Luận văn
Trang 1mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Được thiên nhiên ưu đãi, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật,
động vật vô cùng phong phú và đa dạng Cộng đồng các dân tộc Việt Nam
có bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã có truyền thống lâu đời
về sử dụng các loại cây cỏ sẵn có để làm thuốc và bảo vệ sức khoẻ
Trong khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển, thiên nhiên ngày càng bị khai thác cạn kiệt làm mất cân bằng sinh thái và huỷ hoại môi trường sống Do đó, ngày càng có nhiều loại bệnh mới phát sinh và các bệnh truyền nhiễm phát triển thành đại dịch trong khi y học hiện đại chưa kịp có các phương thức điều trị thì các bài thuốc và các cây thuốc cổ truyền các dân tộc, bản làng và các bộ tộc lại tỏ ra rất hiệu quả
Theo tổ chức y tế thế giới hiện trên thế giới có 20.000 loài trong khoảng 250.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc hay có xuất xứ cung cấp các hoạt chất làm thuốc Theo Nguyễn Tập (Viện Dược liệu) đến năm
2000, Việt Nam đã thống kê và sưu tầm được 3830 loài thuộc 296 họ thực vật được dùng làm thuốc [1]
Như vậy, cây dược liệu là loại cây vô cùng quý giá về giá trị chữa bệnh cũng như giá trị kinh tế, trong số các cây dược liệu có giá trị cao hiện nay như sâm ngọc linh, sâm vũ diệp, tam thất, bạch chỉ, bạch truật, đương quy trong đó có cây ích mẫu Trên thị trường ích mẫu là một trong những dược liệu được tiêu thụ lớn, theo số liệu điều tra của Phạm Thanh Huyền và cộng
sự năm 2003 hàng năm tại thị trường Lãn ông cung cấp khoảng 2,350 tấn, Nghĩa Trai 8,300 tấn [1]
Trang 2Theo công bố của Nguyễn Thượng Dong (Viện Dược liệu) trên thế giới 15tỷ USD/năm các thị trường lớn như Mỹ 4 tỷ; châu Âu 2,4 tỷ, Nhật Bản 2,7tỷ và châu á khoảng 3 tỷ USD/năm.[1]
Theo số liệu của Nguyễn Duy Thuần (Viện Dược liệu) công bố trong Hội nghị dược liệu toàn quốc tổ chức vào tháng 3 năm 2003, nhu cầu sử dụng dược liệu ở nước ta khoảng 50.000 tấn/năm phục vụ cho 145 bệnh viện y học cổ truyền, 242 khoa y học cổ truyền và xuất khẩu [1]
Cây ích mẫu là một cây mọc hoang dại song nó lại là một cây thuốc quý đã được biết đến từ nhiều đời nay nhất là trong trong các bài thuốc
đông y Hiện các bài thuốc có ích mẫu được chế biến dưới nhiều dạng sản phẩm khác nhau nhưng ít người mô tả được hình dạng, màu sắc của cây ích mẫu một cách cụ thể và nhất là các đặc điểm sinh vật học quan trọng liên quan đến công tác chọn giống Mặc dù cây ích mẫu được trồng trong nhân dân nhưng nó vẫn được thu hoạch theo kiểu thu hái hoang dại trong công tác trồng trọt và chế biến vẫn chỉ là theo kinh nghiệm Do đó nguồn tài nguyên thiên nhiên này bị thu hẹp dần nên ít có khả nằng khai thác tự nhiên còn các cây trồng thì năng suất không cao Vì vậy chúng ta cần phải quan tâm đến công tác chọn giống để đưa vào sản xuất hàng hoá loại cây này Từ năm 1966, Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội đã thu thập các giống cây ích mẫu ở các nơi về trồng và nghiên cứu để trở thành một nguồn dược liệu có giá trị cao cung cấp cho các bệnh viện y học
cổ truyền, các khoa y học cổ truyền và các xí nghiệp chế biến đông dược Hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nhu cầu sử dụng thuốc cổ truyền hiện đang được quan tâm chú ý, do đó mà cây ích mẫu và các cây thuốc quý khác đang được quan tâm phát triển Cây ích
mẫu tên khoa học là: Leonurus heterophullus Sweet thuộc họ hoa môi: Lamiaceae Là loại cây thuốc nam quan trọng đối với sức khoẻ của con
người nhất là đối với phụ nữ Để duy trì và phát triển cây thuốc quý này các
Trang 3nhà khoa học cần quan tâm đến công tác chọn và tạo giống mới cho cây ích mẫu để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất hàng hoá và xuất khẩu, thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước nói chung và thúc đẩy ngành y học nói riêng Cây ích mẫu không chỉ đơn thuần là một cây thuốc có ý nghĩa trong việc chăm sóc sức khoẻ con người Đặc biệt là đối với người phụ nữ khi sinh nở mặt khác cây ích mẫu còn là một loại cây có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cao trong thời kỳ kinh tế mở Như hiện nay nếu chúng ta những nhà khoa học của ngành nông học có thể tuyển và chọn tạo ra được giống ích mẫu có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng thích ứng trồng trên các loại đất và trong tất cả các vụ trong năm thì một hướng mới sẽ mở ra đó
là tạo được một vùng trồng nguyên liệu dược phẩm quý phục vụ cho đất nước và phục vụ cho cả các nước có nhu cầu, tạo được hiệu quả kinh tế cho nông dân
Xuất phát từ những yêu cầu thiết thực chính đáng và tiềm năng kinh tế
của cây ích mẫu nên chúng tôi tiến hành đề tài: "Đánh giá đặc điểm nông
sinh học cây ích mẫu (Leonurus heterophullus Sweet) phục vụ công tác chọn giống ở Việt Nam" Trong đề tài này chúng tôi tập trung đi sâu vào
nghiên cứu các đặc điểm sinh học của cây ích mẫu phục vụ cho công tác chọn giống
2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 43 Mục tiêucủa đề tài
- Nghiên cứu đánh giá các đặc tính sinh học của cây ích mẫu
- Nghiên cứu đánh giá các đặc tính nông học của cây ích mẫu
- Bước đầu tập hợp vật liệu khởi đầu phục vụ công tác chọn giống
- Sơ bộ chọn lọc các giống ích mẫu có chất lượng tốt
Trang 5chương I
Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Công tác chọn giống cây trồng đều dựa trên các nguyên lý di truyền nhân và di truyền tế bào chất, cơ sở khoa học chính của tính di truyền do Mendel khởi xướng năm 1866 và được chứng minh vào năm 1890 Trên cơ
sở lý thuyết về nhiễm sắc thể, về thành phần và cấu trúc của gen, người ta
đã đưa ra hàng loạt các phương pháp tạo giống hiện đại như; lai xa, xử lý
đột biến gen, đột biến nhiễm sắc thể, chọn giống tế bào trần, dung hợp tế bào và tổng hợp chuyển nạp lắp ghép các gen - kỹ nghệ di truyền Trong công tác chọn giống thì 2 mặt cơ bản là sự biến động và chọn lọc Sự biến
động trong tính trạng là cái ta cần phải cải tiến và chọn lọc Nếu trong quần thể tất cả các cây đều giống nhau thì không cần cải tiến đặc tính giống nhau đó và cũng khó mà chọn lọc được đặc tính giống nhau này Trong trường hợp đó, các nhà chọn tạo giống phải tạo ra các biến động hay là tạo
ra những quần thể có những cá thể sai khác để từ đó chọn lọc và phân lập ra những cá thể mong muốn thích ứng tốt với điều kiện sinh thái cụ thể Sự chọn lọc cá thể đều dựa trên cơ sở nhận biết những đặc tính bên ngoài như bông to, hạt chắc và nhiều hay ít, lá dầy hay mỏng, cây cao hay thấp tức
là trên cơ sở quan sát kiểu hình [2]
Kiểu hình của một cá thể do kiểu gen và môi trường quyết định
- Kiểu gen mà cây trồng đó mang (genotype) hay còn gọi là thành phần di truyền (heritable)
- Môi trường mà cá thể đó đang sinh sống (đất đai, phân bón, điều kiện thời tiết, khí hậu ), những thành phần này là tự nhiên luôn có biến
động và ít có quy luật , không di truyền được (nonheritable cômpnents) gọi
Trang 6là thành phần không di truyền Như vậy khi quan sát một cá thể ta phải luôn luôn nhớ rằng trong cá thể đó là một tập hợp của kiểu gen và môi trường được thể hiện trong công thức:( Fanconer D.S., 1983).[3]
P = G + E + GE
Trong đó:
P: là kiểu hình G: là kiểu gen E: là tác động môi trường GE: là tương tác kiều gen và môi trường
Trong các nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy sự sai khác giữa các cá thể trong quần thể giống cần chọn được coi trọng và đặt lên hàng đầu như: NiLov (1936) đã thấy hàm lượng tinh dầu trong quần thể Lavanda dao
động từ 0,5 - 11,3%; Nicolacv (1960) khi nghiên cứu quần thể bạc hà thấy
tỷ lệ menthol trong tinh dầu bạc hà có từ 14% đến 92%; Đuey (1977) thấy hàm lượng dầu trong phôi cây ngô giống Burwhite giao động 4,3% - 19,6%; Sahoo và Dutta (1982) thấy hàm lượng tinh dầu trong sả hoa hồng dao động
từ 0,067% - 0,670%; Gaur và cộng sự (1978) thấy hàm lượng Protein trong
củ khoai tây đạt từ 0,51% - 0,96%
Theo Comstock và Robinson 1952, kiểu hình là những đặc tính quan sát hoặc đo đếm được như chiều cao của cây, mầu sắc hoa, quả Hoặc có thể biều diễn bằng một nhóm các đặc tính như; hình dạng, mầu sắc, mùi vị Mỗi đặc tính do một gen quy định hoặc một nhóm gen quy định Nhưng bản thân gen không tự sản xuất ra một đặc tính mà gen chỉ sản xuất ra các protein, nhưng những protein hoạt động như các enzym Như vậy chức năng
đầu tiên của gen là sản xuất ra các enzym để gây ra những xúc tác đặc biệt
Trang 7cho những phản ứng hoá sinh và kết quả cuối cùng là sự biểu hiện ra các
đặc tính của cây trồng và được thể hiện bằng kiểu hình.[4]
Mục đích của công tác chọn giống là chọn tạo ra được các giống mới
có các đặc tính đặc trưng về kinh tế, chất lượng tốt hơn giống cũ Các đặc tính của cây trồng thường có quan hệ với nhau theo nhiều hướng Do đó khi chọn lọc các nhà chọn giống phải đồng thời chọn lọc ở nhiều tính trạng nhất là các tính trọng có tương tác trực tiếp và mật thiết với các tính trạng mong muốn của nhà chọn giống Thông thường tính trạng này biểu hiện tốt thì tính trạng kia biểu hiện ở mức trung bình hoặc dưới trung bình Trong trường hợp này buộc nhà chọn giống phản cân nhắc để chọn ra những cá thể sao cho thoả mãn được mục tiêu chọn giống không phải trên giá trị cụ thể của từng tính trạng mà phải dựa vào giá trị tổng thể của tất cả các tính trạng cần chọn
1.1.1 Cơ sở lý luận
Cây ích mẫu có tên gọi là nguyệt mẫu thảo, sung uất, phản hồn đơn, ích minh, xú thảo, sung uý, chói đen, Wormwoodlike motherwort, lion’s (Anh), agripaume (Pháp) [5], [6]
Tên khoa học: Leonurus heterophyllus Sweet
Thuộc họ hoa môi: Lamiaceae
ích mẫu thuộc loại thực vật thân thảo sống 1 năm, cây cao từ 1 - 2 m, thân hình vuông có đường lõm dọc, lá mọc ngay từ gốc chia 5 - 7 thuỳ, mỗi thùy có 2 - 3 răng cưa, mặt lá màu xanh sẫm, mặt dưới màu xanh nhạt, 2 mặt
đều có lông nhung ngắn mọc dầy Cuống lá dài 17 cm, có hoa mọc ở nách lá, hoa màu tím hồng hay màu hồng, quả khi còn non màu xanh nhạt, khi chín thành màu nâu sẫm, toàn thân cây lá hoa, hạt đều dùng làm thuốc [5], [6]
Trang 8Theo sách cổ, ích mẫu có tính chất vị cay, đắng, tính hơi hàn, có khả năng trục ức huyết và sinh huyết mới hoạt huyết điều kinh.[5]
Về phân bố sinh thái: cây ích mẫu là cây mọc hoang dại nên phân bố rất rộng và ở Việt Nam có rất nhiều, ích mẫu được phân ra các loài: Loài ích mẫu mùa đông, loài ích mẫu mùa xuân, loài ích mẫu mùa hạ
1.1.2 Phân bố sinh thái cây ích mẫu
Theo các tài liệu chi Leonurus L trên thế giới có 8 loài, phân bố ở
châu Âu, một phần ở châu á và châu Mỹ Theo nghiên cứu của Viện Dược
liệu thì loài ích mẫu ở nước ta chủ yếu là Leonurus hetrophylluss
sweet.[5],[7], [8]
1.1.3 Cơ sở thực tiễn nghiên cứu các đặc điểm sinh học
1.1.3.1 Cơ sở khoa học của công tác chọn giống
Như chúng ta đã biết chọn tạo giống cây trồng là chọn lọc từ các biến
dị tự nhiên cũng như nhân tạo có trong quần thể để tạo ra giống mới Công việc quan trọng của chọn giống là khả năng quan sát, óc phán đoán nhằm phát hiện ra những biến dị có lợi đem lại nguồn giá trị kinh tế cao và phù hợp với điều kiện canh tác của vùng sản xuất nhưng phải đảm bảo được tính biến dị và tính ổn định của một giống cây trồng.[9], [10]
Mục tiêu và chiến lược của công tác chọn giống là chọn tạo được giống có năng suất cao, có chất lượng tốt về dinh dưỡng, chất lượng thương phẩm và chất lượng dược phẩm, khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất thuận của tự nhiên Đặc biệt là các nhà chọn giống chọn tạo được các giống có đặc tính sinh học đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và người tiêu dùng: chiều cao cây, độ to nhỏ, thời gian sinh trưởng, khả năng thu hoạch chế biến và bảo quản Muốn vậy các nhà nông học phải nắm vững
được các đặc điểm hình thái, đặc tính sinh lý, đặc tính di truyền cũng như
Trang 9các tính trạng về chống chịu sâu bệnh, tính thích ứng của cây với môi trường xung quanh hay nói cách khác khoa học là phải nắm được quy luật
di truyền và các gen quy định tính trạng mong muốn .[9], [10]
Theo các nhà di truyền học thì nhiềm vụ quan trọng của chọn giống là biết được tính biến dị di truyền và tính di truyền của loài cũng như của cá thể Ngày nay các nhà di truyền học đã khám phá và phát hiện về thông tin
di truyền của một số đối tượng trên gen, nhiễm sắc thể và các mối tương quan của gen với môi trường xung quanh, cơ chế phát sinh các tái tổ hợp di truyền, sự ổn định hay đột biến của gen Từ thuyết di truyền, cơ sở di truyền
và bảo tồn nòi giống để tìm ra phương thức lai tạo tối ưu nhất, phù hợp với
đối tượng cụ thể nhằm tạo ra giống có hiệu quả cao theo mong muốn của con người Muốn chọn tạo được giống tốt theo mong muốn người ta phải biết được gen quy định tính trạng hoặc các gen có ảnh hưởng đến tính trạng, theo các nhà di truyền học thì ý nghĩa của di truyền đối với chọn giống và sự phát triển của nền nông nghiệp hiện đại là gen “Điểm trọng yếu trong phương pháp luận của nó là tính cơ bản và tổng hợp, tính chính xác và cụ thể, đồng thời cũng trừu tượng và phức tạp” [10]
Để nghiên cứu chọn giống chúng ta phải nắm vững được tính di truyền, những biến dị di truyền của các kiểu gen và đặc biệt là hình thức sinh sản của cây vì hình thức sinh sản của cây nói lên tính chất di truyền của kiểu gen đặc trưng cho mỗi quần thể Đối với các thực vật nói chung và
đối với cây nông nghiệp nói riêng đều có các hình thức sinh sản sau:[10] + Kiểu sinh sản sinh dưỡng tự nhiên gồm có sinh sản sinh dưỡng thân
rễ, sinh sản bằng bồ, sinh sản bằng giò, sinh sản bằng củ, sinh sản thai sinh, sinh sản bằng chồi phụ và sinh sản khúc thân
+ Kiểu sinh sản sinh dưỡng nhân tạo gồm có sinh sản bằng hình thức giâm cành, chiết, ghép hoặc sinh sản bằng nuôi cấy mô tế bào
Trang 10+ Kiểu sinh sản vô tính: sinh sản từ một tế bào đơn độc gọi là bào tử + Kiểu sinh sản hữu tính gồm có sinh sản hữu tính đẳng giao, sinh sản hữu tính, sinh sản hữu tính noãn giao
Đối với cây ích mẫu thuộc loại cây sinh sản hữu tính, trên hoa có phân chia vòi nhị và bầu nhuỵ rõ ràng Do đó phải nghiên cứu rất kỹ về các đặc tính cấu tạo hoa nhằm phục vụ cho công tác chọn giống Cây ích mẫu thuộc loại cây hạt kín nên có các hạt nằm trong bầu nhuỵ, được cấu tạo gồm cánh hoa, lá đài, nhị đực và nhuỵ, các cánh hoa lộ toàn bộ và đính trên tràng hoa Cơ quan đực là nhị gồm có bao phấn và chỉ nhị, nhuỵ là bộ phận cái gồm có vòi nhuỵ, bầu nhuỵ và lá noãn
Do là cây sinh sản hữu tính nên quá trình thụ phấn thụ tinh của hoa phụ thuộc rất nhiều vào hình thức thụ phấn như thụ phấn nhờ gió, thụ phấn nhờ sâu bọ, côn trùng
1.1.3.2 Những thành tựu về chọn giống trong nông nghiệp đ∙ đạt được hiện nay
Đối với lúa, các nhà khoa học đã phân biệt được trong chi Oryza có khoảng 22 loài và đã phân chia theo tính trạng của loài theo các đặc điểm di truyền như hình thái lá, chiều cao cây, số lạt, sức đẻ nhánh, lông trên vỏ trấu, thời gian sinh trưởng và quang chu kỳ …Đặc biệt là các nhà khoa học
đã phát hiện được các gen quy định tính trạng ở lúa nhất là các gen có tính chống chịu như các gen được ký hiệu Xa1, Xa2, Xa7 có khả năng chống chịu bệnh bạc lá Từ các cơ sở khoa học khi tiến hành phẫu thuật hoa lúa và cơ sở khoa học của hình thức sinh sản của lúa các nhà khoa học đã đạt được rất nhiều thành công trong nghiên cứu về lúa: tạo ra các giống lúa thuần, tạo ra các giống lúa lai 2 dòng, lúa lai 3 dòng điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao năng suất và hiệu suất sử dụng đất cho phù hợp với điều kiện canh tác từ thô sơ đến hiện đại như hiện nay Đặc biệt từ khi các nhà
Trang 11khoa học phát hiện ra kiểu gen bất dục ở lúa đây có thể coi là cuộc cánh mạng lớn trong công tác chọn giống đối với những cây sinh sản hữu
tính.[11]
Cũng như lúa, ngô là cây lương thực quan trọng trong nông nghiệp, ngô được sử dụng làm thức ăn, bánh và thức ăn gia súc Ngô là loài giao phấn chéo chính nhờ đặc điểm này mà các nhà khoa học nông nghiệp đã rất thành công trong công tác chọn giống Bằng cách cắt cờ ngô và thụ phấn nhân tạo, cùng với việc sử dụng dòng bất dục Các nhà chọn giống đã chọn
được những giống ngô cho thế hệ con lai vượt xa dòng bố mẹ về năng suất cũng như chất lượng Đối với ngô các nhà chọn giống đã rất thành công trong việc ứng dụng ưu thế lai để có các giống ngô đáp ứng được yêu cầu của con người thông qua khả năng lai tạo từ các giống ngô khác nhau
Đối với các loài cây ăn quả như nhãn (giống Songfengben), các nhà khoa học Yang (1996) – Winhuanvaf Liu Guo Qiang (1999) chọn lọc trong quẩn thể cây gieo từ hạt từ năm 1985 có trọng lượng quả 14,5g, hàm lượng chất hoà tan đạt 23,1% đặc biệt là quả chín vào tháng 10 muộn hơn các giống khác 20 – 30 ngày nên hiệu quả kinh tế rất cao
Theo Pearson và Gobec, 1988, nho có hơn 1000 loài với 14 chi thuộc
họ Vitacoae thì đến nay các nhà khoa học đã chọn được 14.000 giống, hiện chúng đang được trồng khắp nơi trên thế giới (Alleweldt et al, 1990)
Ngoài ra các nhà nông nghiệp còn chọn được các giống dưa hấu, dưa chuột, cà chua, ớt với các mầu sắc quả khác nhau, thời vụ khác nhau, trọng lượng quả to nhỏ theo thị hiếu người tiêu dùng
Còn với cây dược liệu: Các nhà dược liệu trong nước đã nghiên cứu chọn được giống Thanh cao TC1 từ các giống thanh cao mọc hoang hoặc
được trồng trong dân tại các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Hải Dương có năng suất dược liệu khô từ 2,6 –
Trang 122,8tấn/ha, hàm lượng artemisinin trong lá trung bình đạt trên 1% (Nguyễn Văn Thuận, Luận án tiến sỹ, 2001)[12] Nhưng hiện nay, công tác chọn giống cây thuốc vẫn còn nhiều hạn chế mà mới chỉ chủ yếu là chọn giống thông thường chứ chưa được nghiên cứu sâu về khoa học cũng như áp dụng
công nghệ sinh học trong chọn giống
1 2 Giá trị sử dụng làm thuốc, giá trị kinh tế
1.2.1 Bộ phận sử dụng của cây ích mẫu và cách chế biến dược liệu
Bộ phận sử dụng gồm những phần trên mặt đất theo y học cổ truyền ích mẫu được chế biến như sau[5][6]:
+ ích mẫu cắt đoạn: Lấy ích mẫu tươi hoặc đã phơi khô, bỏ rễ cắt
đoạn dài 3 - 5cm phơi khô
+ ích mẫu chích rượu: cho ích mẫu vào rượu với tỷ tệ10:3 sau đó trộn
đều, ủ một đêm, dùng lửa nhỏ sao đến khi có mầu hơi đen
+ ích mẫu chích giấm: tẩm giấm vào ích mẫu với tỷ lệ 2:10 sau đó ủ
và sao vàng
+ ích mẫu chế: Dùng ích mẫu 10 kg, giấm 1kg, gừng tươi 2kg, rượu 1kg, muối ăn 200g, nước sôi vừa đủ Trước hết giã gừng vắt nước, dùng nước sôi pha muối rồi trộn với giấm và rượu cho hỗn hợp phụ liệu vào ích mẫu trộn kỹ, ủ chừng 1 giờ sau đó phơi khô
1.2.2 Thành phần hoá học của cây ích mẫu
Dược liệu ích mẫu đã phân lập được 2 alcaloid là leonurin và stachydrin Hàm lượng leonurin cao nhất ở giai đoạn đầu khi cây ra quả và thấp nhất ở giai đoạn ra hoa Hàm lượng stachydrin cao nhất ở giai đoạn nở
Trang 13hoa và thấp nhất ở giai đoạn đầu ra quả Hàm l−ợng alcaloid toàn phần trong ích mẫu 0,1% - 0,2%
Trong ích mẫu còn có các acid béo nh−: acid linolenic, lauric, fumaric, 4 - guanidino butyric Một hợp chất mới thuộc loại labdan đã đ−ợc phân lập từ ích mẫu là prehispanolon có công thức 9α, 13R, 15,16 diepoxy labdan 14 en-7 on
Trong quả ích mẫu các nhà hoá học đã phân lập một số peptid vòng
NH
Leonuri
Stachydria
1.2.3 Giá trị sử dụng làm thuốc
Hiện nay ích mẫu đ−ợc dùng toàn cây (thân, lá, cành, hạt) để chữa các bệnh cho phụ nữ, nh− đẻ xong bị rong huyết, chữa niêm mạc dạ con, kinh nguyệt quá nhiều, ngoài ra ích mẫu còn có tác dụng chữa bệnh cao huyết áp, các bệnh về tuần hoàn cơ tim, thai không ra, sản tiền, sản hậu và ích mẫu còn là thuốc bổ huyết Hạt ích mẫu đ−ợc gọi là sung uất tử dùng làm thuốc hoạt huyết thuận khí, trừ phong, minh mục, thông gân mạch, ích tinh, trị các chứng huyết nhiệt đầu thống, tâm phiền, mắt mờ [8]
Trang 14Sau đây là một số bài thuốc có chứa ích mẫu
Bài ích mẫu hoàn:
có tác dụng trị kinh thuỷ không đều, đau bụng, lâu không có mang
ích mẫu đ−ợc đem sắc với rễ cỏ tranh, phục linh, xa tiền tử, bạch truật, tang bì để chữa trị tiểu tiện khó, phù thũng, viêm thận cẫp mãn tính, cao huyết áp Bài thuốc nh− sau:
Trang 15Về mặt kinh tế, trồng ích mẫu so với cây lúa, cây ngô, các cây hoa màu vụ đông có thu nhập cao hơn Năng suất thân lá khô đạt từ 4 - 5 tấn/ha Giá tuỳ theo mỗi năm có lên xuống, chẳng hạn năm 1996 có nơi giá
1 kg là 3000đ/kg nh−ng có nơi lên tới 5000đ/kg.[14]
Trang 16Về thời gian chiếm đất ngắn, tính ổn định về năng suất và cây trồng tương đối an toàn
1.3 Cơ sở thực tiễn, những kết quả nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
- Loài ích mẫu mùa xuân
- Loài ích mẫu mùa hạ
- Loài ích mẫu mùa đông
• Loài ích mẫu mùa xuân: Thời gian sinh trưởng 240 ngày nếu gieo vào vụ thu, 100 ngày nếu gieo vào vụ xuân và thời gian từ lúc gieo hạt đến lúc nở hoa là 60 ngày
• Loài ích mẫu mùa hạ: Loài này đều có thể gieo vào mùa xuân và mùa thu Nếu gieo vào mùa thu thời gian sinh trưởng là 320 ngày trong đó thời gian phát triển là 290 ngày (từ khi gieo đến ra hoa) Hình thái cây to, cao, nhiều nhánh năng suất cao
• Loài ích mẫu mùa đông: Thời gian từ gieo đến thu hoạch là 230 ngày, thời gian phát triển là 180 ngày (từ gieo hạt đến ra hoa) Cây thấp, ít cành, năng suất thấp
Trang 17ở Trung Quốc còn có loài ích mẫu hoa to ( Leonurus siboricus L.), loài này thường mọc hoang ở miền Đông Bắc thuộc các tỉnh: Hà Bắc; Sơn Tây; Thiểm Tây; Cam Túc và Nội Mông.[15]
Quy trình trồng và chăm sóc cây ích mẫu của người Trung Quốc:
ở Trung Quốc chia thành giống chín sớm và giống ích mẫu mùa
đông, cả 2 đều trồng từ hạt ở Trung Quốc người ta gieo thẳng là chủ yếu chiếm 60% còn lại là gieo trong vười ươm sau đó đem ra trồng
Chuẩn bị giống: Chọn các hạt đạt tiêu chuẩn thường tỷ lệ nẩy mầm của ích mẫu đạt 80%, chuẩn bị 400 – 450g/mẫu nếu gieo theo kiểu bỏ lỗ , còn nếu gieo theo hàng cần 500 – 600g/mẫu
Chuẩn bị đất: Trước khi gieo phải chuẩn bị đất, cầy, băm nhỏ đất và lên luống chiều rộng 130cm, căn cứ vào mật độ gieo để làm rãnh to hay nhỏ, phân ure chuẩn bị 150 – 200kg/mẫu và phân chuồng để bón lót cho cây
Đối với giống chín sớm có thể gieo vào mùa thu, mùa xuân và mùa hạ, nhưng gieo vào mùa xuân là thích hợp nhất (từ hạ tuần tháng 2 đến thượng tuần tháng 3) Đối với khu vực có nhiệt độ thấp thường gieo vào cuối hạ cho đến mùa thu (từ hạ tuần tháng 9 đến thượng tuần tháng 10) Nếu gieo hạt sớm rễ bị các loại sâu phá hại, nếu gieo muộn vào cuối mùa thu khi đó nhiệt độ thấp, đất khô không thích hợp cho cây phát triển làm cho hạt có thể từ giữa mùa xuân đến thanh minh năm sau mới nẩy mầm Những cây này cho năng xuất không cao, nhiều cây có thể không ra hoa kết hạt được
Cách gieo hạt của người Trung Quốc là bỏ hạt vào hốc, gieo theo luống hoặc gieo vại Đối với những nơi đất canh tác bằng phẳng thì tiến hành gieo theo luống, những nơi đất dốc thì tiến hành gieo theo kiểu bỏ lỗ
Trang 18còn gieo vãi thường ít được sử dụng Trước khi gieo hạt được trộn vào tro bếp hoặc đất mịn 250 – 300kg/mẫu và có thể trộn thêm phân chuồng với lượng 35 – 45kg/mẫu Gieo theo rãnh với mật độ 25 x 10cm, độ sâu của rãnh 4 – 7cm, trước khi gieo cần 2500 – 3000kg phân chuống bón lót vào các rãnh, khi gieo hạt không cần ấp đất Gieo theo hốc khoảng cách 25 x 25cm, hố rộng 10cm sâu 3 – 7cm cho hạt vào và cùng không cần lấp
Đến khi cây cao khoảng 5cm bắt đầu tỉa cây, tiến hành tỉa 2 – 3 lần sao cho đạt mật độ 25 x 10cm, khi cây cao 15 – 20cm thì thôi không tỉa nữa
đối với gieo luống, còn gieo theo hốc thì tỉa để 2- 3 cây/hốc
Làm cỏ: Nếu cây gieo vào mùa xuân thì tiến hành làm cỏ 3 lần vào lúc cây cao 5cm, 15cm và khi cây cao 30cm, cây gieo mùa hạ thì dựa vào tình hình phát triển của cây để tiến hành làm cỏ Đối với cây gieo vào mùa thu tiến hành làm cỏ khi cây 3 – 4lá sau đó tiếp tục làm cỏ 3- 4 lần nữa Khi làm cỏ kết hợp với vun gốc và làm đất tránh việc cọ sát làm tổn thương cây hoặc đất đè làm chết cây Sau mỗi lần làm cỏ lại bón phân 1 lần, phân bón tốt nhất là đạm và phân chuồng, khi bón phân kết hợp với tưới nước
Đối với ích mẫu thì bệnh hại thường gặp là bệnh phấn trắng, bệnh
đốm lá và nấm Bệnh phấn trắng thường phát sinh vào thời gian vũ cốc ( các ngày 19, 20, 21 tháng 4) cho đến lập hạ, thời gian cuối Xuân đầu Hạ cũng rất rễ xuất hiện loại bệnh này Khi bị hại trên mặt lá chuyển mầu vàng và có một lớp phấn trắng, nếu bệnh nặng có thể làm cho lá khô quắt lại Khi phát hiện bệnh phải tiến hành phòng trừ sớm, dùng thuốc Jia jituobujin 50% hoặc Qingfemeisu 80EC phun liên tục 2 – 4 lần Bệnh đốm lá thường phát sinh từ tháng 4 –5, sau khi bị bệnh mặt lá sau xuất hiện đốm nâu, trên mặt lá có đốm mầu vàng và toàn bộ lá quăn lại khô héo cho đến rụng Dùng thuốc Dixiuna 300 – 400 hoặc dùng Domeishilic 0,2 – 0,3EC phun liên tục
2 – 3 lần mỗi lần cách nhau 7 –10 ngày
Trang 19Nấm gây hại rất nguy hiểm cho ích mẫu, đối với các giống ích mẫu gieo vào mùa xuân thường bị nấm phát triển vào thời tiết từ cốc vũ đến lập hạ, nếu giống gieo vào mùa thu thì nấm phát triển vào Sương giáng đến lập
đông, nguyên nhân là do độ ẩm quá cao gây ra Khi nhiễm bệnh trên cây xuất hiện các chấm trắng sau đó phát thành lớp rồi đẫn đến thối cây Phương pháp phòng trừ khi phát hiện bệnh dùng bột Sheng shihui rắc hoặc Dailinci 65% rắc, đồng thời phun thuốc
Đối với sâu hại: Trên cây ích mẫu ở Trung Quốc có rất nhiều loài sâu hại và côn trùng hại cây rất nghiêm trọng như nhện đỏ, bọ dừa Để phòng trừ sâu hại dùng dung dịch Yancaoshihui hoặc Leguooruyou 40% phun
1.3.2 ở Việt Nam
Theo báo cáo của phòng Sưu tầm nay là Khoa Tài nguyên cây thuốc (Viện Dược liệu) ích mẫu được phát hiện tại nhiều nơi và được dùng làm thuốc từ rất lâu đời ở Việt Nam có 3 loài ích mẫu là: ích mẫu, ích mẫu
sibêri và Xư nhĩ ( Leonurus sibiricus L, Leonurus heterophyllus Sweet)[6] Nhưng loài Leonurus heterophyllus Sweet phân bố phổ biến hơn và đang
được trồng để làm thuốc ở nước ta hiện nay, tên khoa học của loài này đã
được đổi thành Leonurus artemisia (Lour.) S.Y.Hu [15]
Theo tài liệu của Đỗ Tất Lợi “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” [5], Viện Dược liệu “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” [7], ích mẫu mọc tự nhiên chủ yếu trên những vùng đất ẩm, ướt ven sông, trên các ruộng bỏ hoang Vùng phân bố của ích mẫu rộng, cây ích mẫu có mặt trên hầu hết các tỉnh đồng bằng và trung du bắc bộ, từ vùng núi thấp cho đến vùng đất
có độ cao 1500m, ở độ cao trên 1500m hầu như không gặp cây ích mẫu mọc tự nhiên ích mẫu thích hợp với những vùng đất phù sa giầu mùn, có tầng canh tác dầy, giữ ẩm tốt, nhiệt độ 15 - 25oc và pH 6,5 -7
Trang 20Năm 1968, Nguyễn Phi Phụng (Viện Dược liệu) đã nghiên cứu về thời vụ gieo trồng, thời gian sinh trưởng và phát dụng của 4 giống ích mẫu tại Hà Tây Năm 1967, Trại Trồng cây thuốc Văn Điển nay là Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội (Viện Dược liệu) đã nghiên cứu quy trình sơ bộ trồng cây ích mẫu Ngoài ra trong thời gian đó còn có các địa phương tiến hành nghiên cứu kỹ thuật trồng cây ích mẫu tại Hải Hưng và các vùng lân cận nhưng chỉ mạng tính chất tự phát chứ chưa có những công trình nghiên cứu sâu và cụ thể
Năm 1993, cây ích mẫu đã được tiến hành trồng tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang năng suất đạt 1,5 - 2 tấn/ha
Năm 1998 Viện Dược liệu đã tiến hành trồng cây ích mẫu tại huyện Quản Bạ và Đồng Văn của tỉnh Hà Giang và phát hiện ra rằng ở độ cao dưới 1000m cây sinh trưởng tốt hơn cây được trồng ở độ cao trên 1000m
Năm 1995: Trần Toàn (Viện Dược liệu) đã nghiên cứu thêm một số
kỹ thuật trồng ích mẫu tại Hà Nội và chỉ ra rằng thời vụ tốt nhất để trồng cây ích mẫu là vụ Đông Xuân (tháng 10 -11), khoảng cách 20 x 20cm, đạm dạng N 540kg/ha, thu hoạch dược liệu từ khi cây bắt đầu nở hoa đến khi hoa nở rộ, năng suất hạt giống đạt 250 -270kg/ha Tuy nhiên cây ích mẫu
có thể trồng ở vụ Xuân Hè (tháng 1 - 2) nhưng năng suất thấp hơn còn các
vụ khác thì hầu như không có năng suất hoặc năng suất rất thấp
Hoạt chất chính của ích mẫu là alcaloid, tanin 7 - 8%, flavonoid các hoạt chất này có trong cây phụ thuộc rất nhiều vào giống, thời vụ, phân bón
và kỹ thuật canh tác
Quy trình trồng và chăm sóc cây ích mẫu của người Việt Nam:
* Chuẩn bị đất: Chọn đất cao ráo, thoát nước, đủ ẩm, tơi xốp, mầu mỡ
- Đất để làm vườn ươm: Gieo hạt để có cây con trồng làm dược liệu
Trang 21- Đất để sản xuất dược liệu
- Đất để trồng cây giống, sau này thu hạt làm giống cho vụ sau
* Chuẩn bị hạt giống: Giống cần phải được chuẩn bị tốt, trước khi vào vụ gieo trồng cần thử lại tỷ lệ mọc mầm để xác định lượng gieo, thông thường loại giống có tỷ lệ mọc mầm trên 80% thì 1ha gieo trồng 2 - 3kg, nếu gieo thẳng hạt thì tốn hơn năm đến sáu kg
- Kali sunfat : 54 kg/ha
Ngoài ra có thể dùng các loại phân tổng hợp hay phân vi sinh
Các vật tư kỹ thuật khác: Các thuốc phòng trừ sâu bệnh và các dụng
cụ, phương tiện phơi sấy khi thu hoạch dược liệu
Trang 22Giống và kỹ thuật sản xuất hạt giống ích mẫu
Làm đất lên luống: Đất đã được chọn cần cày bừa kỹ, vơ sạch cỏ, lên luống cao 15 cm, rộng từ 0,8 - 1 m nếu ruộng thấp thoát nước kém cần lên luống cao hơn
- Bón phân: Vườn ươm phân bón không cần nhiều, chủ yếu là phân chuồng hoai mục, trộn thêm nhiều trấu để đất tơi xốp, giữ được ẩm cho đất, tạo cho cây con mau lớn, khi nhổ cây con dễ dàng
- Gieo hạt và chăm sóc: Hạt giống gieo ở vườn ươm để trồng cho 1ha cần 2 - 3kg hạt có tỷ lệ nảy mầm 70 - 80% Trước khi gieo ngâm hai sôi ba lạnh chừng bốn đến sáu cho hạt no nước, vớt hạt để ráo nước rồi trộn với đất bột hoặc tro thảo mộc để gieo cho đều Cách gieo thông thường là gieo vãi, cũng có thể gieo theo rạch, gieo xong trên mặt cần phủ rơm rạ để khi tưới hoặc mưa hạt không bị dí
ở vườn ươm cần luôn sạch cỏ, nếu có điều kiện tưới thêm ít đạm pha loãng
Giai đoạn trồng và chăm sóc cây giống:
- Làm đất lên luống: Ruộng trồng cây để giống cũng như ruộng trồng lấy duợc liệu đều cần chọn đất, cầy bừa kỹ, vơ sạch cỏ lên thành luống cao 15 - 20 cm, riêng ruộng làm giống cần lên cao hơn vì tháng năm
đến tháng sáu hay có mưa sớm
- Phân bón: Cần chú ý lân, kali hoặc bón thêm tro bếp, tăng thêm một lần bón đạm vào tháng tư khoảng hai đến 3kg đạm urê cho 360 m2
- Trồng và chăm sóc: Ruộng giống ít khi gieo thẳng mà bằng cây con khi có bốn đến năm đôi lá thật, cao 18 - 20 cm Khoảng cách trồng 20 x 30
cm hay 30 x 30 cm Một vụ giống có thể làm cỏ ba đến bốn lần, các lần làm
Trang 23cỏ đều kết hợp với xới xáo, vun gốc, bón thúc, đặc biệt cây để giống thời gian kéo dài hơn, cây thưa có nhiều cành, có hoa, có cây dễ bị đổ nên cần vun gốc để khi có gió không bị đổ Khi trời mưa cần thoát nước kịp thời Lúc cây cao 0,8 - 1 m có thể bấm ngọn để cây ra nhiều cành
Phòng trừ sâu bệnh:ích mẫu khi ra hoa, kết hạt hay gặp bọ rùa bám
vào các trục hoa để trích hút, làm cho hạt bị lép, không có nhân Các loài rệp nhất là rệp đen hại thân, búp ngọn, hoa, hạt Cách phòng trừ có thể dùng
Bi 58, Dipterex, Ofalox 400 EC hoặc Filitox nồng độ theo hướng dẫn trên bao bì
Thu hoạch và bảo quản hạt giống: Thu hạt ích mẫu vào thời điểm hạt chín từ 50 - 60%, khi đó bông độ 2/3 hoặc 1/2 Thu về để một đến hai ngày sau khi đem phơi rũ lấy hạt, sàng sẩy sạch rồi phơi lại, đóng thành từng túi nhỏ để nơi cao ráo, thoáng mát hoặc để vào chum vại, lọ sành, thùng kẽm Năng suất trung bình đạt từ 270 - 324 kg/ha, nếu làm tốt có thể
đạt tới 400 kg/ha
Tiêu chuẩn giống cho sản xuất: Giống phải sạch, không lẫn tạp,
thuần chủng, tỷ lệ nẩy mầm cao đạt từ 70% trở lên Không nhiễm sâu, bệnh, năng suất và chất lượng dược liệu ổn định
Kỹ thuật gieo trồng làm dược liệu
* Thời vụ gieo trồng:
- Vụ đông xuân gieo từ 15/10 - 15/11, riêng các vùng bãi, ven sông hay có nước sớm nên gieo vào 15/9, thời vụ này cho kết quả cao nhất vì hạt gieo xuống đất còn đủ ẩm, lúc này độ ẩm đất thường là 80%, nhiệt độ trung bình trong tháng là 21,60C đến 23,10C
Trang 24- Vụ xuân hè gieo từ 15/1 - 15/2, ưu điểm lúc này có mưa xuân, nhiệt độ lúc này thấp hơn tháng mười, tháng mười một vì thế chọn ngày nắng ấm để gieo
- Vụ hè thu gieo 15/4, vụ này năng suất dược liệu thấp ít người trồng ( trừ các vùng có khí hậu mát mẻ quanh năm )
* Làm đất, lên luống, phân bón:
- Làm đất: Sau khi chọn được đất cầy sâu để ải, bừa nhỏ, vơ sạch cỏ, lên luống cao 15 - 20 cm, rộng từ 0,9 - 1,2 m đối với đất ruộng để tiện tưới tiêu Đất đồi gò, ven núi có độ dốc, khô hạn, đất ven sông, ven bãi có thể trồng như vườn ươm lấy cây con để trồng ở ruộng giống
- Phân bón: ích mẫu là cây lấy lá làm dược liệu cần bón phân theo mức đã định
- Cách bón: Phân chuồng cùng với lân, kali dùng để bón lót, nếu gieo vãi bón trên toàn bề mặt, gieo hàng hay trồng cây con nên bón theo rạch Phân đạm chủ yếu để bón thúc vào các thời kỳ sau:
+ Khi cây trồng được 30 ngày bón 81 kg/ha
+ Sau trồng 50 ngày bón tiếp 108 kg/ha
+ Lần ba sau khi trồng 70 ngày bón 135 kg/ha
+ Lần cuối bón nốt số còn lại 81 kg/ha sau 90 ngày
Khi bón có thể hoà tan trong nước rồi tưới, sau doa lại nước lã hoặc rắc xung quanh gốc rồi tưới nước Đối với vườn ươm cũng cần bón lót phân chuồng để khi nhổ cây được dễ dàng Phân đạm cần hoà nước để tưới 2 kg/360 m2( Cách bón phân đạm chia theo thời gian nói trên là đối với cách trồng cây con )
Trang 25Trồng và chăm sóc: ( Hiện nay có hai cách trồng)
- Gieo thẳng: Trước đây và hiện nay vẫn còn nhiều người gieo thẳng
để không phải gieo cây con trồng lại, cây lớn nhanh không bị chột khi trồng, nhưng tốn vật liệu phủ, khi nắng hạn, thiếu nước tưới, gặp giá buốt, khó chống đỡ vì diện tích quá lớn Nơi nào nhiều cỏ gấu, cỏ gà tốn công làm cỏ, mặt khác có ảnh hưởng đến quay vòng đất đai vì từ khi gieo đến
đánh cây để trồng mất khoảng 50 - 60 ngày Nếu gieo ở vườn ươm cây giống cần chú ý trộn hạt với đất hay cát, trộn đi trộn lại cho đều, đất có kiến cần phải xử lý tiêu diệt, gieo xong phủ rơm hay trấu để khi tưới không bị dí
- Trồng lại bằng cây con: Khi cây con được 4 - 5 đôi lá thật, cây cao 12-18 cm có thể đánh ra trồng Chọn ngày râm mát, trồng vào buổi chiều xong tưới nước ngay cây sẽ sống 100% Mật độ trồng từ 16 - 25 cây/m2, khoảng cách 20 x 20 cm hay 20 x 30 cm, với ruộng gieo thẳng thường để mật độ dầy hơn song không quá 30cây/m2
- Chăm sóc:
+ Tưới nước: ích mẫu là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng, vụ gieo trồng đông xuân thời tiết thường khô hạn Dù gieo thẳng hay trồng cây con
đều phải tưới để đảm bảo độ ẩm cho cây phát triển
+ Dặm tỉa cây con: Nếu gieo thẳng cần tỉa nhiều lần để định mật độ, khoảng cách cây thích hợp Trồng bằng cây con phải đảm mật độ, cây nào chết cần dặm ngay, cây nào còi cọc thoái hoá, biến dạng cũng cần nhổ bỏ,
đảm bảo mật độ từ khi trồng đến lúc thu hoạch
+ Làm cỏ, bón thúc: Gieo thẳng hay trồng bằng cây con đều phải
định kỳ làm cỏ, xới xáo nhất là thời kỳ cây còn nhỏ, cây mới cấy dễ bị cỏ dại lấn át Số lần làm cỏ tuỳ theo mức độ cỏ ở từng vùng, cơ bản không để
cỏ lấn át cây Các kỳ làm cỏ nên kết hợp với bón thúc đạm, khi cây đã giao
Trang 26tán phủ kín luống cần hót rãnh, vun gốc cho cây chắc, khi mưa không bị úng, đọng nước, gió to cây không bị lay đổ
- Phòng trừ sâu bệnh:
ích mẫu hay bị rệp hại lá búp ngọn nhất là thời kỳ nắng hạn, có thể dùng Bi 58 nồng độ 0,2% hoặc Dipterex với nồng độ từ 18 - 27 ml thuốc cho một bình 10 lít
Bệnh: Thường thấy bệnh lở cổ rễ lúc mới trồng, bệnh héo thân, héo cành lúc cây trưởng thành mức độ không lớn Cách phòng chống chủ yếu là
vệ sinh đồng ruộng như sạch cỏ, xới xáo, chống ẩm, bón thêm tro thảo mộc
Thu hoạch, sơ chế và bảo quản dược liệu: Khi ích mẫu có hoa nở ở thân và cành cấp 1 là thu hoạch vừa đảm bảo năng suất cũng như chất lượng Thu ích mẫu để xuất khẩu thì cây bắt đầu ra nụ, chỉ thu đoạn ngọn dài chừng 20 - 25 cm Thu để làm dược liệu nấu cao, thì khi thân và cành
đang nở rộ hoa
Tiêu chuẩn chất lượng dược liệu: Chất lượng dược liệu còn tuỳ thuộc vào người tiêu dùng yêu cầu, nhưng nói chung chất lượng dược liệu phải
đạt được yêu cầu sau:
- Dược liệu không lẫn tạp các loại cây thuốc khác hoặc cây trồng khác
- Dược liệu không mốc, mọt, độ ẩm của dược liệu ≤ 12%
- Dược liệu thu đúng tuổi không non, không già Chỉ thu hoạch từ phần thân mang lá trở lên
- Lá và thân khi thu không vàng, không thối, không sâu, bệnh Phơi hay sấy phải kịp thời
Trang 27C¸c th«ng tin vÒ vËt liÖu nghiªn cøu
9 TH1 H¹t thu ë Thanh Ho¸ 21/8/03
10 TH2 H¹t thu ë Thanh Ho¸
11 HT H¹t thu thËp ë Hµ T©y
12 HD1 H¹t thu thËp ë H¶i D−¬ng 6/03
13 HD2 H¹t thu ë H¶i D−¬ng 9/03
14 HN H¹t cña TT Hµ Néi
Trang 282 2 Địa điểm nghiên cứu
Tại Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội trực thuộc Viện Dược liệu
Nền đất thí nghiệm: Nền đất trung tính pH khoảng 7,4 – 7,6, hàm lượng mùn 7,01%, đạm tổng số 0,21%; lân tổng số 0,14%; kali tổng số 1,44%, hàm lượng cation Ca2+ trao đổi 20,64mg/100g đất, cation Mg 2+ trao
đổi 1,81mg/100g đất, khả năng hấp phụ CEC là 23,06 Đất trồng ích mẫu thuộc loại đất phù sa ngoài đê không được bồi hàng năm, đất thường được
sử dụng trồng dược liệu như đương quy, bạch chỉ, kim tiền thảo, ngưu tất …
2 3 Nội dung nghiên cứu
+ Thí nghiệm so sánh giống
+ Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học ( hoa, lá cành, thân, rễ ) + Đánh giá tập đoàn các mẫu giống ích mẫu về đặc điểm nông sinh học, khả năng sinh trưởng, phát triển, từ đó tuyển chọn ra những dòng có triển vọng cho sản xuất hàng hoá (về năng suất, chất lượng phổ thích nghi rộng, khả năng chống chịu tốt )
+ Đánh giá thời gian sinh trưởng để tuyển chọn ra dòng có thời gian sinh trưởng phù hợp cho cơ cấu cây trồng của vùng sản xuất mà vẫn đảm bảo được năng suất và chất lượng
+ Bước đầu so sánh hoạt chất chính trong các mẫu giống ích mẫu có triển vọng và định tính hàm lượng hoạt chất hoá học trong cây và trong cao ích mẫu
Trang 29TiÕn hµnh thÝ nghiÖm: Gieo trång 14 mÉu gièng t¹i trung t©m c©y
thuèc Hµ Néi víi tæng diÖn tÝch 400m2
- Thêi gian ra hoa
- Khèi l−îng chÊt t−¬i, kh«
Trang 302.4.3 §¸nh gi¸ n¨ng suÊt vµ phÈm chÊt cña c¸c gièng nghiªn cøu
- TÝnh n¨ng suÊt sinh vËt häc = Khèi l−îng th©n + khèi l−îng l¸
- TÝnh n¨ng suÊt lý thuyÕt = sè c©y/m2 x n¨ng suÊt c¸ thÓ
Träng l−îng c¸ thÓ x sè khãm N¨ng suÊt sinh vËt häc =
Trang 312.4.4 Ph−¬ng ph¸p xö lý sè liÖu
- ThÝ nghiÖm ®−îc sö lý theo ph−¬ng ph¸p thèng kª IRRISTAT
- ThÝ nghiÖm ®−îc sö lý b»ng ch−¬ng tr×nh Microsofl Excel
Trang 32ch−¬ng III
kÕt qu¶ nghiªn cøu vµ th¶o luËn
3.1 KÕt qu¶ nghiªn cøu
3.1.1 §Æc ®iÓm sinh häc c©y Ých mÉu
3.1.1.1 Tªn khoa häc vµ hä thùc vËt
Tªn chÝnh ë ViÖt Nam lµ Ých mÉu
Tªn khoa häc : Leonurus heterophyllus Sweet, 1823 Brrid Fl
Trang 33ảnh 1: Thân cây ích mẫu
3.1.1.3 Hình thái lá
Lá mọc đối, xẻ thuỳ chân vịt, có lông ở cả 2 mặt lá, những lá ở phần dưới xẻ 3 thuỳ, thường có 3 gân tập trung từng gốc, cuống lá dài 2 - 5cm; các lá ở phần ngọn ngắn, ít xẻ hoặc nguyên Tuỳ theo lá mọc ở gốc, giữa thân hay đầu cành mà có hình dạng khác nhau Lá ở gốc có cuống dài, phiến lá hình tim, mép có răng cưa thô và sâu, lá ở thân có cuống ngắn hơn, phiến lá thường xẻ sâu thành 3 thuỳ, trên mỗi thuỳ lại có răng cưa thưa, các lá trên cùng phần lớn không chia thuỳ và hầu như không có cuống
ảnh 2: Lá cây ích mẫu
Trang 343.1.1.4 Cấu tạo hoa
Cụm hoa: Cụm hoa mọc thành từng vòng ở nách lá ở phần đỉnh cành
Lá bắc hình sợi, ngắn hơn đài, nhọn ở đỉnh, thường tập trung ở phía dưới của cụm hoa
Đài hoa: Đài hình chuông , dài khoảng 7mm, rộng khoảng 2mm, có
lông ở ngoài, có 5 gân dọc, 5 tuỳ đài không bằng nhau, tạo thành 2 mặt môi, môi trên 3 tuỳ nhọn ngắn; môi dưới 2 tuỳ nhọn, dài hơn môi trên Tràng mầu hồng, dài 11 - 15mm, có lông ở mặt ngoài, 2 môi, môi trên 1 thuỳ dạng mũ, môi dưới 3 thuỳ, thuỳ giữa hơi khuyết
ảnh 3: Cấu tạo nhị đực và nhuỵ cái của cây ích mẫu
Nhị hoa: Hoa có 4 nhị đực, hướng lên phía môi trên của tràng, không
thò ra khỏi tràng, chỉ nhị nhẵn, bao phấn 2 ô song song
Trang 35Nhuỵ hoa: Bầu nhuỵ nhẵn, vòi nhuỵ sẻ hai nhánh 2 thuỳ ở đỉnh, vòi
nhuỵ ngắn vòi nhị và 2 thuỳ ở đỉnh ôm sát lấy vòi nhị
Cây ra hoa vào tháng 6 - 9, mùa quả từ tháng 9 - 11, cây ưa sáng và
ẩm, thích hợp với môi trường đất thịt và đất phù sa Cây trồng và mọc hoang dọc bờ sông, bãi hoang, ven đường ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước
Theo đặc điểm cấu tạo hoa ích mẫu thì cây này thuộc loại cây tự thụ phấn bởi vì với đặc điểm vòi nhuỵ ngắn hơn vòi nhị và 2 đầu vòi nhuỵ bó sát lấy vòi nhị Nhờ đặc điểm này nên công tác chọn giống cây ích mẫu có thể tiến hành theo phương thức chọn lọc cá thể hoặc quần thể tự thụ Tuy nhiên vì hoa ích mẫu rất bé và 1 quả chỉ có 4 hạt hơn nữa vòi nhị gồm 4 vòi , khoảng cách từ đầu vòi nhị đến đầu vòi nhuỵ lại rất ngắn do đó nếu tiến hành lai bằng cách thụ phấn nhân tạo hoặc cắt bao phấn là rất khó khăn
Như vậy, để lai tạo giữa các giống ích mẫu với nhau là điều rất khó, chúng ta cần phải nghĩ đến một phương pháp chọn giống nào đó thích hợp
để nhanh chóng tạo ra giống mới, chẳng hạn như dùng phương pháp đột biến, áp dụng công nghệ sinh học vào chọn giống Từ đặc điểm cấu tạo hoa nên sự di truyền ở các mẫu giống cây ích mẫu rất bền vững Cụ thể là các mẫu giống Trung tâm cây thuốc Hà Nội đã thu thập từ các địa phương về trồng và theo dõi được 3 năm, qua chọn lọc sơ bộ thì thấy các giống đều giữ
được các đặc tính di truyền Điều đặc biệt là khi trồng chúng ở gần nhau không có hàng cách ly và không đủ khoảng không gian cách ly nhất định nhưng chúng vẫn giữ được đặc điểm hình thái cây, thời gian sinh trưởng và phát triển qua các năm theo dõi sơ bộ
3.1.1.5.Cấu tạo quả
Quả: Quả thuôn, có 3 góc, mỗi quả thường có 4 hạt dài khoảng 3mm,
đỉnh cụt, vỏ quả khi chín có mầu nâu sáng