1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005

76 2,5K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 3,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

ở nước ta trong những năm gần đây, cây ăn quả nói chung, cây vải nói riêng đang giữ một vị trí quan trọng trong cuộc chuyển đổi cơ cấu cây trồng

Việt Nam, cây vải được trồng phổ biến từ miền Trung trở ra Bắc Đây

là cây lâu năm có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, vải còn là loại cây ăn quả

đặc sản của miền Bắc

Vải trồng trong vườn gia đình mang lại thu nhập khá cao so với các cây

ăn quả khác, do vậy cây vải được các nhà vườn quan tâm và phát triển mạnh trong những năm gần đây, những vùng trồng vải tập trung đang được hình thành sản xuất vải mang tính hàng hoá, tuy nhiên do đầu tư thâm canh cao trong sản xuất nhỏ đã kéo theo sâu, nhện, bệnh phát triển mạnh đặc biệt là sự gây hại của nhóm nhện hại cây trồng, ngày càng một gia tăng Nhóm nhện hại cây trồng hay còn gọi là Ve bét hại cây trồng nằm trong bộ Ve bét (Acarina), lớp hình nhện (Arachnida) một số loài rất gần gũi với lớp Côn trùng (Insecta) Rất nhiều loại cây trồng bị nhện gây hại đáng kể như bông, chè, cam, chanh, quýt, bưởi, nhãn, vải, đậu đỗ, khoai tây, cây hoa, cây dược liệu… Chúng dùng kìm chích vào mô cây hút dịch cây làm cho cây còi cọc, làm chết điểm sinh trưởng, rụng lá, hoa, quả

Do cơ thể nhện hại rất nhỏ bé, thường không nhìn rõ bằng mắt thường

được, vết hại của chúng cũng nhỏ li ti nên thời kì gây hại ban đầu rất khó phát hiện Khi có điều kiện thuận lợi và độ ẩm phù hợp, thức ăn phong phú và nhất là thiếu vắng kẻ thù tự nhiên, nhện hại dễ bùng phát số lượng với mật độ quần thể rất cao từ vài chục đến vài trăm, vài nghìn cá thể trên một bộ phận của cây như

Trang 2

lá, cành, hoặc quả Toàn bộ thời gian từ lúc chúng xuất hiện đến khi có triệu chứng gây hại điển hình chỉ xây ra trong vòng 1 - 2 tuần Mặt khác triệu chứng nhện hại rất dễ nhầm với một số bệnh như nấm, tảo Việc bùng phát số lượng của nhện gây nên hiện tượng cháy lá, chết điểm sinh trưởng thường xẩy ra với những cây trồng xử dụng quá nhiều chất hoá học đặc biệt là thuốc trừ sâu

Trên cây vải có 3 loài nhện hại nhưng quan trọng và nguy hiểm hơn cả

là nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer chúng gây hại trên lá non và lá

bánh tẻ và quả làm cho là biến dạng mất khả năng quang hợp, nếu bị nặng có thể gây chết cục bộ một số cành

Để phòng trừ nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer, người nông dân

đã sử dụng nhiều loại thuốc hoá học có độ độc cao, thậm trí lượng thuốc tăng gấp 2 - 4 lần so với khuyến cáo, mặt khác do mật độ nhện quá cao người nông dân hỗn hợp nhiều loại thuốc có độc tính cao phun trong một lần trừ nhện, vì thế đã làm cho một số thiên địch của nhện hại có trong tự nhiên giảm đáng kể,

từ đó đã dẫn đến bùng phát số lượng và gây thành dịch, nhiều cây bị nhện

lông nhung Eriophyes litchii Keifer phá hại khô cháy, từ đó là nguồn lây lan

sang cây khác và vườn khác Trước nhu câu đó, chung tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer trên vải tại huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương vụ xuân hè 2005” để đáp ứng được yêu cầu thực tế của việc sản xuất vải tại

Thanh Hà, Hải Dương

1.2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Luận văn đã xác định được thành phần sâu, nhện hại vải trên vùng trồng vải trọng điểm ở tỉnh Hải Dương

Trang 3

- Luận văn cũng cung cấp dữ liệu về đặc điểm phát sinh gây hại của

nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer trên cây vải tại huyện Thanh Hà

tỉnh Hải Dương

- Những kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc xác định quản

lý nhện hại tổng hợp, đạt kết quả tốt bảo vệ thiên địch, góp phần nâng cao năng suất vải, xây dựng một nền Nông nghiệp sạch và bền vững trong tỉnh

1.3 Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.3.1 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở điều tra thành phần sâu, nhện hại vải vụ xuân hè năm 2005,

diễn biến mật độ và gây hại nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer xây

dựng hệ thống biện pháp quản lý tổng hợp nhện hại vải ở điều kiện tỉnh Hải Dương

1.3.2 Yêu cầu của đề tài

- Điều tra sản xuất vải tại huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương vụ xuân hè năm 2005

- Xác định thành phần sâu, nhện hại và thiên địch của chúng trên cây vải tại huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương vụ xuân hè năm 2005

- Điều tra diễn biến, sự gây hại của nhện lông nhung trên đồng ruộng, triệu chứng và mức độ gây hại

- Xác định hiệu lực trừ nhện lông nhung của một số loại thuốc Bảo vệ thực vật

Trang 4

Chương 1 Cơ sở khoa học của đề tài

và tổng quan tài liệu

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong những năm gần đây nền nông nghiệp Việt Nam đang từng bước phát triển đẩy mạnh sản xuất hàng nông sản xuất khẩu, trong đó có cây ăn quả Cây ăn quả là nhóm cây có nhiều triển vọng phát triển ở nước ta, điều kiện khí hậu, đất đai, địa thế thích hợp với nhiều loại cây ăn quả, trong đó có loại quả đã trở thành hàng đặc sản có giá trị kinh tế trên thị trường trong nước

Vải là là loại cây ăn quả đặc sản của các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, có

tên khoa học là Litchi chinensis sonn thuộc họ bồ hòn Sapindaecae được trồng

nhiều và trồng rất sớm ở hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên Vải thuộc nhóm

Trang 5

cây ăn quả á nhiệt đới, thích nghi với điều kiện có mùa đông ở miền Bắc nước nước ta, vải được trồng xen canh, trồng thuần, cho thu nhập khá cao so với các cây ăn quả khác

Quả vải không những là nông sản dùng để ăn tươi mà còn dùng để chế biến dưới nhiều hình thức khác nhau như đóng hộp, sấy khô, làm nước hoa quả điều này đã kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến tạo công

ăn việc làm cho hàng vạn lao động Cây vải là cây đặc sản của miền Bắc, vải

được trồng từ 18 - 19 vĩ độ Bắc trở ra Vải là cây ăn quả có giá trị kinh tế cao

được thị trường trong nước và Thế giới ưa chuộng

Do sự phát triển ồ ạt, đầu tư, thâm canh cao nên sản xuất cây vải đã gặp một số khó khăn mà trong đó đặc biệt là sâu bệnh hại dẫn đến năng suất, chất lượng cây vải giảm Các loại sâu hại như: bọ xít vải, sâu đục quả, sâu đục

cành, đặc biệt là nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer trong những năm

gần đây phá hại trên diện rộng và đã trở thành dịch hại nguy hiểm

Với mục đích bảo vệ năng suất chất lượng quả vải, hạn chế thấp nhất sự thiệt hại do sâu, nhện hại gây ra mà vẫn bảo vệ được môi trường, thì việc đi sâu nghiên cứu đặc điểm phát sinh, phát triển của nhện lông nhung từ đó đề xuất biện pháp quản lý nhện một cách tổng hợp Là một nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực cho nghề trồng vải của nước ta phát triển

1.2 Tổng quan tài liệu

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.2.1.1 Tình hình sản xuất vải trên thế giới

Cây vải có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc có tên khoa học Litchi chinensis sonn thuộc họ bồ hòn Sapindaecae Người ta thấy vải dại xuất hiện

trong 4 tỉnh phía nam ( Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, đảo Hải Nam) và

có nơi Vải dại mọc trong rừng với diện tích rộng

Trang 6

Hiện nay trên thế giới có trên 20 nước trồng vải nhưng sản xuất vải mang tính hàng hoá thì chỉ có một số nước như: Trung Quốc, ấn Độ, Oxtraylia, Mỹ, Nam Phi, Malaixia, Brazin, Neuzilan… Trong đó Trung Quốc

đang là nước đứng đầu về diện tích và sản lượng vải (Trần thế Tục, 2000)[18] Diện tích vải trên thế giới năm 1990 là 18,37 vạn ha với sản lượng 25,1 vạn

tấn (Ngô Đình Nghiêm), 1992 [9]

1.2.1.2 Những nghiên cứu về nhện hại cây trồng

Có rất nhiều loại cây trồng bị nhện nhỏ tấn công gây hại Tuỳ theo điều

kiện canh tác mà thiệt hại có thể từ vài phần trăm đến 60 - 70%, thận trí có trường hợp lên tới 100%

Cuối thế kỉ 20 tại Hội nghị Côn trùng học Quốc tế họp tại Italia, nhện nhỏ hại cây và Côn trùng được xác định rõ ràng như nhóm đối tượng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Tại nhiều vùng trên thế giới, thường là những nơi thâm canh cao, nhện hại cây là những dịch hại chủ yếu và công tác phòng chống nhện hại được đặc biệt chú ý [20]

Trước đây do thiếu hiểu biết phương thức sinh sống và nơi ở của nhóm

ve bét người ta cho rằng chúng là nhóm kí sinh, bằng chứng là họ tìm thấy nhiều trên cơ thể động vật chim, thú và trên thực vật Những nghiêm cứu gần

đây cho rằng đất mới là nơi chú ngụ chính của ve bét

Người đầu tiên đặt tên khoa học Acarus cho ve bét vào năm 1735 là

Linnaeus Trong cuốn “ Hệ thống tự nhiên” lần thứ nhất Linnaeus đã đặt tên

chính xác cho loài Acarus siro và mãi sau này trong lần tái bản thứ 10 tập

sách đó, tác giả đã xác định tên cho 29 loài ve bét gộp trong một giống Acarus (Barker & Whartson, 1952, Krantz, 1978) Sau đó gần 2 thế kỉ các nhà tự nhiện học và phân loại học như Lattreille, Leach, Duges, de Geer, Koch (thế

kỉ 19), Kramer, Megnin, Canestrini, Michael, Berlese, Reuter, Vitzthum, và

Trang 7

Oudemans (cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20) đã có rất nhiều cống hiến nhằm hệ thống hoá một cách chi tiết về ve bét Họ đã nghiên cứu đặc tính sinh học phát triển của loài ve bét có ý nghĩa kinh tế xã hội đối với con người Tuy vậy đại

đa số công trình này đều tập trung vào định loại và nghiên cứu cơ bản

Nhóm nhện nhỏ hại cây trồng chủ yếu thuộc vào hai tổng họ: Nhện

chăng tơ Tetranychoidea và nhện U sần (Eriophyoidea) Các công trình phân

loại nhóm Tetranychid đã được Ewing (1913), McGregor (1950), Prichard và Baker (1955), Jeppson và ctv (1975) tổng hợp và chỉnh lí Công trình khá

hoàn chỉnh về họ Tenuipalpidae đã được Meyer (1979) biên soạn Nhóm

Eriophid cho tới hiện nay đang được tập hợp khá hoàn chỉnh Công trình của Jeppon và ctv, (1975) đã phân loại tới các giống của nhóm Eriophid Rất nhiều công trình nghiên cứu về tập tính gây hại của những loài nhện hại có ý nghĩa kinh tế cũng như khả năng phòng chống chúng trong sản xuất nông nghiệp thường tập trung ở các nước phát triển như: Pháp, Mỹ, Hà Lan, Nhật Bản…

Trong vùng Đông Nam á, nghiên cứu về nhện nhỏ chưa nhiều Một số công trình đề cập đến thành phần loài tại Nhật Bản, Thái Lan của Baker (1975) ghi nhận có 90 loài nhện chăng tơ ở hai nước này và tại Việt nam các loài thường gặp trên cây trồng là 19 loài (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994) [7]

Rất nhiều loại cây trồng bị nhện hại đáng kể như bông, chè, cam, chanh, quýt, bưởi, nhãn, vải, đậu đỗ, cà chua, khoai tây, cây hoa, cây dược liệu… Chúng dùng kìm chích vào mô cây hút dịch làm cây còi cọc, làm chết điểm sinh trưởng, rụng lá, quả Ngoài tác hại trực tiếp một số loài nhện còn truyền các bệnh vi rút nguy hiểm cho cây

Theo thống kê một số nước, thiệt hại của nhện gây ra với cây táo có thể lên tới 50% - 60%, lê: 90%, dâu tây: 40% - 70%, chỉ tính các nước trồng sắn tại Châu Phi hàng năm thiệt hại do nhện gây ra ước tính 1,8 tỷ đô la Mỹ Chúng là một trong những nguyên nhân làm trầm trọng thêm nạn thiếu đói ở lục địa này

Trang 8

Nhện hại cây trồng có kích thước nhỏ đến rất nhỏ (0,1 - 0,5mm), rất khó nhìn bằng mắt thường nhưng lại có ưu thế sinh học rất cao so với các loài

động vật khác Chẳng hạn chúng có khả năng thích nghi cao với môi trường,

có sức sinh sản và sức tăng quần thể cao, chỉ cần 5 - 7 ngày đã tăng gấp đôi số lượng Tuy không có cánh nhưng chúng bò khá nhanh nhẹn, cơ thể nhỏ nên đã

ẩn náu trong lá, vỏ cây, các kẽ nứt ở thân, hoa, quả Khi thức ăn trở nên khan hiếm chúng dễ dàng bốc bay nhờ gió Khả năng sinh sản cao và đa dạng sinh học làm cho nhện hại rất nhanh trở nên thích ứng với môi tương mới, như thuốc hoá học (Hell, 1965, Craham và Helle, 1985, Jeppson et al, 1975) [35]

Mặc dù người sản xuất có hiểu biết nhất định trong thâm canh nhưng thường không xác định đúng sự gây hại, chưa xác định đối tượng gây hại Hậu quả của nhện gây ra thường nhầm là do các loại bệnh sinh lý, như thiếu đạm, lân, kali, nắng hạn, cháy sám, thậm trí rất nhiều trường hợp nhầm với bệnh virut Do không xác định được đối tượng gây hại, hơn nữa nhóm nhện gây hại với cấu tạo cơ thể và phương thức sống khác với nhóm Côn trùng mà đại đa số nông dân đã biết, nên hầu hết các loại thuốc trừ hiện nay không có hiệu quả diệt trừ nhện hại, nhiều trường hợp xử lý thuốc trừ sâu, nhện hại, lại kích thích quần thể nhện phát triển mạnh lên

Các loài nhện họ Eriophiyidae thuộc nhóm nhện u sần (Eriophyoidae) một số nhóm nhện mà lịch sử nghiên cứu chúng có nhiều đặc điểm đặc biệt Thứ nhất họ này được ghi nhận cách đây hai thế kỉ, năm 1737 Reaumu trong cuốn “Lịch sử Côn trùng” đã mô tả các bệnh u sần và lông của cây nhưng không chỉ ra được là do nhện gây hại Thời kì bấy giờ người ta cho rằng triệu chứng gây hại điển hình như vậy của họ này là do nấm hoặc địa y gây nên

Đến thời Nalepa (cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20) với dụng cụ tốt nhất thời đó là kính hiển vi, Nalepa đã phân biệt được rõ sự khác biệt cấu trúc cơ thể giữa con

Trang 9

đực và con cái Eirophid Từ giữa đến cuối thế kỉ 20 đã xác định rất rõ nét tầm quan trọng của nhón Eirophid đối với nông nghiệp, ghi nhận nhiều loài mang

vi rút hại cây trồng, sự đa hình (Polymorphism), việc con đực thả túi tinh trên cùng và con cái nhặt túi tinh đưa vào cơ thể qua nỗ nhận tinh (Spermatophore)

và đặc biệt là mối quan hệ giữa cây, kẻ thù tự nhiên và quản lý tổng hợp (IPM) trong đó nhóm Eirophid Eirophid có hai đôi chân là chân trước và chân sau, cả hai đôi chân đều hướng về trước cơ thể hình củ cà rốt, trên lưng có nhiều hàng gờ nhỏ nằm ngang và có hai đôi chân lông trên lưng, một đôi lông bên, phía cuối cơ thể có một đôi lông cảm giác, mặt bụng có nhiều hàng gờ nhỏ và

có một số lông cứng khá dài các loài khác nhau có các tấm trước với các vạch dọc thâm khác nhau Vuốt bàn chân với các lông nhỏ có nhiều hình dạng, hình cầu lông, hình răng lược, hình quả chuỳ…[26] [29]

Nhóm Eirophid có ba họ đó là Nalepellidae, họ Eriophidae, họ Phyncaphytopidae Họ Nalepellidae đa số chúng tạo nên u sần hoặc lông của cây, có kìm ngắn nhưng khác biệt với Nalepellidae ở chỗ không bao giờ có lông phía trước đầu ống dẫn tinh ngắn và kéo dài sang bên hoặc xiên về sau

U sần là sản phẩm của quá trình Eirophid gây hại trên lá, cành, thân, hoa, quả, nhưng không thấy ở trên rễ cây Các chất sinh trưởng do nhện tiết ra làm cho các tế bào biểu bì phát triển tạo thành u sần Hình dạng u sần (gall) khác nhau, chúng có lỗ hở U sần là nơi đảm bảo cho nhện phát triển tốt hơn

so với các điều kiện khác [25]

1.2.1.3 Những nghiên cứu về nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer

Nhóm nhện này thường có kích thước rất nhỏ, hình dạng không giống với các loài nhện bắt mồi, thuộc bộ Araneida Nhóm nhện này bao gồm nhiều loại nhện khác nhau như nhện trắng, nhện đỏ, đa số nhện gây hại đều thích hợp điều kiện nóng ẩm của vùng Nhiệt Đới, khả năng sinh sản khá cao, vòng

Trang 10

đời của chúng lại rất ngắn vì vậy sức tăng quần thể cao chỉ trong thời gian ngắn dễ trở thành dịch hại nguy hiểm Do đó các loài nhện là đối tượng gây hại rất quan trọng cho các cây ăn quả như cây vải của nhiều nước trong vùng

Đông á và Châu Phi (Dan Smith, 1997)

Trên cây vải phát hiện thấy ba loài nhện hại là nhện đỏ son Tetrnychus cinnabarinus B họ Tetranychidae, Nhện trắng Polypha gotarsonemus latus B

họ Tarsonemidae, Nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer họ Eriophyidae

Trong ba loài kể trên thì nhện lông nhung là nguy hiểm hơn cả [5]

Theo Jeppon Keifer Baker, 1975 [35] Nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer là loài dịch hại rất quan trọng gây hại trên vải tại vùng Hawaii và

Pakistan ( loại cây dùng làm hàng hoá và cây cảnh)

Nhện tấn công trên lá non và quả non, chồi và chùm hoa, sợi lông nhung (Erineum) phát triển ở mặt sau của lá là nguyên nhân làm cho cho lá

bị co quắp khô và rụng Kết quả là khi bị hại nặng cây ngừng phát triển Nhện cũng gây hại trên hoa làm ngừng phát triển của hoa Sự phá hoại lớn nhất của loài nhện này xẩy ra khi cây đâm chồi, nảy lộc Sợi lông nhung là dấu hiệu triệu chứng đầu tiên của nhện hại nó bắt đầu phát triển mạnh khi lá non mở ra [7]

Nhện hoàn thành vàng đời từ (13 - 19) ngày đỉnh cao của mật độ nhện xuất hiện mỗi khi có đợt lộc mới của cây vải, nhưng khi nhiệt độ cao ẩm độ cao thì không thích hợp cho nhện phát triển

Nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer có hình củ cà rốt, dài 0,11 –

0,135mm, nhện có vuốt chân lông 5 hàng, lớp da bảo vệ khá dầy, chính giữa

có các đường và bên cạnh là một đai rộng được tạo thành từ các hạt Chính giữa có các đường kết thúc ở một điểm tròn màu tối Các đường bên cạnh song song với đường chính giữa và tách dần ra, mờ dần uốn cong về mép sau Các

Trang 11

đường phía ngoài từ phần đầu chạy đến phần lưng và hợp thành chuỗi hình vuông ở phí trước ở phía cuối mặt lưng, phần hông có các hạt nổi khá rõ và có một đường đậm chính giữa Ngoài ra còn các hạt nhỏ khác có hình elip và ở sát mép [5]

Bộ phận sinh dục ngoài của con cái bao phủ bởi một chuỗi các đường vân ngang và có khoảng 16 đường chạy dọc theo sườn

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.2.1 Tình hình sản xuất vải ở Việt Nam

Vùng phân bố vải tự nhiên của nước ta từ 18 - 19 0 vĩ độ Bắc trở ra ở Huế có một số cây vải giống Hắc lệ chi và Hông lệ chi Tương truyền do các

sứ thần của ta đi Trung Quốc mang về Cây sinh trương tốt song có ít quả và

có hiện tượng năm cho quả, năm mất mùa

Vùng trồng vải chủ yếu của Việt Nam là vùng đồng bằng sông Hồng, trung du Bắc Bộ và một phần khu 4 cũ Những nơi trồng nhiều như tỉnh Hải Dương (huyện trồng nhiều nhất là Thanh Hà), Bắc Giang (Lục ngạn), Phú Thọ (Thanh Hào), Nông trường Đông Triều (Quảng Ninh), Vườn Quốc gia Cát Bà Ngoài ra còn có vườn vải giống chín sớm dọc sông đáy thuộc huyện Thanh Oai, Quốc Oai, Chương Mỹ (tỉnh Hà Tây)

Mấy năm gần đây phong trào làm vườn đang phát triển mạnh, nhiều tỉnh như Hoà Bình, Hà Tây, vùng lòng hồ sông Đà … có kế hoạch đẩy mạnh trồng vải thiều, xem nó như một cây chủ lực trong vườn Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê năm 1997 diện tích vải thiều ở miền Bắc là 25.114 ha, trong đó có 10.313 ha ở độ tuổi cho thu hoạch, sản lượng đạt 27.193 tấn Do

có giá trị kinh tế cao nên những năm gần đây diện tích vải tăng cao và mở rộng ở nhiều tỉnh phía Bắc (Trần Thế Tục, 1997) [18]

Trang 12

1.2.2.2 Những nghiên cứu về nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer

Tuy nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, không thích hợp vời những loài nhện hại ưa khô hạn, nhưng đã có nhiều ghi nhận về sự gây hại

đáng kể của nhện đỏ trên bông, sắn, chè Không những thế trong các tháng nóng ẩm nhiều loại cây trồng như đậu đỗ, các loại hoa, khoai tây, cây vườn

ươm và cây dược liệu… đã bị “ cháy” do nhện hại

Việt Nam bước đầu cũng đã có những nghiên cứu về nhện nhỏ hại chè của Nguyễn Văn Đĩnh (1994) và Nguyễn Thái Thắng (2001), nhện nhỏ hại cây ăn quả (Nguyễn Văn Đĩnh), 1992 và 1994, Nguyễn Thị Phương 1997, Nguyễn Thị Bình, 2002, Trần Xuân Dũng, 2003), nhện nhỏ hại lúa và một số cây trồng khác Đã có một chuyên khảo về nhện nhỏ hại hại và biện pháp phòng chống, nêu tóm lược về các loài nhện nhỏ hại quan trọng cũng như biện pháp phòng chống chúng ở Việt Nam (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002) [8]

Nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer đối với chúng ta còn rất mới

mẻ, và chưa được nghiên cứu nhiều nhóm nhện hại thường có kích thước cơ thể nhỏ, hình dạng không giống các loài khác nên rất hay bị nhầm lẫn với các

loại bệnh vi rút khác Nhện lông Eriophyes litchii Keifer hại trên nhãn, vải

cũng mới chỉ được ghi nhận vào năm 1994 tại vùng Hà Nội [4]

*Sự phân bố và phạm vi kí chủ

Nhện xuất hiện gây hại nặng các vùng trồng vải cận nhiệt đới như Ha Oai, Pakistan, Việt Nam…

ở nước ta, bệnh lông nhung do loài nhện Eriophyes litchii Keifer gây

ra, trên cây vải, nhãn nhưng chủ yếu hại trên vải (theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2000) [5]

*Triệu chứng và mức độ gây hại

Nhện non nở ra chích biểu mô mặt dưới lá hút nhựa, kích thích mô lá

Trang 13

sinh dị dạng có mầu đỏ giống như lông nhung, kết hợp mặt trên lá bị co quắp, phồng rộp dẫn tới lá phát triển không bình thường, quang hợp kém và rụng sớm Trên một cây thường thấy mặt dưới là bị hại trước, sau dần dần phát triển lên trên và lây ra bên cạnh sau đó sang cả vườn theo gió và động vật (Trần Thế Tục,1997) [17]

Triệu chứng điển hình do nhện lông nhung gây ra ở mặt dưới lá và trên quả có một lớp lông nhung mầu vàng nâu đến nâu thẫm, lá bị quăn queo và dày lên Khi bị hại nặng cây không phát triển được nụ hoa và quả bị rụng Lá non và quả non khi mới bị hại vết hại có mầu xanh hơn bình thường, đồng thời xuất hiện các lông dài và mảnh có mầu trắng bạc, sau đó 3 - 4 ngày lớp lông này chuyển sang mầu nâu nhạt rồi nâu đậm, lúc này lá bị nhăn nhúm Khi lá già lớp lông nhung chuyển sang mầu nâu thẫm, nhện chuyển sang các lá non khác để sinh sống Vết hại trên quả cũng tương tự như trên lá, nhưng khi bị nặng quả không lớn được và rụng sớm Trên cây bị bệnh nặng, cây có thể không có quả hoặc rất ít quả, lộc hè thu rất ít và ngắn Bệnh lông nhung trên vải được ghi nhận đầu tiên ở vùng Hà Nội vào năm 1994 Tuy vậy theo đánh giá trung của nhiều nước trên các vùng trồng vải, nhãn ở Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hải Dương (Nguyễn Văn Thuyết và ctv, 1999)

* Đặc điểm hình thái

Nhện nhỏ hình củ cà rốt mầu trắng ngà, chiều dài từ 0,12 - 0,17mm Phía cuối cơ thể thon dần phía trước cơ thể có hai đôi chân, vuốt chân lông 5 hàng Trên mặt lưng có 70 - 72 ngấn ngang [5]

*Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại

Nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer trưởng thành qua đông và

sinh sản vào mùa xuân (tháng 3) trên các đợt lộc và tỷ lệ thấp vào lộc thu Gây hại mạnh vào tháng 5 - 6 (Trần thế Tục, 1997) [18]

Trang 14

Nhện phát sinh gây hại quanh năm nhưng mạnh nhất vào vụ xuân khi

có các đợt lộc xuân Nhện trưởng thành di chuyển đến các chồi non nhờ gió, bám vào côn trùng hoặc tự di chuyển đến lộc non Nhện đẻ trứng từng quả rải rác trên các lá non, quả non và nụ hoa Thời gian phát dục của trứng là 2,5 ngày, nhện non tuổi 1 là: 2 - 3 ngày, nhện non tuổi 2 là: 6 ngày, thời gian trưởng thành đẻ trứng là 1,5 ngày Vòng đời 13 - 19 ngày Đỉnh cao mật độ nhện thường xuất hiện trùng với đợt lộc rộ của cây vải Tuy nhiên nhiệt độ cao

và mưa lớn không thuận lợi đối với sự phát triển của quần thể nhện

Theo những nghiên cứu của Viện bảo vệ thực vật (2003) [23], cho rằng nhện lông nhung rất nhỏ, có chiều dài 0,14 - 0,17mm, rộng 0,035 - 0,04mm Thân nhện có hình trụ dài, phía đôi chân nhỏ dần Phần ngực có hai đôi chân, phần bụng có 70 - 72 đốt Nhện có mầu trắng ngà

Nhện đẻ trứng tại gốc các sợi lông nhung, vòng đời của nhện là 15 - 19 ngày tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm, nhện phát sinh quanh năm nhưng mạnh nhất vào vụ xuân gây nhiều thiệt hại cho nông dân trồng vải

Đợt bùng phát số lượng của nhện lông nhung trùng vào đúng đợt lộc hoa, làm ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng quả sau này

Những chồi non có nhện lông nhung thì hầu hết tất cả các lá non sau khi nở ra đều bị hại Tỷ lệ hại của nhện lông nhung còn phụ thuộc vào mật độ,

mà mật độ lại phụ thuộc theo mùa, nên mỗi đợt lộc thì tỷ lệ hại của nhện lông nhung là khác nhau Khi quả non bị nhện hại quả không lớn được thậm trí bị rụng sớm Nhện lông nhung chủ yếu phân bổ ở dưới mặt lá với mật độ dày đặc làm cho lá không còn khả năng quang hợp được gây chết cục bộ Nhện lông nhung di chuyển nhờ gió ngoài ra chúng có thể di chuyển đến những vùng rất gần nơi chúng sinh sống Khi tới nơi ở mới nhện tiếp tục phá hại, nhện dùng kìm chích vào mô cây lấy dinh dưỡng từ lá làm cho lá sinh trưởng phát triển

Trang 15

kém, co lại, cong, quắt Nhện sinh sống tiếp tục trong lớp lông nhung khi lông nhung có mầu nâu thẫm là thế hệ cuối cùng và lúc đó nhện phải di chuyển sang vùng khác tiếp tục gây hại

Nhện hại trên một số cây vải thường thấy phần dưới bị hại trước sau đó lan sang các phần khác và lan ra cả vườn Vườn bị hại nặng chủ yếu là vườn vải đang cho thu hoạch (5 - 6 tuổi) Nhện phát triển nơi thiếu ánh sáng, gió nhẹ, cây cao phát triển chậm hơn và không tập trung

Tuy bước đầu đã có nghiên cứu về nhện lông nhung ở nước ta, nhưng những nghiên cứu chưa đi sâu và chưa đề xuất được biện pháp phòng trừ một cách hiệu quả vì vậy trong những nghiên cứu của nhện lông nhung ở các vùng trồng vải khác nhau sẽ rất có ý nghĩa góp phần khống chế sự gây hại của nhện lông nhung trong sản xuất

Trang 16

Chương 2

Địa điểm, vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Mọi nghiên cứu chính trong phòng đều thực hiện tại phòng sinh thái Côn trùng trường Đại học Nông nghiệp I

- Công việc điều tra theo dõi ngoài đồng tiến hành tại vùng trồng vải của huyện Thanh Hà tỉnh hải Dương, ngoài ra còn theo dõi bổ sung ở một số nơi khác như Viện rau quả, Trường Đại học Nông nghiệp I, Chí linh (Hải Dương)

2.2 Dụng cụ và vật liệu nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chủ yếu là nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer, tập trung trên

một số giống vải (Vải thiều, Vải chua, Vải nhỡ)

Trang 17

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là phương pháp thông dụng được tiến hành theo các tài liệu ở các cơ quan nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước: Phương pháp nghiên cứu Bảo vệ thực vật tập I, ( Viện Bảo vệ thực vật, 1997, [21] Phương pháp điều tra phát hiện và dự tính dự báo (Vũ Đình Ninh, 1997) Methods forcollecting, preserving and studying insects and allied form (murray S Upton, 1991)

2.3.1 Phương pháp điều tra thành phần, phân bố và mức độ phổ biến của

sâu, nhện hại và thiên địch trên cây vải

* Cách điều tra

Điều tra định kì 7 ngày một lần theo phương pháp điều tra tự do không

cố định điểm điều tra và bổ sung thêm vào các thời kì sinh trưởng của cây: phát lộc, ra hoa quả non, quả già Thu thập từ 50 - 100 cây chọn ngẫu nhiên phân bố đều theo địa hình, tuổi cây và chế độ chăm sóc trong vùng:

Các bước tiến hành như sau:

- Quan sát bằng mắt để phát hiện sâu hại, nhện hại và theo dõi hoạt

động của chúng trong tự nhiên

- Vợt xung quanh, bắt những Côn trùng biết bay

- Vạch hoa, búp hoa để thu những sinh vật gây hại nhỏ

- Rung, đập, vỗ để thu những loài sâu hại ở trên cao và Côn trùng giả chết

- Thu mẫu sâu, nhện hại về phòng sinh thái giám định, phân lập

Điều tra mức độ phổ biến sâu hại vải được tính theo công thức sau:

Tổng số sâu bắt gặp Mật độ sâu hại chính (con/cây) =

Tổng số điểm điều tra

Tổng số lần bắt gặp Tần suất bắt gặp (%) = 100 x

Tổng số lần điều tra

Trang 18

* Cách bảo quản mẫu và ghi chép mẫu vật

- Đối với mẫu vật, trưởng thành có kích thước lớn thu thập được để riêng theo từng loại, sấy khô ở 500C, đặt vào hộp mẫu

- Đối với những loài nhỏ thân mềm như rệp, bọ trĩ, sâu non các loại thì ngâm trong cồn 700

- Đối với Côn trùng nhỏ nữa, ta cho vào ống tube nhỏ sấy khô theo như phương pháp làm mẫu thông thường

- Mẫu vật thu thập được kèm theo nhãn ghi số kí hiệu, nơi thu thập, tình

trạng bị hại mức độ phổ biến Tính như sau:

+++ : Lớn hơn 50% là rất phổ biến

++ : Từ 26% đến 50% là phổ biến

+ : Từ 6% đến 25% là ít phổ biến

- : Từ 0% đến 6% là không phổ biến

2.3.2 phương pháp điều tra theo dõi tình hình phát sinh của nhện lông

nhung Eriophyes litchii Keifer

Cũng như phương pháp điều tra thành phần, trên mỗi khu vực trồng vải

điển hình đại diện cho khu sản xuất vải đó, chọn một số điểm đại diện cho từng địa hình, giống cây, tuổi cây Trên mỗi vườn chọn 5 điểm chéo góc cố

định điểm điều tra Điều tra định kì 15 ngày một lần, điều tra cố định điểm

điều tra theo 5 điển chéo góc, mỗi điểm điều tra một cây, mỗi cây điều tra 3 tầng 4 hướng, mỗi tầng, hướng lấy một cành đại diện cho điểm điều tra Các

điểm điều tra lần sau không trùng với điểm điều tra của lần trước liền kề

Tiến hành điều tra 3 vườn với 3 nhóm vải chính ở huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương

Điều tra được tiến hành trên các loại địa hình khác nhau, tuổi cây, giai

Trang 19

đoạn sinh trưởng khac nhau và biện pháp tỉa cành tạo tán, từ đó theo dõi mối quan hệ giữa sâu, nhện hại vải, với giai đoạn sinh trưởng của cây

*Mức độ nhiễm được chia thành 4 cấp (ảnh1 )

Cấp 0 : Lá, quả hoàn toàn không bị hại

Cấp 1 : Vết hại xuất hiện rải rác trên lá

Cấp 2 : Lá, quả bị hại dưới 1/3 diện tích

Cấp 3 : Lá, quả bị hại trên 1/3 diện tích

2.3.3 Thí nghiệm phòng trừ

2.3.3.1 Tìm hiểu hiệu lực của 5 loại thuốc Bảo vệ thực vật trừ nhện lông

nhung Eriophyes litchii Keifer

1- Tập kỳ 1,8EC 0,1 2- Ortus 5SC 0,15 3- Pegasus 500SC 0,15 4- Nissorun 5SC 0,1 5- Comite 73EC 0,15

Mục đích là tìm hiểu hiệu lực và phương pháp của một số loại thuốc hoá

học đối với nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer trên cây vải ở huyện

Thanh Hà tỉnh Hải Dương, từ đó rút ra các loại thuốc thích hợp áp dụng trong

phòng trừ nhện Eriophyes litchii Keifer

*Thí nghiệm trong phòng được tiến hành như sau :

Ta sử dụng các lá bị hại có mật độ nhện gần giống nhau, để làm thí nghiệm thử thuốc mỗi loại thuốc làm 3 lần nhắc lại và một công thức đối chứng

Trang 20

Pha dung dịch thuốc theo như nồng độ đã khuyến cáo, nhúng các lá có nhện vào dung dịch thuốc cho ướt đều trong vòng 5 giây sau đó lấy ra làm khô

từ từ, sao cho không ảnh hưởng đến môi của nhện, đến thí nghiệm rồi cho vào trong hộp nuôi sâu, công thức đối chứng ta làm tương tự nhưng chỉ nhúng vào nước lã sau đó tiến hành đếm số lượng nhện sống, chết sau 1 ngày, 3 ngày, 5

ngày, (con/quang trường)

2.3.3.2 Xác định thời điểm phun thuốc thích hợp để trừ nhện lông nhung

Eriophyes litchii Keifer trên Vải thiều

Thí nghiệm được tiến hành với 5 công thức ở 5 giai đoạn phát triển khác nhau của cây vải, được tiến hành tại huyện Thanh Hà Tỉnh Hải Dương Các công thức được bố trí như sau:

Chọn 10 cây vải thiều có các điều kiện sinh trưởng phát triển và mật độ nhện ban đầu gần giống nhau, sau đó xử lý thuốc Ortus 5SC ở mỗi giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây, mỗi giai đoạn làm 2 lần nhắc lại với 2 cây vải

*Các giai đoạn xử lý thuốc Ortus 5SC:

1 - Mới hình thành lộc non

2 - Khi bắt đầu nở hoa

3 - Khi quả non được 1cm

Công thức đối chứng phun nước lã

Sau đó theo dõi và điều tra tính tỷ lệ hại của mỗi công thức, từ đó kết luận cho giai đoạn nào cần phun trừ nhện là hợp lý

2.5 Tính toán số liệu điều tra và số liệu thí nghiệm

Tất cả số liệu điều tra, số liệu thí nghiệm đều được phân tích tính toán

và so sánh theo phương pháp thống kê sinh học:

Tỷ lệ hại và chỉ số hại được tính theo công thức sau:

Trang 21

n: Số lá bị hại ở mỗi cấp

b: Trị số đại diện cho cấp sâu hại

N: Tổng số là điều tra

C: Cấp hại cao nhất

Tìm hiểu hiệu lực thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm

Ca - Ta

Độ hữu hiệu của thuốc (%) =

Ca x 100 Ca: Là số nhện sống ở công thức đối chứng trước xử lý thuốc

Ta: Là số nhện sống ở công thức thí nghiệm sau xử lý thuốc

Trung bình của mẫu được tính theo công thức

N

ni Xi

X = ∑ *

Trong đó: X: Là mật độ trung bình

Xi: Cá thể i ni: Số cá thể i

Khoảng biến động được tính theo công thức

Trang 22

¶nh 1: Ph©n cÊp h¹i trªn l¸ v¶i cña nhÖn l«ng nhung Eriophyes litchii Keifer

CÊp 0 CÊp 1

cÊp 2 CÊp 3

Trang 23

Chương 3 kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1 Vài nét về đặc điểm địa hình khí hậu đất đai của tỉnh Hải Dương 3.1.1 Vài nét về đặc điểm địa hình, khí hậu, đất đai của tỉnh

Hải Dương là một tỉnh đồng bằng sông Hồng có điều kiện khí hậu tự nhiên rất phù hợp cho cây vải phát triển Cây vải ưa thích ánh sáng mạnh, cây vải cần ánh sáng chiếu quanh năm, đặc biệt thời kì hình thành mầm hoa điều kiện thời tiết rất phù hợp cho cây vải phát triển Hải Dương, vải được trồng trong vườn nhà, tập trung thành vùng chuyên canh vải như huyện Thanh Hà, Chí Linh, đã đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn các cây ăn quả khác Cây vải đã làm cho nhiều nhà vườn giầu lên nhờ sản xuất vải quả

Hải Dương có diện tích đất tự nhiên là 1.660,9 km2, địa hình phức tạp,

có nhiều loại địa hình khác nhau như huyện Chí Linh Hải Dương là vùng đồi núi, vùng Thanh Hà, Hải Dương là vùng đồng Bằng, nên chia thành các vùng sinh thái với các đặc điểm khí hậu, sản xuất, tập quán sinh hoạt khác nhau Vải được trồng phổ biến ở hai huyện là Thanh Hà, Chí Linh (Hải Dương)

Hải Dương có nhiệt độ trung bình từ 22 - 25,60C, nhiệt độ tối cao là 37,50C, nhiệt độ tối thấp là 150C, có độ ẩm trung bình 81,8%

Thanh Hà là một huyện đồng Bằng của Hải Dương có diện tích tự nhiên

là 155,2 km2 và diện tích trồng vải lớn nhất tỉnh là 5.538 ha được trồng rải rác trong huyện, cũng có vùng xen canh, cũng có một số diện tích được trồng tập trung thành khu mang tính sản xuất hàng hoá Đất trồng vải ở Thanh Hà có tầng canh tác dầy, rất giầu dinh dưỡng, nhiều mùn và khoáng, có mực nước ngần rất thích hợp, là những điều kiện thuận lợi để phát triển trồng vải mang tính sản xuất hàng hoá

Trang 24

3.1.2 Tình hình phát triển cây vải ở huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương

Vải là cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, đã gắn bó lâu đời với người dân

Hải Dương Từ lâu vải được trồng rải rác trong các vườn hộ nông dân, không

mang tính hàng hoá mà chủ yếu phục vụ tiêu dùng trong gia đình Tại các

huyện trong tỉnh, Cây vải chỉ thực sự phát triển với quy mô lớn hàng ngàn ha

trong những năm gần đây cùng quá trình phát triển của Nông trường Quốc

doanh Do điều kiện khí hậu, đất đai thích hợp cho cây vải phát triển, đã xuất

hiện nhiều vùng sản xuất vải có diện tích lớn, có chất lượng nổi tiếng như:

Thanh Hà, Chí Linh của tỉnh Hải Dương

Cây ăn quả của tỉnh Hải Dương, chủ yếu là cây vải đã tự khẳng định vị

trí và thế mạnh, là vùng trồng cây ăn quả trọng điểm Vải được trồng quy mô,

với diện tích khá lớn tạo thành vùng tập trung, thành những xã chuyên sản

xuất vải quả, cây vải giống của huyện Thanh Hà mang tính chất hàng hoá là

(Thanh sơn, Thanh xá)…

Diện tích, năng suất, sản lượng vải tăng hàng năm, theo thống kê Phòng

Nông nghiệp huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương thì từ năm 2003 đến năm 2005

cây vải với mức độ tăng mạnh mẽ hơn các loại cây khác (bảng 1)

Bảng 1: Tình hình phát triển cây vải trong cơ cấu cây ăn quả

ở huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương

(Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương)

Ghi chú: DT: diện tích NS: năng suất SL: sản lượng

Trang 25

Vải là cây ăn quả mà huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương xác định đây là cây chủ lực của Tỉnh Chiếm 65% - 70% sản lượng cây ăn quả các loại của toàn huyện

Sản lượng Vải hàng năm tăng đều năm 2003 là: 13.105 tần và năm 2004 là: 20.703 tấn và năm 2005 là: 21.172 tấn chiếm: 65% - 70% sản lượng cây

ăn quả các loại của huyện

Trang 26

Bản đồ phân bố cây ăn quả

Trang 27

3.2 Tình hình sản xuất cây vải tại huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương 3.2.1 Quy mô sản suất vải của các hộ nông dân tại huyện Thanh Hà

Sản suất Vải chủ yếu tập 4 xã như Thanh Sơn, là: 500 ha, Thanh Thuỷ là: 365 ha, Thanh Xá là: 410 ha, Thanh Khê là: 350 ha…

Bình quân mỗi hộ trồng từ: 50 - 300 cây khoảng dưới 1 ha chiếm tới 60% Số hộ trồng từ: 1 - 5 ha chiếm từ: 30% - 35% Số hộ trên 5 ha chiếm: 5%

- 10%, trong cơ cấu diện tích trồng vải ở huyện Thanh Hà

Đó là 4 xã tập trung sản suất vải chủ yếu của huyện, với diện tích và quy mô lớn, mang tính chất sản xuất hàng hoá

3.2.2 Kỹ thuật trồng vải

* Nhân giống

Phương pháp chiết cành chiếm: (95%) là phương pháp nhân giống chủ yếu cho sản suất Cây chiết giữ được đặc tính tốt của cây mẹ nhưng hệ số nhân giống thấp, bộ rễ thường ăn nông, không thích hợp cho vùng đồi gò dễ bị thiếu nước về mùa khô

Phương pháp ghép mắt, ghép cành chiếm: 5%, ưu điểm chính của phương pháp này là hệ số nhân giống cao, giữ được các đặc tính tốt của bố

mẹ, nâng cao tính thích nghi của cây giống đối với điều kiện khí hậu, đất đai của vùng cao, có hệ nước ngầm thấp

*Bón phân

Do vải được sản suất tập trung thành những vùng chuyên canh, nên mức

độ đầu tư thâm canh rất cao Qua điều tra cho thấy trình độ của các hộ nông dân sản xuất vải ở Thanh Hà vẫn còn hạn chế, họ nắm bắt kĩ thuật chưa cụ thể, chăm sóc chưa đúng theo quy trình kĩ thuật trồng vải

Có nhiều đợt lộc trong năm, nên thường bón ít, nồng độ loãng và làm

Trang 28

nhiều lần trong 1 năm có thể 4 - 6 lần Những cây vải cho thu hoạch thì bón phân bằng cách đào rãnh xung quanh tán, sâu 2,5 - 30 cm, cho phân xuống lấp

đất Để cân đối có thể bón cho cây thêm supe lân: 0,3 - 0,4 kg và sunfat kali 0,3 - 0,4 kg/cây/năm Bón phân thời kì vải cho quả đối với cây vải đang ra quả

và cho năng suất, việc bón phân cho cây làm cho cành của mùa thu sung sức hơn để năm sau trở thành cành mẹ, xúc tiến quá trình phân hoá mầm hoa, cần bón vào thời kì sau:

Trước lúc ra hoa nhằm xúc tiến quá trình phân hoá mầm hoa, bón vào sau tiểu hàn cho đến trước và sau đại hàn bón 25% lượng N và K cả năm, 1/3 lượng P cả năm

Bón thúc quả khi ra hoa cho đến rụng quả sinh lý đợt 2 nhằm bổ sung kịp thời cho cây để quả lớn nhanh, lúc này cây cần nhiều Kili lượng dùng 50% tổng K cả năm đam dùng 25% của cả năm, lân dùng 1/3 cả năm

Bón sau khi thu hoạch quả Năm được mùa thu nhiều quả lấy đi nhiều dinh dưỡng của cây cầm phải bón kịp thời cho cây phục hồi sinh trưởng phát triển, thúc đẩy cành thu phát triển khoẻ mạnh để sau này là cành mẹ Lần bón phân này rất quan trọng lượng bón hết số còn lại của cả năm

* Mật độ cây

Khoảng cách trồng và cách trồng giống nhau giữa các gia đình và các vùng, bình quân khoảng cách 5 - 6 m/cây và trồng song song, hoặc theo ô bàn

cờ chỉ có một số ít hộ trồng theo kiểu tam giác (Nanh sấu)

Tại các xã chúng tôi điều tra thấy có khoảng 30% số hộ trồng dầy trên

800 cây/ha, và khoảng 60% số hộ trồng theo mật độ trung bình là: 400 - 600 cây/ha và 10% số hộ trồng mật độ thưa dưới 400 cây/ha

Số hộ trồng dầy đầu tư cao cho thu hoạch sớm, dễ đốn bỏ cây bị bệnh, nhưng thời gian khai thác chỉ dưới 15 năm, loại hình này được trồng cũng phổ

Trang 29

biến, nó chỉ mang tính chất thời vụ Số hộ trồng thưa kết hợp với chăm sóc bình thường đúng kĩ thuật thì cho thu hoạch lâu dài hơn và thời gian thu hoạch khoảng 20 - 25 năm, thích hợp với kiểu canh tác thâm canh giúp nhà vườn quy hoạch, quay vòng đất hợp lý Trong sản xuất loại hình này đang được trồng phổ biến

3.2.3 Công tác Bảo vệ thực vật

Các loại sâu bệnh phổ biến trên vải tại Thanh Hà Hải Dương là: Bọ xít nhãn vải, sâu đục quả, nhện lông nhung, sâu kèn Bệnh đốm mắt cua, thối quả, bệnh mốc sương, bệnh thối hoa …

Mức độ hại của sâu, bệnh trên cây vải phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật canh tác của nông dân, địa hình, tuổi cây, mật độ cây và biện pháp phòng trừ Phòng trừ sâu hại chủ yếu là thuốc hoá học lượng thuốc dùng trên ha là rất cao Qua điều tra cho thấy có đến 70% số hộ dùng 1 - 1,5kg/ha/năm phun bình quân 2 tháng một lần một loại thuốc dùng cho tất cả dịch hại chỉ có 30%

số hộ phun 3 - 4 lần/năm, lượng phun 0,8 - 1 kg/ha vào các đợt lộc trong năm

Công tác quản lý vườn quả, quản lý dịch bệnh còn yếu kém, sâu bệnh hại nhiều trình độ của nông dân có hạn, công tác khuyến nông chưa kịp thời, nông dân chưa nhận dạng được sâu, bệnh hại dẫn đến tình trạng quản lý dịch hại không đúng kỹ thuật, làm cho xuất hiện các đợt dịch gây hại đáng kể đến sản lượng vải Đó cũng là nguyên nhân làm cho sâu quen thuốc, tính kháng thuốc tăng nhanh và chi phí cho Bảo vệ thực vật là khá lớn

Vải là cây hàng hoá chủ yếu của huyện Thanh hà tỉnh Hải Dương, diện tích tăng nhanh và liên tục trong những năm vừa qua, là vùng trồng vải lớn nhất của tỉnh Hải Dương

Do nhận thức của nhà vườn về vai trò của sâu hại đến năng suất, sản

Trang 30

lượng vải, thiên địch và vai trò của chúng trong vườn nhà, mối quan hệ giữa cây trồng và dịch hại, môi trường còn nhiều hạn chế Sử dụng hoá chất phòng trừ không đúng chủng loại, liều lượng và đối tượng dịch hại là nguyên nhân bùng phát số lượng của dịch hại trong vườn vải

Khái niệm về phòng trừ dịch hại tổng hợp đối với nhà vườn sản xuất vải còn rất mới mẻ và xa lạ

Do tâm lý nhà vườn bị sai lệch, quá lo lắng đã dẫn tới hiện tượng phun phòng, phun quá nhiều lần trong năm với hy vọng có thể diệt được dịch hại như mong muốn trên vườn vải của nhà mình

Nhà vườn cần quan tâm hơn nữa trong việc học hỏi kinh nghiệm chăm sóc và phòng trừ sâu dịch hại

Khuyến nông huyện cần mở nhiều cuộc hội thảo, tập huấn kỹ thuật cho các nhà vườn giúp họ sản xuất vải an toàn, hiệu quả hơn

3.3 Thành phần và mức độ phổ biến của sâu, nhện hại vải ở

huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương

Cũng như vùng trồng vải khác trong cả nước, và trên Thế giới, thành phần sâu, nhện hại vải rất phong phú và đa dạng Qua điều tra từ tháng 11 năm

2004 đến tháng 6 năm 2005 tại các xã trồng vải của Thanh Hà và một số vùng trồng vải khác trong tỉnh Hải Dương đã thu thập được 19 loài gây hại thuộc 14

họ của 5 bộ Các bộ có số lượng loài nhiều nhất là bộ cánh vẩy (Lepidoptera) chiếm: 42,85%, các bộ còn lại thu được ít hơn Có những bộ tuy số lượng loài

ít nhưng tính chất gây hại khá quan trọng như bộ vebét (Acarina) loài Eriophyes litchii Keifer phá hại đáng kể trong những năm gần đây (Bảng 2)

Dựa vào đặc điểm gây hại của 19 loài sâu, nhện hại chúng tôi thấy chỉ

có 3 loài là gây hại đáng kể, có 10 loài ăn lá và lộc non, 1 loài đục thân cành

và 3 loài chích hút nhựa cây, 5 loài hại hoa quả

Trang 31

B¶ng 2: Thµnh phÇn s©u nhÖn h¹i thu ®−îc trªn c©y v¶i trong vô xu©n hÌ

n¨m 2005 t¹i Thanh Hµ, H¶i D−¬ng

Trang 32

Dựa vào mức độ phổ biến và tầm quan trọng kinh tế của chúng có thể chia 3 nhóm sau:

+++ : Lớn hơn 50% là rất phổ biến

++ : Từ 26% đến 50% là phổ biến

+ : Từ 6% đến 25% là ít phổ biến

- : Từ 0% đến 6% là không phổ biến

Nhóm I: Bao gồm đối tượng xuất hiện ít, gây hại nhẹ, (-), (+) Nhóm này

không làm ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng phát triển của cây, như Bọ xít đen

(Scotinophora lurida Burm), Bọ xít xanh (Nezara viridula Fabrcius), Bọ xít dài (Leptocoria variconis Fabrcius), Rệp bông (Aphis gossypii)…(Bảng 2)

Nhóm II: Bao gồm những loài xuất hiện và gây hại ở mức độ trung bình

(++) hoặc xuất hiện theo vùng, nhưng cũng gây hại ở mức độ trung bình Nhóm này cũng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây, năng suất và chất

lượng quả đó là các loài: Câu cấu lớn (Hypomeces squamosus Fabr), câu cấu nhỏ (Platymycterus sieversi Reitter), Sâu kèn (Chaliodes kondonis

Matsumura)…(Bảng 2)

Nhóm III: Bao gồm những loài xuất hiện ở tất cả các vùng với mức độ

nhiều (+++) Chúng gây hại kinh tế nghiêm trọng làm giảm năng suất, chất lượng quả vải khoảng: 20% - 30% đối với những loài này cần chú ý phòng trừ

kịp thời, những loài gây hại như: Bọ xít nhãn vải (Tessaratoma papillosa Drury), Sâu đục quả (Acrocercop crameralla Smellem), nhện lông nhung (Eriophyes litchii Keifer)… (Bảng 2)

Trên cây vải các loài sâu hại chính như Bọ xít nhãn vải, Sâu đục quả, và nhện lông nhung xuất hiện nhiều hay ít tuỳ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng và khả năng gây hại của chúng Sâu đục thân gây hại quanh năm, nhện lông nhung phá hại mạnh khi xuất hiện các đợt lộc non mới, Bọ xít nhãn vải gây hại mạnh từ tháng 3 - 6, sâu đục quả gây hại mạnh khi cây chuẩn bị cho quả

Qua điều tra thành phần sâu, nhện hại và mức độ phổ biến của chúng, chúng tôi thấy mức độ gây hại của mỗi loài qua các tháng trong năm là không giống nhau Kết quả được chúng tôi trình bầy ở (Bảng 3)

Trang 33

Bảng 3: Mức độ xuất hiện của các loài sâu, nhện hại vải

vụ xuân hè 2005 tại Thanh Hà, Hải Dương

Trang 34

ảnh 2: Một số hình ảnh về sâu, nhện hại vải tại Thanh Hà, Tỉnh Hải Dương

Bọ xít hại nhãn vải Sâu đục cành

Câu cấu xanh nhỏ Sâu róm chỉ đỏ sọc vàng lưng

Sâu kèn Sâu cuốn lá

Rệp muội nâu đen Nhện lông nhung

Trang 35

3.4 Thành phần thiên địch của sâu, nhện hại trên cây vải tại

huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương

Cùng với việc điều tra thành phần sâu, nhện hại trên cây vải chúng tôi xác định được một số loài thiên địch của chúng Kết quả được trình bầy ở Bảng 4

Bảng 4: Thành phần thiên địch thu được trên cây vải

vụ xuân hè năm 2005 tại Thanh Hà Hải Dương

TT Tên Việt Nam Tên khoa học Tên Họ - Bộ Vật mồi, ký chủ

I Bộ cánh cứng Coleoptera

1 Bọ rùa 8 chấm Harmonia otomaeulata (Fabr) Coccinelldae Rệp muội

2 Bọ rùa đỏ Micraspis discolor Fabr Coccinelldae Rệp muội

3 Bọ rùa 2 mảng đỏ Lemnia biplagiata Swarts Coccinelldae Rệp muội

II Bộ bọ ngựa Mantodea

4 Bọ ngựa nâu xám Mantis sp Mantidae SN bộ cánh vẩy

5 Bọ ngựa xanh Empusa sp Mantidae SN bộ cánh vẩy

III Bộ nhện lớn bắt mồi Araneida

6 Nhện linh miêu Oxyopes javanus Thorell Oxyopidae SN bộ cánh vẩy

7 Nhện càng cua Thomisus sp Thomisidae SN bộ cánh vẩy

IV Bộ cánh màng Hymenoptera

8 Ong xanh Anastatus sp Eupelmidae Trứng bọ xít nhãn vải

9 Ong đùi to Brachymeria sp Walker Chaladidae Nhộng bộ cánh vẩy

Qua bảng 4 ta thấy số lượng thiên địch ở đây không lớn nhưng nó có vai trò quan trọng trong việc khống chế dịch hại và là một phần then chốt trong phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM) [10]

Trang 36

Chúng tôi điều tra được 9 loài, trong đó nhện lớn bắt mồi và bọ ngựa

xanh là xuất hiện nhiều nhất

Thành phần sâu, nhện hại vải ở huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương rất đa dạng và phong phú Chúng tôi đã thu thập được 19 loài gây hại trên vải trong

đó có 3 loài gây hại nghiêm trong (+++), có 3 loài gây hại mức trung bình (++), còn lại 13 loài gây hại không đáng kể (+)

Chúng tôi đã thu được 9 loài thiên địch nhưng nhiều nhất vẫn là bộ bọ ngựa và nhện lớn bắt mồi, chúng có vai trò cân bằng hệ sinh thái trong vườn vải

Do vị trí địa lý và điều kiện khí hậu của Tỉnh, thành phần sâu, nhện hại

và thiên địch trong vườn vải có tính gần giống nhau Sâu, nhện hại vải xuất hiện quanh năm, tần suất hiện nhiều nhất từ tháng 2 - 6 trùng vào thời kỳ ra lộc, ra hoa, ra quả của cây

3.5 Triệu chứng và mức độ gây hại, đặc điểm hình thái, đặc

điểm phát sinh phát triển của nhện lông nhung hại vải 3.5.1 Triệu chứng và mức độ gây hại

Triệu chứng thường thấy là ở dưới mặt lá có lớp lông nhung mầu vàng

đến nâu thẫm, lá bị quăn queo, lồi lõm thô cứng và dày lên, lá chuyển sang mầu xanh thẫm, mất độ bóng thường có của lá Những là bị hại thường nhỏ hơn những là bình thường

Tuỳ theo từng giống vải mà triệu chứng khi bị nhiễm nhện lông nhung thể hiện có khác nhau

Đối với vải chua (Vải lai) thì triệu chứng khi bị nhện lông nhung tấn

công là thành những vết lồi lõm trên khắp mặt lá không thành mảng, phồng lên trên mặt lá, bên dưới lá là lớp lông nhung, dưới lớp lông nhung là quần thể nhện sinh sống Khi lá bị nhện tấn công thì mầu lá trở lên xanh đậm hơn lá bình thường, bị nặng thì lá co quắp, nhăn nhúm cành bị hại trở nên cằn cỗi, không có khả năng phát triển, không ra hoa, thậm trí còn chết cành cục bộ (ảnh 3)

Trang 37

VÕt h¹i V¶i chua (v¶i lai) VÕt h¹i cña V¶i thiÒu

¶nh 3: TriÖu chøng ®iÓn h×nh cña nhÖn l«ng nhung trªn l¸ v¶i

VÕt h¹i trªn hoa VÕt h¹i trªn qu¶ non

¶nh 4: TriÖu chøng nhÖn l«ng nhung h¹i hoa, qu¶ v¶i non

Trang 38

Vải thiều có bản lá dầy hơn nên khi bị nhện lông nhung tấn công thì lông nhung phủ đều trên mặt lá tạo thành từng mảng Lá bị nhiễm nhện thì bản là dầy, nhỏ, hơn lá bình thường, bị nặng lá co quắp, nhăn nheo lại và có thể bị rụng Cành mà có lá bị nhện lông nhung tấn công không ra hoa hoặc ra hoa nhưng rụng ngay, thậm trí có cành chết (ảnh 3)

Ngoài nhện hại trên lá ra, nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer còn

hại trên cả hoa và quả, làm cho hoa rụng sớm ảnh hưởng đến năng suất chất lượng vải khi quả lớn vẫn có khả năng bị hại làm giảm chất lượng và mẫu mã quả (ảnh 4)

Nhện gây hại mạnh nhất khi có các đợt lộc, đặc biệt là đợt lộc xuân Triệu chứng hại chủ yếu trên các lá non nằm ở phía ngọn cây cành dài khoảng: 15 - 20 cm

3.5.2 Đặc điểm hình thái nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer

- Nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer thuộc họ Eriophyidae

- Nhện rất nhỏ, cơ thể hình củ cà rốt có mầu trắng ngà, trưởng thành có mầu đỏ tươi, thon dần về phía đuôi, phía trước cơ thể có hai đôi chân, vuốt chân lông 5 hàng, trên mặt lưng có 70 - 72 ngấn ngang

ảnh 5: Trưởng thành nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer

Ngày đăng: 06/12/2013, 19:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình phát triển cây vải trong cơ cấu cây ăn quả - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Bảng 1 Tình hình phát triển cây vải trong cơ cấu cây ăn quả (Trang 24)
Bảng 3: Mức độ xuất hiện của các loài sâu, nhện hại vải  vụ xuân hè 2005 tại Thanh Hà, Hải D−ơng - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Bảng 3 Mức độ xuất hiện của các loài sâu, nhện hại vải vụ xuân hè 2005 tại Thanh Hà, Hải D−ơng (Trang 33)
Bảng 4: Thành phần thiên địch thu đ−ợc trên cây vải  vụ xuân hè năm 2005 tại Thanh Hà Hải D−ơng - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Bảng 4 Thành phần thiên địch thu đ−ợc trên cây vải vụ xuân hè năm 2005 tại Thanh Hà Hải D−ơng (Trang 35)
Hình 1: Diễn biến tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Hình 1 Diễn biến tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung (Trang 44)
Bảng 5: Tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của nhện lông nhung hại trên 3  giống vải tại huyện Thanh Hà tỉnh Hải D−ơng - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Bảng 5 Tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của nhện lông nhung hại trên 3 giống vải tại huyện Thanh Hà tỉnh Hải D−ơng (Trang 44)
Hình 2: Diễn biến tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung hại trên 6 giống vải - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Hình 2 Diễn biến tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung hại trên 6 giống vải (Trang 48)
Hình 3: Tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung ở các 3 lá (lá non, lá bánh tẻ,  lá già) của cây Vải thiều - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Hình 3 Tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung ở các 3 lá (lá non, lá bánh tẻ, lá già) của cây Vải thiều (Trang 49)
Bảng 8: Tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của nhện lông nhung  trên cây Vải thiều tại Thanh Hà, Hải D−ơng - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Bảng 8 Tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của nhện lông nhung trên cây Vải thiều tại Thanh Hà, Hải D−ơng (Trang 52)
Hình 5: Tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer trên  các tuổi cây khác nhau - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Hình 5 Tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung Eriophyes litchii Keifer trên các tuổi cây khác nhau (Trang 55)
Bảng 10: Tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của nhện lông nhung trong  2 loại hình v−ờn vải khác nhau - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Bảng 10 Tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của nhện lông nhung trong 2 loại hình v−ờn vải khác nhau (Trang 57)
Hình 6: Diễn biến tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung trong 2 loại hình  v−ờn vải khác nhau - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Hình 6 Diễn biến tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung trong 2 loại hình v−ờn vải khác nhau (Trang 57)
Bảng 11: Tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của nhện lông nhung trên cây vải - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Bảng 11 Tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của nhện lông nhung trên cây vải (Trang 59)
Hình 7: Tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung trong 2 điều kiện canh tác - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Hình 7 Tỷ lệ hại (%) của nhện lông nhung trong 2 điều kiện canh tác (Trang 60)
Hình 8: Diễn biến tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của các giai đoạn phun  trừ nhện lông nhung - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Hình 8 Diễn biến tỷ lệ hại (%) và chỉ số hại (%) của các giai đoạn phun trừ nhện lông nhung (Trang 61)
Bảng 13: Hiệu lực của 5 loại thuốc Bảo Vệ thực vật  trừ nhện lông nhung trong phòng thí nghiệm - Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của nhện lông nhung eriophyes litchii keifer trên vải tại huyện thanh hà tỉnh hải dương vụ xuân hè 2005
Bảng 13 Hiệu lực của 5 loại thuốc Bảo Vệ thực vật trừ nhện lông nhung trong phòng thí nghiệm (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w