1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy trình xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán trong kiểm toán báo cáo tài chính nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty kiểm toán độc lập trên địa bàn tp hcm

110 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN THỊ NGỌC TRÂM QUY TRÌNH XEM XÉT CÁC SỰ KIỆN PHÁT SINH SAU NGÀY KẾT THÚC KỲ KẾ TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC - NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀN

Trang 1

TRẦN THỊ NGỌC TRÂM

QUY TRÌNH XEM XÉT CÁC SỰ KIỆN PHÁT SINH SAU NGÀY KẾT THÚC KỲ KẾ TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC - NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

TRẦN THỊ NGỌC TRÂM

QUY TRÌNH XEM XÉT CÁC SỰ KIỆN PHÁT SINH SAU NGÀY KẾT THÚC KỲ KẾ TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC - NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kế toán Hướng đào tạo: Hướng nghiên cứu

Mã số: 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN THỊ GIANG TÂN

TP Hồ Chí Minh - Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Quy trình xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán trong kiểm toán BCTC - Nghiên cứu thực

nghiệm tại các công ty kiểm toán độc lập trên địa bàn TP.HCM” là công trình

nghiên cứu của tôi, không sao chép của bất kỳ ai

Các kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn khách quan, trung thực và chưa từng công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2020

Trần Thị Ngọc Trâm

Trang 4

MỤC LỤC TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

TÓM TẮT

ABSTRACT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của luận văn 4

7 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan về các nghiên cứu trước 6

1.1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài 6

1.1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước 19

1.2 Nhận xét các nghiên cứu trước 20

1.3 Khe hổng nghiên cứu và định hướng nghiên cứu 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 22

2.1 Định nghĩa 22

2.2 Yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán về xem xét các sự kiện phát sinh 22

2.3 Các lý thuyết nền tảng 26

2.3.1 Lý thuyết hành động hợp lý Fishbein và Ajzen (1975) 26

2.3.2 Lý thuyết lựa chọn hợp ý của Friedman & Hechter (1988) 26

2.3.3 Lý thuyết hành vi dự định của Aijen (1991) 27

2.4 Mô hình nghiên cứu cho luận văn 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

1.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 32

1.1.1 Phương pháp nghiên cứu 32

1.1.2 Quy trình nghiên cứu 34

1.1.3 Mô hình nghiên cứu 35

1.1.4 Thang đo 35

1.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 38

Trang 5

1.3 Mẫu khảo sát 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 40

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

4.1 Kết quả nghiên cứu định tính 41

4.2 Mô tả mẫu nghiên cứu 41

4.2.1 Đối tượng tham gia khảo sát 42

4.3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận 45

4.3.1 Nhận thức của KTV về tầm quan trọng của việc xem xét các sự kiện phát sinh 45 4.3.2 Thực trạng về tìm kiếm và phát hiện các sự kiên phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán 47

4.3.3 Các thủ tục tìm kiếm bằng chứng và thực trạng về phát hiện về các sự kiện phát sinh 48

4.3.4 Các nhân tố trong quy trình liên quan đến tìm kiếm và phát hiện các sự kiện phát sinh 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 62

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 64

5.1 Kết luận 64

5.2 Các hàm ý nghiên cứu 66

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BCĐKT: Bảng cân đối kế toán

BCKiT: Báo cáo kiểm toán

BCTC: Báo cáo tài chính

ISA: Chuẩn mực kiểm toán quốc tế

KTV: Kiểm toán viên

VAS: Chuẩn mực kế toán Việt Nam

VSA: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thang đo các nhân tố tác động đến quy trình xem xét các sự kiện phát Bảng 4.1 Mô tả thông tin về chức danh nghề nghiệp của KTV

Bảng 4.2 Mô tả thông tin về thâm niên công tác

Bảng 4.3 Mô tả thông tin về loại công ty kiểm toán

Bảng 4.4 Số lượng KTV trong công ty kiểm toán

Bảng 4.5 Loại khách hàng được kiểm toán

Bảng 4.6 Thống kê đánh giá của KTV về tầm quan trọng của bằng chứng sự kiện phát sinh

Bảng 4.7 Nhận thức của KTV về tầm quan trọng của các sự kiện phát sinh

Bảng 4.8 Số lần KTV phát hiện bằng chứng các sự kiện phát sinh

Bảng 4.9 Thống kê tần suất sử dụng các thủ tục kiểm toán bằng chứng sự kiện phát sinh của KTV

Bảng 4.10 Các thủ tục kiểm toán

Bảng 4.11 Thống kê mô tả các yếu tố tác động đến giai đoạn tìm kiếm

Bảng 4.12 Thống kê mô tả các yếu tố tác động đến giai đoạn phát hiện

Bảng 4.13 Giá trị trung bình các biến (giai đoạn tìm kiếm)

Bảng 4.14 Sự khác biệt giữa các cặp biết quan sát (giai đoạn tìm kiếm)

Bảng 4.15 Giá trị trung bình các biến (giai đoạn phát hiện)

Bảng 4.16 Sự khác biệt giữa các cặp biết quan sát (giai đoạn phát hiện)

Bảng 4.17 Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Các kỳ trong kiểm toán các sự kiện tiếp theo

Hình 2.2: Mô hình tìm kiếm, phát hiện và đánh giá bằng chứng sự kiện tiếp theo Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu

Trang 9

PHẦN TÓM TẮT

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm nghiên cứu nhận thức của KTV về tầm quan trọng của việc xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán

và quy trình thực hiện các thủ tục kiểm toán về xem xét các sự kiện phát sinh này

Từ kết quả nghiên cứu này, có thể đưa ra những hàm ý chính sách giúp nâng cao tính hữu hiệu của việc kiểm toán các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán

và chất lượng kiểm toán BCTC Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu được kiểm định qua phần mềm SPSS 26 với 178 mẫu nghiên cứu được thu thập từ các đối tượng bao gồm trợ lý kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán, giám đốc kiểm toán và chủ phần hùn kiểm toán đang làm việc cho các công ty kiểm toán trên địa bàn TP.HCM Kết quả nghiên cứu cho thấy KTV nhận thức rằng bằng chứng về các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán là quan trọng và họ luôn tuân thủ chuẩn mực kiểm toán trong việc thực kiện kiểm toán các sự kiện này KTV có nhiều khả năng tìm kiếm và phát hiện bằng chứng về sự kiện phát sinh sau ngày kế thúc kỳ kế toán khi: (1) Có ít bằng chứng có sẵn; (2) Xét đoán tại ngày lập BCĐKT không nhất quán với kỳ vọng trước; (3) Bằng chứng kiểm toán đặc biệt nhất quán với các bằng chứng trước KTV có nhiều khả năng tìm kiếm bằng chứng khi: (1) Kiểm tra các nghiệp vụ bất thường; (2) Nhận thấy bằng chứng đặc biệt có ảnh hưởng trọng yếu đến tổng thể BCTC KTV có nhiều khả năng phát hiện bằng chứng về các sự kiện phát sinh khi: (1) Thời gian tìm kiếm dài hơn; (2) Có ít áp lực

về thời gian tìm kiếm

Từ khóa:

Kiểm toán, sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán, tầm quan trong của sự

kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán

Trang 10

ABSTRACT

The research purpose of the thesis is to study auditors' perceptions of the importance of reviewing the subsequent events and the implementation process of audit procedures on reviewing these arising events From the results of this study, policy implications can be made to improve the effectiveness of the audit of events occurring after the balance sheet date and the audit quality of the financial statements Research model and hypotheses are tested using SPSS 26 software with

178 research samples collected from subjects including audit assistants, audit team leaders, auditors, audit directors and Auditing partners are working in Ho Chi Minh City Research results show that auditors are aware that evidence of subsequent events is important and that they always adhere to audit standards Auditors are more likely to search for and discover evidence of events that arose after the balance sheet date when: (1) There is little evidence available; (2) Judgment at the balance sheet date is inconsistent with previous expectations; (3) The audit evidence

is particularly consistent with previous evidence Auditors are more likely to look for evidence when: (1) Checking abnormal operations; (2) Realizing that special evidence has a material effect on the overall financial statements Auditors are more likely to detect evidence of events that arise when: (1) The search time is longer; (2) There is less pressure on search time

Key word: Audits, subsequent events, importance of subsequent events

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những vụ bê bối trong lĩnh vực kế toán - kiểm toán đưa đến sự sụp đổ của các công ty kiểm toán hàng đầu trên thế giới trong những năm gần đây đã làm sụt giảm

sự tin tưởng của công chúng vào chất lượng của BCTC vào nghề nghiệp kiểm toán Trong đó Enron, WorldCom và Xerox là những ví dụ về các sai phạm trong lĩnh vực kế toán - kiểm toán Tại Việt Nam, nhiều sai phạm trên BCTC cũng xuất hiện tương tự như Bông Bạch Tuyết, Dược Viễn Đông, Gỗ Trường Thành hay Tập đoàn Đại Dương Chính từ những sai phạm này đã khiến cho người sử dụng BCTC giảm niềm tin vào độ tin cậy của BCKiT và ngành nghề kiểm toán nói chung

Được cho là nghề nghiệp mà sự tồn tại dựa trên niềm tin của công chúng, kiểm toán độc lập thật sự là một ngành nghề đặc biệt, các KTV và công ty kiểm toán không chỉ phục vụ cho khách hàng mà còn có trách nhiệm hướng đến lợi ích của công chúng - những người sử dụng BCTC được kiểm toán - bằng việc đưa ra ý kiến

về tính trung thực và hợp lý của BCTC Chính vì vậy, các KTV và công ty kiểm toán hiện nay đã không ngừng nâng cao chất lượng kiểm toán để đảm bảo rằng ý kiến của KTV về BCTC là đáng tin cậy

Mặc dù, chất lượng kiểm toán đang được quan tâm và không ngừng cải thiện, từ các giai đoạn đánh giá, chấp nhận khách hàng; lập kế hoạch kiểm toán; thực hiện kiểm toán cho đến giai đoạn kết thúc kiểm toán và phát hành BCKiT Dù các công

ty kiểm toán luôn xây dựng quy trình kiểm toán chặt chẽ, nhưng KTV và công ty kiểm toán vẫn khó có thể tránh khỏi những rủi ro từ những nguyên nhân khác nhau Trong đó, phát hiện các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán là một trong những nội dung tạo nên rủi ro cho nghề kiểm toán Sự kiện phát sinh này bao gồm

sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán đến ngày lập BCKiT ảnh hưởng đến BCTC và cả những sự kiện mới sau ngày lập BCKiT (VSA 560) Các sự kiện này

có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC và người sử dụng chúng, ảnh hưởng này có thể là tích cực hoặc tiêu cực và có thể làm thay đổi BCTC và ý kiến kiểm toán Các

Trang 12

sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán luôn được xem là bằng chứng kiểm toán quan trọng, tuy nhiên, không phải lúc nào KTV cũng có thể phát hiện được Đây là một loại bằng chứng đặc biệt, ảnh hưởng lớn tới kết quả kiểm toán nên trên thế giới, khá nhiều nghiên cứu nhằm tìm hiểu quy trình này nên diễn ra như thế nào để giúp KTV tìm kiếm, phát hiện các sự kiện này Một số nghiên cứu tiêu biểu như: Janvrin và Jeffrey (2007), Chung và cộng sự (2012), Herda và Lavelle (2014),

Al Nawaiseh và Jaber (2015), Ozdemir và Gokcen (2016), Chang (2019) Các nghiên cứu này chủ yếu đi theo hướng định tính Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề này, phần lớn các nghiên cứu tìm hiểu kỹ thuật thu thập bằng chứng nói chung như kỹ thuật phân tích trong tiến trình lập kế hoạch tại các Công ty kiểm toán Việt Nam (Vũ, N D.,2007); Hoàn thiện thủ tục phân tích để vận dụng trong kiểm toán BCTC của các Công ty kiểm toán tại Việt Nam (Trâm, Đ T M., 2012); Hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ trên địa bàn TP.HCM (Thương, N T H., 2013); Quy trình và các thủ tục áp dụng để xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ

kế toán dường như vẫn còn được để ngỏ Chính vì vậy, câu hỏi được đặt ra là liệu các KTV và công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam đã xây dựng được quy trình

phù hợp để phát hiện sự kiện này không Đó chính là lý do tác giả chọn đề tài: “Quy trình xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán trong kiểm toán BCTC - Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty kiểm toán độc lập trên địa bàn TP.HCM” để nghiên cứu xem KTV nhận thức như thế nào về các sự kiện phát sinh

và các nhân tố nào làm ảnh hưởng đến công việc kiểm toán này của KTV từ đó đưa

ra các nhận xét và đề xuất góp phần hoàn thiện quy trình này, đồng thời nâng cao chất lượng kiểm toán và độ tin cậy của BCKiT

Cụm từ “Sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán” trong luận văn được gọi ngắn gọn là “sự kiện phát sinh”

Trang 13

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của Luận văn là nhằm nghiên cứu nhận thức của KTV về tầm

quan trọng của việc xem xét các sự kiện phát sinh và quy trình thực hiện các thủ tục kiểm toán về xem xét các sự kiện phát sinh này Từ kết quả nghiên cứu này, có thể đưa ra những hàm ý chính sách giúp nâng cao tính hữu hiệu của việc kiểm toán các

sự kiện phát sinh và chất lượng kiểm toán BCTC

Mục tiêu cụ thể:

Xem xét liệu KTV có nhận thức về tầm quan trọng của bằng chứng về các sự kiện phát sinh

Nghiên cứu quy trình thực hiện việc xem xét các sự kiện phát sinh tại các công

ty kiểm toán độc lập tại TP.HCM

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Luận văn cần trả lời được các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:

Câu hỏi nghiên cứu 1: KTV có nhận thức tầm quan trọng về các sự kiện phát

sinh?

Câu hỏi nghiên cứu 2: Liệu KTV đã phát hiện các sự kiện nào chưa?

Câu hỏi nghiên cứu 3: Quy trình thực hiện xem xét các sự kiện phát sinh diễn

ra như thế nào

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nhận thức của KTV về quy trình xem xét các sự kiện

phát sinh

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn chỉ giới hạn trong các công ty kiểm toán độc

lập trên địa bàn TP.HCM, không nghiên cứu về kiểm toán nhà nước và kiểm toán nội bộ

Thời gian thực hiện nghiên cứu: từ năm 2019 đến tháng 8/2020

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp hỗn hợp, trong đó phương pháp định tính và phương pháp định lượng Dựa vào mô hình từ các nghiên cứu trước, tác giả thiết lập mô hình

Phương pháp định tính dùng để điều chỉnh thang đo và định lượng dùng đê kiểm định mô hình tại Việt Nam

Phương pháp định lượng: Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi khảo sát dựa trên thang đo Likert 5 mức độ để thu thập dữ liệu Đồng thời sử dụng kết hợp phần mềm SPSS để phân tích, xử lý số liệu và đưa ra kết quả nghiên cứu về mức độ tác động của các nhân tố đến quá trình kiểm toán các sự kiện phát sinh của KTV tại các công

ty kiểm toán độc lập trên địa bàn TP.HCM

Cơ sở dữ liệu:

Dữ liệu thứ cấp: Các bài nghiên cứu, bài báo, tạp chí, luận văn trong nước và

nước ngoài nghiên cứu về các sự kiện phát sinh

Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu thu thập được từ khảo sát Phương pháp chọn mẫu cho

khảo sát là phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phi xác suất

Công cụ phân tích dữ liệu:

Sau khi dữ liệu được tổng hợp, sàng lọc và làm sạch; sử dụng phần mềm SPSS

để tiến hành phân tích: thống kê mô tả, kiểm định T-Test

6 Đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu sẽ đem lại đóng góp một phần nhất định về lý luận và thực tiễn cho kiểm toán BCTC, cụ thể như sau:

- Đóng góp vào nguồn tài liệu nghiên cứu về quy trình kiểm toán sự kiện phát sinh thông qua kết quả nghiên cứu đã đạt được

- Khái quát thực trạng phát hiện sự kiện phát sinh trong khu vực TP HCM

Trang 15

- Hệ thống các văn bản pháp lý liên quan đến kiểm toán các sự kiện phát sinh tại Việt Nam

- Xác định được quy trình xem xét các sự kiện phát sinh của các KTV làm việc tại các công ty kiểm toán độc lập trên địa bàn TP.HCM

- Nêu ra nhận xét và các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng kiểm toán các sự kiện phát sinh sau ngày kế thúc kỳ kế toán và chất lượng của cuộc kiểm toán nói chung

- Đưa ra một số lưu ý cho các KTV khi thực hiện quy trình kiểm toán sự kiện phát sinh

7 Kết cấu luận văn

Luận văn có kết cấu 5 chương:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về các nghiên cứu trước

1.1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài

Trên thế giới, có khá nhiều nghiên cứu nhằm kiểm tra nhận thức của KTV về các sự kiện phát sinh (khái niệm này trong ISA được gọi bằng cụm từ: “subsequent events” – các sự kiện tiếp theo) và quy trình thực hiện công việc kiểm toán này, dưới đây một số nghiên cứu tiêu biểu:

[1] Janvrin, D J., & Jeffrey, C G (2007) An investigation of auditor perceptions about subsequent events and factors that influence this audit

task Accounting Horizons, 21(3), 295-312 - Điều tra về nhận thức của kiểm toán

viên về các sự kiện tiếp theo và các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệm vụ kiểm toán này Nghiên cứu của Janvrin và Jeffrey (2007) tại Hoa Kỳ là nghiên cứu đầu tiên xem xét về cách thức mà KTV tìm kiếm bằng chứng sự kiện tiếp theo và các nhân

tố ảnh hưởng đến quá trình này Mục tiêu nghiên cứu này nhằm xác minh rằng các liệu KTV có nhận thấy bằng chứng sự kiện tiếp theo là quan trọng hay không, liệu KTV có sử dụng thủ tục thích hợp để tìm kiếm bằng về chứng sự kiện tiếp theo, xác định liệu các KTV có phát hiện ra bằng chứng sự kiện tiếp theo hay không và kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này

Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và kiểm định T-Test dựa trên mẫu là phản hồi từ 106 KTV được khảo sát đại diện cho công ty Big 4 và một công

ty kiểm toán quốc gia tại Hoa Kỳ Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả KTV được khảo sát cho rằng bằng chứng về sự kiện tiếp theo là quan trọng Việc tìm kiếm bằng chứng các sự kiện tiếp theo thường được tiến hành sau ngày kết thúc niên độ

và tại hoặc gần cuối cuộc kiểm toán Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy hơn 70% KTV được phỏng vấn cho rằng họ thực hiện phần lớn các công việc kiểm toán tại khách hàng sau ngày lập BCTC KTV thường chỉ thực hiện các thủ tục kiểm toán được đề xuất bởi chuẩn mực để tìm kiếm bằng chứng sự kiện tiếp theo, tuy nhiên số lần tìm thấy bằng chứng sự kiện tiếp theo là rất thấp Các KTV thường không phát hiện các

Trang 17

sự kiện này do (1) Có thể không có sự kiện nào phát sinh, (2) các thủ tục kiểm toán chưa phù hợp để phát hiện sự kiện này (Asare and Wright 2003)

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy một khi KTV phát hiện sự kiện này, họ sẽ căn cứ sự kiện đó để xem (1) Liệu các sự kiện này đã tồn tại tại thời điểm phát hành báo cáo hay không, (2) có ảnh hưởng đến các ước tính kế toán tại ngày BCTC của

họ, (3) hay liệu đó là sự kiện trong yếu mới phát sinh sau ngày kết thức kỳ kế toán Theo chuẩn mực kế toán hiện hành, có 2 loai sự kiện: loại sự kiện đã hiện hữu vào ngày kết thúc (phải điều chỉnh BCTC) và sự kiện mới (không cần điều chỉnh báo cáo, nhưng phải công bố trong thuyết minh BCTC)

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả xây dựng mô hình về quy trình thực hiện các thủ tục bao gồm 03 giai đoạn: Tìm kiếm, Phát hiện và Đánh giá Nghiên cứu này chỉ tập trung vào 02 giai đoạn quan trong nhất đó là tim kiếm và phát hiện (Search and Discovery)

Quy trình lập kế hoạch kiểm toán để thu thập bằng chứng về các sự kiện phát sinh sau khác với quy trình lập kế hoạch để thu thập bằng chứng trước ngày kết thúc

kỳ kế toán (vì giai đoạn này, các bằng chứng có sẵn, ghi nhận theo giá gốc) Khi thu thập bằng chứng trong giai đoạn này, KTV không chi đánh giá rủi ro dựa trên dữ kiện trong quá khứ, mà cần dựa trên (1) các đặc điểm mang tính xét đoán của các khoản mục, chu trình nghiệp vụ vào ngày kết thúc kỳ kế toán (Hogarth and Einhorn 1992), (2) Các đặc điểm của loại bằng chứng đăc biệt (Muthukrishnan et al 1999), and (3) Đặc điểm môi trường (Libby andLuft 1993) Một cách tóm tắt quy trình kiểm toán các sự kiện tiếp chịu tác động của 03 đặc điểm:

- Các đặc điểm mang tính xét đoán của các khoản mục, chu trình nghiệp vụ tại ngày kết thúc kỳ kế toán bao gồm 03 yếu tố: Loại nghiệp vụ, Số lượng bằng chứng cần thu thập và Sự nhất quán với kỳ vọng trước

- Các đặc điểm của bằng chứng đặc biệt bao gồm 02 yếu tố: Tính nhất quán với bằng chứng trước và Tính trọng yếu

Trang 18

- Đặc điểm môi trường bao gồm 02 yếu tố: Thời gian tìm kiếm và Áp lực thời gian

 Các đặc điểm mang tính xét đoán vào ngày kết thúc kỳ kế toán (Balance Sheet Date Judgment Characteristics)

Các đặc điểm cần lưu ý khi đưa ra các xét đoán vào ngày kết thúc kỳ kế toán như loại nghiệp vu, số lượng bằng chứng cần thu thập và tính nhất quán với các kỳ vọng Mỗi đặc điểm này đều ảnh hưởng đến việc KTV tìm kiến bằng chứng sự kiện tiếp theo

 Loại nghiệp vụ (Transaction Type)

Các nghiệp vụ phát sinh trong doanh nghiệp thường được chia ra thành: các nghiệp vụ phổ biến, định kỳ (nghiệp vụ thường xuyên) và những nghiệp vụ bất thường hay chỉ xảy ra 1 lần (nghiệp vu không thường xuyên) Houghton and Fogarty (1991) cho rằng KTV thường phát hiện các sai sót ở các nghiệp vụ không thường xuyên hơn là ở các nghiệp vụ thường xuyên Do vậy, muốn phát hiện nghiệp

vụ phát sinh sau ký kế toán, cần chú ý nhiêu đến nghiệp vụ không thường xuyên

 Số lượng bằng chứng cần thu thập (Amount of Supporting Evidence)

Số lượng bằng chứng cần thu thập phụ thuộc vào (1) quyết định trong giai đoạn lập kế hoạch sơ khởi, (2) xét đoán ban đầu và (3) loại bằng chứng đặc biệt cần phát hiện (Caster and Pincus, 1996)

 Sự nhất quán với các kỳ vọng (Consistency with Prior Expectations)

Các chuẩn mực kiểm toán yêu cầu rằng KTV khi đưa ra ý kiến về số dư tài khoản thường so sánh số liệu trên báo cáo với kỳ vọng của họ (AICPA2007, AU 329.05) KTV thường sẽ không tin cậy nếu số liệu trên báo cáo khác với kỳ vọng của họ Độ tin cậy càng thấp, KTV cần tìm thêm nhiều bằng chứng sau ngày kết thúc kỳ kế toán (Pincus 1991)

Trang 19

 Đặc điểm của các bằng chứng đặc biệt (Characteristics of Anticipated Challenge Evidence)

Quyết định của các KTV để tìm kiếm bằng chứng sự kiện tiếp theo có thể bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm của các bằng chứng đặc biệt (là loại bằng chứng đặt ra nhiều thách thức có thể thấy trước) Các đăc điểm bao gồm: tính nhất quán, tính trọng yếu

 Tính nhất quán với bằng chứng trước (Consistency of Anticipated Challenge with Prior Evidence):

Quyết định tìm kiếm các bằng chứng về các sự kiện phát sinh sau chịu ảnh hưởng các đặc điểm của loại bằng chứng Đối với các bằng chứng đặt biệt với nhiều thách thức thấy trước được (anticipated challenge evidence), KTV thường xem xét tính nhất quán của loại bằng chứng này với các bằng chứng trước đó để quyết định bằng chứng cần thu thập thêm

 Tính trọng yếu của loại bằng chứng (Materiality of Anticipated Challenge)

Các sự kiện phát sinh sau có thể ảnh hưởng một vài tài khoản (ví dụ sự phá sản của khách hàng sau ngày kết thúc kỳ kế toán, chỉ ra rằng cần tăng mức dự phòng hay hàng hóa bị hư hỏng ) hay có thể ảnh hưởng nhiều tài khoản trên BCTC (ví dụ phát hiện gian lận của người quản lý, các vụ kiện lớn chưa giải quyết) (AICPA 2007, AU 342 and AU 560) Thông thường, các sự kiện ảnh hưởng ở mức

độ tổng thể BCTC thì trọng yếu hơn ở mức độ khoản mục (Blokdijk et al, 2003; Patterson and Smith, 2003) Do vậy, KTV cần tìm bằng chứng khi thấy trước nó sẽ ảnh hưởng đến tổng thể hơn là ở mức độ khoản mục

 Đặc điểm của môi trường (Environmental Characteristics)

Đặc điểm của môi trường có thể ảnh hưởng đến ý định và kết quả tìm kiếm các bằng chứng (Hogarth and Einhorn 1992; Libby and Luft 1993; Bamber et

Trang 20

al.1997) Các đặc điểm môi trường bao gồm: thời gian tìm kiếm và áp lực thời gian

 Thời gian tìm kiếm (Length of Search Period)

Các chuẩn mực kiểm toán đưa ra các thủ tục để tìm kiếm các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ nên được thực hiện trong giai đoạn từ ngày đầu niên

độ sau đến thời điểm kết thúc công việc kiểm toán tại đơn vị (AICPA 2007,AU 560.12) Sự giảm thời gian giữa ngày kế thúc kỳ kế toán với ngày lập báo cáo theo quy định của ủy ban chứng khoán sẽ làm giảm thời kỳ tìm kiếm bằng chứng và do vậy, sẽ ảnh hưởng đến kết quả tìm kiếm

 Áp lực thời gian (Time PressureTime)

Áp lực thời gian sẽ làm KTV giảm khả năng thực hiên các thủ tục kiểm toán

để phát hiện các sự kiện tiếp theo

Dựa vào các yếu tố (07 yếu tố) nêu trên, nghiên cứu kiểm tra xem chúng có thể ảnh hưởng đến cách thức mà KTV tìm kiếm bằng chứng sự kiện tiếp theo và liệu họ có tìm ra bằng chứng sự kiện tiếp theo hay không dựa trên bảng câu hỏi được thiết kế để KTV trả lời các cặp câu hỏi được đưa ra để kiểm tra từng yếu tố Các câu trả lời được xây dựng theo thang đo Likert 11 mức độ trong đó 0 = “Không bao giờ” và 10 = “Luôn luôn” Từ kết quả khảo sát này, tác giả sử dụng kiểm định Paried T-Test để kiểm tra sự khác biệt trong câu trả lời cho mỗi cặp câu hỏi của từng yếu tố, cụ thể như sau:

- Loại nghiệp vụ: Tần suất KTV tìm kiếm và phát hiện bằng chứng sự kiện

tiếp theo đối với (1) Các nghiệp vụ thường xuyên và (2) Các nghiệp vụ bất thường

- Số lượng bằng chứng cần thu thập: Tần suất KTV tìm kiếm và phát hiện

bằng chứng sự kiện tiếp theo khi số lượng bằng chứng cần thu thập (1) Nhiều bằng chứng có sẵn và (2) Ít bằng chứng có sẵn

Trang 21

- Sự nhất quán với kỳ vọng trước: Tần suất KTV tìm kiếm và phát hiện bằng

chứng sự tiếp theo khi đánh giá tại ngày lập BCTC: (1) Nhất quán với kỳ vọng trước đó và (2) Không nhất quán với kỳ vọng trước đó

- Tính nhất quán với bằng chứng trước: Tần suất KTV tìm kiếm và phát

hiện bằng chứng sự tiếp theo khi nhận thấy: (1) Bằng chứng bổ sung nhất quán với bộ bằng chứng trước và (2) Bằng chứng bổ sung không nhất quán với bộ bằng chứng trước

- Tính trọng yếu của loại bằng chứng: Tần suất KTV tìm kiếm và phát hiện

bằng chứng sự tiếp theo khi nhận thấy khả năng: (1) Tác động trọng yếu đến một tài khoản và (2) Tác động trọng yếu đến toàn bộ BCTC

- Thời gian tìm kiếm: Tần suất KTV tìm kiếm và phát hiện bằng chứng sự

tiếp theo khi mong đợi bằng chứng sẽ được phát hiện sau khoảng: (1) Khoảng 05 ngày sau ngày lập BCĐKT và (2) Khoảng 45 ngày kể từ ngày lập BCĐKT

- Áp lực thời gian: Tần suất KTV tìm kiếm và phát hiện bằng chứng sự tiếp

theo khi: (1) Tổng thời gian kiểm toán vượt quá ngân sách, (2) Ngân sách kiểm toán còn ít thời gian và (3) Ngân sách kiểm toán còn nhiều thời gian Kết quả kiểm định 07 yếu tố này cho thấy: KTV có nhiều khả năng tìm kiếm

và phát hiện bằng chứng sự kiện tiếp theo khi (1) trước đó bằng chứng đã từng tồn tại (2) các xét đoán tại ngày BCTC của họ không đáp ứng được kỳ vọng trước KTV

có nhiều khả năng tìm kiếm bằng chứng khi (1) xem xét các tài khoản có số dư bất thường, (2) có khả năng tác động trọng yếu đến toàn bộ BCTC chứ không chỉ riêng một tài khoản và (3) khi họ có đủ thời gian để tìm kiếm KTV có nhiều khả năng phát hiện bằng chứng sự kiện tiếp theo (1) khi bằng chứng đó phù hợp với xét đoán tại ngày BCTC và (2) khi thời gian tìm kiếm dài hơn Cuối cùng, nghiên cứu chỉ ra rằng áp lực thời gian không ảnh hưởng đáng kể đến việc KTV phát hiện bằng chứng

về sự kiện tiếp theo

Nghiên cứu này cũng chỉ ra định hướng nghiên cứu trong tương lai: cần mở rộng mẫu Các phát hiện của của nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu hoặc

Trang 22

làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực nghiệm nhằm khám phá liệu việc phát hiện ra bằng chứng sự kiện tiếp theo có thể ngăn chặn (hoặc giảm bớt) sự gia tăng các bút toán điều chỉnh lại và sai sót kiểm toán được ghi nhận hay không.

[2] Chung, J O., Cullinan, C P., Frank, M., Long, J H., Mueller-Phillips, J.,

& O'Reilly, D M (2012) The auditor's approach to subsequent events: Insights

from the academic literature Auditing: A Journal of Practice & Theory, 32(sp1),

167-207 - Phương pháp tiếp cận của kiểm toán viên đối với các sự kiện tiếp theo: Những hiểu biết sâu sắc từ tài liệu học thuật

Chung và cộng sự (2012) đã tổng quan các nghiên cứu trước tại Hoa Kỳ về cách thức tiếp cận của KTV đối với các sự kiện tiếp theo

Đầu tiên, nhóm tác giả đã góp phần tổng kết báo cáo kiểm tra của PCAOB (Public Company Accounting Oversight Board - Ủy Ban giám sát kế toán đối với các công ty đại chúng) và một số báo cáo của SEC (Securities and Exchange Commission - Ủy ban chứng khoán và sàn giao dịch Mỹ) Hơn 1/3 nội dung các báo cáo này đã chỉ ra những thiếu sót trong việc kiểm toán các sự kiện tiếp theo trong kiểm toán BCTC, đây là sai phạm khá phổ biến của các công ty kiểm toán

Tiếp theo, nghiên cứu tìm hiểu làm thế nào và tại sao lại có những thiếu sót này Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp định tính, tích hợp tâm lý học và lý thuyết hành vi để phát triển một mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các thủ tục kiểm toán về các sự kiện tiếp theo Mô hình đã xác định các yếu tố như: môi trường, các yếu tố thuộc về cá nhân và công việc có khả năng ảnh hưởng đến cách tiếp cận nhận thức của KTV (dựa trên kinh nghiệm – “heuristic” hoặc có hệ thống – “systematic”) trong mỗi giai đoạn của quá trình kiểm toán các sự kiện tiếp theo (tìm kiếm, đánh giá và giải quyết) Nhóm tác giả lập luận rằng phương pháp tiếp cận dựa trên hệ thống giúp KTV tránh những thành kiến trong quá trình xét đoán Những thành kiến này có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm, đánh giá và giải quyết các sự kiện tiếp theo Trong trường hợp không có các cơ chế phòng ngừa

Trang 23

hoặc phát hiện, sự thiên lệch ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình đều có thể dẫn đến việc giải quyết các sự kiện tiếp theo không chính xác

Nhóm tác giả cũng thảo luận các quy định của chuẩn mực liên quan đến các thủ tục kiểm toán các sự kiện tiếp theo trong các yêu cầu của SEC và của PCAOB Dựa vào đó, tác giả phát triển mô hình cung cấp nền tảng cho nghiên cứu trong tương lai về các chủ đề này Mô hình của nhóm tác giả tập trung vào các đặc điểm nổi bật của việc kiểm toán các sự kiện tiếp theo và dẫn đến một số câu hỏi nghiên cứu cụ thể mà nghiên cứu trong tương lai có thể xem xét kết hợp với những câu hỏi được cung cấp bởi Janvrin và Jeffrey (2007)

Mô hình cho thấy rằng hiệu quả của các thủ tục này phần lớn bị ảnh hưởng bởi nhận thức của KTV, ban đầu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường, cá nhân và nhiệm vụ cụ thể Từ đóm nhóm tác gỉa đề xuất các chiến lược tiếp cận nhằm giảm thiểu sai sót, giúp nâng cao hiệu quả kiểm toán của các sự kiện tiếp theo

Tác giả cũng đưa ra các khuyến nghị về nghiên cứu trong tương lai và đề xuất một loạt các câu hỏi nghiên cứu phát sinh từ mô hình của họ và liên quan đến một

số vấn đề được ghi trong tài liệu SEC và PCAOB

[3] Herda, D N., & Lavelle, J J (2014) Auditing Subsequent Events:

Perspectives from the Field Current Issues in Auditing, 8(2), A10-A24 - Kiểm toán

các sự kiện tiếp theo: Các quan điểm từ thực nghiệm

Nghiên cứu của Herda và Lavelle (2014) về sự kiện tiếp theo thông qua phương pháp định tính Nhóm tác giả phân tích kết quả câu trả lời mở của KTV đối với các câu hỏi về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm, đánh giá, đàm phán và giải quyết các sự kiện tiếp theo; các vấn đề gây khó khăn trong việc kiểm toán các sự kiện tiếp theo và cách cải thiện việc kiểm toán này Nghiên cứu này dựa trên nền tẳng nghiên cứu của Chung và cộng sự (2012) thông qua khảo sát 76 KTV hành nghề tại Hoa Kỳ làm việc cho một công ty kế toán công lớn trong khu vực, sử dụng cách tiếp cận phản hồi mở và phân tích dữ liệu định tính đặt các câu hỏi mở về

Trang 24

các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm toán các sự kiện tiếp theo và các khuyến nghị để cải thiện quy trình kiểm toán sự kiện tiếp theo

Tổng kết từ phản hồi của KTV, nhóm tác giả đưa ra một số khuyến nghị hữu ích trong việc cải thiện thủ tục kiểm toán các sự kiện tiếp theo Cụ thể, nghiên cứu tập trung thảo luận về các vấn đề cần xem xét trong quy trình kiểm toán các sự kiện tiếp theo (bao gồm: yêu cầu khách hàng, thủ tục kiểm toán sự kiện tiếp theo, kiến thức về khách hàng và hỗ trợ quyết định), giai đoạn các sự kiện tiếp theo - là khoảng thời gian sau ngày lập BCĐKT cho đến ngày lập BCKiT, ngân sách thời gian thực hiện và mối quan hệ KTV - khách hàng

Từ kết quả của nghiên cứu này, các tác giả còn đề xuất một số khuyến nghị: KTV nên xem xét sự kiện tiếp theo trong suốt giai đoạn thực hiện thử nghiệm cơ bản và nên chú ý đến phỏng vấn nhân viên như một phần của thủ tục đánh giá sự kiện tiếp theo Ban giám đốc công ty kiểm toán cần kiểm soát để đảm bảo rằng tất

cả các thành viên trong nhóm kiểm toán có hiểu biết về khách hàng và ngành, vì điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng xác định và đánh giá các sự kiện tiếp theo của họ KTV nên dành nhiều thời gian hơn cho công việc kiểm toán các sự kiện tiếp theo Mặc dù hầu hết các ngân sách kiểm toán thường khá eo hẹp, các công ty có thể cân nhắc để dành thêm thời gian cho công việc kiểm toán này vào các lĩnh vực kiểm toán có rủi ro cao hơn trong giai đoạn thử nghiệm cơ bản và giai đoạn kết thúc kiểm toán để cho phép KTV phản ánh về các tác động của sự kiện tiếp theo

Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng lưu ý rằng kết luận từ nghiên cứu trên nên được

sử dụng một cách thận trọng vì nghiên cứu của họ có cỡ mẫu nhỏ và đối tượng được khảo sát chỉ đếntừ một công ty kiểm toán, ngoài ra, một số khuyến nghị dựa trên đề xuất của rất ít người tham gia, do vậy các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng cỡ mẫu [4] Al Nawaiseh, M A L., & Jaber, J (2015) Auditing subsequent events

from the perspective of auditors: study from Jordan International Journal of Financial Research, 6(3), 78 - Kiểm toán các sự kiện tiếp theo từ quan điểm của

kiểm toán viên: nghiên cứu tại Jordan

Trang 25

Nghiên cứu của Al Nawaiseh và Jaber (2015) nhằm xác định mức độ mà tuân thủ của các KTV ở Jordan đối với yêu cầu của ISA 560 - Các sự kiện tiếp theo Tác giả đã sử dụng phương pháp mô tả và cách tiếp cận phân tích, thông qua bảng câu hỏi nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu và kiểm tra giả thuyết được đưa ra Mẫu của nghiên cứu này bao gồm 62 KTV làm việc tại các văn phòng kiểm toán, được chọn ngẫu nhiên, đại diện cho 32,8% tổng thể nghiên cứu bao gồm 189 cơ quan kiểm toán Nghiên cứu cho thấy rằng các KTV ở Jordan tuân thủ các yêu cầu của ISA

560 trong việc kiểm tra các sự kiện tiếp theo trong khoảng thời gian giữa ngày của BCĐKT và ngày BCKiT, kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu trước đó của Chung và cộng sự (2013) và Carmichael (2004) và kết quả của PCAOB Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các đặc điểm về nhân khẩu học của các KTV (chuyên môn, kinh nghiệm, kỳ thi CPA và các khóa đào tạo) không có ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê về tầm quan trọng của việc tuân thủ các yêu cầu của chuẩn mực này Nghiên cứu đề xuất các văn phòng và các công ty kiểm toán và Hiệp hội KTV đào tạo các thành viên của họ trong việc áp dụng IFRS và ISA, chỉ tuyển dụng những KTV vượt qua kỳ thi CPA

[5] Ozdemir, Z., & Gokcen, B A (2016) Auditing of Subsequent Events: A

Survey of Auditors in the City of Istanbul in Turkey Accounting and Finance

Research, 5(2), 42 - Kiểm toán các sự kiện tiếp theo: Khảo sát kiểm toán viên tại

thành phố Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ

Nghiên cứu của Ozdemir và Gokcen (2016) dựa trên khảo sát ý kiến KTV độc lập có đăng ký hành nghề của công ty kiểm toán độc lập làm việc tại Istanbul Mẫu nghiên cứu bao gồm 108 KTV độc lập Nhóm tác giả đã giải quyết một số câu hỏi trong số những câu hỏi này phát sinh từ cuộc khảo sát của Janvrin và Jeffrey (2007)

và Chung và cộng sự (2012), sau đó tiến hành kiểm định tại Istanbul Mục tiêu nghiên cứu là xem xét liệu các KTV có nhận thức tầm quan trong của việc xem xét các sự kiện tiếp theo và điều tra thủ tục KTV sử dụng để xem xét các sự kiện tiếp theo trong kiểm toán các công ty thương mại ở Thổ Nhĩ Kỳ

Trang 26

Kết quả nghiên cứu cho thấy, KTV thực hiện hầu hết các công việc kiểm toán sau khi kết thúc kỳ kế toán và đều nhận thức tầm quan trong trong nghiên cứu các

sự kiện tiếp theo Đáng chú ý là tỷ lệ bằng chứng thu thập về sự kiện tiếp theo sau khi kết thúc năm tài chính cao hơn gấp hai lần trong bằng chứng thu thập trong năm tài chính và các KTV đã thu thập được bằng chứng này bằng cách làm việc dưới 2 giờ trong vòng một tháng sau khi kết thúc năm tài chính Nghiên cứu cũng cho thấy rằng bằng chứng mà KTV thu thập được đa số thuộc về loại sự kiện không cần điều chỉnh BCTC cách thức thu thập là dựa trên các thủ tục kiểm toán được đề xuất trong ISA 560 Đa số các KTV khẳng định rằng các sự kiện tiếp theo có thể được tìm thấy nhiều hơn ở các nghiệp vụ bất thường hơn là thông thường Nghiên cứu cho thấy rằng các cuộc kiểm toán có thể vượt quá thời gian dự trù khi tìm kiếm bằng chứng liên quan đến các sự kiện tiếp theo, bởi vì việc thu thập bằng chứng này làm giảm việc trình bày lại BCTC sau khi đã phát hành BCKiT và những sai sót trong kiểm toán

Ngoài ra, kết quả của cuộc khảo sát còn cho thấy, tất cả các thông tin công bố

về các sự kiện xảy ra sau kỳ báo cáo đã được những người tham gia đánh giá là quan trọng Trong đó, các thông tin công bố về các công ty con, công ty liên kết và các bên liên quan khác; công bố về vốn và công bố về chứng khoán là những thông tin được người tham gia đánh giá là rất quan trọng Thông tin mà KTV cho là ít quan trọng nhất là thông tin công bố về quản trị công ty, thông tin về pháp luật và thông tin về quyết định của biên bản họp Đại hội đồng KTV cho rằng các thông tin thuyết minh về các sự kiện tiếp theo đủ quan trọng để ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán độc lập và quyết định đầu tư Hơn nữa, họ coi chúng đủ quan trọng để ảnh hưởng đến tổng thể BCTC KTV đã sử dụng các thủ tục kiểm toán theo yeu cầu của Chuẩn mực Kiểm toán Độc lập Thổ Nhĩ Kỳ trong quá trình tìm kiếm các sự kiện tiếp theo

[6] Phang, S Y (2019) Impacts of the timing of the discovery of a subsequent

event on the auditors’ approach to subsequent events Accounting & Finance - Tác

Trang 27

động của thời điểm phát hiện ra sự kiện tiếp theo đối với cách tiếp cận của kiểm toán viên đối với các sự kiện tiếp theo

Nghiên cứu của Phang (2019) điều tra tác động của thời điểm phát hiện ra sự kiện tiếp theo đến cách tiếp cận của KTV đối với sự kiện tiếp theo Do KTV được yêu cầu thực hiện phần lớn các thủ tục sự kiện tiếp theo gần ngày đến hạn của BCKiT, nghiên cứu kiểm tra xem liệu KTV có thực hiện các bút toán điều chỉnh hoặc công bố về các sự kiện tiếp theo xảy ra sau khi kết thúc kiểm toán nhưng trước khi phát hành BCKiT hay không

Có hai loại sự kiện tiếp theo (IASB, 2013) Đầu tiên là một sự kiện cung cấp bằng chứng về các điều kiện tồn tại vào cuối kỳ báo cáo Đây thường là một sự kiện sau kỳ BCTC cần phải điều chỉnh BCTC (Sự kiện loại I) Thứ hai là sự kiện cung cấp bằng chứng về các điều kiện chỉ định phát sinh sau kỳ báo cáo Đây thường là

sự kiện không điều chỉnh xảy ra sau khi lập BCTC yêu cầu phải thuyết minh BCTC (Sự kiện loại II)

Tác giả đã sử dụng thử nghiệm hỗn hợp 2 x 2 x 2, trong đó các nhân tố chính bao gồm thời gian của sự kiện tiếp theo, nguy cơ sai sót trọng yếu và loại sự kiện tiếp theo (loại I hoặc loại II) bị tác động trong các đối tượng Thời gian của mỗi sự kiện tiếp theo được xét ở hai cấp độ: các sự kiện tiếp theo mà KTV biết được sau khi hoàn thành kiểm toán tại khách hàng và những sự kiện đã biết trước đó Rủi ro

có sai sót trọng yếu được xử lý ở hai cấp độ: rủi ro cao và rủi ro thấp Kết quả cho thấy rằng KTV ít có khả năng điều chỉnh các sự kiện Loại I sau khi hoàn thành công việc kiểm toán thực địa (tại công ty khách hàng) khi rủi ro có sai sót trọng yếu thấp

và ngược lại khi rủi ro cao Tuy nhiên, đối với các sự kiện Loại II, khả năng điều chỉnh của KTV không phụ thuộc vào mức độ có sai sót trọng yếu do các sự kiện này chỉ cần thuyết minh trên BCTC thay vì điều chỉnh BCTC

Để hiểu thêm về các quy trình kiểm toán và thời gian của các sự kiện tiếp theo, tác giả đã phỏng vấn 10 chuyên gia kiểm toán giàu kinh nghiệm với kinh nghiệm kiểm toán trung bình là 9,56 năm Các kết quả phỏng vấn cho thấy, có thể phát hiện

Trang 28

các sự kiện tiếp theo vào cuối quá trình kiểm toán, chẳng hạn như sau khi hoàn thành kiểm toán hoặc sau cuộc họp của ủy ban kiểm toán Kết quả phỏng vấn cũng cho thấy rằng việc xác định một sự kiện trong giai đoạn cuối cùng của quá trình hoàn thành cuộc đánh giá có thể gây ra áp lực không đáng có - liên quan đến cả khách hàng và thời gian - đối với các thành viên nhóm đánh giá khi họ đánh giá và tìm kiếm bằng chứng về các sự kiện tiếp theo và điều này có thể dẫn đến đến việc không điều chỉnh một cách đầy đủ hoặc công bố các sự kiện tiếp theo

Nghiên cứu của Chang (2019) có đóng góp quan trọng về kiểm toán Đầu tiên, nghiên cứu này trả lời câu hỏi trong nghiên cứu của Chung và cộng sự (2012) đặt

ra, nhưng tập trung vào các xét đoán của KTV trong quá trình đánh giá các sự kiện tiếp theo Nghiên cứu này mở rộng nghiên cứu của Phang và Fargher (2018) bằng cách kiểm tra xem liệu các KTV có ít khả năng thực hiện các điều chỉnh hoặc công

bố nếu thời điểm phát hiện sự kiện tiếp theo khi hoàn thành công việc kiểm toán thực địa hay không Nghiên cứu cung cấp thêm bằng chứng cho thấy KTV ít có khả năng điều chỉnh các sự kiện Loại I xảy ra sau khi kết thúc kiểm toán trong điều kiện mức rủi ro thấp Phát hiện này có ý nghĩa đối với hoạt động kiểm toán Phát hiện suy ra rằng nếu KTV cam kết giữ nguyên xét đoán ban đầu sau khi hoàn thành cuộc kiểm toán, họ sẽ có nhiều khả năng bỏ qua các bằng chứng hoặc sai sót liên quan đến sự kiện tiếp theo có thể ảnh hưởng đến việc trình bày hợp lý của BCTC Doanh nghiệp kiểm toán có thể bắt đầu các quy trình soát xét giám sát nội bộ liên tục và các cuộc đánh giá kiểm soát chất lượng của hợp đồng dịch vụ để xác định và khắc phục những xét đoán kém trong giai đoạn đầu của quá trình đánh giá các sự kiện tiếp theo Trong khi xem xét tài liệu kiểm toán, giám sát viên kiểm toán hoặc người soát xét kiểm soát chất lượng hợp đồng dịch vụ có thể yêu cầu nhân viên đánh giá lại bằng chứng hoặc yêu cầu thêm tài liệu về các sự kiện có thể xảy ra sau đó trước khi phát hành BCKiT

Thứ hai, nghiên cứu này đóng góp vào tài liệu liên quan đến các quyết định điều chỉnh của KTV cũng như liên quan đến sự đánh đổi giữa sự chấp nhận BCTC

và yêu cầu phải thuyết minh trong BCTC Tác giả thấy rằng KTV ít có khả năng

Trang 29

yêu cầu điều chỉnh các số tiền được ghi nhận (trái ngược với trường hợp chỉ công

bố trong thuyết minh BCTC) trong các bối cảnh có tồn tại các sự kiện tiếp theo Lý

do chính khiến các KTV không muốn điều chỉnh các sự kiện Loại I là khách hàng

có thể xem kết quả của những điều chỉnh đó quan trọng hơn các khoản mục được tiết lộ, bởi vì việc điều chỉnh các sự kiện Loại I trong BCTC có thể ảnh hưởng đến

vị trí lợi nhuận của khách hàng Nhiều khả năng KTV có thể nhận thấy rằng việc điều chỉnh các sự kiện loại I có thể tạo ra sự phản đối của khách hàng nhiều hơn so với việc công bố các sự kiện loại II, vốn chỉ yêu cầu công bố trong thuyết minh BCTC Ngoài ra, người sử dụng BCTC phản ứng mạnh mẽ hơn với bất kỳ điều chỉnh nào của các khoản được ghi nhận hơn là đối với việc thuyết minh trong BCTC; do đó, số tiền điều chỉnh sẽ nhận được sự giám sát chặt chẽ hơn từ các KTV (Michels, 2017) Nghiên cứu này đóng góp vào các tài liệu hiện có bằng cách cung cấp bằng chứng về cách KTV phản ứng với điều chỉnh bắt buộc liên quan đến việc công bố thông tin bắt buộc

Thứ ba, các phát hiện phỏng vấn của bài nghiên cứu làm rõ thời gian của giai đoạn hoàn thành cuộc đánh giá và cách KTV phản ứng với các sự kiện tiếp theo xảy

ra muộn trong quá trình đánh giá Các phát hiện cho thấy rằng các sự kiện tiếp theo

có thể xảy ra hoặc thu hút sự chú ý của KTV khi kết thúc quá trình đánh giá và KTV phải đối mặt với những thách thức khi đánh giá các sự kiện tiếp theo xảy ra ở giai đoạn cuối này

1.1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước

Tại Việt Nam, cho đến nay, mặc dù chuẩn mực kiểm toán có yêu cầu KTV xem xét bằng chứng về các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán (VSA 560), hơn nữa, các nhà thiết lập tiêu chuẩn tin rằng các sự kiện này là quan trọng; nhưng cho đến thời điểm hiện tại, tác giả không tìm thấy nghiên cứu nào tìm hiểu

về nhận thức của KTV về sự kiện sau ngày kết thúc kỳ kế toán và quy trình thực hiện công việc kiểm toán này Các nghiên cứu chủ yếu đi vào nghiên cứu về bằng chứng kiểm toán thông thường là các tài liệu, thông tin liên quan tại thời điểm lập

Trang 30

BCTC để đưa ra kết luận và hình thành ý kiến kiểm toán Một số các nghiên cứu khác tập trung nghiên cứu về nợ tiềm tàng, giả định hoạt động liên tục, Phần lớn các nghiên cứu tìm hiểu kỹ thuật thu thập bằng chứng nói chung như kỹ thuật phân tích trong tiến trình lập kế hoạch tại các Công ty kiểm toán Việt Nam (Vũ, N D.,2007); Hoàn thiện thủ tục phân tích để vận dụng trong kiểm toán BCTC của các Công ty kiểm toán tại Việt Nam (Trâm, Đ T M., 2012); Hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ trên địa bàn TP.HCM (Thương, N T H., 2013);

1.2 Nhận xét các nghiên cứu trước

Dựa trên tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài cũng như trong nước về kiểm toán các sự kiện phát sinh, tác giả nhận thấy nghiên cứu của Janvrin và Jeffrey (2007) đưa ra mô hình đầu tiên về các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình kiểm toán sự kiện tiếp theo (hay sự kiện phát sinh) là nghiên cứu khá đầy đủ Mô hình này chia quy trình thực hiện thủ tục kiểm toán các sự kiện tiếp theo thành 3 giai đoạn: tìm kiếm, khám phá và đánh giá Tiếp theo nghiên cứu của Janvrin và Jeffrey (2007), Chung và cộng sự (2012) dùng phương pháp nghiên cứu định tính đã có đóng góp lớn khi xây dựng được mô hình nghiên cứu về cách thức KTV tiếp cận với các bằng chứng của các sự kiện phát sinh dựa trên kết quả nghiên cứu lý thuyết; đồng thời, nhóm tác giả còn đưa ra các câu hỏi nghiên cứu xuất phát từ mô hình này nhằm định hướng cho các nhà nghiên cứu những hướng nghiên cứu mới Tiếp theo kết quả nghiên cứu của Chung và cộng sự (2012), nhiều bài báo đã đi sâu nghiên cứu nhằm giải quyết những câu hỏi đặt ra từ mô hình Trong đó, nghiên cứu của Herda

và Lavelle (2014) nghiên cứu về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm, đánh giá, đàm phán và giải quyết các sự kiện tiếp theo bằng nghiên cứu định tính bao gồm các yếu tố:yêu cầu khách hàng, thủ tục kiểm toán sự kiện tiếp theo, kiến thức về khách hàng và hỗ trợ quyết định Nhưng nghiên cứu này có cỡ mẫu khá nhỏ

và người được khảo sát chỉ đến từu một công ty kiểm toán nên kết quả của nghiên cứu chưa có đủ căn cứ để đại diện cho tổng thể Một số nghiên cứu khác, chỉ đề cập đến một phần, hoặc một yếu tố tác động đến quy trình xem xét các sự kiện tiếp theo

Trang 31

được đề cập trong mô hình nghiên cứu của Janvrin và Jeffrey (2007) Hiện tại, trên thế giới có tương đối ít nghiên cứu học thuật đã được hướng dẫn cụ thể đối với việc kiểm toán của các sự kiện phát sinh (Janvrin và Jeffrey 2007) Kết hợp với nhau, những phát hiện này cung cấp động lực đáng kể cho nghiên cứu học tập trong tương lai về chủ đề này.

Ở Việt Nam, cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến việc tìm hiểu nhận thức của KTV về các sự kiện phát sinh cũng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm toán vấn đề này của các KTV Phần lớn các nghiên cứu đi theo hướng tìm hiểu kỹ thuật thu thập bằng chứng nói chung

1.3 Khe hổng nghiên cứu và định hướng nghiên cứu

Qua tổng quan về nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước cho thấy, xem xét các sự kiện phát sinh đã được khá nhiều nghiên cứu tiến hành trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề này Chính vì vậy tác giả đã chọn đề tài này để nghiên cứu về việc KTV có nhận thức như thế nào về vấn đề kiểm toán này, học có cảm thấy việc tìm kiếm bằng chứng về

sự kiện phát sinh là quan trọng hay không cũng như quá trình các KTV thực hiện công việc này như thế nào và những nhân tố nào tác động đến công việc kiểm toán này Từ đó có những đề xuất nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán về các sự kiện phát sinh và chất lượng của toàn bộ cuốc kiểm toán nói chung

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương này tác giả đã tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến quy trình xem xét các sự kiện phát sinh trong kiểm toán BCTC trên cơ sở chọn lọc các nghiên cứu tiêu biểu đã được công bố Qua đó, tác giả nêu được các đóng góp của đề tài cũng như các mặt còn hạn chế để từ đó tác giả đưa ra khoảng trống nghiên cứu và sự cần thiết để thực hiện đề tài này

Trang 32

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Định nghĩa

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 23 - “Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm” đã định nghĩa như sau:

“Sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm là những sự kiện có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến BCTC, đã phát sinh trong khoảng thời gian từ sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến ngày phát hành BCTC” Có hai loại sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm:

(a) “Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cần điều chỉnh: Là

những sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cung cấp bằng chứng về các sự việc đã tồn tại trong năm tài chính cần phải điều chỉnh trước khi lập BCTC”

(b) “Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm không cần điều chỉnh:

Là những sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cung cấp bằng chứng

về các sự việc đã tồn tại trong năm tài chính nhưng không phải điều chỉnh trước khi lập BCTC”

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 560 đã định nghĩa như sau: “Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán” là “những sự kiện phát sinh kể từ sau ngày kết thúc kỳ kế toán đến ngày lập BCKiT và những sự việc mà KTV biết được sau ngày lập BCKiT”

2.2 Yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán về xem xét các sự kiện phát sinh

VSA 560 quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV và doanh nghiệp kiểm toán liên quan đến các sự kiện phát sinh trong quá trình kiểm toán BCTC

Mục tiêu của việc kiểm toán các sự kiện phát sinh: (1) Thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về việc liệu các sự kiện phát sinh từ sau ngày kết thúc kỳ

kế toán đến ngày lập BCKiT cần được điều chỉnh hoặc thuyết minh trong BCTC, đã được phản ánh phù hợp trong BCTC đó theo khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay chưa; (2) Xử lý một cách thích hợp đối với những sự việc mà

Trang 33

KTV biết được sau ngày lập BCKiT, mà nếu các sự việc này được biết đến tại ngày lập BCKiT thì có thể làm cho KTV phải sửa đổi BCKiT

Có 03 mốc thời gian quan trọng trong quy trình xem xét các sự kiện phát sinh (Hình 2.1), cụ thể:

- Ngày kết thúc kỳ kế toán: Là ngày cuối cùng của kỳ kế toán được lập BCTC (đoạn 05a, VSA560);

- Ngày lập BCKiT: Là ngày được KTV lựa chọn để ký báo cáo và ghi rõ trên BCKiT về BCTC theo quy định của VSA 700 (đoạn 05c, VSA560);

- Ngày công bố BCTC: Là ngày mà BCKiT và BCTC được kiểm toán đã cung cấp cho bên thứ 3 (đoạn 05d, VSA560)

03 mốc thời gian này tạo thành 03 khoảng thời gian (kỳ), đối với mỗi kỳ, công việc và trách nhiệm của KTV về bằng chứng sự kiện phát sinh cũng thay đổi

Hình 2.1 Các kỳ trong kiểm toán các sự kiện tiếp theo

(Nguồn: Arens và cộng sự, 2014)

Trang 34

Kỳ 1: Các sự kiện phát sinh sau ngày của BCĐKT đến ngày lập BCKiT

KTV có trách nhiệm phát hiện và đánh giá tất cả các sự kiện phát sinh xảy ra giữa ngày lập BCĐKT và ngày lập báo cáo của KTV

Để phát hiện và đánh giá tất cả sự kiện phát sinh, KTV cần sử dụng 02 loại thủ tục kiểm toán là thủ tục kiểm tra số dư thông thường và thủ tục chuyên dùng để phát hiện các kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán

Loại thứ nhất thường là các thủ tục kiểm tra nhanh tại thời điểm khóa sổ và những thử nghiệm nhằm đánh giá tài sản, ví dụ như xem xét giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho hay nợ phải thu Đó là những thử nghiệm cơ bản thường được tiến hành khi kiểm toán các khoản mục trên BCTC, Bên cạnh việc cung cấp bằng chứng về sự chuẩn xác của các số liệu, các thủ tục này còn cho thấy nhiều sự kiện xảy ra sau thời điểm khóa sổ Ví dụ khi kiểm tra khả năng thu hồi nợ phải thu, KTV sẽ phải xem xét các món nợ đã được ghi trên BCTC được thu hồi thế nào sau ngày khóa sổ

Loại thứ hai bao gồm các thủ tục chuyên dùng để phát hiện những sự kiện phát sinh, cụ thể:

- “Tìm hiểu các thủ tục mà Ban Giám đốc đã thiết lập nhằm đảm bảo đã xác định được mọi sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán”

- “Phỏng vấn Ban giám đốc và Ban quản trị của đơn vị được kiểm toán (trong phạm vi phù hợp) để xác định liệu có những sự kiện đã xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán có ảnh hưởng đến BCTC hay không”

- “Đọc các biên bản cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên, Ban Giám đốc và Ban quản trị sau ngày kết thúc kỳ kế toán và phỏng vấn về các vấn đề đã được thảo luận trong cuộc họp này nhưng chưa có biên bản”

- “Xem xét BCTC giữa niên độ kỳ gần nhất kể từ sau ngày kết thúc kỳ kế toán của đơn vị”

Nếu phát hiện được những sự kiện cần điều chỉnh hoặc thuyết minh trong BCTC, KTV phải xem mỗi sự kiện này có được phản ánh trên BCTC theo khuôn

Trang 35

khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không Nếu KTV nhận thấy cần phải điều chỉnh BCTC hoặc công bố thông tin trên thuyết minh BCTC nhưng nhà quản lý không thực hiện, KTV có thể phát hành BCKiT với ý kiến ngoại trừ hoặc trái ngược

Ngoài ra KTV phải yêu cầu đơn vị cung cấp giải trình bằng văn bản theo quy định tại VSA 580 về việc đã điều chỉnh hoặc thuyết minh tất cả các sự kiện xảy ra sau ngày kế thúc kỳ kế toán mà khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng yêu cầu phải điều chỉnh hoặc thuyết minh

Kỳ 2: Những sự kiện mà KTV biết được sau ngày lập BCKiT nhưng trước ngày công bố BCTC

KTV có trách nhiệm chỉ kiểm tra các sự kiện mà họ chú ý xảy ra giữa ngày lập báo cáo của KTV và ngày khách hàng phát hành BCTC

Sau ngày ký BCKiT, có thể phát sinh những sự kiện có ảnh hưởng đến BCTC và BCKiT Tùy thời điểm xảy ra sự việc mà trách nhiệm của KTV sẽ khác nhau

Trong giai đoạn này, KTV đã hoàn thành công việc của mình nên không còn

có nhiệm vụ thực hiện bất kỳ thủ tục kiểm toán nào liên quan đến BCTC Vì thế, Giám đốc đơn vị là người có trách nhiệm thông báo cho KTV về những sự kiện xảy

ra trong giai đoạn này có thể gây ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC hoặc ý kiến của KTV Khi biết được những sự kiện này, KTV phải xem xét liệu có cần điều chỉnh BCTC hay không và thảo luận với Ban Giám đốc về vấn đề này

Kỳ 3: Những sự việc mà KTV biết được sau ngày công bố BCTC

KTV có trách nhiệm chỉ kiểm tra các sự kiện mà họ chú ý đến và tồn tại tại ngày lập báo cáo của KTV, xảy ra sau ngày khách hàng phát hành BCTC

Sau khi BCTC đã được công bố, KTV không có nghĩa vụ phải thực hiện bất

kỳ thủ tục kiểm toán nào đối với BCTC nữa Tuy nhiên sau ngày công bố BCTC, khi biết rằng nếu sự kiện đó được biết vào ngày ký BCKiT thì phải điều chỉnh

Trang 36

BCKiT, KTV sẽ xem xét liệu BCTC có cần phải phát hành lại hay không để thảo luận với Giám đốc đơn vị và phỏng vấn xem Ban Giám đốc dự định xử lý vấn đề này trên BCTC như thế nào

2.3 Các lý thuyết nền tảng

2.3.1 Lý thuyết hành động hợp lý Fishbein và Ajzen (1975)

Lý thuyết này xuất phát từ Anh được khởi xướng bởi Fishbein và Ajzen vào năm 1975, bắt nguồn từ thuyết vị lợi, là cốt lõi lý luận của kinh tế học Theo lý thuyết này, hành vi được xem là hợp lý nếu nó là được lựa chọn theo mục tiêu được định hướng, có sự đánh giá và nhất quán (qua thời gian và tình huống lựa chọn khác nhau), điều này trái ngược với hành vi ngẫu nhiên, bốc đồng, quyết định do dự

 Vận dụng vào nghiên cứu:

Trong luận văn, lý thuyết này có thể được dùng để giải thích cách thức thực hiện hợp lý trong quy trình xem xét các sự kiện phát sinh đối với nghề nghiệp kiểm toán nhằm giảm thiểu rủi ro kiểm toán có thể ở mức thấp nhất có thể chấp nhận được Việc thực hiện quy trình xem xét các sự kiện phát sinh như thế nào được các KTV suy xét kỹ càng, việc ra quyết định dựa trên việc phân tích và đánh giá các rủi

ro liên quan

2.3.2 Lý thuyết lựa chọn hợp ý của Friedman & Hechter (1988)

Lý thuyết lựa chọn hợp lý được xây dựng dựa trên một số định đề, trong đó, định đề duy lý nhấn mạnh rằng cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của

"hành động đó và khả năng thành công là lớn nhất vì bản chất con người là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thỏa mãn và lãng tránh nỗi đau Friedman & Hechter (1988) trong nghiên cứu “Đóng góp của lý thuyết lựa chọn hợp lý đến nghiên cứu

xã hội học vĩ mô" cho rằng trên thực tế các chủ thể không có nhiều sự lựa chọn và

cơ may Như vậy, bắt buộc họ phải lựa chọn sao cho phù hợp với nhu cầu hay sở thích cơ bản, cần thiết nhất và đạt đến mục đích cuối cùng Do đó, nếu chủ thể nhận thức rằng mục đích với giá trị cao nhất của họ không phù hợp với năng lực hiện tại

Trang 37

của bản thân thì họ dễ dàng lựa chọn một phương án khác phù hợp với năng lực bản thân hơn Có thể thấy, trong tiến trình đưa ra quyết định hành động thì chủ thể phải chịu tác động bởi 2 nhóm yếu tố đó là (1) sự hạn chế về năng lực (nên họ có thể không lựa chọn hành động mang lại lợi ích cao nhất mà sẽ lựa chọn hành động phù hợp với năng lực của bản thân nhất), (2) sự ràng buộc của các quy định, các nguyên tắc buộc chủ thể phải tuân theo

 Vận dụng vào nghiên cứu:

Việc thực hiện quy trình xem xét các sự kiện phát sinh chịu sự tác động bởi các yếu tố như các đặc điểm xét đoán tại ngày kết thúc kỳ kế toán, đặc điểm của bằng chứng đặc biệt và quỹ thời gian kiểm toán, hơn nữa cần tuân thủ chuẩn mực về quy trình kiểm toán này do vậy KTV có thể sẽ lựa chọn hành động phù hợp (chứ không theo đuổi mục địch có giá trị cao nhất) nếu có quá ít cơ may và nếu năng lực

cá nhân là không cao

2.3.3 Lý thuyết hành vi dự định của Aijen (1991)

Lý thuyết hành vi dự định của Aijen (1991) được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein và Ajzen (1975), giả định rằng hành vi có thể dự báo hoặc giải thích bởi xu hướng để thực hiện hành vi đó Theo đó, xu hướng hành vi bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính đó là: thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi Trong đó, yêu tố thứ nhất “thái độ” được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó Yếu tổ thứ hai “chuẩn chủ quan” là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi đó Và cuối cùng, “nhận thức kiểm soát hành vi" liên quan đến nhận thức về khả năng thực biện hành vi đó dễ hay khó và điều này phụ thuộc vào các nguồn lực và cơ hội để thực hiện hành vi

Trang 38

 Vận dụng vào nghiên cứu:

Trong luận văn này, các phản ứng không đúng chức năng có thể được dự báo bởi nhận thức hành vi kiểm soát của KTV trong điều kiện nguồn lực về thông tin liên quan đến các sự kiện phát sinh và thời gian bị giới hạn

2.4 Mô hình nghiên cứu cho luận văn

Các nghiên cứu trước Javrin và Jeffrey (2007), Chung và cộng sự (2012), Herda và Lavelle (2014), Ozdemir và Gokcen (2016), Phang (2019) đều đưa ra quy trình giúp KTV nhận diện, phát hiện và đánh giá về các sự kiện để có phản ứng phù hợp Mô hình từ các nghiên cứu trước đều chỉ ra rằng, để có thể có các thủ tục phù hợp, mô hình bao gồm 3 giai đoạn: Khám phá, Phát hiện và Đánh giá sự kiện tiếp theo, như được minh họa trong Hình 2.2 Kết quả các nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng không phát hiện các sự kiện này có thể do không tồn tại sự kiện tiếp theo hay thủ tục kiểm toán không phù hợp để phát hiện ra chúng (Asare và Wright 2003)

Hình 2.2: Mô hình tìm kiếm, phát hiện và đánh giá bằng chứng

sự kiện tiếp theo của Javrin và Jeffrey (2007)

Trang 39

Quy trình kiểm toán các sự kiện tiếp chịu tác động của 03 đặc điểm:

- Các đặc điểm xét đoán tại ngày kết thúc kỳ kế toán bao gồm 03 yếu tố: Loại nghiệp vụ, Số lượng bằng chứng cần thu thập và Sự nhất quán với kỳ vọng trước

- Các đặc điểm của bằng chứng đặc biệt bao gồm 02 yếu tố: Tính nhất quán với bằng chứng trước và Tính trọng yếu

- Đặc điểm môi trường bao gồm 02 yếu tố: Thời gian tìm kiếm và Áp lực thời gian

Kế thừa mô hình từ nghiên cứu trước, mô hình nghiên cứu của Luận văn bao gồm 03 giai đoạn:

(1) Giai đoạn tìm kiếm dựa trên 03 đặc điểm:

- Các đặc điểm xét đoán tại ngày kết thúc kỳ kế toán bao gồm 03 yếu tố: Loại nghiệp vụ, Số lượng bằng chứng cần thu thập và Sự nhất quán với kỳ vọng trước

- Các đặc điểm của bằng chứng đặc biệt bao gồm 02 yếu tố: Tính nhất quán với bằng chứng trước và Tính trọng yếu

- Đặc điểm môi trường bao gồm 02 yếu tố: Thời gian tìm kiếm và Áp lực thời gian

(2) Giai đoạn phát hiện: Liệu bằng chứng về sự kiện phát sinh có được phát hiện không?

(3) Giai đoạn đánh giá:

- Trường hợp KTV phát hiện ra bằng chứng về các sự kiện phát sinh: KTV cần xem xét rằng có cần sửa đổi BCTC hay không?

+ Nếu cần phải sửa đổi, KTV tiếp tục xác định sự kiện phát sinh này thuộc loại nào để thực hiện hành cộng công bố phù hợp (1) Những sự kiện phát sinh nhưng cung cấp bằng chứng về những sự kiện đã hiện hữu trong năm (đây là những sự kiện cần phải điều chỉnh BCTC) và (2) Các sự kiện cung cấp dấu hiệu về các sự kiện phát sinh (đây là những sự kiện không cần phải điều chỉnh nhưng cần công bố trong thuyết minh BCTC)

Trang 40

+ Nếu không cần sửa đổi BCTC, KTV cần xem xét có xác nhận xét đoán tại ngày kết thúc kỳ kế toán hay không, nếu có sẽ kết thúc tìm kiếm, nếu không

sẽ tiếp tục tìm kiếm và quay lại giai đoạn 1

- Trường hợp KTV không tìm thấy bằng chứng về các sự kiện phát sinh sau kỳ

kế toán, tương tự, KTV cần xem xét có xác nhận xét đoán tại ngày kết thúc

kỳ kế toán hay không, nếu có sẽ kết thúc tìm kiếm, nếu không sẽ tiếp tục tìm kiếm và quay lại giai đoạn 1

Trong Luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu quy trình xem xét các

sự kiện phát sinh ở 02 giai đoạn đầu, cụ thể là giai đoạn Tìm kiếm và Phát hiện vì hai giai đoạn này rất phức tạp Điều này là do nếu phát hiện các sự kiện, KTV chỉ cần tuân thủ theo quy định của chuẩn mực kế toán và kiểm toán

Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Ngày đăng: 17/05/2021, 15:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Duy Vũ, 2007. Hoàn thiện thủ tục phân tích trong tiến trình lập kế hoạch tại các Công ty kiểm toán Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Duy Vũ, 2007
6. Nguyễn Thị Minh Ý, 2015. Phân tích tài chính Công ty Cổ phần Kỹ thuật thương mại Đông Nam Á: Luận văn Thạc sĩ Tài chính ngân hàng chuyên ngành Tài chính-ngân hàng [Mã số: 60340201]. Diss. Đại học Quốc gia Hà Nội (Trường Đại học Kinh tế) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính Công ty Cổ phần Kỹ thuật thương mại Đông Nam Á
7. Nguyễn Thị Hoài Thương, 2013. Hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Tài liệu tham khảo tiếng ngước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Hoài Thương, 2013. "Hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
1. Bộ tài chính, VAS 23, Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm 2005 Khác
2. Bộ Tài chính, VSA 560, Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14 tháng 03 năm 2003 Khác
3. Đỗ Thị Mai Trâm, 2012. Hoàn thiện thủ tục phân tích để vận dụng trong kiểm toán báo cáo tài chính của các Công ty kiểm toán tại Việt Nam Khác
5. Nguyễn Đình Thọ, 2013. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh Khác
1. Al Nawaiseh, M. A. L., & Jaber, J. (2015). Auditing subsequent events from the perspective of auditors: study from Jordan. International Journal of Financial Research, 6(3), 78 Khác
2. Asare, S. K., & Wright, A. M. (2003). A note on the interdependence between hypothesis generation and information search in conducting analytical procedures. Contemporary Accounting Research, 20(2), 235-251 Khác
3. Bamber, E. M., Ramsay, R. J., & Tubbs, R. M. (1997). An examination of the descriptive validity of the belief-adjustment model and alternative attitudes to evidence in auditing. Accounting, Organizations and Society, 22(3-4), 249-268 Khác
4. Blokdijk, H., Drieenhuizen, F., Simunic, D. A., & Stein, M. T. (2003). Factors affecting auditors' assessments of planning materiality. Auditing: A Journal of Practice & Theory, 22(2), 297-307 Khác
5. Carmichael, D. R. (2004). The PCAOB and the social responsibility of the independent auditor. Accounting Horizons, 18(2), 127 Khác
6. Caster, P., & Pincus, K. V. (1996). An empirical test of Bentham's theory of the persuasiveness of evidence. Auditing, 15, 1 Khác
7. Chung, J. O., Cullinan, C. P., Frank, M., Long, J. H., Mueller-Phillips, J., &amp Khác
8. Fishbein, M. (1981). leek Ajzen (1975), Belief, Attitude, Intention, and Behavior: An Introduction to Theory and Research. Read-ing, MA: Addison- Wesley Khác
9. Friedman, D., & Hechter, M. (1988). The contribution of rational choice theory to macrosociological research. Sociological theory, 201-218 Khác
10. Herda, D. N., & Lavelle, J. J. (2014). Auditing Subsequent Events: Perspectives from the Field. Current Issues in Auditing, 8(2), A10-A24 Khác
11. Hogarth, R. M., & Einhorn, H. J. (1992). Order effects in belief updating: The belief-adjustment model. Cognitive psychology, 24(1), 1-55 Khác
12. Houghton, C. W., & Fogarty, J. A. (1991). Inherent risk. Audfting. A Journal ojfPracrice and Khác
13. Janvrin, D. J., & Jeffrey, C. G. (2007). An investigation of auditor perceptions about subsequent events and factors that influence this audit task. Accounting Horizons, 21(3), 295-312 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w