1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giai đoạn, đại dịch và hậu covid 19, phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trường hợp việt nam

67 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

33 CHƯƠNG 4: CÁC CÔNG CỤ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH KÍCH THÍCH KINH TẾ VĨ MÔ, PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ .... Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có tầm qua

Trang 1

NGUYỄN ĐĂNG TIÊN KỲ

CÁC GIAI ĐOẠN, ĐẠI DỊCH VÀ HẬU COVID-19, PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ -TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2020

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

NGUYỄN ĐĂNG TIÊN KỲ

CÁC GIAI ĐOẠN, ĐẠI DỊCH VÀ HẬU COVID-19, PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ - TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (Tài chính) Hướng đào tạo: Hướng ứng dụng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS TRẦN NGỌC THƠ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 3

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Các giai đoạn, đại

dịch và hậu Covid-19, thực thi cuả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

- Trường hợp Việt Nam” là kết quả quá trình học tập, công trình nghiên cứu

của tôi là độc lập, nghiêm túc và có sự hỗ trợ của Giảng viên hướng dẫn khoa

học là GS.TS Trần Ngọc Thơ

Các số liệu bảng, đồ thị trong luận văn được thu thập từ thực tế, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng, đáng tin cậy, khách quan, là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi sẽ chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 7 năm 2020 Tác giả,

Nguyễn Đăng Tiên Kỳ

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

TÓM TẮT

ABSTRACT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1

1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Cấu Trúc luận văn 4

CHƯƠNG 2: NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG, NGUYÊN LÝ VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KINH TẾ VĨ MÔ 5

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CƠ CHẾ, TƯƠNG TÁC, PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CÁC GIAI ĐOẠN, Ở ĐẠI DỊCH VÀ HẬU COVID-19 12

3.1 Tổng quan 12

3.1.1 Tổng quan kinh tế - tài chính thế giới 14

3.1.1.1 Kinh tế thế giới tăng trưởng ở mức vừa phải 14

3.1.1.2 Lạm phát tăng tại nhiều quốc gia 16

Trang 5

3.1.2 Tổng quan kinh tế - tài chính Việt nam 18

3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế 19

3.1.2.2 Tổng cầu 22

3.1.2.3 Chính sách kinh tế vĩ mô tại Việt Nam 23

3.2 Các giai đoạn hình thành phát triển tương tác – phối hợp, ở đại dịch và hậu Covid-19 giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 26

3.2.1 Giai đoạn 2007 - 2011 26

3.2.2 Giai đoạn 2011 - 2020 30

3.2.3 Đặc biệt diễn biến rất phức tạp ở giai đoạn đại dịch toàn cầu và hậu Covid-19 33

CHƯƠNG 4: CÁC CÔNG CỤ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH KÍCH THÍCH KINH TẾ VĨ MÔ, PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 36

4.1 Diễn biến việc điều hành các chính sách kích thích kinh tế bằng phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 36

4.1.1 Thực trạng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ từ năm 2015 39

4.1.2 Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ năm 2019 41

4.2 Những vấn đề nảy sinh chủ yếu trong thực tế của việc phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 44

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ CHO THỜI GIAN TỚI CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 46

5.1 Kết luận, đánh giá mục tiêu, chính sách kích thích kinh tế vĩ mô với các công cụ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 46

5.2 Một số đề xuất, khuyến nghị trong điều hành đối với chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 49

5.2.1 Chính sách tài khóa 49

Trang 6

tiền tệ 51 5.2.4 Tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình, nâng cao chất

lượng tăng trưởng 52 5.2.5 Chủ động hội nhập tài chính quốc tế 52 5.2.6 Chính sách việc gia nhập chuỗi cung ứng trường hợp Việt Nam

và một số chính sách khác nhằm giải quyết khó khăn ảnh hưởng bởi giai đoạn

đại dịch và hậu Covid-19 53

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

CSTK Chính sách tài khóa

CSTT Chính sách tiền tệ

Trang 8

Bảng 4.1: Dự báo tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam năm 2019 Bảng 5.1: Một số chỉ tiêu về nợ công của Việt Nam giai đoạn 2010-2017

Trang 9

Hình 3.1: Tăng trưởng kinh tế thế giới giai đoạn 2010-2018 và dự báo giai đoạn 2019-2021

Hình 3.2: Tỷ lệ lạm phát trên thế giới giai đoạn 2005-2018 và dự báo giai đoạn 2019-2020

Hình 3.3: Chỉ số giá một số nhóm hàng giai đoạn 2013-2018 và dự báo giai đoạn 2019-2020 (2013=100)

Hình 3.4: Một số chỉ tiêu về kinh tế vĩ mô giai đoạn 2009-2018

Hình 3.5: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước phân theo loại hình kinh tế bình quân giai đoạn 2011-2015 và các năm 2016-2018

Hình 3.6: Đóng góp của các khu vực kinh tế vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2018

Hình 3.7: Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) toàn phần của các tháng

2018

Hình 3.8: Đóng góp của tổng cầu vào tăng trưởng GDP giai đoạn

2012-2018

Hình 3.9: Tốc độ phát triển thu – chi ngân sách nhà nước (NSNN)

Hình 3.10: Tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP, tốc độ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng dư nợ tín dụng giai đoạn 2012-2018

Hình 3.11: Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán

2000-2011

Hình 3.12: Thu, chi và bội chi ngân sách nhà nước 2001-2011 (%/GDP) Hình 3.13: Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát 2000-2012

Hình 3.14: Tốc độ tăng trưởng GDP quý I và II năm 2020

Hình 4.1 & 4.2: Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, lạm phát & tỷ lệ tăng tổng phương tiện thanh toán Việt Nam

Hình 4.3 & 4.4: Tỷ lệ tăng thu – chi ngân sách nhà nước (NSNN) & cơ cấu thu NSNN giai đoạn 2015-2018 và dự kiến 2019 (%)

Trang 10

Hình 4.6: Diễn biến các tỷ giá điều hành của ngân hàng nhà nước năm 2019

và dự báo năm 2020

Hình 4.7: Dự trữ ngoại hối của Việt Nam qua các năm (tỷ USD)

Trang 11

Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có tầm quan trọng đối với ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam trong thời gian vừa qua, trong đại dịch và trường hợp hậu Covid-19 chịu ảnh hưởng trên các yếu tố thị trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài của nền kinh tế Việt Nam

Đối với mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có những đóng góp khác nhau vào tăng trưởng kinh tế như chúng tạo ra lạm phát và số nợ quốc gia cũng như chi tiêu đầu tư ngày càng mở rộng Kết quả này đến từ hai nguyên nhân chính: Một là bất cập trong điều hành chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; Hai là chưa có sự nhịp nhàng trong thực thi của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ - Trường hợp Việt Nam

Bài nghiên cứu này đánh giá các diễn biến của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ giai đoạn 2001 – 2019, giai đoạn đại dịch và hậu Covid-19 Từ đó tác giả đưa ra một số hàm ý chính sách thích hợp và dự báo mức độ ảnh hưởng lên nền kinh tế phải gánh chịu trong thời kỳ hậu Covid-19

Từ khóa: Covid-19 kinh tế Việt Nam và một số nước trên Thế giới; Chính sách tài khóa; Chính sách tiền tệ

Trang 12

Fiscal and monetary policies have been of great importance to Vietnam's macroeconomic stability in recent times, during pandemics and in the post-Covid case affected by domestic and export market factors Overseas exports of Vietnam's economy

For each stage of the economy's development, fiscal and monetary policies have different contributions to economic growth as they generate inflation and national debt as well as investment spending increasingly expanding This result comes from two main reasons: One is inadequacy

in operating fiscal and monetary policies; Second, there is no rhythm in the coordination between fiscal and monetary policies

This paper reviews the evolution of fiscal and monetary policy between

2001 and 2019, the pandemic and post-season Covid-19 From there, the author gives some relevant policy implications and predicts the impact on the economy that will suffer after Covid-19

Key words: Covid-19 economy of Vietnam & some countries in the world;

Monetary policy; Fiscal policy.

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Sự phát triển của Việt Nam trong hơn 20 năm qua rất đáng ghi nhận, nổi bật nền kinh tế Việt Nam đã được thúc đẩy phát triển khá tốt vào những năm đầu thập niên 2000 như đổi mới kinh tế và chính trị Một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả này là cả chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) đều được nới lỏng nhằm mục đích phục hồi và kích thích tăng trưởng nền kinh tế sau khủng hoảng tài chính khu vực giai đoạn 1997 – 1999 Từ 2002 đến 2018, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo Tỉ lệ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6% (3,2 USD/ngày theo sức mua ngang giá – PPP) Năm 2019, kinh tế Việt Nam tiếp tục cho thấy nền tảng mạnh mẽ và khả năng chống chịu cao, nhờ nhu cầu trong nước và sản xuất định hướng xuất khẩu vẫn ở mức cao Số liệu cho thấy GDP thực tăng 7.02% trong năm 2019, gần với tỉ lệ tăng trưởng năm 2018 và Việt Nam là một trong những quốc gia

có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực

Do hội nhập kinh tế sâu rộng, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19 bắt đầu diễn biến phức tạp từ đầu năm 2020 Trong khi kinh tế vĩ mô và tài khóa ổn định với mức tăng trưởng GDP ước đạt 3,8% trong quý đầu năm 2020, tác động của cuộc khủng hoảng Covid-19 đang diễn ra là khó dự đoán, tùy thuộc vào quy mô và thời gian kéo dài của dịch bệnh Tăng trưởng kinh tế năm 2020 dự báo sẽ giãm xuống 3-4% so với tỉ lệ 6,5% được dự báo tăng trước khủng hoảng Yêu cầu lên tài chính công sẽ gia tăng do thu ngân sách giảm xuống trong khi chi ngân sách tăng lên do cần khởi động gói kích cầu để giảm thiểu tác động của đại dịch đối với các hộ gia đình và doanh nghiệp Nhờ có nền tảng cơ bản tốt và nếu tình hình dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát ở Việt nam cũng như trên thế giới, kinh tế Việt Nam dự

Trang 14

báo sẽ hồi phục vào năm 2021 Trong đại dịch Covid-19 cũng cho thấy cần phải cải cách mạnh mẽ hơn trong phối hợp CSTK và CSTT để giúp kinh tế phục hồi trong trung hạn, như cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy kinh tế số, nâng cao hiệu quả đầu tư công, đây là các nội dung chính mà Việt Nam cần cân nhắc để cải cách nhanh và mạnh hơn

(Nguồn: NHTG tại Việt Nam – 27 tháng 4 năm 2020,

worldbank.org/vi/country/vietnam)

Về chất lượng tăng trưởng kinh tế, năm 2019 đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP đạt 46,11%, bình quân giai đoạn 2016-2019 đạt 44,46%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011-2015 Tốc độ tăng GDP các năm 2011-2019 lần lượt là 2011 (tăng 6,24%); 2012 (tăng 5,25%); 2013 (tăng 5,42%);

2014 (tăng 5,98%); 2015 (tăng 6,68%); 2016 (tăng 6,21%); 2017 (tăng

6,81%); 2018 (tăng 7,08%); 2019 (tăng 7,02%) (Nguồn: Tổng Cục Thống Kê) Đánh giá chung trong giai đoạn 2011-2020, trong bối cảnh

kinh tế thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, kinh tế Việt Nam đã thành công trong việc vượt qua các bất ổn và phục hồi tốc độ tăng trưởng GDP Đóng góp vào kết quả này phải kể đến vai trò của CSTK và CSTT, trong đó sự phối hợp giữa hai chính sách ngày càng được chú trọng và đạt được hiệu quả hơn Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020 cũng bị ảnh hưởng đáng kể trước bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp Bên cạnh đó, hiệu quả phối hợp giữa CSTK – CSTT cũng phụ thuộc vào năng lực phân tích dự báo tại Bộ Tài Chính

và Ngân hàng Nhà nước (NHNN), nên cần nâng cao năng lực phân tích cho các đơn vị làm công tác dự báo tại hai cơ quan này

Hậu quả tất yếu khi mở rộng cùng lúc CSTK và CSTT là lạm phát tăng vọt lên gần 23% vào năm 2008 là nguyên nhân chính để theo đuổi tham vọng tăng trưởng kinh tế cao của Chính phủ Tuy nhiên, tác giả luận văn

Trang 15

nhận thấy cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu định lượng về sự tương tác của CSTK và CSTT tác động như thế nào đến các thành quả kinh tế vĩ mô trong thời gian qua Trên thực tế, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã đưa ra hàm ý chính sách thực thi của CSTK và CSTT Qua tham khảo các nghiên cứu này đã lâu hoặc chưa cập nhật cũng như những dự báo diễn biến gần nhất của CSTK và CSTT Luận văn này vì vậy sẽ cập nhật những diễn biến mới nhất đặc biệt trong giai đoạn đại dịch cũng như hậu Covid-19 của chính sách tài khóa và chính sách tiền

tệ, đó chính là khoảng trống nghiên cứu định tính trong bài luận văn này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung phân tích các diễn biến của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cũng như sự phối hợp, dự báo kinh tế trong giai đoạn khủng hoảng bởi đại dịch Covid-19 gây ra trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam trong hai chính sách này giữa các cơ quan có liên quan, chủ yếu là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Bộ Tài Chính

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Phân tích các khuôn khố pháp lý và nghệ thuật điều hành chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cũng như sự phối hợp của các cơ quan có liên quan, chủ yếu là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Bộ Tài Chính

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ trong khuôn khổ điều hành chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cũng như sự phối hợp chính sách giữa các cơ quan có liên quan, chủ yếu là Ngân hàng Nhà nước và

Bộ Tài Chính Tác giả không đề cập đến các bộ ngành có liên quan khác như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng Cục Thuế, mặc dù những cơ quan này cũng có những liên hệ nhất định trong quá trình thực thi chính sách

Trang 16

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và các phương pháp đối chiếu, so sánh để phân tích quá trình điều hành, dự báo kinh tế trong chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ qua các giai đoạn, ở đại dịch và hậu Covid-19 cũng như sự phối hợp chính sách kích thích kinh

tế giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài Chính

1.6 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Giới thiệu chung

Chương 2: Những khái niệm chung, nguyên lý và vai trò của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong kinh tế vĩ mô

Chương 3: Phân tích cơ chế, tương tác, phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ các giai đoạn, ở đại dịch và hậu Covid-19 Chương 4: Các công cụ trong việc điều hành kích thích kinh tế vĩ mô, phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

Chương 5: Một số đề xuất, khuyến nghị cho thời gian tới của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

Trang 17

CHƯƠNG 2: NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG, NGUYÊN LÝ VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH

TIỀN TỆ TRONG KINH TẾ VĨ MÔ

Khái niệm chung:

Chính sách tài khóa: Hệ thống các chính sách của chính phủ về tài chính,

thường được hoạch định và thực hiện trọn vẹn trong một niên khóa tài chính, nhằm tác động đến các định hướng phải triển của nền kinh tế, thông qua những thay đổi trong kế hoạch chi tiêu chính phủ và chính sách thu ngân sách (chủ yếu là các khoản thu về thuế) Chính sách tài khoá có thể tạm chia thành chính sách tài khoá cân bằng, chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tài khoá thắt chặt

Chính sách tài khoá cân bằng là chính sách tài khoá mà theo đó, tổng chi tiêu

của Chính phủ cân bằng với các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác mà không phải vay nợ

Chính sách tài khoá mở rộng (hay còn gọi là chính sách tài khóa thâm hụt) là

chính sách nhằm tăng cường chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách:

(i) gia tăng mức độ chi tiêu chính phủ mà không tăng nguồn thu; hoặc

(ii) giảm nguồn thu từ thuế mà không giảm chi tiêu; hoặc

(iii) vừa gia tăng mức độ chi tiêu của chính phủ đồng thời giảm nguồn thu từ thuế

Chính sách tài khoá mở rộng có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm Tuy nhiên, chính sách tài khoá mở rộng thường dẫn đến việc Chính phủ phải vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách

Chính sách tài khoá thắt chặt (hay còn gọi là chính sách tài khóa thặng dư) là

chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách:

(i) chi tiêu của chính phủ ít đi nhưng không tăng thu; hoặc

(ii) không giảm chi tiêu nhưng tăng thu từ thuế; hoặc

(iii) vừa giảm chi tiêu vừa tăng thu từ thuế

Trang 18

Chính sách tài khoá thắt chặt được áp dụng khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nhanh và thiếu bền vững hoặc khi nền kinh tế gặp tình trạng lạm phát cao Việc này có thể làm thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó

Chính sách tiền tệ là chính sách sử dụng các công cụ của hoạt động tín dụng

và ngoại hối để ổn định tiền tệ, từ đó ổn định nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng và phát triển

Ngân hàng trung ương là cơ quan tổ chức thực hiện các chính sách tiền tệ Mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả, tăng trưởng GDP, giảm thất nghiệp

Vì chính sách tiền tệ có khả năng tác động vào thị trường tiền tệ, qua đó tác động đến tổng cầu và sản lượng nên nó trở thành một công cụ ổn định kinh tế hữu hiệu của chính phủ

Phân tích diễn biến chính sách tài khóa và tiền tệ:

Chính sách tài khóa trong kinh tế học vĩ mô là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công để tác động tới nền kinh tế Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng, nhằm ổn định và phát triển nền kinh tế Đối vối chính sách tài khóa nhà nước có thể nới lỏng là giảm thuế, tăng chi tiêu (đầu tư công) hoặc thắt chặt là tăng thuế, giảm chi tiêu tùy vào tình trạng suy thoái, lạm phát hay có hiện tượng nóng dẫn tới đỗ vỡ Theo trường phái kinh tế học John Maynard Keynes (1883-1946) có nền tảng

cơ bản về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, đề cao chính sách tài khóa thông qua công cụ chi tiêu chính phủ Các công cụ của chính sách tài khóa bao gồm công cụ về thuế, công cụ chi tiêu và công cụ tài trợ cho thâm hụt ngân sách Chính sách tài khóa linh hoạt có tác động tích cực và góp phần ổn định sản lượng trong cuộc đại suy thoái 1929-1932 Kinh tế học Keynes là hệ thống

lý luận kinh tế vĩ mô và lấy nguyên lý cầu hữu hiệu làm nền tảng; Lượng cung hàng hóa là do lượng cầu quyết định Do đó, vào những thời kỳ suy thoái kinh

tế, nếu tăng lượng cầu đầu tư hàng hóa công cộng (tăng chi tiêu công cộng), thì sản xuất và việc làm sẽ tăng theo, nhờ đó giúp cho nền kinh tế ra khỏi thời kỳ

Trang 19

suy thoái Vào năm 2007-2008 cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra nhiều nhà nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã e ngại rằng khả năng của

chính sách tài khóa như một công cụ ổn định thời kỳ (Blinder, 2004)

Chính sách tiền tệ là quá trình quản lý cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ (NHTW), hướng tới một lãi suất mong muốn để đạt được những mục đích ổn định và tăng trưởng kinh tế - như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, giảm tỷ lệ thất nghiệp hay tăng trưởng kinh tế Có hai mục tiêu trong chính sách tiền tệ không thực hiện đồng thời cùng lúc được đó là mục tiêu lãi suất để điều tiết chu kỳ kinh tế ở trạng thái bình thường hay là khi nền kinh tế quá nóng, quá lạnh thì chính sách tiền tệ nhằm vào mục tiêu trực tiếp hơn, đó là lượng cung tiền Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa (GDP – Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định trong năm Năm 2019, Việt Nam tăng trưởng kinh tế khá đạt, năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện, kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc Tốc độ tăng GDP ước đạt 6,8%, hoàn thành mục tiêu ở mức cao theo nghị quyết của Quốc Hội Quy mô GDP tăng lên khoảng 266,5 tỷ USD, bình quân đạt 2.786

USD/người (worldbank.org/vi/country/vietnam) Minh chứng trong các năm

thập niên 1970, điều hành chính sách nền kinh tế mở tập trung vai trò của chính

sách tiền tệ chủ yếu hơn chính sách tài khóa (Blanchard et al 2010) bởi vì ưu

tiên mục tiêu trong chính sách kinh tế vĩ mô đạt được trạng thái cân bằng sản lượng hơn là so với các mục tiêu khác, chính sách tiền tệ sẽ phù hợp hơn cho

ổn định của lỗ hổng sản lượng và thị trường tài chính, trong khi chính sách tài khóa thụ động chỉ để ổn định nợ

Trong mô hình phân tích kinh tế lượng, quan điểm Sims (2011) không hợp lý khi chỉ tập trung vào chính sách tiền tệ mà bỏ qua các hành vi của chính sách tài khóa Phân tích nền kinh tế trong ngắn hạn chỉ đúng với chính sách tiền tệ khi lãi suất thực tăng làm tổng cầu, lạm phát, sản lượng giảm và dài hạn có tích lũy nợ chính phủ thì sẽ phù hợp với chính sách tài khóa Nợ chính phủ cũng có

Trang 20

ảnh hưởng lên chính sách tiền tệ, qua đó điều hành trong chính sách tiền tệ các thời kỳ phát triển kinh tế chịu sự tác động của chính sách tài khóa đang là chủ động hoặc thụ động Khi nguồn thu thuế điều chỉnh đến cân bằng ngân sách chi tiêu chính phủ cho chính sách tài khóa thụ động và nếu chi tiêu chính phủ không cần đến hạn mức ngân sách là chính sách tài khóa chủ động Với sự tương tác qua lại giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có quan hệ chặt chẽ trong điều hành chính sách cần phối hợp nhằm đạt được mục tiêu

Nền kinh tế mở với việc toàn cầu hóa từ các cú sốc diễn biến trên thế giới, Gali (2008) cho thấy độ nhạy cảm của các biến vĩ mô như cấu trúc kỳ hạn lãi suất làm thay đổi sản lượng và lạm phát, ngược lại sản lượng và lạm phát thế giới tác động mức lãi suất tự nhiên Đồng thời, lãi suất thực tác động làm thay đổi tổng cầu, sản lượng và việc định giá đồng nội tệ Người dân sẽ thay đổi hành vi tiêu dùng khi tỷ giá thay đổi bằng cách chi tiêu mua sắm hàng hóa nước ngoài thay vì trong nước Điều này phản ánh tầm ảnh hướng thấp trong chính sách tiền tệ với người dân trong nền kinh tế mở cao, cú sốc giá cả hàng hóa nước ngoài làm kiểm soát lạm phát rất khó đối với NHTW Như vậy, mối quan tâm của các nhà nghiên cứu trong một nền kinh tế mở ngày càng cao thì cơ chế tương tác lẫn nhau giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đến nền kinh

tế thực

Nghiên cứu của Dixit và Lambertini (2003) đã chỉ ra rằng cơ quan quản lý ngân sách điều hành có các hành vi bất hợp tác với NHTW theo luật định vì vậy CSTT thường quá chặt trong khi CSTK mở rộng không theo đúng mong muốn CSTK mở rộng khó kiểm soát dẫn đến thâm hụt ngân sách gia tăng, Chính phủ sử dụng “nguồn in tiền” hoặc “đi vay nợ” để tài trợ thâm hụt này Việc phát hành giấy tờ có giá để vay nợ sẽ tạo ra một sự gia tăng cầu trong hiện tại và gây sức ép tăng giá, Chính phủ đi vay nợ nước ngoài bằng các đồng ngoại tệ sẽ gặp phải rủi ro lãi suất và tỷ giá khi lãi suất hay tỷ giá thay đổi theo hướng bất lợi sẽ làm tăng gánh nặng trả nợ của ngân sách quốc gia

Trang 21

Mặc dù CSTK và CSTT có sự khác biệt nhau về phạm vi điều chỉnh, cơ chế truyền tải, công cụ điều hành chính sách, nhưng phối hợp giữa các công cụ CTTK và CSTT trong kiểm soát an toàn hệ thống tài chính luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau, tác động phụ thuộc và ràng buộc lẫn nhau Cụ thể:

Tác động của CSTK đến CSTT: Nguyên lý, CSTK tác động CSTT thông qua

kênh trực tiếp hoặc gián tiếp CSTK tác động trực tiếp CSTT làm gia tăng lạm phát và gây khó khăn cho cán cân thanh toán CSTK tác động gián tiếp CSTT gây quan ngại hiệu ứng “hút cạn nguồn vốn” nếu Chính phủ vay trong nước và làm tăng lãi suất trên thị trường Điều này, tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế và làm khó khăn trong thực hiện các mục tiêu CSTT của NHTW Trường hợp Chính phủ vay nợ nước ngoài tác động cán cân thanh toán quốc tế

và chính sách tỷ giá của NHTW sẽ bị ảnh hưởng bởi kỳ vọng của nhà đầu tư về

sự thay đổi tỷ giá thị trường

Tác động của CSTT đến CSTK: (i) Nếu NHTW thực thi CSTT thắt chặt sẽ

làm giảm đầu tư dẫn đến giảm nguồn thu thuế cho ngân sách; (ii) Một chính

sách làm giảm giá đồng nội tệ sẽ làm gia tăng quy mô nợ nước ngoài của Chính

phủ; (iii) Nếu NHTW điều chỉnh tăng lãi suất sẽ làm giá trái phiếu giảm ảnh

hưởng đến khả năng cân đối ngân sách của Chính phủ

Chính các mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng đối với sự ổn định môi trường của thị trường tài chính, đòi hỏi tăng cường phối hợp giữa hai công cụ này trong kiểm soát an toàn vĩ mô nói chung cũng như thị trường tài chính nói riêng Theo Tinbergen (1952) và Theil (1964) thì Chính phủ cần điều hành CSTK và CSTT độc lập để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ổn định

và kiểm soát lạm phát ở mức vừa phải Theo mô hình Mundell – Fleming thì một nền kinh tế nhỏ, mở cửa thu hút các dòng vốn tài chính vào và ra không thể kiểm soát đồng thời tỷ giá và các công cụ CSTT khác như lãi suất và tổng

phương tiện thanh toán (Mundell, R.A., 1963; Fleming, J.M, 1962) Yêu cầu

phối hợp CSTK và CSTT được đặt ra do các công cụ riêng lẻ thường có tác

Trang 22

động đến nhiều cũng có thể tăng lạm phát nếu thâm hụt ngân sách tài trợ bởi NHTW, ngược lại CSTT thắt chặt chống lạm phát sẽ ảnh hưởng mục tiêu tăng trưởng kinh tế nếu NHTW tăng lãi suất quá cao Tinbergen (1956) và Theil (1964) chỉ ra một công cụ chính sách duy nhất là chưa đủ đạt được nhiều mục tiêu cùng lúc, mà phải có sự phối hợp các công cụ chính sách trong bất cứ điều kiện và hoàn cảnh nào Đồng tình với quan điểm này, Chadha và Nolan (2003) cũng khẳng định ngay cả khi tính bền vững CSTK không là vấn đề cấp thiết thì CSTK và CSTT vẫn cần có sự phối hợp Tuy vậy, do các CSTK và CSTT có sự độc lập tương đối nên phối hợp đạt hiệu quả thì phải đáp ứng được các điều kiện nhất định về thể chế và hoạt động Theo Lambertini và Rovelli (2004) thì

các điều kiện ngày bao gồm: (i) Các mục tiêu về chính sách tài khóa và chính

sách tiền tệ cần hướng tới phải có sự đồng thuận, muốn vậy thì các cơ quan điều hành chính sách phải đạt được các thỏa thuận chung trong từng thời kỳ;

(ii) Có cơ chế thỏa thuận và sự chia sẽ thông tin giữa các bên liên quan nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu đã đề ra của cả CSTK và CSTT; (iii) Các cơ

quan điều hành CSTK và CSTT cần phải cam kết thực thi các mục tiêu chính sách bền vững Việc đáp ứng được các điều kiện phối hợp chính sách như vậy

sẽ giúp giảm thiểu chi phí lạm phát thông qua hỗ trợ cho chính sách tiền tệ thực hiện thông suốt và ổn định Đây là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình điều hành chính sách tài khóa cà chính sách tiền tệ của Việt Nam, theo đó cần phải dựa trên cơ sở khoa học để lựa chọn chính sách nào là chủ đạo và xác định liều lượng tác động của từng công cụ trong từng thời kỳ; đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc nhất quán, đồng bộ, hỗ trợ và chia sẽ thông tin trên cơ sở lựa chọn các kỹ thuật thực hiện đảm bảo tính khoa học và thực tiễn hướng tới hiệu quả cao nhất trong công tác phối hợp giữa hai chính sách với nhau, nhất là trong việc quản lý nợ công

Về nghiên cứu học thuật có nhiều quan điểm về tương tác, phối hợp giữa hai chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Ttong thực tế còn cần các tổ chức xếp hạn tín nhiệm nổi tiếng thế giới là Moody’s, S&P và Fitch xem cách phối hợp giữa hai chính sách trên để làm cơ sở quyết định việc nâng hay hạ điểm tín

Trang 23

nhiệm quốc gia Trường hợp hạ điểm tín nhiệm thì đồng thời với lãi suất trái phiếu Chính phủ và của hệ thống NHTM khi huy động vốn trên thị trường quốc

tế cũng tăng lên, kéo theo chi phí huy động vốn của cả nền kinh tế tăng cao, ảnh hưởng phát triển kinh tế quốc gia Nghiên cứu tương tác, điều hành của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cần cụ thể trong từng giai đoạn, hoàn cảnh không gian và thời gian mới có thể đưa ra phản xạ phù hợp cũng như mục tiêu cần đạt được hiệu quả tối ưu nhất Trong các chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày diễn biến qua các giai đoạn, ở đại dịch và hậu Covid-19 của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cho việc điều hành, tương tác và phối hợp giữa hai chính sách này, trường hợp Việt Nam

Trang 24

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CƠ CHẾ, TƯƠNG TÁC, PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CÁC GIAI ĐOẠN, Ở ĐẠI DỊCH VÀ HẬU COVID-19

3.1 Tổng quan

Sự phát triển kinh tế bắt đầu khởi sắc vào năm 1986, Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp, đại bộ phận người nghèo ở Việt Nam là dân tộc thiểu số, chiếm 86% Theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2020 của Chính phủ Việt Nam tập trung vào bốn lĩnh vực ưu tiên: Phát triển bao trùm và sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân; Đầu tư vào con người và tri thức; Bền vững môi trường và năng lực ứng phó; Quản trị Luật Ngân hàng Nhà nước (1997,

bổ sung và sửa đổi 2003, 2010) và Luật Ngân sách Nhà nước (2002) đã đặt cơ

sở pháp lý chính thức cho sự phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

ở Việt Nam thông qua xây dựng mục tiêu chính sách, lập và thực hiện chính sách Các thông tư liên quan giữa Bộ Tài Chính và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hàng năm, đặc biệt “Quy chế về phối hợp công tác và trao đổi thông tin” đã được ký ngày 29/02/2012 giữa hai Bộ cũng đề cập cơ chế phối hợp trong điều hành chính sách thường xuyên Tính tất yếu của sự phối hợp giữa hai chính sách tài khóa và tiền tệ quan trọng đã được thống nhất và văn bản hóa bởi các nhà làm chính sách Các ràng buộc vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam đã trải qua thử thách khốc liệt bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn năm

2007 – 2009 và giai đoạn đình trệ sau khủng hoảng năm 2010 Có lẽ chưa bao giờ, các quyết sách về tài khóa và tiền tệ lại đối mặt yêu cầu phối hợp chặt chẽ trong thực tế như hiện nay, hiệu quả mang lại cho nền kinh tế đã đạt được kết quả là tốc độ tăng trưởng dương và không có đỗ vỡ hệ thống Tuy vậy, việc thể chế hóa các nội dung và kênh phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đòi hỏi sự thay đổi lớn về tư duy và cả nền tảng điều hành chính sách vĩ

mô Trên cơ sở đánh giá kết quả phối hợp của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, trong nghiên cứu luận văn tác giả sẽ chỉ ra các khía cạnh cần cải

Trang 25

thiện ở Việt Nam nhằm tạo nên cơ chế phối hợp hiệu quả hơn trong việc thực hiện mục tiêu ổn định nền kinh tế vĩ mô thông qua các công cụ chính sách kích thích kinh tế trong thời gian tới

Có thể nhìn thấy điều này trong giai đoạn kiềm chế lạm phát năm 2008, giai đoạn kích cầu năm 2009-2010, giai đoạn thực hiện Nghị quyết 11 tập trung ổn định vĩ mô năm 2011 làm rõ nét việc điều hành chính sách đã có sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Năm 1997, sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, CSTK và CSTT đã sử dụng khôi phục đà tăng trưởng kinh tế thông qua “chính sách kích cầu” từ 1997-2003 Việt Nam đạt tăng trưởng ở mức cao (7,7% 2004; 8,4% 2005; 8,17% 2006; 8,5% 2007) Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là những công cụ vĩ mô quan trọng trong điều hành, quản lý kinh tế của bất kỳ quốc gia nào Hai chính sách tuy có những khuôn khổ thực thi riêng song việc phối hợp hài hòa linh hoạt sẽ tạo hiệu quả rất lớn trong thực hiện các mục tiêu kinh tế nói chung và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nói riêng Theo các chuyên gia kinh tế, việc hạ lãi suất và tăng trưởng tín dụng được xem là giải pháp trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay ngân hàng Bởi khi điều hành chính sách cho lãi suất giảm, mặt bằng lãi suất cho vay giảm, từ đó góp phần hạ chi phí đẩu vào của doanh nghiệp, kết quả lợi nhuận tăng lên So với mặt bằng lãi suất cho vay trong năm

2019 có thể thấy, chi phí lãi vay của doanh nghiệp thấp hơn khá nhiều so với

kỳ trước đây (thời điểm năm 2008, 2011, 2012 lãi suất cho vay bình quân khoảng 18-20%), từ đó hỗ trợ gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Nguồn thanh khoản được NHNN cung ứng thêm đã thúc đẩy các tổ chức tín dụng (TCTD) đầu tư mạnh mẽ hơn vào các thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường trái phiếu Đối với thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP), quy mô thị trường TPCP liên tục tăng qua các năm, chiếm tỷ trọng lớn trong thị trường trái phiếu Việt Nam Phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) tăng mạnh, hỗ trợ nguồn vốn lớn cho các doanh nghiệp Tính đến tháng 6/2019, quy mô thị trường

TPDN đã tăng khoảng 10,5% GDP (Nguồn: Tạp chí Tài chính)

Trang 26

3.1.1 Tổng quan kinh tế - tài chính thế giới

3.1.1.1 Kinh tế thế giới tăng trưởng ở mức vừa phải

Kinh tế thế giới 2018 tiếp tục đà phục hồi, tuy nhiên đã xuất hiện giảm trong 6 tháng cuối năm do hoạt động thương mại, đầu tư và sản xuất toàn cầu chững lại, bối cảnh căng thẳng giữa các nền kinh tế lớn leo thang như hoạt động chiến tranh thương mại Mỹ và Trung Quốc Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tháng 07/2019, tốc độ tăng trưởng toàn cầu đạt mức 3,6% năm 2018 và dự báo chậm lại đạt 3,2% trong năm 2019 Theo Liên hợp quốc (UN) tháng 01/2019, các con

số này lần lượt là 3,1% và 3,0 % Ngân hàng thế giới (WB) tháng 06/2019 đưa

ra mức 3,0% năm 2018 và 2,6% năm 2019

Hình 3.1: Tăng trưởng kinh tế thế giới giai đoạn 2010-2018 và dự báo giai đoạn 2019- 2021

Nguồn: Ngân hàng thế giới (WB)

Tại các nền kinh tế phát triển, hầu hết các quốc gia đạt mức tăng trưởng vừa

phải trong năm 2018, một số quốc gia không còn giữ được đà tăng trưởng của cuối năm 2017 IMF (7/2019) tính toán tăng trưởng của khu vực này năm 2018 đạt mức 2,2% và dự báo giảm còn 1,9% năm 2019

Trang 27

Kinh tế Mỹ là điểm sáng trong bức tranh kinh tế tại các nền kinh tế phát triển

Các chính sách tài khóa tiếp tục khuyến khích và trợ lực cho tăng trưởng kinh

tế như thị trường lao động tiếp tục khả quan, thất nghiệp giảm, năng suất lao động và thu nhập tăng Theo IMF tăng trưởng kinh tế Mỹ đạt 2,9% năm 2018

và 2,6% năm 2019 Ngược lại, kinh tế khu vực đồng EUR năm 2018 không

giữ được đà tăng trưởng của năm 2017, giảm tốc đáng kể, thất nghiệp giảm, lạm phát tăng nhưng ở mức thấp so với kỳ vọng và mức tăng này do giá năng lượng tăng nên không bền vững do đó không trợ lực cho tăng trưởng kinh tế, bên cạnh đó xuất khẩu bị ảnh hưởng tiêu cực do đồng tiền EUR tăng giá cùng với cầu từ bên ngoài giảm IMF ước tính kinh tế khu vực EUR đạt mức tăng

trưởng 1,9% năm 2018 và dự báo đạt 1,3% năm 2019 Tại Nhật Bản, tăng

trưởng kinh tế nước này năm 2018 chậm lại do bị ảnh hưởng tiêu cực bởi điều kiện thời tiết bất lợi và thiên tai trong quý I và II, tuy nhiên thị trường lao động tăng mạnh, thất nghiệp giảm, thu nhập tăng, cùng với áp dụng các biện pháp kích thích tăng trưởng kinh tế đã giúp kinh tế nước này tiếp tục tăng trưởng Theo IMF tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật Bản đạt 0,8% năm 2018, sau đó tăng nhẹ lên 0,9% năm 2019

Tại khu vực các nước mới nổi và đang phát triển (EMDEs), các hoạt động

kinh tế trong năm 2018 gặp nhiều thách thức do thương mại toàn cầu giảm tốc, cầu nội địa ở mức vừa và các điều kiện tiếp cận tài chính thắt chặt hơn Kinh tế Argentina tụt dốc do căng thẳng trên thị trường tài chính khiến đồng nội tệ mất giá Tại Nam Phi thách thức trong ngành khai khoáng cùng với niềm tin kinh doanh thấp và sự bất ổn chính sách làm đà tăng trưởng nước này suy giảm, chỉ đạt 0,8% năm 2018 (giảm so với năm 2017 đạt mức 1,4%) Kinh tế Brazil tăng trưởng yếu đạt 1,1% năm 2018 do bị ảnh hưởng bởi bất ổn về chính sách và cuộc đình công của các tài xế xe tải giữa năm và tiếp tục chậm lại đạt 0,8% năm 2019, các điều kiện về vốn thắt chặt cùng với sự bất ổn của chính sách điều hành đã khiến Mexico chỉ tăng trưởng ở mức vừa phải Ngược lại, tại

Trung quốc nền kinh tế lớn thứ hai thế giới là một điểm sáng trong tăng trưởng

kinh tế của khu vực này mặc dù có sự giảm tốc nhưng vẫn đạt mức tăng trưởng

Trang 28

khá nhờ tiêu dùng, đầu tư tư nhân phục hồi, tuy nhiên hoạt động sản xuất và xuất khẩu có giảm sút trong bối cảnh chung các hoạt động sản xuất toàn cầu chững lại Tiêu dùng và đầu tư phục hồi đã trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế ở Ấn Độ Bên cạnh đó, kinh tế tại một số nước xuất khẩu dầu mỏ (như Kuwait, các Tiểu Vương Quốc Ả Rập,…) tiếp tục được cải thiện nhờ sự phục hồi trong sản lượng dầu khai thác Nhìn chung, theo IMF ước tính kinh tế khu vực EMDEs tăng trưởng 4,5% năm 2018 và dự báo giảm xuống còn 4,1% năm

2019

3.1.1.2 Lạm phát tăng tại nhiều quốc gia

Hình 3.2: Tỷ lệ lạm phát trên thế giới giai đoạn 2005-2018 và dự báo giai đoạn 2019-2020

Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)

Tại các nước phát triền, lạm phát 2018 cao hơn so với năm trước nhờ giá dầu nhiên liệu và khí đốt tăng (Mỹ), giá dịch vụ tăng (khu vực EUR), chính sách tài khóa nới lỏng (Nhật Bản), …

Tại các nước mới nổi và đang phát triển, lạm phát năm 2018 tăng nhờ sự phục hồi của giá hàng hóa và dịch vụ (Nga, Thái Lan), chi phí nhà ở tăng (Philipines), giá năng lượng cao và tỷ giá giảm (Ấn Độ), …

Trang 29

Tóm lại, theo IMF (07/2019) lạm phát tại các nước phát triển đạt mức 2% năm

2018 và dự báo sẽ giảm xuống 1,6% năm 2019 Đối với khu vực các nước mới nổi và đang phát triển, con số này là 4,8% cho năm 2018 và 2019

3.1.1.3 Thị trường hàng hóa

Hình 3.3: Chỉ số giá một số nhóm hàng giai đoạn 2013-2018 và dự báo giai đoạn 2019-2020 (2013=100)

Nguồn: Ngân hàng thế giới (WB)

Về diễn biến giá dầu, giá kim loại, giá lương thực, thực phẩm và nông nghiệp: giá cả hàng hóa trên thế giới trong năm 2018 bị ảnh hưởng do lo ngại về tác động của thuế quan lên thương mại và tăng trưởng toàn cầu

3.1.1.4 Chính sách kinh tế vĩ mô một số quốc gia trên thế giới

Chính sách tài khóa được điều chỉnh linh hoạt giữa các quốc gia, xuất phát từ các lý do nội tại và mục tiêu của từng quốc gia Một số quốc gia có xu hướng

tiếp tục mở rộng tài khóa: Ví dụ, tại Nhật Bản – Chính phủ đã thông qua một

khoản ngân sách bổ sung trị giá khoảng 940 tỷ Yên (tương đương 8,4 tỷ USD)

Trang 30

cho năm tài khóa 2018 nhằm thúc đẩy hoạt động và tái thiết lập khu vực bị

thiệt hại bởi mưa lớn, động đất, bão xảy ra vào đầu năm 2018 Mỹ đã thông qua

gói chi tiêu khổng lồ trị giá 855 tỷ USD và biện pháp chi tiêu ngắn hạn giúp chính phủ liên bang không đóng cửa vào ngày 30/09/2018 và tiếp tục hoạt động đến ngày 07/12/2018, theo đó gói chi tiêu cho quốc phòng là 675 tỷ USD và số còn lại của Bộ Giáo dục, Dịch vụ Nhân sinh, Y tế và Lao động Mặt khác, một

số quốc gia có xu hướng thắt chặt tài khóa như điển hình khu vực EU sau khi

giảm 50% lượng mua trái phiếu chính phủ và công ty từ mức 30 tỷ Euro/tháng xuống còn 15 tỷ Euro/tháng bắt đầu từ tháng 10/2018 và chấm dứt hoàn toàn vào cuối năm 2018

Chính sách tiền tệ phần lớn các quốc gia trên thế giới có xu hướng thắt chặt vào năm 2018 khi mà nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi (Mỹ, Anh, …) hoặc nhằm đối phó với biến động của dòng vốn, ngăn chặn đà suy giảm của đồng tiền nội

tệ và rủi ro lạm phát (Indonesia, Argentina, Mexico, Nam Phi, Ấn Độ, …) Tuy nhiên, vẫn có một số quốc gia tiếp tục nới lỏng tiền tệ nhằm hỗ trợ các mục tiêu tăng trưởng Ví dụ, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (EUB) ngày 25/10/2018

đã quyết định tiếp tục giữ nguyên lãi suất cơ bản đồng Euro ở mức thấp kỹ lục

và dự kiến giữ nguyên mức ngày đến giữa năm 2019 Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) đã cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, bơm thêm tiền vào nền kinh tế thông qua thị trường mở

3.1.2 Tổng quan kinh tế - tài chính Việt Nam

Điều kiện bên ngoài đã trở nên kém lạc quan và bất định hơn trước tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, xung đột xảy ra ở nhiều nơi, cạnh tranh giữa các nước lớn đang diễn ra gây gắt như hai nền kinh tế lớn nhất thế giới

Mỹ - Trung Quốc diễn ra chiến tranh thương mại gia tăng, chủ nghĩa bảo hộ, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn đứng vững với sự trợ giúp mạnh mẽ của sức cầu trong nước

Trang 31

Hình 3.4: Một số chỉ tiêu về kinh tế vĩ mô giai đoạn 2009-2018

Nguồn: Bộ tài chính và Tổng cục Thống kê

3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ 7,08% năm 2018, cao nhất kể từ năm

2008 đến nay, GDP bình quân giai đoạn 2016-2018 lên mức 6,69% cao hơn nhiều mức bình quân 5,89% giai đoạn 2011-2015 Với mục tiêu phát triển kinh

tế giai đoạn 2016-2020 (tốc độ tăng trưởng GDP 6,5%-7%) thì tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2019-2020 cần đạt 7,49% Năm 2018 ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ của ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản và ngành công

nghiệp và xây dựng Nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng 3,76%,

mức tăng cao nhất kể từ năm 2012 đến nay, đưa đóng góp của ngành này vào mức tăng trưởng chung là 0,56 điểm phần trăm so với mức 0,45 điểm phần

trăm năm 2017 Ngành công nghiệp và xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng 8,85%,

đã đưa mức đóng góp của ngành này vào mức tăng trưởng chung là 3,10 điểm

phần trăm từ mức 2,77 điểm phần trăm năm 2017 Ngành dịch vụ tăng trưởng

với tốc độ 7,03%, đóng góp 2,73 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung Năm 2018, sự dịch chuyển cơ cấu theo thành phần kinh tế có sự chuyển dịch rõ nét song chưa bền vững Tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế nhà nước

Trang 32

giảm đều qua các năm từ mức tăng 5,8% năm 2012 xuống mức tăng 3,6% năm

2018 Khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng trưởng với tốc độ 7,33%, mức tăng cao nhất kể từ năm 2012, tăng mạnh so với mức tăng 6,23% năm 2017 Xét theo cấu phần của kinh tế ngoài nhà nước (bao gồm kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể), khu vực kinh tế tư nhân đã vượt khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2011 đến nay, ở mức 12,56% và chiếm tỷ trọng 9,1% GDP (Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt tốc độ tăng trưởng 12,18% năm 2018) Kinh tế tư nhân đạt tốc

độ tăng trưởng 2 con số từ năm 2016 Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn được dẫn dắt bởi khu vực kinh tế cá thể chiếm tỷ trọng cao nhất là 29,24% GDP Để nền kinh tế tăng trưởng bền vững, cần đẩy mạnh việc triển khai các giải pháp thúc đẩy kinh tế cá thể chuyển sang khu vực kinh tế tư nhân đồng thời triển khai các giải pháp để đảm bảo khu vực kinh tế cá thể hoạt động bài bản, qui cũ, tăng cường năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả của hàng hóa, dịch vụ khu vực này trong chuỗi cung ứng

Hình 3.5: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước phân theo loại hình kinh tế bình quân giai đoạn 2011-2015 và các năm 2016-2018

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Trang 33

Hình 3.6: Đóng góp của các khu vực kinh tế vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2018

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Lĩnh vực sản xuất của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng vào tháng 12 năm 2018, tốc độ tăng trưởng mạnh của sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và việc làm đều tích cực Số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh đã tạo áp lực công suất cho các nhà sản xuất, các công ty phải đáp ứng khối lượng công việc tăng bằng cách tuyển thêm nhân viên tháng thứ ba liên tiếp Bên cạnh đó, sáu tháng cuối năm mức tăng chi phí đầu vào chậm lại cho giá cả đầu vào giảm trong tháng 12/2018 và là lần giảm đầu tiên của giá cả đầu vào kể từ tháng 2/2016 Những

kỳ vọng tích cực đã khuyến khích các công ty tiếp tục gia tăng hoạt động mua hàng trong tháng 12/2018 với mức độ đáng kể Cả hàng tồn kho và thành phẩm đều tăng vào cuối năm, mặc dù mức tăng là thấp hơn so với tháng 11 Theo Nikkei thời điểm cuối năm 2018, chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) từ mức

kỷ lục 56,5 điểm của tháng 11 giảm xuống 53,8 điểm trong tháng cuối năm Mặc dù giảm, PMI tháng 12/2018 vẫn tương đương mức bình quân của cả năm

và được đánh giá là tương đối khả quan so với nhiều nước trong khu vực PMI lĩnh vực sản xuất ASEAN trong tháng 12/2018 chỉ đạt 50,4 điểm và Việt Nam tiếp tục dẫn đầu về điểm số trong khu vực Có thể nói, năm 2018 là năm tốt

Ngày đăng: 17/05/2021, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w