1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch tỉnh tuyên quang

118 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh các điểm đến du lịch tại Tuyên Quang Đối tượng khảo sát: là k

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN XUÂN HƯNG

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH

ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN TRÃI

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin được cam đoan luận văn “Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch tỉnh Tuyên Quang” là đề tài của riêng tôi nghiên cứu Ngoài việc tham khảo các kết quả từ những tài liệu khác đã được ghi trích dẫn trong luận văn, các nội dung được trình bày trong luận văn này là do bản thân tôi thực hiện Các số liệu trong luận văn này do chính tôi đi điều tra thực tế từ các đơn vị trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang một cách rõ ràng, tin cậy và xử lý một cách khách quan, chính xác, trung thực Kết quả được trình bày trong luận văn này được nghiên cứu một cách trung thực, không sao chép của bất kỳ kết quả nghiên cứu nào và cũng chưa được phổ biến hay trình bày ở bất cứ kết quả nghiên cứu nào trước đây

Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2020

Tác giả

TRẦN XUÂN HƯNG

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH ẢNH

TÓM TẮT

ABRTRACT

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5

2.1 Các khái niệm nghiên cứu liên quan 5

2.1.1 Khái niệm du lịch 5

2.1.2 Khái niệm về ngành du lịch 7

2.1.3 Khái niệm về khách du lịch 7

2.1.4 Khái niệm về sản phẩm du lịch 8

2.2 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 9

2.2.1 Khái niệm về điểm đến du lịch 10

2.2.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh điểm đến 10

2.2.3 Các yếu tố thu hút nguồn lực du lịch 11

2.2.4 Các tác động của phát triển du lịch 13

2.3 Các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước 18

Trang 5

2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất luận văn 22

TÓM TẮT CHƯƠNG II 24

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 25

3.1 Quy trình khung nghiên cứu 25

3.2 Các kỹ thuật nghiên cứu định lượng 27

3.2.1 Kỹ thuật cronbach alpha 27

3.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 28

3.3 Thiết kế mẫu 30

3.3.1 Thiết kế thang đo 30

3.3.2 Chọn mẫu 33

3.3.3 Công cụ thu thập thông tin- bảng hỏi 34

3.3.4 Quá trình thu thập thông tin 35

TÓM TẮT CHƯƠNG III 35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

4.1 Giới thiệu sơ lược về du lịch tỉnh Tuyên Quang 36

4.2 Kết quả phân tích độ tin cậy thang đo 38

4.3 Phân tích EFA 42

4.3.1 Phân tích EFA cho biến độc lập 42

4.3.2 Phân tích EFA cho biến phụ thuộc 47

4.4 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu mô hình 49

4.5 Kiểm định sự khác biệt thông qua Kiểm định T-test, ANOVA 57

4.5.1 Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm giới tính 57

4.5.2 Kết quả kiểm định ANOVA các yếu tố giữa các nhóm nghề nghiệp 58

4.5.3 Kết quả kiểm định ANOVA các yếu tố giữa các nhóm tuổi 59

4.5.4 Kết quả kiểm định ANOVA các yếu tố giữa các nhóm số lần tham quan 61

TÓM TẮT CHƯƠNG IV 62

Trang 6

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý 62

5.1 Kết luận 63 5.2 Hàm ý 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thang đo chính thức dành cho nghiên cứu 30

Bảng 4.1 Tóm tắt thông tin mẫu nghiên cứu 38

Bảng 4.2 Tóm tắt độ tin cậy thang đo 39

Bảng 4.3.Tổng hợp kết quả EFA các biến độc lập 43

Bảng 4.4 Ma trận xoay nhân tố lần đầu 44

Bảng 4.5 Ma trận xoay nhân tố lần cuối 46

Bảng 4.7 Các thông số phân tích efa cho biến phụ thuộc 48

Bảng 4.8 Tổng phương sai trích cho biến phụ thuộc 48

Bảng 4.9 Ma trận xoay nhân tố cho biến phụ thuộc 49

Bảng 4.10 Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 51

Bảng 4.11: Model summaryb 51

Bảng 4.12: ANOVAa 51

Bảng 4.13: Kết quả hồi quy 51

Bảng 4.14 các giá trị thống kê kiểm định T-test cho biến giới tính 57

Bảng 4.15 Kiểm định T-test về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp giữa các nhóm giới tính 57

Bảng 4.16 Kiểm định phương sai các nhóm nghề nghiệp 58

Bảng 4.17 Kiểm định ANOVA giữa các nhóm nghề nghiệp 59

Bảng 4.18 Kiểm định phương sai các nhóm tuổi 59

Bảng 4.19 Kiểm định ANOVA giữa các nhóm tuổi 60

Bảng 4.20 Phân tích Sâu ANOVA cho các nhóm tuổi 60

Bảng 4.21 Kiểm định phương sai các nhóm số lần tham quan 61

Bảng 4.22 Kiểm định ANOVA giữa các nhóm số lần tham quan 61

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Cấu trúc mô hình cạnh tranh điểm đến từ các bên có liên quan Craigwell 19

Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Dwyer & Kim 20

Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh du lịch điểm đến Nguyễn Thành Long 21

1 Hình 2.4: Các yếu tố quyết định mô hình cạnh tranh điểm đến Trần Thị Thu Hiền 222

Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 23

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu luận án 26

Hình 4.1: Sơ đồ phân phối phần dư chuẩn hóa 53

Hình 4.2 Biểu đồ P-Plot phần dư chuẩn hóa 54

Hình 4.3 biểu đồ thể hiện mối liên hệ tuyến tính giữa phần dư chuẩn hóa và giá trị 55

Trang 9

TÓM TẮT

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch ngày nay đang phát triển nhanh chóng tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Du lịch đang có chiều hướng phát triển mạnh của ngành du lịch Việt Nam Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, tạo sự thu hút của cộng đồng và nâng cao trách nhiệm của cộng đồng với thế giới

tự nhiên Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn thiên nhiên và văn hóa cộng đồng, phát triển

du lịch sinh thái đã và đang mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập cho quốc gia và địa phương, nhất là người dân vùng sâu vùng

xa, nơi có các khu bảo tồn thiên nhiên và các cảnh quan hấp dẫn cùng với xu hướng phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước trong thời kỳ đổi mới

Tuyên Quang là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi Phía bắc giáp tỉnh

Hà Giang, phía nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn và Thái Nguyên, phía tây giáp các tỉnh Yên Bái và Phú Thọ

Nhờ phát triển du lịch nên đời sống đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã được cải thiện rõ rệt và từng bước đem lại đem lại thu nhập ổn định cho dười dân Chỉ tính riêng trong năm 2019 khu du lịch lịch tỉnh Tuyên Quang đã đón gần 1,6 triệu lượt khách trong và ngoài nước Xuất phát từ đó em lựa chọn nghiên cứu và thực hiện đề tài:

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Tỉnh Tuyên Quang để làm luận văn thạc sỹ

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Tuyên Quang

Đo lường mức độ ảnh hưởng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch tỉnh Tuyên

Quang

Trang 10

Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh các điểm đến du lịch tỉnh Tuyên Quang

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:

- Nghiên cứu định tính: Tham khảo cơ sở lý thuyết để có được mô hình nghiên cứu và thang đo hoàn chỉnh cho việc khảo sát và thu thập dữ liệu định lượng

- Nghiên cứu định lượng: Các kỹ thuật định lượng từ phần mềm SPSS như cronbach alpha, EFA, tương quan, hồi quy tuyến tính bội và kiểm định T-Test, ANOVA

4 Kết quả nghiên cứu

Bài nghiên cứu thực hiện khảo sát 300 mẫu, trong đó thu về 273 bảng khảo sát, trong số 273 bảng khảo sát thu về có 25 bảng hỏi bị lỗi và số bảng câu hỏi chính thức được đưa vào để phân tích định lượng chính thức là 248 quan sát Trong số 248 quan sát, thông qua kiểm định độ tin cậy thang đo cho các khái niệm nghiên cứu của luận văn Kết quả phân tích độ tin cậy thang đo thông qua hệ số cronbach alpha và hệ số tương quan biến tổng của các thang đo cho thấy thang đo của 7 khái niệm đều đạt yêu cầu Sau khi phân tích EFA cho biến phụ thuộc và biến độc lập, có 32 biến quan sát được đưa vào phân tích EFA, kết quả có 3 biến quan sát vi phạm hệ số tải nhân tố và bị loại khỏi quá trình phân tích EFA Thông qua kiểm định gải thuyết nghiên cứu ở độ tin

cậy 95%, xác định được 6 yếu tố tác động lên năng lực cạnh tranh điểm đến

5 Kết luận và hàm ý

Hàng năm đều tổ chức các đoàn xúc tiến du lịch với các địa phương trong nước, nhất là các địa phương có Du lịch phát triển mạnh, tiến tới xúc tiến du lịch ngoài nước khi có điều kiện; thường xuyên liên hệ chặt chẽ với Hiệp hội du lịch khu vực bắc bộ để tranh thủ sự hỗ trợ liên kết phát triển du lịch khu vực đã phối hợp với Hiệp hội Du lịch

vùng tổ chức thành công Hội thảo quảng bá - xúc tiến - đầu tư du lịch tỉnh Tuyên Quang

Trang 11

6 Từ khóa: Du lịch, cạnh tranh điểm đến, năng lực cạnh tranh điểm đến, Yếu

tố ảnh hưởng cạnh tranh du lịch, Tuyên Quang

Trang 12

ABSTRACT

1 Reason to choose a Topic

Tourism today is growing rapidly in many countries around the world, including Vietnam Ecotourism is tending to develop strongly in Vietnam's tourism industry Ecotourism is a form of tourism based on nature and indigenous culture, creating community attraction and enhancing the community's responsibility to the natural world In addition to contributing to the conservation of nature and community culture, ecotourism development has been bringing tremendous economic benefits, creating job opportunities and raising incomes for the country and the locality Especially people in remote areas, where there are nature reserves and attractive landscapes together with the general socio-economic development trend of the country during the renovation period

Tuyen Quang is a province in the midlands and mountains It borders Ha Giang province to the north, Vinh Phuc province to the south, Cao Bang, Bac Kan and Thai Nguyen provinces to the east, Yen Bai and Phu Tho provinces to the west

Thanks to tourism development, the lives of ethnic minorities in the province have improved markedly and gradually brought stable income for people In 2019 alone, Tuyen Quang tourism area has welcomed nearly 1.6 million domestic and

foreign visitors From that point, I chose to research and implement the topic: Studying

factors affecting competitiveness of tourism destinations in Tuyen Quang Province to do a master's thesis

2 Research aims

Identify factors affecting competitiveness of Tuyen Quang tourism destination Measure the influence of competitiveness of tourism destinations in Tuyen Quang province

Proposing solutions to improve the competitiveness of Tuyen Quang tourism destinations

Trang 13

3 Research method

Research projects using qualitative and quantitative research methods:

Qualitative research: Refer to the theoretical basis for a complete research model and scale for quantitative survey and data collection

Quantitative research: Quantitative techniques from SPSS software such as cronbach alpha, EFA, correlation, multiple linear regression and T-Test, ANOVA tests

4 Research results

The study carried out a survey of 300 samples, of which 273 questionnaires were collected, of which 273 questionnaires collected had 25 questionnaire errors and the number of official questionnaires were included for official quantitative analysis is

248 observations Of the 284 observations, passed the reliability test of the scale for the research concepts of the thesis The results of the reliability analysis of the scales through cronbach's alpha coefficient and the correlation coefficient of the total variables of the scales show that the scales of 7 concepts are satisfactory After EFA analysis for dependent and independent variables, 32 observed variables were included

in the EFA analysis, resulting in three observed variables that violated factor load factors and were excluded from the EFA analysis process Through testing the research hypothesis at the 95% confidence level, six factors affecting competitiveness are identified.lt

5 Conclusions and Implication

Every year, organize tourism promotion delegations with localities in the country, especially localities with strong tourism development, to promote tourism abroad when possible; regularly closely contact with the Northern Regional Tourism Association to enlist the support of regional tourism development cooperation in coordination with the Regional Tourism Association to successfully organize a promotion - promotion - tourism investment in Tuyen Quang province

Trang 14

6 Keyword: Tourism, destination competition, destination competitiveness,

Factors affecting tourism competition, Tuyen Quang

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Du lịch là một trong những nhu cầu tất yếu của con người từ thời cổ đại đến nay Trên phạm vi toàn cầu, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội với tốc độ phát triển ngày càng nhanh Đồng thời du lịch là hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người, có lợi thế cho việc giải tỏa mệt mỏi, kéo dài tuổi thọ và là hoạt động góp nhặt tri thức để thúc đẩy mở mang trí tuệ Hiện nay du lịch là một trong những ngành dịch vụ lớn trên thế giới, hoạt động du lịch đã mang lại nguồn thu lớn trong tổng giá trị sản phẩm thu nhập của toàn cầu và giải quyết việc làm cho lao động đáng kể Nhiều nước trong khu vực đã coi du lịch như một ngành kinh tế mũi nhọn, là hướng chủ yếu trong chiến lược khai thác tiềm năng, tạo việc làm, mở rộng giao lưu để phát triển kinh tế - xã hội

Là một đất nước ở vùng nhiệt đới có nhiều cảnh quan và hệ sinh thái điển hình, có hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, với nền văn hóa đa dạng giàu bản sắc dân tộc, Việt Nam có tiềm năng tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú và đặc sắc bao gồm tài nguyên du lịch nhân văn, tài nguyên du lịch tự nhiên trong đó nhiều tài nguyên đặc biệt

có giá trị Đây là tiền đề quan trọng để phát triển du lịch ở nước ta (Vũ Tuấn Cảnh, 1997)

Sự phát triển nhanh và mạnh của ngành công nghiệp không khói trong những năm vừa qua đã và đang mang lại nguồn thu quan trọng cho các nền kinh tế Hơn nữa, với tiềm năng hết sức to lớn của mình, du lịch ngày càng được xem là một trong những ngành kinh tế lớn Tuy nhiên, cũng nhờ các ngành kinh tế khác phát triển của ngành du lịch ngày càng nhận được sự quan tâm hơn và được đặt trong bối cảnh của sự phát triển hướng tới tính bền vững

Du lịch ngày nay đang phát triển nhanh chóng tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Du lịch sinh thái đang có chiều hướng phát triển mạnh của ngành

du lịch Việt Nam Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, tạo sự thu hút của cộng đồng và nâng cao trách nhiệm của cộng đồng với thế giới tự nhiên Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn thiên nhiên và văn hóa cộng đồng, phát

Trang 16

triển du lịch sinh thái đã và đang mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập cho quốc gia và địa phương, nhất là người dân vùng sâu vùng xa, nơi có các khu bảo tồn thiên nhiên và các cảnh quan hấp dẫn cùng với xu hướng phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước trong thời kỳ đổi mới

Tuyên Quang là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi Phía bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn và Thái Nguyên, phía tây giáp các tỉnh Yên Bái và Phú Thọ

Tuyên Quang được biết đến là những điểm du lịch văn hóa lịch sử nổi tiếng của tỉnh, nhưng năm gần đây, tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành quy hoạch tổng thể 3 khu du lịch: Khu du lịch, lịch sử, văn hóa và sinh thái quốc gia Tân Trào; khu du lịch suối khoánh Mỹ Lâm; khu du lịch sinh thái Na Hang Qua đó, mở ra những điều kiện mới để tiếp tục thực hiện đa rạng hóa các sản phẩm du lịch của các địa phương trong tỉnh Đặc biệt là khu du lịch, lịch sử văn hóa và sinh thái Tân trào đã được quan tâm đầu tư, tôn tạo, qua đó tăng sức hấp dẫn đối với du khách thập phương Với quy mô 3100 ha, khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào có tổng 177 di tích, trong đó có 40 di tích đã được Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp bằng công nhận di tích lịch sử Quốc gia; 30 di tích được cấp bằng di tích lịch sử cấp tỉnh Nhờ phát triển du lịch nên đời sống đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã được cải thiện rõ rệt và từng bước đem lại đem lại thu nhập ổn định cho dười dân Chỉ tính riêng trong năm 2019 khu du lịch lịch tỉnh Tuyên Quang đã đón gần 1,6 triệu lượt khách trong và ngoài nước Xuất phát từ đó em lựa chọn nghiên cứu và thực

hiện đề tài: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Tỉnh Tuyên Quang để làm luận văn thạc sỹ

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của

điểm đến du lịch Tuyên quang, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các điểm đến

Mục tiêu cụ thể:

Mục tiêu 1: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh điểm đến du

lịch Tuyên Quang

Trang 17

Mục tiêu 2: Đo lường mức độ ảnh hưởng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch tỉnh Tuyên Quang

Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh các điểm đến du lịch tỉnh Tuyên Quang

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

(i) Thực trạng điểm đến du lịch Tuyên Quang so với các điểm đến du lịch khác ở vùng bắc bộ, điểm đến du lịch Tuyên Quang có những lợi thế/bất lợi gì trong cạnh tranh?

(ii) Những yếu tố nào có tác động đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Tuyên Quang?

(iii) Làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh các điểm đến du lịch Tuyên Quang?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh các điểm đến

du lịch tại Tuyên Quang

Đối tượng khảo sát: là khách du lịch có đến tham quan tại Tuyên Quang (nguyên cứu định lượng), và một số quản lý, nhà nghiên cứu am hiểu về du lịch (nghiên cứu định tính)

Phạm vi nghiên cứu:

Về mặt thời gian: Số liệu thứ cấp phản ánh năng lực cạnh tranh của các điểm đến trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2018 và số liệu khảo sát khách du lịch trong năm 2020

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:

- Nghiên cứu định tính: Thực hiện tìm hiểu các nhân tố có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh điểm đến, để đề xuất mô hình nghiên cứu và thang đo hoàn chỉnh cho việc khảo sát và thu thập dữ liệu định lượng

- Nghiên cứu định lượng: Các kỹ thuật định lượng từ phần mềm SPSS như cronbach alpha, EFA, tương quan, hồi quy tuyến tính bội và kiểm định T-Test, ANOVA

Trang 18

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả nêu lý do lựa chọn đề tài, các mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu

Trang 19

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Các khái niệm nghiên cứu liên quan

2.1.1 Khái niệm du lịch

Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Ngay trong thời kỳ cổ đại, các nền văn hóa lớn như Ai Cập, Hy Lạp đã xuất hiện hình thức đi du lịch tuy đó chỉ là hoạt động mang tính tự phát các cuộc hành hương về các thánh địa, đất thánh, đền chùa, các nhà thờ Kito giáo, các cuộc du ngoạn của các vua chúa và quý tộc… Đến thế kỷ XVII, thời kỳ Phục Hưng ở các nước Châu Âu, kinh tế-xã hội phát triển, các lĩnh vực như thông tin, giao thông vận tải theo đó phát triển nhanh chóng, điều đó càng thúc đẩy du lịch phát triển mạnh mẽ Đến thời kỳ hiện đại cùng với

sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, sự ra đời của các phương tiện giao thông mới, du lịch có điều kiện để phát triển mạnh, con người có thể đi từ nơi này đến nơi khác trong thời gian ngắn Sống trong không gian “bê tông”, “máy tính”, tác phong công nghiệp đã quá mệt mỏi, con người nảy sinh nhu cầu trở về với thiên nhiên, về với cội nguồn văn hóa dân tộc hay chỉ đơn giản là để nghỉ ngơi sau những ngày lao động mệt nhọc

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giản, cũng như mục đích hành nghề

và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư” Như vậy, định nghĩa về du lịch của WTO đã đề cập một cách rõ ràng, cụ thể và chi tiết về các mục đích du lịch, cũng như khoảng thời gian, không gian liên quan đến du lịch Tuy nhiên định nghĩa này chưa đề cập đến đối tượng cấu thành du lịch

Theo Hội nghị Liên hợp Quốc tế về Du Lịch ở Roma, Italia (1963): “Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ, hiện tượng, các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” Định nghĩa này đã

Trang 20

bổ sung cho cách tiếp cận của WTO về đối tượng cấu thành du lịch, tuy nhiên nó lại trình bày khá tổng quát về mục đích, cũng như không đề cập đến thời gian du lịch của du khách

Trong khi đó, theo Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada tháng 6 năm 1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các

tổ chức du lịch quy định trước, với mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” Định nghĩa về du lịch này khá tổng quát về không gian, thời gian và mục đích du lịch của du khách Việc phát triển khái niệm này đã bổ sung những thiếu sót và hạn chế từ các định nghĩa trên Đây chính là nền tảng quan trọng giúp định hướng trong tiếp cận các khía cạnh khác nhau của du lịch trong nghiên cứu này Ngoài các tổ chức thế giới đưa ra các khái niệm về du lịch, một số cá nhân cũng đưa ra quan điểm của mình về du lịch:

- Nghiên cứu của Hunziker & Kraft cho rằng: “Du lịch là tổng hợp các mối quan

hệ và hiện tượng bắt nguồn từ việc đi lại và lưu trú tạm thời của con người Nơi họ lưu lại không phải là nơi ở thường xuyên hoặc là nơi làm việc để kiếm tiền”

- Trong quá trình hoạt động du lịch, thực tế chỉ ra rằng ngoài tiếp cận môi trường, phải có tiếp cận cộng đồng mới đảm bảo cho một sự phát triển lâu dài Theo các tác giả

Goeldner, Ritchie và McIntosh (2000, trang 20) thì du lịch là: “Tổng hòa các hiện tượng

và mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa du khách, nhà cung ứng, chính quyền

và cộng đồng dân cư trong quá trình thu hút đón tiếp khách du lịch”

- Theo Nhẫn Trần (1996): “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được cảm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền”

- Nguyễn Khắc Viện (1994): “Du lịch là mở rộng không gian văn hóa của con

người” Ở Việt Nam, định nghĩa về du lịch được ban hành trong Pháp lệnh Du lịch và

Luật Du lịch Việt Nam:

Trang 21

2.1.2 Khái niệm về ngành du lịch

Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến và là một nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống của một bộ phận lớn dân cư Xét về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng Ở một số Quốc gia còn xếp du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội

Sự phát triển của ngành không ngoài mục đích tạo thêm nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động ngoại thương và các ngành kinh tế khác, cũng như góp phần tạo thêm nhiều cơ hội để giải quyết việc làm Xét trên phạm vi toàn thế giới, du lịch là một ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất Hằng năm, WTO đều tổ chức nghiên cứu

và đo lường chính xác sự tác động của ngành du lịch vào nền kinh tế toàn cầu để thấy được vai trò, vị trí của nó trong nền kinh tế thế giới Du lịch đã trở thành ngành kinh tế đứng thứ tư, chỉ sau các ngành: Công nghệ thông tin–truyền thông, công nghiệp dầu khí

và công nghiệp chế tạo xe hơi

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1996): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn – có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch

vụ tại chỗ

Những quan niệm trên mới chỉ nhận thức về ngành du lịch một cách tổng quát Để định hướng đúng cho sự phát triển của ngành du lịch, không thể chỉ dựa vào cái nhìn tổng thể bên ngoài như vậy Do đó, việc xác định được thành phần, cách thức hoạt động và phát triển của ngành du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng:

- Ngành du lịch là ngành cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch tiến hành các hoạt động lữ hành, du ngoạn, tham quan nhằm mục đích thu phí

2.1.3 Khái niệm về khách du lịch

Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở tin cậy cần tìm hiểu và phân tích một

số định nghĩa về “khách du lịch” được đưa ra từ các Hội nghị quốc tế về du lịch hay của

Trang 22

các tổ chức quốc tế có quan tâm đến các vấn đề về du lịch Sau đây là một số định nghĩa

về khách du lịch:

Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia (League of Nations) về khách du lịch nước ngoài (1937): “Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h”

Định nghĩa về khách du lịch có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội nghị Roma

do Liên hợp quốc tổ chức (1963): “Khách du lịch quốc tế là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24h hay hơn”

Định nghĩa của hội nghị quốc tế về Du lịch tại Hà Lan (1989): “Khách du lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian ít hơn 3 tháng, những người khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình”

Theo Trần Ngọc Nam, Hoàng Anh (2009): “Khách du lịch là khách thăm viếng có lưu trú tại một quốc gia hoặc một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với mục đích nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao”

2.1.4 Khái niệm về sản phẩm du lịch

Trong hoạt động kinh doanh du lịch, nếu khách du lịch đóng vai trò trung tâm của hoạt động thì sản phẩm du lịch đóng vai trò then chốt Sản phẩm du lịch được xem là cầu nối của nhà cung cấp với khách hàng, góp phần mang lại giá trị cho du khách và lợi ích cho doanh nghiệp Cho đến nay, sản phẩm du lịch cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

Theo Kotler và Turner (1981): Một sản phẩm là tất cả những gì có thể cung cấp cho sự chiếm hữu, sử dụng hoặc tiêu thụ của thị trường, bao gồm những vật thể, những khoa học, những nhân vật, những nơi chốn, những tổ chức và những ý tưởng” Du lịch được hiểu là một ngành dịch vụ, do vậy ngành này cũng có những sản phẩm của riêng mình và luôn tìm cách đưa ra các sản phẩm du lịch độc đáo Sản phẩm du lịch là tổng thể

Trang 23

các yếu tố có thể trông thấy được hoặc không trông thấy được nhưng lại làm thỏa mãn nhu cầu của du khách về tham quan, thưởng ngoạn, vui chơi, giải trí…

Theo định nghĩa của Tổng cục du lịch Việt Nam: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch

Theo Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2004): Sản phẩm du lịch là các dịch

vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: Cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó

Theo Luật Du lịch Việt Nam - công bố ngày 27/6/2005 trong Chương I - Điều 10 chỉ rõ: (1) Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết thỏa mãn nhu cầu của khách

du lịch trong chuyến đi du lịch; (2) Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch

vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

Như vậy, sản phẩm du lịch là một tổng thể phức tạp bao gồm nhiều thành phần không đồng nhất cấu tạo thành, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch Sản phẩm du lịch bao gồm các sản phẩm hữu hình, tồn tại ở dạng vật thể như: đồ lưu niệm, các món ăn, đồ uống…và sản phẩm vô hình, tồn tại ở dạng phi vật thể và chỉ có thể biết được thông qua cảm nhận của khách du lịch

2.2 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

Ngày nay hai chữ “cạnh tranh” đã trở thành thuật ngữ phổ biến trong nhiều thập

kỷ qua Việc đo lường năng lực cạnh tranh đã được thảo luận rộng rãi trong nhiều ngành như khoa học chính trị, khoa học quản lý, kinh tế học Năng lực cạnh tranh được xem như

là một yếu tố quan trọng tạo ra sự thịnh vượng quốc gia, vì nó giúp cải thiện mức sống và thu nhập thực tế thông qua cung cấp hàng hóa và dịch vụ với một số lợi thế so sánh (Crouch và Ritchie, 1999)

Do sự tăng trưởng thương mại giữa các nước ngày càng cao, nên (Michael Porter, 1990) đã đề xuất một số mô hình phân tích mới để xác định lợi thế cạnh tranh, nhằm tạo

ra một bước đột phá trong lý thuyết thương mại quốc tế Mô hình kim cương của Porter

Trang 24

giải thích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo ba nội dung chính, đó là môi trường cạnh tranh toàn cầu, chiến lược cạnh tranh và cơ cấu tổ chức Mô hình của Porter có thể

dễ dàng hiểu được và áp dụng được về năng lực cạnh tranh và duy trì ổn định cho doanh nghiệp

2.2.1 Khái niệm về điểm đến du lịch

Có khá nhiều cách hiểu khác nhau về điểm đến du lịch, song về cơ bản, điểm đến

du lịch được hiểu là một vùng địa lý được xác định cụ thể trong đó khách du lịch tận hưởng các loại trải nghiệm du lịch khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của chuyến đi của du khách

Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) (1993) đưa ra khái niệm: “Điểm đến du lịch là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất là một đêm Nó bao gồm các sản phẩm

du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường Các điểm đến du lịch địa phương thường bao gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn”

Theo Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch (2000): Điểm đến du lịch (Tourism Destination) là một khái niệm rất rộng trong hoạt động kinh doanh du lịch, là nơi có sức hấp dẫn và có sức thu hút khách du lịch Điểm đến du lịch dựa vào tài nguyên du lịch

2.2.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh điểm đến

(Ritchie &Crouch, 2000, trang 306) cho rằng năng lực cạnh tranh là “khả năng tạo

ra giá trị gia tăng và nhờ đó cải thiện sự thịnh vượng của quốc gia và phát triển kinh tế xã hội

Năng lực cạnh tranh thường kết hợp khái niệm quy hoạch tiếp thị và chiến lược phát triển cạnh tranh (Buhalis, 2000) Pearce (1997) đã mô tả năng lực cạnh tranh của điểm đến là kỹ thuật, phương pháp và phân tích đánh giá điểm đến một cách có hệ thống

để so sánh các thuộc tính cạnh tranh điểm đến trong phạm vi quy hoạch Sự đánh giá và

so sánh có hệ thống các thành phần du lịch giữa các đối thủ cạnh tranh để nhận thức rõ hơn về lợi thế cạnh tranh nhằm đưa ra các chính sách phát triển có hiệu quả

Trang 25

Mô hình năng lực cạnh tranh điểm đến được đề xuất bởi Crouch và Ritchie (1999) chỉ ra rằng cần phải hiểu được mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau giữa các lực lượng của năng lực cạnh tranh Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất cần phân tích có hệ thống về lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh điểm đến

Theo Crouch và Ritchie (1999, trang 143), lợi thế so sánh tạo ra nguồn lực du lịch sẵn có tại điểm đến, trong khi lợi thế cạnh tranh là khả năng sử dụng nguồn lực đó có hiệu quả trong thời gian dài ở tại điểm đến Những yếu tố chính hấp dẫn tại điểm đến là cần thiết để tạo ra lợi thế so sánh và cạnh tranh và có thể là các nhân tố chính cho chuyến

du lịch của du khách Những yếu tố này là nguồn lực cơ bản tạo động lực cho sự lựa chọn điểm đến của du khách, cũng như là các yếu tố mà người quy hoạch và người phát triển

du lịch cần xem xét để nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến Bên cạnh đó, mô hình cũng giải thích các yếu tố và nguồn lực hỗ trợ dưới dạng hiệu quả thứ cấp của năng lực cạnh tranh điểm đến như cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận, nguồn lực thuận lợi là quan trọng cho sự thành công về kinh doanh điểm đến

Nhiều nghiên cứu đã giới thiệu và áp dụng khái niệm cạnh tranh điểm đến du lịch (Ahmed &Krohn, 1990) Mối quan tâm chính của các nghiên cứu này là xem xét tính cạnh tranh điểm đến có được duy trì và phát triển như các đối thủ cạnh tranh khác Bên cạnh đó, các yếu tố môi trường, tài nguyên thiên nhiên, văn hóa đa dạng, di tích lịch sử…

có thể ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của điểm đến (Hassan, 2000) Để phát triển và quảng bá điểm đến du lịch thì cần tạo ra những nguồn lực du lịch có giá trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến

2.2.3 Các yếu tố thu hút nguồn lực du lịch

Các điểm đến du lịch thường cung cấp các sản phẩm dịch vụ để phát triển du lịch,

và thường được xem là các yếu tố thu hút nguồn lực du lịch Leiper (1995) nói rằng điểm đến là các địa điểm mà người ta đến để du lịch và là nơi du khách nghỉ trong một khoảng thời gian để trải nghiệm du lịch, tuy nhiên còn phụ thuộc vào các yếu tố thu hút khách tại điểm đến Hu và Ritchie (1993) cũng đã nói rằng “điểm đến du lịch phản ánh cảm xúc, niềm tin, và lựa chọn mà du khách có thể thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi”

Do đó, những yếu tố thu hút nguồn lực du lịch được xem là các yếu tố cung của du

Trang 26

lịch và là động lực thúc đẩy tạo ra nhu cầu du lịch (Uysal, 1998), đồng thời cũng là các yếu tố chính để xác định năng lực cạnh tranh điểm đến (Hu&Ritchie, 1993; Formaica, 2000) Nghiên cứu gần đây cho thấy, Buhalis (2000) đã liệt kê sáu thành phần chính của các yếu tố thu hút nguồn lực du lịch Những thành phần cụ thể như sau: 1 Các yếu tố thu hút: tự nhiên, nhân tạo, xây dựng có mục đích, di sản, các sự kiện đặc biệt; 2 Khả năng tiếp cận: toàn bộ hệ thống giao thông gồm đường đi lại và phương tiện; 3 Tiện nghi: ăn nghỉ, cơ sở vật chất, bán lẻ, các dịch vụ du lịch khác; 4 Các gói có sẵn: tất cả các gói được chuẩn bị sẵn bởi các bên trung gian và quản lý; 5 Các hoạt động: tất cả các hoạt động có sẵn tại điểm đến và hoạt động trong chuyến đi; 6 Các dịch vụ phụ trợ: các dịch

vụ do du khách sử dụng như ngân hàng, viễn thông, báo chí, bệnh viện

Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm cách đánh giá và phân loại các yếu tố thu hút nguồn lực của điểm đến dưới dạng các sản phẩm du lịch (Formica&Uysal, 2001) Cụ thể Ritchie

và Crouch (1993, 2000) và Mihalič (2000) đã đề xuất các yếu tố thu hút nguồn lực tại điểm đến là những ưu thế về lợi thế cạnh tranh Những thành phần chính này góp phần quan trọng vào việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch (Crouch

&Ritchie, 1999; Hassan, 2000)

Các yếu tố thu hút nguồn lực du lịch như các thành phần tự nhiên, văn hóa, di sản,

di tích lịch sử, các cơ sở dịch vụ hỗ trợ, cơ sở hạ tầng, khách sạn, các hoạt động thể thao, vui chơi giải trí, giao thông cần phải được quy hoạch và phát triển du lịch (Gunn, 1994; Pearce,1997) Theo mô hình do Ritchie và Crouch (1993) các yếu tố thu hút nguồn lực của điểm đến được xem là sự hấp dẫn của điểm đến hoặc là các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của điểm đến Nó bao gồm các đặc tính tự nhiên, khí hậu, đặc điểm về văn hóa xã hội, cơ sở hạ tầng, cơ sở thượng tầng, thái độ với du khách, chi phí, mức giá, các mối quan hệ kinh tế xã hội, và tính độc đáo Những yếu tố này cần phải được xem là các nguồn lực quan trọng trong năng lực cạnh tranh của điểm đến

Ngoài ra, Hassan (2000) đã đề xuất một mô hình có các yếu tố quyết định cạnh tranh trên thị trường: 1) ưu thế so sánh, 2) định hướng nhu cầu, 3) cấu trúc ngành, 4) cam kết về môi trường (trang 242) Trong số đó, ưu thế so sánh liên quan đến các yếu tố môi trường vĩ mô và vi mô gồm khí hậu, vị trí, văn hóa, di sản, lịch sử, khảo cổ, dịch vụ dành

Trang 27

cho du khách, an toàn, y tế, tiếp cận thông tin, và chất lượng môi trường Cùng với những

ưu thế so sánh trên thị trường, các yếu tố thu hút và nguồn lực khác như là khách sạn, giao thông và giải trí có thể nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường du lịch

Theo Mihalič (2000), nghiên cứu chất lượng môi trường của các yếu tố cạnh tranh tại điểm đến, thì các yếu tố thu hút tại điểm đến bao gồm 11 yếu tố hấp dẫn và nguồn lực như: tính chất tự nhiên, khí hậu, đặc điểm văn hóa và xã hội, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ

cơ bản, cơ sở du lịch, tiếp cận hệ thống giao thông, thái độ với khách du lịch, mức giá, kinh tế xã hội và tính độc đáo Những yếu tố thu hút tại điểm đến được xem là chất lượng môi trường, đây là một phần không thể tách rời của chất lượng các yếu tố thu hút tự nhiên Do đó, người ta đã tranh luận rằng “duy trì chất lượng môi trường chung ở mức cao là quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của hầu hết các điểm đến dành cho du khách (Inkeep, 1991, trang 347)

2.2.4 Các tác động của phát triển du lịch

Trong các tài liệu chuyên ngành về du lịch, đã có nhiều nghiên cứu về phản ứng của người dân với việc phát triển du lịch (Akis, Peristianis &Warner,1996) Các kết quả của những nghiên cứu này đã đề xuất cần sự hỗ trợ của cộng đồng để ngành du lịch hoạt động ổn định và phát triển (Yoon, 1998)

Phần lớn những nghiên cứu được thực hiện dựa trên lý thuyết trao đổi xã hội và đã công bố rằng, cộng đồng địa phương có xu hướng tham gia vào trao đổi với du khách nếu

họ tin rằng mình sẽ đạt được lợi ích mà không phát sinh các chi phí (Jurowski et al., 1997) Khi người dân được hưởng lợi từ phát triển du lịch, họ sẽ tham gia vào trao đổi, và

do đó, người dân đồng ý và yêu thích phát triển du lịch ở cộng đồng của mình (Allen etal.,1994)

Trong thực tế, nguồn lợi ích và chi phí thông thường của phát triển du lịch là các tác động kinh tế Cộng đồng địa phương bị ảnh hưởng lớn bởi nền kinh tế của mình (Husband, 1989) Tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp là lợi ích nổi bật nhất của việc phát triển du lịch Thay đổi đầu tư và tiêu dùng, lợi ích kinh tế, tăng mức sống, phân phối thu nhập cho người dân và chính phủ, giá hàng hóa và dịch vụ, chi phí đất và nhà, chi phí sinh hoạt, phát triển và duy trì cơ sở hạ tầng, và các nguồn lực được xem là các

Trang 28

tác động kinh tế của phát triển du lịch (Perdue, Long, &Allen 1987)

Ngoài ra, các tác động văn hóa, xã hội của du lịch cũng được thảo luận như du lịch tạo ra cơ hội trao đổi văn hóa, cơ sở vui chơi giải trí, đồng thời làm mất đi chất lượng của các yếu tố trong cuộc sống Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng khám phá ra rằng không giống như các tác động kinh tế của du lịch, các tác động xã hội và văn hóa có thể ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến nhận thức của người dân (Jurowski et al., 1997) Gây ra tắc nghẽn, ùn tắc giao thông, tiếng ồn, và tăng tỷ lệ tội phạm là các ví dụ về tác động văn hóa xã hội của du lịch (Gunn, 1988) Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng du lịch cải thiện dịch vụ công tại địa phương, hoạt động văn hóa, thay đổi văn hóa truyền thống và bảo tồn đặc trưng của văn hóa địa phương (Liu&Var, 1986)

Thái độ đối với môi trường

Jackson (1987) đã chỉ ra rằng “vấn đề cấp bách nhất trong quản lý nguồn tài nguyên là đưa ra sự cân bằng giữa phát triển các loại hình giải trí tại điểm đến và bảo tồn tài nguyên các điểm đến Điều này có ý nghĩa mặt thẩm mỹ, lịch sử, văn hóa, khoa học và sinh thái học Các nghiên cứu trước đó cũng giải thích rằng, các quan niệm về môi trường lấy sinh thái làm trung tâm để bảo tồn và bảo vệ môi trường, trong khi theo quan niệm lấy con người làm trung tâm lại nghiêng về những biến đổi môi trường theo nguyện vọng

và nhu cầu của con người (Crick-Furman & Prentice, 2000)

Ngoài ra, theo Jurowski, Uysal, Williams 1997 và Gursoy et al (2002), quan niệm

về môi trường của những người dân được khảo sát có liên quan đến việc đánh giá lấy sinh thái làm trung tâm Họ đưa ra kết luận rằng người dân lấy sinh thái làm trung tâm có tác động trực tiếp đến hỗ trợ phát triển du lịch, quan niệm này chỉ ra mối quan hệ hỗ trợ tích cực của người dân đối với sự phát triển du lịch Do vậy, lý thuyết lấy sinh thái làm trung tâm có ảnh hưởng tích cực hỗ trợ phát triển du lịch

Quan niệm về giá trị môi trường được đánh giá theo Mô hình Môi trường mới (NEP) do Dunlap và Van Liere (1978) sáng lập Quan điểm này đề cập đến gia tăng dân

số, tầm quan trọng của cân bằng tự nhiên, nhu cầu phát triển nền kinh tế ổn định, hay nhìn nhận giới tự nhiên đang tồn tại độc lập nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người (Dunlap & Van Liere, 1978) Mô hình Môi trường mới tập trung vào vấn đề khả năng của

Trang 29

con người có thể làm thay đổi cân bằng tự nhiên, hạn chế gia tăng dân số, và quyền con người kiểm soát giới tự nhiên ( Dunlap, Van Liere, Mertig & Jones, 2000) Do vậy, Mô hình môi trường này sẽ đánh giá được quan điểm của con người về các vấn đề môi trường (Crick- Furman & Prentice, 2000)

Trong một nghiên cứu của NEP do Uysal, Jurowski, Noe và Mcdonald (1995) thực hiện, những người theo quan niệm lấy con người làm trung tâm dành ưu tiên cho các khu nghỉ dưỡng và bãi biển đẹp, trong khi những người theo quan niệm lấy sinh thái làm trung tâm dành ưu tiên cho các dự án môi trường xanh và hoang dã nhiều hơn, các di sản vật thể ít hơn Bảo vệ môi trường tự nhiên sẽ giúp các điểm đến thu hút khách du lịch Đồng thời các chiến dịch quảng cáo góp phần quảng bá cho hệ động, thực vật, cảnh quan thiên nhiên, nhằm tạo sự cạnh tranh cho các danh thắng nhân tạo và các khu du lịch còn hoang sơ

Từ quan điểm của Mô hình môi trường mới, một số nhà nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ giữa nhân khẩu học (những thay đổi về kinh tế xã hội) và các quan niệm về môi trường tự nhiên (Arcury, 1990) Nhìn chung các nghiên cứu đều cho thấy tuổi tác, trình

độ học vấn, giới tính và khu vực sống có quan niệm về môi trường tự nhiên khác nhau

Ví dụ những du khách trẻ tuổi sẽ đánh giá cao việc bảo tồn hơn những người khác Những người sống ở khu vực nông thôn sẽ am hiểu về thế giới tự nhiên hơn người thành thị, và có quan niệm thực tế hơn về thế giới tự nhiên, trong khi người sống ở các thành phố lại có ý thức bảo vệ môi trường hơn (Langanau, 1987) Jones and Dunlap (1992) cũng chỉ ra rằng trong giới trẻ, những người sống ở thành thị thường quan tâm đến vấn đề môi trường hơn người lớn tuổi sống ở nông thôn, có trình độ học vấn thấp hơn

Hơn nữa, Dunlap và Hefferman (1974) đã tiến hành cuộc thăm dò những người tham gia các hoạt động mang tính trải nghiệm như trượt tuyết và đi bộ xuyên quốc gia, cho thấy họ tỏ quan điểm bảo vệ môi trường tự nhiên mạnh mẽ hơn những người tham gia các hoạt động như đi câu, săn bắn Tuy nhiên, do những nghiên cứu về đặc trưng xã hội hay nhân khẩu học có nhiều điểm khác nhau, nên giải nghĩa quan niệm về môi trường, xã hội và chính trị học sẽ khác nhau (Samdahl & Robertson, 1989)

Trang 30

Đánh giá về mặt tự nhiên và mối quan hệ của con người với môi trường do NEP quy định Mô hình môi trường này chỉ ra rằng con người như một phần không thể tách rời của tạo hóa và giải thích quan điểm mang tính toàn cầu gồm một chuỗi các quan niệm đối lập với quan niệm phi sinh thái xã hội (Hernandez, Suarez, Martinez-torviso & Hess, 2000) NEP cũng được coi như một công cụ để đánh giá một mô hình môi trường

Do vậy, nhận thức của con người về môi trường cũng ảnh hưởng tới sự phát triển ngành du lịch Chắc chắn rằng, vì sự thành công và ổn định điểm đến, sẽ có những đánh giá và sở thích khác nhau của du khách về quan niệm môi trường Nghiên cứu này xem

mô hình môi trường mới như là công cụ để đánh giá quan niệm về môi trường của du khách, đồng thời tìm ra các quan niệm của họ về môi trường ảnh hưởng như thế nào đến phát triển du lịch

Gắn kết địa điểm

Trong quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, khái niệm gắn kết địa điểm được sử dụng rộng rãi nhằm làm rõ con người đánh giá môi trường tự nhiên và địa điểm xung quanh họ như thế nào Warzecha & Lime, 2001) Bởi vì sự kết nối về mặt lý thuyết giữa nhận thức của con người và địa điểm được coi là công cụ quản lý để đánh giá giá trị của các điểm du lịch, hiểu biết về các nguồn tài nguyên (Warzecha & Lime, 2001)

Người ta cũng nhận ra rằng sự gắn kết của con người với quần thể du lịch về mặt cảm xúc, thời gian tham quan có thể ảnh hưởng đến nhận thức của họ về phát triển du lịch (Yoon, Chen & Gursoy, 1999) Đồng thời nghiên cứu cũng cho rằng cư dân sinh sống trong vùng là một bộ phận không thể tách rời của môi trường điểm đến và phải được

họ đánh giá về môi trường tự nhiên trong quá trình quản lý du lịch

Ngoài ra, điều cần thiết cho việc quản lý điểm đến có hiệu quả là cần có sự hiểu biết sâu hơn về giá trị mà con người gắn kết với quần thể du lịch Các quan điểm và khái niệm về gắn kết điểm đến đã được tìm ra bằng nhiều phương thức, bao gồm địa chất, kiến trúc và tâm lý học môi trường ( Kaltenborn, 1997) Bên cạnh đó, một vài khái niệm mô hình của mối quan hệ con người, địa điểm được thực hiện giúp cá nhân hình thành nhận thức về giá trị môi trường (Moore & Graefe, 1994)

Trang 31

Do địa điểm có ý nghĩa phức tạp và đa dạng về độ lớn, sự gắn kết địa điểm cũng rất phong phú (thắng cảnh tự nhiên, đời sống xã hội, văn hóa, lịch sử) của các địa điểm cũng chịu ảnh hưởng trong việc hình thành gắn kết địa điểm (Kaltenborn, 1997) Theo Low & Altman (1992), có bốn quy trình dẫn đến sự phát triển của gắn kết địa điểm: 1) Sinh vật học, 2) Môi trường, 3) Tâm lý học, 4) Văn hóa xã hội

Theo Moore & Graefe (1994), đặc trưng địa điểm được phát triển qua một thời gian dài, tạo nên ý nghĩa biểu tượng và cảm xúc cho các địa điểm Đặc trưng địa điểm được hình thành thông qua nhận thức, ý thức của cá nhân Con người nhận biết được một địa điểm như một phần quan trọng, một yếu tố không thể tách rời các trải nghiệm của họ

về môi trường xung quanh Đặc trưng địa điểm đại diện cho mối quan hệ về cảm xúc của con người với các địa điểm và môi trường tự nhiên xung quanh họ (Proshansky, Fabian

& Kaminoff, 1983)

Theo một phạm vi khác, sự gắn kết địa điểm, phụ thuộc địa điểm được xem như

“một người làm chủ ý thức về mối liên hệ giữa họ và địa điểm cụ thể” (Stokols & Shumaker, 1981, tr.457) Sự gắn kết địa điểm liên quan đến chất lượng của địa điểm cụ thể, phụ thuộc vào mức độ làm thỏa mãn nhu cầu hay mục đích của cá nhân (Warzecha & Lime, 2001) Về mặt truyền thống việc nghiên cứu khái niệm về sự gắn kết địa điểm được hình thành trong nhiều phạm vi địa chất khác nhau như khu vực dân cư, vùng lân cận, và các khu giải trí (Schreyer, Jacob & White, 1981)

Theo nghiên cứu của Williams at Al (1995), thời gian lưu trú tương quan với đặc trưng vùng miền, đặc trưng quần thể Đặc biệt, đặc trưng vùng miền có tương quan chặt chẽ với quan điểm về ảnh hưởng kinh tế, xã hội của du lịch Họ đưa ra kết luận rằng người dân càng gắn bó thì càng ý thức tốt về du lịch Mỗi người sẽ có quan điểm khác nhau về phát triển du lịch, hay sự gắn kết địa điểm

Sự gắn kết của con người với địa điểm là một khái niệm quan trọng để tìm ra mối quan hệ của con người với môi trường tự nhiên Con người có những quan điểm và hành

vi khác nhau về sự gắn kết của con người với môi trường Vì vậy các thông tin về sự gắn kết của con người với môi trường là điều rất quan trọng, quyết định sự phát triển và ổn định của ngành du lịch

Trang 32

2.3 Các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước

Ở nhiều nước trên thế giới, khu vực dịch vụ du lịch ngày càng quan trọng của tăng trưởng kinh tế Vì vậy các quốc gia, tỉnh, thành phố đều quan tâm đến du lịch và dùng mọi nỗ lực và kinh phí để nâng cao hình ảnh du lịch và sức hấp dẫn ở mỗi nơi Còn các nhà khoa học nghiên cứu về du lịch bắt đầu chú ý về cạnh tranh điểm đến Poon (1993), nhà học giả đi đầu trong nghiên cứu cạnh tranh du lịch chỉ ra bốn nguyên tắc cơ bản mà bất kỳ điểm đến phải theo để đảm bảo tính cạnh tranh: (1) đặt môi trường lên hàng đầu; (2) đưa du lịch thành ngành kinh tế dẫn đầu; (3) tăng cường các kênh phân phối trên thị trường; (4) xây dựng một khu vực tư nhân năng động Nhìn chung những nguyên tắc này quá rộng khó có thể hướng dẫn cho các bên liên quan đến hoạt động du lịch và các nhà hoạch định chính sách Do vậy, cần có những nghiên cứu sâu hơn về năng lực cạnh tranh điểm đến

Crouch và Ritchie (1994), nghiên cứu khám phá năng lực cạnh tranh điểm đến đã xây dựng mô hình phát triển năng động của năng lực cạnh tranh trong du lịch quốc tế Tiếp sau đó, Chon và Mayer (1995) đã sửa đổi mô hình của Crouch và Ritchie bằng cách kết hợp các vấn đề du lịch cụ thể như tính vô hình của sản phẩm, dịch vụ du lịch và các mối quan hệ thay thế giữa các sản phẩm du lịch cũng như khả năng tái sinh các nguồn tài nguyên du lịch Mô hình cạnh tranh du lịch của họ đề xuất năm lĩnh vực: Sự hấp dẫn, quản lý, tổ chức, thông tin và hiệu quả

Gunn, (1988) sử dụng hệ thống chức năng du lịch để làm rõ mối quan hệ giữa các thành phần, bao gồm dân số (bên cầu), thông tin, quảng bá, vận chuyển, các yếu tố thu hút, và cơ sở vật chất, dịch vụ (bên cung) Bên cạnh đó, Gunn còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống du lịch như nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, kinh doanh, tài chính, lao động, cạnh tranh, cộng đồng, và các chính sách của chính phủ Mill và Morrison (1985, 1995) cũng xác định năng lực cạnh tranh điểm đến gồm bốn thành phần chính của hệ thống du lịch, bao gồm thị trường (du khách), giao thông (vận tải), điểm đến (điểm thu hút khách, cơ sở vật chất và dịch vụ), tiếp thị (thông tin và quảng bá), mỗi thành phần có mối liên kết chặt chẽ theo chuỗi với nhau

Trang 33

Nghiên cứu của Craigwell

Ngoài Ritchie & Crouch (2000) và Dwyer & Kim (2003), các mô hình lý thuyết khác đã được phát triển để giải thích NLCT của điểm đến: Yoon Yooshik (2002), Craigwell (2007) Yoon Yooshik(2002) đã nghiên cứu cấu trúc mô hình cạnh tranh điểm đến du lịch từ các yếu tố nhằm kiểm tra thực nghiệm sự tương tác của các mối quan hệ: 1) nhận thức tác động phát triển du lịch, 2) thái độ đối với vấn đề môi trường, 3) gắn kết địa điểm tham quan, 4) Ưu tiên phát triển các yếu tố phát triển du lịch, 5) hỗ trợ cho chiến lược cạnh tranh điểm đến Phạm vi của nghiên cứu này là các điểm đến du lịch và cộng đồng ở Virginia, nơi có nhiều sản phẩm, địa điểm du lịch nhân tạo cũng như văn hóa tự nhiên Các nguyên tắc định hướng của nghiên cứu này là NCLT điểm đến có thể được cải thiện bằng sự kết hợp phù hợp giữa các địa điểm, nguồn lực du lịch và các chiến lược nâng cao NLCT của điểm đến

Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các hòn đảo du lịch nhỏ đang phát triển tại

Mỹ của Craigwell (2007) đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của điểm đến này (hình 4) Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 45 hòn đảo nhỏ và đưa ra mô hình nghiên cứu dựa trên các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của tổ chức du lịch thế giới Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực cạnh tranh của các hòn đảo du lịch nhỏ đang phát triển tại Mỹ bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố như mô hình

Năng lực cạnh tranh điểm đến

Trang 34

Hình 2.1 Cấu trúc mô hình cạnh tranh điểm đến từ các bên có liên quan Craigwell

(Nguồn: Craigwell, 2007)

Nghiên cứu của Dwyer & Kim

Để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến Dwyer & Kim (2003) đã kết hợp với các lý thuyết về năng lực cạnh tranh quốc gia, đưa ra mô hình kết hợp về năng lực cạnh tranh của điểm đến Nghiên cứu đưa ra hai yếu tố: yếu tố thứ nhất của mô hình bao gồm các nguồn lực: Nguồn lực tự nhiên và các di sản được thừa hưởng; nguồn lực sáng tạo; các nhân tố và nguồn lực hỗ trợ Đây là các nguồn lực tạo ra sự khác biệt cho sản phẩn du lịch các điểm đến, tạo tính hấp dẫn cho du khách tham quan, nó chính là cơ

sở để tạo ra năng lực cạnh tranh thu hút khách du lịch của điểm đến Yếu tố thứ hai của

mô hình là việc quản lý điểm đến, yếu tố này có liên quan đến chiến lược nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến, có tính cạnh tranh cao hơn so với các điểm đến khác Đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả các nhân tố và nguồn lực hỗ trợ thích ứng tốt nhất với nhu cầu thực tế của du khách

Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Dwyer & Kim

(nguồn, Dwyer & Kim 2003)

Nghiên cứu Nguyễn Thành Long (2016) Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến

năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch Bến Tre, Các định nghĩa được chấp nhận

Năng lực cạnh tranh điểm đến

Trang 35

phổ biến nhất của năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch được thừa kế từ lý thuyết kinh tế, tập trung vào sản phẩm, dịch vụ của ngành du lịch nghiên cứu đã xác định được các yếu

tố thành phần có tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch bến tre, thông qua khảo sát 213 trường hợp

Hình 2.3

Mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh du lịch điểm đến Nguyễn Thành Long

(Nguồn, Nguyễn Thành Long, 2016)

Trần Thị Thu Hiền (2018) Nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu, Tuy nhiên, theo đánh giá khách quan thì ngành du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế, năng lực cạnh tranh thấp dẫn đến việc chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh hiện có Qua phân tích, nghiên cứu

đã chỉ ra những tồn tại chính yếu làm ảnh hưởng đến đà phát triển và năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đó là: Nguồn kinh phí đầu tư cho các hoạt động phát triển du lịch còn hạn chế; Việc triển khai hiện thực hóa các chủ trương, chính sách về thúc đẩy du lịch, cũng như công tác quy hoạch du lịch còn chậm và mang tính hình thức, chưa cập nhật và sâu sát với đòi hỏi thực tế Điều này đã dẫn đến những khó

Năng lực cạnh tranh điểm đến

Trang 36

khăn, hạn chế trong việc tạo ra một không gian sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh cao cũng như các hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch Từ những nhận định trên, nghiên cứu đã đưa ra 04 nhóm giải pháp cơ bản để khắc phục những tồn tại, hạn chế, nhằm tăng năng lực cạnh trạnh cụm ngành du lịch tỉnh, gồm: (i) tăng cường hiệu quả công tác quản lí, xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch; (ii) tăng cường thể chế hỗ trợ phát triển du lịch, thu hút đầu tư; (iii) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (iv) Tăng cường bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường nhằm phát triển du lịch bền vững

Hình 2.4: Các yếu tố quyết định mô hình cạnh tranh điểm đến Trần Thị Thu Hiền

(Nguồn: Trần Thị Thu Hiền, 2018)

2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất luận văn

Dựa vào các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trước đây, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu bao gồm 6 yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh điểm đến của ngành du lịch tại tỉnh Tuyên Quang, nghiên cứu kế thừa thang đo và các kết quả nghiên cứu trước đây

Năng lực cạnh tranh điểm đến

Trang 37

Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất

(Nguồn, tác giả tổng hợp) Các giả thuyết nghiên cứu:

- Giả thuyết H1: Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng thuận chiều đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

- Giả thuyết H2: Văn hóa xã hội ảnh hưởng thuận chiều đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

- Giả thuyết H3: Cơ sở hạ tầng du lịch ảnh hưởng thuận chiều đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

- Giả thuyết H4: Thể chế chính trị, pháp luật ảnh hưởng thuận chiều đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

Văn hóa xã hội

H1 H2 H3 H4 H5

Đối mới trong thu

hút du lịch

H6

Trang 38

- Giả thuyết H5 : Nhận lực phục vụ ảnh hưởng thuận chiều đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

- Giả thuyết H6 : Đổi mới trong du lịch ảnh hưởng tích cực đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2, tác giả đã giới thiệu cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Luận văn đã trình bày một số khái niệm về du lịch, ngành du lịch, sản phẩm du lịch, khái niệm về địa điểm du lịch, năng lực cạnh tranh điểm đến

Thông qua tổng quan nghiên cứu, tác giả đã lựa chọn mô hình nghiên cứu trong luận văn ở các chương tiếp theo Ngoài ra, các nghiên cứu trước đó còn là sự kế thừa về

cơ sở lý luận, về phương pháp nghiên cứu, đó là những kiến thức nền tảng để tác giả nghiên cứu đề tài

Trang 39

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình khung nghiên cứu

Để giải quyết các mục tiêu đã đề ra, sau khi tổng kết tất cả các lý thuyết, nghiên cứu sẽ được thực hiện bao gồm 2 giai đoạn: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức

Đầu tiên, trong giai đoạn sơ bộ, tác giả dự kiến sẽ thực hiện thông qua thảo luận nhóm với 10 chuyên gia (Người du lịch am hiểu về địa điểm, các chuyên gia trong ngành

du lịch và các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu liên quan) Mục đích của nghiên cứu này nhằm kiểm tra mức độ rõ ràng của từ ngữ, mức độ hiểu các phát biểu và sự trùng lắp của các phát biểu trong thang đo để chọn ra những phát biểu phù hợp trong các thang đo của các khái niệm nghiên cứu chính, từ đó hiệu chỉnh lại thang đo để xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn chính thức

Trang 40

Hình 3.1 quy trình nghiên cứu luận văn

(Nguồn tác giả tổng hợp, thiết kế nghiên cứu)

tiêu, đối tượng, phạm vi

và phương pháp nghiên cứu

TỔNG KẾT LÝ THUYẾT

Cơ sở lý thuyết, các khái niệm

nghiên cứu, mô hình và giả thuyết

Thang đo nháp đầu

Kiểm định thang đo và mô hình

cùng các giả thuyết nghiên cứu

Phân tích Cronbach’s Alpha, EFA, Tương quan, Hồi quy

VIẾT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

(Kết luận và đề xuất)

Ngày đăng: 17/05/2021, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w