Luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I
-
Phạm Thị HOà
Nghiên cứu tình hình sâu hại đậu rau và biện pháp phòng chống trong vụ Xuân năm 2006 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực và ch−a hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đ/ đ−ợc cảm ơn Các
thông tin, tài liệu trong luận văn này đ/ đ−ợc ghi rõ nguồn gốc
Trang 3Lời cảm ơn
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đ nhận
được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ và động viên
của gia đình, bạn bè
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Nguyễn
Viết Tùng, người đ dành cho tôi sự chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt thời
gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo Bộ môn Côn
trùng, Khoa Nông học, Khoa Sau Đại học Trường Đại học Nông nghiệp I Hà
Nội đ có sự giúp đỡ quý báu trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin cám ơn Anh em cán bộ trong Trạm Khuyến nông huyện Hưng
Nguyên tỉnh Nghệ An đ tạo điều kiện cho tôi công tác và học tập tốt
Tôi xin cám ơn sự giúp đỡ của các địa phương và bà con nông dân x Nghi
Ân huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến mọi người trong gia đình, bạn bè đ
động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trang 4Mục lục
3 Địa điểm, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 35
4.1 Thành phần sâu hại đậu rau ở Nghi Lộc – Nghệ An 41
4.2 Kết quả nghiên cứu quy luật phát sinh gây hại của một số sâu hại chính 44
4.2.1 Những nghiên cứu về sâu đục quả Maruca testulalis 44
4.2.2 Một số kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá Liriomyza sativae 55
4.3 Kết quả nghiên cứu biện pháp phòng trừ một số sâu hại chính trên đậu rau 64
4.3.1 Kết quả nghiên cứu phòng trừ sâu đục quả Maruca testulalis 64
ả
ả
ả
Trang 54.4 KÕt qu¶ nghiªn cøu biÖn ph¸p canh t¸c 70
4.5 Kü thuËt phßng chèng s©u h¹i ®Ëu rau theo h−íng sö dông hîp lý thuèc
4.5.1 Gièng ®Ëu s¶n xuÊt trong vô §«ng xu©n vµ vô Xu©n 72
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
BVTV: B¶o vÖ thùc vËt G§ST: Giai ®o¹n sinh tr−ëng KHKT: Khoa häc kü thuËt
Trang 7Bảng 4.3: Diễn biến mật độ sâu đục quả trên đậu đũa và đậu côve
vụ Xuân năm 2006 tại vùng Nghi Lộc - Nghệ An 49 Bảng 4.4: Diễn biến mật độ sâu đục quả trên đậu đũa và đậu côve
vụ Xuân năm 2006 tại ruộng thí nghiệm ở Nghi Ân - Nghi Lộc
Bảng 4.5: So sánh mức độ gây hại của sâu đục quả trên một số giống đậu
đũa gieo trồng trong vụ Đông xuân và Xuân 2006 tại Nghi Lộc
Bảng 4.6: Mức độ gây hại của sâu đục quả đậu trên các giống đậu côve
trong vụ Đông xuân và Xuân chính vụ tại huyện Nghi Lộc tỉnh
Bảng 4.7: Thành phần ký chủ của ruồi đục lá Liriomyza sativae vụ Xuân
Bảng 4.8: Diễn biến mật độ của dòi đục lá trên đậu đũa và đậu côve vụ
Xuân năm 2006 tại ruộng thí nghiệm ở Nghi Ân Nghi Lộc -
Bảng 4.9: Diễn biến mật độ của ruồi đục lá trên các giống đậu đũa và đậu
côve vụ Xuân năm 2006 tại vùng Nghi Lộc - Nghệ An 60 Bảng 4.10: Tỷ lệ (%) lá bị hại do ruồi đục lá trên các giống đậu đũa tại
Bảng 4.11: Tỷ lệ (%) lá đậu bị hại do ruồi đục lá trên các giống đậu côve
Trang 8Bảng 4.12: Hiệu lực của một số loại thuốc trừ sâu đục quả đậu Cô ve vụ
Đông xuân 2006 tại Nghi Lộc - Nghệ An (Diện hẹp) 65 Bảng 4.13: Hiệu lực của một số loại thuốc trừ sâu đục quả đậu Cô ve vụ
Đông xuân 2006 tại Nghi lộc - Nghệ An (Diện rộng) 66 Bảng 4.14: ảnh hưởng của thời gian phun thuốc khác nhau trừ sâu đục
Bảng 4.15: Hiệu lực của một số loại thuốc trừ ruồi đục lá trên đậu Côve
Bảng 4.16: ảnh hưởng của một số biện pháp canh tác đến tỷ lệ gây hại
Trang 9Danh mục các hình
Biểu đồ 4.1 Diễn biến mật độ sâu đục quả trên đậu đũa và đậu côve vụ
Xuân năm 2006 tại vùng Nghi Lộc - Nghệ An 50 Biểu đồ 4.2: Diễn biến mật độ sâu đục quả trên đậu đũa và đậu côve vụ
Xuân năm 2006 tại ruộng thí nghiệm ở Nghi Ân Nghi Lộc -
Biểu đồ 4.3: Diễn biến mật độ của dòi đục lá trên đậu đũa và đậu côve vụ
Xuân năm 2006 tại ruộng thí nghiệm ở Nghi Ân Nghi Lộc -
Biểu đồ 4.4: Diễn biến mật độ của ruồi đục lá trên các giống đậu đũa và
đậu côve vụ Xuân năm 2006 tại vùng Nghi Lộc - Nghệ An 61
Trang 101 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đậu rau là cây trồng được con người biết đến sớm, khó có thể tìm thấy
cây trồng nào có tác dụng nhiều mặt như cây đậu rau: ngoài việc cung cấp
thực phẩm, rau, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp, đậu rau còn có
tác dụng cải tạo đất
Đậu rau là cây trồng ngắn ngày, sản phẩm có giá trị kinh tế cao cho nên
hiện tại và tương lai nhất định sẽ giữ một vị trí xứng đáng trong nền nông
nghiệp Việt Nam
Diện tích đậu rau đang ngày được mở rộng nhưng năng suất và sản lượng
tăng chưa tương ứng, một trong các nguyên nhân là do sâu bệnh hại gây ra
Trong quá trình phòng chống sâu bệnh hại, từ trước đến nay nông dân
chủ yếu là dùng thuốc hoá học
Đời sống ngày được nâng cao, nhu cầu đòi hỏi mức độ an toàn về môi
trường và các sản phẩm nông nghiệp là điều tất yếu
Như vậy, chắc chắn rằng muốn có rau an toàn chúng ta phải có những
biện pháp phòng chống sâu hại hợp lý dựa trên cơ sở khoa học về thành phần
sâu hại, đặc điểm gây hại, quy luật phát sinh, mức độ gây hại và các biện pháp
phòng chống
Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu tình hình sâu hại đậu rau và biện pháp phòng chống
trong vụ Xuân năm 2006 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”
1.2 Mục đích của đề tài
- Trên cơ sở nghiên cứu về thành phần, đặc điểm sinh học, quy luật phát sinh
gây hại của một số loài sâu hại đậu rau chủ yếu, góp phần đề xuất biện pháp phòng
chống đạt hiệu quả kinh tế, an toàn cho người tiêu dùng và môi trường
Deleted: ả
Trang 111.3 Yêu cầu của đề tài
- Nắm được thành phần và đặc điểm phân bố ký chủ của một số loài sâu hại trên đậu rau vụ xuân năm 2006 tại huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An;
- Nắm được tình hình, diễn biến số lượng và mức độ gây hại của sâu hại chủ yếu;
- Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp phòng chống thích hợp bằng việc thử nghiệm một số biện pháp phòng chống sâu đục quả Maruca testulalis, ruồi đục lá Liriomyza trifolii bằng thuốc hoá học ngoài đồng ruộng,
so sánh mức độ và tỷ lệ hại của các loài sâu trên các công thức luân canh cây trồng khác nhau
1.4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Qua số liệu điều tra nghiên cứu chúng tôi xác định được mối quan hệ giữa các giống đậu rau với các loài sâu hại chính (sâu đục quả Maruca testulalis, ruồi đục lá Liriomyza trifolii) trên đồng ruộng ;
Cung cấp số liệu khoa học về đặc điểm phát sinh, gây hại của các loài sâu
đục quả Maruca testulalis, ruồi đục lá Liriomyza trifolii;
Cung cấp các số liệu khoa học về ảnh hưởng của các biện pháp canh tác, biện pháp phòng trừ sâu hại đến năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất đậu rau
Trang 122 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trên thế giới đậu rau là một trong những nhóm cây trồng quan trọng cung cấp rau, thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người và làm thức
ăn gia súc Đậu rau bao gồm các giống: đậu đũa, đậu chạch, đậu bở, đậu côve,
đậu hà lan, đậu ván,…
Sâu hại quan trọng trên đậu rau gồm các loài: sâu đục quả Maruca testulalis G là loài dịch hại khá phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới; ruồi đục lá Liriomyza sativae loài này gây hại trên rất nhiều loài cây trồng họ
đậu, họ bầu bí, họ cà, … chúng gây hại trên rất nhiều loài cây trồng làm thiệt hại về phẩm chất và năng suất và một số loài rầy, rệp muội đen, bọ trĩ, nhện, sâu khoang, sâu keo,… Chính vì vậy sâu hại đậu rau đ được rất nhiều các tác giả trên thế giới nghiên cứu, các tác giả đ điều tra đánh giá về mức độ thiệt hại do sâu hại gây ra, điều tra thành phần sâu hại trên các cây họ đậu, một số kết quả nghiên cứu về biến động quần thể, thành phần cây ký chủ, đặc điểm sinh học và thiên địch của một số sâu hại chính Nhiều tác giả đ đề cập đến biện pháp phòng trừ bằng thuốc hoá học Gần đây nhất có công trình nghiên cứu về loài Maruca testulalis ở ấn Độ của Sharma và CTV, 1999 [ 72] các tác giả đ có những kết quả khá hoàn chỉnh đề cập đến nhiều vấn đề có giá trị như sinh thái học và biện pháp phòng trừ loại sâu hại này
ở Việt Nam sâu hại trên các cây đậu đỗ như lạc, đậu tương, đ được tập trung nghiên cứu nhiều và đưa ra các quy trình phòng chống sâu hại thích hợp mang lại hiệu quả kinh tế và an toàn cho môi trường (Nguyễn Công Thuật, 1996) [13] còn trên các cây đậu rau tác giả Nguyễn Thị ánh, 1981 [4] đ nghiên cứu loài sâu quan trọng Maruca testulalis trên cây đậu đũa, nghiên cứu
đặc điểm hình thái học và sinh thái học của ruồi đục lá Liriomyza sativae của
Trang 13tác giả Trần Thị Thiên An ở thành phố Hồ Chí Minh, 2000 [1] những nghiên cứu này bước đầu đ góp phần tìm hiểu về thành phần, quy luật phát sinh, mức
độ gây hại và biện pháp phòng trừ các loài sâu hại trên cây họ đậu
Do nhu cầu về lượng cũng như về chất của đậu rau ngày càng tăng việc nghiên cứu sâu về sâu hại, biện pháp phòng chống chúng và công tác sản xuất cây rau cao cấp này là rất cần thiết
2.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài
2.2.1 Thành phần, phân bố, và tác hại của sâu hại đậu rau
Trên thế giới có khoảng 30 loại cây họ đậu được trồng để làm thực phẩm cho người và gia súc Năm 1989 thế giới đ trồng 72,3 triệu ha đậu làm thực phẩm với tổng sản lượng là 58,6 triệu tấn đậu khô (Ramphal, Gill, 1990) [67]
Đậu thực phẩm có thể sử dụng dưới dạng hạt khô hoặc rau xanh cao cấp Những loại đậu rau là: đậu đũa Vigna unguiculta; đậu côve Rhaseolus vulgaris
L gồm đậu chạch, đậu bở, đậu côve vàng, ; đậu hà lan Pisum sativum L.; đậu ván Dolichos lablab,
Một trong các nguyên nhân cản trở việc mở rộng diện tích trồng đậu rau
là do sâu hại
ở các nước nhiệt đới có ẩm độ thấp tiến hành phòng chống sâu hại trên
đậu đũa tốt có thể nâng cao năng suất lên từ 10 – 30 lần so với không phòng chống
ở Mỹ, trên đậu đũa có một loài bọ vòi voi Chalcodermus aeneus rất nguy hiểm, năm 1973 thiệt hại về năng suất do loài này gây ra là hơn 500.000 bảng Anh ở Châu Phi và Châu á đ phát hiện hơn 115 loài sâu hại đậu đũa trong
đó có 15 loài sâu hại chính ở ấn Độ ghi nhận được 20 loài sâu hại đậu đũa (Singh, 1985) [74]
Vùng Đông Nam á đ ghi nhận có đến 30 loài sâu hại trên đậu đũa: số lượng sâu hại chính ở các nước cụ thể như sau: ở Thái Lan có 20 loài, Mianma
Trang 14có 11 loài, Lào có 10 loài, Campuchia có 11 loài, Malaysia có 26 loài, Singapore có 17 loài, Brunei có 5 loài, Indonesia có 15 loài và Philippine có
11 loài (Waterhouse, 1995) [86]
Các loài sâu hại quan trọng trên đậu đũa ở một số nuớc như sau:
ở Nigeria có ruồi Melangromyza vignalis, bọ vòi voi Pieztrache lusvarius, sâu đục quả Maruca testulalis, bọ xít Anoplocnemis curvipes, Riptortus dentipes
ở Mỹ, có bọ vòi voi Chalcodormuc aeneus, bọ rùa ăn lá Epilanchna varivestis, bọ xít xanh Nezara viridula, sâu keo Spodoptera exigua, bọ xít Murgantia histrionica, dòi đục lá Liriomyza pusila, bọ trĩ Frankliniella ssp;
ở ấn Độ: loài Madurasia absccrella, rầy Empoasca kerri, dòi đục thân Ophiomyia phareoli, bọ phấn Bemisia tabaci, rệp muội đen Aphis craccivora, Acrocercrops spp, Euchrysops cnejus, Megahirothrips distalis và Riptortus
sp (Singh, 1985) [74];
ở Malaysia: có sâu xanh Heliothis armigera, sâu khoang Spodoptera litura, dòi Ophiomyia phaseoli, câu cấu xanh Hypomeces squamosus, sâu đục quả Maruca testulalis, bọ xít dài Leptocorisa acuta;
ở Philippine: sâu xanh Heliothis armigera sâu Euchrysops enjus, dòi Ophiomyia phaseoli, sâu Olene mendosa, Parasa leppida, rệp muội đen Aphis craccivora (Waterhouse, 1993) [86]
Các dịch hại quan trọng trên đậu đũa ở Delhi Cộng hoà Sat: là rệp muội
đen Aphis craccivora, sâu đục quả Maruca testulalis, bọ trĩ Megalurothrip sjostedti, Anoplocnemis curvipes, Mirperus jaculus và Clavigralla spp (Diambo – Ble và CTV, 1993) [30]
Như vậy, sâu đục quả Maruca testulalis là một trong các đối tượng sâu hại quan trọng trên đậu đũa ở hầu hết các nước trên thế giới
Số lượng các loài sâu hại trên đậu côve ở các nước như sau:
Trang 15ở Myanma có 4 loài sâu hại chính, Thái lan có 9 loài sâu hại chính, ở Lào có 4 loài, Campuchia có 5 loài, Malaysia có 11 loài, Singapore có 5 loài, Brunei có 2 loài, Indonesia có 5 loài, Brunei có 2 loài, Indonesia có 5 loài và Philippine có 6 loài (Waterhouse, 1993) [86]
Một số loài sâu hại quan trọng trên đậu côve ở các nước như sau:
ở Pháp gồm các loài: rệp Acyrthosiphon pisum, Delia platura, mọt Acanthoscelides obtectus, rệp đào Myzus persicae (Bohec,1982) [27]
ở Malaysia có các loài: sâu xanh Heliothis armigera, dòi Chromato myia
Theo Waterhouse và CTV (1993) [86] cho biết trên đậu rau ở Queensland
có 8 loài sâu và 2 loài nhện hại trong đó bọ trĩ M uritatus và ruồi đục thân O pheseoli, H armigera là 2 loài gây hại có ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất đậu nhiều nhất
Cũng theo Talekar N S (1991) [81] bọ trĩ là một trong các loài sâu hại nguy hiểm nhất chúng có rất nhiều loài gây hại trên nhiều đối tượng cây trồng Một số nước thuộc khu vực Đông Nam á như Malaysia loài Megalurothrips usitatus Bagnall hại trên cây đậu tây (Phaseolus vulgaris) và
đậu đũa Vigna sinensis;
Thái Lan có 5 loài bọ trĩ quan trọng và một trong năm loài đó tấn công cây đậu Hà Lan Pisum sativum và cây đậu đũa;
Đài Loan có 4 loài bọ trĩ gây hại trên các cây trồng trong đó riêng loài
M usitatus Bagnall gây hại trên 14 cây họ đậu trong đó có đậu đũa, đậu hà lan, đậu côve;
Nhìn chung, các nước trên thế giới có rất nhiều loài sâu hại trên đậu rau trong đó có loài Maruca testlalis G là một loài dịch hại nguy hiểm ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới vì nó có sức phá hại rất lớn và phạm vi ký chủ rộng, chúng phân bố ở các vùng: Châu á, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu úc,
Trang 16Đây là một loài sâu hại nguy hiểm gây hại trên các giống đậu đũa, các giống đậu côve (Das và Islam 1985 [28]; Sharma 1998, 1998 [71]
Patel và Singh (1989) [63] cho biết với tỷ lệ trung bình 1,2 con sâu non/cây đậu triều làm giảm 10% năng suất và tỷ lệ quả bị hại từ 25 – 40%, theo đánh giá của Singh và Allen (1988) [75] thì thiệt hại về sản lượng đậu đỗ
do loài Maruca testulalis G gây ra là 20 – 60%
Tại Nigeria, thiệt hại về sản lượng đậu đũa được đánh giá 72% năm 1985
và 48% năm 1986 Bình quân 40% số hoa bị sâu non tấn công (Oghiakhe, 1993) [52]
ở Srilanka, sâu đục quả Maruca testulalis là nguyên nhân gây thiệt hại 84% năng suất đậu triều (Dharmasena, 1993) [29]
Sâu hại lá quan trọng là loài ruồi đục lá, phổ biến nhất là 3 loài Liriomyza sativae, L trifolli, và loài L huidobrrensis Các loài này có nguồn gốc từ Mỹ Chúng phân bố và gây hại rộng khắp Châu Mỹ và một số nước thuộc Châu
Âu, Châu Phi, Châu á Chúng tấn công các cây họ cà, họ đậu, họ bầu bí và gây thành dịch Loài Liriomyza sativae chủ yếu tấn công hại cây bí ngô, dưa chuột, bí xanh, đậu triều, đậu ngự, cỏ lupin, cỏ linh lăng, cà chua, ớt, khoai tây; loài Liriomyza huidobrrensis có phổ ký chủ rộng hơn bao gồm cả họ rau thập tự, họ hành tỏi, họ bông và cần tây, Waterhouse và CTV (1993) [86]
Sự gây hại của loài ruồi đục lá làm ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng, chúng làm lá chóng tàn, mau rụng, làm giảm diện tích quang hợp vì vậy ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất cây trồng Sharma và cộng sự cho biết cây bí có thể bị giảm năng suất tới 1.450 kg/ha do sự gây hại của loài Liriomyza sativae Ruồi đục lá là loài dịch quan trọng ở Châu Phi, Châu âu, Châu Mỹ, Châu á Chúng tấn công các cây thuộc họ cà, họ đậu, họ bầu bí nhưng ở các nước Tây Nam á nơi mà chúng là đối tượng dịch hại quan trọng trên rau thì vẫn ít được quan tâm (Waterrhouse, 1993) [86]
Trang 17Rệp muội đen Aphis craccivora là đối tượng gây hại khá phổ biến trên rất nhiều loại cây trồng thuộc họ rau hoa thập tự, họ cà, họ bầu bí, họ đậu và nhiều cây trồng khác như: cam, khoai tây, các loại hoa cây cảnh, chúng phân bố ở khắp nơi trên thế giới Fagoonee I Toory V., (1983) [34] cho biết, rệp muội đen là loài phổ biến trên lạc, đậu đũa chúng phân bố ở Châu á, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu úc chúng gây hại mạnh trong điều kiện thời tiết lạnh
đồng thời chúng là vectơ truyền khoảng 30 loài virut gây hại cây trồng đặc biệt là
vi rút bệnh xoăn lá và virut khảm dưa chuột theo Parker B L (1995) [61] 2.2.2 Quy luật phát sinh, phát triển của một số loài sâu hại đậu rau Olieira và CTV, (1982) [56] đ tiến hành nghiên cứu biến động số lượng của rầy xanh Empoasca kraemeiri trong các năm 1978 – 1979 trên đậu đũa và
đậu côve ở Brazil
ở Nigeria mật độ sâu Cydia ptychra hại trên đậu đũa phụ thuộc vào mùa
vụ Số lượng sâu tăng từ tháng 5 đến tháng 9 và giảm từ tháng 10 đến tháng tư năm sau (Olaifa et al., 1982) [55]
Đỉnh cao mật độ của rệp muội Aphis craccivora trên đậu đũa vụ đông và
vụ xuân thường trùng vào thời gian ra quả (Sharma S R 1982) [72]
Năm 1976, người ta đ tiến hành nghiên cứu biến động số lượng của loài dòi Ophiamyia phaseoli trên những vụ đậu trồng vào tháng 9, tháng 10, tháng
11 thì loài dòi này có mật độ thấp nhất Mật độ cao nhất là vào tháng 3, tháng
7 và tháng 8 (Monohar, 1982) [47]
ở Nigeria đ có công trình nghiên cứu sinh học của rầy xanh Empoasca dolichi từ trứng đến khi rầy trưởng thành khoảng 17,3 ngày (nuôi trong điều kiện 21,2 – 31,7 0c và ẩm độ tương đối từ 45 – 95%) sau khi vũ hoá 3 – 6 ngày rầy trưởng thành bắt cặp giao phối, sau giao phối 3 ngày thì bắt đầu đẻ trứng, nếu không được giao phối thì rầy cái vẫn đẻ trứng, số lượng trứng đẻ trung bình của rầy trưởng thành cái từ 96 – 116 trứng ( chỉ có những trứng do con cái được giao phối thì mới có sức sống), tuổi thọ trung bình của một rầy
Trang 18trưởng thành cái là 38,3 – 49,7 ngày và của rầy trưởng thành đực là 31 – 32,4 ngày (Parh, Taylor, 1982) [59]; (Pizzamiglio, 1982) [64]
Sâu đục quả Maruca testulalis là loài phổ biến và gây hại quan trọng trên cây đậu đỗ nói chung và trên cây đậu rau nói riêng Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào nghiên cứu đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ bằng thuốc hoá học Những nghiên cứu đầu tiên về loài sâu này đ được ghi nhận bởi Okeyo owour và CTV, (1981) ở Buerto Rico trên cây đậu ngự (Phaseolus lunatus) [54]
Taylor (1967) [82] nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài sâu đục quả
và cho biết, chúng thường đẻ trứng ở trên nụ và hoa còn trên lá, trên cuống hoa, cành non và quả non thì khi mật độ sâu cao chúng cũng đẻ trứng
Chúng phá hại nụ, hoa, quả là chính đôi khi chúng phá hại cả phần cuống hoa và cành non, vòng đời của sâu đục quả từ 18 – 35 ngày
Alghali (1993) [18] cũng đưa ra những kết quả tương tự và Ông cho biết thêm số trứng do một con trưởng thành cái đẻ từ 8 – 140 trứng, khi nuôi sinh học sâu đục quả bằng thức ăn đậu triều cho biết thời gian của tưng pha phát triển như sau: trứng: 3,13 ngày; sâu non: 12,65 ngày; tiền nhộng: 2,05 ngày; nhộng: 8,73 ngày
Das và Islam (1985) [28] cho biết trứng của sâu đục quả thường được đẻ
đơn hoặc đẻ từ 2 – 16 trứng, trưởng thành cái sống được từ 4 – 8 ngày, trứng
nở sau khoảng 5 ngày, sâu non có 5 tuổi: tuổi 1: 3,7 ngày; tuổi 2: 3,2 ngày; tuổi 3: 2,5 ngày; tuổi 4: 2,4 ngày; tuổi 5: 4,5 ngày
Một số tác giả khác khi nghiên cứu đặc điểm sinh học của sâu đục quả cũng cho kết quả tương tự Nhìn chung thời gian phát dục của các pha như sau: pha trứng kéo dài từ 3 – 4 ngày; sâu non 5 tuổi kéo dài từ 8 – 14 ngày; tiền nhộng từ 2 – 3 ngày; nhộng từ 6 – 9 ngày; bướm cái sống được từ 4 – 8 ngày trong điều kiện phòng thí nghiệm; vòng đời từ 18 – 57 ngày; một bướm cái đẻ tối đa được 190 trứng (Jackai và CTV, 1982) [37]; Singh và CTV, (1988) [73]; Waterhouse, (1993) [86]
Trang 19Có một số nghiên cứu về nhân nuôi sâu non sâu đục quả Maruca testulalis với số lượng lớn trên môi trường thức ăn nhân tạo và thức ăn tự nhiên (Jackai và CTV, (1982) [37]; Ochieng và CTV, (1981) [50]; Ochieng và CTV, (1983) [49]) Những nghiên cứu này được tiến hành ở Nigeria và Kenya khi nuôi sâu bằng 4 loại thức ăn có chứa: mạch bột đậu tương, 2 dạng bột đậu
đũa và dạng sữa ngũ cốc cho thấy sâu non sâu đục quả sinh trưởng phát triển bình thường và tốt nhất trên môi trường thức ăn có chứa mạch bột đậu, nhộng trung bình nặng 47,3 mg, thời gian sinh trưởng của sâu non từ tuổi 1 đến vũ hoá trưởng thành là 18,3 ngày với con cái và 18,5 ngày với một con đực Những kết quả này cũng phù hợp với khi nuôi sâu non bằng thức ăn tự nhiên
từ những cây ký chủ của chúng Vòng đời của sâu đục quả Maruca testulalis trên môi trường thức ăn nhân tạo kéo dài khoảng 23 ngày; tỷ lệ sống sót đến pha trưởng thành đạt 60,3%; một bướm cái đẻ được 257 trứng
Các thí nghiệm nuôi sâu bằng thức ăn nhân tạo cho kết quả tốt nhưng sâu non bị suy giảm sau một vài thế hệ Sau sự tuyển chọn ban đầu của thức ăn với nền cơ bản là bột đậu tương sau đó là bột đậu đũa Bột đậu đũa ở các lượng 25g, 38g, 50g để thay thế cho bột đậu tương với khối lượng 35,6g/0,8 lít thức
ăn, Mức 50g kết quả cho thấy thời gian phát triển của sâu non là ngắn nhất, nhộng to nhất, tỷ lệ sống sót của sâu non cao nhất, thời gian sống của trưởng thành dài nhất Quá trình nuôi sâu được mô tả khi nuôi bằng lá và bột đậu đũa thì sâu non bị thoái hoá sau 10 thế hệ nhân nuôi
Một loại thức ăn bán tổng hợp với thành phần cơ bản là hoa đậu đũa và bột đậu tương sau khi nuôi 10 thế hệ trong phòng thí nghiệm, các tác giả kết luận thức ăn này thích hợp nhất cho sâu đục quả đậu đũa sinh trưởng và phát triển Nhộng thu được từ ngoài đồng ruộng nặng hơn nhộng nuôi, sâu non nuôi trong phòng thí nghiệm thì đồng đều và có thể điều chỉnh được, tỷ lệ vũ hoá trưởng thành đạt 70 – 90% tuy nhiên sức đẻ trứng, tuổi thọ trưởng thành
và tần số giao phối không khác nhau giữa 2 chế độ Một lít thức ăn thu được
Trang 20400 nhộng hoặc trưởng thành, sức đẻ trung bình là 200 trứng/con cái Theo Onyango – FO và CTV, (1993) [58]
Ramasubramanian G V và CTV, (1989) [66] đ nghiên cứu đặc tính sinh học của sâu đục quả trên 3 ký chủ là đậu triều, đậu đũa, đậu ván Khi cho sâu non ăn 3 loại thức ăn trên ở trong phòng thí nghiệm với điều kiện nhiệt độ
từ 24 – 270c đ dẫn đến sự khác nhau có ý nghĩa trong quá trình tiền nhộng, nhộng, trưởng thành và (%) trứng nở Tỷ lệ trưởng thành cái lớn hơn đực ở cả
3 cây ký chủ, nhộng từ sâu non đậu ván là nặng nhất và có thời gian sống dài nhất, số trứng và (%) trứng nở nhiều nhất khi nuôi sâu trên môi trường thức ăn
đậu ván, sức đẻ của một con cái khi nuôi trên môi trường thức ăn đậu ván là 38,3 trứng, trong khi đó nuôi trên môi trường thức ăn đậu đũa là 37,6 trứng và
đậu triều là 35,3 trứng; chỉ số phát triển trên cây đậu ván, đậu đũa, đậu triều tương ứng là: 5,17; 4,63; 4,14 Ông cũng theo dõi khả năng đẻ trứng và tập tính giao phối của sâu đục quả qua các thí nghiệm ở trong phòng và ngoài
đồng ruộng trong năm 1982 – 1983 kết quả cho thấy thời gian cặp đôi kéo dài
4 – 5 đêm thì tỷ lệ đẻ trứng cao nhất Tác giả cũng quan sát một vài con đực giao phối hơn 1 lần đa số con cái chỉ giao phối 1 lần Với tỷ lệ 1:1 (10 đực: 10 cái) cho kết quả tốt nhất trong giao phối và đẻ trứng Thời gian giao phối xảy
ra lúc 21 giờ đến 5 giờ sáng khi nhiệt độ 20 – 250c và ẩm độ >80%, đỉnh cao hoạt động từ 2 – 3 giờ sáng, sự đẻ trứng xảy ra theo xu hướng như nhau và cho
số trứng cao nhất trung bình 440 trứng/con cái Kết quả này đ chỉ ra rằng tiềm năng đẻ trứng của sâu đục quả là lớn hơn rất nhiều so với thực tế Jackai – LEN và CTV, (1990) [41]
Những chỉ tiêu sinh học của sâu đục quả khi nuôi trên môi trường thức ăn nhân tạo: dung dịch 10% mật ong, dung dịch 10% đường saccaro, dung dịch 10% đường gluco, khác với sâu được nuôi từ đậu đũa và sâu được thu lượm từ ngoài đồng về, tác giả khẳng định mẩu quả đậu là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của sâu đục quả sau đó đến hoa và nụ và tác giả cũng khẳng định sâu non tuổi 1 không thể đục được vào trong quả nguyên vẹn để
Trang 21hại mà chỉ từ tuổi 2 trở đi chúng mới đục vào trong quả được theo Oghiakhe
và CTV (1993) [52]
Những nghiên cứu của Jackai và CTV, (1981) [43] trong nhà lưới đ chỉ
ra rằng trưởng thành của sâu đục quả bị hấp dẫn tới đậu đũa cũng như cây Crotalaria juncea để đẻ trứng ở thời kỳ cây ra hoa là gần như nhau: số sâu non trung bình/hoa là 3,9 con/cây (đậu đũa) và 3,4 con/cây (Crotalaria juncea) Một nghiên cứu nữa là khi tác giả nuôi từ sâu non tuổi 1 bằng thức ăn là hoa của đậu đũa và cây thuộc giống Crotalaria cho thấy sâu non trên cây đậu
đũa có tỷ lệ vào nhộng và vũ hoá cao, trọng lượng nhộng nặng nhất trong khi
đó sâu non ở cây Crotalaria retura có tỷ lệ chết 100% và cây Crotalaria juncea có tỷ lệ chết 100% Vì vậy tác giả gợi ý cây Crotalaria retura và cây Crotalaria juncea có thể trồng xung quanh ruộng đậu đũa như một cái bẫy cho sâu đục quả
Atachi – P và CTV, (1994) [23] đ điều tra ở Benin năm 1990 – 1991 trên
22 cây ký chủ thuộc 8 họ Papilionaceae, Caesalpiniaceae, Mimosaceae, Annonaceae, Malvaceae, Ephorbiaceae, Rubiaceae và Moraceae Các cây thích hợp nhất là Cajanus cajan, Vigna unguiculata, Phaseolus lunatus và Pueraria phaseoloidae
Jackai và Singh, (1982) [37] cho biết mặc dù thu được rất nhiều trứng trên cây Crotalaria retusa nhưng chỉ tìm được 1 sâu non tuổi 4 trên hoa trong 1.000 mẫu quan sát
Một số tác giả đ tiến hành nghiên cứu các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng
đến sự phát triển của sâu hại đậu rau:
Đỉnh cao thiệt hại do sâu đục quả ở Nigeria trên đậu đũa gieo sớm tháng
7 và tháng 8, thế hệ trưởng thành thứ nhất xuất hiện trong tháng 7, thế hệ trưởng thành thứ 2 ở giữa tháng 7 và tháng 9 thế hệ trưởng thành thứ 3 được quan sát trong bẫy ánh sáng ở hầu hết các tháng trong năm mặc dù số lần bắt gặp được rất thấp khi hết mùa, trưởng thành vào bẫy từ 18 giờ 04 đến 0 giờ 45
Trang 22và đỉnh cao từ 20 – 21 giờ (Amatobi, 1995) [20] ở Srilanka, mật độ sâu đục quả Maruca testulalis được ghi nhận trong mùa đậu triều chính là từ tháng 12
đến tháng 3
ở Kenya, mật độ sâu đục quả Maruca testulalis thấp trong mùa mưa ít nhưng thiệt hại vẫn luôn xảy ra trừ khi cây ngừng ra hoa, quả (Okeyo – owur
và CTV, 1983) [53]
Ezuch và CTV, (1984) [33] Cho biết việc trồng xen canh giữa ngô và đậu
đũa làm tăng sự gây hại của sâu đục quả Maruca testulalis còn nêu gieo đậu
đũa 12 tuần sau khi trồng ngô thì mức độ thiệt hại của sâu đục quả cho đậu
đũa lại giảm đi
Trên 10 giống đậu đũa được trồng năm 1984 ở Benin, Atachi và CTV,
1989 [22] đ quan sát mật độ sâu đục quả Maruca testulalis là lớn nhất ở 40 ngày sau trồng trên 4 giống và 47 ngày sau trồng trên 6 giống (4 – 17 sâu non/20 hoa) Sự thiệt hại cao nhất trên hoa đ được ghi nhận trên các mẫu quan sát là như nhau trong tất cả các giống (20 – 70%)
Quần thể sâu đục quả Maruca testulalis đ được ghi nhận ở ICRISAT – Patancheru qua bẫy ánh sáng Trưởng thành vào bẫy cao nhất từ đầu tháng 11
đến giữa tháng 12, đỉnh cao thứ 2 vào giữa tháng 9 và đỉnh cao thứ 3 vào đầu tháng 2 Đỉnh cao 1 (tháng 11), đỉnh cao 3 (tháng 2) trùng khớp với sự ra hoa,
đỉnh cao 2 (tháng 9) có thể từ thế hệ thứ nhất được hoàn thành từ trên lá và hoa sớm hoặc từ quần thể di cư
Còn ở Hisar, Haryana ấn Độ, thì đỉnh cao nhất của trưởng thành lại từ trung tuần tháng 9 đến trung tuần tháng 10 (Srivastava và CTV, 1992) [78] Theo Dharmasena và CTV, (1993) [28] mật độ sâu non sâu đục quả Maruca testulalis cao trong vụ đậu triều trồng giữa tháng 10 và mật độ sâu non sâu đục quả Maruca testulalis thấp ở thời vụ trồng giữa tháng 11, tác giả
lý giải rằng khi điều kiện nhiệt độ thấp và ẩm độ cao có thể có lợi cho sự tích luỹ quần thể sâu đục quả trên đậu triều
Trang 23Những nghiên cứu về trồng xen đ được thực hiện ở trung tâm sinh lý học
và sinh thái học côn trùng Quốc tế ở Kenya trong 10 năm đ ghi nhận ra cây lúa miến (một loại kê) và đậu đũa là sự phối hợp tốt nhất làm giảm quần thể sâu đục quả Maruca testulalis xuống thấp nhất tạo sự ổn định về năng suất và giảm tối thiểu thiệt hại do các loài: Chilo partellus, Maruca testulalis, Busseola fusca gây nên
Sự gây hại của sâu đục quả Maruca testulalis trong độc canh là lớn hơn trong trồng xen giữa ngô - đậu đũa – lúa miến và hơn giữa đậu đũa - ngô (Amoako – Atta và CTV, (1982) [21]; Omolo và CTV, (1993)[57])
Natarajan – N và CTV, (1991) [48] đ nghiên cứu ảnh hưởng của việc trồng xen đậu (đậu xanh, đậu đũa, đậu đen, đậu tương ) với cây ngũ cốc đến tỷ
lệ các dịch hại chính ở Tamil Nudu ấn Độ trong năm 1986 – 1987 Các dịch hại được quan sát trên đậu là: Ophiomya phaseoli, Bemisia tabaci, bệnh khảm vàng và sâu đục quả Maruca testulalis, Lampides boeticus, Catechrysops cnejun và Heliothis armigera Các loài trên ngũ cốc là: Atherigona soccata, Chilo partellus Kết quả quan sát cho biết mật độ của ruồi đục thân trên đậu
đen và bọ phấn tăng lên khi xen canh với ngô; Bệnh khảm vàng thấp hơn trong trồng xen đậu xanh với ngô và kê trong trồng thuần Ngược lại sâu đục quả
đậu xanh trong trồng thuần lại thấp hơn trong trồng xen; với quần thể của Atherigona soccata và Chilo partellus thì không có sự sai khác giữa trồng thuần và trồng xen
Wijayagunasecara – HNP và CTV, (1992) [87] đ quan sát theo mùa của các loài sâu hại trên đậu đũa ở Srilanca trong các năm 1986 – 1987 cho biết loài sâu đục quả Maruca testulalis là phong phú nhất tiếp theo là loài Leguminivora ptychora và Spodoptera litura
Alghali, (1993) [18] đ nghiên cứu ảnh hưởng của những nhân tố khí tượng nông nghiệp đến sự thay đổi quần thể của sâu đục quả Maruca testulalis thì thấy có những đỉnh cao nhỏ hơn trong vụ trồng từ 5/5 – 1/6 và từ 24/6 –
Trang 2413/7 và một đỉnh cao lớn hơn ở vụ đậu trồng từ 24/8 – 7/9 Những đỉnh cao này trùng khớp với đỉnh cao của lượng mưa, sự quan hệ một cách có ý nghĩa
được quan sát giữa số sâu đục quả và sự tích tụ của lượng mưa và số ngày có mưa từ khi đậu nảy mầm đến khi cây có 50% hoa nở Quần thể sâu đục quả Maruca testulalis đ tích tụ tăng qua các mùa, sự nhiễm sâu đục quả Maruca testulalis cũng tăng theo thời vụ trồng muộn
Quần thể bọ trĩ Megalurothrips sjostedti trên đậu đũa trồng xen ngô ở Nigeria giảm hơn 42% so với nơi trồng thuần, tuy nhiên việc trồng xen này không có ảnh hưởng tới số lượng sâu đục quả Maruca testulalis còn với bọ xít Clavigralla, Anoplocnemis, Riptortus thì lại tăng mật độ lên ở nơi trồng xen với ngô (Malteson, 1982) [46]
Kwanchai A và CTV, (1983) [45] cũng đ nghiên cứu ảnh hưởng của việc trồng xen đậu đũa với ngô tới các loài bắt mồi ăn thịt và ảnh hưởng của chúng đối với Megalurothrips sjostedti ở Kenya, tác giả nhận xét: việc trồng xen đậu và ngô làm phong phú quần thể bắt mồi ăn thịt và quần thể bọ trĩ giảm một cách đáng kể
Sweeden M B (1993) [80] cho biết có 3 loài bọ trĩ phổ biến xuất hiện trên đậu đũa ở Miền Tây Arknsas và Đông Bắc Oklahoma (1991 – 1992) đó là: Frankliniell fusca, Frankliniell tritici và Sericothrips variabilis ở mỗi vùng trên những ruộng đậu đũa trồng sớm hơn có số bọ trĩ cao hơn ruộng trồng muộn Đỉnh cao của các loài sâu này thường xảy ra khoảng 2 tuần sau lứa hoa
nở đầu tiên
Việc trồng xen đậu côve với ngô nói chung làm giảm mật độ của một số loại sâu hại chính như: sâu xanh H armigera so với nơi trồng còn đối với rệp muội Aphis fabae thì đôi khi mật độ của nó lại cao hơn nơi trồng thuần (Rheenen H A và CTV, 1982) [68]
Những nghiên cứu ở Nam Nigeria năm 1976 – 1978 cho thấy: Mức độ bị hại bởi sâu hại của cây trồng ảnh hưởng rõ ràng bởi thời gian gieo trồng Đậu
Trang 25đũa gieo vào khoảng giữa tháng 7 bị sâu đục quả Maruca testulalis hại nặng nhất, sâu Cydiapty choracos mật độ cao nhất trên đậu đũa ở thời vụ gieo vào tháng 6 và tháng 7 trong năm, bọ xít gây hại nặng cho đậu đũa ở thời vụ trồng vào giữa tháng 8 và đầu tháng 10 (Ezueh, 1983) [32]
Những thí nghiệm được tiến hành ở trong phòng thí nghiệm và trong nhà lưới tại ấn Độ đ xác định các ký chủ ưa thích của Aphis craccivora trên đậu ván, đậu đũa, đậu đen, đậu xanh, lạc, đậu tương, đậu hà lan trong đó đậu đũa
là cây thu hút số lượng rệp cao nhất tiếp theo đến đậu ván, đậu hà lan và đậu tương là hai cây không hấp dẫn rệp (Srikanth J và CTV, 1988) [77]
Cũng có công trình đ nghiên cứu khi thả 2 hoặc 3 rệp tiền sinh sản vào
đậu đũa ở các loại quả: quả non (4 – 5 ngày sau ra hoa), quả nhỡ (7 – 10 ngày sau ra hoa) và quả thành thục thì thấy rằng qủa non và quả nhỡ bị hại Các quả
bị hại trên quả có nhiều vết nhăn, quả bị teo, còn ở quả thành thục thì không,
đồng thời khả năng sinh sản của rệp nuôi ở quả non và quả nhỡ lớn hơn ở quả già (Ofuya T T., 1989) [51]
Patel M B và CTV, 1989 [62] đ nuôi Aphis craccivora trên đậu đũa trong phòng thí nghiệm ở các tháng: 5 – 6; 8 – 9; 10 – 11; 3 – 4 giai đoạn rệp non tương ứng là: 5,6; 5,1; 5,15 và 4,84 ngày và thời gian của toàn bộ vòng
đời là: 11,07; 11,15; 10,79; 10,42 ngày Tác giả cũng nghiên cứu và cho biết khi so sánh vòng đời của rệp trên đậu đũa, đậu đen, đậu xanh trong phòng thí nghiệm thời gian sống của rệp tương ứng là: 10,42; 9,61 và 10,57 ngày và khả năng sinh sản của rệp tương ứng khi nuôi trên 3 môi trường thức ăn này là 27,88; 17,43 và 17,57 con/rệp cái
2.2.3 Kẻ thù tự nhiên của sâu hại
Atachi P và CTV, (1989) [22] đ nghiên cứu sự phong phú theo mùa của Aphis craccivora ở Ai Cập vào những năm 1985 – 1986 tác giả cho biết có 3 loài: Aphis craccivora, Aphis gosypii, và Acyrthosiphon pisum được tìm thấy trên đậu đũa nhưng Aphis craccivora là loài dịch hại chính và đỉnh cao xuất
Trang 26hiện vào giữa tháng 7, thiên địch của loài dịch hại này là Braconidae cũng xuất hiện trùng với đỉnh của Aphis craccivora (tháng 7)
Srikanth J và CTV, (1990) [76] cho biết quần thể của Aphis craccivora trên đậu đũa ở Bangalore, ấn Độ vào mùa hè (tháng 5 – 6) và mùa mưa (tháng
8 – 10) tăng một cách nhanh chóng cùng với sự sinh trưởng của cây trồng và
đỉnh cao trùng khớp với thời gian hình thành quả Tác giả này cũng cho biết thêm: đỉnh cao của các loài bắt mồi ăn thịt trùng với đỉnh cao của rệp, trong
đó có bọ rùa 6 chấm (Menochilus sexmaculatus) chiếm 77 – 80% và 83 – 95% trong tổng các loài bắt mồi ăn thịt tương ứng ở 2 mùa
Công trình nghiên cứu về thiên địch của sâu hại đậu rau tác giả Olaifa và CTV, (1982) [55] đ phát hiện được 13 loài ký sinh và 3 loài bắt mồi ăn thịt của sâu Cydia ptychora trên đậu đũa trong đó ong là loài ký sinh quan trọng nhất; các loài bọ rùa M sexmaculates, C repanda, L biplagiata, S bisselata
và H dimidiata có vai trò quan trọng trong điều hoà số lượng rệp muội đen Aphis craccivora trên đậu đũa
Sự bùng phát số lượng rệp muội đen sau khi dùng thuốc hoá học là do trong quá trình xử lý thuốc đối với rệp muội thì tổn hại đến thiên địch của rệp muội Theo Barrion và CTV, (1981) [24] cũng đ phát hiện được loài nhện sói Hippassahol merae săn bắt rầy xanh Amarasca biguttuula và ruồi O phaseoli
ở Srilanka phát hiện 8 loài ong ký sinh của sâu đục quả Maruca testulalis, tỷ
lệ ký sinh nhỏ hơn 20% ở Philippine tỷ lệ ký sinh là 0,4 – 3,2% (Waterhouse, 1991) [85] Ông đ cho biết các loài gây bệnh cho sâu đục quả Maruca testulalis gồm: nguyên sinh động vật, nấm, vi khuẩn, vi rút
Theo Parasuraman S (1989) [59] ở vừng Madurai, Tamil Nadu, ấn Độ trên cánh đồng trồng lúa, đậu đũa, đậu đen, đậu tương có 8 loài bọ rùa ăn rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen trên lúa và rệp muội đen trên các cây
đậu trong đó loài Menochilus sexmaculatus chiếm 43%, Sticholotis substriata chiếm 25% và Scymnus sp Là 10% trong tổng số bọ rùa
Trang 272.2.4 Biện pháp phòng chống sâu hại đậu rau:
Trong thập kỷ qua ở nhiều nước trên thế giới đ dùng biện pháp hoá học
để trừ sâu hại đậu rau
Các tác giả Jackai, 1983, [38]; Samolo và CTV, 1986 [69] và Bhalani và CTV, 1987 [26] cho biết trong những năm 1983 – 1987 có rất nhiều thí nghiệm đ sử dụng thuốc hoá học làm vũ khí chính để trừ sâu đục quả Maruca testulalis đó là các loại thuốc như; Endounfan, Monocrotophos, Dimethoate, Decamethrin, Fluvalinate, Traizophos, Cypermethrin, Fenvalerate, các thuốc này có hiệu quả trừ sâu đục quả và cho năng suất lớn hơn một cách có ý nghĩa
so với không phòng trừ
Ivabijaro M F và CTV, (1990) [36] đ thử hiệu lực của dịch chiết từ hạt xoan tại ấn Độ để trừ một số dịch hại trên cà tím, mướp tây, đậu đũa ở Ghana, trên đậu đũa các dạng bột hạt Neem làm giảm mật độ sâu đục quả Maruca testulalis và tăng năng suất một cách đáng kể
Ofuya T I (1989) [51] nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ làm cỏ đến 4 loài dịch hại chính ở giai đoạn sau khi cây ra hoa: bọ trĩ M sjostedti, sâu đục quả Maruca testulalis, và các loài rệp Cydia ptychora trên đồng ruộng ở Nigeria trong vụ xuân sớm và vụ xuân muộn năm (1986) cho kết quả như sau: làm cỏ từ 2 – 4 lần tỷ lệ hại do sâu đục quả Maruca testulalis và các loài rệp thấp hơn đáng kể so với không làm cỏ, năng suất ở công thức làm cỏ 2 – 4 lần cao hơn so với công thức làm cỏ 1 lần và cao hơn so với không làm cỏ
Atachi P và CTV, (1989) [22] đ tiến hành phun thuốc tại Benin vào năm
1985 để xác định cách xử lý hiệu quả nhất với sâu đục quả Maruca testulalis trên đậu đũa thấy rằng: hiệu qủa của phun thuốc định kỳ: 35, 45, 55, 65 ngày sau trồng là không rõ rệt ở mức 5%, hiệu quả của phun thuốc 45, 55, 65 ngày sau trồng bao gồm Deltamethrin (13,5g ai/ha); Dimethoate (400g ai/ha) thì
Trang 28Deltamethrin (13,5g ai/ha) cho năng suất cao nhất đạt 1.367 kg/ha trong khi
đó công thức không phun thuốc đạt 322 kg/ha
Ivabijaro M F và CTV, (1990) [36] thí nghiệm ngoài đồng ruộng ở Nigeria năm 1988 tác giả thử hiệu lực của Cypermethrin + Dimethoate (thêm Sherpa), dịch chiết dầu hạt Neem và hạt Piper guineese để trừ sâu hại đậu đũa: Thuốc đ−ợc xử lý ở 30, 42, 53 ngày sau trồng kết quả cho thấy: Cypermethrin + Dimethoate cho hiệu quả cao nhất trong việc làm giảm mật độ bọ trĩ M sjostedti và sâu đục quả Maruca testulalis là 2 loài dịch hại chính đồng thời cũng làm giảm mật độ của 4 loài cánh nửa: Clavigralla shadabi, Riptortus denfiper, Aspavia armigera và Nezara viridula Năng suất đạt 0,99 tấn/ha, mật độ dịch hại cũng giảm do phun dịch chiết hạt xoan ấn Độ lên lá nh−ng kết quả cuối cùng thì năng suất ở công thức phun thuốc hoá học cao gấp đôi ở các công thức khác
Jackai L E N và CTV, (1991) [40] cho biết dùng dầu hạt Neem nguyên chất ở dạng sữa ở nồng độ 5, 10, 20% có thể chống lại sâu đục quả Maruca testulalis trong phòng thí nghiệm
Cũng theo tác giả Jackai L E N và CTV, (1992) [39] đ thử hiệu lực của hạt Neem lên 2 dịch hại chính trên đậu đũa là Maruca testulalis và Clavigralla tomentosicollis ở dạng bột và dịch chiết ở Nigeria cho thấy: ở dạng dung dịch 9% thì hầu hết nhộng của Clavigralla tomentosicollis chết trong vòng 9 ngày nh−ng ở dung dịch 5% thì nhộng không chết
Amatobi C I (1995) [20] đ ứng dụng phun Cypermethrin và Dimethoate trên 3 giống đậu đũa: Giống ngắn ngày, giống trung ngày và giống dài ngày để trừ bọ trĩ Megalurothrips sjostedti, Maruca testulalis và Clavigralla spp ở giai đoạn cây bắt đầu ra hoa cho năng suất cao nhất Jackai và CTV, (1988) [42] trong năm 1983 đ thử nhiều loại thuốc hoá học để trừ sâu đục quả Maruca testulalis trên đậu đũa và kết quả sản l−ợng
Trang 29tăng 50,74% với việc sử dụng thuốc Endosulfan 0,05% thì tăng sản tượng lên 41,48% so với Monocrotophos 0,04%
Valdez P C (1989) [84] đ ghi nhận một số quả đậu đũa bị hại là thấp nhất ở ô xử lý Fenvalerate (0,01%) và Endosulfan (0,07%) + Miracuran (chất kích thích sinh trưởng), tiếp theo ô xử lý với Fenvalerate (0,01%), Endosulfan (0,07%) + Miracuran đến Monocrotophos 0,04%
Rahman và CTV, (1991) [65] cho biết khi phun thuốc Cypermethrin 0,008% 4 lần để trừ sâu đục quả Maruca testulalis trên đậu triều lần 1 khi đậu bắt đầu nở hoa; lần 2 khi cây có 50% hoa nở; lần 3: 100% hoa nở; lần 4: 100% hình thành quả thì có hiệu quả nhất và cho năng suất cao nhất
Afun và CTV, (1991) [17] cho biết khi phun thuốc định kỳ thì tác hại của sâu đục quả Maruca testulalis, rệp, bọ trĩ thấp hơn khi phun thuốc dựa theo ngưỡng hại kinh tế, tuy nhiên sự khác nhau về năng suất hạt giữa phun định kỳ
và phun thuốc dựa theo ngưỡng hại kinh tế là không có sự sai khác
Việc theo dõi ngoài đồng ruộng đ làm giảm 1/2 số lần phun thuốc so với
định kỳ Thí nghiệm được thực hiện ở 3 vùng khác nhau thuộc Nigeria để trừ 4 loại dịch hại chính là: Aphis craccivora, Maruca testulalis, Megalurothrips sjostedtt và một loài chích hút thuộc bộ cánh nửa Số hoa, số quả, số hạt trên cây là lớn hơn một cách có ý nghĩa trong các ô xử lý dựa trên ngưỡng hại kinh tế: 10 sâu non/100 hoa( áp dụng 3 lần phun thuốc trừ sâu và ô không xử lý thuốc) Sự khác nhau về số hoa, số quả, số hạt trên cây là không có ý nghĩa giữa ô xử lý 3 và 4 lần phun thuốc hoá học Từ đó tác giả có nhận xét; 10 sâu non/100 hoa có thể duy trì như một ngưỡng thăm dò để trừ sâu đục quả trên
Trang 30trừ Empoasca kerri, trong khi đó Endosulfan lại trừ Aphis craccivora, Bemisia tabaci hiệu quả nhất Tác hại của sâu đục quả Maruca testulalis là nhỏ nhất khi phun Endosulfan 0,06% Năng suất tối đa đạt được khi xử lý Dimethoate 0,04% Schmutterer H và CTV, (1987) [70] đ nghiên cứu thử 3 loại thuốc vô cơ
và 3 loại thuốc lân hữu cơ đ chỉ ra rằng : Triflumuron là độc nhất với Aphis craccivora Hiệu lực của các loại thuốc trừ sâu lân hữu cơ như : Chlopyriphos, Methamidophos và Profenophos đ tăng lên khi hỗn hợp với thuốc vô cơ Hỗn hợp Chlopyriphos với Diflubenzuron là độc nhất và làm giảm khả năng sinh sản của rệp lớn nhất
Các nghiên cứu diện hẹp đ được thực hiện ở Ai Cập nhằm xác định hiệu lực của 4 loại thuốc trừ sâu thuộc 4 nhóm (lân hữu cơ, cacbamate, pyrethroid
và chất điều hoà sinh trưởng cây trồng) tác động lên một số sâu hại chính của
đậu đũa 3 ngày sau xử lý các thuốc phenthoate, Isoxathion, Cyanophos, Cacbaryl và Cypermethrin đ làm quần thể Empoasca spp trên 83% và giảm
số lượng lớn Aphis craccivora, bên cạnh đó hiệu lực có loại thuốc còn giữ
được 21 ngày, các thuốc xử lý hầu như không có hiệu qủa với bọ phấn (Benmisia tabaci) Schmutterer H và CTV, (1987) [70]
Ofuya T I và CTV, (1989) [51] đ thử nghiệm hiệu lực với một số chất
được chiết bằng Axeton từ các cây sả, mướp đắng, gừng, húng quế, na để trừ rệp Aphis craccivora kết quả cho thấy dịch chiết của cây gừng là độc nhất làm cản trở sự sinh sản của rệp, dịch chiết từ mướp đắng làm tăng tỷ lệ chết của rệp non
Dimetry N Z và CTV, (1971) [31] đ có những nghiên cứu thử hiệu lực của 1 sản phẩm thương mại có chứa 5% dịch chiết từ hạt Neem lên trưởng thành và rệp non của Aphis craccivora kết quả cho thấy : sản phẩm kéo dài giai đoạn sâu non và làm tăng tỷ lệ rệp có cánh ở đời sau, rút ngắn giai đoạn
Trang 31sinh sản cũng như tuổi thọ của rệp trưởng thành, thuốc đ biểu hiện hiệu lực sau 3 ngày phun
Một số tác giả đ tiến hành nghiên cứu biện pháp sinh học để trừ sâu hại
đậu rau: dùng chế phẩm Bacilus thuringensis (Bt) để trừ sâu đục quả Maruca testulalis có hiệu lực trên 70% sau 5 ngày ( Karel, 1984 ) [44]; Taylor, (1967) [82]) Nhiều nước đ nhập nội thiên địch từ nước khác về để trừ sâu đục quả (Waterrhouse, 1993) [86]; và khảo ngiệm hiệu lực của chế phẩm NPV để trừ sâu xanh H armigera trên đậu đỗ (Bhagwat et al 1998) [25] Nhìn chung hiệu lực của các chế phẩm sinh học đối với sâu đục quả là cao nhưng chi phí ban
đầu thì tốn kém
2.3 Những nghiên cứu trong nước
2.3.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại
Nhũng nghiên cứu về sâu hại đậu rau ở nước ta còn rất ít Trong đợt điều tra cơ bản côn trùng năm 1967 – 1968 phát hiện được 39 loài côn trùng hại trên đậu đỗ trong đó có đậu rau Trong số những loài phát hiện được có 20 loài phổ biến (Viện Bảo vệ thực vật, 1976) [15]
Đợt điều tra chính thức năm 1977 – 1978 ở các tỉnh miền nam đ thu thập được 60 loài côn trùng và nhện hại cây họ đậu đỗ, như vậy thành phần loài đ phong phú hơn nhiều so với đợt điều tra năm 1967 – 1968 ở các tỉnh miền Bắc Trong số các loài này có 9 loài gây hại phổ biến (trong đó có sâu
đục quả Maruca testulalis, rệp Aphis craccivora, Spodoptera litura, Spodoptera exgua, …) (Viện Bảo vệ thực vật, 1999) [16]
Theo Nguyễn Thị Nhung, 2000 [9] thành phần sâu hại đậu rau ở vùng Từ Liêm ; Đông Anh – Hà Nội; Mê Linh – Vĩnh Phúc; Kim Bảng – Hà Nam trong các năm 1997 – 2000 có 23 loài sâu hại đậu rau trong đó gây hại nặng nhất là bộ cánh vẩy gồm sâu đục quả Maruca testulalis, sâu cuốn lá, sâu khoang Spodoptera litura, bộ 2 cánh: ruồi đục lá Liriomyza sativae, ruồi đục
Trang 32quả, ruồi đục thân Ophiomyza atricornis, bộ cánh đều: rệp muội đen Aphis craccivora
Gần đây nhất, Mai Phú Quý, Võ Thị Chỉ, (2005) [10] cho biết ở Việt Nam có 18 loài sâu hại đậu rau trong đó 2 loài quan trọng là sâu đục quả và ruồi đục lá
Nguyễn Thị ánh (1981) [4] đ tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sâu đục quả đậu đũa và tìm hiểu phương pháp xử lý thuốc cho hiệu quả cao nhất Tác giả đ tiến hành nuôi sinh học theo dõi vòng đời của sâu đục quả Maruca testulalis trong phòng thí nghiệm và điều tra biến động
số lượng của sâu ngoài đồng ruộng, tác giả khuyến cáo khi phát hiện có trứng sâu non của sâu đục quả Maruca testulalis trên đồng ruộng thì cho phun thuốc
đợt 1; khi quần thể sâu non 30% ở tuổi 1, tuổi 2 thì cho phun tiếp đợt sau, một
vụ phun từ 2 đến 4 lần, dùng Wofatox 50EC phun với nồng độ 0,1% cho hiệu quả tốt nhất
Viện Bảo vệ thực vật, 1999 [16] cũng đ điều tra ghi nhận loài sâu đục quả Maruca testulalis gây hại trên lạc khá phổ biến ở vùng Nghệ An, Hà Tây
tỷ lệ búp lạc bị hại lên tới 70 – 80% chúng xuất hiện vào cuối tháng 4, ăn lá, búp cây, sau đó mật độ sâu đục quả giảm nhường chỗ cho sâu khoang, tuy nhiên việc gây hại này không có ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất lạc vì lúc này cây có bộ lá phát triển mạnh, cây có khả năng đền bù diện tích
Trần Thị Thiên An, 2000 [1] nghiên cứu khá đầy đủ về đặc điểm hình thái và sinh học của ruồi đục lá đậu rau Liriomyza trifolii tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả cho biết ở điều kiện nhiệt độ trung bình 25,50c; ẩm độ 80,9% thời gian phát dục của các pha như sau: Pha trứng: 2,24 ngày; sâu non dạng dòi có 3 tuổi: 3,82 ngày; nhộng: 9,79 ngày, vòng đời trung bình là 16,78 ngày Ruồi đục lá rau Liriomyza trifolii gây hại trên 30 loài cây trồng thuộc
11 họ phổ biến là các cây họ đậu, họ bầu bí, họ cà, họ hoa thập tự Tỷ lệ bị hại
Trang 33cao nhất vào các thời kỳ cuối vụ Trong điều kiện tự nhiên không phun thuốc lá đậu đũa bị hại: 89%, lá đạu côve bị hại 88,8%, lá dưa leo bị hại 83,2% đồng thời tác giả điều tra phát hiện được 5 loài ký sinh loài sâu hại này (4 loài ký sinh ấu trùng, 1 loài ký sinh nhộng) với tỷ lệ ký sinh từ 0,6 – 40,6%
Bùi Sỹ Doanh và CTV, 1995 [6] đ tiến hành điều tra thực trạng việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên một số loại rau trong đó có đậu rau Trong 15 mẫu phân tích có tới 13 mẫu có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, 7 mẫu vượt quá xa so với dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cho phép của FAO, đặc biệt có 2 mẫu dư lượng thuốc rất cao từ 0,8 – 1,2 mg/kg rau
Gần đây có công trình điều tra ô nhiễm môi trường ở các vùng trồng rau
Hà Nội Tác giả cho biết hiện trạng xử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở đây là quá nhiều: trong một vụ Thu đông ít nhất nông dân phun thuốc trừ sâu từ 4 – 8 lần; vụ xuân phun thuốc từ sâu từ 8 – 12 lần Lượng thuốc dùng cho một ha rau trong một vụ đậu rau nhiều gấp đôi so với lượng thuốc sử dụng cho rau họ hoa thập tự cụ thể: trên đậu rau số lượng thuốc phun 4 – 24,6kg ai /ha/vụ ; cải bắp là 4 – 10 kg ai/ha/vụ Do sử dụng thuốc quá nhiều nên dư lượng thuốc bảo
vệ thực vật trong sản phẩm còn quá cao
Theo Mai Phú Quý và Vũ Thị Chỉ (2005) [10] trong những năm gần đây
có một thực tế làm đau đầu các nhà quản lý và gây tổn hại nhiều mặt cho người tiêu dùng là nguồn rau quả sử dụng hàng ngày được thu hái từ những cánh đồng phun quá nhiều thuốc hoá học để trừ sâu hại Có thể 80% diện tích rau quả ở Hà Nội có nguy cơ bị nhiễm độc do sử dụng thuốc trừ sâu bừa bi, bởi có tới 44,6% số hộ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cấm và 33,08% số hộ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục (kết quả điều tra 226 hộ)
Hướng tới việc xây dựng mô hình trồng rau quả sạch có chất lượng cao, Trần Thị Thiên An và Lê Thị Trúc Lâm, (2005) [2] cho biết loài ruồi đục lá
đậu rau Liriomyza trifolii hiện nay đang là một loài gây hại nghiêm trọng trên nhiều loại cây rau, cây hoa, cây cảnh có giá trị kinh tế Để phòng chống loại
Trang 34dịch hại này thì biện pháp phun thuốc hoá học trừ sâu không mang lại hiệu quả như mong muốn
Một số nước trên thế giới đ nghiên cứu việc sử dụng ký sinh để phòng chống loại sâu hại này đ thu được những kết quả khả quan Bằng phuơng pháp thu gom các lá rau bị ruồi đục lá từ một số x của huyện Hocmon và Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh đem về phòng thí nghiệm Kết quả cho thấy ấu trùng tuổi 1 tỷ lệ bị ký sinh bởi Asecodes delucchii là 4,3% tương tự ấu trùng tuổi 2 là 27,1% và ấu trùng tuổi 3 là 10,2%
Như vậy, những nghiên cứu về sâu hại đậu rau ở nước ta còn quá ít, để
đáp ứng được đòi hỏi của công tác phòng chống sâu hại chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: tình hình sâu hại đậu rau và biện pháp phòng chống thích hợp mang lại hiệu quả cao ở huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An trong
vụ Xuân năm 2006
Trang 353 địa điểm, vật liệu, nội dung và
phương pháp nghiên cứu
3.1 Địa điểm và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm
Thí nghiệm được bố trí tại Nghi Ân - Nghi Lộc - Nghệ An
Điều tra thành phần sâu hại và diễn biến mật độ sâu tại vùng Nghi Lộc - Nghệ An
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Giống đậu rau:
+ Giống đậu đũa: Hồng Đào, Hồng Điểm, HA 05, TUN 205, TUN 209, TUN 210, TUN 211
+ Giống đậu côve: Cô ve Hải Phòng, côve Địa Phương, côve Đài Loan, TL1
- Vật tư phân bón, dóc cắm giàn và các loại thuốc trừ sâu
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Điều tra thành phần và sự phân bố sâu hại trên các giống đậu rau :
+ Điều tra thành phần sâu hại: dùng phương pháp điều tra tự do Lấy nhiều điểm điều tra trên tất cả các giống đậu rau, tăng số lần điều tra để tăng cơ hội phát hiện sâu hại
Thu thập tất cả các côn trùng phát hiện thấy trên lá, trên thân, trên quả,… thu thập đầy đủ các giai đoạn phát dục (trứng, ấu trung, nhộng, trưởng thành), bảo quản mẫu và phân lập
Những cây có hiện tượng không bình thường như sinh trưởng còi cọc, héo vàng hoặc héo khô thì quan sát phần gốc, phần rễ của cây để xác định đối tượng hại
Trang 36+ Điều tra tình hình phân bố của sâu hại trong phổ ký chủ nhằm xác định trên từng giống đậu rau có loại sâu hại, xác định loài phổ biến, loài gây hại
ảnh hưởng đến năng suất, xác định thành phần sâu hại trên các giống đậu rau
có sự giống và khác nhau
Các chỉ tiêu ghi chép kèm theo:
- Tên giống đậu rau
- Nơi thu thập
- Ngày thu thập
- Bộ phận của cây bị hại
- Triệu chứng gây hại
- Mức độ gây hại (nặng, nhẹ hay % lá, hoa, quả bị hại)
- Số lượng sâu (nhiều, ít hoặc số sâu/lá, số sâu/hoa, số sâu/quả)
Qua mức độ thường gặp đánh giá được mức độ phổ biến của các loài sâu hại theo không gian
Chỉ số giống nhau về thành phần loài (gọi là chỉ số Jaccar và Sorensen)
để xác định được mức độ giống nhau về thành phần loài sâu hại trên từng cặp
2 giống đậu A và B được tính theo công thức sau :
Trang 372c
K = -
a + b
Trong đó:
a : số loài sâu hại có ở giống đậu A
b: số loài sâu hại có ở giống đậu B
c: số loài sâu hại có ở 2 giống đậu A + B
K = 0,61 – 0,80: Thành phần loài sâu hại trên hai giống đậu giống nhau;
K = 0,81 – 1,00: Thành phần loài sâu hại trên hai giống đậu rất giống nhau
3.2.2 Điều tra tình hình diễn biến số lượng của sâu hại theo mùa vụ đậu rau và theo thời gian sinh trưởng của cây:
Tiến hành điều tra trên một số đối tượng sâu hại chính trên một số giống
đậu rau Để đánh giá được diễn biến số lượng bằng cách theo dõi mật độ sâu
định kỳ 5 ngày một lần Chúng ta có thể dựa vào kết quả điều tra các hộ sản xuất đậu năm trước về tình hình sâu hại, kết quả điều tra sâu hại trong thời gian đầu vụ và các kết quả nghiên cứu trước tại địa bàn để xác định loại sâu hại chính có ảnh hưởng kinh tế
- Đối với sâu hại chính cần nắm được diễn biến số lượng của chúng trong
vụ, thời gian phát sinh, đỉnh cao trong một vụ
Tỷ lệ bị hại dựa vào từng đối tượng để đánh giá:
Sâu ăn lá: tính (%) lá bị hại
Sâu cuốn lá: tính (%) lá bị cuốn
Trang 38Sâu cắn ngọn: tính (%) ngọn bị hại
Sâu đục quả: tính (%) quả bị hại hoặc mật độ sâu/100 quả
Đối với bọ xít, sâu khoang có thể lấy ổ trứng làm chỉ tiêu phụ trong từng
thời gian điều tra
Một số loài sâu hại nhỏ sống quần tụ như rệp sáp, rầy, bọ trĩ tính theo
cấp hại thông thường: (3 cấp)
Cấp I: cấp bị hại nhẹ: sâu lẻ tẻ, rải rác trên lá, hoa, quả, ngọn bị hại
Cấp II: cấp bị hại trung bình: dưới 1/3 số lá, hoa, quả, ngọn bị hại, mật độ
sâu trên lá, hoa, quả, ngọn chưa dầy đặc
Cấp III: cấp bị hại nặng: trên 1/3 số lá, hoa, quả, ngọn bị hại, mật độ sâu
trên lá, hoa, quả, ngọn dầy đặc
Từ cấp bị hại điều tra sẽ tính ra chỉ số bị hại trong mỗi lần điều tra
N: tổng số lá, hoa, quả hoặc chồi điều tra
n: là cấp hại cao nhất
+ Mật độ cá thể Xi (con sâu/m2)
xi
Xi = -
S Trong đó:
Xi: mật độ cá thể sâu ở lần điều tra thứ i (con/m2)
Xi: số lượng cá thể thu được ở đơn vị điều tra thứ i (con/m2)
S: tổng diện tích điều tra (m2)
Deleted: ả
Deleted:
Trang 39+ Mật độ trung bình X (con/m2)
Sx
X = Xtb ± - √n Trong đó:
Xi: mật độ cá thể thu được ở lần điều tra thứ i (con/m2)
Xtb: mật độ sâu trung bình (con/m2)
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) diện tích mỗi ô thí nghiệm 30m2, nhắc lại 3 lần
Ca: là số sâu sống ở công thức đối chứng sau khi xử lý;
Cb: là số sâu sống ở công thức đối chứng trước khi xử lý
Hiệu lực của thuốc trừ sâu trên diện hẹp được phân tích thống kê theo chương trình IRISTAT 93 trên máy tính
+ Theo dõi mức độ bị sâu hại của một số giống đậu rau trồng ở Nghi Lộc – Nghệ An
Trang 40Thí nghiệm bố trí kiểu tự do các giống đậu đũa: TUN 205, TUN 209, TUN 210, TUN 211, TUNWZ, HA 05, Hồng Đào, Hồng Điểm;
Các giống đậu côve: côve Địa phương, côve Hải Phòng, côve Đài Loan, TL1 Mỗi băng có diện tích 1 sào (500m2) có điều kiện đất đai, khí hậu, thời
vụ và mức độ đầu tư phân bón là như nhau
- Điều tra mức độ bị hại trên các giống;
- Chỉ số bị hại và tỷ lệ gây hại trên các giống
So sánh mức đầu tư và tính hiệu quả kinh tế
Xử lý số liệu theo chương trình IRRSTAS