Luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp hà nội
- -
sa thị phương
THÀNH PHẦN SÂU HẠI TRấN CÂY CÀ PHấ CHẩ, ðẶC ðIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC CỦA RỆP SÁP MỀM NÂU
(Coccus hesperidum Linnaeus) VÀ BIỆN PHÁP PHềNG TRỪ
TẠI SƠN LA, VỤ XUÂN Hẩ, NĂM 2009
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.10
Người hướng dẫn khoa học: Pgs.ts nguyễn thị kim oanh
Hà Nội - 2009
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội ngày 19 thỏng 9 năm 2009
Tỏc giả luận văn
Sa Thị Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh, Bộ môn Côn trùng, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội - người đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất tận tình trong thời gian học tập tại trường và hoàn thành luận văn tốt nghiệp cao học
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS TS Hà Quang Hùng đã hướng dẫn tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp Xin chân trọng cảm ơn Th.S Vũ Quang Giảng - Phó trưởng Khoa Nông Lâm, Trường Đại học Tây Bắc đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất, kỹ thuật cho tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Viện Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã giảng dạy,
đóng góp ý kiến, tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu, các thầy cô giáo Khoa Nông Lâm, Trường Đại học Tây Bắc, Công ty Cà phê - Cây ăn quả Sơn La, Chi cục Bảo
vệ thực vật Sơn La đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Trồng trọt - Trường Trung học Nông Lâm Sơn La cùng anh chị đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình công tác, hoàn thành luận văn này Xin chân thành cảm ơn Bố, Mẹ, người thân trong gia đình và bạn bè đã làm chỗ dựa tinh thần vững chắc cho tôi học tập và công tác
Tỏc giả luận văn
Sa Thị Phương
Trang 43 ðỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
3.1 ðối tượng, ñịa ñiểm, thời gian và vật liệu nghiên cứu 31
4.1 Thành phần sâu hại cà phê chè tại sơn la, vụ xuân hè, năm 2009 434.2 ðặc ñiểm hình thái, sinh học của rệp sáp mềm nâu Coccus
hesperidum Linnaeus trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè
4.2.1 ðặc ñiểm hình thái của rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên cây
cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 50
4.2.2 ðặc ñiểm sinh học của rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên cây
cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 53
Trang 54.2.2.1 Vòng ñời và thời gian phát dục các pha của rệp sáp mềm nâu C
hesperidum trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 534.2.2.2 Hình thức sinh sản của rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên cây
cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 554.2.2.3 Tiềm năng sinh sản của rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên cây
cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 554.2.2.4 Tỷ lệ nở của trứng rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên cây cà
phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 574.2.2.5 Tập tính sống của rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên cây cà
phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 584.2.2.6 Sự phân bố của rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên cây cà phê
4.3 Diễn biến tỷ lệ hại, chỉ số hại của rệp sáp mềm nâu Coccus
hesperidum Linnaeus trên các tuổi cây cà phê, các hướng vườn,
ñịa hình, cây che bóng tại Sơn La vụ xuân hè, năm 2009 644.3.1 Diến biến tỷ lệ hại, chỉ số hại của rệp sáp mềm nâu C hesperidum
trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 644.3.2 Ảnh hưởng của tuổi cây ñến tỷ lệ hại và chỉ số hại của rệp sáp
mềm nâu C hesperidum trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân
4.3.3 Ảnh hưởng của cây che bóng ñến tỷ lệ hại và chỉ số hại của rệp
sáp mềm nâu C hesperidum trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 70
4.3.4 Ảnh hưởng của hướng vườn ñến tỷ lệ hại và chỉ số hại của rệp
sáp mềm nâu C hesperidum trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ
Trang 64.3.5 Ảnh hưởng của ñịa hình ñến tỷ lệ hại và chỉ số hại của rệp sáp
mềm nâu C hesperidum trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân
4.4 Thành phần côn trùng ăn thịt rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum
Linnaeus và khả năng ăn rệp sáp mềm nâu của một số loại bọ rùa trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 764.4.1 Thành phần côn trùng ăn thịt rệp sáp mềm nâu C hesperidum
trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 764.4.2 Khả năng ăn rệp sáp mềm nâu C hesperidum của một số loại bọ rùa
trưởng thành trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 80
4.5 Biện pháp phòng trừ rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum
4.5.1.1 Thử hiệu lực thuốc Anisaf SH - 01 ở trong phòng thí nghiệm 81
4.5.1.2 Thử hiệu lực thuốc Anisaf SH-01 ngoài ñồng 83
4.5.2.1 Thử hiệu lực thuốc trong phòng thí nghiệm 85
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG STT Tên bảng Trang
4.1 Thành phần sâu hại cà phê chè tại Sơn La vụ xuân hè, năm 2009 434.2 Mức ñộ phổ biến theo thời gian của một số sâu hại chính trên cây
cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè, năm 2009 48
4.3 Kích thước các pha của rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên cây
cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 50
4.4 ðặc trưng hình thái của rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên cây
cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 51
4.5 Thời gian phát dục các pha và vòng ñời của rệp sáp mềm nâu C
hesperidum trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 54
4.6 Số trứng trên một rệp trưởng thành C hesperidum trên cây cà phê
4.7 Tỷ lệ trứng nở của rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên cây cà
4.8 Phân bố rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên các tầng tán cây cà
4.9 Tỷ lệ cành, chồi, chùm quả, cuống lá bị rệp sáp mềm nâu C
hesperidum L hại tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 61
4.10 Phân bố rệp sáp mềm nâu C hesperidum ở ñoạn cành non, cành bánh
tẻ, cành già trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 62
4.11 Phân bố rệp sáp mềm nâu C hesperidum ở mặt trên và mặt dưới
của cành cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 62
4.12 Diến biến tỷ lệ hại, chỉ số hại của rệp sáp mềm nâu C hesperidum
trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 65
Trang 94.13 Ảnh hưởng của tuổi cây ñến tỷ lệ hại và chỉ số hại của rệp sáp
mềm nâu C hesperidum trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân
4.14 Ảnh hưởng của cây che bóng ñến tỷ lệ hại và chỉ số hại của rệp
sáp mềm nâu C hesperidum trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ
4.15 Ảnh hưởng của hướng vườn ñến tỷ lệ hại và chỉ số hại của rệp sáp
mềm nâu C hesperidum trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân
4.16 Ảnh hưởng của ñịa hình ñến tỷ lệ hại và chỉ số hại của rệp sáp
mềm nâu C hesperidum trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân
4.17 Thành phần côn trùng ăn thịt rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên
cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm 2009 77
4.18 Khả năng ăn rệp sáp mềm nâu C hesperidum của một số loại bọ
rùa trưởng thành trên cây cà phê chè tại Sơn La, vụ xuân hè năm
4.19 Hiệu lực của thuốc sinh học Anisaf SH-01 trừ rệp sáp mềm nâu
C hesperidum ở các nồng ñộ khác nhau trong phòng thí nghiệm 82
4.20 Hiệu lực của thuốc sinh học Anisaf SH-01 trừ sáp mềm nâu C
hesperidum ở các nồng ñộ khác nhau ngoài ñồng ruộng 83
4.21 Hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trừ rệp sáp mềm nâu C
4.22 Hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trừ rệp sáp mềm nâu C
Trang 10DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang
4.2 Câu cấu xanh lớn Hypomeces squamosus Fabricius 49
4.3 Sâu ñục thân mình trắng Xylotrechus quadripes Chevrolat 49
4.12 Diễn biến chỉ số rệp sáp mềm nâu C hesperidum trên cây cà phê
4.13 Bọ rùa 6 vằn Menochilus sexmaculatus (Fabricius) 78
4.14 Bọ rùa ñen Chilocorus nigritus (Fabricius) 78
4.15 Bọ rùa 14 chấm Synonycha grandis (Thunberg) 78
4.17 Râu ăn rệp sáp 1 Eublemma amabilis (Moore) 78
4.21 Hiệu lực của thuốc sinh học Anisaf SH-01 trừ sáp mềm nâu
C hesperidum L ở các nồng ñộ khác nhau trong phòng thí nghiệm 82 4.22 Hiệu lực của thuốc sinh học Anisaf SH-01 trừ sáp mềm nâu
C hesperidum ở các nồng ñộ khác nhau ngoài ñồng ruộng 84 4.23 Hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trừ rệp sáp mềm nâu
4.24 Hiệu lực của một số loại thuốc hóa học trừ rệp sáp mềm nâu
Trang 11MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn ñề
Cây cà phê là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, là mặt hàng thương mại quan trọng trên thị trường thế giới, ñứng thứ hai sau dầu mỏ về sản lượng xuất khẩu Hiện nay trên thế giới ñã có 80 nước trồng cà phê với tổng diện tích trên 10 triệu ha và giá trị hàng hoá xuất khẩu cà phê hàng năm lên tới trên 10 tỷ ñô la Mỹ Cà phê không chỉ là ñồ uống phổ biến ở nhiều nước trên thế giới mà còn là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, phân vi sinh, công nghiệp dược liệu
Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê ñứng thứ hai trên thế giới (sau Braxin) Cà phê có giá trị kinh tế rất cao, là một trong 4 mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu lớn hơn 1 tỷ USD của Việt Nam Năm 1956, cà phê Việt Nam chiếm 0,2% về diện tích, năng suất ñạt 41% và sản lượng chỉ ñạt 0,1%
so với toàn thế giới Sau 50 năm (năm 2006) diện tích cà phê Việt Nam ñạt 488.700ha (4,6%), năng suất ñạt 17,7 tạ/ha (240%), sản lượng ñạt khoảng 853.500 tấn chiếm gần 10,8% so với toàn thế giới Mục tiêu phát triển cà phê ñến năm 2010 là năng suất cà phê ñại trà ñạt 2,0 tấn/ha, trong ñó năng suất vùng thâm canh trọng ñiểm ñạt 2,4 tấn/ha Quy hoạch vùng thâm canh trọng ñiểm, ổn ñịnh diện tích khoảng 460.000 ha, cà phê vối 194.000 ha tập trung tại các tỉnh ðăk Lăk Lâm ðồng, Gia Lai, ðăk Nông, cà phê chè 6000 ha tập trung tại các vùng Lâm ðồng, miền Tây của các Tỉnh Quảng Trị Thừa Thiên Huế, Sơn La (Phan Huy Thông, 2009) [40]
Với giá trị kinh tế cao cây cà phê thực sự ñã làm cho ñời sống kinh tế của nhiều vùng dân cư thay ñổi, góp phần xoá bỏ tập quán du canh du cư của ñồng bào các dân tộc, ñặc biệt là với một nước lấy nông nghiệp làm ngành sản xuất chính, dư thừa rất nhiều lao ñộng như Việt Nam
Trang 12Sơn La là một tỉnh miền núi phía Bắc cĩ điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu tương đối thuận lợi cho việc trồng và phát triển cây cà phê chè Theo thống kê của Cơng ty Cà phê và Cây ăn quả Sơn La, từ trước những năm
1945 xuất hiện các giống cà phê chè, chủng Bourbon và Typica, diện tích nhỏ, trồng rải rác ở các vườn của người dân địa phương; đến năm 1993 cây cà phê đã được đánh giá là cây chủ lực của tỉnh; từ đĩ cây cà phê được phát triển mạnh mẽ và thực sự trở thành cây xố đĩi giảm nghèo của đồng bào các dân tộc ðến năm 1996 diện tích cà phê chè Sơn La đạt 2640 ha, hiện nay đã trên
7000 ha, sản luợng đạt trên 18.000 tấn, năng suất bình quân 6,5 tấn/ha
Cùng với sự tăng về diện tích trồng cà phê chè tại Sơn La và các tỉnh miền núi phía Bắc, tập đồn sâu hại cà phê cũng ngày càng phát triển, gây hại nặng cho các vùng trồng cà phê tập chung, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm, đơi khi khơng cho thu hoạch Theo các chuyên gia nghiên cứu bảo
vệ thực vật, sâu bệnh hại cà phê làm giảm năng suất từ 10 - 50 %
Những năm gần đây, dịch hại cà phê ngày càng gia tăng cả về số lượng
và chủng loại Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (1996) [51] đã thu thập được 23 lồi cơn trùng và nhện hại trên vườn cà phê chè: 4 lồi hại thân, 2 lồi hại cành, 2 lồi hại cây con, 12 lồi hại lá, lồi mới xuất hiện là
sâu tiện vỏ (Dihammus cervinus Hope) Cĩ 15 lồi là đối tượng gây hại
thường xuyên Trong đĩ sâu đục thân, sâu tiện vỏ, tập đồn rệp là đối tượng gây hại cĩ ý nghĩa kinh tế, chúng gây chết cả cây và xuất hiện ở nhiều vùng trồng cà phê
Theo thống kê của Cơng ty Cà phê và cây ăn quả Sơn La năm 2009,
rệp sáp mềm nâu (Coccus hesperidum Linnaeus) hiện nay đang phát triển khá
mạnh trên các vùng trồng cà phê ở Sơn La Lồi này là đối tượng dịch hạt rất nghiêm trọng, chúng gây hại và làm giảm năng suất, chất lượng cà phê trên diện rộng, trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cà phê Cơng
Trang 13ty ựã phải chi phắ hàng trăm triệu ựồng cho phòng trừ loài rệp này Việc tìm ra biện pháp phòng trừ loài rệp này ắt tốn kém và không ảnh hưởng tới môi trường sống là hết sức cấp thiết Cho ựến nay, chưa có một nghiên cứu nào có tắnh hệ thống và toàn diện chuyên về loài rệp sáp này để góp phần vào việc phòng trừ
mang tắnh tổng hợp cần phải có những hiểu biết sâu sắc về loài rệp Coccus
hesperidum Linnaeus, chắnh vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu ựề tài:
ỘThành phần sâu hại trên cây cà phê chè, ựặc ựiểm sinh vật học, sinh thái học của rệp sáp mềm nâu (Coccus hesperidum Linnaeus) và biện pháp phòng trừ tại Sơn La, vụ xuân hè, năm 2009Ợ
1.2 Mục ựắch và yêu cầu của ựề tài
- Xác ựịnh thành phần sâu hại trên cà phê chè tại Sơn La
- Nghiên cứu ựặc ựiểm hình thái, sinh học của rệp sáp mềm nâu
C hesperidum tại Sơn La
- điều tra diễn biến tỷ lệ hại và chỉ số hại của rệp sáp mềm nâu
C hesperidum trên các tuổi cây cà phê, hướng vườn, ựịa hình, cây che bóng tại Sơn La
- điều tra thành phần thiên ựịch của rệp sáp mềm nâu C hesperidum
tại Sơn La
- đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc hóa học, sinh học phòng trừ
rệp sáp mềm nâu C hesperidum tại Sơn La
Trang 142 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2.1.1 Thành phần sâu bệnh hại cà phê trên thế giới
Cà phê có nguồn gốc xuất xứ ở làng Capfa gần thủ ựô Ethyopia nhưng ựược trồng nhiều ở Braxin, Colombia, Indonesia (ba nước có diện tắch và sản lượng cà phê xuất khẩu lớn nhất thế giới) Từ thế kỷ thứ VI cà phê không chỉ là món tráng miệng hàng ngày của người dân Ethyopia, do tác dụng kắch thắch mạnh mẽ nên thời ựó cà phê còn ựược coi là hiện tượng thần kỳ trên thế giới, cây
cà phê ựược phát tán cả sang Yêmen, các nước khác ở Trung cận ựông, nhanh chóng vượt biển ựỏ sang Arập (Arabica) và có tên là Arabica đến cuối thế kỷ thứ XVII, cây cà phê ựã tìm ựược chỗ ựứng vững chắc trên thế giới Hiện nay cà phê ựã ựược trồng với diện tắch lớn trên 10 triệu ha ở hơn 80 quốc gia
Cũng giống những loài cây trồng khác, cà phê bị rất nhiều loài dịch hại tấn công như: Côn trùng, ve, ựộng vật thân mềm, tuyến trùng, chim,Ầvà ựộng vật có vú; ựây là những loài dịch hại nguy hiểm, với khoảng trên 900 loài ựã ựược ghi nhận chi tiết và ựầy ựủ, (R.J Clarke và R Macrae, 1987) [52] Ước tắnh sự mất mùa trên cà phê do côn trùng ở các châu lục là khác nhau: Châu Phi 10%, Châu Á 15% và Châu Mỹ 12% (Kramer, 1967) [63]
Cũng theo Kramer thì giống cà phê Chè Arabica mẫm cảm với sâu bệnh hại nhiều hơn giống cà phê Vối Robusta
Các loài côn trùng là dịch hại ở Ethiopia có gần 400 loài, ở các nước đông Á là 250 loài và các vùng trung tâm nhiệt ựới là 200 loài Trên 900 loài côn trùng gây hại trên cà phê, trong ựó 34% là thuộc bộ cánh cứng
(Coleoptera), 28% là bộ cánh nửa (Hemiptera), 21% là bộ cánh vẩy (Lepidoptera), 4% là bộ cánh tơ (Thysanoptera), 6% là bộ cánh thẳng (Othoptera), 3% là bộ hai cánh (Diptera) và 1% là bộ mối (Isoptera) Các loài
Trang 15ựộng vật không xương sống khác gây hại cà phê bao gồm 9 loài của bộ ve bét,
2 loài ựộng vật nhiều chân, một số loài ốc sên và khoảng 20 loài tuyến trùng Ngoài ra cà phê có khi còn bị hại bởi các ựộng vật có vú ựào hang và ựộng vật
ăn cỏ chăn thả (Le Pelley 1973) [65]
Ở Ấn độ, sâu hại chủ yếu trên cà phê chè gồm 11 loài, trong ựó sâu hại
lá có 6 loài, sâu hại thân cành 2 loài, sâu hại rễ 3 loài Trên cà phê vối có 6 loài sâu hại bao gồm: Côn trùng hại lá 3 loài, côn trùng hại cành 1 loài và côn trùng hại kho 1 loài (Phan Quốc Sủng và Lê đình Sơn 1987) [31]
Trong các loài sâu tấn công trên cà phê, gây hại nhiều là sâu non của bộ cánh cứng, chúng có thể ựẻ trứng vào kẽ cây Một trong những loài gây hại
nhất ở Châu Phi là sâu Bore trắng (Anthores leuconotus) ấu trùng của chúng
nằm xung quanh thân, sau ựó ựi vào rễ trụ và thân cây Loại dịch hại này làm suy giảm lớn ựến sản phẩm cà phê và sản xuất cà phê không có hiệu quả kinh
tế (Tapley R Ờ G 1996) [66]
Nguyễn Sỹ Nghị (1996) [24] tham khảo tài liệu của Sayssierre cho rằng
có tới 50 loài rệp sinh sống trên các bộ phận của cây cà phê, các loài rệp phổ
biến và có hại nhất là rệp xanh mình mềm (Coccus viridis Green) và rệp sáp
Pseudococcus citri Risso), hai loài rệp này ựều là các loài rệp sinh sống và phá hại trên nhiều loại cây trong vùng nhiệt ựới
Rệp vảy xanh (Coccus viridis Green) có mặt ở hầu hết các vùng
Tây Phi, từ các vùng thấp ven biển ựến ựộ cao 1200m, loài này chỉ là loài thứ yếu, nhưng chúng vẫn có thể gây hại cà phê giống và cà phê non, con cái có thể ựẻ từ 50 Ờ 600 trứng (Delotto, 1960) [58]
Tại Srilanca, rệp vảy xanh xuất hiện năm 1882 và 4 năm sau rệp ựã lan
tràn khắp hòn ựảo này cùng với tác hại của bệnh rỉ sắt (Hemilela wastatarix)
Rệp ựã làm cho hệ thống cà phê ở ựây bị huỷ diệt Ở vùng Myore (Ấn độ), rệp vảy xanh ựã gây hại thành dịch nặng vào những năm 1938 - 1940 và sau ựó năm
Trang 161958 tại ñảo Reunion người ta ñã phải bỏ nghề trồng cà phê vì sự phá hoại của
nó Ở Madagasca, các cây cà phê trồng ñược 5 tuổi trở lên thưòng bị rệp gây hại ñặc biệt vào những tháng mùa khô Ở Cuba, sau 15 năm xâm nhập, rệp vảy xanh ñược xem là loại rệp hại nặng nhất ñối với cây cà phê (dẫn theo [32])
Tuyến trùng nốt sần ñã ñược tìm thấy rộng rãi trên cà phê ở Tây Phi chủ
yếu là Meloidogyne africana nhưng nó không ổn ñịnh, không gây hại kinh tế Ở Châu Mỹ la tinh và Ấn ðộ, tuyến trùng gây nốt sần là Meloidogyne coffeicola và tuyến trùng gây vết thương Pralylenchus coffee (chủ yếu ở vùng ñất cát) tạo nên
sự gây hại nghiêm trọng trên cà phê kinh doanh ở một số vùng Các nhóm côn
trùng khác ñôi khi cũng tấn công vào rễ cà phê như rệp sáp (Planococcus),
chúng bao quanh rễ cà phê ñể gây hại (Ung ðoan Hùng, 1998) [18]
Mọt ñục quả (Stephanoderes hampei Ferrari) phân bố ở hầu hết các châu
lục: Châu Âu, châu Á, châu Phi, phía Tây bán cầu và châu ðại Dương với tổng
số 61 nước trên thế giới Khi trưởng thành nó là loài cánh cứng nhỏ, con cái dài 1,4 - 1,6 mm, con ñực thường không cánh, cơ thể màu ñen thẫm, biến thái hoàn toàn Cá thể cái tấn công cà phê ñang phát triển từ khoảng 8 tuần sau khi ra hoa cho tới khi thu hoạch, nội nhũ là vị trí chúng ñẻ trứng Ở các ñồn ñiền cà phê, mọt thường chỉ tấn công ở những nơi có bóng tối hoặc ñộ ẩm cao hoặc bị một vành bao Mọt tấn công ñầu tiên vào phần núm của quả cà phê vào thời ñiểm khoảng 8 tuần sau ra hoa với một lỗ thủng nhỏ có ñường kính khoảng 1mm Sau khi ñục, mọt thường ñẩy ra ngoài những mảnh vụn tạo nên một chất lắng (màu nâu hay xám hay xanh lá cây) bên trên lỗ (dẫn theo [44])
Morallo-Rejesns et al., (1979) (dẫn theo [29]) cho biết: Ở Philippines, nghiên cứu vòng ñời của mọt ñục quả (Hypothenemus hampei) cho thấy: 3 giai ñoạn trứng,
ấu trùng, nhộng kéo dài tương ứng 4 - 9, 19 - 31 và 4 - 10 ngày; tuổi thọ của trưởng thành ñực kéo dài từ 15 - 40 ngày và trưởng thành cái là 26 - 70 ngày; thời gian phát dục cũng như tuổi thọ của con ñực ñều ngắn hơn so với con cái
Trang 172.1.2 Tình hình nghiên cứu rệp sáp họ Coccidae và loài C hesperidum
Các loài thuộc họ rệp sáp Coccidae thường là những loài ựa thực,
chúng phân bố ở khắp nơi trên thế giới và hại trên rất nhiều loại cây trồng
Họ Coccidae gồm rệp mềm, rệp sáp, rệp mui rùa; con cái có hình ô van
dài, dạng lồi, thỉnh thoảng có loài dẹt, lớp vỏ ngoài nhẵn bóng hoặc bao phủ một lớp sáp, chúng thường có chân, không râu hoặc râu bị thoái hoá, con cái có thể có cánh hoặc không cánh; ựây là nhóm rệp khá lớn với 85 loài ở Bắc Mỹ,
một số loài là dịch hại rất quan trọng trên cam ở Nam Mỹ; Rệp lồi Saissetia
cofeae (Walker) hại trên cây dương xỉ và cây trồng trong nhà và trong nhà kắnh; một số loài trong họ này hại trên cây bóng mát và cây ăn quả; Rệp trên cây có hoa, giống hoa luy lắp là một trong những loài phân bố rộng nhất ở Bắc
Mỹ, trưởng thành loài này dài 8 mm; Rệp Pulvinaria innumerabilis (Rathvon)
là loài ựa thực, trứng của nó ựược ựẻ thành từng ổ; Rệp mềm thuộc giống
Lecanium gây hại ở các bộ phận khác nhau của cây trồng, chúng là dịch hại
thường xuyên trong nhà kắnh; Rệp sáp Trung Quốc Ericerus pela (Chavannes)
là loài rệp phương đông quan trọng và thú vị, con cái tiết ra chất lớp sáp màu
trắng tinh khiết ựược người ta sử dụng làm nến; Rệp sáp Ấn độ Coccus
ceriferus (Anderson) còn tiết ra lớp sáp ựược sử dụng trong dược phẩm Các tác giả cũng cho rằng họ Coccidae có ựặc ựiểm hậu môn mở bao phủ bởi hai
tấm phiến hình tam giác, bụng có rãnh sẻ ựến tận hậu môn (Donald J Borror,
et al. 1999) (dẫn theo [15])
Các loài rệp họ Coccidae hại nặng trên cây trồng họ cam quýt và các cây trồng khác Các loài hại trên cam là: Coccus pseudomagnoliarum (Kuwana), rệp xanh mềm Coccus viridis (Green), rệp nâu mềm Coccus
hesperidum Linnaeus, rệp dài mềm Coccus longulus (Donglas), rệp ựen
Saissetia oleae (Olivier), rệp nâu lồi Saissetia cofeae (Walker), rệp sáp nâu
Parasaissetia nigra (Nietner), rệp bông Pulvinaria polygonata (Cockerell),
Trang 18rệp sáp hang Ceroplastes rubens (Maskell), rệp sáp Florida Ceroplasstes
floridensis (Comstock), rệp sáp trắng Ceroplastes destructor (Newstead), rệp Trung Quốc Ceroplastes sinensis (Denguercio) (Dan Smith et al 1997) [56]
Tài liệu nghiên cứu ở Hawaii [59] cho rằng rệp sáp nâu Parasaissetia
nigra (Nietner) sinh sản ñơn tính, các con cái không cần thụ tinh với con ñực vẫn ñẻ trứng, trứng vẫn phát triển bình thường, trong loài không thấy sự có mặt của con ñực mà toàn con cái Khi nuôi rệp với thức ăn là mầm khoai tây, trong ñiều kiện phòng thí nghiệm ở ñiều kiện nhiệt ñộ 750F (xấp xỉ 240C), vòng ñời của rệp là 45 - 60 ngày Trứng hình ô van, ngay sau khi ñẻ có màu trong suốt với bề mặt sáng, sau vài giờ trứng chuyển sang màu hồng, trước khi nở trứng có màu vàng cam và có hai ñốm ñen giống như mắt, các trứng này ñược bảo vệ dưới cơ thể rệp trưởng thành và nở trong vòng 4 ngày Ấu trùng có ba giai ñoạn:
+ Giai ñoạn 1: Lúc ñầu ấu trùng có màu xanh trong suốt, sau ñó chúng chuyển sang màu vàng hồng trong suốt khi chúng ñã tìm ñược vị trí thích hợp ñể hút dịch ðây là giai ñoạn hoạt ñộng tích cực của ấu trùng; ấu trùng bò nhanh từ
1 - 6 ngày ñể phân tán ra các cây bên cạnh và chúng có xu hướng tấn công các cây còn non; sau khi ñã lựa chọn ñược vị trí lấy thức ăn thích hợp, chúng bắt ñầu tiết sáp, từ tuyến sáp hình thành 4 ñường kẻ màu trắng trên cơ thể rệp
+ Giai ñoạn 2: Xuất hiện màu sắc ñặc trưng; chúng chuyển sang màu trắng ñục, sẫm hơn ấu trùng ở giai ñoạn này có thể tách ra ñể tìm vị trí gây hại mới nếu thấy cần thiết, nhưng thông thường chúng cố ñịnh ở vị trí ñã lựa chọn + Giai ñoạn 3: Kích thước của cơ thể rệp sáp lớn hơn giai ñoạn 2 một chút; lượng sáp tiết ra từ tuyến sáp ngày càng nhiều hơn, sáp có màu trắng; phía sau của rệp tương ñương với tuyến hậu môn có ñốm màu sẫm Giai ñoạn này dịch giọt của rệp sáp nâu tiết ra nhiều hơn và tích tụ lại thành từng giọt trong suốt
Theo tài liệu Coccus hesperidum Linnaeus [53]: Loài rệp sáp nâu
Trang 19C hesperidum tìm thấy lần ñầu tiên tại ñảo Hawaii năm 1896, chúng hại trên các cây trồng như: chanh, sơn tra, cam, phong lan, ñu ñủ, cao su Khả năng ñẻ trứng của trưởng thành cái là từ 5 - 19 trứng mỗi ngày, ñẻ trong suốt 30 - 65 ngày với khoảng 80 - 250 trứng ðến giai ñoạn sâu non, ở tuổi 1, chúng phân tán rất nhanh trên lá, cành non, tuy nhiên tỷ lệ chết ở tuổi này có thể lên ñến 80% Bước vào tuổi 2 và 3, rệp di chuyển chậm hơn; hai tuổi này ñược phân biệt bởi kích thước: tuổi 2 kích thước nhỏ hơn 1/12 inch, còn tuổi 3 lớn hơn 1/12 inch Sự phát triển từ sâu non ñến trưởng thành diễn ra khoảng 2 tháng trong mùa lạnh; nhỏ nhất là 33 ngày, ở 80uF cho sự phát triển của 3 tuổi rệp
non Trưởng thành cái của C hesperidum hình oval, cơ thể dài 1/8 - 1/6 inch,
màu vàng nâu và xanh, có những chấm nâu trên lưng Khi thời tiết ấm lên, con cái có thể sống từ 90 - 125 ngày, thời gian sinh sản từ 30 - 65 ngày Rệp ñực chưa ñược tìm hiểu trong tài liệu này
Theo Saing Sophath (2004) [31] tham khảo tài liệu cho biết: rệp sáp
mềm nâu C hesperidum con ñực rất hiếm, con cái có thể sinh nở không cần
giao phối và nó có thể ñẻ tổng cộng khoảng 200 con; vòng ñời của nó khoảng
2 tháng, Vào mùa hè sự phát triển giữa các thế hệ không ñồng bộ, các thế hệ sống chồng chất lên nhau Ở Queensland và phía Bắc Australia có 4 - 5 thế hệ trong năm Ở New South Wales, Victoria và Nam Australia có 3 - 4 thế hệ trong năm, số lượng tăng nhanh nhất vào mùa hè và mùa thu; con trưởng thành tập trung ở lá cây và nhánh nhỏ thỉnh thoảng xuất hiện trên quả xanh,
nó thường tiết ra số lượng lớn dịch ngọt và môi trường cho nấm muội ñen phát triển làm giảm khả năng quang hợp và ảnh hưởng ñến chất lượng quả
Nhận xét: Trong số những nghiên cứu về rệp sáp họ Coccidae, có rất ít những nghiên cứu về rệp sáp mềm nâu (C hesperidum) Các nhà khoa học chỉ
dừng ở những ñặc ñiểm chung nhất, chưa có nghiên cứu nào cụ thể về các ñặc ñiểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài rệp này
Trang 202.1.3 Thiên ñịch của rệp sáp hại cà phê và một số cây trồng khác
R.H Le Pelley (1973) [65] nhận xét về ong ký sinh trên rệp vảy xanh
(Coccus viridis Green) cho biết: có tất cả 22 loài ong ký sinh thuộc các họ
Aphelinidea , Encyrtidae, Pteromalidae, Trichogammatidae Kohler (1982)
[62] ñiều tra từ tháng 9 năm 1973 ñến tháng 8 năm 1975 ở Cu Ba và thấy
rằng: Rệp sáp mềm xanh (Coccus viridis Green) bị nhiều kẻ thù tự nhiên tấn
công, ñã phát hiện ñược 8 loài ong ký sinh (chưa xác ñịnh tên), bọ rùa
Chilocorus cacti và nấm Verticilium lecanii gây bệnh cho rệp non ở tuổi 1 và tuổi 2 cũng như rệp trưởng thành cái (ñặc biệt, nấm Verticilium lecanii phát
sinh mạnh trong mùa mưa và ở những vườn cây có che bóng thì nó có hiệu quả cao trong viêc hạn chế rệp sáp mềm xanh)
Trong ñiều kiện ẩm ñộ của không khí lên cao, quần thể rệp sẽ giảm một
cách ñáng kể, vì khi ẩm ñộ của không khí lên cao sẽ làm cho nấm Empusa
fresenii ký sinh trên rệp sáp phát triển mạnh R.H Le Pelley (1973) [65], cũng thừa nhận: ẩm ñộ không khí là yếu tố sinh thái quan trọng nhất ảnh hưởng ñến
rệp sáp thông qua sự hoạt ñộng của nấm Empusa fresenii ký sinh trên rệp sáp,
(E.M Lavabre, 1970) [64]
Các loài bọ rùa Scymmus, Hyperaspis, Cryptolaemus là những loài ăn thịt chủ yếu Một số loài khác thuộc bộ Neuroptera như chuồn chuồn cỏ
Chrysopa, Sumpherius cũng ñóng vai trò một phần trong việc hạn chế rệp sáp;
ngoài ra còn có một số ký sinh như Prochiloneurus, Anagyrus, Leptomatidae
và Leptomatix cũng ñóng vai trò quan trọng ở ñây Mật ñộ quần thể rệp còn bị giảm bởi các nấm ký sinh như nấm Empusa freseii Ở Mỹ người ta ñã áp dụng
biện pháp sinh học ñể trừ rệp sáp; ở miền Nam nước này người ta dùng bọ rùa
Cryptolaemus montrouzieri và loài ong ký sinh Leptomastidae abnormis ñể
hạn chế quần thể rệp sáp; Những kẻ thù tự nhiên này ñã ñược thuần hoá thành công ở một số nước trên thế giới (Zurgen Kramez và Heinz S., 1978) [69]
Trang 21Theo Walter R.E và CS (1978) [68] cho biết: thành phần thiên ñịch, ký
sinh rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum Linnaeus gồm các loại ong:
Metaphycus luteolus Timb, Microterys flavus How, Coccophagus lycimnia
Wlkr Việc sử dụng các loài ký sinh trong ñiều khiển số lượng rệp sáp mềm nâu ñược tiến hành tại phía tây nước Úc Sự phong phú của thành phần loài ký sinh rệp sáp mêm nâu cũng ñược xác ñịnh tại miền Nam Califonia từ năm 2004 ñến
tháng 2, tháng 3 năm 2006 Trong 14 loài ký sinh, nhiều nhất là loài Microterys
flavus How (ký sinh 75%), tiếp ñến loài Metaphycus angustifrons (Compere) (ký sinh 38%), và loài Coccophagus lycimnia Walker (ký sinh 11%)
Tài liệu Metaphycus alberti stinging Coccus hesperidum soft brown
scale [51] cho rằng: Ong ký sinh Metaphycus aberti Horwad (Hymenoptera:
Encyrtidae) ñược ñưa ñến từ Úc thuộc California năm 1898 bởi Albert Koebele, ñây là côn trùng hiếm hoi, chỉ ký sinh rệp sáp mềm nâu
C hesperidum và ñược sử dụng thành công trong biện pháp sinh học ñể trừ loài rệp này (DeBach và Rosen, 1991) Tên khoa học của nó ñược L.O
Horwad ñặt là Metaphycus abert H Chúng có kích thước rất nhỏ (từ 1,5 -
2mm) nhưng lại ký sinh và làm giảm số lượng rệp sáp mềm nâu rất lớn Sinh sản hữu tính, sống tập chung (hơn 1 trứng/ cơ thể rệp), thời gian tồn tại trong
cơ thể rệp kể từ khi ñẻ trứng ngắn (12 ngày), chúng nhanh chóng gây hại cho rệp khi chưa ñến tuổi trưởng thành
Tài liệu Coccus hesperidium (Linnaeus) [53] cho biết: Một số loài ở Hawaii có khả năng ký sính trên rệp sáp mềm nâu C hesperidium là ong ký sinh Aphycus alberti Howard và Anicetus annulatus Timberlake
(Zimmermam, 1948) Loài côn trùng ăn thịt rệp sáp mềm nâu bao gồm bọ rùa
và bọ cánh cứng, (Hart et al., 1966)
Theo Coppel, H.C và J.W Mertins (1977) [55] thì xác xuất thành công khi sử dụng các loài côn trùng ký sinh bộ cánh màng (Hymenoptera) trong phòng trừ sinh học chỉ khoảng 66%
Trang 22Việc dùng sinh vật ñể trừ rệp sáp hại cam chanh ở Hy Lạp bắt ñầu từ
1927 bằng cách dùng bọ rùa Rodolia cardinalis ñể phòng chống rệp sáp, sau
ñó người ta dùng bọ rùa Cryptolaemus montrouzieri ñể trừ rệp hại nho và
nhập từ Mỹ loài Aphitis lingaenisis, Aphitis melitius, Aphitis coheni thả vào
các vườn chanh ñể trừ rệp sáp (dẫn theo [10])
Năm 1887, thành công trong việc nhập nội bọ rùa châu Úc Rodolia
cardinalis vào Mỹ ñể phòng chống có hiệu quả rệp sáp Icerya Purchasi hại
cam, chanh ở bang Califonia Kết quả kỳ diệu này gắn liền với tên tuổi của
nhà khoa học A Koebele Sử dụng ong ký sinh Allotropa burelli và
Pseudaphicus malimus nhập nội từ Nhật Bản vào những năm 1934 - 1941
phòng chống có hiệu quả rệp sáp Pseudococcus comstocki hại táo ở Liên Xô
cũ (dẫn theo [14]) Bọ rùa Rodolia iceryae Janson có thể là tác nhân sinh học
có triển vọng ñể trừ rệp sáp Icerya pattersoni Newst ở Kennya (Kairo và
Murphy, 1995) [61]
Nhận xét: Thành phần thiên ñịch của rệp sáp khá phong phú, bao gồm: ong ký sinh, bọ rùa, nấm ký sinh, chuồn chuồn cỏ Riêng ñối với rệp sáp mềm nâu thì thành phần ong ký sinh ñược nghiên cứu khá nhiều, ñây chính là ñối tượng ñược ứng dụng trong phòng trừ sinh học ñạt hiệu quả cao
ñể tiêu diệt nguồn rệp là biện pháp hữu hiệu ñể trừ rệp sáp Tác giả ñề nghị dùng thuốc Malathion và Parathion có thể hỗn hợp với dầu trắng ñể phun thì
Trang 23có hiệu quả hơn R.H Le Pelley (1973) [65] khuyến cáo nên dùng thuốc Dieldrin ñể trừ rệp sáp Tài liệu Coffee research foundation (1967) [54] cũng
có nhận xét tương tự như vậy
Dennis S Hill (1983) [57] khuyến cáo: Khi cây cà phê bị rệp sáp cần
bẻ kịp thời những chồi non nằm nơi khuất kín nhằm hạn chế môi trường thích hợp cho rệp sáp phát triển Ngoài ra tác giả còn ñề nghị: ðối với rệp sáp tốt nhất là phòng trừ gián tiếp như quét xung quanh gốc bằng thuốc Dieldrin ñể chống các loại kiến ñi kèm tha rệp phân tán ra các cây khác
ðể phòng trừ sâu hại cà phê, người ta sử dụng tổng hợp các biện pháp như: sử dụng các chế phẩm vi sinh, dùng thuốc hoá học với liều lượng thấp ñể bảo vệ kẻ thù tự nhiện Ở các nước phát triển, biện pháp phòng trừ sâu hại hiện ñại nhất ñều dựa trên sự hiểu biết về ngưỡng gây hại kinh tế (EIL) chỉ tiến hành phòng trừ khi mật ñộ sâu hại trên ñồng ruộng thấp hơn EIL, (Himson và Hartwig, 1982) [60]
Theo M.J Tauber et al.(1983) thì vai trò của kẻ thù tự nhiên là một
thành phần không thể thiếu ñược trong hệ thống phòng trừ tổng hợp ðể làm ñược ñiều này ñòi hỏi phối hợp giữa các nhà khoa học nghiên cứu côn trùng, bệnh lý thực vật, cỏ dại, các nhà chuyên gia trồng trọt và các nhà hoá học: Có thể sự tăng nhanh việc sử dụng biện pháp sinh học trong phòng trừ tổng hợp ñều thông qua việc sử dụng thuốc có chọn lọc, ñúng lúc, kết hợp với thiên ñịch tự nhiên, có hiệu quả trong hệ thống trồng trọt ñặc trưng ở những vùng ñịa lý riêng biệt (dẫn theo [20])
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.1 Lịch sử phát triển cây cà phê ở Việt Nam
Cây cà phê thuộc bộ Long ðởm (Gentianales), họ cà phê (Rubiaceae), chi coffea Hiện nay với trên 100 loại cà phê, phân thành 3 loại giống chính:
Cà phê chè (Coffea Arabica L.), Cà phê vối (Coffea canephona Pierre ex Proecher Var Robusta (Lind Ex Willd.) Chew, Cà phê mít (Coffea deweret
Et Dar Var, excelsa Chew.) (Vũ Cao Thái, 2000) [35]
Trang 24Ở Việt Nam cây cà phê ựược các nhà truyền ựạo công giáo ựưa vào từ năm 1857 và ựược trồng thử ựầu tiên chung quanh nhà thờ Gio Linh (Quảng Trị)
và Xen Bàng - Bố Trạch (Quảng Bình) Năm 1870 ựược trồng ở tu viện Kẻ Sơ - Kim Bảng (Hà Nam) Từ 1888 cà phê ở Việt Nam ựược trồng ựại trà trên quy
mô sản xuất lớn tại ựồn ựiền tư bản Pháp thiết lập ở vùng trung du Bắc Bộ (Hà Nam, Sơn Tây, Vĩnh Phú, Tuyên QuangẦ) rồi lan dần vào Trung Bộ (Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng TrịẦ) mãi ựến 1920 Ờ 1925 tư bản Pháp mới ựầu tư phát triển cà phê ở vùng ựất ựỏ bazan nổi tiếng phì nhiêu trên cao nguyên nam Trung Bộ (vùng Tây Nguyên) và vùng ựông Nam Bộ Lúc ựầu phải nhập nội cả giống và kỹ thuật, trải qua gần 100 năm nghiên cứu và thực nghiệm trong sản xuất, Việt Nam ựã thuần hoá và chọn lọc, lai tạo ựược một số giống cà phê bản ựịa, xây dụng ựược quy trình kỹ thuật trồng cây cà phê thắch hợp với từng giống và phù hợp với từng vùng sinh thái cà phê của cả nước Diện tắch cà phê chỉ ựược mở rộng từ sau năm 1980 (Phan Quốc Sủng, 1998) [33]
Trước ngày giải phóng (30/ 4/ 1975) diện tắch cà phê cả nước mới chỉ có khoảng 10.000ha, tập trung chủ yếu ở vùng Tây Nguyên và vùng Phủ Quỳ Nghệ
An, ựến cuối năm 1998 diện tắch cà phê của cả nước ựã tăng lên tới 350.000ha
và sản lượng 400.000 tấn, xuất khẩu niên vụ 1998 - 1999 mang lại khoảng 680 triệu USD, ựứng thứ tư thế giới (Lê Quang Hưng, 1999) [19] đến tháng 6 -
2009 giá cà phê Robusta của Việt Nam ựược chào bán khoảng 1.470 USD/ tấn
đã xuất khẩu khoảng 879.000 tấn cà phê (từ tháng 10 - 2008 ựến tháng 6 - 2009), tăng 22,4% so với cùng kỳ niên vụ trước (Kiên Cường, 2009) [9]
Năng suất và chất lượng cà phê ngày càng ựược nâng cao, từ lúc chỉ ựạt chưa quá 6 tạ cà phê nhân/ha vào năm 1980, ựến nay năng suất ựã tăng lên 6 Ờ
8 tấn Trong những năm gần ựây ựi ựôi với việc ựổi mới cơ chế quản lý, nhiều nông trường cà phê ựã ựược áp dụng ựồng bộ những thành tựu khoa học kỹ thuật ựưa năng suất bình quân lên ựến 2 - 3 tấn cà phê nhân/ha trên diện tắch hàng ngàn ha đặc biệt là trong kinh tế hộ gia ựình ựã có hàng trăm vườn ựạt
Trang 25năng suất 4 - 6 tấn nhân/ha Cá biệt cĩ nhiều hộ gia đình đạt được năng suất trên 8 tấn nhân/ha qua nhiều vụ thu hoạch (Nguyễn ðức Luyện, 1999) [22]
Sơn La thuộc vùng cà phê Tây Bắc chủ yếu trồng cà phê Chè Arabica
Cây cà phê bắt đầu được trồng trên đất Sơn La từ thời Pháp thuộc (đầu thập kỷ 90) với các giống Typyca, Bourbon, Catuai, Caturra Do bệnh gỉ sắt phát triển nặng nên các giống trước kia hầu hết bị xố bỏ, cịn lại chủ yếu là Catimor, một
số vùng trồng giống TN1, TN2 Tỉnh Sơn La đã trải qua một thời gian dài khĩ khăn, năm 1982 - 1992 trồng phân tán rải rác, khơng am hiểu kỹ thuật, các giống nhiễm sâu bệnh nặng, làm xố sổ 1.117 ha ðến năm 1999 do sương muối nặng, cưa phục hồi hơn 2000 ha, làm năng suất, sản lượng cà phê giảm trầm trọng Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh Uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh chương trình phát triển cà phê đã được đặc biệt quan tâm và ngày càng khẳng định được chỗ đứng của mình, đĩng gĩp một phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh, giải quyết cơng ăn việc làm cho hàng vạn lao động, xĩa đĩi giảm nghèo cho hàng nghìn hộ nơng dân ðến nay, đã cĩ rất nhiều hộ giàu lên nhờ trang trại cà phê, lượng cà phê nhân xuất khẩu hơn 1000 tấn cà phê sang các nước: ðức, Mỹ, Nhật Bản, Hà Lan… Thêm vào đĩ, sự xuất hiện của tổ hợp 3 nhà máy chế biến nơng sản mới được thành lập của tập đồn Thái Hồ, nhằm chế biến cà phê nhân xuất khẩu, thức ăn chăn nuơi và phân vi sinh tại xã Chiềng Mung - Sơn La sẽ khiến cà phê Sơn La ngày càng phát triển Uớc tính riêng cà phê nhân xuất khẩu sẽ tạo ra kim ngạch khoảng hơn 40 triệu USD, tính theo giá FOB hiện nay (Kiên Cuờng 2009) [9]
Như vậy, cùng với lịch sử phát triển cà phê Việt Nam, Sơn La là một tỉnh phía Bắc rất cĩ tiềm năng phát triển cà phê chè ðể gĩp phần tăng năng suất, sản lượng cà phê Sơn La, vấn đề rất cấp thiết hiện nay là phịng trừ sâu bệnh hại cà phê ðề tài này sẽ giải quyết một phần nhỏ cho việc phịng trừ sâu
hại, cụ thể là lồi rệp sáp mềm nâu C hesperidum, đây là đối tượng sâu hại
chủ yếu trên cà phê Chè ở Sơn La
Trang 262.2.2 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại cà phê
Việt Nam cũng như các nước trồng cà phê trên thế giới, vấn đề sâu hại
cà phê đã trở thành mối quan tâm lớn cho các nhà nghiên cứu, nĩ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và năng suất cà phê
Nguyễn Thị Chắt (1999) [3] cho biết: Tập đồn sâu hại cà phê vùng nhiệt đới cĩ 38 lồi, chúng tập trung trong các bộ như: Bộ cánh đều
Homoptera (10 lồi), bộ cánh vẩy Lepidoptera (12 lồi), bộ cánh cứng
Coleoptera (7 lồi), bộ cánh nửa Hemiptera (1lồi), bộ cánh tơ Thysanoptera (2lồi), bộ cánh màng Hymenoptera (1lồi) bộ 2 cánh Diptera (1lồi), bộ mối
Isoptera (1lồi) Quá trình điều tra theo dõi ở Việt Nam đã ghi nhận được 15 lồi và chỉ cĩ 6 lồi gây hại quan trọng đĩ là:
+ Rệp sáp giả Pseudococus spp
+ Rệp vảy xanh Coccus spp
+ Sâu đục thân mình hồng Zeurere coffea (Neitner)
+ Mọt đục cành Xyleborus morstatti (Hag)
+ Mọt đục quả cà phê Stephanoderes hanpei (Fer) và 9 lồi khác thường
xuyên xuất hiện nhưng gây hại khơng đáng kể
Các lồi sâu hại chủ yếu thường gặp trên các vườn cà phê ở Việt Nam gồm cĩ 22 lồi Trong đĩ sâu hại phổ biến ở rễ 4 lồi, sâu hại chủ yếu ở thân, cành 6 lồi, sâu hại chủ yếu ở lá 9 lồi, sâu hại chủ yếu ở chùm quả 3 lồi, (Vũ Khắc Nhượng và ðồn Triệu Nhạn, 1989) [27]
Kết quả điều tra nghiên cứu về thành phần sâu hại cà phê chè, ở một số vùng miền bắc nước ta trong 5 năm 1990 - 1994) đã thu thập được 23 lồi cơn trùng và nhện hại, trong đĩ cĩ 4 lồi hại thân, 2 lồi hại cành, 2 lồi hại cây con và 12 lồi hại lá Trong số đĩ cĩ 15 lồi thường xuyên cĩ mặt trên vườn
Trang 27lá Có 4 loài thường xuyên có mặt trên vườn cà phê và gây thiệt hại có ý nghĩa kinh tế quan trọng ñó là sâu ñục thân, sâu tiện vỏ và một số loài rệp (rệp sáp giả, rệp nâu mềm, ngoài ra ở một số vùng mọt ñục hạt cà phê có mật ñộ và tỷ
lệ hại rất cao (Phạm Thị Vượng và Trương Văn Hàm, 2000) [50]
ðối với Vùng Tây Nguyên, kết quả ñiều tra dịch hại cà phê trong 3 năm (1996 - 1998) của Trung tâm Bảo vệ thực vật miền Trung ñã phát hiện 29 loài dịch hại, gồm 12 loài côn trùng, 14 loài nấm, 2 loài tuyến trùng và một hiện tượng vàng lá sinh lý Những loài rất phổ biến thường gặp bao gồm: rệp vẩy xanh, rệp sáp, mọt ñục cành, sâu ñỏ ñục thân, bệnh gỉ sắt, bệnh ñốm mắt cua
và hiện tượng vàng lá sinh lý…(ðoàn Công ðỉnh, 1999) [12]
Tại Gia Lai, trong số hơn 10 loài sâu bệnh có tới 5 loài gây thiệt hại ñáng kể là: Rệp sáp hại chùm quả, bệnh lở cổ rễ, bệnh thối rễ tơ, bệnh gỉ sắt
Trong nhóm rệp sáp hại chùm quả ñã ghi nhận ñược 2 loài là: Planococcus
citri và Pseudomonas adoridum có hai tua cuốn thân dài bằng chiều dài cả
thân rệp (Vũ Khắc Nhượng và CTV, 1999) [26]
Kết quả ñiều tra và thu thập thành phần sâu hại cà phê ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên phát hiện có 12 loài thuộc 5 bộ ñó là: Bộ cánh cứng
Coleoptera (5 loài), bộ cánh vẩy Lepidoptera (3 loài), bộ cánh ñều
Homoptera (2 loài), bộ cánh thẳng Orthoptera (1 loài) và bộ cánh nửa
Hemiptera (1 loài), (Viện Bảo vệ thực vật, 1999) [48]
Phan Quốc Sủng (1995) [33] khi nghiên cứu về thành phần sâu hại cà phê chủ yếu ở Việt Nam ñã nhận xét: ðối tượng sâu hại cà phê khá phong phú, song gây hại chủ yếu gồm 13 loài Những sâu hại phổ biến bao gồm: Rệp vảy xanh, rệp vảy nâu, mọt ñục cành, mọt ñục quả, rệp sáp và sâu ñục thân
Nhìn chung, thành phần sâu hại cà phê rất phong phú, dao ñộng từ 12 -
24 loài, tập chung chủ yếu là, sâu ñục thân, mọt ñục cành, mọt ñục quả, và ñặc biệt là các loài rệp sáp ðây là những loài sâu hại chủ yếu, ảnh hưởng lớn ñến sinh trưởng phát triển cây cà phê ở hầu hết các giai ñoạn
Trang 282.2.3 Tác hại của một số sâu hại chính trên cà phê
Về tác hại của một số sâu hại chính trên cà phê cho ñến nay nhiều nhà
nghiên cứu ñã tìm hiểu tập chung vào các ñối tượng gây hại ñáng kể như: sâu
ñục thân, rệp sáp, mọc ñục cành, mọt ñục quả, sâu tiện vỏ
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Vượng và Trương Văn Hàm (2000) [50] khi nghiên cứu về thành phần sâu hại cà phê chè ở các tỉnh phía
Bắc cho biết: Trưởng thành sâu ñục thân mình trắng (Xylotrechus quadripes
Chev) hoạt ñộng trong biên ñộ nhiệt ñộ từ 25 - 36oC Phát sinh 2 ñợt chính, ñợt 1 vào tháng 4 - 5, ñợt 2 vào tháng 9 - 10, ñỉnh cao sâu non vào tháng
6 - 7 Phan Quốc Sủng (1995) [32] có nhận xét: Sâu hồng (Zeuzera coffea
Nietner) thường ñục vào thân hay cành cà phê vối trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, sâu ñục thân mình trắng phá hại cà phê chè một cách nghiêm trọng mang tính huỷ diệt, nếu thiếu các biện pháp phòng trừ tích cực Tác hại của sâu này
ở phía Bắc nặng hơn ở phía Nam
Cà phê chè từ năm thứ 4 trở ñi tỷ lệ cây bị ñục thân mình trắng
Xylotrechus quadripes Chev (sâu Bore) hại ñạt xấp xỉ 30% và càng những năm về sau số cây bị hại tăng càng nhiều, dẫn ñến hậu quả chưa hết chu kỳ kinh doanh thì tỷ lệ bị hại ñã ñạt tới 80%, cũng theo tác giả dẫn chứng về kết quả ñiều tra của trạm nghiên cứu Phủ Quỳ tác hại do sâu Bore gây ra ở năm thứ 6 biến ñộng từ 39,6 - 100% (Nguyễn Văn Hành và CTV, 1999) [16] Kết quả theo dõi ở Việt Nam trong những năm gần ñây cho thấy việc sử dụng giống Catimor với mật ñộ dày trên 5000 cây/ha ñã phần nào giảm ñược tác hại của sâu Bore (Hoàng Thanh Tiệm, 1999) [34]
Sâu tiện vỏ Dihammus cervinus Hope ghi nhận ở nhiều vùng trồng cà phê
chè như Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Thái Nguyên, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế Tại Sơn La, vẫn là sâu hại chủ yếu, thường xuyên phát sinh thành dịch gây hại nặng cho cà phê chè tập trung ở thời kỳ ñầu từ 1 ñến 3 năm tuổi vũ hoá từ giữa
Trang 29tháng 3 kết thúc vào cuối tháng 5 ñầu tháng 6 Sâu non phá hoại từ tháng 4 năm trước ñến tháng 5 năm sau (1 lứa/năm) Cà phê năm thứ hai ñã bị hại 20 - 26% số cây ðây là loài sâu hại nguy hiểm nhất cho các vườn cà phê chè ở các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, (Phạm Thị Vượng và Trương Văn Hàm, 2000) [50]
Võ Chấp (1991) [6] nghiên cứu về mọt ñục cành cà phê trong 3 năm 1989 -
1991) tại ðak Lak ñã kết luận: Mọt ñục cành (Xyleborus morstatti Hazed) phá hại
cà phê chủ yếu trong mùa khô, nặng nhất vào tháng 11, 12 và tháng 1 năm sau Một vòng ñời của mọt ñục cành kéo dài từ 34 - 44 ngày, trung bình có 24,2 con/tổ
do ñó khả năng lây lan rất nhanh trong ñiều kiện thời tiết thuận lợi
Về tác hại của mọt ñục cành cà phê (Xyleborus morstatti H.) trong 3
năm (1965 - 1967) trên nhiều nông trường cà phê ở miền Bắc ñặc biệt là hai nông trường Sông Lô và Phú Hộ, cà phê bị mọt phá hại nghiêm trọng, nhiều vườn bị chết khô 2/3 số cành, sản lượng giảm trên 50%, (Nguyễn Sỹ Nghị,
1982) [24] ðối với mọt ñục cành (Xyleborus morstatti H.) chúng phá hại
mạnh nhất là cành cà phê ở giai ñoạn kiến thiết cơ bản, hại ở cà phê Vối mạnh hơn cà phê Chè và cà phê Mít, mọt phá hại mạnh nhất trong mùa khô và trong những vườn cây rậm rạp, (Theo Vũ Cao Thái 1999) [35]
Mọt ñục quả (Stephanoderes hampei Feniere) cũng là một trong những ñối
tượng gây hại khá nghiêm trọng Mọt ñục quả là loài côn trùng biến thái hoàn toàn, vòng ñời của nó kéo dài dao ñộng từ 43 – 54 ngày (Ung ðoàn Hùng, 1987) [18]
Nhiều vườn cà phê Vối ở Tây Nguyên bị mọt ñục quả tới 60 - 70 %, có quả chứa tới 72 con mọt như Nông trường Ea Tiêu - Dak Lak (Nguyễn Sỹ Nghị, 1982)[25] Mọt ñục quả là sâu hại chính của cà phê ở Dak Lak, tỷ lệ quả bị hại còn lên ñến 50% ở một vài vùng nhỏ trong một số tháng trong năm và mọt có thể lưu chuyển quanh năm trên ñồng ruộng (Võ Chấp và CTV, 1991)[7]
Các quả cà phê bị hại bởi mọt ñục quả làm cho các hạt bị thủng và bị ñánh lỗi “hạt bị sâu” theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 4193 – 86) Theo tiêu
Trang 30chuẩn này, nhân bị sâu mọt ñục thủng lỗ hoặc gặm nhấm xung quanh lỗi là 0,1, nhân bị ñen cả bên ngoài và bên trong lỗi là 1 (Nguyễn Văn Thường, 1999) [46] Tại Sơn La, loài mọt ñục quả cũng là ñối tượng gây hại nghiêm trọng ñối với cà phê Chè từ năm 2002 - 2004, ñiển hình như xã Hua La, Chiềng Sinh năng suất cà phê giảm tới 10% (Nguyễn ðức Thuấn, 2004) [44]
Về tác hại của rệp, kết quả ñiều tra hằng năm tại các tỉnh phía Bắc có hàng ngàn ha cà phê chè bị nhiễm rệp nặng, ñã xác ñịnh ñược 6 loài rệp hại cà phê chè là rệp xanh mềm, rệp vẩy, rệp sáp nâu lồi, rệp muội ñen Trong ñó có
2 loài thường xuyên phát sinh và gây thành dịch phải phòng trừ, ñó là: Rệp
sáp giả Planococcus citri và rệp sáp nâu mềm (Parasaissetia nigra Nietner)
Hai loài rệp này không chỉ hại cà phê chè mà còn hại tất cả các giống cà phê trồng phổ biến trên nhiều vùng trong cả nước Những năm hạn hán kéo dài, tỷ
lệ hại do chúng gây ra càng nặng, hại cà phê từ tuổi nhỏ ñến cà phê ở giai ñoạn kinh doanh Riêng tại Sơn La, cà phê chè bị hại từ 11 - 69% số cây ở tất
cả các tuổi (Phạm Thị Vượng và Trương Văn Hàm, 2000) [50]
Rệp vảy xanh cũng là ñối tượng khá nguy hiểm, chúng hại nặng trên các vườn cà phê trồng mới Kết luận ñiều tra khảo sát Tây Nguyên của Trường ðại học Nông nghiệp I, loài rệp này hại phổ biến trên 30% số vườn cà phê trồng mới của các tỉnh Tây Nguyên là Dak Lak, Gia Lai và Kom Tum (Nguyễn Sỹ Nghị, 1982) [24] Tác hại của rệp rất lớn, trên các cây cà phê bị rệp nặng, tỷ lệ quả rụng tăng nhanh ngay từ tháng 3 và tháng 4, năng suất của những cây bị hại nặng
có thể giảm từ 20 - 40% so với cây không có rệp (Vũ Văn Tố, 2000) [41]
Theo Vũ Khắc Nhượng và ðoàn Triệu Nhạn (1989) [27], ước tính của các chuyên gia cà phê trong và ngoài nước thì sâu hại ñã làm mất từ 10 - 50% sản lượng,
do bệnh làm mất từ 30 - 70% sản lượng và cỏ dại làm mất 5 - 50% sản lượng
Như vậy, các kết quả nghiên cứu tập chung vào các ñối tượng sâu hại như mọt ñục cành, mọt ñục quả, sâu ñục thân, rệp sáp với tác hại ñáng kể Trong ñó rệp sáp ñã gây hại rất lớn cho cà phê tại các tỉnh phía Bắc, nhất là Sơn La
Trang 312.2.4 Những nghiên cứu về rệp sáp hại cà phê ở Việt Nam
2.2.4.1 Phân lo ại rệp sáp
Về sự phân loại của rệp sáp, do tính chất gây hại nghiêm trọng và tính phổ biến của rệp sáp trên nhiều loại cây trồng khác nhau, do vậy mà rệp sáp
ñã trở thành ñối tượng thu hút nhiều sự tham gia của các nhà phân loại
Theo Nguyễn Thị Chắt (1999) [3] cho biết: rệp sáp hại cà phê ở nước ta
có nhiều loài khác nhau, tập chung chủ yếu một số loài sau:
- Rệp sáp giả một cặp ñuôi ngắn: Pseudococcus citri (Risso)
- Rệp sáp giả một cặp ñuôi dài: Ferisia virgata
- Rệp sáp giả một cặp ñuôi dài: Pseudococcus longspinus
- Rệp sáp giả một cặp ñuôi ngắn: Pseudococcus citri (Rissocunus)
- Rệp sáp giả 4 cặp ñuôi dài: Pseudococcus sp 4
Trần Kim Loang (1999) [21] qua quá trình theo dõi sâu hại cà phê vùng Buôn Ma Thuột nhận thấy những loại rệp hại thân, lá, quả có khả năng gây hại phổ biến cho Tây Nguyên hiện nay là:
- Rệp sáp mềm xanh: Coccus viridis (Green)
- Rệp vảy nâu: Saissetia hemispha (Eurica)
- Rệp sáp hại quả: Pseudococcus sp
- Rệp 2 ñuôi
Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, trong 23 loài dịch hại có 4 loài rệp hại
cà phê sau: Rệp vảy xanh (Coccus viridis Green), rệp sáp (Plannococcus sp.), rệp vảy nâu (Coccus hesperidum Linnaeus), rệp phấn trắng (Pseudococcus sp.) (Viện Bảo vệ Thực vật, 1996) [49]
Tóm lại, thành phần rệp sáp hại cà phê hiện nay rất phong phú Tuy nhiên, trong quá trình ñiều tra và thu thập số liệu tại Chi cục Bảo vệ thực vật
Sơn La chúng tôi nhận thấy rằng loài rệp sáp mềm nâu (C hesperidum L.) là
loài gây hại rất phổ biến, chiếm hầu hết trên ñịa bàn toàn tỉnh, chúng gây hại nghiêm trọng cho cà phê Sơn La, và là ñối tượng nghiên cứu của luận văn này
Trang 322.2.4.2 ðặc ñiểm hình thái của rệp sáp
Rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum Linnaeus thuộc họ rệp sáp mềm
Coccidae , bộ Homoptera, hình thái cấu tạo chung của họ Coccidae là: Kích
thước cơ thể từ 3 - 9mm, hình quả trứng hoặc hơi tròn Hai bên cơ thể có thể ñối xứng hoặc không Lớp sáp phủ trên cơ thể các loài rệp Cơ thể chia ñốt không rõ ràng ,ñầu, ngực, bụng thường hợp lại làm một Râu ñầu có 6 - 8 ñốt Mắt nhỏ, bụng không có lỗ thở Cuối bụng có một khe nẻ ở phía mông rất rõ cho nên họ rệp này còn có tên là rệp sáp nẻ mông Con ñực có một ñôi cánh, râu ñầu có 10 ñốt Mắt ñơn (4 - 12 mắt), cuối bụng có hai sợi lông hình roi trắng (Nguyễn Viết Tùng, 2006) [42]
Vũ Quang Giảng (2001) [15] nghiên cứu về rệp sáp nâu Parasaissetia
nigra Nietner cũng thuộc họ rệp sáp mềm Coccidae, bộ Homoptera, tại Sơn
La cho biết: Pha trứng của rệp sáp nâu này có hình oval, trứng mới ñẻ có màu trong suốt, dài 0,23 - 0,28, rộng 0,16 - 0,22 mm Pha rệp non lúc mới nỏ có hình oval, phía bụng hơi thon, râu ñâu rất phát triển, có một ñôi mắt ñen lộ rõ Pha trưởng thành có hình oval lồi, râu và mắt thoái hoá, chân kém phát triển
co lại dưới phần bụng, lưng màu nâu sẫm, nhẵn và bóng
Theo nghiên cứu của Saing Sophath (2004) [30] thì rệp sáp mềm nâu
C Hesperidum còn có tên gọi khác: Lecanium hesperidum L (1840),
Calymmantus hesperidum (Costa) (1835), Calupticus hesperidum (1858),
Lecanium lauri (1867) Hình thái cấu tạo: Cơ thể con cái dài 2,5 – 3,5 mm; rộng
2 – 2,5 mm; hình bầu dục không ñều, trước hẹp sau mở rộng dần, hình dạng cơ thể màu vàng nhạt, giai ñoạn sâu non màu rất nhạt, hơi trong suốt, rệp càng lớn màu sắc cơ thể cành ñậm, nâu hay nâu vàng Cơ thể cũng lồi cao dần lên, chính giữa lưng có ñường nổi rõ ràng và gồ cao, màu sắc cũng tối hơn Hai ñôi lỗ thở
có xu hướng lệch về phía trước cơ thể, có những sợi sáp màu trắng hơi thò ra ngoài ở phía lưng trên vị trí của lỗ thở có vệt tối chạy về phía trung tâm của lưng Râu ñầu có 7 ñốt Nắp che lỗ hậu môn có hình tam giác và sẫm màu
Trang 332.2.4.3 ðặc ñiểm sinh học của rệp sáp
Rệp sáp mềm nâu C hesperidum là loài sinh sản ñơn tính tự chọn toàn
cái Dạng sinh sản này có ñặc ñiểm: những quả trứng ñược thụ tinh sẽ nở ra rệp cái và rệp ñực, còn những trứng không ñược thụ tinh lại chỉ nở ra toàn rệp cái (Nguyễn Viết Tùng, 2008) [43]
Vũ Quang Giảng (2001) [15] cho biết: Tiềm năng sinh sản của rệp sáp
nâu Parasaissetia nigra Nietner tương ñối nhiều, mỗi rệp trưởng thành có 91
- 331 quả trứng Vòng ñời của rệp trên môi trường nuôi cấy (cây cà phê) là tương ñối dài, dao ñộng từ 53 ñến 78 ngày Thời gian sống của trưởng thành
từ khi bắt ñầu ñẻ ñến chết sinh lý dao ñộng từ 12 - 24 ngày
Rệp sáp nâu Parasaissetia nigra Nietner thường xuyên phát sinh thành
dịch trên diện rộng nên cần phải phòng trừ Một rệp cái có khả năng ñẻ từ 75 -
115 trứng Vòng ñời từ 28 - 35 ngày trong vụ hè (từ tháng 5 ñến tháng 9) ở nhiệt ñộ nuôi trung bình 27,5 - 29,2 0C và ẩm ñộ trung bình 78 – 82% Rệp mềm nâu có ñỉnh cao gây hại từ tháng 7 ñến tháng 10 hàng năm Tỷ lệ cây bị hại từ 22 - 57% (Phạm Thị Vượng và Trương Văn Hàm, 2000) [50]
Theo Trần Kim Loang (1999) [21], quá trình theo dõi sâu hại cà phê
vùng Buôn Ma Thuột nhận thấy: Vòng ñời của rệp vảy xanh (Coccus viridis
Green): 42 - 57 ngày, vòng ñời của rệp sáp: 30 ngày, một con trưởng thành có thể ñẻ 500 trứng Giai ñoạn từ trứng ñến sâu non chỉ từ 5 - 7 ngày
2.2.4.4 T ập quán sinh sống và gây hại của rệp sáp
Rệp sáp có thể gây hại trên nhiều bộ phận khác nhau của cây cà phê như ở cuống quả, chùm quả, chùm hoa, các phần non của cây và ở cả bộ rễ Khi rệp sáp gây hại trên chùm quả thì quả bị khô héo và có hiện tượng rụng non, nếu rệp sáp gây hại ở bộ rễ thì sau ñó có sự xâm nhập tiếp theo của các nấm ký sinh, dẫn ñến cây sinh trưởng còi cọc, lá bị vàng dần, nếu bị nặng cây
sẽ chết (Phan Quốc Sủng, 1995 [33]; ðoàn Công ðỉnh và CTV, 1999) [12]
Trang 34Rệp sáp hại quả bắt ñầu ñẻ trứng vào ñầu mùa hè ở các kẽ lá, nụ hoặc chùm quả non Rệp non sau khi nở nhanh chóng tìm nơi sinh sống cố ñịnh Mùa hè sinh sản rất nhiều, làm quả non bị rụng Nơi nào có rệp thì sau ñó nấm muội ñen phát triển nhiều Rệp sáp hại rễ sinh sống ở quanh rễ, dưới ñất, tạo ra một lớp bọc không thấm nước ở quanh trục rễ Những cây bị hại vàng héo rồi chết (Vũ Khắc Nhượng và ðoàn Triệu Nhạn, 1989) [27]
Phạm Thị Vượng và Trương Văn Hàm (2000) [50] cho biết: Loài rệp
sáp nâu (Parasaissetia nigra Nietner) không chỉ hại cà phê chè mà còn hại tất
cả các giống cà phê trồng phổ biến trên nhiều vùng trong cả nước Những năm hạn hán kéo dài, tỷ lệ hại do chúng gây ra càng nặng Chúng hại trên tất
cả các tuổi cây Tại Sơn La, cà phê chè bị hại từ 11 - 69% số cây ở tất cả các tuổi Khi cây bị hại ở mức ñộ cấp 4 sẽ làm giảm ñến 66% năng suất Có thể nói khi có mật ñộ cao, thiệt hại do chúng gây ra là rất lớn, chúng không chỉ làm giảm năng suất cà phê ngay trong thời gian ñó, mà còn ảnh hưởng ñến năng suất cho cả những năm sau
2.2.4.5 Bi ến ñộng số lượng của rệp sáp
Rệp sáp Pseudococcus citri Risso hại quả cà phê ở các tỉnh Tây
Nguyên phát triển mạnh trong mùa khô, ñỉnh cao vào cuối mùa khô (tháng 4)
và giảm nhanh vào mùa mưa, trên các cây bị rệp sáp hại nặng tỷ lệ quả rụng tăng nhanh ngay từ tháng 3, tháng 4, năng suất có thể giảm từ 20 - 40% so với cây không bị rệp sáp (Vũ Văn Tố, 2000) [41]
Theo Vũ Khắc Nhượng (1999) [26] nghiên cứu về rệp sáp hại cà phê ở Gia Lai có nhận xét là từ tháng 2 ñến tháng 7 là thời gian thích hợp cho rệp sáp phát triển và sinh sản mạnh, còn từ tháng 8 ñến tháng 10 do mưa nhiều, liên tục nên rệp sáp ít ñẻ và ñẻ ít trứng, dẫn ñến tỷ lệ rệp trên ñồng ruộng lúc này giảm xuống rất rõ Rệp phát triển và sinh sản mạnh nhất ở nhiệt ñộ bình quân từ 20 -
250C và thời tiết có nắng mưa xen kẽ Trong khi ñó Nguyễn Thị Chắt (1999)
Trang 35[2] cho rằng rệp sáp ưa ẩm ñộ cao, vào mùa khô, mật ñộ rệp sáp trên các ñọt non, lá, hoa, quả giảm nhiều Trong năm rệp sáp phát triển 7 - 8 lứa
Rệp vảy xanh và vảy nâu thường xuất hiện quanh năm Rệp hại quả thường xuất hiện từ sau khi ra hoa cho ñến hết thời gian thu hoạch, thường gây hại nặng trong các tháng mùa khô và ñầu mùa mưa (Trần Kim Loang, 1999) [21]
Rệp sáp nâu (Parasaissetia nigra Nietner) thường phát triển mạnh
trong mùa hè, khi nhiệt ñộ và ẩm ñộ tăng cao Chúng Thường ñạt ñỉnh cao vào các tháng 6, 7, 8, sau ñó giảm dần vào các tháng mùa ñông khô lạnh (Vũ Quang Giảng, 2001) [15]
Như vậy, ñến nay chưa có kết quả nghiên cứu nào về diễn biến số
lượng loài rệp sáp mềm nâu (C hesperidum)
2.2.4.6 Phân b ố, ký chủ của rệp sáp
Về sự phân bố và ký chủ theo các tài liệu trong nước và ngoài nước ñều cho biết rệp sáp là loài côn trùng ña thực, phân bố rộng ðây là loài sâu hại phổ biến trên các vườn cà phê Việt Nam
Vũ Văn Tố (2000) [41], tham khảo tài liệu trong nước cho biết: ở miền Bắc nước ta rệp sáp phân bố ở hầu hết các vùng ñồng bằng, trung du, và một
số tỉnh miền núi như Lào Cai, Bắc Thái, Lạng Sơn, Sơn La; Còn ở Tây Nguyên ñã phát hiện thấy rệp sáp gây hại trên cà phê, sắn, khoai lang, các loại ñậu lạc, ñào lộn hột, cỏ trinh nữ và nhiều loài cỏ dại khác; Riêng tại tỉnh Sơn
La rệp sáp xuất hiện và gây hại trên các giống hiện có trồng ở Sơn La: Catura, Catimo, Bourbon
Vũ Quang Giảng (2008) [14] nghiên cứu về sự phân bố của loài rệp sáp
mềm nâu C hesperidum trên cà phê kết luận rằng: rệp sáp mềm nâu chủ yếu
tập trung ở tầng giữa và tầng ngọn của tán cây, loài này thường ñịnh vị gây hại nhiều ở những bộ phận còn non, chưa hoá gỗ, như cành bánh tẻ, chồi vượt Chúng tập hợp nhiều ở phần ít tiếp xúc với ánh sáng mặt trời như mặt dưới của cành Trong ñiều kiện khô lạnh, rệp sáp mềm nâu thường trú ngụ trên các chồi vượt trong tán và một phần trên các cành cà phê
Trang 36Về ký chủ của rệp sáp, Phạm Văn Biên (1989) [1] cho rằng: ngoài cây
cà phê ra, rệp sáp Pseudococcus citri còn gây hại trên nhiều loại cây như; hồ
tiêu, nho, cam, khoai tây…Theo Vũ Tố (2000) [41] nghiên cứu về ký chủ của
rệp sáp Pseudococcus citri cũng cho rằng: ngoài cây cà phê rệp sáp còn gây
hại trên nhiều cây trồng và cỏ dại như: Ngọc lan, nhãn, chôm chôm, sầu riêng, dứa, xoài, ca cao, hồ tiêu, ñu ñủ, bí ñỏ, mía, khoai lang, ñào lộn hột, bơ, ñậu lạc, muồng hoa vàng, sắn, cam, dâu, khoai tây, cỏ gấu, cây mắc cỡ, ngải cứu
Nhìn chung, có ít tài liệu nghiên cứu về rệp sáp mềm nâu
(C hesperidum) gây hại trên cà phê chè Vì vậy, việc nghiên cứu về loài rệp
hại nghiêm trọng này là cần thiết
2.2.5 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng ñến rệp sáp và các biện pháp
phòng trừ rệp hại cà phê
2.2.5.1 Nghiên c ứu về các yếu tố ảnh hưởng ñến rệp sáp
Rệp sáp phát sinh, phát triển, gây hại phụ thuộc rất nhiều vào các ñiều kiện sinh thái như: thiên ñịch, giống cà phê, ñiều kiện ñất ñai, kỹ thuật canh tác, cây che bóng và biện pháp phòng trừ Cho ñến nay ñã có một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng ñến rệp sáp tại Việt Nam
Vai trò của kẻ thù tự nhiên là rất quan trọng, là cơ sở cho biện pháp phòng trừ sinh học các loài rệp sáp Phan Quốc Sủng (1995) [32] trong quá
trình theo dõi rệp vảy xanh Coccus viridis Green ñã phát hiện ở nơi nào xuất
hiện rệp vảy xanh là nơi ñó có một loài bọ rùa ăn rệp Theo dõi khả năng ăn
bọ rùa trong phòng thí nghiệm thấy chúng có thể ăn từ 4,1 - 6,8 rệp/ ngày Ngoài ra trên ñồng ruộng còn xuất hiện một loài bướm ăn rệp hiện nay chưa ñịnh danh Bước ñầu khảo sát khả năng ăn thịt rệp của bướm này là 3,3 - 5,3 rệp/ngày Trên rệp vảy xanh còn có một số loài ong ký sinh chưa ñược ñịnh danh cụ thể Theo dõi tỷ lệ ong ký sinh trên ñồng rưộng bằng phương pháp thu mẫu ngẫu nhiên, tuỳ từng thời gian cho thấy có sự khác nhau về tỷ lệ ong
ký sinh biến ñộng từ 0,8 - 35%
Trang 37Bọ rùa thường ñẻ trứng vào các ñám rệp, ít khi bọ rùa ñẻ nhiều trứng một chỗ; khả năng ñẻ trứng của bọ rùa thường rất nhiều; thông thường một bọ rùa cái có thể ñẻ từ 200 - 300 trứng; bọ rùa ăn thịt có thời gian sống khá lâu, thường từ 3 - 7 tháng; sâu non ít hoạt ñộng nhưng cũng có khả năng tìm rệp
ñể ăn thịt, sâu non tuổi lớn có thể ăn hết 12 - 25 túi trứng trong một ngày, chúng cũng có thể ăn từ 200 - 300 rệp con hay 60 rệp trưởng thành trong một ngày (ðoàn Công ðỉnh, 1999) [12]
Một ngày bọ rùa ñỏ Chilocorus ribidus có thể ăn từ 4 - 6 rệp trưởng thành
Vòng ñời của bọ rùa ñỏ biến ñộng từ 35 - 58 ngày, trung bình 45 ngày Thời gian sống của bọ rùa ñỏ trưởng thành khi nuôi trong phòng trung bình 79,4 ngày, ngắn nhất 46 ngày, có con sống ñến 110 ngày (Ung ðoàn Hùng, 1987) [18]
ðối với 2 loài rệp muội Toxoptera aurantii Fonse và Aphis coffea N., thường bị kẻ thù tự nhiên tiêu diệt, trong ñó có hai loại bọ rùa là bọ rùa vàng và
bọ rùa ñỏ thuộc họ Coccinelidae; cả trưởng thành và ấu trùng của hai loài bọ rùa
này ñều ăn rệp, mỗi ngày một bọ rùa có thể ăn từ 5 - 7 rệp ðối với rệp vảy nâu
Saissetia hemispharica có loài kẻ thù tự nhiên là bọ cánh cứng Exochomus
quadripustulatus và nấm Cephalos poriumlecani (Vũ Khắc Nhượng, 2000) [28]
Theo Nguyễn Anh Diệp (1998) [11] thì bọ rùa ñỏ Chilocoris chinensia
còn ăn cả rệp sáp xanh nhưng mật ñộ thấp Ngoài bọ rùa ñỏ còn gặp ấu trùng
của bướm Eublemma sp có thể ăn từ 15 - 25 rệp sáp xanh/ngày
Bọ rùa hồng khá phổ biến trên cà phê, cả ấu trùng và trưởng thành ñều
ăn rệp sáp mềm xanh với số lượng nhiều Cơ thể bọ rùa hồng màu hồng hay màu ñỏ nhạt, hình trứng ngắn hoặc gần tròn gồ vùa phải, nhiều lông trắng nhỏ ấu trùng màu vàng nhạt, hình hạt ñậu, có nhiều gai Trứng màu trắng xám, hình bầu dục, trứng ñược ñẻ tập trung thành từng ñám dưới mặt lá Trung bình bọ rùa hồng trưởng thành ăn 7,0 ± 0,9 rệp/ngày, ấu trùng bọ rùa hồng ăn hết 5,3 ± 1 rệp/ngày (Nguyễn Huy Phát, 2000) [29]
Trang 38Vũ Văn Tố (2000) [41] nhận xét: có 4 loài côn trùng ăn rệp sáp, trong
ñó có 3 loài bọ rùa thuộc họ Coccinenlidae là: Bọ rùa ñỏ Rodolia sp., bọ rùa
nhỏ Cryptogonus horishamus Ohta, bọ rùa nhỏ hai chấm Scymnus sp và một loài thuộc họ chuồn chuồn cỏ Chrysopidae là bọ mắt nâu Chrysopa sp Trong
tất cả các loài bọ rùa thì phổ biến nhất là loài bọ rùa nhỏ 2 chấm Scymnus sp
sau ñó ñến bọ rùa nhỏ Cryptogonus horishamus Khả năng ăn rệp của bọ rùa
ñỏ Rodolia sp ñạt 5,6 rệp trưởng thành/ngày, còn bọ rùa nhỏ Cryptogonus
horishamus và Scymnus sp tiêu thụ tương ứng là 1,9 - 2,1 rệp trưởng
thành/ngày, bọ mắt nâu tiêu thụ 3,2 rệp trưởng thành/ngày
Theo Vũ Thị Nga và Nguyễn Thị Chắt (2003) [23], thành phần loài thiên ñịch của rệp sáp bao gồm: bọ rùa, ong ký sinh, bọ ñuôi kìm, sâu ăn rệp
sáp, Eublemma amabilis Moore, bọ cánh cứng và nấm Cephalosporium Lecanii Trong ñó, bọ ñuôi kìm Ebovellia Stali có một ñôi càng sau hình cái
kẹp dùng ñể tự vệ, bọ ñuôi kìm có màu ñen bóng, giữa ñốt bụng có khoang trắng và có ñiểm trắng ở ñỉnh râu, khả năng ăn rệp 4 - 5 cá thể rệp/ngày
Cũng theo Vũ Thị Nga, Nguyễn Thị Chắt (2003) [23] khi nghiên cứu
bước ñầu về sâu ăn rệp sáp Eublemma amabilis Moore (Lep: Noctuidae) cho
biết: Ấu trùng của sâu ăn rệp sáp có thể tấn công nhiều loại rệp sáp trong vòng
24 giờ, một ấu trùng tuổi cuối trung bình có thể ăn ñược 11,9 cá thể rệp sáp loài
Planococcus lilacilus hoặc 7,4 cá thể rệp sáp loài Dysmicoccus brevipes Khi
nuôi ỏ 27,5 - 28,20C và 83,8 - 85,6%, với thức ăn là Planococcus lilacilus Sâu
ăn rệp sáp Eublemma amabilis vòng ñời biến ñộng từ 45,4 ñến 50,7 ngày; trưởng thành có tuổi thọ trung bình 7,3 - 8,9 ngày; trưởng thành cái có khả năng ñẻ trứng không cao (95,1 - 111,3 trứng)
Về khả năng ăn rệp sáp giả gây hại gốc cà phê của bọ rùa cam thì
Nguyễn Thị Chắt và CTV (2001) [4] có nhận xét: Bọ rùa cam Chilococcus sp
có thể vừa ăn rệp sáp giả Pseudococcus citri Risso vừa ăn rệp vảy mềm xanh
Coccus viridis Green Một ngày, thành trùng bọ rùa cam ăn 2,0 - 2,4 thành trùng và 12,2 - 12,4 ấu trùng rệp sáp giả hoặc 4,6 - 4,8 thành trùng và 17,6 - 18,6 ấu trùng rệp vảy mềm xanh
Trang 39Ngoài thiên ựịch của rệp ra, một số biện pháp canh tác kỹ thuật cũng ảnh hưởng ựến rệp hại cà phê Vũ Quang Giảng (2001) [15], cho biết: tỷ lệ
cây bị rệp sáp nâu Parasaissetia nigra Nietner ở vườn thung lũng cao hơn
vườn bằng phẳng, vườn gần nhà cao hơn vườn xa nhà, vườn có cây che bóng (cây ăn quả) cao hơn vườn không có cây che bóng Cây tuổi 2, tuổi 3 tỷ lệ rệp cao hơn hẳn cây tuổi 1, tuổi 4
Nghiên cứu ảnh hưởng cây che bóng ựến sự gây hại của rệp sáp hại quả
trên cà phê Robusta có kết luận: Tỷ lệ cây và mức ựộ hại của rệp sáp hại quả ở
vườn có cây che bóng ựều thấp hơn vườn không có cây che bóng Tỷ lệ cây bị rệp cao ở vườn có cây che bóng kéo dài 1 tháng (giữa tháng 3 ựến ựầu tháng 4, ựạt tỷ
lệ 9 - 11%) Trong khi ựó, ở vườn không có cây che bóng kéo dài hơn 2 tháng (giữa tháng 2 ựến ựầu tháng 5, ựạt tỷ lệ 10 - 20% Tuy nhiên, sự chênh lệch sai khác không có ý nghĩa trong thống kê sinh học (Nguyễn Huy Phát, 2000) [29]
Võ Chấp (1997) [8] nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái ựến
rệp sáp hại rễ Pseudococus citri Risso cho biết: Rệp phát triển từ ựầu mùa
mưa và ựạt ựỉnh cao vào giữa mùa mưa khi ẩm ựộ ựất cao, sau ựó giảm xuống trong mùa khô Về cây che bóng (cây muồng) có ảnh hưởng ựến tỷ lệ rệp, vào mùa mưa (tháng 8) ở hai vườn có cây che bóng và không có che bóng tỷ lệ rệp và mức ựộ rệp không khác nhau, nhưng sang mùa khô (tháng 2) lại có sự khác nhau tuy không lớn, tác giả cho rằng do mùa khô, nhất là vườn chưa giao tán, nếu không có cây che bóng thì ánh sáng sẽ làm tăng nhiệt ựộ ựất, ảnh hưởng ựến sự phát triển của rệp Tác giả tiếp tục nghiên cứu tỷ lệ và mức
ựộ cây bị rệp dưới tán cây che bóng và xa cây che bóng cho kết quả tương tự
đó là trong mùa mưa không có sự sai khác, còn mùa khô thì cây ựược che bóng tỷ lệ rệp và mức ựộ rệp cao hơn hẳn cây không ựược che bóng
Tóm lại, những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng ựến rệp sáp khá phong phú Tập chung chủ yếu là yếu tố kẻ thù tự nhiên Tuy nhiên, chưa có
nghiên cứu cụ thể về các yếu tố ảnh hưởng ựến rệp sáp mềm nâu Coccus
hesperidum Linnaeus
Trang 402.2.5.2 Bi ện pháp phòng trừ hóa học
ðể trừ rệp cần phát hiện những cây, những vùng bị rệp, bộ phận hại ở ñâu: lá, ñọt non hay cành non, ñể phun thuốc kịp thời tránh cho rệp lây lan từ cây này sang cây khác Các thuốc có hiệu lực cao là: Methyl parathion, Goger, Bi58, Tinox phun trực tiếp vào nơi có rệp trích hút với nồng ñộ 0,1 - 0,2, phun hai lần cách nhau 7 - 10 ngày Ở những nơi cà phê bị rệp hại có nhiều kiến dùng Sumithion BTN rắc một lớp mỏng quanh gốc ñể diệt kiến Kiểm tra trong vườn ươm nếu có rệp thì phải phun thuốc trước khi ñem trồng (Phan Quốc Sủng, 1995) [32]
Nguyễn Thị Chắt và CTV (2001) [4] nghiên cứu về hiệu quả một số thuốc như: Lanate 0,3%, Bi 58 0.375% ñạt hiệu quả rất cao trừ rệp sáp mềm xanh; Diapos 30 - 75g/gốc, Prynex 0,375% 0,5 - 1l/gốc Dầu D_C Tron plus 7% có hiệu quả cao trừ rệp sáp giả hại gốc cà phê, dầu D_C Tron plus 0,3% kết hợp với 0,2% Prinex 20EC sau 7 ngày xử lý ñạt 93,7% Sau 1 tháng chưa thấy rệp sáp giả gây hại gốc xuất hiện
Theo Nguyễn Huy Phát (2000) [29] thì cả ba loại thuốc Supracide 40
ND, Cymerin 10 EC và dầu khoáng DC-Tron Plus ñều có hiệu lực cao ñối với rệp sáp hại quả và rệp sáp mềm xanh (ðối với rệp sáp hại quả hiệu lực ñạt từ 87,7 - 93,1%, ñối với rệp sáp mềm xanh hiệu lực từ 84,3 - 93,4%) Dầu khoáng DC-Tron Plus rất ít ñộc với kẻ thù tự nhiên
Võ Chấp (1997) [8] nghiên cứu các loại thuốc trừ rệp sáp Pseudococcus
citri Risso cho rằng: các thuốc có tác dụng diệt rệp cao như Dimecron 0,2%, Supracide 0,1 - 0,2%, Bi 58 0,2%, với lượng 1lít dung dịch/gốc, ñặc biệt là khi kết hợp với dầu lửa 0,5% Hoặc các dạng thuốc hạt như Sevidol 20g/gốc, Furadan 30g/gốc
ðối với rệp sáp nâu Parasaissetia nigra (Nietner), có thể dùng một trong các thuốc sau luân phiên nhau trừ rệp: Supracide 40 ND (0,2%), Visher 25ND, Vibasa 50ND, Diazinon 50ND + Chất thấm dính (CTD), Vidiethoat + CTD Trong 3 thuốc ñó thì Supracide 40 ND có hiệu lực cao nhất Trước khi phun phải tiến hành tỉa cành cho thông thoáng, phun ngửa tay ñể cho thuốc tiếp xúc với rệp (Vũ Quang Giảng, 2001) [15]