1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa

112 425 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá
Tác giả Phạm Đức Ngà
Người hướng dẫn PGS. TS. Đoàn Thị Thanh Nhàn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

-

phạm đức ngà

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: trồng trọt Mã số: 60.62.01

Hà Nội - 2006

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đ2 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ2 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 2006 Tác giả

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành bản luận án này, Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới cô hướng dẫn trực tiếp PGS.TS Đoàn Thị Thanh Nhàn, đã hết sức tận tình giúp đỡ và chỉ bảo nhiệt tình cặn kẽ trong suốt quá trình nghiên cứu

Xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Lãnh đạo, cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong Trung tâm Phát triển VAC đã tạo điều kiện về thời gian nghiên cứu, phương tiện, vật chất, kỹ thuật và cả công sức trí tuệ giúp tôi hoàn thành bản luận văn

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban giám đốc, Phòng nguyên liệu, Trung tâm nghiên cứu - khảo nghiệm giống mía Công ty

đường Nông Cống đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu về chuyên môn của tập thể các thầy, cô Khoa sau đại học, Bộ môn Cây công nghiệp, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội

Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới nhà trường, các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp cùng người thân đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 2006 Tác giả Tác giả

Phạm Đức Ngà Phạm Đức Ngà

Trang 4

Danh mục bảng biểu

Bảng 2.2: Tình hình sản xuất của một số nhà máy đường niên vụ 2003/2004 28Bảng 4.1 Kết quả về năng suất của các giống mía

qua khảo sát tập đoàn vụ Xuân năm 2003-2004 46Bảng 4.2 Các giống được lựa chọn để tiến hành khảo nghiệm

so sánh từ tập đoàn giống thí nghiệm 48Bảng 4.3: Khả năng sinh trưởng, phát triển qua các giai đoạn

của các giống mía thí nghiệm vụ xuân 2005 49Bảng 4.4: Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống mía

thí nghiệm vụ xuân năm 2005 53Bảng 4.5: Động thái ra lá của các giống mía thí nghiệm 57Bảng 4.6: Kết quả theo dõi một số sâu, bệnh hại chính trong

các giống mía thí nghiệm vụ xuân năm 2005 59Bảng 4.7: Kết quả về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

mía vụ xuân năm 2005 62Bảng 4.8: Một số chỉ tiêu về chất lượng mía 67Bảng 4.9: Khả năng sinh trưởng của mía trong điều kiện

có và không che phủ nilong tự hủy 72Bảng 4.10: Động thái tăng trưởng chiều cao và số lá của cây mía qua

các lần theo dõi trong điều kiện có che phủ nilonh tự hủy 74Bảng 4.11: Tình hình sâu, bệnh hại mía trong điều kiện

có che phủ nilong tự hủy 77Bảng 4.12: Kết quả về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

mía dưới ảnh hưởng của che phủ nilong tự hủy 79Bảng 4.13: Một số chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển qua các giai đoạn

của cây mía QĐ86368 trong điều kiện trồng xen lạc, đậu tương 83

Trang 5

Bảng 4.14: Động thái tăng trưởng chiều cao cây mía QĐ86368

trong điều kiện trồng xen lạc, đậu tương (cm) 85Bảng 4.15: Động thái tăng số lá/cây mía QĐ86368

trong điều kiện trồng xen lạc, đậu tương (lá) 86Bảng 4.16: Một số chỉ tiêu về sâu, bệnh hại chính của cây mía QĐ86368

trong điều kiện trồng xen lạc, đậu tương 88Bảng 4.17: Kết quả về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

giống mía QĐ86368 trong điều kiện trồng xen lạc, đậu tương 90Bảng 4.18 Chi phí sản xuất trồng mía che phủ nilong tự hủy 92Bảng 4.19 Chi phí sản xuất trồng mía với cây trồng xen lạc, đậu tương 93Bảng 4.20 Bảng cân đối hiệu quả kinh tế của việc trồng xen

và che phủ nilong cho mía 93

Trang 6

Danh mục đồ thị

Đồ thị 1: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống mía thí nghiệm vụ

xuân 2005 54

Đồ thị 2: Động thái ra lá của các giống mía nghiên cứu vụ xuân 2005 57

Đồ thị 3: Động thái tăng trưởng chiều cao cây mía trong điều kiện

che phủ nilong tự huỷ 74

Đồ thị 4: Động thái tăng số lá mía trong điều kiện

che phủ nilong tự huỷ 75

Đồ thị 5: Động thái tăng trưởng chiều cao cây mía QĐ86368

trong điều kiện trồng xen 85

Đồ thị 6: Động thái tăng số lá/cây mía QĐ86368

trong điều kiện trồng xen lạc, đậu tương 87

Trang 7

Mục lục

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục bảng biểu iii

Danh mục đồ thị v

Mục lục vi

Phần I: mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài .1

1 1.2 Mục đích và yêu cầu .1

2 1.2.1 Mục đích .1

2 1.2.2 Yêu cầu .1

2 1.2.3 ý nghĩa của đề tài……… 3

1.2.4 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài .1

4 Phần II: Tổng quan tài liệu .1

5 2.1 Lịch sử, nguồn gốc và phân loại thực vật .1 5

Trang 8

2.2 Một số đặc điểm sinh vật học và yêu cầu ngoại cảnh của cây mía

16

2.2.1 Đặc điểm thực vật học của cây mía

16

2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây mía

16

2.2.3 Một số mối quan hệ giữa đặc điểm sinh lý của cây mía

với môi trường trồng trọt 212.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu mía trên thế giới và ở Việt Nam 242.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường mía trên thế giới 242.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường mía trong nước 262.4 Cơ cấu giống và một số thành tựu trong công tác nghiên cứu

giống mía trên thế giới và Việt Nam 292.4.1 Vai trò của giống và cơ cấu giống đối với sản xuất mía đường

trên thế giới 292.4.1 Vai trò của giống và cơ cấu giống đối với sản xuất mía đường

ở Việt Nam 312.4 Một số biện pháp kỹ thuật che phủ nilong và trồng xen cho mía

ở trên thế giới và Việt Nam 322.4.1 Biện pháp kỹ thuật che phủ nilong cho mía 322.4.2 Biện pháp kỹ thuật trồng xen cho mía 332.5 Đặc điểm vùng nguyên liệu của công ty đường Nông Cống Thanh Hóa 35Phần III: Vật liệu, nội dungvà phương pháp nghiên cứu 383.1 Đối tượng nghiên cứu 383.2 Vật liệu nghiên cứu 38

Trang 9

3.3 Nội dung nghiên cứu 39

3.4 Phương pháp nghiên cứu 39

3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 42

3.6 Xử lý số liệu 44

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 45

4.1 Kết quả nghiên cứu về khảo sát tập đoàn giống mía 45

4.2 Kết quả nghiên cứu về so sánh các giống mía thí nghiệm vụ xuân 2005 48

4.2.1 Kết quả theo dõi về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các giống mía thí nghiệm vụ xuân 2005 48

4.2.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống mía thí nghiệm vụ xuân năm 2005 53

4.2.3 Động thái tăng số lá của các giống mía tham gia thí nghiệm vụ xuân 2005 56

4.2.4 Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống chịu của các giống vụ xuân 2005 mía trong thí nghiệm so sánh 58

4.2.5 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất mía thí nghiệm vụ xuân 2005 61

4.2.6 Kết quả nghiên cứu chất lượng của các giống mía trong thí nghiệm vụ xuân 2005 66

4.3 Kết quả nghiên cứu về kỹ thuật che phủ nilong tự hủy cho mía vụ đông xuân năm 2005 71

4.3.1 ảnh hưởng của che phủ nilong tự hủy đến khả năng sinh trưởng, phát triển của mía vụ đông xuân 71

4.3.2 ảnh hưởng của che phủ nilong tự hủy đến động thái tăng trưởng chiều cao cây và tăng số lá của cây mía 73

4.3.3 Tình hình sâu, bệnh hại và khả năng chống chịu của giống mía trong điều kiện có che phủ nilong tự hủy 77

Trang 10

4.3.4 ảnh hưởng của việc che phủ nilong tự hủy đến năng suất và các yếu tố

cấu thành năng suất 79

4.4 Kết quả nghiên cứu của biện pháp trồng xen cây họ đậu với mía 82

4.4.1 ảnh hưởng của việc trồng xen đến sinh trưởng, phát triển của giống mía QĐ86368 vụ xuân năm 2005 73

4.4.2 ảnh hưởng của trồng xen đến động thái tăng trưởng chiều cao cây mía QĐ86368 vụ xuân 2005 84

4.4.3 ảnh hưởng của việc trồng xen đến động thái ra lá của giống mía QĐ86368 86

4.4.4 ảnh hưởng của trồng xen đến tình hình sâu bệnh hại chính trên mía 88

4.4.5 ảnh hưởng của trồng xen đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống mía QĐ86368 vụ xuân 2005 90

4.4.6 Hiệu quả kinh tế của trồng mía xen lạc, đậu tương và che phủ nilong tự hủy 92

Phần V: Kết luận và đề nghị 95

5.1 Kết luận 95

5.2 Đề nghị 96

Tài liệu tham khảo 97

Phụ lục .99

Trang 11

Phần I

Mở ĐầU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây mía (Saccharum officinarum L.) là cây công nghiệp ngắn ngày và là một loại cây gắn liền với ngành công nghiệp sản xuất mía đường, có tiềm năng cho năng suất cao, đặc biệt ở vùng đồi núi cây mía có ưu thế hơn hẳn so với các cây trồng khác Cây mía đ2 được trồng ở nước ta từ rất lâu đời, nhưng m2i đến thập niên 90 khi ngành mía đường trên thế giới và ở trong nước phát triển mạnh thì cây mía mới thực sự được chú trọng và đến năm 2000 ngành đường trong cả nước cũng đ2 hoàn thành chương trình của chính phủ đặt ra 1triệu tấn

đường/năm

Cùng với sự phát triển của ngành mía đường trong cả nước Vùng nguyên liệu của Công ty mía đường Nông Cống đ2 hình thành và đi vào sản xuất từ năm 1999, đến nay diện tích cũng đ2 đạt được trên 6.000 ha, công suất của nhà máy đạt 2000 tấn/ngày và sản lượng hàng năm trên 150.000 tấn mía tương đương với 15.000 tấn đường, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tuy nhiên, vùng nguyên liệu của Công ty mía đường Nông Cống tập trung, phần lớn nằm trên gồm 4 huyện là: Như Thanh, Như Xuân, Nông Cống

và Tĩnh Gia; Trong đó có Nông trường Lê Đình Chinh, Nông trường Yên Mỹ,

Xí nghiệp B2i Trành, Lâm trường Thanh Kỳ, Lâm trường Sim Đây là vùng đất

có diện tích đất tự nhiên rất rộng, nhưng hầu hết là đất đồi núi, nghèo dinh dưỡng, chế độ canh tác sử dụng đất còn lạc hậu, manh mún và phân tán, nhỏ, lẻ, trong canh tác gặp khó khăn đặt biệt là nguồn nước tưới, hầu như phụ thuộc vào nước trời Cùng với tập quán canh tác lạc hậu của người dân nơi đây, dẫn đến sự

Trang 12

sinh trưởng và phát triển của cây mía bị hạn chế, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng, trung bình mới chỉ đạt từ 40-45 tấn mía cây/ha

Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học, các nhà sản xuất cần phải có những biện pháp kỹ thuật phù hợp để tăng năng suất mía nguyên liệu, giúp người nông dân sản xuất có hiệu quả, thu lợi nhuận cao

Xuất phát từ những nhu cầu bức xúc của sản xuất, kết hợp với sự giúp

đỡ của Ban l2nh đạo Công ty mía đường Nông Cống; Dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Thị Thanh Nhàn chúng tôi thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá”

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Thông qua một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu: lựa chọn các giống chín sớm, trung bình, muộn chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh, có chữ đường cao, có năng suất từ trung bình đến khá, kỹ thuật che phủ nilong tự huỷ, trồng xen lạc, đậu tương với mía nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, năng suất, chất lượng, phục vụ nhu cầu nguyên liệu ổn định và bền vững cho nhà máy trong thời gian dài

1.2.2 Yêu cầu

- Lựa chọn được một số giống mía phù hợp với vùng nguyên liệu Công

ty đường Nông Cống trong tập đoàn mía chín sớm, trung bình, muộn tạo ra cơ cấu rải vụ thích hợp

- Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật che phủ nilong tự huỷ cho mía vụ

đông xuân vùng đồi đến sinh trưởng, phát triển năng suất và chất lượng của mía nguyên liệu

Trang 13

- Nghiên cứu trồng xen lạc, đậu tương với mía trong điều kiện che phủ nilong tự huỷ nhằm bồi dưỡng và tăng hiệu quả thu nhập trên đất mía

1.2.3 ý nghĩa của đề tài

1.2.3.1 ý nghĩa khoa học

- Nghiên cứu để tìm ra những giống mía thích hợp thuộc các nhóm chín sớm, chín muộn, chín trung bình, có khả năng chống chịu tốt, chữ đường cao phù hợp điều kiện của vùng đồi Nông Cống - Thanh Hoá và phục vụ nhu cầu nguyên liệu cho nhà máy trong thời gian dài

- Việc che phủ nilong tự huỷ để trồng mía nguyên liệu làm tăng ẩm độ

đất, chống sự thoát hơi nước tự nhiên, giữ được nguồn phân bón cho cây tránh hiện tượng rửa trôi của đất mía, giúp mía sinh trưởng, phát triển tốt ngày ở giai

đoạn đầu làm tăng năng suất, hạn chế rửa trôi và cỏ dại cho đất mía

- Thấy rõ hiệu quả của việc trồng xen lạc, đậu tương với mía giúp giữ

ẩm cho đất, cải tạo đất, làm tăng hiệu quả sử dụng đất cho người nông dân 1.2.3.2 ý nghĩa thực tiễn

- Nông Cống là một trong những huyện nghèo của tỉnh Thanh Hoá, đời sống người dân nơi đây chủ yếu dựa vào nông nghiệp, diện tích đất canh tác tuy có rộng, song chủ yếu là diện tích đất đồi khô hạn, nguồn nước tưới chủ yếu là dựa vào nước trời Do đó, cây mía là cây mang lại hiệu quả và ưu thế hơn cả so với các cây trồng khác trong phát triển nông nghiệp của vùng

- Thông qua nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật có thể lựa chọn những giống thích hợp, những biện pháp cụ thể để áp dụng cho điều kiện trồng mía nguyên liệu phụ thuộc vào nước trời tại vùng Nông Cống - Thanh Hoá

- Bằng các biện pháp kỹ thuật có thể đánh giá được hiệu quả của việc che phủ nilong tự huỷ, trồng xen lạc, đậu tương giảm giá thành chi phí, nâng cao năng suất mía nguyên liệu từ trung bình đến khá (>75 tấn/ha)

Trang 14

1.2.4 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài

- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 2/2005 đến tháng 6/2006

- Địa điểm: Đề tài được thực hiện tại vùng nguyên liệu của Công ty Mía

đường Nông Cống - X2 Thăng Long - Nông Cống - Thanh Hóa

Trang 15

Phần II Tổng quan tài liệu

2.1 Lịch sử, nguồn gốc và phân loại thực vật

Cây mía (Saccharum officinarum L.) thuộc ngành có hạt (Spermatopphyta) Lớp một lá mầm (Monocotyledoneae) họ hào thảo (Gramineae), loại Saccharum xuất hiện trên trái đất cách đây hàng vạn năm Theo tài liệu dẫn của Giáo trình Cây công nghiệp (1996) cho rằng ngày nay Tân Ghinê là nơi nguyên sản của cây mía [1] Từ đây cây mía được đưa đến các vùng khác nhau trên thế giới trong phạm vi kéo dài từ vĩ tuyến 350 Bắc

đến vĩ tuyến 350 Nam Trong tác phẩm “Nguồn gốc giống cây” của Decandolle lại viết: Cây mía được trồng đầu tiên ở vùng Đông Nam á, sau đó qua Châu Phi và Châu Mỹ (R P Humbert 1963)[22] Theo tài liệu dẫn của Lê Song Dự từ xa xưa cây mía và đường thủ công Việt Nam đ2 từng được sử dụng làm công phẩm cho các triều đình phong kiến từ phương Bắc từ năm 206 trước công nguyên, thời Hán Cao Đế [2], về vấn đề này Lý Văn Ni cũng đ2 xác nhận “Cây mía và nghề chế biến đường cổ xưa ở Trung Quốc đ2 thu nhập từ người Giao Chỉ - Việt Nam đến Quảng Đông, Hồ Bắc” [2]

Theo tác phẩm “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (1961) [3] “ở vùng

đồng bào Giarai - tỉnh Gia Lai ngày xưa cây mía cùng cây chuối, nồi đồng, vải trắng và những phẩm vật người dân Thủy Xá, Hỏa Xá hàng năm tự ý góp nộp cho Thủy Vương, Hỏa Vương

Từ những dẫn chứng trên đ2 chứng minh cây mía có mặt ở Việt Nam từ rất lâu đời, điều đó chứng tỏ: Cây mía có khả năng thích nghi và phát triển tốt trong điều kiện sinh thái nước ta

Trang 16

2.2 Một số đặc điểm sinh vật học và yêu cầu ngoại cảnh của cây mía 2.2.1 Đặc điểm thực vật học của cây mía

- Mía là cây một lá mầm bộ rễ gồm rễ hom và rễ cây phát triển khỏe, phân bố sâu trên 1m và rộng lan tỏa với bán kính trên 0,5m, trên cơ sở đó tạo nên khối lượng thân lá và chất xanh lớn Năng suất sinh vật học có thể đạt từ

500 đến 800 tấn/ha, và năng suất mía cây đạt trên 100 tấn tới 300-400 tấn/ha Tuy nhiên, nếu tầng đất canh tác mỏng, nghèo dinh dưỡng, đất khô hạn và mực nước ngầm sâu (cách mặt đất từ 40-50cm) thì bộ rễ phát triển kém, cây sinh trưởng yếu và năng suất thấp

- Mía là cây C4, có bộ lá quang hợp khỏe, chỉ số diện tích lá lớn, thời kì sinh trưởng mạnh diện tích lá gấp 6-7 lần diện tích mặt đất mà cây mía chiếm chỗ

- Thân mía là đối tượng thu hoạch có chiều cao và đường kính lớn Trên cơ sở tạo ra năng suất mía cây cao (>100 tấn/ha với mía sinh trưởng 12 tháng) Tuy nhiên, khai thác trên cây mía chính là lượng đường trong thân Trong sản xuất hiện nay thường sử dụng các giống mía lai, cho phép lượng đường trong mía cao, với chữ đường CCS ≥ 10

Mía là cây ngày ngắn, khi mía chín công nghiệp (lúc trong cây có hàm lượng đường cao nhất) cũng trùng với giai đoạn mía chín sinh vật (cây ra hoa) dẫn đến giảm thấp năng suất đường mía

ở Việt Nam, các vùng trồng mía do sử dụng giống và biện pháp canh tác trồng chưa phù hợp, nên hàng năm hiện tượng ra hoa sớm là khá phổ biến 2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây mía

Mía là cây có chu kỳ sinh trưởng từ 1 đến 2 năm (12 tháng, 18 tháng,

24 tháng) ở Việt Nam trồng mía chủ yếu là cây mía có thời gian sinh trưởng

12 tháng, các vùng nguyên liệu mía miền Bắc và khu IV cũ thường trồng mía

vụ chính là vụ Đông Xuân, sau đó thu hoạch từ tháng 11, 12 đến tháng 2, 3

Trang 17

năm sau, lúc có nhiệt độ, ẩm độ thấp và biên độ ngày đêm cao thuận lợi cho tích lũy đường Từ khi trồng đến khi thu hoạch cây mía có các giai đoạn sinh trưởng, phát triển chính là: giai đoạn mọc mầm, giai đoạn cây con, giai đoạn

đẻ nhánh, vươn cao và chín Trải qua mỗi giai đoạn khác nhau, khả năng sinh trưởng và yêu cầu ngoại cảnh cùũg khác nhau

Do cây mía có khả năng sinh trưởng vô tính, nên trong sản xuất đ2 sử dụng hom ngọn để trồng Do đó, chất lượng hom giống, độ ẩm, đất và kỹ thuật trồng có ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến tỷ lệ mọc mầm của mía Các yếu tố

ảnh hưởng đến nảy mầm bao gồm chất lượng hom giống, độ ẩm, nhiệt độ đất

Nảy mầm tốt đặt cơ sở vững chắc cho sự sinh trưởng của cây con và liên quan mật thiết đến số cây hữu hiệu, chiều cao, đường kính thân mía và sản lượng mía cây khi thu hoạch Do đó, việc tác động các biện pháp kỹ thuật để mía mọc mầm khỏe, đều và mọc nhanh là hết sức cần thiết

- ở thời kì cây con; có thể nói đây là thời kì cây chuyển dần sang sinh trưởng tự dưỡng nên sức sinh trưởng yếu, bộ rễ và thân lá phát triển chậm, nên

dễ bị các yếu tố ngoại cảnh như cỏ dại, sâu bệnh phá hại, cũng như nếu gặp các điều kiện khí hậu không thuận lợi như khô hạn, rét đều làm cho cây sinh trưởng, phát triển kém, thông qua đó mà ảnh hưởng làm chậm các giai đọan sinh trưởng tiếp sau

- Thời kì đẻ nhánh được xác định khi cây mía có 6-7 lá thật, các mầm ở

Trang 18

dưới đất, trên thân cây mẹ phát triển thành nhánh cấp 1 Từ các nhánh cấp 1 tiếp tục hình thành các nhánh cấp 2, 3 Quá trình đẻ nhánh tiếp diễn cho tới khi hình thành một thế cân bằng giữa số thân trong bụi mía với khả năng cung cấp, nước, thức ăn, ánh sáng của môi trường Đẻ nhánh là quá trình có lợi cho sản xuất mía nguyên liệu Trong thực tế sản xuất người ta sử dụng các nhánh cấp 1, 2 làm thành cây hữu hiệu (chiếm tỷ lệ từ 30 đến 50%) Tuy nhiên, các cây mẹ, các nhánh cấp 1, 2 là số cây hữu hiệu, lại chín và thu hoạch cùng một lúc Do đó, cần tác động các biện pháp kỹ thuật làm cho thời kì này mọc nhanh được xem là một khâu kỹ thuật không thể bỏ qua

Tác động các biện pháp kỹ thuật như chọn giống, thời vụ, che phủ nilong, trồng xen giúp cho quá trình đẻ nhánh khỏe, nhanh, tập trung là tạo tiền đề cho năng suất quần thể của mía cao và nâng cao tỷ lệ đường trong mía

Thực chất quá trình đẻ nhánh mía là sự nảy mầm của các mầm phía gốc của cây; vì vậy nó đòi hỏi các điều kiện ngoại cảnh để mọc mầm tốt như : Nhiệt

độ, nước, đặc biệt là ánh sáng, độ tơi xốp và dinh dưỡng của đất Nếu các điều kiện tối ưu sẽ rút ngắn thời gian đẻ nhánh từ 3-4 tháng xuống còn 1-2 tháng

Ngoài ra, do qua strình đẻ nhánh, mía đ2 đóng góp một số lượng lớn các nhánh cấp 1, 2 vào tổng số cây hữu hiệu của toàn ruộng, nên cho phép cây mía được trồng hàng rộng (từ 1,1m đến 1,3m), cũng như giảm bớt được hom trồng Như vậy, vào thời gian đầu sinh trưởng của mía, cây con mọc chậm, các lá chưa che rợp hàng, diện tích đất trồng còn nhiều Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất và góp phần cải tạo đất mía, có thể trồng các cây họ

đậu ngắn ngày như lạc, đậu tương Tuy nhiên, mật độ giống cây trồng xen và các biện pháp canh tác khác phải nghiên cứu để cả mía và cây trồng xen đều cho năng suất và hiệu quả cao, cũng như không ảnh hưởng đến mía là cây trồng chính của vùng

Trang 19

- Thời kì vươn cao (vươn lóng): Cuối thời kì đẻ nhánh, cây mía bước vào thời kì vươn cao (khi cây mẹ xuất hiện lóng)

Ngọn phát triển, số lá tăng nhanh, bộ rễ phát triển mạnh, thân vươn cao nhanh, chất khô tích luỹ mạnh

Đỉnh sinh trưởng phân hoá thành đốt và lóng kế tiếp nhau, thân dài ra, lá phát triển tới kích thước tối đa

Bộ lá thời kì này có 10 lá xanh, phát triển hoàn chỉnh, còn ở ngọn có 7 lá non cuộn tròn chuẩn bị thay thế lá già (Thời gian xuất hiện một lá mới thay

đổi 1 - 3 tuần tuỳ theo nhiệt độ)

Thời kì này bộ lá và rễ đ2 phát triển đầy đủ, các hoạt động sinh lý của cây đạt tới đỉnh cao, hiệu lực sử dụng độ phì đất đai, phân bón, năng lượng

ánh sáng mặt trời tăng, nên cây mía sinh trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng chiều cao đạt từ 10 - 50 cm/tháng, tháng vươn mạnh có thể đạt 60 - 80 cm/tháng

Đây là thời kì rất quan trọng quyết định trọng lượng thân, tức là thời kì quyết định năng suất mía cây Trái lại với thời kì đẻ nhánh thời kì vươn cao càng kéo dài càng có lợi để nâng cao năng suất cây mía Trên thực tế, ở Việt Nam cho thấy mía bước vào vươn cao sớm và kết thúc muộn, cũng như thời kì vươn cao trong điều kiện mùa hè có điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao, mưa nhiều, dinh dưỡng đầy đủ, ánh sáng ngày dài và cường độ ánh sáng mạnh sẽ giúp cho cây mía tạo một khối lượng chất xanh cao và là cơ sở cho năng suất mía cây

và sản lượng đường cao Như vậy, chăm sóc tốt thời kì nảy mầm, đẻ nhánh là tạo tiền đề cho năng suất cao, còn tác động đúng thời kì vươn cao chính là khâu có ý nghĩa quyết định năng suất, sản lượng vườn mía

Mía là cây nhiệt đới và là cây một lá mầm nên không có tổ chức phân sinh thứ cấp, do đó mức độ tăng thêm chiều dài và đường kính của lóng được

Trang 20

quyết định bởi những điều kiện môi trường (nước, ánh sáng, nhiệt độ, dinh dưỡng) tác động trực tiếp đến sinh trưởng của lóng Nếu điều kiện môi trường

ở một thời điểm nào đó của thời kì vươn cao không thuận lợi sẽ làm giảm chiều dài và đường kính của một số lóng, sau đó dù gặp lại điều kiện thuận lợi cũng không phục hồi lại được dẫn đến năng suất giảm sút

Như vậy, yêu cầu kỹ thuật đối với thời kì vươn cao là tạo điều kiện tối thích cho cây mía về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng đồng thời cung cấp đầy đủ, kịp thời chất dinh dưỡng cho cây để đạt năng suất mía tối đa Vùng nguyên liệu mía phía Bắc và Bắc Trung Bộ, điều kiện khí hậu nhìn chung phù hợp với sinh trưởng của mía, ở thời kì vươn cao Tuy nhiên, vào thời gian này có gió lào và mưa b2o lớn ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và năng suất mía

- Thời kì chín công nghiệp và trỗ cờ Mía chín công nghiệp là khi hàm lượng đường trong cây mía đạt mức cao nhất để thu hoạch ép đường Sự hình thành và tích luỹ đường trong cây mía bao gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 là sự kết hợp giữa CO2 và H2O, tạo thành đường đơn glucoza C6H12O6, với sự có mặt của diệp lục và ánh sáng Giai đoạn 2 là quá trình chuyển hoá đường đơn thành đường saccroza C12H22O11 và các đường đa khác, giai đoạn này không cần ánh sáng và diệp lục

Quá trình tích luỹ đường trong cây mía diễn ra từ dưới gốc lên ngọn, và

từ ngoài vào trong, lần lượt từ lóng này đến lóng khác Lóng phía dưới chín trước, lóng trên chín sau Khi mía sắp chín, tốc độ tăng hàm lượng đường ở những lóng phía trên, diễn ra nhanh hơn: Do đó, ngọn đuổi kịp gốc cho tới khi xấp xỉ nhau Khi hàm lượng đường của phần thân ngọn tương đương với phần gốc là mía đạt độ chín công nghiệp

Điều kiện khí hậu để mía chín tốt là ánh sáng đầy đủ, nhiệt độ, ẩm độ thấp, đặc biệt phải có biên độ chênh lệch ngày và đêm cao Khu vực phía Bắc

Trang 21

và Bắc Trung Bộ, thời gian chín của mía roi vào tháng 11, 12 trở đi, lúc này có gió mùa đông bắc khô hanh và nhiệt độ chênh lệch ngày đêm cao là điều kiện rất thuận lợi cho mía chín, tuy nhiên nếu trồng cùng một giống mía và cùng một thời vụ thì mía sẽ chín cùng một lúc, dẫn đến thu hoạch không kịp làm cho mía chuyển sang sinh trưởng sinh thực ra hoa, làm năng suất và đặc biệt độ

đường giảm mạnh Do đó, việc xác định các giống mía có thời gian sinh trưởng

và chín khác nhau (Sớm, trung bình, muộn) rất có ý nghĩa để giảm tới mức tối

đa sự thất thoát đường do mía không thu hoạch kịp mà trỗ cờ ra hoa

Tóm lại, điều kiện đất đai và khí hậu Viêt Nam nói chung và miền Bắc Trung Bộ - vùng đất đỏ Thanh Hóa nói riêng là hoàn toàn phù hợp với sinh trưởng của cây mía, có nhiều tiềm năng để đạt năng suất mía cây và chữ

đường cao Như vậy, nghiên cứu lựa chọn và xác định các giống mía phù hợp cho vùng đất đồi kết hợp với các biện pháp kỹ thuật khác như che phủ nilong, trồng xen sẽ góp phần tích cực trong việc hoàn thành quy trình kỹ thuật trồng mía thâm canh vùng đồi, nâng cao năng suất chất lượng hiệu quả kinh tế

và thu nhập cho người trồng trồng mía

2.2.3 Một số mối quan hệ giữa đặc điểm sinh lý của cây mía với môi trường

Yếu tố nhiệt độ ảnh hưởng tới quang hợp, vận chuyển và tích luỹ

đường: Nhiệt độ từ 30-400C tốc độ quang hợp của mía hầu như không thay đổi

ở vùng nhiệt đới Với nồng độ CO2 thích hợp 0.05%, nhiệt độ 340C quang hợp

đạt mức cao nhất.[7]

Trang 22

Nhiệt độ thấp ban đêm làm tăng sản lượng đường Biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm càng cao, càng thuận lợi cho mía làm đường, trái lại ở nhiệt độ cao không có giống nào, kể cả giống có năng suất cao có thể tích luỹ được một lượng đường bình thường

Do đó, ở miền Bắc Việt Nam khi mía chuyển sang giai đoạn thành thục (mía chín);  mía tơ trồng vụ xuân sinh trưởng đ2 được 10-12 tháng; mía tơ trồng vụ thu năm trước sinh trưởng 14-16 tháng, mía để gốc sinh trưởng được 10-11 tháng, cũng là lúc ứng với điều kiện thời tiết chuyển gió mùa đông bắc,

điều kiện khí hậu thuận lợi cho quá trình tích lũy đường ở cây mía, mùa mưa chấm dứt, mùa khô bắt đầu nhiệt độ thấp dần và biên độ giữa ngày và đêm tăng, trời ít mây, nhiều ngày trong sáng có nắng khô hanh  đó là điều kiện khí hậu tối ưu: Hạn khô rét lạnh  các thông số về chất lượng nước mía đạt giá trị cao nhất thời gian tháng 12-1

Như vậy, ở mỗi vùng sinh thái khí hậu nông nghiệp điều kiện khí hậu thích hợp quyết định thời vụ thu hoạch và do đó ảnh hưởng tới thời vụ trồng Vì thời vụ trồng phải được ấn định để đến mùa thu hoạch mía, cây mía đ2 hoàn thành chu kỳ sinh trưởng cho sản lượng mía cây cao nhất đồng thời có chất lượng mía tốt nhất Như vậy, có thể nói “mô hình thời vụ của một vùng trồng mía phải lấy thời vụ mía chín làm đường chuẩn”

Tuy nhiên, ngày nay với công tác chọn tạo giống đạt đến trình độ cao

và giống tốt hoà với các nhóm giống chín sớm, trung bình, muốn có năng suất, chữ đường cao cho phép mở rộng khung thời vụ thu hoạch vừa đáp ứng yêu cầu rải vụ mía mà vần cho năng suất, phẩm chất tốt

Trong lá mía hàm lượng diệp lục tố biến động và đạt cao nhất khi lá đạt diện tích tối đa, cũng như tăng từ bẹ lá lên ngọn lá Lá mía tiếp tục tăng hoạt

động quang hợp với cường độ ánh sáng cao, khi cường độ ánh sáng lên tới

Trang 23

1ly/phút quang hợp thuần đạt giá trị cao hơn 40mg/dm2/giờ, trong khi đó các cây khác (có điểm b2o hoà ánh sáng) giá trị quang hợp chỉ là 4mg/dm2/giờ

đến 21mg/dm2/giờ [7]

Tuổi cây cũng có ảnh hưởng đến quang hợp nhiều hơn là các biến số khác như (vị trí lá, thời tiết, thời điểm trong ngày) Ví dụ: ở Hawai cây mía mức quang hợp cao nhất vào lúc 5 tháng tuổi, thấp nhất khi 15 tháng tuổi (Hawai vĩ tuyến 200β gần cũng vĩ tuyến với miền bắc Việt nam)

- Mối quan hệ về ảnh hưởng của giống mía đối với quang hợp

Các giống lai có kích thước lá to, diện tích lá lớn có khả năng quang hợp cao Tốc độ quang hợp phụ thuộc vào chiều dày và độ xốp của lá, 2 thông

số này được xem là chỉ số của hiệu lực sinh lý nói lên khả năng quang hợp, rất

được coi trọng trong quá trình lai tạo giống và lựa chọn giống cho các vùng sinh tháivà vùng đất trồng mía khác nhau Vùng mía thâm canh nên chọn giống mía có diện tích lá lớn, ngược lại vùng mía không có điều kiện thâm canh, vùng đồi khô hạn phụ thuộc nước trời nên chọn các giống mía cứng cây, góc lá hẹp, diện tích lá trung bình, thế lá đứng Các giống lai hiện nay, đặc biệt là các giống ROC của Đài Loan định hướng theo yếu tố này

- Mối quan hệ giữa độ ẩm và vận chuyển tích lũy đường

Độ ẩm ảnh hưởng đến tốc độ, mức vận chuyển và tích lũy đường

Khô hạn làm giảm tốc độ và mức vận chuyển đường và như vậy đường

dự trữ ở các mô tăng lên Việc không cho nước vào ruộng mía là một biện pháp thông thường làm cho mía ngừng sinh trưởng và giữ đường tích luỹ trong thân mía và ngược lại

Mưa làm cho mía tiếp tục sinh trưởng đường được vận chuyển đến các mô phân sinh ở bộ phận non để nuôi cây (do đấy làm hàm lượng đường giảm đi)

Khi chuẩn bị thu hoạch người ta rút nước cho ruộng mía khô hạn sẽ làm

Trang 24

tăng đường tích luỹ trong thân, ức chế sinh trưởng - Đó là một biện pháp luôn

được áp dụng trong thực tế sản xuất

Cây bị hạn chịu áp suất thẩm thấu cao (4.4 at) Trong thời gian 1 tháng

mà bị hạn thì vận chuyển đường bị ức chế có tác dụng làm tăng lượng đường tích luỹ ở cây mía Nước giảm  hàm lượng đường tăng  tỷ lệ đường kết tinh trên đường khử tăng Khi hạn và thiếu nước dẫn đến lượng đường tích lũy giảm do quang hợp kém và sự hao phí đường trong quá trình vận chuyển gia tăng Như vậy, hạn rễ không những làm giảm thấp khả năng sinh trưởng, năng suất của mía mà còn làm giảm lượng đường trong cây mía

Như vậy, thông qua các biện pháp kỹ thuật như giống, tưới nước, thời

vụ, che phủ nilong, trồng xen cây họ đậu (lạc, đậu tương) là các biện pháp tích cực để nâng cao năng suất và sản lượng của các vùng mía nguyên liệu, đặc biệt là các vùng mía đồi như vùng mía nguyên liệu của công ty đường Nông Cống Thanh Hóa

2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu mía trên thế giới và ở Việt Nam 2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường mía trên thế giới

- Tình hình sản xuất: Đường mía giữ vai trong thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực đặc biệt trong lĩnh vực chế biến Hiện nay, trên thế giới có trên 70 nước trồng mía, sản lượng hàng năm không gia tăng biến động nhiều Từ năm 1966 đến 1986, sản lượng đường thế giới đ2 tăng lên 57%; từ 62,9 triệu tấn lên 98,7 triệu tấn, đến năm 1990 đ2 đạt

đến 100 triệu tấn, trong đó đường mía chiếm 62%.[1] và tính đến năm 2005 sản lượng đường thế giới đ2 đạt đến mức trên 145 triệu tấn Sản xuất đường mía chủ yếu tập trung ở các nước Châu Mỹ (Brazil, Mỹ, Mexicô…), sau đó đến Châu á (ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam…) và một số châu lục khác Nhìn chung thị trường đường thế giới cũng do các nước trồng mía chi phối

Trang 25

Bước vào đầu những năm 2000 ngành mía đường thế giới đ2 có nhiều biến động lớn, niên vụ 2001/2002 sản lượng đường trên thế giới đạt 137,5 triệu tấn, trong khi đó mức tiêu thụ chỉ đạt 135,7 triệu tấn dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu.[16]

Niên vụ 2002/2003 sản lượng đường trên thế giới đạt 147,6 triệu tấn (quy đường thô) và cao hơn nhu cầu của người tiêu dùng khoảng 6,1 triệu tấn,

điều này đ2 đưa ngành đường thế giới rơi vào tình trạng khủng hoảng Lượng

đường tồn kho trên thế giới vào cuối niên vụ 2002/2003 đ2 đạt mức kỷ lục 38,7 triệu tấn, tăng 18,5% so với niên vụ trước Trong đó, tồn kho đường tăng mạnh nhất ở các nước sản xuất lớn như Brazil, Thái Lan và ấn Độ

Bước vào vào thời điểm đầu năm 2004, tổng sản lượng đường của thế giới trong niên vụ 2003/2004 đ2 giảm đáng kể so với niên vụ 2002/2003 sau khi liên tục tăng trong nhiều năm Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tổng sản lượng

đường trên thế giới đ2 giảm gần 7 triệu tấn[14] Hầu hết các nước sản xuất đường lớn trên thế giới đều chịu sự giảm sút về sản lượng đường Đáng kể nhất là ấn Độ khi sản lượng đường của nước này đ2 giẻm tới 5,5 triệu tấn (xấp xỉ 25%) xuống còn 16,67 triệu tấn Theo chúng tôi, có sự giảm thiểu đường mía ấn Độ, Brazil

là tại các nước này đ2 chuyển một số lớn diện tích mía dùng làm nguyên liệu để sản xuất ethanol với lý do lượng đường thế giới cung vượt quá cầu

Trong năm 2005 nhu cầu về đường của thế giới tăng vọt dẫn đến sản lượng đường tăng theo Tổ chức Nông - Lương của Liên hợp quốc (FAO), cho biết sản lượng đường niên vụ 2005/06 của thế giới là 149,7 triệu tấn, tăng 3%

so với niên vụ 2004/05 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường nói chung và

đường mía nói riêng ở trên thế giới đang theo chiều hướng ra tăng về giá cả,

có lợi cho người trồng mía Đặc biệt từ tháng 12/2005 đến nay, theo Hiệp định

Đường Quốc tế (ISA) giá đường tăng từ 11,38 UScent/1b tháng 11/2005 lên 17,24 UScent/1b tháng 3/2006[14]

Trang 26

Ngoài ra, từ cây mía không chỉ sản xuất đường mà còn có thể sản xuất ethanol nguồn nhiên liệu sinh có nhu cầu ngày càng tăng cao Rõ ràng việc trồng mía ở các nước trên thế giới hiện nay và trong tương lai càng được đẩy mạnh và gia tăng, vì song song phục vụ nguyên liệu cho hai ngành công nghiệp chế biến đường và sản xuất ethanol

Vì vậy, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất mía nguyên liệu vẫn đang là sự quan tâm của nhiều nước hiện nay trên thế giới 2.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường mía trong nước

- Tình hình sản xuất: Sau khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) trình Thủ tướng chính phủ Bản quy hoạch tổng quan về phát triển ngành mía đường Việt Nam ngày 13/10/1994 Từ đó, ngành mía đường trong cả nước đ2 có những bước phát triển vượt bậc, nhanh chóng, năm 1995 cả nước mới chỉ có 224,8 nghìn ha đất trồng mía, sản lượng 10.711,0 nghìn tấn mía cây, đến năm 2000 cả nước đ2 đạt 302,9 nghìn ha, sản lượng 15.246 nghìn tấn mía cây, niên vụ 2004/2005 cả nước đ2 đạt được 280 nghìn ha, đến niên vụ 2005/2006 diện tích trồng mía giảm chỉ còn 265 nghìn ha, sản lượng mía đạt 13,5 triệu tấn Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cho biết khả năng sản xuất đường của Việt Nam tới năm 2010 được xác

định từ niên vụ 2005/2006 trở đi là không đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường

Vụ sản xuất mía đường 2006-2007, diện tích mía nguyên liệu dự kiến đạt 290 nghìn ha, tăng 25 nghìn ha; sản lượng đường dự kiến đạt 1.237.200 tấn và cho

đến 2010 diện tích mía nguyên liệu sẽ ổn định ở mức 300.000ha trong đó vùng nguyên liệu tập trung cho các nhà máy 250.000ha Sản lượng mía bình quân

đạt khoảng 19,5 triệu tấn, trong đó vùng tập trung đạt 17 triệu tấn.[14] Tính

đến năm 2002 cả nước có 44 nhà máy Song tới 2005/2006 đ2 có tới 7 nhà máy ngừng hoạt động lý do là không đủ nguyên liệu cho nhà máy hoạt động

Trang 27

Các kết quả điều tra cho thấy về năng suất của hầu hết các vùng nguyên liệu đều thấp chỉ đạt mức bình quân 45tấn/ha Trong đó đạt năng suất cao nhất

được thấy ở vùng nguyên liệu của công ty đường Lam Sơn Thanh Hóa (60 tấnmía cây/ha), công ty đường Hiệp Hòa, Quảng Ng2i, Sóc Trăng , Trà Vinh, Bình Dương… (55 tấn/ha), các vùng khác đạt rất thấp đặc biệt công ty đường Quảng Nam (35 tấn/ha), Bình thuận, Trị An, Quảng Bình (40tấn/ha) [11] Trong khi đó tại vùng nguyên liệu công ty đường Nông Cống chỉ đạt sấp xỉ 50 tấn mía cây/ha

Hiện nay, trong năm 2006 do nhu cầu đường của thế giới tăng đ2 kéo theo giá đường và giá mía của thế giới và trong nước tăng theo, nên có lợi cho người trồng mía Cụ thể niên vụ 2003/2004 giá đường chỉ đạt ở mưc 4.200-4.300đ/kg, giá mía nguyên liệu 280.000 đồng/tấn Bước sang niên vụ 2005/2006 giá đường tăng lên 11.500đồng/kg và giá mía nguyên liệu tăng lên từ 350.000 - 450.000

đồng/tấn., ở phía Nam những nơi như Đồng bằng sông Cửu Long giá thu mua nguyên liệu lên đến 700.000 - 750.000 đồng/tấn[13] Ngoài ra, để sản xuất có l2i nhiều nhà máy đ2 cải tạo và nâng công suất lên so với thiết kế dẫn đến nhu cầu nguyên liệu mía cây cho nhà máy với số lượng lớn hơn, cũng như đ2 chú ý về mặt kỹ thuật và hỗ trợ các vật tư như: phân bón, thuốc trừ sâu nhiều hơn cho vùng mía nguyên liệu

Trên thực tế cho thấy để sản xuất mía đường có lợi nhuận thì năng suất mía bình quân toàn vùng phải là 60 tấn mía cây/ha trở lên và chữ đường CCS ≥ 10 và nhà máy phải hoạt động đủ công suất về thời gian ≥ 6 tháng/năm Để đạt các tiêu chí trên, cũng như phấn đấu theo định hướng của nhà nước và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vạch ra cũng như để đủ sức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế WTO của Việt Nam Trong thời gian tới hướng đi của các vùng mía nguyên liệu Việt Nam nói chung và công ty đường Nông Cống nói riêng là song song với việc

ổn định diện tích, phải tiến hành thâm canh tăng năng suất mía; trong đó các khâu

kỹ thuật như xác định bộ giống phù hợp, rải vụ và biện pháp thâm canh cây mía

đang là mối quan tâm cấp thiết của ngành mía đường hiện nay

Trang 28

B¶ng 2.2: T×nh h×nh s¶n xuÊt cña mét sè nhµ m¸y ®−êng niªn vô 2003/2004

§¬n vÞ tÝnh: 1.000 tÊn

thiÕt kÕ

S¶n l−îng mÝa S¶n l−îng ®−êng

HÖ sè tËn dông CSTK (%)

Tû lÖ tiªu hao (mÝa/®−êng) MiÒn B¾c

Trang 29

2.4 Cơ cấu giống và một số thành tựu trong công tác nghiên cứu giống

mía trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Vai trò của giống và cơ cấu giống đối với sản xuất mía đường trên thế giới

Trên thế giới sản xuất đường luôn có xu hướng tăng cả về năng suất, diện tích và sản lượng Để đáp ứng nhu cầu sản xuất và chế biến đường mía thì công tác nghiên cứu, chọn, tạo giống là một trong những khâu quan trọng và

được nhiều nước trồng trồng mía quan tâm, chú trọng

Công tác nghiên cứu mía trên thế giới đ2 có bước ngoặt rất quan trọng

kể từ khi Jewest (Indonexia) khám phá cây mía có khả năng nẩy mầm và mọc thành cây cũng như hom mía vào cuối thế kỉ 19 Sau đó, với sự ra đời của giống mía đầu tiên trên thế giới POJ2878 (1921) đ2 mở đầu thời kì công nghệ mía đường Đây là giống mía vượt xa các giống mía Quý hiện có lúc bấy giờ,

được nhiều người đặt cho danh hiệu giống “Giống mía thần kì” Từ sự ra đời của giống mía lai POJ2878, hàng loạt các trại lai tạo giống của các nước trồng mía trên thế giới đ2 được thành lập và hoạt động có hiệu quả (Hoàng Văn

Đức, 1982) [4]

Đặc biệt ở Đài Loan trong giai đoạn 1988-1990 các giống mía ROC đ2

ra đời bằng phương pháp lai hữu tính Các giống mía này đ2 được đưa vào cơ cấu giống mía của Đài Loan với diện tích và tỉ lệ ngày càng cao Còn vụ 1990-

1991 các giống ROC đ2 chiếm 93% về diện tích Và gần đây, từ 1992 tới nay

sự phát triển của các giống mía ROC (từ ROC1 đến ROC27) đ2 được ghi nhận

là những giống thâm canh có năng xuất và hàm lượng đường cao, có cơ cấu chín sớm, trung bình và muộn để có thể kéo dài thời gian ép đường (có hàm lượng đường tối đa lên trên 15.63%) đ2 thay thế diện tích lớn các giống mía

cũ ở Đài Loan và đưa nước này lên hàng các nước trồng mía và chế biến

đường phát triển cao trên thế giới (Nguyễn Thái Sơn, 1995) [17]

ấn Độ là nước đi đầu trên thế giới cả về nghề trồng mía và chế biến

Trang 30

đường (Nguyễn Ngộ, 1984) [9] Với định hướng chọn giống chín sớm, trung bình, muộn theo cơ cấu cho từng vùng có những giống năng suất cao, giàu

đường, chống bệnh thối đỏ, bệnh than, chịu hạn, chịu úng, chống chịu sâu dục thân như: Co6806, Co7219, CoA8201, CoS611, CoJ64, CoR8001, Bo70, CoP2, CoM7129, CoT8201… các giống mía trên đ2 góp phần đưa sản lượng mía ấn Độ vụ 1986- 1987 lên 175 triệu tấn mía cây (K.Mohan Naidu và S Arulraj, 1987) [ 23] Năm 1993, Viện Nghiên cứu Mía Lucknow đ2 đưa ra 65 giống mía theo cơ cấu chín sớm, trung bình, muộn cho 13 vùng mía trên cả nước và từ 2 - 16 giống/1 vùng mía nhằm kéo dài thời gian thu hoạch từ 4 tháng trước đây lên 6 tháng Với thành tựu về giống mía, vụ 1995 - 1996 ấn

Độ là nước sản xuất đường mía đứng thứ 3 trên thế giới và đứng đầu châu á (15,15 triệu tấn đường) (Bangali Baboo, 1993[20]; Peter Buzzanell, 1996 [24]; Singh, G.B., và cộng sự, 1993 [27])

ở Thái Lan với việc trồng các giống mía chủ yếu là nhập nội từ Đài Loan (F), ấn Độ (Co), úc (Q)… và một số giống lai tạo trong nước (U thong, K84200…), với cơ cấu giống từ 9 -16 giống/ vùng, cùng với các biện pháp kỹ thuật canh tác… đ2 đưa Thái Lan lên vị trí thứ 5 trên thế giới về sản lượng đường sản xuất vụ 1995 -1996 (5,7 triệu tấn đường), (Peter Buzzanell, 1996) [24]

Các nghiên cứu về tư liệu hóa tập đoàn mía

Năm 1994, Guilherme Rossi Machado JR [21] cùng với 41 tác giả ở các Trung tâm nghiên cứu lớn về giống mía trên 41 quốc gia đ2 tham gia một công trình nghiên cứu có hệ thống về các giống mía trên toàn thế giới và giới thiệu một cách hệ thống trong cuốn tài liệu “ Sugarcane variety notes”

Tóm lại: qua tài liệu nghiên cứu tổng hợp và đầy đủ nhất về tập đoàn mía chúng tôi thấy: việc nghiên cứu tập đoàn mía trên thế giới đ2 đạt trình độ rất cao Từ kết quả nghiên trên thế giới sẽ là những thông tin, cơ sở để quản lí,

Trang 31

tra cứu và sử dụng hữu ích nguồn gen quý của thế giới về cây mía Cũng từ kết quả này làm cơ sở cho công tác nhập nội các giống phù hợp sau đó tiến hành khảo sát tập đoàn để có thể nhanh chóng lựa chọn các giống phù hợp cho các vùng mía trong phạm vi một quốc gia của một vùng sinh thái

2.4.1 Vai trò của giống và cơ cấu giống đối với sản xuất mía đường ở Việt Nam

ở Việt Nam từ những trước 1975 cũng đ2 tiến hành nghiên cứu về cây mía, song do ngành mía đường chưa thật sự chú ý, nên việc nghiên cứu sâu về cây mía chưa được chú trọng Từ 1968-1975 chúng ta mới có trên 100 mẫu giống nhập nội với hướng nghiên cứu chính là để tuyển chọn các giống mía tốt

từ nguồn sẵn có (Nguyễn Huy Ước, 1994) [18]

Từ năm 1990, trở lại đây tập đoàn mía Việt Nam có hàng trăm mẫu giống Trong đó, có một số giống thương phẩm tốt được nhập nội từ các nước như: Cu Ba, ấn Độ và đặc biệt là các giống ROC của Đài Loan… và một số dòng lai mới của Việt Nam cũng cho chất lượng khá tốt như: VN84-417-37 chịu hạn khá, VN6565 chín muộn[10]

Tuy nhiên, các vùng trồng mía nguyên liệu chưa chú ý về cơ cấu giống hợp lý Thực tế cho thấy các giống được trồng chủ yếu làm nguyên liệu là nhóm chín trung bình, mía chín tập trung nên việc không thu hoạch kịp rất phổ biến (đẫn đến tình trạng ngay trong vụ ép, có lúc nhà máy phải hoạt động hết công suất mà vẫn thừa nguyên liệu nhưng có lúc phải ngừng hoạt động vì

bị thiếu nguyên liệu) Thiếu vắng các nhóm chín sớm, chín muộn để rải vụ dẫn đến thời gian thu hoạch ngắn chỉ từ 3-4 tháng/năm, tiêu hao đường trong quá trình thu hoạch và vận chuyển rất lớn

Vì vậy, trong định hướng phát triển về giống và xây dựng cơ cấu giống hợp lý theo vùng sinh thái của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn chỉ ra là: tỷ lệ giống chín sớm 20-25%, giống chín trung bình 50-55% và chín muộn

Trang 32

20-30% Chú ý, nhập nội và tuyển chọn các giống mía chín sớm, chín trung bình, chín muộn cho vùng thâm canh và vùng đất đồi phụ thuộc nước trời, chịu đất xấu, có khả năng chống chịu sâu bệnh có năng suất khá và tỷ lệ

đường cao, cùng như đi đến xây dựng một hệ thống giống từ trung ương đến

địa phương để có thể cải tiến giống và xác định cơ cấu giống hợp lý Trên cơ

sở áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp cho từng vùng sinh thái nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng đất cho người sản xuất

2.4 Một số biện pháp kỹ thuật che phủ nilong và trồng xen cho mía ở

trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Biện pháp kỹ thuật che phủ nilong cho mía

Biện pháp che phủ nilong là tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp Che phủ nilong làm giảm sự phát triển của cỏ dại, hạn chế được tàn dự thực vật và các sâu, bệnh tiềm ẩn trong đất tồn tại từ các vụ trước, che phủ nilong còn tránh được sự bốc hơn nước, giữa độ ẩm đất được đảm bảo và ổn

định Do đó, việc che phủ nilong đ2 làm tăng năng suất của giống cây trồng, giảm chi phí về lao động và mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất

Ngày nay, phương pháp che phủ nilong đ2 được áp dụng cho nhiều loại cây trồng như rau, đậu đỗ, thuốc lá, cafe, mía Theo tài kiệu dẫn của Trần Công Hạnh[6], thì từ năm 1991-1992, Viện nghiên cứu Công nghiệp mía đường

- Bộ công nghiệp nhẹ Trung Quốc (SIRI) đ2 tiến hành bố trí thí nghiệm nghiên cứu tác dụng của che phủ nilong cho mía (thí nghiệm trong ô xây thuộc khu thí nghiệm của SIRI và thí nghiệm đồng ruộng thuộc vùng nguyên liệu của nhà máy đường Heshui và Chunwan tỉnh Quảng Đông) kết quả cho thấy:

- Che phủ nilong có tác dụng làm tăng năng suất mía 13,2% so với đối chứng không che phủ

- Cải thiện môi trường sinh thái: làm tăng nhiệt độ bề mặt và lớp đất mặt từ 1,0 đến 3,50C, tăng độ ẩm đất từ 1,7 đến 2,2%, tăng hàm lượng các chất

Trang 33

dinh dưỡng dễ tiêu trong lớp đất mặt (đạm thủy phân tăng 25,4-40,0%; lân dễ tiêu tăng 36,4-66,7%; Kali trao đổi tăng từ 2,8-30,4%

- Thúc đẩy hoạt động sinh lý của cây: làm tăng tốc độ nảy mầm từ 4,5 lần; tăng tỷ lệ nảy mầm 32,5%; tăng số nhánh hữu hiệu so với đối chứng tương ứng

4,0 Thúc đẩy hoạt động sinh lý của cây: làm tăng hoạt động của các men vận chuyển trong mầm mía 197,1% và 78,4% ở thời điểm tháng 6 và tháng

12, trong hom 102% ở thời điểm 12 ngày sau trồng; hoạt động của men amylase trong mầm mía tăng 218,5%; 48,1% và 31,9% ở thời điểm 6, 12 và

30 ngày sau trồng Diện tích lá tăng 5,7 đến 40,5%; tỷ lệ diệp lục tăng từ 8% Hàm lượng nước trong lá tăng từ 1,3- 1,4%

2,1 Tăng hiệu suất sử dụng phân bón: sử dụng đạm của cây thay đổi từ 402,1 47%, tăng cao hơn so với đối chứng 9,3- 17,3%

Theo tài liệu dẫn của Lê Hữu Hà[5], che phủ nilong vào mùa kho hạn từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau đ2 có tác dụng duy trì độ ẩm đất đạt bình quân 26,7% so với công thức không che phủ độ ẩm đất đạt bình quân 22,8% và năng suất mía cao hơn 68,3% so với công thức đối chứng không che phủ nilong ở thời vụ trồng tháng 1 năm 2002

Tuy nhiên, che phủ nilong ngoài những ưu điểm nêu trên thì còn có những hạn chế là sự phân hủy nilong trong điều kiện ở Việt Nam rất dài làm

ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, gây khó khăn trong việc canh tác ở các

vụ tiếp sau Chính vì vậy, nên nghiên cứu sử dụng các loại nilong tự hủy, sẽ có

ý nghĩa không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của vùng trồng trọt

2.4.2 Biện pháp kỹ thuật trồng xen cho mía

Trồng xen là biện pháp tranh thủ không gian, thời gian triệt để lợi dụng

đất đai, năng lượng mặt trời Trồng xen còn có ý nghĩa che phủ mặt đất, điều hòa không khí, giảm được sự bốc hơi nước một cách tự nhiên, đảm bảo được

Trang 34

độ ảm đất Tùy từng chủng loại cây, mật độ trồng mà chúng ta có thể bố trí cây trồng xen cho phù hợp, để tránh được sự cạnh tranh về ánh sáng cũng như dinh dương mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất Trên thực tế sản xuất, phương pháp trồng xen đ2 được áp dụng từ lâu và trên nhiều chủng loại cây khác nhau Ví dụ: đối với những cây ưa bóng thì có thể trồng ở dưới tán các cây khác như một số cây dược liệu (Ba kích, Gừng, ) Chúng ta cũng

có thể trồng một số các cây có thời gian sinh trưởng ngắn xen với một số loại cây lâu niên khi chúng chưa khép tán như: trồng xen cây họ đậu với cây ăn qua rtrong thời gian kiến thiết cơ bản vừa nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích mà còn có ý nghĩa để cải tạo đất, môi trường sinh thái

Cây mía là cây C4 có chu kỳ sinh trưởng hàng năm, bộ lá rộng, khả năng

đẻ nhánh khỏe Do đó, trong sản xuất cây mía thường được bố trí với mật độ khá rộng, hàng cách hàng từ 1,0 - 1,2m Mặt khác, từ khi trồng đến lúc vươn cao lúc lá mía che rợp hàng có thời gian tương đối dài từ 2,5 - 3 tháng Trong giai đoạn này mía sinh trưởng chậm Dưới đất bộ rễ phát triển còn yếu chưa lan

ra giữa hàng, nên còn thừa đất và ánh sáng giữa hai hàng mía

Do đó, trong giai đoạn này có thể bố trí trồng xen các cây họ đậu như

đậu tương, lạc… cho mía có ý nghĩa vừa tận dụng đất đai, tăng hiệu quả kinh

tế và tạo lớp che phủ cho đất mía bằng cây họ đậu để chống xói mòn, giữ ẩm

và cải tạo đất, cũng như tạo thuận lợi cho một số thiên địch có ích phát triển, tăng thêm thu nhập cho người trồng mía từ cây xen.[8]

Thực tế trên các vùng nguyên liệu trồng mía thường là đất đồi, khô hạn

và nghèo dinh dưỡng Việc trồng độc canh mía sẽ dẫn đến sự suy thoái đất nghiêm trọng, làm mất cân bằng dinh dưỡng, cạn kiệt một số nguyên tố dinh dưỡng cần thiết để mía cho năng suất cao Trồng xen đậu tương hoặc lạc giữa hai hàng mía ở thời kì đầu sinh trưởng sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng đất là giải pháp để khẳng định cây mía làm tăng thu nhập cho hộ nông dân vùng mía

Trang 35

Mặt khác, ở phía Bắc Việt Nam vụ mía đông xuân thường là vụ mía chính thường được trồng vào tháng 1, tháng 2 dương lịch, lúc này nhiệt độ thường thấp khô hanh kéo dài, tốc độ bốc hơi nước bề mặt tăng làm ảnh hưởng

đến khả năng mọc mầm và sinh trưởng của cây mía, cũng như không đảm bảo mật độ cây hữu hiệu Tuy nhiên, để việc trồng xen không ảnh hưởng xấu đến mía, làm giảm khả năng đẻ nhánh của mía Các biện pháp kỹ thuật được ứng dụng như: trồng cây xen cách xa hàng mía, che phủ nilong cho cây trồng xen,

sẽ tạo điều kiện cho cây trồng xen phát triển tốt và không ảnh hưởng đến sinh trưởng đưa đến hiệu quả cao trên đất mía

2.5 Đặc điểm vùng nguyên liệu của công ty đường Nông Cống Thanh Hóa

Vùng nguyên liệu của công ty đường Nông Cống Thanh Hóa nằm ở phía Tây Nam của tỉnh gồm 4 huyện Nông Cống, Như Thanh, Như Xuân, Tĩnh Gia với diện tích 6.000 ha có 41 đơn vị tham gia trồng mía trong đó có

36 x2 và 5 đơn vị quốc doanh Nằm trong vùng đồng bằng ven biển, bán sơn

địa chịu ảnh hưởng của nhiệt đới gió mùa, với tọa độ từ 190 21’ độ vĩ Bắc đến

1050 47’ độ kinh Đông Nhiệt độ bình quan 20-23,50C, tổng tích ôn 3.6000C, độ ẩm không khí 85%, lượng mưa trung bình 1.500 mm

3.000-Lượng mưa phân bố không đều trong năm Tập trung vào các tháng 6,

7, 8, 9, 10 chiếm 60-70% lượng mưa cả năm

Điều kiện thời tiết nhìn chung thuận lợi cho cây trồng phát triển, đặc biệt thích nghi với cây mía vào thời kì làm lóng, vươn cao và tích lũy đường

Đây cũng là vùng thường có b2o lớn, sau b2o là mưa lớn tập trung nên

dễ gây úng lụt Hàng năm trong vùng chịu ảnh hưởng b2o từ tháng 7 đến tháng 10, gió b2o trung bình cấp 8-10, có khi đến cấp 12 Cùng với sự xuất hiện của sương muối, gió Tây khô nóng xuất hiện trong tháng 5-6-7, mỗi đợt kéo dài 2-3 ngày, nhiệt độ lên cao, lượng nước bốc hơn lớn nên ảnh hưởng dến

sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng.[19]

Trang 36

Địa hình phức tạp, nhiều đồi núi, dốc tập trung ở các huyện Như Xuân, Tĩnh Gia, Như Thanh và rải rác ở Nông Cống

Diện tích đất nông nghiệp (tính đến năm 1997) là 60.549ha chiếm 15% tổng diện tích đất gieo trồng toàn tỉnh, song phần lớn là đất dốc, bạc màu không chủ động được nước tưới

Mạng lưới giao thông trục chính khá thuận lợi, nhưng các đường giao thông liên huyện, x2 chất lượng còn hẹp và xấu

Mặt khác, bộ giống trồng trên vùng nguyên liệu của công ty còn nghèo nàn, chủ yếu là các giống cũ, trồng liên tục qua nhiều năm đ2 lẫn tạp và có biểu hiện thoái hóa Cơ cấu giống chưa phù hợp, tỷ lệ giống chín sớm, trung bình, muộn chưa đảm bảo cung cấp nguyên liệu chất lượng cao cho chế biến công nghiệp

Chính vì vậy, Ban l2nh đạo công ty Đường Nông Cống đ2 có những

định hướng cho phát triển vùng nguyên liệu và được quan tâm, chú trọng hơn cả là công tác giống và các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, ổn

định nguyên liệu cho nhà máy hoạt động trong thời gian dài (≥ 6 tháng/năm)

Do đó, các giống mía mới có năng suất, chất lượng cao đ2 dần được thay thế các giống cũ và lẫn tạp Niên vụ 1999/2000 vùng nguyên liệu của công ty 100% là giống mía cũ thì đến niên vụ 2004/2005 tỷ lệ giống mới đ2 chiếm tới 13,9% tổng diện tích mía trên vùng nguyên liệu bao gồm các giống: ROC10, ROC22, QĐ15, QĐ86368, VĐ93159, TĐĐ22, TĐĐ16, VN85-3254, VN6565, CO475, K84-

200 [19] Tuy nhiên, về năng suất và sản lượng nhìn chung vẫn còn thấp, hiệu quả sản xuất chưa cao Do đó, việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới như chọn giống tốt và phù hợp, trồng xen cây họ đậu, bón phân hợp lý đặc biệt là phân hữu cơ, che phủ nilong, phòng trừ sâu, bệnh hại cùng với sự giúp đỡ của trường Đại học Nông nghiệp I thông qua đề tài độc lập cấp nhà nước về cây

Trang 37

mía; Ban l2nh đạo công ty đường Nông Cống Thanh Hóa đ2 và đang giành nhiều kinh phí và nhân lực, mạnh dạn và quyết tâm trong đầu tư về giống mới

và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như mở rộng hàng trồng của mía để trồng xen lạc và đậu tương, che phủ nilong tự hủy cho mía và cây trồng xen, sử dụng một lượng lớn b2 bùn chế biến thành phân vi sinh cấp cho người nông dân để bón cho mía nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất của mía cũng như nhanh chóng ổn định vùng nguyên liệu đảm bảo công suất cho nhà máy hoạt động

được trong thời gian dài

Trang 38

PhÇn III VËt liÖu, néi dung

vµ ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu

3.1 §èi t−îng nghiªn cøu

- TËp ®oµn mÝa c«ng t¸c gåm 30 gièng

- Sö dông nilong tù huû che phñ cho mÝa vµ c©y trång xen

- Sö dung c¸c gièng l¹c L16, ®Ëu t−¬ng §T22 trång xen víi mÝa

3.2 VËt liÖu nghiªn cøu

- 30 gièng mÝa thuéc c¸c nhãm chÝn sím, trung b×nh, muén, 1 gièng l¹c L16, 1 gièng ®Ëu t−¬ng DT22

Gièng chÝn sím Gièng chÝn trung b×nh Gièng chÝn muén

TT gièng Tªn Nguån gèc TT gièng Tªn Nguån gèc TT gièng Tªn Nguån gèc

1 ROC1 §µi Loan 10 ROC16 §µi Loan 21 SP70-4311 Brazil

2 Q§15 Trung Quèc 11 ROC24 §µi Loan 22 Q§15 Trung Quèc

3 VN844137 ViÖt Nam 12 ROC25 §µi Loan 23 V§65-66 Trung Quèc

4 VN85-1859 ViÖt Nam 13 ROC23 §µi Loan 24 F134 §µi Laon

5 V§93159 Trung Quèc 14 V§63237 Trung Quèc 25 K84-200 Th¸i Lan

6 T§§22 Trung Quèc 15 C96-675 Trung Quèc 26 VN65-65 ViÖt Nam

7 Q§94-116 Trung Quèc 16 VMC7139 Trung Quèc 27 MY55-14 CuBa

8 Q§94-119 Trung Quèc 17 CC2 Trung Quèc 28 Philip83-86 Philipin

9 ROC1 §µi Loan 18 LS1 Trung Quèc 29 CO475 §µi Loan

19 ROC26 §µi Loan 30 F165 §µi Loan

20 Q§86368 Trung Quèc

Trang 39

- Các loại Nilong tự huỷ dạng 6 tháng độ dày 0,01 mm, có độ rộng 0,8 m (che phủ cho mía) và dạng 4 tháng 0,03 mm, rộng 0,6 m che phủ cho đậu tương, lạc

- Các loại phân bón vi sinh sản xuất từ bùn lọc mía

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Từ các giống mía trong tập đoàn, lựa chọn được 12 giống thuộc nhóm chín

sớm, trung bình, muộn để tiến hành so sánh đánh giá điều kiện vùng đồi phụ thuộc nước trời

3.3.2 Bước đầu nghiên cứu so sánh lợi ích, ưu thế của tiến bộ kỹ thuật che phủ

nilong tự huỷ cho mía vụ đông xuân

3.3.3 Bước đầu nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của

mía trong điều kiện trồng xen lạc và đậu tương (điều kiện có che phủ nilong tự huỷ cho cây trồng xen) trong điều kiện vụ Xuân vùng đất đồi Thanh Hoá

3.3.4 Từ các kết quả nghiên cứu trên, đề xuất các giống để giải vụ mía và các

biện pháp canh tác mới phù hợp trong trồng mía thâm canh

Trang 40

Nhóm C: Giống ít giá trị đưa vào quỹ gen hoặc có thể loại bỏ

Thí nghiệm 2- Các giống lựa chọn đưa vào so sánh giống (dự kiến 12 giống)

được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn chỉnh 1 yếu tố 3 lần nhắc lại Mỗi

ô thí nghiệm có diện tích là 30 m2 (Chiều dài 6 m, chiều rộng 5 m) trồng với mật

độ hàng cách hàng 1,2 m; cây cách cây 40 cm

Thí nghiệm được bố trí tại Trung tâm nghiên cứu và khảo nghiệm giống mía - Như Thanh - Thanh Hóa thuộc Công ty đường Nông Cống

Thời gian: từ tháng 2/2005 đến tháng 01/2006

Ngày đăng: 06/12/2013, 19:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Lê Hữu Hà (2002), “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuậtnhằm nâng cao năng suất, chất l−ợng và hiệu quả trồng mía ở vùng Lam Sơn tỉnh Thanh Hóa”, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuậtnhằm nâng cao năng suất, chất l−ợng và hiệu quả trồng mía ở vùng Lam Sơn tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Lê Hữu Hà
Năm: 2002
10. Lê Đức Liên (2001), “Nghiên cứu góp phần cải thiện cơ câu giống mía cho vùng Lam Sơn Thanh Hóa”, Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu góp phần cải thiện cơ câu giống mía cho vùng Lam Sơn Thanh Hóa
Tác giả: Lê Đức Liên
Năm: 2001
11. Nguyễn Minh Tiến (2005), Báo cáo năm 2003, Ngành hàng mía đ−ờng 12. Nguyễn Minh Tiến (2005), Báo cáo năm 2004, Ngành hàng mía đ−ờng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo năm 2003
Tác giả: Nguyễn Minh Tiến
Nhà XB: Ngành hàng mía đ−ờng
Năm: 2005
13. Bộ NN&PTNT (2006), Dự báo thị tr−ờng đ−ờng thế giới, Tình hình giá cả, website. htth://ppd.gov.vn-Chuyen trang Duong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo thị tr−ờng đ−ờng thế giới, Tình hình giá cả
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Nhà XB: website
Năm: 2006
16. Bộ NN&PTNT (2006), Đường tăng giá đột biến, website. htth://ppd.gov.vn-Chuyen trang Duong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường tăng giá đột biến
Tác giả: Bộ NN&PTNT
Nhà XB: website
Năm: 2006
17. Nguyễn Thái Sơn (1995), "Giới thiệu giống mía tốt của Đài Loan", Thông tin chuyên đề Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giống mía tốt của Đài Loan
Tác giả: Nguyễn Thái Sơn
Năm: 1995
19. Công ty mía đ−ờng Nông Công Thanh Hóa (2005), Báo cáo tổng kết. Tài liệu n−ớc ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết
Tác giả: Công ty mía đ−ờng Nông Công Thanh Hóa
Nhà XB: Tài liệu n−ớc ngoài
Năm: 2005
24. Peter Buzzanell (1996), Changing Patterns of Sugar & Sweetener Supply & Demand in the developing World, World Sugar & Sweetener Conference, Bangkok, Thailand Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changing Patterns of Sugar & Sweetener Supply & Demand in the developing World
Tác giả: Peter Buzzanell
Nhà XB: World Sugar & Sweetener Conference
Năm: 1996
1. Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Đoàn Thị Thanh Nhàn, Bùi Xuân Sửu (1996), Giáo trình cây công nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Khác
2. Lê Song Dự, Nguyễn Thị Quý Mùi (1997), Cây mía, Nhà xuất bản nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Khác
3. Lê Quý Đôn (1961), Phủ biên tạp lục, Ch−ởng Thủy Xá, Hỏa xá, NXB Hà Nội Khác
4. Hoàng Văn Đức (1982), Cây mía, di truyền, sinh lý và sản xuất, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
6. Trần Công Hạnh (2001), Tác dụng che phủ nilong cho mía, Tài liệu dịch, Lưu hành nội bộ Khác
7. Đoàn Thị Thanh Nhàn (2005), Sinh lý về cây mía, các giai đoạn phát triển của cây mía liên quan đến nhu cầu phân bón, Tài liệu tập huấn mía cho Công ty cổ phần mía đ−ờng Hoà Bình Khác
8. Đoàn Thị Thanh Nhàn (2005), Quy trình kỹ thuật trồng xen mía đậu t−ơng, Tài liệu tập huấn cho Công ty đ−ờng Nông Cống Khác
9. Nguyễn Ngộ và các tác giả (1984), Công nghệ sản xuất mía đ−ờng, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Khác
14. Bộ NN&PTNT (2006), Triển vọng của ngành mía đ−ờng?, website. htth://ppd.gov.vn-Chuyen trang D−ơng Khác
15. Bộ NN&PTNT (2006), Báo cáo ngày 14/02/2003 trình chính phủ về yêu cầu và khả năng sản xuất đ−ờng Việt Nam, website. htth://ppd.gov.vn- Chuyen trang Duong Khác
18. Nguyễn Huy Ước (1994), Kỹ thuật trồng mía, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Khác
22. Humber, R. D. (1963), The Growing of sugarcane, Lahabana Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Tình hình sản xuất của một số nhà máy đ−ờng niên vụ 2003/2004 - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất của một số nhà máy đ−ờng niên vụ 2003/2004 (Trang 28)
Sơ đồ thí nghiệm - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Sơ đồ th í nghiệm (Trang 40)
Sơ đồ thí nghiệm - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Sơ đồ th í nghiệm (Trang 41)
Sơ đồ thí nghiệm về so sánh giống - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Sơ đồ th í nghiệm về so sánh giống (Trang 41)
Sơ đồ thí nghiệm - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Sơ đồ th í nghiệm (Trang 42)
Bảng 4.1. Kết quả về năng suất của các giống mía  qua khảo sát tập đoàn vụ Xuân năm 2003-2004 - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Bảng 4.1. Kết quả về năng suất của các giống mía qua khảo sát tập đoàn vụ Xuân năm 2003-2004 (Trang 46)
Bảng 4.2. Các giống đ−ợc lựa chọn để tiến hành khảo nghiệm  so sánh từ tập đoàn giống thí nghiệm - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Bảng 4.2. Các giống đ−ợc lựa chọn để tiến hành khảo nghiệm so sánh từ tập đoàn giống thí nghiệm (Trang 48)
Bảng 4.3: Khả năng sinh tr−ởng, phát triển qua các giai đoạn của các  giống mía thí nghiệm vụ xuân 2005 - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Bảng 4.3 Khả năng sinh tr−ởng, phát triển qua các giai đoạn của các giống mía thí nghiệm vụ xuân 2005 (Trang 49)
Bảng 4.4: Động thái tăng tr−ởng chiều cao của các giống mía  thí nghiệm vụ xuân năm 2005 - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Bảng 4.4 Động thái tăng tr−ởng chiều cao của các giống mía thí nghiệm vụ xuân năm 2005 (Trang 53)
Đồ thị 1: Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây của các giống mía thí nghiệm  vô xu©n 2005 - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
th ị 1: Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây của các giống mía thí nghiệm vô xu©n 2005 (Trang 54)
Bảng 4.5: Động thái ra lá của các giống mía thí nghiệm  vụ xuân năm 2005 (lá/cây) - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Bảng 4.5 Động thái ra lá của các giống mía thí nghiệm vụ xuân năm 2005 (lá/cây) (Trang 57)
Bảng 4.6: Kết quả theo dõi một số sâu, bệnh hại chính trong các giống  mía thí nghiệm vụ xuân năm 2005 - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Bảng 4.6 Kết quả theo dõi một số sâu, bệnh hại chính trong các giống mía thí nghiệm vụ xuân năm 2005 (Trang 59)
Bảng 4.7: Kết quả về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất  mÝa vô xu©n n¨m 2005 - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Bảng 4.7 Kết quả về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất mÝa vô xu©n n¨m 2005 (Trang 62)
Bảng 4.8: Kết quả theo dõi chỉ tiêu về chất l−ợng của các  giống mía thí nghiệm vụ xuân 2005 - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Bảng 4.8 Kết quả theo dõi chỉ tiêu về chất l−ợng của các giống mía thí nghiệm vụ xuân 2005 (Trang 67)
Bảng 4.9: Khả năng sinh tr−ởng của mía trong điều kiện  có và không che phủ nilong tự hủy - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
Bảng 4.9 Khả năng sinh tr−ởng của mía trong điều kiện có và không che phủ nilong tự hủy (Trang 72)
Đồ thị 3: Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây mía   trong điều kiện che phủ nilong tự huỷ - Nghien cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất mía nguyên liệu vùng đồi huyện nông cống tỉnh thanh hóa
th ị 3: Động thái tăng tr−ởng chiều cao cây mía trong điều kiện che phủ nilong tự huỷ (Trang 74)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm