7 mm), thích nghi rất tốt với các vùng núi cao, cơ thể ong màu xám đen, kích thước cơ thể trung bình Phân loài ong này rất thích hợp cho việc nuôi công nghiệp, khả năng thu hoạch mật tốt và chúng cũng rất hiền lành nên chúng được nuôi phổ biến trên thế giới A
m caucasica có khả năng thu hoạch keo rất tốt nên vào vụ đông chúng thường dùng keo vít kín quanh thùng chỉ để lại một lỗ nhỏ ở cửa ra vào, tuy nhiên phân loài ong này ở vùng Bắc Âu lại mẫn cảm với Nosema (Ruttner, 1988) [50]
2.3 Sinh học ong Apis mellifera
Đàn ong là 1 x7 hội có tổ chức cao có sự phân công chức năng riêng biệt giữa các loại hình ong để phù hợp với nhu cầu của đàn Đối tượng chọn
Trang 25giống là ong chúa và ong đực nhưng mọi biểu hiện của đàn ong lại do ong thợ thực hiện, mà ong thợ lại không tham gia vào quá trình chọn giống
2.3.1 Ong chúa
Ong chúa là con cái duy nhất trong đàn có bộ phận sinh sản phát triển hoàn chỉnh
2.3.1.1 Buồng trứng của ong chúa
Cơ quan sinh sản của ong chúa gồm hai buồng trứng trong đó có nhiều ống trứng đơn, hai ống dẫn trứng, túi chứa tinh và âm đạo
Ong chúa tơ (ong chúa mới nở, chưa giao phối) buồng trứng có kích thước nhỏ, ống dẫn trứng có dạng như hai sợi chỉ mảnh không phân chia Sau khi thụ tinh thì buồng trứng phát triển hoàn chỉnh, ống trứng phân chia thành các buồng và tách biệt nhau Buồng trứng của ong chúa dài 5-6 mm, rộng 3-4
mm (Mackensen, 1984) [37]
Số lượng ống trứng trong buồng trứng của các ong chúa rất khác nhau, trung bình mỗi buồng trứng có khoảng 120-150 ống trứng Những ống trứng này chính là nơi sản xuất ra trứng với số lượng lớn, có thể tới 1 triệu trứng trong cả cuộc đời ong chúa Các giống ong khác nhau thì ong chúa có số lượng ống trứng khác nhau và ngay trong một giống giữa các dòng ong khác nhau cũng có số lượng ống trứng khác nhau (Winston, 1987) [56]
2.3.1.2 Sự phát triển của trứng
Theo Harry và cộng sự (1997) [28] trong ống trứng chứa các tế bào trứng
ở các giai đoạn khác nhau Đầu tiên những no7n nguyên bào hình thành ở giữa ống, sau đó được bao bọc bởi các tế bào nang No7n nguyên bào biến đổi thành no7n bào và các tế bào dinh dưỡng Các tế bào nang bao quanh no7n bào là tiền thân của các tế bào trứng
Khi trứng chín xảy ra quá trình phân chia phức tạp, đặc biệt là quá trình phân chia nhiễm sắc thể ở tế bào trứng non, số lượng nhiễm sắc thể có đặc
Trang 26tính cặp đôi bộ nhiễm sắc thế còn khi trứng chín xảy ra sự phân chia giảm nhiễm Số nhiễm sắc thể giảm đi một nửa tạo bộ đơn bội Trong quá trình thụ tinh, tinh trùng xâm nhập vào trong trứng, nhân của tế bào trứng và tinh trùng tiếp hợp với nhau, bộ nhiễm sắc thể được phục hồi
2.3.1.3 Quá trình giao phối của ong chúa
Ong chúa thành thục sinh dục vào ngày 5-6 sau khi nở Chúng bay ra ngoài vào những ngày nắng đẹp, vào buổi chiều Chuyến bay của những ngày
đầu tiên là những chuyến bay định hướng sau đó chúng bay đến điểm hội tụ của ong đực để giao phối với ong đực Điểm hội tụ ong đực là điểm tập trung ong đực và thường ở những vùng núi, ong đực và ong chúa sẽ tự định hướng
đến vùng này để có thể tiến hành giao phối (Woyke, 1960) [59]
Khi ong chúa bay đến điểm hội tụ ong đực chúng ngay lập tức bị những con ong đực phát hiện vì ong đực coi tất cả những vật thể bay màu tối là ong chúa nên mới có hiện tượng ong đực rất hay bay theo ruồi hay hòn đá bay qua, nhưng ong đực sẽ nhận ra ong chúa nhờ vào mùi pheromone do ong chúa tiết
ra và lúc này có rất nhiều ong đực bay theo ong chúa Một trong số những ong
đực bay theo ong chúa sẽ đuổi kịp ong chúa và nó dùng cả 6 chân để ôm chặt lấy ong chúa khi vẫn đang bay, bằng một cơ quan cảm giác đặc biệt nằm ở đốt bụng cuối ong đực hướng đốt bụng cuối vào buồng ngòi đốt của ong chúa, dương vật bị kích thích và bài xuất vào âm đạo của ong chúa, sau đó tinh trùng bài xuất vào ống dẫn trứng ngoài, lúc này ong đực đ7 ngất và chết Sau khi con ong đực thứ nhất bài xuất xong tinh trùng thì chúng rời khỏi ong chúa và để lại dấu hiệu giao phối là mảnh kitin và dịch nhầy tại buồng ngòi đốt của ong chúa Con ong đực tiếp theo cũng bám vào ong chúa và dùng đốt bụng gạt dấu hiệu giao phối của con ong đực trước đó ra và lại tiếp tục giao phối với ong chúa Quá trình cứ tiếp tục cho tới khi ong chúa đủ lượng tinh trùng trong ống dẫn trứng trong và ngoài Sau khi giao phối xong ong chúa bay trở lại đàn (Oertel, 1940) [39]
Trang 272.3.1.4 Sự đẻ trứng của ong chúa
Ong chúa sau khi đi giao phối với ong đực từ 1-3 ngày thì bắt đầu đẻ trứng, mỗi lần đẻ 1 quả trứng Trước khi đẻ trứng ong chúa dùng 2 chân trước
để xác định xem đó là lỗ tổ ong thợ (nhỏ hơn) hay ong đực (lớn hơn) Nếu là
lỗ tổ ong thợ van của ống dẫn tinh sẽ mở ra để nhả tinh từ túi chứa tinh và 1 tinh trùng sẽ thụ tinh cho trứng, nếu là lỗ tổ ong đực nó không nhả tinh (Koeniger, 1986) [29]
Sức đẻ trứng của ong chúa phụ thuộc vào tuổi ong chúa, vào thế đàn, không gian cầu ong và điều kiện ngoại cảnh Số trứng đẻ 1 ngày của ong chúa còn tuỳ thuộc vào loài, đối với ong A cerana đẻ ít hơn ong A mellifera Ngay trong cùng một loài, ong chúa có số lượng ống trứng trong buồng trứng khác nhau nên chúng có sức đẻ trứng khác nhau Ví dụ như trong loài ong A mellifera, ong chúa giống ong Capcadơ (A m caucasica) có sức đẻ trứng khoảng 900-1500 trứng/ngày đêm, ong chúa giống ong A m carpatica có khả năng đẻ trứng từ 1500-1750 trứng/ngày đêm và ong chúa giống ong đen Châu
Âu (A m mellifera) có sức đẻ 804-1430 trứng/ngày đêm (Vinogradova, 1977) [55]
Trong điều kiện tự nhiên ong chúa bắt đầu đẻ trứng sau khi giao phối 3
đến 12 ngày Cũng có những con ong chúa bắt đầu đẻ trứng ngay sau khi bay
đi giao phối một ngày, nhưng số ong chúa như vậy rất ít (Oertel, 1940) [39] Thời gian đầu ong chúa còn đẻ ít trứng, nhưng càng về sau thì số lượng trứng đẻ càng tăng lên Tuy nhiên sức đẻ trứng của ong chúa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi của ong chúa, giống ong, thế đàn ong, điều kiện khí hậu, nguồn hoa và mùa vụ nuôi ong
Theo Harry [28] thì tuổi thọ của con ong chúa từ 3 đến 5 năm nhưng chúng đẻ nhiều trứng nhất vào 2 năm đầu đời của nó, càng lớn tuổi thì sức đẻ trứng của ong chúa càng giảm, đến năm thứ 2 sức đẻ trứng của ong chúa giảm
Trang 2820-30%, năm thứ 3 thì giảm đến một nửa, càng về những năm sau sức đẻ trứng càng giảm và số lượng trứng đẻ không được thụ tinh càng tăng lên
ở Việt Nam người nuôi ong phần lớn chỉ sử dụng chúa đẻ có độ tuổi từ 6 tháng đến 1 năm để đảm bảo sự duy trì sinh sản và phát triển của đàn ong [9] 2.3.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chúa tạo ra
Ong chúa có một vai trò rất lớn trong đàn ong, nó là cá thể duy nhất có khả năng sinh sản, tạo ra các thế hệ cho đàn ong Chính vì vậy để tạo ra được một con ong chúa có chất lượng tốt ngoài những yêu cầu về kỹ thuật tạo chúa, chúng ta cần phải chú ý đến các yếu tố có tác động đến chất lượng của ong chúa tạo ra như thế đàn tạo chúa (đàn nuôi dưỡng), mật độ ong thợ, tuổi ấu trùng, điều kiện mùa vụ và việc cho ăn thêm
Theo nghiên cứu của Komarov (dẫn theo [10]) thì ong chúa tạo ra trong
đàn 10 cầu (có 2,5 kg ong) có trọng lượng và số lượng ống trứng lớn hơn trong
đàn 4 cầu (chỉ có 1 kg ong) Cũng theo ông, ong chúa tạo từ ấu trùng 1 ngày tuổi có trọng lượng lớn nhất, trọng lượng chúa tơ là 191,4 mg (1934), từ 2 ngày tuổi là 189,0 mg (1935) và từ ấu trùng 3 ngày tuổi kém hơn là 155,7 mg (1935) Khi cho đàn nuôi dưỡng ăn thêm thức ăn và lương ong làm tăng thể tích mũ chúa hơn 0,27 mm3, trọng lượng chúa tơ tăng 6,5 mg và chúa đẻ tăng 42,4 mg
Theo nghiên cứu của Woyke và Ruttner (1958) [58] về tuổi ấu trùng tạo chúa ở ong ý, từ ấu trùng 1 ngày tuổi cho ong chúa có số lượng ống trứng từ 180-360/buồng trứng, từ ấu trùng 2 ngày tuổi số lượng ống trứng là 120-150
và từ ấu trùng 3 ngày tuổi là 150 ống trứng
2.3.1.6 Pheromon của ong chúa
Pheromon là chất có hoạt tính hoá học được những con ong trong đàn dùng để thông tin cho nhau Chất pheromon do ong chúa tiết ra có một vai trò
Trang 29thời kỳ bay đi giao phối trên không, pheromon của ong chúa có tác dụng điều hoà hoạt động của đàn ong, kìm h7m sự phát triển ống trứng trong buồng trứng ong thợ và kìm h7m khả năng tạo chúa mới của ong thợ
Trên cơ thể mỗi ong thợ trong đàn ong đều có một ít pheromon của ong chúa, và qua pheromon của ong chúa ong thợ biết được tình trạng của ong chúa Nếu ong chúa già hoặc không bình thường thì ong thợ sẽ thay chúa (Crane, 1990) [10]
2.3.2 Ong đực
Ong đực là cá thể phát triển từ trứng không thụ tinh, số lượng ong đực trong một đàn ong do ong thợ khống chế, trong thời vụ hoạt động của đàn ong thì số ong đực chỉ chiếm 3-6% số quân trong đàn tuỳ theo thời vụ trong năm Ong đực không đóng góp gì vào hoạt động x7 hội của đàn ong như nuôi
ấu trùng, sản xuất mật mà chúng còn tiêu thụ một số thức ăn Nhưng sự có mặt của ong đực trong đàn ong với số lượng khoảng vài trăm con là để đảm bảo cho sự gặp gỡ giữa ong chúa với ong đực và cho giao phối đạt kết quả cao (Crane, 1990) [10]
mà ong thợ phải làm Bình thường ong thợ nở vào tháng 3 sống tới 35 ngày,
nở vào tháng 6 sống 30 ngày và nở vào tháng 9, tháng 10 thì sống suốt cả mùa
Trang 30đông Tuổi thọ của ong thợ dài hơn hay ngắn hơn chủ yếu là ở giai đoạn ong thợ sống trong tổ Việc ong thợ phải nuôi nhiều ấu trùng trong giai đoạn đầu
sẽ làm giảm tuổi thọ của nó
Ong thợ đẻ trứng: khi đàn ong bị mất chúa và trong đàn ong không có trứng, cũng không có ấu trùng để tạo chúa mới sẽ có hiện tượng ong thợ đẻ trứng Mỗi ong thợ có thể đẻ được 30 trứng, trứng ong thợ đẻ ra là trứng không được thụ tinh Việc xác định ong thợ đẻ trứng trong đàn ong rất dễ dàng, chỉ cần quan sát sự phân bố của trứng và số lượng trứng trong lỗ tổ Vì ong thợ đẻ trứng không theo trật tự như ong chúa và có số lượng trứng nhiều trong lỗ tổ (Crane, 1990) [10]
2.4 Nghiên cứu về chọn lọc giống ong Apis mellifera
Giá trị kinh tế đem lại trực tiếp của ong mật vượt xa so với các loại vật nuôi khác vì chúng không những đem lại những sản phẩm nông nghiệp hữu ích mà chúng còn đem lại giá trị to lớn nhờ việc thụ phấn cây trồng Giá trị kinh tế của ong mật đ7 thu hút sự quan tâm của những nhà di truyền, chọn giống và các công ty kinh doanh nhằm cải tiến những kỹ thuật nuôi, thay đổi tập tính của giống được tạo ra nhằm tạo ra những đặc tính hiệu quả, kinh tế hơn cho ong mật Các nhà chọn giống thường rất quan tâm đến nhu cầu cụ thể của một khu vực địa lý mà ở đó giống ong của họ tạo ra sẽ được sử dụng sau này Nhu cầu cụ thể về một giống ong cần được xác định dựa vào ước muốn, tiềm năng, khả năng phát triển của nghề nuôi ong, những điều kiện trái ngược
và cụ thể cho mỗi khu vực, và cuối cùng là những hạn chế của giống ong hiện
có của nơi đó
Nuôi ong đem lại nhiều lợi ích và có rất nhiều thuận lợi tuy nhiên những khó khăn và điều kiện bất lợi về sinh học tại mỗi vùng cụ thể như bệnh tật, ký sinh, điều kiện khắc nghiệt không thuận lợi của khí hậu mùa đông, sự hạn chế
về thời gian của một vụ mật, sự thiếu hụt về nguồn phấn trong những thời
Trang 31chương trình chọn tạo giống Bệnh và ký sinh có thể điều khiển được bằng các tác nhân hoá học và thuốc kháng sinh tuy nhiên không phải lúc nào cũng thành công và dễ dàng sử dụng vì những nguyên nhân như kháng thuốc của dịch hại, để lại tồn dư trong sản phẩm, gây bẩn, ô nhiễm môi trường và tăng chi phí nuôi ong…Như vậy, một dòng hay giống ong được tạo ra cần phải có khả năng kháng bệnh, ký sinh, thích nghi tốt với những điều kiện bất lợi của vùng hay khu vực đó Ngoài ra, dòng hoặc giống ong chọn tạo ra phải thích hợp với nghề nuôi ong hiện đại, ít chia đàn, không hung dữ (ít đốt), hiền lành
và không xáo động khi kiểm tra, không bốc bay
Trong nghề nuôi ong, ngoài những sản phẩm trực tiếp thì ngày nay việc nuôi ong để cho ngành trồng trọt thuê thụ phấn cây trồng đang đem lại lợi nhuận lớn cho nhiều nước, ở Mỹ việc nuôi ong cho thuê để thụ phấn cây trồng
đem lại phần lợi nhuận bằng với lợi nhuận của những sản phẩm trực tiếp của con ong [57]
2.4.1 Cơ sở khoa học của chọn giống ong mật
2.4.1.1 Ong đực đơn bội, ong đực lưỡng bội và vấn đề cận huyết của đàn ong
ở hầu hết các loài động vật sinh sản hữu tính, trong mỗi một thế hệ chỉ tồn tại giới tính cái và giới tính đực Sự sinh sản nòi giống về sau là kết quả kết hợp về mặt di truyền của hai kiểu giới tính này Tuy nhiên, đối với ong mật, trong đàn ong có hai loại ong đực là ong đực đơn bội và ong đực lưỡng bội
Ong đực đơn bội có bộ nhiễm sắc thể là n=16 là những con ong đực được ong chúa sinh ra từ các tế bào trứng không thụ tinh và những quả trứng này
được đẻ vào lỗ tổ có kích thước lớn hơn lỗ tổ ong thợ (hay gọi là lỗ tổ ong
đực), vì thế, chúng chỉ mang đặc điểm di truyền của mẹ Đây là những con ong đực tồn tại bình thường trong đàn ong và tham gia vào quá trình sinh sản
Trang 32Ong đực lưỡng bội có bộ nhiễm sắc thể là 2n=32 được sinh ra từ trứng đ7 thụ tinh giống như ong chúa hay ong thợ và cũng được ong chúa đẻ vào lỗ tổ ong thợ, nhưng tất cả các alen ở bộ nhiễm sắc thể giới tính của chúng đều là
đồng hợp tử (Rothenbuhler, 1957; Mackensen,1951; Woyke 1972) [47], [35], [62]
Trong các công trình nghiên cứu riêng rẽ, Mackensen (1951) [35], Laidlaw và Gomes (1956) [32] đ7 phát hiện thấy ở những đàn ong có ong chúa được giao phối với những con ong đực gần gũi về huyết thống thì các cầu nhộng có ấu trùng vít nắp không đều Các tác giả trên giả thiết rằng hiện tượng này là do các alen gây chết ở trong nhiễm sắc thể làm cho trứng không
nở được và chúng bị các con ong thợ trưởng thành gắp bỏ đi
Công trình nghiên cứu của Woyke (1967) [61] cho thấy trong điều kiện bình thường, các con ong đực này bị các con ong thợ trưởng thành giết chết ở giai đoạn ấu trùng không quá 2 ngày tuổi do chính những con ấu trùng này đ7 tiết ra một loại chất gọi là “chất ăn” Do đó, chúng ta không bao giờ thấy được ong đực lưỡng bội trong đàn ong Woyke đ7 thí nghiệm chuyển các con ong
đực lưỡng bội vào trong các lỗ tổ đ7 có sẵn ấu trùng ong thợ bình thường thì cả 2 ấu trùng này đều bị ong thợ ăn ngay khi vừa chuyển sang Nhưng nếu các
ấu trùng ong đực được rửa bằng dung môi lipit trước khi chuyển sang thì không bị ong thợ tiêu diệt Từ đó ông kết luận rằng các trứng ong đực lưỡng bội đều nở ra thành ấu trùng, nhưng những con ấu trùng này tiết ra chất pheromon lôi cuốn các con ong thợ trưởng thành đến tiêu diệt chúng (gọi là chất ăn) Tiếp tục nghiên cứu đến năm 1969 ông đ7 tạo được ong đực lưỡng bội trưởng thành Các con ong đực này lớn hơn và nặng hơn các con ong đực
đơn bội, nhưng thể tích cơ quan sinh tinh của chúng chỉ bằng 1/10 Vì thế, số lượng tinh trùng do ong đực lưỡng bội sinh ra không nhiều hơn so với ong đực
đơn bội và là tinh trùng lưỡng bội (2n=32), chúng không có khả năng thụ tinh hay không có khả năng tạo giống
Trang 33Mặc dù ong đực lưỡng bội không có ý nghĩa trong việc sinh sản duy trì nòi giống, nhưng lại có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định alen giới tính và
đánh giá mức độ cận huyết của đàn ong cũng như của một giống ong Từ việc xác định tỷ lệ ong đực lưỡng bội trong đàn ong, Woyke (1976) [63] đ7 đưa ra công thức tính số alen giới tính của đàn ong như sau:
C
1
=NTrong đó: N là số alen giới tính, C là tỷ lệ % ong đực lưỡng bội trong đàn ong
Bằng các phương pháp khác nhau, một số nhà nghiên cứu (Laidlaw and Gomes, 1956; Mackensen, 1951; Woyke, 1976) [32], [35], [63] cũng đ7 xác
định rằng trong điều kiện đàn ong phát triển bình thường thì locus gen giới tính của ong có ít nhất là 12 alen Từ đó, có thể suy ra tỷ lệ ong đực lưỡng bội cho phép trong đàn ong là: =8,33%
12
1
=N
1
=
%C
Tỷ lệ 8,33% được coi là giới hạn để xác định mức độ cận huyết của đàn ong Nếu tỷ lệ này càng thấp thì số alen giới tính của đàn ong càng cao, dẫn
đến khả năng sinh sản con cái dị hợp tử càng lớn, sức sống của đàn ong càng cao Ngược lại, tỷ lệ này càng tăng thì đàn ong càng bị cận huyết nhiều hơn (Woyke, 1972) [62] Tuy nhiên, trong tự nhiên một con ong chúa có thể giao phối với nhiều con ong đực có nguồn gốc khác nhau nhờ vậy mà ong chúa đ7 nhận được số lượng lớn alen giới tính nên trong thực tế hiện tượng cận huyết của đàn ong diễn ra chậm chạp hơn nhiều so với tính toán lý thuyết
2.4.1.2 Cơ sở di truyền
Hệ gen của ong mật có sự khác biệt so với các loài thực vật và động vật khác bởi vì nó phụ thuộc vào giới tính Ong A.mellifera có 16 đôi nhiễm sắc thể Ong thợ và ong chúa được tạo ra từ trứng thụ tinh nên có 32 nhiễm sắc thể, còn ong đực phát triển từ trứng không thụ tinh do ong chúa đẻ ra (và nhiều khi cũng do ong thợ đẻ ra) nên chỉ có 16 nhiễm sắc thể Tinh trùng của
Trang 34ong đực không phát triển qua giai đoạn phân bào giảm nhiễm hoàn toàn Về mặt di truyền, tinh trùng ong đực giống như ong chúa đ7 sinh ra nó, vì thế nó chỉ làm nhiệm vụ truyền gen của ong chúa cho thế hệ tiếp theo như là chức năng bố qua giao phối (về vấn đề này ong chúa thực hiện hiệu quả cả hai chức năng (đực và cái)) Mỗi tinh trùng có bộ NST là n, cũng giống như bộ NST từ trứng không thụ tinh của mẹ nó (ong chúa) Chức năng cái qua sản phẩm trứng của nó và được thụ tinh sẽ nở ra con cái (đôi khi nở ra ong đực lưỡng bội) Chức năng đực qua bản sao của bộ NST giúp tạo ra tinh trùng của nó (con trai) Chức năng đực này chỉ là sự sao chép bộ NST của chúa và được thay đổi thể hiện tế bào giới tính từ trứng sang tinh trùng [44]
Hai dạng thuật ngữ học trong công tác giống mô tả sự giao phối của ong mật: Một là mô tả theo cặp cơ thể của bố mẹ: Hai là mô tả theo cặp gen, nó dựa trên bộ NST được tổ hợp trong quá trình giao phối Thuật ngữ cặp cơ thể không phản ánh đúng đặc tính gen của ong mật và không chính xác Với thuật ngữ cặp gen, ong chúa hoạt động cả tính đực và tính cái của bố mẹ vì tất cả các gen đều có nguồn gốc từ chúng Sự khác nhau của hai thuật ngữ có thể giải thích bởi ví dụ sau: Một con chúa tơ được giao phối với ong đực được chính mẹ nó sinh ra Với thuật ngữ cặp cơ thể thì đây là giao phối giữa anh trai
và em gái Tuy nhiên với thuật ngữ cặp gen thì đây là kiểu giao phối giữa mẹ
và con gái Hai ong thợ được sinh ra từ một ong chúa và được thụ tinh từ một ong đực được gọi là chị em gái ruột (full sisters) theo thuật ngữ cặp cơ thể, còn theo thuật ngữ cặp gen thì nó được gọi là siêu chị em gái (super sisters) bởi vì nó được thừa hưởng 100% bộ gen của bố, nên chúng có bộ gen giống nhau đến 75% cao hơn so với chị em gái ruột (full sisters) với bộ gen giống nhau là 50% [28] Do ong chúa giao phối với nhiều ong đực nên trong đàn ong sẽ có những nhóm ong thợ của bố này, những nhóm ong thợ khác của bố khác, nếu các ong đực đó không có quan hệ về di truyền với nhau thì ong thợ
Trang 35do chúng sinh ra gọi là các chị em họ và có tỷ lệ giống nhau về di truyền là 25%
2.4.1.3 Kiểm soát giao phối và ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo
Để cải thiện chất lượng giống ngoài kết quả nghiên cứu di truyền thì kết quả điều khiển giao phối cũng rất quan trọng
Với ong mật do tập tính giao phối trên không: khoảng cách giao phối của ong đực khoảng 10 km và ong chúa khoảng 1-3 km (Ruttner, 1967) [49]; một ong chúa giao phối với nhiều ong đực: một ong chúa trong đời giao phối với khoảng 10-17 ong đực chính vì vậy muốn kiểm soát giao phối bắt buộc phải cách ly (về không gian hoặc thời gian) hoặc thụ tinh nhân tạo Tuy nhiên, để
đảm bảo chắc chắn về kết quả giao phối chỉ có thụ tinh nhân tạo là đáng tin cậy (Roberts, 1944; Taber, 1954) [45], [54]
Hiện nay ở hầu hết các nước và châu lục đều có loài ong A mellifera do vậy việc cách lý giao phối rất khó thực hiện và kết quả giao phối cũng không chắc chắn [37]
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo là một biện pháp hiệu quả để đạt được kết quả
định hướng di truyền chính xác thông qua giao phối Kỹ thuật này cung cấp cho các nhà chọn giống một phương tiện đáng tin cậy trong lai tạo, chọn lọc giống ong mật Trên thế giới kỹ thuật thụ tinh nhân tạo ong mật đ7 được nghiên cứu và ứng dụng thành công từ những năm 40 (Laidlaw, 1944) [31], rất nhiều đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học trên 60 năm qua đ7 đem lại cho kỹ thuật này sự hoàn thiện và hiệu quả ứng dụng như ngày nay
Trong nghề nuôi ong hiện đại ngày nay kỹ thuật thụ tinh nhân tạo là 1 phần không thể thiếu đặc biệt ở những nước tiên tiến có nghề nuôi ong phát triển Kỹ thuật này không những chỉ ứng dụng trong hoạt động nghiên cứu mà ngày nay nó còn phổ biến trong thực tế nuôi ong của những trại ong lớn Hiện nay ngoài việc hoàn thiện và ra đời những loại máy thụ tinh nhân tạo hoàn chỉnh hơn thì việc nghiên cứu bảo quản tinh trùng cũng đang được quan tâm
Trang 36và từng bước đ7 kéo dài thời gian bảo quản phục vụ cho công tác lưu giữ nguồn gen ong mật
Với rất nhiều côn trùng trong đó có cả ong mật có một khoảng thời gian tất yếu từ khi con đực giao phối với con cái cho đến lúc thụ tinh và đẻ trứng Con cái thường có một cơ quan đặc biệt để dự trữ tinh trùng gọi là túi trữ tinh, tinh trùng được dự trữ ở đó sau khi giao phối và nó sẽ được dùng đến khi cần thiết để thụ tinh cho trứng ở ong mật giao phối và đẻ trứng xảy ra trong những điều kiện hoàn toàn khác nhau: quá trình đẻ trứng chỉ xảy ra trong đàn ong, nơi mà được bảo vệ và duy trì trong điều kiện tối ưu (cho sự phát triển của ấu trùng) bất chấp điều kiện ngoại cảnh và sự tấn công của dịch hại nhưng
để giao phối ong chúa phải bay tới điểm hội tụ ong đực Vào những ngày nắng
đẹp, ấm áp (T0 >200C) ong đực từ các trại ong cùng nhau bay tới một điểm (gọi là điểm hội tụ ong đực) để chờ ong chúa bay đến giao phối (Ruttner, 1967) [49]
Khi ong chúa đ7 thành thục sinh dục thì chúng bay đến điểm hội tụ ong
đực để giao phối với ong đực Ong đực cũng thực hiện những chuyến bay vào ngày thứ 6-8 sau khi nở nhưng đó chỉ là những chuyến bay định hướng và bay bài tiết Ong đực thành thục sinh dục khi chúng được 12 ngày tuổi và khi này chúng bắt đầu bay đến điểm hội tụ ong đực (Woyke, 1964) [60]
Điểm hội tụ ong đực là điểm tập trung ong đực và thường ở những vùng núi, ong đực và ong chúa sẽ tự định hướng đến vùng này để có thể tiến hành giao phối (Ruttner, 1967) [49]
Với những ong đực thành thục sinh dục mỗi con có thể bài xuất 1,5àl tinh dịch với 10-11 triệu tinh trùng: nồng độ tinh trùng trong tinh dịch là 7,5-7,6 triệu tinh trùng/1 àl tinh dịch (Mackensen, 1964) [36]
1,25-Khi ong chúa đ7 giao phối với số lượng ong đực cần thiết trong một hoặc hai chuyến bay giao phối, các tuyến trong cơ thể bắt đầu biến đổi và thành
Trang 37thục, trứng cũng thành thục Sau lần bay giao phối thành công cuối cùng, với những con sớm nhất chỉ cần 2 ngày đ7 có thể đẻ trứng (Koeniger, 1986) [29] Theo kết các quả nghiên cứu của Ruttner năm 1971, thì ong chúa sau khi giao phối với vài con ong đực nó bay trở về đàn với ống dẫn trứng (cả ống dẫn trứng trong và ống dẫn trứng ngoài) chứa đầy tinh dịch (trên 20 mm3 tinh dịch) Với một số côn trùng trong đó có cả ong mật, ống dẫn trứng chỉ là nơi chứa tinh tạm thời vì vậy tinh trùng sẽ thực hiện quá trình di chuyển vào túi trữ tinh trong vòng 24 giờ sau khi ong chúa trở lại đàn: l−ợng tinh trùng vận chuyển vào túi trữ tinh bằng 1/10 l−ợng tinh dịch trong ống dẫn trứng Tinh trùng sẽ đ−ợc dự trữ trong túi trữ tinh và cung cấp cho việc thụ tinh cho trứng khi cần thiết (Rutrner, 1988) [50]
Theo Mackensen và Roberts (1984) [37], trong túi trữ tinh của ong chúa giống ong Italia (A m ligustica) có trung bình 5,73 triệu tinh trùng (biến động trong khoảng 3,34-7,36 triệu), còn với giống ong A m mellifera có 5,34 triệu tinh trùng (biến động trong khoảng 0,69-7,92 triệu) Ong chúa nếu bay giao phối 1 lần sẽ có số l−ợng tinh trùng 5,06 triệu, hai lần là 5,89 triệu và nếu 3 lần là 6,98 triệu
Số l−ợng tinh trùng vào túi trữ tinh của ong chúa trong lần giao phối đầu tiên sẽ quyết định đến hành vi giao phối tiếp theo của ong chúa: nếu ong chúa
có số l−ợng tinh trùng trong túi trữ tinh là 5,25 triệu thì chúng sẽ không bay ra khỏi đàn nữa (tức là chúng chỉ bay giao phối một lần), nh−ng nếu là 4,62 triệu thì chúng sẽ vẫn bay ra khỏi đàn nh−ng không giao phối, và nếu là 3,46 triệu thì chúng sẽ bay giao phối lần thứ hai
Theo kết quả nghiên cứu của Woyke (1960) thì l−ợng tinh trùng tối thiểu trong túi trữ tinh của ong chúa phải là 4 triệu [59]
Theo Oertel (1940) ong chúa dùng cho thụ tinh nhân tạo tốt nhất là trong lứa tuổi từ 6-13 ngày sau khi nở [39]
Trang 382.4.1.4 Các yếu tổ ảnh hưởng đến năng suất mật của đàn ong
Năng suất mật của đàn ong là tổng lượng mật ong mà người nuôi ong thu
được trên một đàn ong trong một năm Đây là chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất bởi vì mục tiêu chính của người nuôi ong là để khai thác mật Cũng như sức đẻ trứng của ong chúa, năng suất mật của đàn ong phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài đàn ong như giống ong, thế đàn ong, tình hình chúa, nguồn hoa cho mật, phấn và điều kiện khí hậu thời tiết trong vụ mật
Dù được nuôi trong cùng vùng sinh thái, các giống ong khác nhau vẫn có
sự phát triển và cho năng suất sản phẩm không giống nhau Khi nghiên cứu các giống ong khác nhau được nuôi ở vùng Lithuania của nước Nga, Bilash và cộng sự (1977) (dẫn theo [1]) cho thấy năng suất mật trung bình của các đàn ong ở giống ong địa phương là 26 kg, của giống ong A.m caucasica là 47 kg
và của giống ong A m carnica là 31 kg Tuy nhiên, cùng một phân loài ong nhưng được nuôi ở các vùng địa lý khác nhau thì năng suất mật của chúng cũng không giống nhau Ví dụ năng suất mật trung bình của phân loài ong ý nuôi ở ấn Độ là 20-30 kg/đàn/năm, theo Wongsiri (1987) ở Thái Lan là 20 kg/đàn/năm, nhưng có nhiều đàn đạt tới 100 kg/đàn/năm và theo Khan (1992)
ở Pakistan là 23 kg/đàn/năm Trong khi đó năng suất mật của các đàn ong ý ở Trung Quốc theo Zheng Ming (1992) là từ 50-70 kg/đàn/năm (dẫn theo [12]) Một trong những khác nhau về khả năng thu mật của từng giống ong là
sự không giống nhau về khả năng đi lấy mật hoa của các con ong thợ Các công trình nghiên cứu của Milne (1977) [38], Rothenbuhler (1979) [48] đ7 chỉ
ra rằng tập tính đi lấy mật hoa về tổ của các giống ong mật có bản chất di truyền và năng suất mật của đàn ong có liên quan chặt chẽ với đặc tính này Năng suất mật của đàn ong còn phụ thuộc nhiều vào số lượng ong thợ trong đàn ong (thế đàn ong) Vì vậy, giữa năng suất mật và sức đẻ trứng của
Trang 39nghiên cứu thực nghiệm, Cale (1967) [23] đ7 tìm thấy mối tương quan đáng tin cậy giữa sức đẻ trứng của ong chúa với khả năng thu mật của thế hệ những con ong thợ nở ra từ trứng đó Szabo (1982) [52] cũng đ7 xác định rằng năng suất mật của đàn ong có liên quan chặt với số lượng phấn hoa đàn ong mang
về tổ, sức đẻ trứng của ong chúa và số lượng ong thợ có trong đàn ong
2.4.1.5 Các phương pháp chọn giống ong mật
- Chọn lọc đại trà
Chọn lọc đại trà là phương pháp chọn lọc đơn giản, dễ áp dụng cho các trại ong và được người nuôi ong áp dụng rất phổ biến Phương pháp này dựa trên nguyên tắc là chọn những đàn ong tốt rồi phân ra thành các nhóm đàn ong để làm bố và làm mẹ, hàng năm các trại ong thay toàn bộ ong chúa của những đàn ong thuộc nhóm kém bằng chúa được tạo ra trong nhóm những đàn tốt Chọn lọc đại trà đúng sẽ làm tăng năng suất mật lên 20-25% trong một năm Tuy nhiên sau vài năm chọn lọc theo phương pháp này (chỉ tạo ong chúa
và ong đực trong trại) thì sẽ dẫn đến hiện tượng cận huyết và năng suất mật không tăng nữa, thậm chí còn giảm đi [28], [48]
- Chọn lọc theo quần thể khép kín
Năm 1982 Page và Laidlaw [40] đ7 đưa ra sơ đồ chọn giống ong theo phương pháp quần thể khép kín Nguyên lý của phương pháp là nhân giống ong, cho giao phối trong quần thể có số lượng đàn bố mẹ lớn để chống cận huyết và nâng cao chất lượng giống Với phương pháp này, cho phép chọn lọc giống ong và chống được cận huyết trong vòng 20-30 năm (quần thể chọn lọc
có số đàn tham gia càng lớn thì càng chậm bị cận huyết)
Phương pháp chọn lọc quần thể này đơn giản, loại trừ được việc giới thiệu các vật liệu di truyền không kiểm tra Các quần thể này có thể duy trì bằng việc cho các ong chúa tơ giao phối với các ong đực ở khu vực cách ly về
địa lý hoặc bằng thụ tinh nhân tạo
Trang 40- Chọn lọc cá thể
Chọn lọc cá thể là phương pháp kiểm tra năng suất mật hoặc các đặc tính
định chọn lọc khác ở đời con để biết rõ xem đặc tính đó có khả năng di truyền
được hay không (Rinderer, 1986) [44] Chọn lọc cá thể làm tăng sức đẻ trứng
từ 35-40% và tăng năng suất mật 25-30%, tuy nhiên phương pháp này cần số lượng đàn tham gia chọn lọc lớn, tốn kém hơn, cần nhiều người nuôi ong tham gia hơn
- Phương pháp tạo giống lai nội phối
Đây là phương pháp tạo dòng thuần để tạo các giống lai Phương pháp dựa trên nguyên tắc cho giao phối thân thuộc anh với em gái, hoặc cô với cháu nghĩa là ong chúa tơ giao phối với ong đực của cùng 1 đàn bằng thụ tinh nhân tạo [49] Việc giao phối như vậy sẽ tạo ra các dòng thuần nhưng do bị cận huyết nên sức sống giảm đi, sau một vài thế hệ chọn các đàn tốt lai tạo với dòng thuần khác sẽ tạo được con lai có năng suất mật rất cao Việc tạo ra và giữ các dòng thuần rất khó và tốn kém vì dòng thuần chứa nhiều đồng hợp tử
về gen lặn, tỷ lệ ong đực lưỡng bội cao Mặt khác phải thử rất nhiều phép lai mới chọn được cặp lai tốt nên không phù hợp với người nuôi ong [30]
- Phương pháp tạo con lai khác phân loài
Dựa trên hiện tượng ưu thế lai trong lai giống kinh tế, người ta đ7 cho lai các đàn có năng suất cao giữa hai hay một số phân loài (chủng) hoặc giữa một
số nòi địa lý cùng một phân loài với nhau để tạo ra con lai [46] Có thể áp dụng lai tạo đơn từ 2 dòng thuần, cũng có thể lai tạo kép từ 4 dòng thuần, ưu thế lai biểu hiện rõ ở đời lai thứ nhất (F1) [49] Hiện nay phương pháp lai tạo tạo con lai F1 đang được áp dụng rộng r7i trong nghề nuôi ong với sự đóng góp của kỹ thuật thụ tinh nhân tạo để tìm ra những tổ hợp lai mang những đặc tính mong muốn