Hồ Chí Minh – Năm 2020 THÁI MINH CHÂU CÁC THÀNH TỐ CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH HỮU HIỆU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GỖ TRONG KHU VỰC TỈNH B
Trang 1-∆∆∆ -
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
THÁI MINH CHÂU
CÁC THÀNH TỐ CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI
BỘ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH HỮU HIỆU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GỖ TRONG KHU VỰC TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2-∆∆∆ -
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
THÁI MINH CHÂU
CÁC THÀNH TỐ CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH HỮU HIỆU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
GỖ TRONG KHU VỰC TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Kế toán Hướng đào tạo: Hướng nghiên cứu
Mã số: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN THỊ GIANG TÂN
Trang 3TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Các thành tố của hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng đến tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp sản xuất gỗ trong khu vực tỉnh Bình Dương” là công trình nghiên cứu độc lập, dựa trên sự cố gắng và nỗ lực của tác
giả dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS TRẦN THỊ GIANG TÂN
Các kết quả được trình bày trong luận văn hoàn toàn là sự thật và không có bất kỳ sự sao chép hay sử dụng để bảo vệ bất kỳ học vị nào khác Tất cả những tư liệu hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở lý luận để thực hiện bài luận này đều được trích dẫn đầy đủ, ghi chú nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Tác giả đề tài
Thái Minh Châu
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
Chương mở đầu 1
Lý do chọn đề tài 1
Mục tiêu nghiên cứu 3
Câu hỏi nghiên cứu 4
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
Phương pháp nghiên cứu 5
Ý nghĩa nghiên cứu 5
Kết cấu của đề tài 5
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước về HTKS nội bộ và các thành tố thuộc HTKS nội bộ có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu và HQHĐ doanh nghiệp 7
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 7
1.1.1 Nghiên cứu tác động của từng thành tố đến tính hữu hiệu và hiệu quả của HTKS nội bộ 7
1.1.2 Nghiên cứu tác động của các thành tố đến tính hữu hiệu của HTKS nội bộ 8 1.1.3 Nghiên cứu tác động của HTKS nội bộ đến tình hình tài chính và HQHĐ kinh doanh của doanh nghiệp 10
Trang 51.2 Các nghiên cứu trong nước 12
1.3 Xác định khe hổng nghiên cứu 14
Chương 2: Cơ sở lý thuyết 14
2.1 Các khái niệm nền tảng 14
2.1.1 Kiểm soát nội bộ 14
2.1.2 Tính hữu hiệu và hiệu quả 15
2.1.3 Tính hữu hiệu của HTKS nội bộ 16
2.1.4 Các thành tố hợp thành HTKS nội bộ 17
2.2 Lý thuyết nền tảng 26
2.2.1 Lý thuyết đại diện 26
2.2.2 Lý thuyết hành vi tổ chức 27
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Phương pháp nghiên cứu, các bước triển khai nghiên cứu và thu thập dữ liệu 28
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu và các bước triển khai nghiên cứu 28
3.1.2 Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu 30
3.2 Quy trình phân tích dữ liệu 31
3.2.1 Quy trình phân tích các dữ liệu định tính 31
3.2.2 Quy trình phân tích các dữ liệu định lượng 32
3.3 Giả thuyết nghiên cứu 41
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận 43
4.1 Thực trạng HQHĐ kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất gỗ tại Bình Dương 43
4.1.1 HQHĐ của các doanh nghiệp sản xuất gỗ tại Bình Dương 43
Trang 64.1.2 Một số rủi ro trong ngành sản xuất và chế biến gỗ 46
4.2 Kết quả nghiên cứu định tính về các thành tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu và HQHĐ kinh doanh 48
4.3 Mẫu nghiên cứu 50
4.4 Đánh giá thang đo 53
4.4.1 Đánh giá thang đo bằng công cụ Cronbach Alpha 53
4.4.2 Phân tích thành tố khám phá EFA 58
4.3 Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu 62
4.4.3 Phân tích tương quan Pearson 62
4.4.4 Kiểm tra tương quan và hồi quy mô hình lý thuyết 63
4.4.5 Mức độ ảnh hưởng của từng thang đo đến HQHĐ của các doanh nghiệp chế biến và sản xuất gỗ tại tỉnh Bình Dương 67
4.5 Bàn luận kết quả nghiên cứu 70
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 74
5.1 Kết luận 74
5.2 Hàm ý chính sách 77
5.2.1 Về môi trường kiểm soát 77
5.2.2 Về đánh giá rủi ro 78
5.2.3 Về hoạt động kiểm soát 79
5.2.4 Về thông tin và truyền thông 81
5.2.5 Về hoạt động giám sát 82
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 82 Danh mục tài liệu tham khảo tiếng Việt
Danh mục tài liệu tham khảo tiếng Anh
Trang 7Phụ lục 1: Danh sách chuyên gia phỏng vấn
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
KSNB Kiểm soát nội bộ
COSO Committee Of Sponsoring Organizations
HTKS Hệ thống kiểm soát
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3-1 Thang đo môi trường kiểm soát 34
Bảng 3-2 Thang đo đánh giá rủi ro 34
Bảng 3-3 Thang đo hoạt động kiểm soát 35
Bảng 3-4 Thang đo thông tin và truyền thông 36
Bảng 3-5 Thang đo giám sát 37
Bảng 3-6 Thang đo HQHĐ của doanh nghiệp 38
Bảng 4-1 Chỉ số tài chính tại các DN SX gỗ trong khu vực tỉnh Bình Dương (Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bình Dương) 45
Bảng 4-2 Độ tuổi của đối tượng khảo sát 51
Bảng 4-3 Thống kê vị trí làm việc của đối tượng khảo sát 51
Bảng 4-4 Thống kê về loại hình doanh nghiệp được khảo sát 52
Bảng 4-5 Thống kê quy mô vốn các doanh nghiệp được khảo sát 52
Bảng 4-6 Thống kê số lượng nhân viên trong doanh nghiệp được khảo sát 52
Bảng 4-7 Thống kê thời gian hoạt động của doanh nghiệp được khảo sát 53
Bảng 4-8 Kiểm định Coefficient Alpha cho thang đo môi trường kiểm soát 54
Bảng 4-9 Kiểm định Coefficient Alpha cho thang đo đánh giá rủi ro 54
Bảng 4-10 Kiểm định Coefficient Alpha cho thang đo hoạt động kiểm soát 55
Bảng 4-11 Kiểm định Coefficient Alpha cho thang đo hoạt động kiểm soát sau khi đã loại biến không đủ điều kiện 56
Bảng 4-12 Kiểm định Coefficient Alpha cho thang đo thông tin và truyền thông 57
Bảng 4-13 Kiểm định Coefficient Alpha cho thang đo thang đo giám sát 57
Trang 10Bảng 4-14 Kiểm định Coefficient Alpha cho thang đo HQHĐ 58
Bảng 4-15 Kiểm định KMO và Barlett's Test cho các thành tố tạo nên HTKS nội bộ HTKS nội bộ 58
Bảng 4-16 Phân tích phương sai trích dùng cho kiểm định EFA các thành tố tạo nên HTKS nội bộ 59
Bảng 4-17 Ma trận các thành phần sau khi phân tích EFA các thành tố tạo nên HTKS nội bộ 60
Bảng 4-18 Kiểm định KMO và Barlett's Test cho HQHĐ 61
Bảng 4-19 Phân tích phương sai trích dùng cho kiểm định EFA cho HQHĐ 61
Bảng 4-20 Bảng miêu tả các biến được sử dụng trong mô hình hồi quy cho từng biến quan sát 68
Bảng 4-21 Tóm tắt kết quả phân tích hồi quy cho từng biến quan sát 68
Bảng 4-22 Bảng ANOVA cho từng biến quan sát 68
Bảng 4-23 Kiểm tra tương quan cho từng biến quan sát trong mô hình hồi quy 70
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2-1 Ví dụ về ma trận rủi ro sử dụng để xây dựng hoạt động kiểm soát 21
Hình 2-2 Miêu tả quy trình quản lý vòng đời phần mềm 23
Hình 3-1 Các bước triển khai nghiên cứu 30
Hình 3-2 Mô hình nghiên cứu 42
Hình 4-1 Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ của Việt Nam (Đơn vị tính: USD) 46
Trang 12Chương mở đầu
Lý do chọn đề tài
Ngành chế biến sản xuất và chế biến gỗ ngày càng trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, đóng góp 10,33 tỉ USD1 vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Tầm quan trọng của ngành được thể hiện qua hội nghị “Định hướng, giải pháp phát triển nhanh và bền vững ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu” do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì ngày 08/08/2018 Hội nghị đánh giá cao những đóng góp của ngành gỗ vào xuất khẩu của quốc gia trong đó Bình Dương là địa phương chiếm hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu Ngành chế biến sản xuất và chế biến gỗ hiện nay đang chịu tác động tích cực của các hiệp định mậu dịch tự do (FTA); Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) đã, đang và sẽ tạo ra cơ hội và thách thức cho sản phẩm
đồ gỗ và lâm sản xuất khẩu của Việt Nam
Ngành chế biến gỗ là ngành có tỷ lệ xuất khẩu chiếm đến hơn 50% giá trị sản xuất công nghiệp, theo đó, giá trị công nghiệp của ngành sản xuất gỗ ước đạt 266 nghìn tỷ đồng, trong đó hơn 6,7 tỷ USD là giá trị xuất khẩu, như vậy những rủi ro rất lớn dành cho ngành gỗ khi có sự phụ thuộc khá lớn vào xuất khẩu so với các ngành nghề khác
Theo báo cáo Việt Nam xuất nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ: Thực trạng 2019 và
xu hướng 2020, ngành gỗ Việt Nam đang gặp nhiều rủi ro đến từ: rủi ro pháp lý, rủi
ro về gian lận thương mại và đầu tư Báo cáo nhấn mạnh: Xác định rủi ro, kiểm soát
và loại bỏ rủi ro là điều kiện sống còn của ngành gỗ trong việc duy trì ổn định và mở rộng thị trường xuất khẩu
Dù là một ngành chủ lực nhưng theo số liệu thống kê top 20 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, có mức ROE từ 40% trở lên, lại không thấy
1 Báo cáo Việt Nam xuất nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ: thực trạng 2019 và xu hướng 2020
Trang 13bóng dáng của doanh nghiệp ngành gỗ2 Theo báo cáo phân tích ngành gỗ, 3 tập đoàn chế biến gỗ có quy mô lớn nhất cả nước là: Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (HOSE: TTF), Công ty Cổ phần Chế biến Gỗ Thuận An (HOSE: GTA), Công ty Cổ phần Chế biến Gỗ Đức Thành (HOSE: GDT) đều có trụ sở và nhà máy tại Bình Dương đều có các chỉ số tài chính khá thấp so với bình quân ngành công nghiệp
Bảng: Một số chỉ số tài chính của 3 công ty gỗ quy mô lớn (năm 2019)
Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành 2,93 (1,39)
Trước tính hiệu quả không cao của ngành gỗ, nhiều giải pháp đã được đưa ra, trong đó,có giải pháp là xây dựng, hoàn thiện kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao hơn nữa tính hữu hiệu và hiệu quả họat động
Các nghiên cứu trước về kiểm soát nội bộ trên thế giới đều chỉ ra những tác động của kiểm soát những đến tính hữu hiệu và HQHĐ, đến thị giá của doanh nghiệp như nghiên cứu của Fadzil và cộng sự (2005), Arnold Schneider và cộng sự (2009) Dechow và cộng sự (2011) Các nghiên cứu về ảnh hưởng của kiểm soát nội bộ đến ROI như nghiên cứu của Nyakundi và cộng sự (2014); đến ROA như Zipporah (2015)
2 https://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/di-tim-ngoi-vuong-roe-275039.html , truy cập ngày 13/5/2020
Trang 14hoặc nghiên cứu về khiếm khuyết của kiểm soát nội bộ theo như nghiên cứu của Arnold Schneider và cộng sự (2009)
Tại Việt Nam, cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về HTKS nội bộ Các nghiên cứu này đã xem xét HTKS nội bộ trong từng doanh nghiệp, từng ngành, từng bộ phận, hoặc cho cả tập đoàn kinh tế, từng tỉnh hoặc trên phạm vi quốc gia Những nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu của Phạm Bính Ngọ (2011) nghiên cứu về các doanh nghiệp trong bộ quốc phòng; Võ Thu Phụng (2016) nghiên cứu về tập đoàn điện lực Việt Nam, Hồ Tuấn Vũ (2016) nghiên cứu về các ngân hàng thương mại, cụ thể hơn trong lĩnh vực thương mại và chế biến các sản phẩm từ gỗ, có hai nghiên cứu đáng chú ý là nghiên cứu của Dương Thị Ngọc Bích (2012) với đề tài “Hoàn thiện HTKS nội bộ tại doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bạn tỉnh Bình Dương” và đồng thạc sỹ Trần Thị Quanh và Lê Mộng Tuyền (2017) với đề tài “Tác động của các thành phần trong HTKS nội bộ đến hiệu quả kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp chế biến
gỗ tỉnh Bình Định”
Nhìn chung, các nghiên cứu trước đều dựa trên các thành tố trong báo cáo COSO, khảo sát tại Việt Nam Kết quả các nghiên cứu đều chứng minh rằng các thành tố của kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng đến HQHĐ của doanh nghiệp Tuy nhiên cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào xem xét ảnh hưởng của kiểm soát nội bộ đến hoạt động kinh doanh của ngành chế biến gỗ trong khu vực tỉnh Bình Dương Do vậy, người viết
chọn đề tài “Các thành tố của hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng đến tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp sản xuất gỗ trong khu vực tỉnh Bình Dương” nhằm tìm hiểu và đánh giá tác động của những thành tố HTKS nội bộ
đến tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động kinh doanh Dựa trên kết quả này, sẽ đề xuất các giải pháp, hàm ý chính sách cho việc cải thiện hiệu suất hoạt động cho DN trong ngành trong khu vực
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Nghiên cứu các thành tố cấu thành HTKS nội bộ có khả năng có ảnh hưởng lên HQHĐ tại các DN SX gỗ trong khu vực Tỉnh Bình Dương
Trang 15Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
• Nhận diện thành tố thuộc HTKS nội bộ có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu, HQHĐ của DN SX gỗ trong khu vực Tỉnh Bình Dương
• Đo lường mức độ ảnh hưởng từng Thành tố
• Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của HTKS nội bộ trong các DN
SX gỗ trong khu vực tỉnh Bình Dương
Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu trong luận văn này được trình bày như sau:
• Câu hỏi 1: Thành tố nào của kiểm soát nội bộ ảnh hưởng đến tính hữu hiệu và HQHĐ tại DN SX gỗ trong khu vực Tỉnh Bình Dương?
• Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các Thành tố đến tính hữu hiệu và hiệu quả tại DN SX gỗ trong khu vực Tỉnh Bình Dương ra sao?
• Câu hỏi 3: Khuyến nghị nào sẽ được đưa ra nhằm tăng cường tính hữu hiệu của HTKS nội bộ để nâng cao HQHĐ tại DN SX gỗ trong khu vực Tỉnh Bình Dương?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là các Thành tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKS nội bộ tại DN SX gỗ trong khu vực Tỉnh Bình Dương
Đối tượng khảo sát là nhân viên / người quản lý của các doanh nghiệp
Trang 16Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hỗn hợp được chọn làm phương pháp nghiên cứu cho luận văn này
• Phương pháp định tính: Trên cơ sở những nghiên cứu trước, chủ yếu là báo cáo COSO, luận văn tiến hành khám phá nhằm xây dựng thang đo phù hợp liên quan đến các Thành tố thuộc kiểm soát nội bộ ảnh hưởng đến tính hữu hiệu và hiệu quả tại doanh nghiệp sản xuất gỗ
• Phương pháp định lượng: Sau khi có được mô hình các Thành tố và thang đo các Thành tố từ nghiên cứu định tính, tác giả sử dụng PP định lượng để kiểm định mô hình
Ý nghĩa nghiên cứu
Đóng góp của luận văn này được đánh giá ở cả hai mặt lý luận và vận dụng ở thực tế,
cụ thể như sau:
Về mặt lý luận: Luận văn đóng góp về mặt lý luận là khẳng định năm Thành tố theo Báo cáo COSO đều có ảnh hưởng đến HTKS nội bộ cũng như HQHĐ tại các doanh nghiệp được nghiên cứu
Về mặt thực tiễn: Luận văn đã chứng minh thiết kế HTKS nội bộ tốt nâng cao tính hữu hiệu tại các doanh nghiệp SX gỗ, từ đó giúp nhà quản trị nhận thức được tầm quan trọng của việc tổ chức vận hành một HTKS nội bộ tốt Luận văn còn phát hiện những Thành tố tác động mạnh nhất đến tính hữu hiệu lần lượt là Thông tin và truyền thông (β = 0,294); tiếp đến là Hoạt động kiểm soát (β = 0,289) và Môi trường kiểm soát (β = 0,241)
Kết cấu của đề tài
Ngoài chương Mở đầu, luận văn được kết cấu thành 5 chương với cấu trúc như sau: Chương 1 : Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trang 17Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 18Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước về HTKS nội bộ
và các thành tố thuộc HTKS nội bộ có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu và HQHĐ doanh nghiệp
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
1.1.1 Nghiên cứu tác động của từng thành tố đến tính hữu hiệu và hiệu quả của
HTKS nội bộ
1.1.1.1 Môi trường kiểm soát
D’Aquila (1998) cho rằng, môi trường kiểm soát là thành phần quan trọng trong HTKS nội bộ Từ kết quả này, tác giả nhấn mạnh rằng việc tìm hiểu về phong cách lãnh đạo của ban giám đốc là thành tố quan trọng nhất trong đánh giá môi trường kiểm soát Nghiên cứu của Jokipii (2010) cũng cho rằng, môi trường kiểm soát có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả HTKS nội bộ, và doanh nghiệp nên thiết kế HTKS nội bộ của doanh nghiệp có khả năng thích ứng với sự biến đổi không ngừng của môi trường kinh doanh bên ngoài
1.1.1.2 Đánh giá rủi ro
Spencer Pickett (2005) cho rằng các doanh nghiệp cần có một quy trình xác định và đánh giá rủi ro Đây là một thành tố đầu tiên và rất quan trọng trong thiết kế HTKS nội bộ, bởi vì nếu không, doanh nghiệp không thể nào quản lý được các rủi ro có thể xảy ra và đề xuất các hooạt dộng kiểm soát phù hợp Đây là một thành tố đầu tiên và rất quan trọng trong thiết kế HTKS nội bộ, bởi vì nếu không, doanh nghiệp không thể nào quản lý được các rủi ro có thể xảy ra và đề xuất các hoạt dộng kiểm soát phù hợp
Cain A (2010) cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro trong việc
đạt được các mục tiêu của tổ chức Đánh giá rủi ro là cơ sở cho việc thiết kế các thành
tố khác trong KSNB, giúp đơn vị đạt được mục tiêu của mình
1.1.1.3 Thông tin và truyền thông
Kết quả nghiên cứu về tính hữu hiệu HTKS nội bộ của Steihoff (2001) và Hevesi (2015) cho thấy, thông tin và truyền thông là thành tố quan trọng ảnh hưởng đến tính
Trang 19hữu hiệu của HTKS nội bộ Truyền thông là một thành tố quan trọng của HTKS nội
bộ độc lập, ảnh hưởng đến mọi khía cạnh hoạt động của tổ chức và giúp hỗ trợ HTKS nội bộ của tổ chức Thông tin phản hồi hệ thống truyền thông có thể giúp ban lãnh đạo đánh giá mức độ hoạt động của các thành phần khác nhau của HTKS nội bộ
1.1.1.4 Hoạt động Kiểm soát
Ray & Pany (2003) chỉ ra các hoạt động kiểm soát là một thành phần của kiểm soát
nội bộ Hoạt động kiểm soát thực chất là các chính sách và thủ tục giúp đảm bảo rằng các chỉ thị của cấp lãnh đạo được thực hiện George & Agnes (2014) cũng cho rằng, hoạt động kiểm soát có ảnh hưởng đáng kể đến tính hữu hiệu của HTKS nội bộ và ban lãnh đạo cần tăng cường hoạt động kiểm soát cũng như các thành phần khác của kiểm soát nội bộ
1.1.1.5 Giám sát
Springer (2004) Cho rằng giám sát có ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ đến sự hữu hiệu của HTKS nội bộ Giám sát có một vị trí quan trọng trong quá trình đánh giá HTKS nội bộ Giám sát được thực hiện thông qua hai phương pháp tiếp cận, đó là áp dụng giám sát thường xuyên, và giám sát theo kỳ Giám sát giúp cho HTKS nội bộ của các công ty vận hành đúng, đủ và cải thiện hiệu suất, đem lại lợi ích tối ưu nhất
1.1.2 Nghiên cứu tác động của các thành tố đến tính hữu hiệu của HTKS nội
bộ
Nghiên cứu của Fourie & Ackermann (2013) tại các doanh nghiệp tại Đông Cape (Eastern Cape) và Tây Cape (Western Cape) ở Nam Phi, thông qua khảo sát 31 nhân viên kiểm soát nội bộ Kết quả nghiên cứu cho thấy, 5 thành tố KSNB theo báo cáo của COSO đều có ảnh hưởng đến HTKS nội bộ với những mức ý nghĩa khác nhau, như đánh giá rủi ro 3.16, thông tin và truyền thông 3.04, Giám sát 2.81 và hoạt động kiểm soát 3.04
Keryn và cộng sự (2013) đã tiến hành tổng kết các nghiên cứu trước đó về những thành tố ảnh hưởng đến HTKS nội bộ cũng như ảnh hưởng chất lượng HTKS nội bộ đến báo cáo tài chính và tính hợp lý của chúng Nghiên cứu đã tìm ra rằng các thành
Trang 20tố có thể ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của HTKS nội bộ bao gồm: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông (Keryn, David,
& Hichem, 2013, p 24); giám sát (Fadzil, Haron, & Jantan , 2005)
Trong nghiên cứu của Ayagre (2014) “The effectiveness of Internal Control System
of Banks: The case of Ghanaian banks”, dựa vào quy trình nghiên cứu định lượng, tác giả và các cộng sự thông tin khảo sát được tập kết bằng các gửi danh sách câu hỏi được lập kế hoạch từ trước bằng thang đo Likert 5 mức độ để khảo sát các ngân hàng tại Ghana Tác giả đã tìm ra ảnh hưởng mạnh nhất là môi trường kiểm soát, kế đến là thành tố hoạt động kiểm soát trong HTKS nội bộ
Nghiên cứu của (Artuh & Albu, 2015) về các thành tố chính của HTKS nội bộ trong quản lý năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước Dựa trên cách tiếp cận hệ thống, nghiên cứu xem kiểm soát nội bộ là một hệ thống với các thuộc tính cơ bản Nghiên cứu tập trung phân tích các thành tố chính của HTKS nội bộ mục tiêu kiểm soát, đối tượng kiểm soát, môi trường kiểm soát, thông tin kiểm soát, quản lý rủi ro
và giám sát kiểm soát Nhóm tác giả đã thiết lập ma trận gồm các thành phần của HTKS nội bộ Kết quả nghiên cứu cho thấy, “kiểm soát nội bộ" ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước
Nghiên cứu của (Pongkitkarncharoen, 2017) về các thành tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ tại bệnh viện Sukkothai tại Thái Lan Đây là nghiên cứu miêu tả tính hữu hiệu của hệ thống kiểm nội bộ theo năm thành tố của báo cáo COSO 2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong các thành tố của COSO thì các thành tố môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin và truyền thông có ảnh hưởng mạnh nhất đến hệ thống kiểm soát nội bộ Ngược lại, các thành tố về kiến thức, sự hỗ trợ của cấp trên, đặc điểm và khối lượng công việc không có mối quan hệ với tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Nghiên cứu của (AYTAÇ, Alp & Adem ÇABUK, 2020) việc đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện trên một trường hợp cụ thể với một
Trang 21công ty tư nhân tại Bursa Kết quả nghiên cứu cho thấy có thể dựa vào báo cáo của COSO để có thể xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh
1.1.3 Nghiên cứu tác động của HTKS nội bộ đến tình hình tài chính và HQHĐ
kinh doanh của doanh nghiệp
Nghiên cứu của Arnold Schneider và cộng sự (2009) tổng hợp các nghiên cứu về ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống KSNB có khiếm khuyết (Internal control deficiencies - ICDs) sẽ ảnh hưởng đến các khía cạnh khác nhau như:
• Chất lượng lợi nhuận: Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ khiếm khuyết, sẽ ảnh
hưởng trọng yếu đến chất lượng lợi nhuận trình bày trên báo cáo tài chính (lợi nhuận khai khống hoặc bị khai thiếu) như nghiên cứu của Li và Wang (2004); Ogneva, Raghunandan, và Subramanyam (2007); hoặc lợi nhuận có khả năng cao bị khai thiếu như nghiên cứu của Goh and Li (2008); hoặc có khả năng điều chỉnh lại (restatement) báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sau khi đã báo cáo Nagarajan và Carey (2008) Các nghiên cứu cũng tìm thấy ảnh hưởng của yếu kém kiểm soát nội bộ đến sai phạm một số khoản mục khác trên báo cáo tài chính như doanh thu, hàng tồn kho, chi phí hoạt động AshbaughSkaife, Collins, và Kinney (2007); Epps và Gutbrie (2009)
• Thị giá cổ phiếu: hệ thống kiểm soát nội bộ có khiếm khuyết cũng sẽ ảnh
hưởng đến thị giá cố phiếu Nghiên cứu của De Franco, Guan và Lu (2005); Gupta và Nayar (2007); Beneish, Billings, và Hodder (2008) cho thấy sư yếu kém của KSNB ảnh hưởng đến thị giá cổ phiếu và lợi nhuận của doanh nghiệp Ghosh và Lubberink (2006); lợi nhuận khi đầu tư cổ phiếu Tang và Xu (2007, gia tăng chi phí sử dụng vốn (bao gồm cả chi phí sử dụng vốn vay) Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống KSNB yếu kém làm gia tăng chi phí sử dụng vốn như nghiên cứu của Ghosh và Lubberink (2006); Dhaliwal, Hogan, Trezevant, và Wilkins (2008) gia tăng chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu Ogneva, Raghunandan, và Subramanyam (2007); Beneish, Billings, và Hodder (2008)
Trang 22• Giảm triển vọng về lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp theo dự đoán của
các nhà đầu tư như nghiên cứu của Ghosh và Lubberink (2006); Beneish, Billings, và Hodder (2008); Irving (2008); Pinello và Ashbaugh Skaife (2008);
Xu và Tang (2008); Feng, Li, and McVay (2009)
• Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung Nghiên cứu Xu và Tang
(2008) nghiên cứu Goh (2008); Johnstone, Li, và Rupley (2009); nghiên cứu Henry, Shon, và Weiss (2008); Hoitash, Hoitash, and Johnstone (2009); Dechow và cộng sự (2011) đã nghiên cứu về đặc điểm của các doanh nghiệp
mà báo cáo tài chính không trung thực tác động đến hiệu quả kinh doanh ra sao tác giả nghiên cứu đi đến kết luận sự yếu kém trong hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh và dẫn đến cổ phiếu suy giảm thị giá
Nghiên cứu của Nyakundi và cộng sự (2014) nghiên cứu tác động của HTKS nội bộ đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Kisumu, Kenya Kết quả của nghiên cứu cho thấy, tính hiệu quả của HTKS nội bộ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, được thể hiện qua lợi nhuận trên vốn đầu tư (Return On Investment – ROI)
Nghiên cứu của Zipporah (2015) đo lường các tác động của kiểm soát nội bộ lên HQHĐ của các công ty có trụ sở tại Nairobi, Kenya Báo cáo hằng năm của khoảng
ba mươi lăm DN được tác giả tập kết trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2014, thông qua chạy mô hình hồi quy đa biến, với các biến độc lập là năm thành tố của HTKS nội bộ theo báo cáo COSO và biến phụ thuộc là lợi nhuận trên tài sản (ROA - Return On Asset) Sau khi có kết quả hồi quy, tác giả đưa ra nhận định: môi trường kiểm soát, các hoạt động kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin truyền thông của HTKS nội bộ có tác động tích cực đối với ROA, trong khi đó, việc giám sát lại có tác động ngược chiều với ROA của các đối tượng được nghiên cứu
Trang 231.2 Các nghiên cứu trong nước
Phạm Bính Ngọ (2011) với luận án tiến sỹ “Tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng” Luận án xác nhận trong các đơn vị lập kế hoạch ngân sách thuộc Bộ quốc phòng Việt Nam có sự hoạt động cơ bản của các thành tố thuộc HTKS nội bộ, đó là 3 thành tố: môi trường kiểm soát, thông tin và truyền thông, thủ tục kiểm soát, nhưng 3 bộ phận này còn nhiều khiếm khuyết về năng lực, cũng như chưa được hỗ trợ đầy đủ về mặt pháp luật nhà nước nên HTKS nội bộ tại các đơn vị này chưa đạt được tính hữu hiệu và liên kết Tác giả cũng đưa
ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức HTKS nội bộ trong các đơn vị này
Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Minh Hải (2012) với đề tài “Hoàn thiện HTKS nội
bộ trong các doanh nghiệp may mặc Việt Nam” Luận án ra đời nhằm hoàn thiện HTKS nội bộ đặc thù của các Doanh nghiệp may mặc Việt Nam vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh, tiết kiệm và kiểm soát chi phí, giảm thiểu thiệt hại và rủi ro, vừa nhằm mục đích hướng doanh nghiệp may mặc Việt Nam đến trách nhiệm xã hội, nhất
là trách nhiệm đối với người lao động; Nghiên cứu khẳng định các doanh nghiệp đầu ngành may mặc của Việt Nam có tồn tại những thành phần cơ bản của HTKS nội bộ
là môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin và các thủ tục kiểm soát, tuy nhiên những thành phần này còn nhiều hạn chế và khiếm khuyết
Luận văn thạc sĩ của tác giả Dương Thị Ngọc Bích (2012) với đề tài “Hoàn thiện HTKS nội bộ tại doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ trên địa bạn tỉnh Bình Dương”, kết luận của tác giả cho thấy có tồn tại trong HTKS nội bộ trong các DN SX và chế biến gỗ trong khu vực tỉnh Bình Dương qua hai chu trình chi phí và chu trình doanh thu Hạn chế của nghiên cứu này là chưa đánh giá được tác động của từng thành tố đến tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ hoạt động kinh doanh
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Võ Thu Phụng (2016), với đề tài “Tác động của các thành tố cấu thành hệ thống đến HQHĐ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam” Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 5 thành phần của HTKS nội bộ có tác động cùng chiều với HQHĐ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam Hạn chế của nghiên cứu này là chưa đề cập
Trang 24đến hai mục tiêu còn lại của kiểm soát nội bộ là: (1) báo cáo tài chính đáng tin cậy; (2) tuân thủ pháp luật và các quy định
Bài nghiên cứu “Tác động của các thành phần trong HTKS nội bộ đến hiệu quả kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Định” của tác giả Trần Thị Quanh và Lê Mộng Tuyền (2017) được công bố trên tạp chí công thương số 07 tháng 06/2017 Bài viết đánh giá tác động của các thành phần trong HTKS nội bộ hiệu quả kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Định Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 5 thành phần của HTKS nội bộ thì môi trường kiểm soát có tác động lớn nhất đến sự hiệu quả của HTKS nội bộ, tiếp đến là hoạt động kiểm soát, cuối cùng là thông tin và truyền thông
Nghiên cứu của Hồ Tuấn Vũ (2016) nghiên cứu các thành tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của HTKS nội bộ trong các ngân hàng thương mại Việt Nam Kết quả nghiên cứu đưa ra 7 thành tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của HTKS nội bộ là: Đánh giá rủi
ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông, thể chế chính trị, giám sát, lợi ích nhóm, môi trường kiểm soát phù hợp với đặc thù ngành ngân hàng Hạn chế của nghiên cứu là chỉ tập trung ở các ngân hàng thương mại chưa có thành tố nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam
Nghiên cứu của Tăng Trí Hùng (2018, p 1072) được trình bày ở hội nghị “Đổi mới quản lý, Tinh thần kinh doanh và Sự bền vững” lần thứ 6 được tổ chức tại cộng hòa Czech năm 2018 Nghiên cứu dựa trên báo cáo COSO 2004 thực nghiệm trên 330 doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam dựa trên thang đo của (Tabachnick & Fidell, 2006) và (Hair, Groenland, Anderson, Tatham, & Black, 1998) Nghiên cứu
đã chỉ ra có sự ảnh hưởng của tất cả các thành tố đến tính hữu hiệu của HTKS nội bộ, trong đó thành tố Giám Sát có ảnh hưởng nhất đến HTKS nội bộ
Một nghiên cứu khác của tác giả Đinh Thế Hùng và Trần Trung Tuấn (2019) về các thành tố ảnh hưởng đến HTKS nội bộ trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam được đăng trên tạp chí nghiên cứu Growing ScienceTM của Canada đã tìm ra ngoài các thành tố trong báo cáo COSO 2013 đều có tác động đến tính hữu hiệu của
Trang 25HTKS nội bộ; ngoài ra, nghiên cứu còn tìm ra hai biến mới cũng có tác động đến tính hữu hiệu của HTKS nội bộ là quy mô của ngân hàng và xếp hạng tín nhiệm
Một nghiên cứu về các thành tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTKS nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng tại Việt Nam của tác giả Tu Chuc Anh và cộng
sự (2020) cũng được đăng trên tạp chí Growing ScienceTM, nghiên cứu cũng đồng ý với năm thành tố trong báo áo COSO đều có tác động đến tính hữu hiệu của HTKS nội bộ; trong đó Thông tin và truyền thông; Hoạt động kiểm soát; Môi trường kiểm soát có tác động mạnh nhất đến tính hữu hiệu của HTKS nội bộ; Đánh giá rủi ro, Giám sát có tác động yếu nhất
1.3 Xác định khe hổng nghiên cứu
Các nghiên cứu nước ngoài và trong nước đều chứng minh ảnh hưởng của HTKS nội
bộ trong việc đạt được các mục tiêu về tài chính, mục tiêu về hoạt động cũng như giảm thiểu rủi ro và mang lại lợi ích do doanh nghiệp.Các nghiên cứu trước tại Việt Nam đã xem xét tính hữu hiệu của HTKS nội bộ tại từng doanh nghiệp, hoặc lớn hơn
là một vài doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực Một số nghiên cứu đã xem xét tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ tại Bình Định và Bình Dương nhưng cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của các thành tố đến tính hữu hiệu và hiệu quả của các doanh nghiệp sản xuất gỗ trong khu vực tỉnh Bình Dương nhằm cung cấp một cái nhìn tổng thể về hiện trạng, chất lượng HTKS nội bộ, cũng như có thể tìm hiểu chi tiết các thành phần của HTKS nội bộ tác động lên tính hữu hiệu và HQHĐ của doanh nghiệp gỗ trong khu vực tỉnh Bình Dương
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
2.1 Các khái niệm nền tảng
2.1.1 Kiểm soát nội bộ
Theo COSO (2013), kiểm soát nội bộ (internal control) là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, nhà quản lý và các cá nhân khác, được thiết kế để cung
Trang 26cấp sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu chính như mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo và mục tiêu tuân thủ
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA 315), Kiểm soát nội bộ - Quá trình được thiết kế, thực hiện và duy trì bởi những người chịu trách nhiệm quản trị, quản lý và nhân viên khác, nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý trong việc đạt được mục tiêu liên quan đến độ tin cậy của báo cáo tài chính, hiệu quả và hiệu quả của hoạt động, và tuân thủ luật pháp hiện hành và quy định Theo chuẩn mực kiểm toán số 315 (VSA
315, Bộ Tài Chính, 2012) Kiểm soát nội bộ được định nghĩa là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan”
Theo Luật Kế toán (Quốc hội, 2015), Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội
bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra
Dù sử dụng những từ ngữ và cách diễn đạt khác nhau, nhưng tự trung, kiểm soát nội
bộ được hiểu chung nhất là một quá trình chịu sự chi phối bởi Hội đồng quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị nhằm đảm bảo hợp lý đạt được các mục
tiêu của doanh nghiệp như tính hữu hiệu và HQHĐ, báo cáo đáng tin cậy và tuân thủ pháp luật, quy định Đây là định nghĩa chính thức được sử dụng trong Luận Văn này
2.1.2 Tính hữu hiệu và hiệu quả
Theo từ điển tiếng Việt (2000) thì hữu hiệu có nghĩa là có hiệu lực, còn theo từ điển thuật ngữ3, hữu hiệu là khả năng tạo ra một kết quả hoặc mục tiêu mong muốn Khi điều gì đó được coi là hiệu quả, điều đó có nghĩa là nó có một kết quả dự kiến hoặc mong đợi hoặc tạo ra một ấn tượng sâu sắc, sống động Một hoạt động chỉ hữu hiệu
3 Định nghĩa theo từ điển https://www.dictionary.com/browse/effectiveness
Trang 27khi có mục tiêu đúng đắn, được lập kế hoạch và kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hiện mục tiêu và cuối cùng là đạt được các kết quả theo mục tiêu đã đề ra
Tính hiệu quả là việc so sánh giữa kết quả đạt được và các nguồn lực đã sử dụng Tính hữu hiệu được xem xét về khả năng đạt được kết quả mong muốn theo các phương pháp / quy trình, thường được đo lường bằng cách so sánh giữa các thành tố đầu vào và thành tố đầu ra
2.1.3 Tính hữu hiệu của HTKS nội bộ
Theo báo cáo COSO 2013, HTKS nội bộ được xem là hữu hiệu nếu Hội đồng quản trị và nhà quản lý đảm bảo hợp lý đạt được ba mục tiêu sau đây:
• Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của
việc sử dụng các nguồn lực, bảo vệ tài sản của đơn vị tránh khỏi tổn thất và mất mát, bảo mật thông tin của đơn vị
• Nhóm mục tiêu về báo cáo, gồm báo cáo tài chính và phi tài chính cho người bên ngoài và bên trong: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin
cậy của báo cáo tài chính và phi tài chính mà đơn vị cung cấp Điều này nhằm đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của các bên liên quan về về năng lực điều hành và trách nhiệm giải trình của nhà quản lý, trong đó có trách nhiệm báo cáo, quản trị rủi ro, ngăn chặn và phát hiện gian lận tại đơn vị
• Nhóm mục tiêu về tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật của đơn
vị
Các mục tiêu nêu trên có thể tách biệt nhưng cũng có thể trùng lắp, vì trên thực tế, mục tiêu của doanh nghiệp có thể xếp vào một hay nhiều loại trong ba nhóm mục tiêu trên Sự phân loại các loại mục tiêu chỉ giúp đơn vị hiểu rõ các khía cạnh của một HTKS nội bộ hữu hiệu để nhà quản lý đảm bảo hợp lý đạt được tất cả các nhóm mục tiêu nêu trên Nói cách khác, HTKS nội bộ hữu hiệu phải giảm thiểu rủi ro của việc không đạt được một, hai hay ba nhóm mục tiêu xuống mức thấp nhất có thể chấp nhận được Do vậy, một HTKS nội bộ hữu hiệu phải thỏa mãn hai yêu cầu sau đây:
Trang 28• Một HTKS nội bộ hữu hiệu phải đảm bảo năm thành phần và các nguyên tắc tương ứng phải vận hành trên thực tế Không thể lấy sự hữu hiệu của bộ phận này để bù đắp cho sự yếu kém hay không tồn tại của bộ phận khác
• Năm thành phần hoạt động với nhau như một thể thống nhất
2.1.4 Các thành tố hợp thành HTKS nội bộ
Theo báo cáo COSO 2013 thì hệ thống KSNB bao gồm 5 thành phẩn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát cùng với đó là 17 nguyên tắc mở rộng
2.1.4.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát là tập hợp các tiêu chuẩn, quy trình và cấu trúc cung cấp cơ sở
để thực hiện kiểm soát nội bộ trong toàn tổ chức Hội đồng quản trị và quản lý cấp cao xây dựng các chuẩn mực ban đầu về tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ bao gồm các tiêu chuẩn ứng xử dự kiến Quản lý củng cố kỳ vọng ở các cấp độ khác nhau của tổ chức Môi trường kiểm soát bao gồm cam kết về sự trung thực và các giá trị đạo đức của tổ chức; các thước đo cho phép hội đồng quản trị thực hiện trách nhiệm giám sát ban giám đốc của đơn vị; cơ cấu tổ chức và phân công quyền hạn và trách nhiệm; quá trình thu hút, phát triển và giữ chân những cá nhân có năng lực; và sự nghiêm túc xung quanh các biện pháp thực hiện, cũng như việc khuyến khích và tưởng thưởng để thúc đẩy trách nhiệm đối và hiệu quả trong công việc Môi trường kiểm soát kết quả có tác động lan rộng đến toàn bộ HTKS nội bộ
Trong tất cả 17 nguyên tắc, thành phần Môi trường kiểm soát có năm (5) nguyên tắc liên quan đến nó:
Nguyên tắc 1: Cam kết về sự trung thực và các giá trị đạo đức
Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị độc lập với Ban giám đốc và đảm nhiệm giám sát việc triển khai cũng như vận hành HTKS nội bộ
Nguyên tắc 3: Giám đốc xây dựng, trong sự giám sát của hội đồng quản trị, các cơ cấu, các cấp bậc báo cáo và phân định quyền hạn và trách nhiệm thích hợp trong việc hướng đến thực hiện mục tiêu của tổ chức
Trang 29Nguyên tắc 4: Đơn vị thể hiện cam kết thu hút, phát triển và giữ chân các
cá nhân có năng lực có chung chí hướng trong việc thực hiện mục tiêu của tổ chức
Nguyên tắc 5: Đơn vị giám sát các cá nhân có trách nhiệm giải trình trong quy trình kiểm soát nội bộ trong việc theo đuổi các mục tiêu
Những nguyên tắc này lần lượt có những cách tiếp cận đóng vai trò là kim chỉ nam trong việc hướng dẫn cho tổ chức có thể đạt được mục tiêu Các nguyên tắc, mặc dù được xác định một cách chi tiết, không có nghĩa là doanh nghiệp bắt buộc phải áp dụng một cách máy móc; tùy theo từng hoàn cảnh, các doanh nghiệp có thế có cách tiếp cận riêng của họ, đặc biệt trong những trường hợp không được Báo cáo COSO
2013 quy định cụ thể
2.1.4.2 Đánh giá rủi ro
Mỗi doanh nghiệp đều phải đối mặt với một loạt các rủi ro từ các nguồn bên ngoài và bên trong Rủi ro, được định nghĩa là khả năng của sự kiện có thể xảy ra và ảnh hưởng xấu đến việc đạt được các mục tiêu Đánh giá rủi ro liên quan đến một quá trình liên tục và lặp đi lặp lại để xác định và đánh giá rủi ro có thể xảy ra trên hành trình thực hiện mục tiêu Rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu này từ khắp các doanh nghiệp được coi là liên quan đến dung sai rủi ro được thiết lập Do đó, đánh giá rủi ro là cơ
sở để xác định mức độ rủi ro sẽ được xem xét
Nguyên tắc 6: Xác định mục tiêu có liên quan
Nguyên tắc 7: Nhận diện và phân tích rủi ro
Để xác định rủi ro, đơn vị có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: các phương pháp dự báo, phân tích các dữ liệu quá khứ, rà soát các hoạt động thường xuyên để có thể tạo ra một danh sách các rủi ro chính (và ngẫu nhiên có thể phát hiện
ra một cơ hội nào đó) được phân loại (tài chính, hoạt động, chiến lược, tuân thủ) và danh sách rủi ro phụ (thị trường, tín dụng, thanh khoản, ) Mặc dù những rủi ro này nhiều lúc chỉ ảnh hưởng đến cấp nhân viên phần hành, tuy nhiên vẫn cần phải tạo ra
Trang 30được sự chú ý của lãnh đạo và ban giám đốc vào những rủi ro chính Việc đánh giá những rủi ro chính được thực hiện thông qua quy trình nhận diện và phân tích rủi ro Nhận diện và phân tích rủi ro là việc tập hợp và phát triển tiêu chí đánh giá có thể sử dụng được xuyên suốt các cấp quản lý từ cao đến thấp cũng như phải xem xét các tiêu chí riêng biệt để có thể áp dụng vào các dự án lớn của doanh nghiệp Việc đánh giá rủi ro thông thường được đánh giá dựa vào khả năng xảy ra và ảnh hưởng của rủi
ro Một số doanh nghiệp đánh giá rủi ro dựa trên các tiêu chí khác như khả năng gây tổn thương hoặc tốc độ khởi phát
Nguyên tắc 8: Đánh giá nguy cơ gian lận
Nguyên tắc 9: Nhận diện và phân tích các thay đổi quan trọng
Đánh giá nguy cơ gian lận là một nguyên tắc riêng tối quan trọng của Báo cáo COSO
2013, bởi vì ngoài khả năng xảy ra và mức độ ảnh hưởng như các rủi ro thông thường, gian lận có thể phá hủy danh tiếng của doanh nghiệp, tác động tiêu cực đến tinh thần của nhân viên và dễ dẫn đến những cuộc tranh chấp hoặc kiện tụng nhằm vào giám đốc và hội đồng quản trị của doanh nghiệp Vì vậy, đánh giá nguy cơ gian lận một cách thận trọng và kỹ lưỡng là việc mà mọi doanh nghiệp đều phải thực hiện
Nguyên tắc cuối cùng của việc đánh giá rủi ro là nhận diện và đánh giá những thay đổi quan trọng có thể ảnh hưởng sâu, rộng hoặc làm thay đổi hoàn toàn HTKS nội
bộ Những thay đổi dạng này bao gồm những thay đổi trong môi trường kinh doanh,
mô hình hoạt động của doanh nghiệp, rủi ro bảo mật hoặc tác động mới của công nghệ, mối quan hệ với nhà cung cấp, lãnh đạo, đều phải được xem xét và đánh giá
2.1.4.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là các hành động cụ thể được thực thi thông qua các chính sách
và thủ tục giúp đảm bảo rằng các chỉ thị của nhà quản lý nhằm giảm thiểu rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu được thực hiện Các hoạt động kiểm soát được thực hiện ở tất cả các cấp bậc của doanh nghiệp, ở các giai đoạn khác nhau trong quy trình kinh doanh và trên môi trường công nghệ Các hoạt động kiểm soát, về mặt bản chất
Trang 31có thể mang tính chất phòng ngừa hoặc phát hiện, bao gồm một loạt các hoạt động thủ công và tự động như ủy quyền và phê duyệt, xác minh, chỉnh hợp và phân tích rà soát Phân chia trách nhiệm thường được xây dựng trong việc lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát Khi việc phân chia trách nhiệm không thể thực hiện trong thực tế, ban quản lý lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát thay thế
Đối với thành phần Hoạt động kiểm soát, Báo cáo COSO đề cập các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 10: Đơn vị lựa chọn và xây dựng các hoạt động kiểm soát góp phần giảm thiểu rủi ro và thực hiện các mục tiêu với mức chi phí có thể chấp nhận được
Nguyên tắc 11: Đơn vị lựa chọn và xây dựng các hoạt động kiểm soát chung đối với công nghệ để hỗ trợ việc thực hiện các mục tiêu
Nguyên tắc 12: Đơn vị triển khai các hoạt động kiểm soát thông qua các chính sách nhằm đạt được các mục tiêu kiểm soát như mong đợi và triển khai quy trình chi tiết trong việc áp dụng chính sách vào thực tế
Báo cáo COSO 2013 khuyến nghị một số hoạt động kiểm soát mẫu để đưa các nguyên tắc này vào hoạt động của đơn vị Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các phương pháp này không đầy đủ, do đó, doanh nghiệp tùy từng trường hợp cụ thể có thể xây dựng thêm các chính sách thích hợp hơn khi không có phương thức tiếp cận nào được đề xuất bởi Báo cáo COSO 2013
Đơn vị lựa chọn và xây dựng các hoạt động kiểm soát góp phần giảm thiểu rủi
ro và thực hiện các mục tiêu với mức chi phí có thể chấp nhận được
Trang 32Sau khi Đánh giá rủi ro, các rủi ro đó đe dọa đến việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp được xác định và đánh giá, trách nhiệm thuộc về ban giám đốc và hội đồng quản trị để thiết lập các hoạt động kiểm soát nhằm loại bỏ các rủi ro này hoặc giảm thiểu
sự xuất hiện của chúng thấp nhất hoặc ít nhất là một mức có chấp nhận được Doanh nghiệp có thể xây dựng ma trận để chỉ ra các rủi ro mà tổ chức gặp phải cũng như các biện pháp kiểm soát có thể được đưa ra để hạn chế chúng Ngoài ra, doanh nghiệp có thể xây dựng lại quyền hạn trong quy trình xét duyệt để có thể giảm mức độ thiệt hại đối với các rủi ro gian lận hoặc lừa đảo có thể xảy ra Giới hạn lại miêu tả công việc một cách hợp lý có thể dùng để ngăn chặn việc một nhân viên hiểu rõ toàn bộ chu trình kinh doanh và từ đó thao túng những khiếm khuyết trong chu trình Những biện pháp này có thể hạn chế ít nhất sự xuất hiện của các hành vi gian dối ngay cả khi không thể hoàn toàn loại bỏ được các rủi ro đó
Doanh nghiệp có thể sử dụng một số cách tiếp cận để đáp ứng nguyên tắc này như sử dụng ma trận, họp giao ban định kỳ hằng tuần, hằng tháng hoặc xây dựng một danh sách bao gồm các hoạt động kiểm soát và những rủi ro có liên quan Ngoài ra, doanh nghiệp có thể xây dựng hoặc giám sát các hoạt động kiểm soát khi thuê bên ngoài gia công cho các sản phẩm của doanh nghiệp, đánh giá loại hoạt động kiểm soát, đánh giá các hoạt động kiểm soát thay thế nhằm phân định trách nhiệm rõ ràng hơn, đánh giá các hoạt động kiểm soát không có ý nghĩa để loại bỏ
Đơn vị lựa chọn và xây dựng các hoạt động kiểm soát chung đối với công nghệ
để hỗ trợ việc thực hiện các mục tiêu
Tác động lớn
Hình 2-1 Ví dụ về ma trận rủi ro sử dụng để xây dựng
hoạt động kiểm soát
Trang 33Kể từ khi cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra, rất nhiều quy trình kinh doanh
đã được số hóa và tự động hóa Tuy nhiên, mặc dù sử dụng công nghệ có thể tạo ra kết quả với mức độ chính xác rất cao và tốc độ rất nhanh, đầu ra của chúng vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào đầu vào Kết quả là, có những rủi ro của việc tạo ra đầu ra không chính xác vì tồn tại sai sót và bất cẩn xảy ra ở khâu đầu vào Do đó, doanh nghiệp cũng cần phải xây dựng nhiều hoạt động kiểm soát xung quanh các quy trình kinh doanh điện tử và các quy trình vận hành thủ công có sự góp mặt của con người Vì lý
do đó, các công việc cũng có thể được tách bạch giữa các nhân viên khác nhau, vì vậy một người không thể vận hành quá nhiều quy trình Ví dụ, một nhân viên có thể thực hiện xử lý và nhập liệu đầu vào trong khi một nhân viên có nhiệm vụ kiểm tra chéo và phê duyệt để đưa dữ liệu vào hệ thống Những hoạt động này nhằm giảm thiểu rủi ro và tăng độ tin cậy của các báo cáo, tuy nhiên chỉ hữu hiệu khi không có
sự thông đồng giữa các nhân viên với nhau
Báo cáo COSO 2013 cung cấp một số quy trình cho doanh nghiệp để có thể hiểu rõ
và tiếp cận hợp lý để thực hiện được nguyên tác này Một số ví dụ mà báo cáo đưa ra bao gồm sử dụng ma trận rủi ro và kiểm soát đối với những chứng từ có liên quan đến công nghệ thông tin, đánh giá các hoạt động kiểm soát của người dùng cuối, xây dựng hoặc giám sát các hoạt động kiểm soát khi thuê bên ngoài xây dựng hệ thống công nghệ thông tin cho doanh nghiệp, cấu hình cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin nhằm phân chia quyền truy cập và khả năng tiếp cận các công cụ và chức năng của
hệ thống, xây dựng một số chức năng nhằm hỗ trợ hoàn tất, kiểm tra tính chính xác
và hợp lệ của các giao dịch, giám sát quyền truy cập và khả năng tiếp cận vào hệ thống, áp dụng một số quy trình trong việc quản lý vòng đời phần mềm đối với các module hệ thống thuê ngoài xây dựng hoặc được doanh nghiệp tự phát triển
Đơn vị triển khai các hoạt động kiểm soát thông qua các chính sách nhằm đạt được các mục tiêu kiểm soát như mong đợi và triển khai quy trình chi tiết trong việc áp dụng chính sách vào thực tế
Trang 34Các nguyên tắc trước đây về thành phần Đánh giá rủi ro nêu rõ rằng tổ chức nên lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát, bao gồm các hoạt động kiểm soát công nghệ thông tin, góp phần giảm thiểu rủi ro để đạt được mục tiêu đến mức chấp nhận được Tuy nhiên, nguyên tắc này giải thích rằng mặc dù các nguyên tắc trước đó rất quan trọng, các mục tiêu của chúng sẽ không đạt được trừ khi chúng được ghi chép, công bố và thực hiện đúng như các chính sách Các chính sách này, sau khi được phát triển, có thể được thực thi trong toàn tổ chức bởi các nhà lãnh đạo ở các vị trí và bộ phận khác nhau của doanh nghiệp Các chính sách, ngoài việc được đánh giá một cách thường xuyên, cũng nên được đánh giá đột xuất khi doanh nghiệp cảm thấy điều
đó là quan trọng
2.1.4.4 Thông tin và truyền thông
Thông tin là cần thiết cho các doanh nghiệp để thực hiện trách nhiệm kiểm soát nội
bộ để hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu của nó Nhà quản lý tận dụng hoặc tạo mới
và sử dụng những thông tin chất lượng từ cả nguồn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để hỗ trợ cho các chức năng của HTKS nội bộ Truyền thông là quá trình liên tục, lặp đi lặp lại của việc cung cấp, chia sẻ và thu thập thông tin cần thiết Truyền thông nội bộ là phương tiện để thông tin được phổ biến trong toàn tổ chức, chảy lên, xuống và đi xuyên qua doanh nghiệp Nó cho
phép nhân viên nhận được một thông điệp rõ
ràng từ quản lý cấp cao rằng trách nhiệm kiểm
soát phải được thực hiện nghiêm túc Truyền
thông cho bên ngoài có các hướng: truyền
thông từ nội bộ ra bên ngoài có liên quan và
thu nhận thông tin từ bên ngoài vào.Các
nguyên tắc liên quan đến Thông tin và Truyền
thông bao gồm;
Lập kế hoạch
Phân tích hệ thốngThiết
kế hệ thống
Cài đặt
hệ thống
Vận hành và bảo trì
Hình 2-2 Miêu tả quy trình quản lý vòng đời phần mềm
Trang 35Nguyên tắc 13: Đơn vị tận dụng hoặc tạo mới và sử dụng những thông tin chất lượng có liên quan để hỗ trợ cho việc vận hành HTKS nội bộ
Tầm quan trọng của thông tin đối với việc quản lý của một tổ chức không thể được nhấn mạnh quá mức Thông tin liên quan có thể có nguồn gốc cả bên trong và bên ngoài và có thể có các yêu cầu mới của các cơ quan quản lý về báo cáo tài chính hoặc thông tin để hỗ trợ chức năng kiểm soát nội bộ Do đó, ban quản lý phải nỗ lực có ý thức để có được thông tin về trách nhiệm kiểm soát nội bộ của họ
Các cách tiếp cận có thể được thực hiện để đạt được mục tiêu của nguyên tắc này bao gồm Tạo một kho lưu trữ các yêu cầu thông tin, lấy thông tin từ các nguồn bên ngoài, lấy thông tin từ quản lý phi tài chính, tạo và duy trì kho thông tin, sử dụng ứng dụng
để xử lý dữ liệu thành thông tin, Nâng cao chất lượng thông tin thông qua chương trình quản trị dữ liệu và xác định, bảo mật và lưu giữ dữ liệu và thông tin tài chính
Nguyên tắc 14: Đơn vị trao đổi thông tin nội bộ, bao gồm mục tiêu và trách nhiệm đối với kiểm soát nội bộ, cần thiết để hỗ trợ cho việc vận hành HTKS nội
bộ
Không đủ để có được thông tin cần thiết về quản lý các mục tiêu và trách nhiệm của Ban kiểm soát nội bộ, thông tin đó phải được truyền đạt đúng cách và xếp tầng cho những người thích hợp Nó phải được thực hiện đúng cách và vào thời điểm thích hợp Ngoài ra, việc sử dụng các dòng báo cáo riêng biệt sẽ được yêu cầu để chương trình Thổi còi hoạt động tối ưu
Báo cáo COSO 2013 khuyến nghị các cách tiếp cận sau đây để đạt được điều này; Truyền đạt thông tin liên quan đến các mục tiêu báo cáo tài chính bên ngoài và kiểm soát nội bộ, truyền đạt trách nhiệm kiểm soát nội bộ, xây dựng hướng dẫn truyền thông tới ban giám đốc, xem xét thông tin kiểm soát tài chính và nội bộ với ban giám đốc, truyền đạt chương trình thổi còi cho nhân viên công ty Kênh báo cáo thay thế và thiết lập các quy trình và diễn đàn truyền thông kiểm soát nội bộ đa chức năng và đa chiều
Trang 36Nguyên tắc 15: Doanh nghiệp trao đổi với các bên ngoài doanh nghiệp về các vấn đề ảnh hưởng đến việc vận hành HTKS nội bộ
Nguyên tắc này liên quan đến rất nhiều vấn đề Nó nói rằng các bên ngoài doanh nghiệp phải tham gia, vì các vấn đề kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính phải được thông báo cho các bên quan tâm hoặc những người dự kiến sở hữu chúng Nó cũng khuyến khích ban quản lý của đơn vị có được thông tin về kiểm soát nội bộ của mình thông qua các nguồn bên ngoài bao gồm thực hiện các khảo sát
Truyền đạt thông tin cho các bên liên quan bên ngoài, lấy thông tin từ các nguồn bên ngoài, khảo sát các bên ngoài, truyền đạt chương trình thổi còi cho các bên ngoài và xem xét truyền thông kiểm toán bên ngoài là các phương pháp được Báo cáo COSO
2013 đề xuất
2.1.4.5 Giám sát
Các nguyên tắc liên quan đến Hoạt động giám sát bao gồm;
Nguyên tắc 16: Doanh nghiệp lựa chọn, phát triển và thực hiện các đánh giá liên tục và/hoặc các đánh giá đột ngột để xác định xem các thành phần của kiểm soát nội bộ có tồn tại và hoạt động hay không
Việc quản lý một doanh nghiệp cần đánh giá kiểm soát nội bộ của công ty để xác định xem các thành phần không chỉ hiện diện mà còn hoạt động Nó có thể đạt được kết thúc này bằng cách thực hiện các phương pháp sau đây; Định kỳ xem xét kết hợp các hoạt động giám sát, thiết lập đường cơ sở, xác định và sử dụng các số liệu, thiết kế
và triển khai bảng điều khiển, sử dụng công nghệ để hỗ trợ các hoạt động giám sát, tiến hành đánh giá riêng biệt, sử dụng kiểm toán nội bộ để tiến hành đánh giá riêng
và kiểm soát các nhà cung cấp dịch vụ thuê ngoài
Nguyên tắc 17: Tổ chức đánh giá và truyền đạt những thiếu sót trong kiểm soát nội bộ một cách kịp thời cho các bên chịu trách nhiệm thực hiện hành động khắc phục, bao gồm cả quản lý cấp cao và ban giám đốc, nếu phù hợp:
Trang 37Khi việc đánh giá kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đã được thực hiện và đã xác định rằng một số thành phần có mặt nhưng không hoạt động hoặc không có mặt, tất
cả các phản hồi phải được chuyển cho những người liên quan Các thiếu sót được xác định nên được giải quyết bằng cách thực hiện các hành động khắc phục trong thời gian tới hạn Mục tiêu này có thể đạt được bằng cách đánh giá và báo cáo các thiếu sót, giám sát hành động khắc phục và hướng dẫn xây dựng các báo cáo về sự thiếu hụt
2.2 Lý thuyết nền tảng
2.2.1 Lý thuyết đại diện
Lý thuyết đại diện được khởi xướng bởi Jensen và Meckling (1976) trong tác phẩm
“Lý thuyết về công ty: Hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện và cấu trúc sở hữu” đã giới thiệu các quan điểm của mình về lý thuyết người đại diện Lý thuyết đại diện giải thích mối quan hệ / xung đột lợi ích giữa bên ủy nhiệm (principal) và bên được ủy nhiệm (agents) và để xuất các biện pháp để hạn chế các xung đột này Bên
ủy nhiệm thuê bên được ủy nhiệm làm việc cho họ, xung đột lợi ích phát sinh khi các bên được ủy nhiệm đưa ra quyết định vì lợi ích của họ, mà không vì bên ủy nhiệm
Do vậy, cần có các biện pháp để dung hòa lợi ích của các bên
Cùng với nghiên cứu của Jensen & Meckling (1976), một nghiên cứu khác về chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu sau đó đã được thực hiện bởi Fama & Jensen (1983) Nghiên cứu này đưa ra kết luận rằng trong một công ty mà có sự tách biệt giữa quyền
sở hữu và kiểm soát, người sở hữu không tham gia vào việc quản lý công ty, sẽ phải bỏ ra chi phí đại diện Khi đó, sẽ xuất hiện vì tình trạng bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và chủ sở hữu (các cổ đông) Điều này là do nhà quản lý có nhiều thông tin về tình hình công ty và họ sẽ dùng quyền quản lý để trục lợi cho bản thân Để giải quyết sự xung đột giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm cần thiết phải có biện pháp giám sát đó chính là HTKS nội bộ HTKS nội bộ được xem là một cơ chế kiểm soát quan trọng giúp các cổ đông giám sát bên được ủy nhiệm và tin tưởng rằng người quản lý điều hành công ty vì lợi ích tốt nhất cho các cổ đông
Trang 38Lý thuyết đại diện, có thể sử dụng để giải thích lý do cần thiết kế HTKS nội bộ và chính các thành tố thuộc HTKS nội bộ sẽ tác động đến tính HQHĐ doanh nghiệp Mộ HTKS nội bộ tốt giúp giảm thiểu chi phí ủy nhiệm, nâng cao HQHĐ tại các doanh nghiệp
2.2.2 Lý thuyết hành vi tổ chức
Lý thuyết hành vi tổ chức (the social psychology of organization) là một phần của lý thuyết hành vi, nhằm mục đích tìm hiểu về suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của con người, cũng như là tính cách và nhận thức, cơ bản được điều chỉnh bởi những cá nhân khác trong cùng một nhóm, hay là cùng một doanh nghiệp Tiêu biểu nghiên cứu về lĩnh vực này có nghiên cứu của Douglas Mc Gregor (1906-1964), ông đã xác định cách tiếp cận để tạo ra một môi trường làm việc trong đó nhân viên được thúc đẩy thông qua sự chỉ đạo và kiểm soát có thẩm quyền hoặc tự kiểm soát Ông cũng đưa
ra một quan điểm mới về việc con người không phải lúc nào cũng không thích làm việc hoặc chỉ làm việc vì tiền
Lý thuyết này giải thích hành vi của các nhân trong tổ chức Những nghiên cứu đầu tiên về lý thuyết này xuất hiện từ những năm 1930 và đến nay nó vẫn tiếp tục được nghiên cứu do sự phức tạp của tâm lý con người, Việc nghiên cứu hành vi tổ chức cung cấp một số ý tưởng cho ban lãnh đạo như cách sử dụng con người một cách hợp
lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức Con người không chỉ là công cụ trong tổ chức mà là cốt lõi của sự tồn tại của tổ chức Lý thuyết cũng được sử dụng để giải thích về các hoạt động kiểm soát giúp giám sát hoạt động, giảm thiểu các bất lợi, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp
Theo lý thuyết về hành vi của tổ chức, để đạt được mục tiêu của đơn vị thì cần có sự tham gia của tất cả các thành viên của công ty HTKS nội bộ sẽ đạt được sự hữu hiệu khi tất cả các nhân viên và các cấp quản lý trong công ty có nhận thức và hành vi đúng đắn trong công tác Nhà quản lý phái hiểu rõ nhu cầu của nhân viên để có thể hướng dẫn, giám sát và đưa ra những công việc cũng như ủy nhiệm một cách hợp lý, tạo động lực cho nhân viên Bên cạnh đó, tác phong quản lý, nhân cách đạo đức và
Trang 39sự, hành vi và giao tiếp của các cấp quản lý cũng có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến hiệu quả làm việc của nhân viên
Dựa trên lý thuyết hành vi, có thể giải thích vai trò của quản lý trong đó thành tố môi trường kiểm soát và đánh giá rủi ro là các thành tố rất quan trong trong kiểm soát để nâng cao hiệu quả Ngoài ra, việc thiết kê hoạt động kiểm soát, thông tin truyển thông
và giám sát đều là những thành tố quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp đạt được tính hữu hiệu trong hoạt động
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu, các bước triển khai nghiên cứu và thu thập dữ liệu
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu và các bước triển khai nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dung là phương pháp nghiên cứu hỗn hợp Phương pháp hỗn hợp (Mixed methods research – MMR) là phương pháp mà nhà nghiên cứu hoặc nhóm nhà nghiên cứu kết hợp cả hai thành tố định tính và định lượng trong vấn
đề cần nghiên cứu để diễn tả được kết quả nghiên cứu theo cả chiều rộng và chiều sâu (Johnson, Onwuegbuzie, & Turner, 2007, p 123) Việc tiếp cận và giải đáp câu hỏi nghiên cứu bằng cả hai phương pháp định lượng và định tính giúp cho nghiên cứu đạt được độ tin cậy theo nhiều phương diện khác nhau
Có rất nhiều cách để thiết kế phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, bao gồm: Thiết kế hỗn hợp đa phương pháp; Thiết kế hỗn hợp gắn kết; Thiết kế hỗn hợp giải thích; Thiết
kế hỗn hợp khám phá Trong luận văn này, tác giả sử dụng thiết kế hỗn hợp khám phá với mục đích khám phá các thang đo mới phù hợp đạc điểm doanh nghiệp Gỗc
để hoàn thiện mô hình
Lý do sử dụng phương pháp này là vi dù các thành tố của báo cáo Coso là các thành
tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu và hiệu quả của họat động đã được chứng minh là phù hợp trong các nghiên cứu trước, nhưng có thể không hoàn toàn phù hợp với các
Trang 40doanh nghiêp gỗ tại Bình dương Do vậy, Luận văn sử dụng phương pháp này nhằm hoàn thiện mô hình nghiên cứu
Các bước triển khai nghiên cứu có thể tóm tắt như sau:
Bước 1: Tổng kết các nghiên cứu trước liên quan đến các thành tố ảnh hưởng đến
HTKS nội bộ ảnh hưởng đến tính hữu hiệu và hiêu qủa hoạt động, từ đó lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp làm tiền đề cho các bước nghiên cứu tiếp theo,
Bước 2: Thực hiện nghiên cứu định tính nhằm hoàn chỉnh mô hình, trong đó chủ yếu
hoàn thiện thang đo của các biến quan sát phù hợp với điều kiện và đặc điểm của các
DN SX gỗ trong khu vực tỉnh Bình Dương
Bước 3: Thu thập dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu định lượng nhằm đo lường mức độ
tác động của từng thành tố
Các bước triển khai nghiên cứu chung như sau: