1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của giáo dục khởi nghiệp, năng lực cảm xúc và niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại tp hcm

118 39 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 3,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG TRINH ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO DỤC KHỞI NGHIỆP, NĂNG LỰC CẢM XÚC VÀ NIỀM TIN VÀO NĂNG LỰC BẢN THÂN KHỞI NGHIỆP ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TẠI TP.HCM Chuy

Trang 1

NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG TRINH

ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO DỤC KHỞI NGHIỆP, NĂNG LỰC CẢM XÚC VÀ NIỀM TIN VÀO NĂNG LỰC BẢN THÂN KHỞI NGHIỆP ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP

CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TẠI TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2021

Trang 2

NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG TRINH

ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO DỤC KHỞI NGHIỆP, NĂNG LỰC CẢM XÚC VÀ NIỀM TIN VÀO NĂNG LỰC BẢN THÂN KHỞI NGHIỆP ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP

CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TẠI TP.HCM

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh Hướng đào tạo : Hướng nghiên cứu

Mã số : 8340101

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN TÂN

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2021

Trang 3

Quản trị kinh doanh, Trường đại học Kinh tế TP.HCM

Tôi xin cam đoan rằng luận văn thạc sĩ đề tài “Ảnh hưởng của giáo dục khởi nghiệp, năng lực cảm xúc và niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ạiại học tại TP.HCM” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy TS Nguyễn Văn Tân Tôi cam đoan những kiến thức, kết quả được trình bày trong luận văn này là do chính công sức của bản thân tôi, không thực hiện việc sao chép những nghiên cứu của người khác dưới mọi hình thức

Dữ liệu được sử dụng trong luận văn này được thu thập một cách khách quan, trung thực của sinh viên tại các trường đại học trên địa bản TP.HCM Tài liệu trích dẫn tham khảo theo đúng quy định

Tôi cam đoan những điều trên đều đúng sự thật và chịu hoàn toàn trách nhiệm

TP HCM, ngày … tháng … năm 2021

Tác giả

Nguyễn Ngọc Phương Trinh

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

TÓM TẮT

ABSTRACT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 6

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 6

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

1.5 Phương pháp nghiên cứu 7

1.6 Ý nghĩa đề tài 7

1.7 Kết cấu luận văn 8

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 10

2.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu 10

2.1.1 Khởi nghiệp 10

2.1.2 Ý định khởi nghiệp của sinh viên 11

2.2 Lý thuyết, mô hình lý thuyết có liên quan 13

2.2.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) 13

2.2.2 Lý thuyết niềm tin vào năng lực bản thân (TSE) của Bandura (1997) 14

2.3 Các khái niệm nghiên cứu 15

Trang 5

2.3.3 Niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp 17

2.4 Các nghiên cứu có liên quan 18

2.4.1 Nghiên cứu “Giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở các tổ chức giáo dục đại học hay không? Vai trò của tuổi, giới tính và nền tản bằng cấp” của Paray và Kumar, (2020) 18

2.4.2 Nghiên cứu “ Các yếu tố “điêu khắc” nên tinh thần khởi nghiệp của sinh viên đại học ở Indonesia” của Zakky Zamrudi và Farida Yulianti, (2020) 19

2.4.3 Nghiên cứu “ Năng lực cảm xúc và tiền đề nhận thức trong việc hình thành ý định khởi nghiệp: Vai trò kiểm duyệt của giáo dục khởi nghiệp” của Fernández-Pérez và cộng sự, (2019) 21

2.4.4 Nghiên cứu “ Niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp và ý định: Sáng tạo trong khởi nghiệp và giáo dục có quan trọng hay không” của tác giả Shahab và cộng sự, (2019) 23

2.4.5 Nghiên cứu “ Giáo dục khởi nghiệp, niềm tin vào năng lực bản thân và ý định tại Sub-Saharan Châu Phi” của Puni và cộng sự, (2018) 24

2.5 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất 25

2.5.1 Các giả thuyết nghiên cứu 25

2.5.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Quy trình nghiên cứu 31

3.2 Thang đo lường các khái niệm trong nghiên cứu 34

3.3 Nghiên cứu định tính (nghiên cứu định tính sơ bộ) 38

3.3.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 38

Trang 6

3.4.1 Thiết kế mẫu và thu thập mẫu 41

3.4.2 Xử lý số liệu mẫu quan sát 42

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

4.1 Thống kê mô tả dữ liệu Mẫu nghiên cứu 45

4.2 Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 47

4.2.1 Đánh giá mô hình đo lường 48

4.2.2 Đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt 49

4.3 Kiểm định Bootstrap 52

4.7 Phân tích đa nhóm 55

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 58

5.1 Kết luận nghiên cứu 58

5.2 Hàm ý quản trị và đề xuất 61

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và kiến nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Các chữ

SEM Structural Equation Modeling Mô hình cấu trúc tuyến tính SPSS Statistical Package for the Social

Science

Phần mềm phân tích thống kê trong lĩnh vực khoa học xã hội

Trang 8

Bảng 3.2: Tổng hợp thang đo các khái niệm trong nghiên cứu 35

Bảng 4.1: Thống kê cơ cấu mẫu nghiên cứu 46

Bảng 4.2: Độ tin cậy và giá trị hội tụ của các thang đo trong nghiên cứu 47

Bảng 4.3: Hệ số tải ngoài của các nhân tố 48

Bảng 4.4: Hệ số HTMT 49

Bảng 4.5: Hệ số R2 50

Bảng 4.6: Hệ số ảnh hưởng effect size f2 50

Bảng 4.7: Bảng phân tích dữ liệu SRMR 51

Bảng 4.8: Kết quả phân tích Bootstrapping mô hình cấu trúc 53

Bảng 4.9: Kết quả kiểm định giả thuyết 54

Trang 9

Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch, Ajzen, 1991 14

Hình 2.2: Mô hình ảnh hưởng của giáo dục khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, Parray và Kumar, (2020) 18

Hình 2.3: Các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, Zamrudi và Yulianti, (2020) 20

Hình 2.4: Mô hình các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp sinh viên đại học của Fernández-Pérez và cộng sự, (2019) 22

Hình 2.5: Mô hình mối quan hệ giữa các nhân tố với ý định khởi nghiệp của Shahab và cộng sự, (2019) 24

Hình 2.6: Mô hình ý định khởi nghiệp của Puni và cộng sự, (2018) 25

Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu đề xuất 30

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 32

Hình 4.1: Kết quả phân tích mô hình cấu trúc 52

Trang 10

định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn TP.HCM Vận dụng Lý thuyết hành vi có

kế hoạch (TPB) và kết hợp thành phần năng lực cảm xúc (EC) trong lý thuyết về niềm

tin vào năng lực bản thân (TSE)

Thiết kế/ Phương pháp nghiên cứu/ Tiếp cận: Nghiên cứu định lượng chính

thức: thực hiện thu thập dữ liệu của 400 sinh viên đại học đang học tập tại TP.HCM

Áp dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để thực hiện kiểm định mô hình và giả

thuyết nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu: Kết quả tìm được hầu hết thỏa mãn Lý thuyết TPB và

các kết quả từ các tác giả trên thế giới Tương tự như các nghiên cứu trước thì giáo dục khởi nghiệp và năng lực cảm xúc tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của

sinh viên đại học và niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp

Kết luận và hàm ý: Giáo dục khởi nghiệp giúp cho sinh viên tiếp cận kiến

thức khởi nghiệp và kỹ năng nhận dạng cơ hội khởi nghiệp phát triển mạnh đến niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp của sinh viên Ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên đại học cũng được phát triển tích cực mạnh mẽ bởi

năng lực cảm xúc của bản thân họ

Từ khóa: giáo dục khởi nghiệp, niềm tin vào năng lực khởi nghiệp, năng lực

cảm xúc, ý định khởi nghiệp, Lý thuyết hành vi có kế hoạch

Trang 11

intention (EI) in Ho Chi Minh City Applying the Theory of Planed Behaviour (TPB) and incorporating emotional competencies (EC) in Theory of Self-Efficacy (TSE)

Design/ Methodology/ Approach: The quantitative research with 400

questionnaires from university students in Ho Chi Minh Using Structural Equation Modeling (SEM) to test the model and hypothesis

Findings: The results found most satisfied the Theory of Planed Behaviour

(TPB) and the authors in the world Similar to previous studies, entrepreneurship education (EE) and emotional competencies (EC) have a direct impact on student’s entrepreneurial intention (EI) and entrepreneurial self-efficacy (ESE)

Originality and implications: Entrepreneurship education (EE) helps

students access entrepreneurship knowledge and skills to identify start-up opportunities to believe in their own entrepreneurial abilities, entrepreneurship intentions Student’s entrepreneurial intention (EI) to start a business is also positively developed by their own emotional competencies

Keywords: Entrepreneurship education, entrepreneurial self- efficacy

emotional competencies, entrepreneurial intention, Theory of Planed Behaviour (TPB)

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài

Theo dữ liệu báo cáo của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang là quốc gia đang phát triển thuộc khu vực Đông Nam Á với dân số xấp xỉ 96,500,000 người năm 2019,

tổng thu nhập đạt 261,921 USD năm 2019 (The World Bank- Data Vietnam, 2019)

Với tình hình kinh tế toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi dịch Covid 19 theo thống kê của Tổng cục Thống kê tình hình đầu tư xây dựng trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cơ bản trở lại bình thường, vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 07/2020 ước tính đạt 45,700 tỷ đồng tăng 51,8% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 7 tháng năm 2020 vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 203 tỷ đồng, bằng 42,7% kế hoạch năm và tăng 27,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 bằng 41,6% tăng 4,7%) Bên cạnh đó tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/07/2020 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 18,8 tỷ USD giảm 6,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 1620 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký 9,5 tỷ USD giảm 21,5% về số dự án và tăng 14,4%

về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước

Tình hình thành lập doanh nghiệp 7 tháng năm 2020 cũng được Tổng cục Thống kê báo cáo, theo khu vực kinh tế 7 tháng năm nay có 1,372 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm trước, có 22,000 doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 2,1%,

có 51,900 doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 8,4% Bên cạnh đó tình hình doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động có thời hạn tăng 41,5% so với cùng kỳ năm trước 21,800 doanh nghiệp dừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, 8,900 doanh nghiệp

chờ làm thủ tục giải thể (Tổng cục Thống kê, 2020)

Hoạt động khởi nghiệp tại Việt Nam đang là chủ đề được sự quan tâm nhiều trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tiến hành hội nhập kinh tế với Thế giới, với tiềm năng về kinh tế và tài nguyên về con người, vào năm 2016 Chính phủ Việt Nam xác định Năm 2016 là “năm quốc gia khởi nghiệp”, thúc đẩy khởi nghiệp được coi là mục

Trang 13

tiêu và đồng thời là phương tiện để thực hiện ba đột phá chiến lược của Việt Nam bao gồm thể chế, hạ tầng và nguồn lực (VCCI; USAID, 2016) Cũng theo báo cáo của VCCI; USAID, (2016) thì các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, các cuộc tọa đàm, hội thảo được tổ chức với tần suất ngày một tăng, nhiều chính sách, luật và chương trình khuyến khích khởi nghiệp đã và đang được xây dựng, ban hành Điều quan trọng hơn

cả là tinh thần khởi nghiệp cần được duy trì bền vững để trở thành linh hồn, nền tảng

và giá trị cốt lõi của nền kinh tế

Giai đoạn 2017-2020 được xem là giai đoạn chín muồi cho các hoạt động khởi nghiệp và sự ra đời của các công ty khác nhau (Q H Nguyễn, 2020) Vốn đầu tư cho các dự án khởi nghiệp tính đến năm 2018 đã lên đến gần 900 triệu USD, trong hai năm 2017-2019 Việt Nam đã đứng thứ 3 chỉ sau Indonesia và Singapore với hệ sinh thái khởi nghiệp năng động vượt bậc, nguồn vốn đầu tư cho khởi nghiệp tại Việt Nam riêng về lĩnh vực công nghệ đạt tổng cộng là 246 triệu USD tại nửa đầu năm 2019

với ba nhà đầu tư lớn nhất là Tiki, VNP, VNG (Vietnam Tech Investment Report,

2019) Năm 2019 được xem là năm thu hút đầu tư mạnh mẽ nhất từ trước tới nay đối với các dự án khởi nghiệp công nghệ tại Việt Nam, có tổng cộng 123 thương vụ được thực hiện với tổng vốn đầu tư là 861,000,000 (USD) gấp đôi thương vụ được đầu tư vào cùng kỳ năm 2018 Tuy nhiên vì đại dịch Covid-19 bùng nổ vào đầu năm 2020

đã gây tổn thất cho các hoạt động tài trợ vốn đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp tại thị trường Việt Nam số tiền thu hút đầu tư trong nửa năm đầu 2020 đã giảm 22% từ 246,000,000 USD cùng kỳ năm ngoái xuống 222,000,000 USD

Trang 14

Hình 1.1: Tình hình đầu tư vào các startup công nghệ tại Việt Nam

Nguồn: DO Ventures, 2020

Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của hoạt động khởi nghiệp, có nhiều nghiên cứu về khởi nghiệp đặc biệt là nghiên cứu về ý định khởi nghiệp hay ý định kinh doanh (entrepreneurial intension) nhưng trong nghiên cứu này tác giả sử dụng thuật ngữ ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp được các tác giả nghiên cứu trên nền tản của hành vi khởi nghiệp đó là việc tạo ra một doanh nghiệp mới (Liñán, 2004, Prodan

và Drnovsek, 2010, Souitaris và cộng sự, 2007), có nhiều tác giả nghiên cứu về các mối quan hệ, các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp nhưng nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên có đề cập đến năng lực cảm xúc và niềm tin vào năng lực bản thân kết hợp với giáo dục khởi nghiệp còn hạn chế và trong trường hợp nghiên cứu của tác giả là ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học

Trên thế giới cũng như tại Việt Nam cũng dần dần hình thành được việc khởi nghiệp và tinh thần khởi nghiệp là cốt lõi của giáo dục kinh doanh (Farooq và Radovic-Markovic, 2016), theo Thompson, (2009) ý định khởi nghiệp được xem là nguồn gốc của những người doanh nhân, phát triển tinh thần khởi nghiệp, các cá nhân độc lập nhận ra rằng họ có ý định thành lập một doanh nghiệp mới và cố gắng thực

Trang 15

hiện chúng trong tương lai Chương trình giáo dục về khởi nghiệp được bắt đầu ở các trường kinh doanh vào những năm 1970, trong những năm qua giáo dục khởi nghiệp cũng đã phát triển và dần hoàn thiện hơn rất nhanh chóng (Sun và cộng sự, 2017), sự gia tăng về giáo dục khởi nghiệp trong trường đại học đã được nhìn thấy ở các quốc gia như Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan (Levie, 1999), Iran (Arasti và cộng sự, 2012) Malaysia (Hamzah và cộng sự, 2016) Hơn thế nữa các chương trình giáo dục và hoạt động kinh doanh cũng được phổ biến ở các trường về khoa học xã hội và một số các trường về kỹ thuật (Kuratko, 2005) Tại Việt Nam các tổ chức, hoạt động hướng nghiệp về kinh doanh, khởi nghiệp hầu hết đều được nghiên cứu tại các trường thuộc kinh tế trong khi các ý tưởng kinh doanh về kỹ thuật và công nghệ luôn là làn sóng mạnh mẽ để thúc đẩy phát triển khởi nghiệp, dưới sự hỗ trợ của Chính phủ, các trường đại học hiện nay đã tập trung xây dựng các hệ sinh thái khởi nghiệp các vườn ươm tiềm năng với nguồn lực chuyên môn, chất lượng cao từ con người đến cơ sở vật chất

Các hoạt động thúc đẩy khởi nghiệp trong trường đại học đang gia tăng mạnh

mẽ với các quỹ đầu tư mạo hiểm từ doanh nghiệp hỗ trợ bên ngoài, hệ sinh thái khởi nghiệp đa dạng và tạo nhiều cơ hội cho sinh viên tại các trường đại học có thể bắt đầu một dự án kinh doanh cụ thể với quy mô nhỏ từ sự hỗ trợ của hệ sinh thái môi trường đại học, vì khởi nghiệp liên quan đến việc chấp nhận rủi ro và quản lý những khó khăn xảy ra (N F Krueger, 2003), nhận dạng được các khó khăn về khởi nghiệp sẽ

là cản trở lớn đối với hiệu quả giáo dục khởi nghiệp tại môi trường đại học, do đó ngoài việc hỗ trợ từ các Quỹ đầu tư mạo hiểm, doanh nghiệp, hệ sinh thái đa dạng để vượt qua các khó khăn, rào cản về văn hóa xã hội, kinh tế, chính trị trong lĩnh vực khởi nghiệp kinh doanh, sinh viên cần phải được đòi hỏi một mức độ cụ thể về nguồn lực, động lực và năng lực của bản thân (Baron, 2004)

Nghiên cứu của tác giả có quan tâm nhiều đến yếu tố năng lực của bản thân sinh viên khởi nghiệp cụ thể ở đây là năng lực về cảm xúc (EC) của chính bản thân của sinh viên về cảm xúc thúc đẩy thực hiện khởi nghiệp bên cạnh đó, yếu tố niềm tin vào năng lực của bản thân khởi nghiệp (ESE) Cũng theo Baron, (2008) quy trình hình thành cảm xúc có thể ảnh hưởng đến sự phán xét và hành vi và có thể trở thành

Trang 16

một phần đặc biệt quan trọng việc giúp đỡ chúng ta hiểu được các nhận định về khởi nghiệp, quyết định và hành động khi những sự việc xảy ra trong điều kiện không chắc chắn Baron, (2008) đã xác định tầm quan trọng của quá trình cảm xúc như một biến

số quan trọng trong các nghiên cứu về khởi nghiệp và nhận thấy rằng yếu tố này ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của nhận thức và hành vi, bởi vì môi trường mà một doanh nghiệp khởi nghiệp hoạt động không được dự đoán trước và chắc chắn cũng thông qua ảnh hưởng của thành viên đến nhận thức các vấn đề cảm xúc có những ảnh hưởng quan trọng đến các khía cạnh của quá trình khởi nghiệp, quá trình hình thành cảm xúc

có ảnh hưởng đến nhận thức và ý định khởi nghiệp Niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp (ESE) là niềm tin của con người vào khả năng của họ về việc hình thành động lực để áp dụng những nguồn lực nhận thức có sẵn (Wood và Bandura, 1989),

đó là một trong những yếu tố tác động đến ý định muốn khởi nghiệp của sinh viên trong trường đại học bởi vì niềm tin vào năng lực của chính bản thân sẽ thúc đẩy bản thân họ tự tin hơn và từ đó họ có khả năng kiểm soát các yếu tố môi trường tốt hơn (Wong và Law, 2002)

Nhận ra xu thế của việc đưa giáo dục khởi nghiệp bao phủ tại các trường đại học trên cả nước, nguồn lực sinh viên trẻ, năng động của Việt Nam xem khởi nghiệp như là hoạt động thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, các thế hệ sinh viên cần phải được trang bị kiến thức về ý định tạo lập doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt với sự hỗ trợ vốn từ Chính phủ và các tổ chức từ nhiều lĩnh vực Chương trình đào tạo đại học tại Việt Nam tạo điều kiện thúc đẩy năng lực tiềm ẩn và niềm tin năng lực của sinh viên đối với khởi nghiệp kinh doanh Do vậy, việc nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại TP.HCM là vấn đề thật sự cần thiết Tác giả quyết định thực

hiện đề tài “Ảnh hưởng của giáo dục khởi nghiệp, năng lực cảm xúc, niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại TP.HCM”

Trang 17

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của nghiên cứu nhằm khám phá mối quan hệ của giáo dục khởi nghiệp, năng lực cảm xúc, niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại TP.HCM

Mục tiêu cụ thể là:

 Xác định yếu tố giáo dục khởi nghiệp, năng lực cảm xúc, niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại TP.HCM Đo lường mức độ ảnh hưởng của giáo dục khởi nghiệp, năng lực cảm xúc, niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp đến

ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại TP.HCM

 Khám phá sự khác biệt đặc điểm cá nhân của trong ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học

 Đề xuất hàm ý quản trị cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư và chuyên gia trong lĩnh vực đào tào và phát triển khởi nghiệp ở sinh viên đại học trong tương lai

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Giáo dục khởi nghiệp tác động thế nào đến niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học?

Năng lực cảm xúc tác động thế nào đến niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học?

Niềm tin vào năng lực bản thân tác động thế nào đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Theo như mục tiêu nghiên cứu được trình bày ở trên, đối tượng nghiên cứu là

ý định khởi nghiệp của sinh viên đang học tập tại các trường đại học công lập tại TP.HCM Đối tượng tượng khảo sát là sinh viên và là những sinh viên đã tham gia các chương trình đào tạo, học tập, khóa học và hoạt động khởi nghiệp

Tác giả xác định đối tượng nghiên cứu cũng cho thấy phạm vi nghên cứu chỉ tập trung vào sinh viên các trường đại học công lập tại TP.HCM, là một trong hai đô

Trang 18

thị đặc biệt của Việt Nam Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đạt dân số hơn 10 triệu người (theo Tổng cục Thống kê chính thức đưa ra vào năm 2018 dân số đạt xấp xỉ 8,6 triệu người), hằng năm Thành phố Hồ Chí Minh đón nhận xấp xỉ 1,7 triệu sinh viên từ các tỉnh, thành phố khác nhau và đa dạng văn hóa dân tộc khác nhau nên tác giả lựa chọn Thành phố Hồ Chí Minh là nơi thực hiện nghiên cứu chính thức và cũng một phần nào mang tính đại diện cho Việt Nam

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tác giả thực hiện qua hai giai đoạn như sau:

Nghiên cứu định tính (nghiên cứu định tính sơ bộ): tham khảo, nghiên cứu tài liệu về các nghiên cứu có liên quan đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học, sau

đó tác giả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm với mục đích điều chỉnh thang đo và xem xét lại mô hình ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học sao cho phù hợp với văn hóa và ngữ cảnh của Việt Nam

Nghiên cứu định lượng: tác giả thực hiện khảo sát dữ liệu sơ cấp thông qua bảng câu hỏi khảo sát đã thiết kế ở giai đoạn nghiên cứu sơ bộ với kích thước mẫu phù hợp, sau đó dữ liệu được xử lý, thống kê và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0

và Smart PLS 3.3.2 Từ đó thống kê mô tả mẫu quan sát, kiểm định độ tin cậy thang

đo (Cronbach’s Alpha), độ tin cậy tổng hợp, hệ số tải nhân tố ngoài Tiếp theo đó

kiểm định mô hình và các giả thuyết đã đề ra bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) 1.6 Ý nghĩa đề tài

Về mặt học thuật, nghiên cứu nhằm đóng góp một mô hình đo lường tác động của giáo dục khởi nghiệp, năng lực cảm xúc đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học, trong đó năng lực cảm xúc là thành phần được xem xét là yếu tố mới trong nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học và nghiên cứu của tác giả giúp người đọc hiểu rõ tổng quát các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học

Về mặt thực tiễn, giúp các nhà đầu tư vào các dự án khởi nghiệp hiểu rõ hơn

về ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học nhằm đưa ra kế hoạch và phát triển những

dự án khởi nghiệp phù hợp và phương án duy trì dự án vượt qua giai đoạn ban đầu

Trang 19

Cuối cùng nghiên cứu có thể đem đến kết quả tích cực cho thế hệ sinh viên kiến thức

về hành vi và ý định của mình trong quá trình thực hiện các dự án khởi nghiệp sáng tạo đổi mới

1.7 Kết cấu luận văn

Bài nghiên cứu của tác giả có bố cục bao gồm 5 chương, được trình bày chi tiết theo trình tự và nội dung như sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương này nhằm nêu lên khái quát vấn đề nghiên cứu, từ đó nêu lên câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Tổng quan lý thuyết nền, đưa ra các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tổng hợp các nghiên cứu tiêu biểu nước ngoài, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trình bày các phương pháp được áp dụng trong nghiên cứu, hoàn thành xây dựng thang đo, thực hiện nghiên cứu định tính sơ bộ về thang đo đã được xây dựng hoàn chỉnh

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Thực hiện tổng hợp, xử lý, phân tích dữ liệu bằng công cụ phù hợp, đưa ra kết quả và kết luận của nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu

Từ kết quả ở chương 4, tác giả sẽ đưa ra kết luận, nhận xét và giải thích kết quả thu được có phù hợp với bối cảnh và các nghiên cứu của tác giả trước Nêu lên hạn chế của nghiên cứu và thực hiện đề xuất cho nghiên cứu ở tương lai

Trang 20

Tóm tắt chương 1

Theo như đã trình bày chi tiết tác giả trình bày chương 1 với những kiến thức khái quát về sự phát triển mạnh mẽ của khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học trên thế giới cũng như tại Việt Nam Bên cạnh đó cho thấy

sự cần thiết của việc nghiên cứu các yếu tố có tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên cụ thể trong nghiên cứu này là giáo dục khởi nghiệp, năng lực cảm xúc, niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp, ngoài ra chương 1 cũng đã khái quát được những yêu cầu quan trọng khi trình bày cơ bản đề tài nghiên cứu như mục tiêu nghiên cứu của tác giả, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu trên Trong phần tiếp theo của nghiên cứu tác giả sẽ trình bày tổng quan đề tài nghiên cứu, tổng hợp lý thuyết nền tảng cho đề tài và một số nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên trên thế giới và Việt Nam, cuối cùng là đề xuất mô hình

và giả thuyết nghiên cứu

Trang 21

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này giới thiệu về tổng quan đề tài nghiên cứu về khởi nghiệp, khởi nghiệp của sinh viên đại học, các nghiên cứu có liên quan, đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu dựa trên Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)

2 2.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Khởi nghiệp được các tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu vào những năm 1970, nghiên cứu về khởi nghiệp của sinh viên đại học thì chỉ được nghiên cứu tập trung vào đầu thế kỷ 21 Tác giả phân tích tổng hợp vấn đề khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học

là trên 60%, tiếp đó là Úc, Pakistan, Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản được điều tra thống kê đối với người trưởng thành từ 18 - 64 tuổi (Bosma và cộng sự, 2020), hơn thế nữa là Ấn Độ là quốc gia dẫn đầu về tỷ lệ “dễ dàng” khởi nghiệp chiếm đến 80% điều tra với người từ 18-64 tuổi

Khởi nghiệp được định nghĩa là các chức năng, các hoạt động và hành động gắn liền với việc nhận thức cơ hội và thành lập một tổ chức hoạt động kinh doanh cụ thể (Bygrave và Hofer, 1991) Có thể nói hoạt động khởi nghiệp thay đổi cộng đồng các doanh nghiệp hiện tại, nó không chỉ tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh mà còn thúc đẩy con người làm kinh doanh đó là lý do vì sao các quốc gia trên thế giới thừa nhận tinh thần khởi nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và càng nhiều tổ chức

Trang 22

và cá nhân tập trung vào phát triển khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội đi lên (Kuckertz và cộng sự, 2016)

Trong một vài năm gần đây, ý định và mong muốn để trở thành một nhà kinh doanh đã gia tăng và thu hút nhiều hơn ý định để trở thành một nhân viên (Yousaf và cộng sự, 2015) Theo như các yếu tố kinh tế, tinh thần khởi nghiệp hay tinh thần kinh doanh được xem là một yếu tố chính để thúc đẩy tài chính củng cố nguồn lực kinh tế (Francisco Liñán và cộng sự, 2011) Các quốc gia khác trên thế giới đã và đang tập trung vào trọng tâm vẫn là tăng cường và xây dựng các kế hoạch hỗ trợ và thúc đẩy các ý tưởng khởi nghiệp mới như một sự thay thế hấp dẫn và đạt chi phí hiệu quả cho việc làm dựa trên tiền lương của sinh viên toàn cầu (Yousaf và cộng sự, 2015)

2 2.2.2 Ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học

Ý định khởi nghiệp của sinh viên được định nghĩa là cam kết ban đầu đối với việc bắt đầu kinh doanh (J N F Krueger và Carscrud, 1993) và nó được coi là tiền

đề của hành vi khởi nghiệp, kinh doanh Theo Guerrero và cộng sự, (2008) ý định khởi nghiệp được giải thích là định hướng của tinh thần (khao khát, mong muốn và

hy vọng) khiến cho bản thân con người lựa chọn việc khởi nghiệp

Mặc dù Chính phủ đã hỗ trợ và đầu tư đáng kể vào hoạt động khởi nghiệp sáng tạo và giáo dục khởi nghiệp nhưng cũng cần phải có sự can đảm, dám thực hiện của những sinh viên đại học có ý định tự làm chủ hoặc trở thành những nhà doanh nhân

để tạo ra việc làm cho người khác (Kim và Park, 2018) Tuy Việt Nam vẫn chưa phát triển mạnh mẽ các hoạt động khởi nghiệp quy mô khu vực và thế giới nhưng ngành Giáo dục cùng các Sở ban ngành liên hết hỗ trợ các ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên, không hẳn riêng về sinh viên ngành kinh doanh, kinh tế mà còn đầu tư mạnh mẽ vào những ý tưởng của sinh viên trong nhiều lĩnh vực, là nguồn lực mạnh

mẽ hình thành và phát triển các dự án kinh doanh độc đáo về kỹ thuật, công nghệ hiện đại

Mục đích của giáo dục khởi nghiệp trong trường đại học không những tạo động lực cho sinh viên thực hiện ý tưởng, dự án khởi nghiệp, “tự làm chủ” của mình

mà còn mang đến cơ hội thể hiện sự năng động và tạo động lực cho chính họ (Schmitz

Trang 23

và cộng sự, 2017) Theo các nghiên cứu trước đó về ý định khởi nghiệp của sinh viên như nghiên cứu của Brenner và cộng sự, (1991); Kolvereid và Moen, (1997); Zellweger và cộng sự, (2011) sinh viên đại học quan tâm đến vấn đề khởi nghiệp như

là một sự lựa chọn nghề nghiệp đang gia tăng và được các nhà nghiên cứu quan tâm càng ngày càng nhiều, sự quan tâm này được phản ánh bởi sự gia tăng về các nghiên cứu ý định khởi nghiệp và tiền đề của nó thông qua khả năng hiểu được hành vi của nhà doanh nhân (Fayolle và Gailly, 2015)

Trong những năm 1970, nghiên cứu khởi nghiệp chỉ hầu hết tạo ra sự mạo hiểm và chiến lược quản lý của các doanh nghiệp nhỏ Từ năm 1980 nghiên cứu về những ý định khởi nghiệp đã xuất hiện, tác động của yếu tố xã hội, chính trị và kinh

tế đã góp phần cho những tác giả bắt đầu nghiên cứu sâu về những ý định khởi nghiệp (Sun và cộng sự, 2017) Krueger và Carscrud, (1993) là những tác giả đầu tiên áp dụng Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (The theory of planed behaviour – TPB) của tác giả Ajzen, (1991) vào nghiên cứu lĩnh vực khởi nghiệp, nghiên cứu chứng minh

và giúp người đọc hiểu và dự đoán được những khía cạnh mạo hiểm mới đòi hỏi nghiên cứu sử dụng mô hình dựa trên lý thuyết để phán ảnh đầy đủ quá trình nhận thức phức tạp dựa trên các hành vi có kế hoạch hay có chủ đích như việc khởi xướng kinh doanh, tác giả cũng cho rằng ý định khởi nghiệp tập trung dựa trên “Lý thuyết hành vi có kế hoạch” (Ajzen, 1991) thật sự linh hoạt, là một lý thuyết nền tốt và mạnh

mẽ để dự đoán các hành vi có kế hoạch Mặc dù nghiên cứu của J N F Krueger và Carscrud, (1993) chỉ mang tính khái niệm nhưng nó đã tạo ra những ý nghĩa đáng kể

và mang tính tích cực để tiến hành các nghiên cứu khác dựa trên lý thuyết nguồn lực nghiên cứu trên các ý định khởi nghiệp trong cả lĩnh vực nghiên cứu, giáo lục và quản

lý, các nghiên cứu dựa trên Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) đã được tiếp tục trong 20 năm qua (Sun và cộng sự, 2017)

Tiếp theo sau đó là các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học, Souitaris và cộng sự, (2007) tiếp tục nghiên cứu dựa trên Lý thuyết TPB để kiểm tra mức độ ảnh hưởng của chương trình giáo dục khởi nghiệp đến thái độ và ý định khởi nghiệp của sinh viên kỹ thuật và khoa học, kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng

Trang 24

chương trình đã nêu lên một số thái độ và tổng quan ý định khởi nghiệp và nguồn cảm hứng (là một cấu trúc có chứa yếu tố cảm xúc), là một chương trình có ảnh hưởng lớn đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên, các yếu tố thái độ đối với ý định tự làm chủ, chuẩn mực chủ quan ảnh hướng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các ngành Turker và Selcuk, 2009 chứng minh giáo dục và các yếu tố hỗ trợ ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, đặc biệt là nhận thức hỗ trợ giáo dục ảnh hưởng trực tiếp và tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

4 2.2 Lý thuyết, mô hình lý thuyết có liên quan

2.2.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), Ajzen, 1991

Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của tác giả Icek Ajzen được công bố

và đề xuất vào năm 1985 dựa trên lý thuyết nền tản là Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action), Lý thuyết hành động hợp lý được Ajzen và Fishbein xây dựng vào năm 1967 và được bổ sung điều chỉnh đến những năm đầu 1970

Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), Ajzen 1991

Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch là một khung lý thuyết quan trọng được

sử dụng để nghiên cứu bản chất của của các yếu tố hành vi trong khuôn khổ lý thuyết

về hành vi có kế hoạch là một lý thuyết được thiết kể để dự đoán và giải thích hành

vi của con người trong một bối cảnh cụ thể Mỗi ngữ cảnh khác nhau, hành vi sẽ được giải thích cụ thể ở những ngữ cảnh khác nhau theo từng chi tiết vì vậy những nghiên cứu liên quan được xem xét ở từng khía cạnh của lý thuyết này vẫn được thảo luận

Lý thuyết hành vi có kế hoạch cho rằng một hành vi của cá nhân trong tương lai là kết quả của ý định của cá nhân đó, trong mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch

(Ajzen, 1991) đã đưa ra ba yếu tố độc lập về mặt khái niệm

Đầu tiên là thái độ đối với hành vi đề cập đến mức độ mà một người có thể

đánh giá hoặc đánh giá không thích hợp hoặc không đáng tin cậy về hành vi được đề

cập đến, tiếp theo là chuẩn mực chủ quan đó là một yếu tố xã hội nó đề cập đến áp

lực xã hội nhận thức để cá nhân tiến hành hoặc không tiến hành hành vi của mình

Cuối cùng là kiểm soát hành vi nhận thức đề cập đến mức độ nhận thức sự dễ dàng

hoặc khó khăn trong khi thực hiện hành vi và nó được giả định để phản ánh kinh

Trang 25

nghiệp trong quá khứ cũng như là trở ngại và dự đoán trở ngại Theo nguyên tắc chung thì khi thái độ và chuẩn mực chủ quan của hành vi càng thuận lợi và kiểm soát hành vi nhận thức càng lớn thì ý định của cá nhân phải thực hiện hành vi được xem xét được xem xét càng mạnh mẽ

Nguồn: Ajzen, 1991

2.2.2 Lý thuyết về niềm tin vào năng lực bản thân (TSE), Bandura, 1997

Lý thuyết về niềm tin năng lực bản thân (The theory of self – efficacy) của Bandura, (1997) nhận định sự đa dạng khả năng của con người, do đó niềm tin vào năng lực bản thân đã xuất hiện trong nhiều nghiên cứu tiêu biểu, niềm tin vào năng lực bản thân không những liên quan đến việc thực hiện kiểm soát hành động mà còn

sự điều chỉnh thông qua quá trình suy nghĩ, động lực, trạng thái tác động và tâm lý học con người Bandura (1997) đã định nghĩa khái niệm “năng lực bản thân” như là niềm tin tưởng của cá nhân trong khả năng và kỹ năng của con người để hoàn thành một nhiệm vụ đặc biệt nào đó và đảm nhận một công việc nhất định Định nghĩa này

mô tả rằng các hoạt động, hành vi, nhận thức, năng lực và môi trường ảnh hưởng đến cách thể hiện động lực năng lực bản thân Bandura (1997) đã phát biểu rằng con người

Trang 26

có niềm tin vào năng lực bản thân với mức độ cao đối với một công việc hoặc nhiệm

vụ cụ thể thì có nhiều khả năng để kiên trì hoàn thành nhiệm vụ đó hơn một người có niềm tin vào năng lực bản thân thấp, ông cũng nhấn mạnh rằng những cá nhân có niềm tin vào năng lực bản thân mức độ cao sẽ luôn tin tưởng vào khả năng của họ để thực hiện các nhiệm vụ thành công Họ có xu hướng theo đuổi và nổ lực hết mình bất chấp những ràng buộc và sự quan tâm đến những điều một người nhận thức được về khả năng của họ sẽ tạo ra động lực để kiểm soát các yếu tố bên ngoài và điều chỉnh chúng để đạt được kết quả mong muốn

5 2.3 Các khái niệm nghiên cứu

2.3.1 Giáo dục khởi nghiệp (Entrepreneurial education - EE)

Có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau về giáo dục khởi nghiệp, từ khóa giảng dạy đầu tiên về khởi nghiệp được thực hiện vào tháng 2 năm

1947 thì đã có 188 học viên cao học ngành quản trị kinh doanh (MBA Students) tham

dự và cho đến 50 năm sau, có tới 120.000 sinh viên Bắc Mỹ đang tham gia vào các chương trình giáo dục khởi nghiệp (Katz, 2003) Giáo dục nói chung được nghiên cứu và xác định là có tác động đến tinh thần khởi nghiệp, giáo dục khởi nghiệp được định nghĩa là việc truyền đạt kiến thức trong việc sáng tạo và quản lý kinh doanh cho sinh viên với quan điểm khơi dậy sự hứng thú của sinh viên trong việc sáng tạo kinh doanh, khởi nghiệp kinh doanh (DeTienne và Chandler, 2004), có định nghĩa rằng, giáo dục khởi nghiệp là việc đào tạo nên nhiều doanh nhân mà họ là người tạo ra nhiều công việc nhằm xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế, mặt khác có thể hiểu giáo dục khởi nghiệp là các khóa học khởi nghiệp, cuộc thi khởi nghiệp kinh doanh

và các hoạt động về khởi nghiệp (Linán và Chen, 2009) Nhưng trong nghiên cứu này của tác giả sử dụng định nghĩa giáo dục khởi nghiệp là bất kỳ các chương trình giáo dục hoặc quá trình đào tạo về thái độ và kỹ năng khởi nghiệp nó liên quan đến việc phát triển các phẩm chất cá nhân, do vậy nó không chỉ tập trung vào việc đào tạo doanh nhân, thành lập các doanh nghiệp ngay lập tức mà còn đào tạo về kỹ năng và thái độ cần thiết cho việc khởi nghiệp kinh doanh tại các trường đại học (Lorz, 2011)

Trang 27

2.3.2 Năng lực cảm xúc (Emotional competencies – EC)

Tinh thần khởi nghiệp kinh doanh được định nghĩa hàm ý dưới một thành phần năng lực cảm xúc (Cardon và cộng sự, 2012 trích từ Fernández-Pérez và cộng sự, 2019), các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nền tản cá nhân và tính cách như là các giá trị, thái độ, động lực, đặt điểm tính cách và các kỹ năng định hướng cho cá nhân hướng đến hành vi khởi nghiệp (Collins và cộng sự, 2004; Rauch và Frese, 2006; Stewart và Roth, 2007 trích từ Fernández-Pérez và cộng sự, 2019) Về mặt nhận định này, Zampetakis và cộng sự, 2009 tìm ra được rằng các cá nhân với việc nhận thức trí tuệ cảm xúc hay năng lực cảm xúc nhiều hơn thì cá nhân đó có thể sắp xếp, giám sát và đánh giá cảm xúc của họ và của người khác tốt hơn, họ sẵn sàng thực hiện các hoạt động thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và nhận thức được mức độ hỗ trợ của tổ chức nhiều hơn Năng lực cảm xúc được định nghĩa là một tập hợp các hành động có liên quan với nhau mà các cá nhân sử dụng để nhận biết và quản lý cảm xúc của họ và của người khác (Padilla-Meléndez và cộng sự, 2014), trong nghiên cứu này tác giả

sử dụng định nghĩa năng lực cảm xúc được bắt nguồn từ trí tuệ cảm xúc và được xác định là khả năng để cảm nhận, thấu hiểu và áp dụng hiệu quả nguồn lực của cảm xúc như một nguồn năng lượng về thông tin, sự tự tin và sáng tạo cũng như khả năng ảnh hưởng đến người khác (Goleman, 1998) Theo Goleman (1998) năng lực cảm xúc được được chia thành hai nhóm đó là cá nhân và kỹ năng xã hội, gồm 5 thành phần chính đó là: năng lực tự nhận thức (Self-awareness – SA); năng lực tự điều chỉnh (Self-regulation – SR); động lực (Motivation – MO); sự thông cảm (Empathy – EM)

và các kỹ năng xã hội (Social Skills – SS)

Năng lực tự nhận thức (SA) là khả năng nhận biết được trạng thái nội tại, sở

thích, nguồn lực và cảm giác bên trong chính mình Cá nhân có năng lực tự nhận thức

có thể nhận dạng được cảm xúc của họ và của người khác, hiểu biết điểm mạnh và hạn chế của mình, có ý thức mạnh mẽ về giá trị của bản thân hoặc người khác

Năng lực tự điều chỉnh (SR) là khả năng quản lý xung lực và nguồn lực bên

trong của cá nhân Cá nhân có khả năng tự kiểm soát những cảm xúc có thể gây rối loạn, duy trì các tiêu chuẩn về sự trung thực, chịu trách nhiệm về hiệu suất làm việc,

Trang 28

linh hoạt trong việc xử lý những thay đổi và sáng tạo với những ý tưởng mới cách tiếp cận và thông tin mới

Động lực (MO) là các khuynh hướng của cảm xúc có thể thúc đẩy cá nhân đạt

được mục tiêu Thể hiện ở đặc điểm cổ gắng cải thiện hoặc đạt được những thành tích xuất sắc, cam kết thực hiện phù hợp với nhóm hoặc tổ chức, chủ động hành động trong mọi cơ hội, sự lạc quan trong việc kiên trì theo đuổi mục tiêu bất chấp những trở ngại hay thất bại trong tương lai

Sự thông cảm (EM) nhận thức về cảm xúc, nhu cầu và mối quan tâm của những

người khác Thông qua những đặc điểm như sự thấu hiểu người khác, cảm nhận nhu cầu phát triển của người khác và củng cố khả năng của họ, dự đoán nhận biết nhu cầu của khách hàng, có cơ hội trao dồi thông qua các kiểu người khác nhau, nhận biết được dòng cảm xúc và quyền lực của một nhóm

Các kỹ năng xã hội (SS) sự thấu hiểu và tạo ra các phản ứng mong muốn ở

người khác, sử dụng các chiến lược để thuyết phục, lắng nghe một cách cởi mở và gửi thông điệp đến người khác, đàm phán và giải quyết các bất đồng, truyền cảm hứng và hướng dẫn các cá nhân trong nhóm, khởi xướng và quản lý sự thay đổi, làm việc với những người khác để tiến đến mục tiêu chung, tạo sức mạnh trong nhóm trong việc theo đuổi mục tiêu chung

2.3.3 Niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp (entrepreneurial efficacy - ESE)

self-Niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp (entrepreneurial self-efficasy -

SE) là sự tin tưởng rằng một người có đủ khả năng và năng lực vượt trội hơn những việc mà cá nhân đó quyết định hoặc muốn đạt được (Bandura, 1997) trong các hoạt động kinh doanh, khởi nghiệp Theo Bandura (1997) thì niềm tin vào năng lực là điều

cơ bản dẫn đến hành động, con người dẫn dắt hành động bằng niềm tin tưởng vào chính năng lực của bản thân thực hiện hành động đó, sự nhận thức về niềm tin vào năng lực của bản thân chỉ ra niềm tin vào khả năng của con người hoặc tổ chức thực hiện một hoạt động được yêu cầu hoàn thành Niềm tin của con người đối với năng lực của họ có ảnh hưởng đa dạng đến ý định mong muốn thực hiện hành động

Trang 29

6 2.4 Các nghiên cứu có liên quan

7 2.4.1 Nghiên cứu “Giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở các tổ chức giáo dục đại học hay không? Vai trò của tuổi, giới tính và nền tản bằng cấp” của Paray và Kumar (2020)

Nghiên cứu “Giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở các tổ chức giáo dục đại học (HEI) hay không?” của Paray và Kumar, (2020) được đăng tải trên Tạp chí Quốc tế Giáo dục Kinh doanh (Journal of International Education in Business), nghiên cứu được thực hiện tại các khu vực khác nhau của Ấn Độ, dữ liệu được khảo sát ở nhóm sinh viên từ 18 đến 30 tuổi, gửi 1000 bảng khảo sát thông qua e-mail và nhận lại được 373 phiếu phản hồi hợp lệ Mô hình

lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được tác giả sử dụng với ba yếu tố là: thái độ, chuẩn mực xã hội và kiểm soát hành vi nhận thức để xem xét mối quan hệ giữa giáo dục khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên đồng thời vai trò của giới tính

và cấp độ giáo dục điều tiết trong mối quan hệ chúng

Hình 2.2 Mô hình ảnh hưởng của giáo dục khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp

của sinh viên, Parray và Kumar, 2020

Nguồn: Paray và Kumar (2020)

Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét tác động của giáo dục khởi nghiệp trong việc hình thành ý định khởi nghiệp, ngoài ra còn điều tra tác động của tuổi, giới tính của sinh viên và bằng cấp hoặc khóa học nền tản trong việc phát triển ý định khởi

Trang 30

nghiệp của sinh viên Kết quả của nghiên cứu này là giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đáng kể đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học và kết quả tìm ra được cũng giống với kết quả nghiên cứu trước đó Các phát hiện cũng chứng mình rằng ý định cá nhân bắt đầu kinh doanh trong điều kiện của lý thuyết hành vi có kế hoạch (thái độ, chuẩn mực xã hội, kiểm soát hành vi nhận thức), nền tản của sinh viên (giới tính, bằng cấp chuyên môn) có quan hệ tích cực đối với ý định bắt đầu một sự nghiệp kinh doanh

Ý nghĩa nghiên cứu cũng đóng góp cả vào lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu cũng tăng cường đóng góp vào cơ sở lý thuyết của ý định khởi nghiệp trong bối cảnh kinh tế đổi mới Nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng giáo dục khởi nghiệp có tác động mạnh mẽ đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong các tổ chức giáo dục đại học ở

Ấn Độ, cho thấy cần phải tăng cường củng cố cơ sở hạ tầng giáo dục của đất nước để làm tăng độ mạnh của giáo dục khởi nghiệp và kích thước của lý thuyết TPB gia tăng liên tục trong môi trường của khởi nghiệp

2.4.2 Nghiên cứu “ Các yếu tố “điêu khắc” nên tinh thần khởi nghiệp của sinh viên đại học ở Indonesia” của Zakky Zamrudi và Farida Yulianti, (2020)

Nghiên cứu “ Các yếu tố điêu khắc nên tinh thần khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Indonesia” của tác giả Zakky Zamrudi và Farida Yulianti, 2020 được đăng trên Tạp chí Đánh giá Khởi nghiệp kinh doanh và Kinh tế (Entrepreneurial Business and Economics Review) năm 2020, điều tra những sinh viên ở thế hệ trẻ và ý định bắt đầu kinh doanh của họ bởi sự phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài của ý định khởi nghiệp tại Indonesia Tác giả tiến hành khảo sát 652 sinh viên đại học trải khắp 28 trường đại học lớn tại Indonesia, độ tuổi thực hiện khảo sát từ 17 đến 42 tuổi, nhưng độ tuổi trung bình là 19 tuổi, thực hiện khảo sát và thu thâp dữ liệu bằng email

và nhóm trò chuyện Nghiên cứu sử dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) và thực hiện xử lý phân tích dữ liệu bằng phần mềm PLS – SEM Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của được tác giả sử dụng để xác định mục tiêu của chuẩn mực cá nhân và các mối quan hệ xã hội (Ajzen, 2002), hai yếu tố xác được tác giả sử

Trang 31

dụng là năng lực bản thân và kiểm soát hành vi nhận thức tác động đến ý định khởi nghiệp

Hình 2.3 Các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Nguồn: Zamrudi và Yulianti, (2020)

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng yếu tố các điều kiện hỗ trợ tác động đến niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp và kiểm soát hành vi nhận thức, yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên nhưng trong đó niềm tin vào bản thân khởi nghiệp không có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên của các trường đại học tại Indonesia, tuy nhiên tác động đáng kể của điều kiện hỗ trợ đã chứng minh được năng lực bản thân khởi nghiệp có kết quả tốt hơn kiểm kiểm soát hành vi đối vơí ý định khởi nghiệp

Nghiên cứu đóng góp mở rộng mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, bên cạnh đó nghiên cứu còn đề xuất nền tảng của quá trình nhận thức tạo nên ý định khởi nghiệp kinh doanh thông qua các yếu tố: điều kiện hỗ trợ của các bên liên quan, niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp, kiểm soát hành vi nhận thức Qua nghiên cứu, các trường đại học nên cung cấp những chương trình đa dạng như là tập hợp các khóa học khác nhau nó không chỉ chứa đựng nội dung về kiến thức giáo dục mà còn thúc đẩy sáng tạo tư duy đổi mới

Trang 32

2.4.3 Nghiên cứu “ Năng lực cảm xúc và tiền đề nhận thức trong việc hình thành ý định khởi nghiệp: Vai trò kiểm duyệt của giáo dục khởi nghiệp” của Fernández-Pérez và cộng sự, (2019)

Nghiên cứu năng lực cảm xúc và tiền đề nhận thức trong việc hình thành ý định khởi nghiệp của Fernández-Pérez và cộng sự, 2019 được đăng trên Tạp chí Quốc

tế Khởi nghiệp và Quản lý (International Entrepreneurship and Management Journal) năm 2019, tập trung vào tư duy phân tích của năng lực cảm xúc và ảnh hưởng của chúng đặc biệt trong việc định hình ý định khởi nghiệp của sinh viên được hỗ trợ bởi

mô hình mở rộng của lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) (Ajzen, 1991) và phân tích vai trò kiểm duyệt của giáo dục khởi nghiệp giữa các biến trong nghiên cứu này Nghiên cứu được thực hiện tại trường đại học Granada, Tây Ban Nha, tác giả tiến hành khảo sát trên 751 sinh viên đại học tất cả đều đang theo học các ngành khoa học

xã hội và pháp lý được đăng kí tham gia các môn học về khởi nghiệp sáng tạo, dữ liệu khảo sát được tiến hành vào đầu và cuối kỳ học

Trang 33

Hình 2.4 Mô hình các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp sinh viên đại học

của Fernández-Pérez và cộng sự, 2019

Nguồn: Fernández-Pérez và cộng sự, (2019)

Trong nghiên cứu này Fernández-Pérez và cộng sự cũng xác định các yếu tố chuẩn mực xã hội, thái độ và năng lực bản thân đối với ý định khởi nghiệp của sinh viên trong trường đại học, dưới cơ sở của lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), ý định khởi nghiệp được xác định dựa trên các yếu tố hợp lý như chuẩn mực xã hội (SN), thái độ khởi nghiệp (EA) và năng lực bản thân (SE) dự đoán gần đúng ý định khởi nghiệp (EI) (Ajzen, 1991)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thái độ đối với khởi nghiệp và năng lực bản thân tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, chuẩn mực xã hội, năng lực cảm xúc tác động tích cực đến thái độ đối với khởi nghiệp và năng lực bản thân Bên cạnh đó kết quả phân tích rằng năng lực cảm xúc và chuẩn mực xã hội tác động tiêu cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, vai trò kiểm duyệt của giáo dục khởi nghiệp cũng được chứng mình trong nghiên cứu này

Trang 34

Nghiên cứu này cũng đóng góp các thông tin có giá trị cho những người thiết

kế, thực hiện và đánh giá chương trình giáo dục nhằm củng cố ý định khởi nghiệp của sinh viên trong trường đại học ngoài việc củng cố đào tạo cụ thể về tinh thần khởi nghiệp

2 2.4.4 Nghiên cứu “ Niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp và ý định:

Sự sáng tạo trong khởi nghiệp và giáo dục có quan trọng hay không?” của tác giả Shahab và cộng sự, (2019)

3 Nghiên cứu “Niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp và ý định: Sự sáng tạo trong khởi nghiệp và giáo dục có quan trọng hay không?” của Shahab và cộng sự được đăng trên Tạp chí Quốc tế Hành vi khởi nghiệp và Nghiên cứu (International Journal of Entrepreneurial Behaviour and Research) năm 2019 Nghiên cứu nhằm trình bày một mô hình “điều tiết – trung gian” (moderated – mediation model) bao quát mối quan hệ giữa niềm tin vào năng lực khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp trong bối cảnh so sánh thị trường mới nổi ở Trung Quốc và thị trường trưởng thành ở Tây Ban Nha, tác giả đã sử dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch và niềm tin vào năng lực bản thân để thực hiện nghiên cứu, bên cạnh đó yếu tố sự sáng tạo trong khởi nghiệp kinh doanh và thái độ đối với hành vi khởi nghiệp đóng và trò trung gian trong mối quan hệ giữa niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp

và giáo dục khởi nghiệp điều tiết các mối quan hệ giữa những yếu tố trên

4 Nghiên cứu được tiến hành điều tra cả hai nước và thu được 808 phiếu trả lời hợp lệ, tác giả sử dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM), phân tích nhân tố khẳng định để thực hiện và phân tích nghiên cứu Tổng quan kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sáng tạo trong việc khởi nghiệp và thái độ đối với hành vi khởi nghiệp có quan hệ trung gian tích cực giữa niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp, hơn thế nữa với yếu tố giáo dục khởi nghiệp, các cá nhân có thể phát triển hiệu quả để nuôi dưỡng thành công ý định khởi nghiệp của họ không kể đến sự phát

triển trưởng thành của đất nước sở tại

Trang 35

7 2.4.5 Nghiên cứu “ Giáo dục khởi nghiệp, niềm tin vào năng lực bản thân

và ý định tại Sub-Saharan Châu Phi” của Puni và cộng sự, (2018)

8 Nghiên cứu “Giáo dục khởi nghiệp, niềm tin vào năng lực bản thân và ý định tại Sub – Saharan Châu Phi” của tác giả Puni và cộng sự, (2018) được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Quản lý Châu Phi (African Journal of Economic and Management Studies) năm 2018, mục đích của nghiên cứu này là kiểm định vai trò trung gian của niềm tin vào bản thân khởi nghiệp (ESE) trong mối quan hệ giữa giáo dục khởi nghiệp và ý định tại Ghana, Châu Phi Tác giả thu thập 357 phiếu trả lời hợp

lệ từ các sinh viên năm cuối tại một trường đại học công lập tại Ghana để phân tích

dữ liệu

9 Kết quả phân tích dữ liệu chỉ ra rằng việc tiếp thu kiến thức khởi nghiệp và sự nhận thức được cơ hội như là định hướng của giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực của giáo dục khởi nghiệp và niềm tin vào năng lực bản thân Cũng như, niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp tăng làm cho ý định khởi nghiệp phát triển mạnh mẽ,

Trang 36

kết quả cũng chỉ ra mối quan hệ trung gian của năng lực bản thân khởi nghiệp giữa giáo dục khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp được đo lường

Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của Puni và cộng sự, 2018

Nguồn: Puni và cộng sự, (2018)

10

8 2.5 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

9 2.5.1 Các giả thuyết nghiên cứu

10 2.5.1.1 Giáo dục khởi nghiệp

Theo Smith và cộng sự (2006) nhận thấy rằng các khóa đào tạo khởi nghiệp trong chương trình giáo dục đại học có thể làm tăng ý định khởi nghiệp của sinh viên, bởi vì nó là đại diện một cách chính thức của việc trang bị kiến thức cần thiết, kỹ năng, thái độ theo đuổi khởi nghiệp cho mỗi sinh viên trong môi trường giáo dục đại học (Souitaris và cộng sự, 2007) Giáo dục khởi nghiệp dạy cho các sinh viên những đặc điểm hành vi cần thiết của một doanh nhân bắt buộc phải có để quản lý hay giải quyết sự mơ hồ và phức tạp để dẫn đến thành công trong tương lai do đó, các sinh viên có thể học được đa dạng các kỹ năng và tài năng cần thiết cho sự phát triển của việc mạo hiểm khởi nghiệp (Neck và Greene, 2011) Theo báo cáo của Hội đồng

Trang 37

Châu Âu (European Commission, 2012) “ giáo dục khởi nghiệp trong bối cảnh giáo dục đại học cải thiện năng lực cơ bản của sinh viên trong việc tăng cường ý định khởi nghiệp của sinh viên”, các nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả Lee và Wong (2004); N F Krueger (2009); Linán và Chen (2009); Mueller (2011); Ali (2013); Adekiya và Ibrahim (2016) cũng đã chứng minh rằng giáo dục khởi nghiệp có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của ý định khởi nghiệp Từ đó tác giả đưa ra giả thuyết

dựa trên những nghiên cứu trước là:

Giả thuyết H1: Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp

của sinh viên đại học

Theo Baron (2004) mô tả niềm tin vào năng lực bản thân như là một “sự tin tưởng vào khả năng của một người để tập trung và thực hiện những sự việc cần thiết, các kỹ năng và năng lực để đạt được các cấp độ của thành tích” vì thế, niềm tin vào năng lực bản thân có thể được mô tả là sự tin cậy và niềm tin của một người có năng lực và khả năng để tiến hành một hoạt động biết rõ ràng sẽ thành công (Puni và cộng

sự, 2018) Có một số quan điểm đối nghịch về cách phát triển niềm tin vào năng lực bản thân (Puni và cộng sự, 2018) một trường phái của suy nghĩ tin tưởng niềm tin vào năng lực bản thân là một đặc trưng bẩm sinh và tự nhiên của một doanh nhân mà

nó không được học và được phát triển thông qua giáo dục (Cope, 2005) trong khi đó, trường phái khác tranh luận rằng giáo dục có thể phát triển và nâng cao niềm tin vào năng lực bản thân của một cá nhân (United Nations Conference on Trade and Development, 2010) Theo hệ thống đánh giá của nghiên cứu giáo dục khởi nghiệp bao quát từ năm 1995 đến năm 2006, Dickson và cộng sự (2008) đã tìm ra được đào tạo khởi nghiệp có tác động tích cực đến nhận thức cá nhân năng lực của họ để bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới Trong thời gian gần đây, Rauch và Hulsink (2015) cũng

đã chứng minh rằng giáo dục khởi nghiệp làm tăng sự kiểm soát hành vi nhận thức của sinh viên, trước đó Zhao và cộng sự (2005) đã tìm thấy mối quan hệ đáng kể giữa giáo dục khởi nghiệp và niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp do đó giáo dục khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp của sinh viên Từ đó tác giả đề xuất giả thuyết:

Trang 38

Giả thuyết H2: Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến niềm tin vào năng

lực bản thân khởi nghiệp

11 2.5.1.2 Năng lực cảm xúc

Các nghiên cứu hàn lâm và chương trình giáo dục khởi nghiệp đã chỉ ra được khuynh hướng quan trọng và sự cần thiết của năng lực kinh doanh chung cụ thể là thông qua năng lực khởi nghiệp (Hills, 1988), một tập hợp gồm các năng lực đặc biệt,

dễ nhận thấy đó thật sự quan trọng cho hành động khởi nghiệp và nó phải được phát triển liên quan với nhiều năng lực kinh doanh chung khác (Rasmussen và cộng sự, 2011) Trong nghiên cứu của Fernández-Pérez và cộng sự (2019), tác giả cung cấp

khái niệm năng lực cảm xúc được định nghĩa như là các tập hợp có liên quan đến

nhau của hành vi mà các cá nhân thực hiện để thừa nhận và quản lý cảm xúc của họ

và những người khác, năng lực cảm xúc có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc

dự đoán ảnh hưởng của việc quản lý, lãnh đạo và khởi nghiệp (Padilla-Meléndez và cộng sự, 2014) Theo nghiên cứu của tác giả Goleman (1988) và Goleman và Cherniss

(2005) mô tả năng lực cảm xúc gồm 5 cụm (cluster) hoặc nhóm thành phần: năng lực

tự nhận thức (self- awareness), năng lực tự điều chỉnh (self-regulation), động lực (motivation), sự thông cảm (empathy) và các kỹ năng xã hội (social skills), các nhóm

thành phần được dùng để đo lường khái niệm ở những thời điểm và những các khác nhau với tần suất đủ để có thể thấy tính hiệu quả trong một tình huống xác định cụ thể, các nghiên cứu liên quan đến khởi nghiệp sinh viên đã đề xuất rằng năng lực cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định trở thành một doanh nhân (Goleman, 1988; Padilla-Meléndez và cộng sự, 2014) và có thể dự đoán nguồn lực

mạnh mẽ hơn các nét đặc trưng cá nhân tổng thể (Finch và cộng sự, 2015)

Theo nghiên cứu của tác giả Wood và Bandura (1989) niềm tin vào năng lực của bản thân là sự tin tưởng vào khả năng của một người để tập hợp động lực, tận dụng nguồn lực nhận thức sẵn có và thực hiện quá trình hành động cần thiết để đối mặt với những yêu cầu cần thiết của từng tình huống cụ thể Niềm tin vào năng lực bản thân thường được thể hiện mạnh mẽ hơn ở các cá nhân có năng lực cảm xúc tốt hơn (Wong và Law, 2002), các doanh nhân trẻ có năng lực cảm xúc tích cực sẽ

Trang 39

“khoan dung” với sự căng thẳng hơn, tự tin hơn và điều khiển được các yêu cầu, đòi hỏi của việc khởi nghiệp kinh doanh như là xác định các cơ hội và giải quyết vấn đề (Grichnik và cộng sự, 2010), sinh viên có năng lực cảm xúc mạnh mẽ dường như thích việc trải nghiệm hơn là tự hài lòng với bản thân, tự tin hơn, có năng lực hơn và hiệu suất làm việc có triển vọng trong tương lai (Goleman, 1988; Padilla-Meléndez

và cộng sự, 2014) Theo như nghiên cứu của Fernández-Pérez và cộng sự (2019) đã nhận định năng lực cảm xúc sẽ hành động như là sự “thúc đẩy cảm xúc” thực hiện các hoạt động khác của năng lực khởi nghiệp như sẵn sàng chấp nhận rủi ro và các

cơ hội rộng mở hoặc tạo ra những viễn cảnh và các kế hoạch sắp tới tốt hơn bao gồm

cả niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp Dựa vào lập luận và các nghiên cứu

trước, tác giả đề xuất giả thuyết:

Giả thuyết H3: Năng lực cảm xúc tác động tích cực đến niềm tin vào năng lực

bản thân khởi nghiệp

Theo nghiên cứu của Thompson (2009) định nghĩa ý định khởi nghiệp như

“một sự tin chắc công nhận khả năng của bản thân bởi một người có dự định thành lập một cuộc kinh doanh mạo hiểm và nhận thức được các kế hoạch sẽ thực hiện tại

mộ thời điểm trong tương lai”, sinh viên có biểu hiện về ý định khởi nghiệp cao cũng

sẽ thể hiện năng lực cảm xúc cao hơn bởi vì sau cùng nó đóng vai trò quan trọng trong dự đoán hiệu quả quản lý và khởi nghiệp kinh doanh (Souitaris và cộng sự, 2007; Padilla-Meléndez và cộng sự, 2014) Theo quan điểm đã nêu trên, tác giả đề cân nhắc và đề xuất giả thuyết:

Giả thuyết H4: Năng lực cảm xúc tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp

của sinh viên đại học

12 2.5.1.3 Niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp

Niềm tin vào năng lực bản thân có mối liên hệ với khởi nghiệp kinh doanh (Puni và cộng sự, 2018), nó được xem như là nhân tố quyết định ý định khởi nghiệp (Ali, 2013; N F Krueger, 2003) Niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp là một thuộc tính động lực quan trọng của quá trình khởi nghiệp được các cá nhân chấp nhận bởi các điều kiện không rõ ràng của các tình huống kinh doanh, cần thiết để nổ lực,

Trang 40

duy trì và tiến hành kế hoạch (Bandura, 1997), người có niềm tin vào năng lực bản thân cao thì sẽ có khuynh hướng hứng thú nội tại với hành vi và hoạt động khởi nghiệp (Puni và cộng sự, 2018) Mặt khác, Shane và cộng sự (2003) định nghĩa “một doanh nhân là người mà có niềm tin vào bản thân cao có khả năng nổ lực và cố gắng hơn trong một thời gian dài, kiên trì vượt qua những thất bại và phát triển tốt hơn các

kế hoạch và chiến lược cho nhiệm vụ cần thực hiện” (trang 267) Một vài nghiên cứu gần đây cũng đã chứng minh được vài trò của niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp trong việc phát triển ý định khởi nghiệp như (Ali, 2013; Miranda và cộng sự,

2017) Tác giả đưa ra giả thuyết dựa trên các lâp luận:

Giả thuyết H5 : Niềm tin vào năng lực bản thân khởi nghiệp tác động tích cực

đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học

13 2.5.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu

Dựa trên các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về ý định khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp của sinh viên có thể thấy đa số các mô hình nghiên cứu đều được xây dựng dựa trên mô hình lý thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) Tùy thuộc vào mục đích và bối cảnh nghiên cứu, tác giả có thể kết hợp mô hình TPB với các mô hình khác để xây dựng khung nghiên cứu để giải thích cho ý định khởi nghiệp của các cá nhân Dựa vào các nghiên cứu trước đã tổng hợp, mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) những yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên cụ thể là

sinh viên đại học Mô hình đề xuất sử dụng trong nghiên cứu được trình bày như hình:

Ngày đăng: 17/05/2021, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w