1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang

108 503 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện Hàm Yến, tỉnh Tuyên Quang
Tác giả Phụ Mai Trang
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Văn Vĩnh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 4,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bé giịo dôc vộ ệộo tỰo tr−êng ệỰi hảc nềng nghiỷp hộ néi

- -

PHỰM THỡ mai trang

Nghiến cụu thộnh phẵn, mục ệé gẹy hỰi

cựa nhãm nhỷn nhá hỰi cam vộ khờ nẽng phưng chèng

chóng ẻ huyỷn Hộm Yến - tửnh Tuyến Quang

vô đềng Xuẹn 2008 - 2009

LuẺn vẽn thỰc sỵ nềng nghiỷp

Chuyến ngộnh: bờo vỷ thùc vẺt Mở sè: 60.62.10

Ng−êi h−ắng dÉn khoa hảc: gs.ts nguyÔn vẽn ệỵnh

Hộ Néi - 2009

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn

đ1 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Phạm Thị Mai Trang

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Đĩnh, người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

và hoàn chỉnh luận văn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Bộ môn Côn trùng, các thầy cô trong Khoa Nông học, Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Để hoàn thành luận văn, tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ của bạn

bè và những người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những tình cảm cao quý đó

Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2009

Tác giả

Phạm Thị Mai Trang

Trang 4

Mục lục

3.1 Đối t−ợng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 28

4.1 Tình hình sản xuất cam sành tại huyện hàm yên tỉnh Tuyên

4.2 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây cam tại huyện

4.3 Thành phần nhện nhỏ trên cây cam tại huyện Hàm Yên tỉnh

4.4 Diễn biến mật độ của 2 loài nhện hại chính trên cam sành tại

Hàm Yên - Tuyên Quang vụ Đông - Xuân năm 2008 - 2009 484.4.1 Diễn biến mật độ của nhện đỏ Panonychus citri trên cam sành tại

Trang 5

4.4.2 Diễn biến mật độ của nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora trên

cam sành tại Hàm Yên - Tuyên Quang vụ Đông - Xuân 2008 -

4.4.3 Mật độ trung bình của nhện đỏ Panonychus citri Mc và nhện

rám vàng Phyllocoptruta oleivora B trên cây cam tại Hàm Yên - Tuyên Quang từ tháng 12 năm 2008 đến tháng 8 năm 2009 524.4 Thành phần và mức độ phổ biến của thiên địch trên nhện nhỏ hại

4.5 Đặc điểm sinh học của 2 loài bắt mồi Amblyseius sp và Chrysopa sp 554.5.1 Thời gian phát dục của nhện bắt mồi Amblyseius sp 554.5.2 Vòng đời và tuổi thọ của nhện bắt mồi Amblyseius sp 56

4.5.3 Sức đẻ trứng và tỷ lệ trứng nở 2 loài bắt mồi Amblyseius sp và

4.6 Kết quả nghiên cứu các biện pháp phòng trừ đối với nhện đỏ cam

4.6.1 Khả năng tiêu diệt trứng nhện đỏ của 2 loài bắt mồi chính là bọ

mắt vàng Chrysopa sp và nhện bắt mồi Amblyseius sp tại Hàm

4.6.2 Đánh giá hiệu quả phòng trừ nhện đỏ của một số biện pháp phòng

4.6.3 Đề xuất biện pháp phòng chống nhện đỏ cam và nhện rám vàng

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 7

Danh môc bờng

4.2 Cịc loỰi thuèc BVTV ệang ệ−ĩc sỏ dông trến cẹy cam tỰi huyỷn

4.3 Thùc trỰng sỏ dông thuèc bờo vỷ thùc vẺt trến cẹy cam tỰi huyỷn

4.4 Thộnh phẵn nhỷn nhá hỰi cam tỰi huyỷn Hộm Yến tửnh Tuyến

4.5 Mét sè ệẳc ệiÓm hừnh thịi ệẳc tr−ng cựa 4 loội nhỷn hỰi trến cẹy

4.6 DiÔn biạn mẺt ệé cựa nhỷn ệá Panonychus citri trến cẹy cam sộnh

4.7 DiÔn biạn mẺt ệé nhỷn rịm vộng Phyllocoptruta oleivora trến cam

sộnh qua cịc lẵn ệiÒu tra vô đềng - xuẹn 2009 (con/lị) 514.8 MẺt ệé trung bừnh cựa nhỷn ệá cam Panonychus citri Mc vộ nhỷn

rịm vộng Phyllocoptruta oleivora B trến cẹy cam sộnh qua cịc

4.13 Vưng ệêi vộ tuữi thả cựa bả mớt vộng Chrysopa sp 594.14 Sè l−ĩng trụng ệĨ vộ tũ lỷ trụng nẻ cựa loội nhỷn bớt măi

Trang 8

4.15 Sức tiêu thụ trứng nhện đỏ cam Panonychus citri của bọ mắt vàng

4.16 Sức tiêu thụ trứng nhện đỏ cam Panonychus citri của nhện bắt mồi

4.17 Hiệu lực phòng trừ của các loại thuốc đối với nhện đỏ Panonychus

4.18 Hiệu lực phòng trừ của thuốc trừ nhện Vimite 10 ND tại các thời

4.19 ảnh hưởng của tỉa cành tạo tán và tưới nước đến mức độ gây hại

của nhện rám vàng trên cam sành tại huyện Hàm Yên Tỉnh Tuyên

4.20 Hiệu quả của tưới nước đến mức độ phát sinh của nhện đỏ

Panonychus citri trên cam sành tại huyện Hàm Yên Tỉnh Tuyên

Trang 9

Danh mục đồ thị

4.2 Các loại thuốc đang được sử dụng trên cây cam tại Hàm Yên -

4.3 Tình hình sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật trên cây cam sành tại

4.4 Trưởng thành Nhện đỏ cam Panonychus citri McGregor 474.5 Trưởng thành Nhện đỏ son Tetranychus cinabarinus Koch 474.6 Trưởng thành Nhện trắng Polyphagotarsonemus latus 474.7 Trưởng thành Nhện rám vàng Phyllocoptruta olivora 484.8 Mật độ nhện đỏ, nhện rám vàng trung bình qua các tháng điều tra 53

Trang 10

1 Mở đầU

1.1 Đặt vấn đề

Nghề trồng cây ăn quả có múi (CăQCM) đặc biệt là cây cam ở nước ta

đ1 có từ rất lâu đời, đây được coi là một trong những loại quả đặc sản nổi tiếng gắn liền với các địa danh như: Cam Bố Hạ, cam X1 Đoài, cam Canh Hà Nội, cam Sành Hà Giang, Tuyên Quang Từ những năm 90 của thế kỷ XX cây ăn quả có múi đ1 được coi là một trong những loài cây trồng quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và phát triển kinh tế nông hộ tại khu vực miền núi phía Bắc nước ta Diện tích trồng CăQCM ở nước ta không ngừng tăng lên trong những năm gần đây Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống

kê cho thấy: năm 1990 cả nước ta có diện tích trồng CăQCM là 14.458 ha với sản lượng là 119.238 tấn quả, nhưng đến năm 1999 các chỉ tiêu này đ1 là 63.400 ha với sản lượng 504.100 tấn quả (Tổng cục thống kê năm 2000)[23]

Tuyên Quang cũng là một trong những tỉnh có truyền thống lâu đời với nghề trồng cây ăn quả có múi đặc biệt là cây cam sành, trong những năm gần

đây cây cam sành đ1 được coi là một trong những loài cây trồng quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và phát triển kinh tế nông hộ của tỉnh nói chung và huyện Hàm Yên nói riêng Với tổng diện tích cây ăn quả có múi trên địa bàn toàn tỉnh tính đến năm 2005 là 2.420 ha, trong đó diện tích trồng cam là 2.285 ha với sản lượng 45.000 tấn quả, đến năm 2009 diện tích trồng CĂQCM đ1 đạt xấp xỉ 2.995,9 ha, trong đó diện tích trồng cam là 2.802,4 ha với sản lượng đạt 30.000 tấn quả (Cục thống kê tỉnh Tuyên Quang, 2006) [15] (Phòng kế hoạch Sở Nông nghiệp và PTNT Tuyên Quang, 2009)[14]

Tuy diện tích và sản lương cây ăn quả có múi hàng năm đều tăng như vậy, nhưng trong thực tế nghề trồng CĂQCM nước ta nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng đ1 và ủang gặp phải những khó khăn lớn như: năng suất không ổn định, chất lượng quả giảm sút, chu kỳ khai thác quả bị rút ngắn Có

Trang 11

nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng suy thoái nhanh của các vườn trồng CĂQCM, một trong những nguyên nhân cở bản đó là do sự phá hại của các nhóm sinh vật hại Thành phần sinh vật hại trên CĂQCM ở nước ta rất đa dạng, chỉ tính riêng sâu hại trên cây ăn quả có múi ở nước ta tính đến nay đ1

được ghi nhận và công bố có 169 loài thuộc 45 họ của 9 bộ côn trùng và nhện nhỏ khác nhau (Phạm Văn Lầm,2005)[17]

ở nước ta, trong những năm gần đây, sản xuất Nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất cây ăn quả có múi nói riêng đang gặp phải những khó khăn, trở ngại lớn, đó là sự gây hại của nhóm nhện nhỏ hại cây thuộc bộ Ve bét, lớp nhện, ngành Chân đốt Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bùng phát của nhện nhỏ hại cây trồng là do: trên thực tế ở các vườn trồng cam hiện nay việc phòng trừ nhện hại vẫn chủ yếu dựa vào thuốc hoá học, nên đ1 gây nhiều bất cập trong sản xuất, các loài nhện hại trở nên quen và kháng lại dần với thuốc bảo vệ thực vật, bên cạnh đó còn có một nguyên nhân khác khá quan trọng đó là do sự thiếu hiểu biết của người dân trong việc sử dụng các loại hóa chất bảo vệ thực vật, cho nên họ đ1 sử dụng một cách ồ ạt các loại thuốc trừ sâu có phổ tác động rộng, làm cho mối cân bằng sinh học trong tự nhiên bị phá vỡ Từ đó làm phát sinh hàng loạt những chủng, nòi dịch hại mới có khả năng chống thuốc, kháng lại thuốc bảo vệ thực vật, ảnh hưởng đến sự tích lũy số lượng của các loài thiên địch Ngoài ra việc sử dụng không hợp lý các loại thuốc trừ dịch hại còn là nguyên nhân làm cho các loài dịch hại thứ yếu nay trở thành loài dịch hại chủ yếu ví dụ như các loài nhện nhỏ hại Đối với các loài CĂQCM ngày nay nhóm nhện nhỏ hại được nhắc đến như một loài gây hại chủ yếu đến phẩm chất và mẫu m1 quả,

từ đó làm ảnh hưởng đến giá trị kinh tế của quả cam trên thị trường

Để phòng trừ nhóm nhện nhỏ hại, trong thực tế đ1 có rất nhiều các biện pháp được người dân áp dụng như biện pháp canh tác, biện pháp hóa học, biện pháp sinh học Trong đó biện pháp hóa học được sử dụng một cách rộng r1i nhưng đ1 không đem lại hiệu quả như mong muốn vì: các loài nhện có cơ thể rất nhỏ bé, được bao phủ bằng một lớp lông và có tập quán sống ở mặt dưới của lá vì

Trang 12

vẺy khi phun thuèc thừ thuèc Ýt tiạp xóc ệ−ĩc vắi nhỷn dÉn ệạn hiỷu quờ phưng trõ khềng cao

Vừ vẺy nhiỷm vô cÊp bịch cựa ngộnh Bờo vỷ thùc vẺt hiỷn nay lộ từm ra

ệ−ĩc nhọng biỷn phịp phưng chèng nhỷn hỰi mét cịch thÝch hĩp, hỰn chạ sỏ dông thuèc bờo vỷ thùc vẺt Phưng trõ nhỷn nhá hỰi cẹy trăng bỪng cịc loội kĨ thỉ tù nhiến ệ1 ệ−ĩc nghiến cụu nhiÒu ẻ cờ trong n−ắc vộ ngoội n−ắc tõ rÊt lẹu Vừ vẺy viỷc nghiến cụu cịc ệẳc ựiÓm sinh vẺt hảc, sinh thịi hảc vộ quy luẺt phịt sinh phịt triÓn cựa cịc loội bớt măi sỳ gãp phẵn hoộn thiỷn cể sẻ khoa hảc cho viỷc xẹy dùng cịc biỷn phịp phưng chèng nhỷn nhá hỰi cẹy trăng nãi chung vộ nhỷn nhá hỰi cam nãi riếng mét cịch cã hiỷu quờ

ẻ mẫi vỉng ệỡa lý, vỉng sinh thịi khịc nhau thừ thộnh phẵn nhỷn hỰi vộ thiến ệỡch cựa chóng còng khịc nhau ậÓ ệịp ụng ệ−ĩc yếu cẵu cựa thùc tiÔn sờn xuÊt chóng tềi tiạn hộnh ệÒ tội ''Nghiến cụu thộnh phẵn, mục ệé gẹy hỰi cựa nhãm nhỷn nhỏ hỰi cam vộ khờ nẽng phưng chèng chóng ẻ huyện Hộm Yến tỉnh Tuyến Quang vô đềng Xuẹn 2008 - 2009''

1.2 ý nghỵa khoa hảc vộ thùc tiÔn cựa ệÒ tội

Nhọng nghiến cụu vÒ thộnh phẵn, mục ệé gẹy hỰi cựa nhãm nhỷn nhá hỰi cam vộ khờ nẽng phưng chèng chóng sỳ ệãng gãp thếm nhọng cể sẻ khoa hảc cho viỷc xịc ệỡnh tẵm quan trảng cựa nhãm nhỷn nhá hỰi chÝnh, tõ ệã xịc

ệỡnh ệ−ĩc ệèi t−ĩng cẵn phưng trõ vộ ệ−a ra ệ−ĩc nhọng biỷn phịp phưng trõ thÝch hĩp vộ cã hiỷu quờ

Nhọng kạt qựa nghiến cụu cựa luẺn vẽn cã ý nghỵa quan trảng trong viỷc xịc ệỡnh nhãm nhỷn hỰi chÝnh trến cẹy ẽn quờ cã mói vộ khờ nẽng quờn

lý nhỷn nhá hỰi vộ cịc loội thiến ệỡch cựa chóng tỰi vỉng trăng cam huyỷn Hộm Yến tửnh Tuyến Quang

Tõ kạt quờ nghiến cụu cựa ệÒ tội cưn gióp cho nềng dẹn vỉng trăng cam nhọng kiạn thục cể bờn vÒ 2 loội nhỷn hỰi chÝnh vộ ph−ểng phịp phưng trõ mét cịch hiỷu quờ, bến cỰnh ệã cưn ệ−a ra ệ−ĩc cho ng−êi trăng cam 1 bé

Trang 13

thuốc phòng trừ cam hiệu quả, hợp lý, thân thiện với môi trường sống, hướng tới nền sản xuất những sản phẩm nông nghiệp an toàn và bền vững

1.3 Mục đích và yêu cầu

1.3.1 Mục đích

Trên cơ sở những kết quả điều tra xác định thành phần và mức độ gây hại của nhóm nhện nhỏ hại cam và khả năng phòng chống chúng, đề xuất biện pháp quản lý nhện hại cam theo hướng tổng hợp tại huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang

- Xác định khả năng khống chế nhện hại của một vài loài thiên địch chính

- Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp phòng chống

- Đề xuất biện pháp phòng chống theo hướng phòng trừ tổng hợp

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nhóm nhện nhỏ hại trên CĂQCM thuộc bộ Ve bét Acarina, lớp Nhện Arachnida, và thiên địch của chúng, trong đó nghiên cứu chủ yếu là 02 loài nhện hại chính: loài nhện đỏ Panonychus citri McGregor, loài nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead và một số loài bắt mồi chủ yếu của nhện nhỏ trên cây cam

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài đi sâu vào nghiên cứu thành phần nhện nhỏ hại và thiên địch của chúng trên cây cam, từ đó tập trung vào nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, diễn biến số lượng của nhóm nhện nhỏ hại và khả năng tiêu diệt nhện nhỏ hại của các loài thiên địch chính trên cây cam tại Huyện Hàm Yên

Trang 14

tỉnh Tuyên Quang

Đề tài được tiến hành từ ngày 01 tháng 12 năm 2008 đến tháng 8 năm

2009 tại các vườn trồng cam tại các x1 Tân Thành, Phù Lưu, Minh Khương huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang

Các thí nghiệm trong phòng được tiến hành tại phòng thí nghiệm của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Tuyên Quang

Trang 15

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nhện nhỏ hại cây trồng thuộc bộ ve bét, lớp nhện, đây là một lớp rất gần gũi với lớp côn trùng Ngày nay nhóm này đang thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới cũng như tại Việt Nam do chúng xuất hiện gây hại ngày một tăng nhất là đối với những cây trồng được thâm canh cao như lúa, chè, cam, bông, đậu đỗ, cà chua

Tác hại của nhện thường thấy ở 2 dạng như sau: dạng thứ nhất là làm mất màu lá, quả và cây; dạng thứ 2 là làm biến dạng cây và các bộ phận bị hại, cụ thể như sau:

* Làm mất màu lá, quả và cây: đây là hiện tượng phổ biến nhất, đa số các loài nhện nhỏ hại khi hút dịch trên cây tạo nên các vết châm nhỏ li ti, ban

đầu những vết châm có màu sáng vàng Hiện tượng khảm nhẹ là bước đầu tiên của quá trình gây hại Khi mật độ quần thể nhện hại tăng, nhiều vết châm gộp lại với nhau tạo nên một diện tích lá hoặc quả màu vàng nhạt, mất màu xanh

đặc trưng Những diện tích có các tế bào đ1 chết không phục hồi được mà các hoạt động sinh lý sinh hóa tiếp tục xấu đi, màu sắc tiếp tục biến vàng, sau đó lá có màu trắng bạc và đôi khi màu sắc chỗ bị hại thay đổi hoàn toàn chuyển sang màu nâu đỏ hoặc màu huyết dụ những lá bị hại sau một thời gian nếu gặp gió hoặc mưa thì sẽ bị thủng Hiện tượng này dễ thấy khi nhện đỏ hại trên lá

đậu đỗ, sắn, cam, chanh

* Làm biến dạng cây và các bộ phận bị hại

Khi nhện chích hút vào cây thường truyền theo các chất độc hoặc các chất có tác dụng điều hòa sinh trưởng cho cây, những chất này có thể kìm h1m hoặc kích thích làm cho bộ phận bị hại bị biến dạng Điển hình cho hiện tượng này là sự gây hại của nhóm nhện u sần Eriophyidae các chất được nhóm nhện này truyền vào bộ phận bị hại khiến cho chỗ bị hại bị kích thích sinh trưởng mạnh và làm cho các tế bào bị hại dài ra bất thường tạo thành các lông như hiện tượng lông nhung trên cây nh1n vải (Nguyễn văn Đĩnh, 1994)[5] nguyên

Trang 16

nhân của hiện tượng này là do nhóm nhện Eriophyidae litchii

Ngoài tác hại trực tiếp như trên thì chúng còn là môi giới truyền các bệnh virus nguy hiểm cho cây trồng ví dụ như: loài nhện Eriophyes tulipae Keifer truyền bệnh đỏ trên cây ngô (kernel Red Streak), thường gặp ở các nước trồng ngô nhiều như Mỹ, Pháp, Rumania, Bungari (Jeppson và ctv, 1975)[46] loài này còn truyền bệnh trên cây lúa mỳ (Wheat Streak)

* Mối liên hệ giữa cấu tạo miệng và tác hại đối với cây trồng

Cơ chế ăn của nhện hại như sau: đầu tiên một đôi kìm hoặc ngòi châm phía dưới hầu châm vào mô cây khi rút lên tạo thành lỗ hổng để dịch cây tràn

ra do sức trương của tế bào Sau đó nó dùng mút nhọn của xúc biện ấn vào bề mặt lá, bơm hút cạnh đó hút dịch cây, hầu ở phần đầu giả thò ra và thụt vào khi ăn, và cứ như vậy ngòi châm cắm xuống và rút lên, đôi khi kéo theo cả tế bào chỗ bị hại vào ruột tạo nên các vết thương cơ giới Điều này chứng tỏ rằng chúng không giữ tế bào hay lá sống để tạo môi trường thức ăn bền vững, khi hết thức ăn ở vị trí này chúng lập tức chuyển sang vị trí khác

* ảnh hưởng của sinh cảnh đến sinh sản phát triển

Sự gia tăng của quần thể nhện hại cây phụ thuộc nhiều vào khả năng thích ứng của loài đối với sự thay đổi của môi trường sống Đ1 có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới xác định rằng: khi nhiệt độ xuống thấp vào mùa

đông hay lên quá cao vào mùa hè có thể làm cho nhện nhỏ hại cây trồng bị chết hàng loạt Tỷ lệ trứng nở qua đông cũng phụ thuộc vào nhiệt độ ở mùa xuân Mỗi loài có khoảng nhiệt độ sống và nhiệt độ tối thích khác nhau Nếu

ẩm độ cao sẽ kìm h1m sự phát triển của quần thể, trong quá trình lột xác nếu gặp điều kiện ẩm độ cao chúng sẽ bị chết nhiều, khi ẩm độ cao còn làm cho chúng ít ăn, vòng đời bị kéo dài và tuổi thọ thì ngắn lại Bên cạnh 2 yếu tố trên thì lượng mưa trong năm cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến số lượng quần thể nhện hại trong tự nhiên, nếu lượng mưa nhỏ thì mức độ ảnh hưởng là không đáng kể vì nhện sẽ bò xuống mặt dưới của lá để trú ẩn, nhưng nếu trời mưa to và kèm theo gió thì có thể sẽ rửa trôi hầu hết chúng ra khỏi

Trang 17

cây và làm cho chúng bị chết hàng loạt Ngoài các yếu tố về khí hậu, thời tiết như trên thì chế độ canh tác và số lượng kẻ thù tự nhiên và các loại thuốc trừ dịch hại cũng là một trong những tác nhân ảnh hưởng đến sự bùng phát số lượng quần thể của nhóm nhện

Tóm lại nhóm nhện nhỏ hại cây trồng được coi là một trong những đối tượng gây hại khá mới, cơ thể nhỏ khó nhận biết bằng mắt thường, phương thức gây hại và sinh sống khác với nhóm côn trùng, đa số các loại thuốc BVTV hiện nay không có hiệu quả phòng trừ cao đối với nhóm nhện vì nhóm này có tính kháng thuốc cao do đó trong quá trình phòng trừ nhóm nhện hại bằng thuốc hóa học cần phải thường xuyên luân phiên các loại thuốc giữa các lần phun

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Từ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, nhóm nhện nhỏ hại cây trồng đ1 nhận được sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt của các nhà khoa học trên thế giới, sở dĩ nhóm nhện hại gây được sự chú ý của nhiều nhà khoa học

là vì chúng gây hại trên nhiều loại cây trồng và ngày càng có nguy cơ sẽ trở thành nhóm sinh vật gây hại chủ yếu trên các loại cây trồng Năm 1975, hai nhà khoa học là Jeppson và Keifer Baker, 1975 [46] đ1 tổng hợp tất cả các kết quả nghiên cứu của hơn 50 nhà khoa học trên thế giới về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, thành phần các loài nhện nhỏ hại cây trồng kinh tế và kẻ thù tự nhiên của chúng trong một cuốn sách Những kiến thức trong cuốn sách này đ1 giúp cho những sinh viên, những nhà khoa học hiểu biết hơn về chúng

và đây cũng là một trong những cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu chuyên sâu về nhóm nhện hại sau này

Nhóm nhện nhỏ hại cây trồng có kích thước cơ thể rất nhỏ thường khó nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng nhóm này lại có ưu thế sinh học rất cao so với các loài động vật hại khác như: chúng có khả năng thích nghi cao với điều kiện sống, có sức sinh sản và sức tăng quần thể cao, chỉ cần sau từ 5 đến 7 ngày là chúng đ1 có thể tăng gấp đôi số lượng cá thể trong quần thể Tuy

Trang 18

chúng không có cánh để bay đi gây hại nh−ng chúng bò khá nhanh, cơ thể chúng rất nhỏ bé do đó có thể phát tán nhờ gió và đặc điểm này cũng giúp cho chúng thuận tiện hơn trong việc ẩn nấp để chốn, tránh kẻ thù trong tự nhiên, cộng với khả năng sinh sản cao và đa dạng sinh học đ1 làm cho nhóm nhện hại trở nên " trơ " với thuốc hóa học (Helle 1965, 1985, Craham và Jeppson et

al 1975) [53]

2.1.1 Thành phần các loài nhện nhỏ hại CĂQCM

Nhện hại cây trồng thuộc ngành chân đốt Arthropoda, lớp nhện Arachnida,

Bộ Ve bét (bộ nhện nhỏ) Acarina Thành phần nhện hại nói chung và nhện nhỏ bộ

Ve bét nói riêng là khá đa dạng, chúng đ−ợc phân bố ở khắp nơi trên thế giới, từ trong nhà, ngoài đồng, trong rừng cho đến các bụi cây và các vùng đồi núi có độ cao thấp khác nhau, trong đó bao gồm cả những loài có ích (thiên địch) và những loài có hại cho cây trồng (Ehara, S., 1977) [45] Tuy vây, sự phân bố các loài nhện ở các khu vực khác nhau trên thế giới là khác nhau, có những họ chỉ có ở vùng ôn đới mà không có ở vùng nhiệt đới, trong khi đó những loài chỉ −a khí hậu nóng ẩm của vùng nhiệt đới Ví dụ nh− họ Atypidae và họ Paratopidae chỉ có ở vùng đồng bằng sông Amazon, hay nh− họ Migidae chỉ có ở Nam Phi và trên đảo Madagasca, Milan Việc nghiên cứu thành phần nhện nhỏ hại là cơ sở quan trọng đầu tiên cho việc nghiên cứu chuyên sâu về từng đối t−ợng nhện nhỏ gây hại riêng biệt sau này

Nhóm nhện nhỏ hại cây trồng ngày nay đ1 dần trở nên là loài gây hại chủ yếu cho nên đ1 thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng nh− tại Việt Nam Đến nay trên thế giới đ1 có rất nhiều các công trình nghiên cứu chuyên về thành phần, khóa phân loại, sinh học và sinh thái học của nhện hại Từ năm 1955, hai nhà khoa học là Prichard & Baker [55] đ1 có công trình nghiên cứu về thành phần nhện nhỏ hại thuộc họ Tetranychidae; tiếp đến là hai nhà khoa học Tuttle & Baker (1968) với những nghiên cứu về nhện nhỏ hại cây trồng vùng Tây Nam Mỹ, đồng thời thống kê lại thành phần nhện nhỏ hại thuộc họ Tetranychidae; Jeppson & at al (1975) [46] đ1 có những mô tả chi tiết về từng loài nhện nhỏ hại cây trồng kinh tế, từ

Trang 19

đặc điểm hình thái đến các biện pháp phòng chống; Baker (1975) [40] đ1 công

bố 90 loài nhện tìm thấy ở Đông Nam á và Nhật Bản, trong đó có 61 loài mới tìm thấy ở Thái Lan; và Mever (1981) [51] có công trình nghiên cứu về nhện nhỏ hại cây trồng ở Nam Phi

Dựa vào kết quả đ1 được công bố mới đây của các nhà nghiên cứu trên thế giới chúng ta có thể nhận thấy rằng: Có hơn 10 họ nhện hại thường gặp trên nhiều loại cây trồng, tuy nhiên chỉ có 4 họ là có đại diện gây hại trên các loại cây trồng và gây hại năng hơn cả là: Họ nhện chăng tơ thật Tetranychidae, họ nhên chăng tơ giả Tenuipalpidae, họ nhện u sần Eriophyidae và họ Tarsonemidae Meyer (1981) [50]

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới như Ehara,

Mc Murtry, Vandevrie, Luck Robert, N.Rodrigueez, Smith Dan, Beattie G.A, Roger Broadley Nikolaishvili và Mekvabishvili thì tại các vùng sản xuất cây

có múi có điều kiện sinh thái, địa lý khác nhau thì thành phần nhện hại và ý nghĩa kinh tế của mỗi loài là khác nhau, cụ thể:

Khi nghiên cứu về họ nhện chăng tơ thật tác giả Ehara 1975 [45] đ1 cho rằng: có rất nhiều loài nhện gây hại nguy hiểm trên cây trồng nằm trong họ chăng tơ thật Tetranychidae được tìm thấy ở các nước: Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin, Thái Lan, ấn Độ Trong họ này có loài nhện Panonychus citri McGregor gây hại trên cây ăn quả có múi là một trong nhưng loài gây hại quan trọng Trong nhiều trường hợp nhóm nhện nhỏ hại cây trồng là nhân tố quan trọng quyết định tới năng suất, chất lượng nông sản

Theo F Luck Robert (1981) [49] đ1 ghi nhận rằng, tại bang California của Mỹ có 4 loài nhện quan trọng gây hại thường xuyên trên các loại cây ăn quả có múi là nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead, nhện đỏ cam Panonychus citri McGregor, nhện trắng Polygotarsonemus latus Banks và nhện chồi Eriophyes sheldoni Ewing Còn theo kết quả nghiên cứu của N.Rodrigueez (1981) [57] tại Cu Ba có 9 loài nhện gây hại trên cam quýt là

Trang 20

Phyllocoptruta oleivora Ashmead, Panonychus citri McGregor, Tetranychus urticae Koch, Eutetranychus banksi Mc, Polygotarsonemus latus Banks, Aceria sheldoni E, Brevipalpus phoenicis G, Brevipalpus ebovatus và Tetranychus mexicanus Trong khi đó theo kết quả nghiên cứu của nhà khoa học S Barbagallo (1980)ở Italia chỉ có ba loài nhện được xác nhận là gây hại trên cây ăn quả có múi đó là: Panonychus citri McGregor, Tetranychus urticae Koch và Eriophyes sheldoni Ewing

Tuy nhiên ở vùng Georgia thuộc Liên Xô cũ theo kết quả đ1 được V.A Yasnosh công bố vào năm 1986, Nikolaishvili và Mekvabishvili (1990 )[54] thì tại đây chỉ có hai loài nhện nhỏ hại là Panonychus citri McGregor và Phyllocoptruta oleivora Ashmead được ghi nhận là gây hại nghiêm trọng trên cây ăn quả có múi

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Smith Dan, Beattie G.A, Roger Broadley năm 1997[43] tại đất nước Australia có tới 10 loài nhện hại trên các loại cây ăn quả có múi, bao gồm: Tegolophus australics, Panonychus citri McGregor, Tydeus canifornicus, Phyllocoptruta oleivora Ashmead, Eriophyes sheldoni Ewing, Polyphagotarsonemus latus Banks, Tetranychus urticae Koch

Những công trình nghiên cứu gần đây của các tác giả ở Châu á bao gồm các nước như: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ấn Độ các tác giả Nakao S.I.et al, (1996) [53], Muraoka M, (1987)[52], Kim Kyuchin, Choi Ducksoo (2000) [48] Rodrigueez Neyda, Farinas M E., Sibat R, Moreno C (1981)[57], đều chỉ rõ 2 loài nhện đỏ cam Panonychus citri McGregor và nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead được coi là những đối tượng gây hại nghiêm trọng ở các vườn cam quýt, nếu không áp dụng các biện pháp phòng trừ thì năng suất, chất lượng quả và tuổi thọ của vườn cam sẽ bị giảm đi

rõ rệt

Trang 21

Theo Dan Smith và cvt (1997) [43], trong điều kiện nhiệt độ 30 0C, chu

kỳ sinh trưởng của nhện rám vàng kéo dài khoảng 6 ngày Khi cây chưa có quả, nhện rám vàng sống ở tầng lá bánh tẻ là chính Nhện rám vàng phát sinh gây hại quanh năm với mật độ cao và gây hại nặng khi cây có quả non

2.1.2 Thành phần các loài thiên địch của nhóm nhện nhỏ hại CĂQCM

a Thành phần, đặc điểm sinh vật học sinh thái học các loài thiên

địch của nhện nhỏ hại cam quýt

Thành phần các loài thiên địch của nhóm nhện nhỏ hại cây trồng rất phong phú, đa dạng và được phân bố rộng khắp trên thế giới Ngày nay trên thế giới đ1 có rất nhiều những công trình nghiên cứu chuyên sâu về thành phần loài, đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của các loài bắt mồi trên nhóm nhện nhỏ hại cây trồng Các loài thiên địch của nhóm này được xác

định nằm trong họ nhện nhỏ bắt mồi Phytoseiidae (Amblyseius sp., Euseius victoriensis ), bọ rùa đen nhỏ bắt mồi Stethorus (Stethorus picipes, Stethorus punctillum ), bọ trĩ bắt mồi Thripidae, muỗi năn bắt mồi Cecidomyiidae, bọ cánh cộc Oligota, Bọ mắt vàng Chrysopa

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Đĩnh (2005)[10] Nhóm nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius cucumeris có mầu nâu nhạt hơi trong mờ, kích thước cơ thể dài khoảng 0,5 mm Trứng có dạng hình ô van, màu trắng trong suốt, ở nhiệt độ 22 0C thời gian trứng đến trưởng thành khoảng 6 - 9 ngày Trưởng thành sống khoảng 20 ngày Tỷ lệ con cái chiếm 65 %, mỗi cá thể cái trưởng thành có thể đẻ 40 quả trứng

Các loài bọ rùa đen nhỏ thuộc giống Stethorus, họ Coccinelidae, bộ Coleoptera là những loài thiên địch chuyên tính của nhện nhỏ hại cây trồng Một số loài phổ biến trên cây trồng như: Stethorus picipes và Stethorus punctillum Trưởng thành bọ rùa Stethorus punctillum hình ô van dài khoảng 1-1,5 mm, có màu nâu tối đến ủen Trứng hình ô van, màu vàng nhạt, ấu trùng màu xám đến đen nhạt, hình trụ dài khoảng 2 mm khi thành thục và được bao

Trang 22

phủ bởi các chùm lông thẫm màu

Các loài bọ trĩ bắt mồi Thysanoptera họ Thripidae đựợc ghi nhận ăn nhiều loài nhện nhỏ hại Trưởng thành bọ trĩ bắt mồi 6 chấm Scolothrip sexmaculatus có đặc điểm điển hình là có 3 chấm tối màu trên mỗi cánh Thời gian phát dục của ấu trùng trong khoảng 10 ngày Trưởng thành có thời gian sống khoảng 30 ngày Loài bọ trĩ này thích nghi với điều kiện thời tiết nóng và khô, nhiệt độ trên 24 0C và ẩm độ tương đối dưới 50 % Trứng bọ trĩ 6 chấm thon dài, dạng hình trụ hoặc bầu dục Con trưởng thành có màu nâu vàng đến vàng nhạt, chiều dài 1,2 mm, viền cánh có nhiều lông tua dài Thời gian phát triển của ấu trùng khoảng 10 ngày

b Vai trò của một số loài bắt mồi chủ yếu trong hạn chế số lượng nhện nhỏ hại cây ăn quả có múi

Ngày nay trên thế giới đ1 có rất nhiều những công trình nghiên cứu về các phương thức phòng chống nhóm nhện nhỏ hại cây trồng, một trong những biện pháp được coi là hiệu quả, an toàn và thân thiện với môi trường sống là bảo vệ và sử dụng các loài thiên địch sẵn có trên cây trồng Một trong những loài thiên địch được coi là quan trọng như: nhóm nhện nhỏ bắt mồi họ Phytoseiidae, Bọ mắt vàng Chrysopa, bọ trĩ bắt mồi 6 chấm Scolothrisp sp

bọ rùa đen nhỏ Stethorus sp bọ cánh cứng ngắn Oligota sp muỗi năn bắt mồi Feltiella sp

Loài nhện bắt mồi Amblyseius eharai đ1 được một số tác giả trên thế giới chứng minh là có khả năng duy trì loài nhện đỏ cam Panonychus citri McGregor ở mức thấp nhất trên cây cam, quýt giống ở Trung Quốc theo tác giả Huang, (1978) loài nhện bắt mồi Amblyseius newsami Evans đ1 chứng tỏ

được tầm quan trọng của chúng đối với loài Panonychus citri McGregor ở tỉnh Quảng Đông

Các loài nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius fallacies Garman, A mekenziei,

A cucumeris có khả năng tấn công và tiêu diệt nhiều loài nhện nhỏ hại như

Trang 23

Panonychus ulmi, Polyphagotarsonemus latus, Tetranychus urticae thời điểm

sử dụng nhóm nhện nhỏ bắt mồi trong khống chế quần thể nhện nhỏ hại tốt nhất là khi quần thể nhện hại còn thấp, chưa bùng phát về số lượng (Argov, 2002)[39] (Beard, 1999)[40] Một ưu thế của nhóm nhện Amblyseius fallacies Garman là chúng có khả năng đề kháng lại với các thuốc bảo vệ thực vật nhóm Pyrethroid và chúng đ1 và đang được nhân nuôi và sử dụng để phòng chống nhện nhỏ hại thuộc họ Tetranychidae trên một số cây trồng tại Canada (Lester, 2002) Năm 1981 tác giả Sabelis đ1 nghiên cứu và đ1 thiết lập được ngưỡng sử dụng Amblyseius fallacies Garman trong phòng trừ nhện nhỏ hại, theo tác giả thì tỷ lệ giữa nhện bắt mồi và nhện nhỏ hại tối thiểu là 1:10 sẽ mang lại hiệu quả tốt, ở những tỷ lệ cao hơn thì hiệu quả phòng trừ cũng sẽ cao hơn

Theo các nhà khoa học trường Đại hoc Cornell ở New york Mỹ cho biết, loài nhện nhỏ bắt mồi Typhylodromus pyri có khả năng khống chế số lượng quần thể loài nhện Panonychus sp rất tốt, thậm chí có thể hoàn toàn không cần dùng đến các loại thuốc hóa học trừ nhện Do loài nhện nhỏ bắt mồi có khả năng thiết lập quần thể nhanh và đủ lớn để hạn chế được các quần thể nhện nhỏ hại trong cả vụ (Argov, 2002)[39]

c Hiệu quả phòng trừ của các loại thuốc đối với nhóm nhện nhỏ hại CĂQCM trên thế giới

Hiệu quả phòng trừ nhóm nhện nhỏ hại trên cây có múi bằng dầu khoáng BVTV trên thế giới đ1 được nghiên cứu đánh giá sử dụng từ những năm 90 Trong chương trình phòng trừ, quản lý dịch hại tổng hợp, dầu khoáng HMO và AMO được sử dụng hợp lý hầu như không gây độc hại cho người sử dụng, các loài động vật máu nóng và môi trường sống mà có hiệu lực phòng trừ cao bằng thậm chí còn hơn hẳn một số loại thuốc BVTV chọn lọc và phổ rộng khác Khi phun dầu khoáng lên cây cam làm cho nhóm nhện nhỏ mẫn cảm với dầu đều bị chết do ngạt thở hay bị tác động tới tập tính ăn và đẻ trứng

ở úc theo kết quả nghiên cứu của Watson và ctv, 1996 phun dầu

Trang 24

khoáng với nồng độ 0,4 - 0,5 % sớm ngay khi lộc non mới nhú ra trong một chu kỳ lộc xuân, lộc hạ kết hợp với các biện pháp canh tác như điều khiển việc tưới nước, hạn chế việc ra lộc 2 - 3 kỳ, ngắt bỏ những lộc không cần thiết cũng

có tác dụng phòng trừ được nhện đỏ và nhện rám vàng

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.1 Nhện nhỏ hại cây ăn quả có múi

Nhóm Nhện nhỏ gây hại trên cây ăn quả có múi ở nước ta trong những năm gần đây cũng đ1 nhận được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học Theo Nguyễn Văn Đĩnh 1997 [6] nhóm nhện nhỏ hại cây trồng tại vùng Hà Nội gồm có 5 loài là: Nhện đỏ Panonychus citri, nhện rám vàng Phyllocoptuta oleivora, nhện trắng Polyphagotarsonemus latus, nhện sọc trắng Calacarus citrifolli và nhệt dẹt Brevipalpus sp Trong đó 2 loài gồm nhện đỏ Panonychus citri và nhện rám vàng Phyllocoptuta oleivora là 2 đối tượng thường xuyên xuất hiện và gây hại nặng cho vườn cam quýt Còn ở Lạng Sơn theo Nguyễn Thị Hà (Chi cục Kiểm dịch vùng VII, 2005) [11] trên cây quýt ngọt Bắc Sơn đ1 xác định có 6 loài nhện nhỏ gây hại là nhện đỏ cam Panonychus citri McGregor, nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead, nhện trắng Polyphagotarsonemus latus Banks, nhện xanh Eutetranychus banksi McGregor, nhện dẹt đỏ Brevipalpus phoenicis, nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Boisduval và loài nhện đỏ Panonychus citri McGregor, và nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead được đánh giá là gây hại quan trọng nhất

Cũng tại vùng núi Lạng Sơn theo tác giả Nguyễn Thị Thủy, 2003 [27]

có 6 loài nhện thuốc 4 họ hại trên cam quýt, trong đó 2 loài nhện đỏ Panonychus citri McGregor, và nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead cũng được đánh giá là gây hại quan trọng nhất Còn tại vùng đồi Hòa Bình theo kết quả nghiên cứu của Trần Xuân Dũng, 2001 [2] tại đây xác

định là có tới 7 loài nhện hại trên CĂQCM và loài nhện đỏ Panonychus citri

Trang 25

McGregor, và nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead được đánh giá là gây hại quan trọng nhất

Như vậy, qua các tài liệu có được về thành phần nhện hại trên cam quýt của các tác giả trong nước như Trần Xuân Dũng 2005 [2]; Nguyễn Tuấn Lộc

2007 [18]; Nguyễn Văn Đĩnh 1997 [6] cho thấy: ở Việt Nam có 7 loài nhện hại trên CĂQCM khác nhau là: Panonychus citri McGregor, Phyllocoptruta oleivora Ashmead, Tetranychus urticae Kock, Polyphagotarsonemus latus Banks, Brevipalpus sp, Eutetranychus sp, Calacarus citrifolli Keifer, Eutetranychus banksi McGregor Trong số đó có loài nhện đỏ cam Panonychus citri McGregor, và loài nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead được đánh giá là gây hại quan trọng nhất trên cam quýt ở nước ta hiện nay

Các nghiên cứu về sâu hại và ý nghĩa kinh tế của chúng trên cam quýt còn được đề cập đến trong các tài liệu đ1 công bố của các tác giả: Nguyễn Văn Đĩnh (1994, 1997, 2002, 2005)[5], [6], [8], [10], Nguyễn Văn Đĩnh và Nguyễn Thị Phương (2000)[7], Trần Thị Bình, 2001 [1] Từ những kết quả nghiên cứu trên của các tác giả đ1 góp phần xác định được thành phần, đặc

điểm sinh vật hoc, sinh thái học và phương pháp phòng trừ nhóm nhện một cách hiệu quả, an toàn góp phần làm hạn chế thiệt hại do nhện hại gây ra trong thực tiễn sản xuất cây có múi ở nước ta

a Nhện đỏ hại cam Panonychus citri McGregor

- Tên khoa học: Panonychus citri (Mc Gregor)

- Tên khoa học khác: Metatetranychus citri, Paratetranychus citri

- Họ: Tetranychidae

- Bộ: Acari

Nhện đỏ Panonychus citri Mc Gregor là đối tượng gây hại nguy hiểm trên các loại cây ăn quả có múi, chúng thường tấn công trên lá và quả, chúng chích hút nhựa cây làm giảm năng suất và phẩm chất quả

Trang 26

ở tất cả những vùng trồng cây ăn quả có múi như tại: Châu Âu, Nam Châu Phi, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Châu úc, New Zealand, Hoa Kỳ, ấn Độ, Indonesia, Philippines, Java, Palestin, Irac, Hy Lạp, Thái Lan, Argentina, Chi Lê, Peru, Colombia đều bị Nhện đỏ tấn công và gây hại

* Triệu chứng gây hại

Trên lá: Nhện đỏ thường sống tập trung, chích hút ở mặt dưới lá Nhện hút dịch lá cây bánh tẻ và lá già, chúng chích hút dịch lá cây tạo nên các vết châm nhỏ li ti màu trắng bạc hơi vàng Mật độ cao làm cho các lá cam quýt mất màu xanh bóng, chuyển sang màu trắng bạc, lá mất dần khả năng quang hợp, khi bị hại nặng sẽ làm cho lá rụng hàng loạt, cây còi cọc, không ra lộc Khi mật độ nhện cao chúng có thể tấn công cả cành non, làm cho cành khô và chết Các lá khô có thể được giữ lại trên cây một thời gian sau đó

Trên quả: Nhện thường sống tập trung ở phần cuống quả, đáy quả và trong các phần lõm của quả cam Khi quả cam còn non, nhện chích và hút dịch ở lớp biểu bì và làm vỡ tuyến tinh dầu trên vỏ quả làm cho vỏ quả sau đó

bị biến màu và các vết thương trên vỏ quả khô dần tạo nên những đám sần sùi, làm giảm năng suất và phẩm chất quả Nếu mật độ nhện cao và gây hại mạnh, quả non có thể bị rụng sớm

* Đặc điểm hình thái

Trứng: có dạng hình cầu dẹt, giống củ hành, có cuống dài được đẻ gần gân chính lá Trứng rất nhỏ, tròn, màu đỏ, đường kính trứng khoảng 0,13mm, màu đỏ sáng phía đầu có lông thẳng đứng phía trên có một cuống dài, từ đỉnh cuống có trên 10 sợi tơ kéo dài thành hình đồng tâm đến bề mặt của lá, rất đặc trưng

Nhện non: nhện non có 3 tuổi, khi mới nở có màu đỏ, chỉ có 6 chân, sau lột xác 2 lần, trước khi hoá trưởng thành mới có đủ 8 chân, sang tuổi 2 nhện

có màu nâu đỏ và tuổi 3 màu đỏ sẫm

Trưởng thành cái: cơ thể dài khoảng 0,35 mm, râu đầu có 3 đốt, có 4

Trang 27

cặp chân ấu trùng mới nở có màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt với 3 cặp chân, các tuổi sau, ấu trùng có 4 cặp chân, cơ thể tròn, màu đỏ tương tự thành trùng

Trưởng thành đực: cơ thể dài khoảng 0,30 mm, màu cam hay đỏ sậm, hình bầu dục tròn Thành trùng đực cơ thể thon dần về cuối bụng Trên cơ thể thành trùng có khoảng 20 sợi lông trắng, dài, mọc trên những ống lồi nhỏ Chân của trưởng thành đực dài hơn chân trưởng thành cái

* Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học

Nhện trưởng thành và nhện non đều sống ở mặt trên lá, khi mật độ cao chúng gây hại cả trên quả, cành bánh tẻ

Vòng đời của nhện đỏ cam Panonychus citri Mc Gregor trong điều kiện nhiệt độ 25 0C, chu kỳ sinh trưởng trung bình là 11,9 ngày, khi gia tăng nhiệt

độ lên 30 0C, chu kỳ sinh trưởng rút ngắn lại, chỉ còn khoảng 8,5 ngày, tuổi thọ của trưởng thành khoảng 14,7 ngày đến 27,4 ngày Tuy nhiên ở nhiệt độ

250 0C, thời gian sống của thành trùng dài hơn ở nhiệt độ 30 0C Nhện đỏ có sức sinh sản cao, ở nhiệt độ 25 0C, con cái đẻ từ 20 - 90 trứng và ở điều kiện nhiệt độ 30 0C, lượng trứng có khuynh hướng giảm chỉ còn 10 - 66 trứng/con Trứng được đẻ rải rác trên cả 2 mặt lá hoặc trên quả Nhện đỏ cam phát sinh gây hại quanh năm, ở những vườn cam dưới 5 năm tuổi thường bị nhện đỏ hại nặng hơn Nhiệt độ 25 0C và khô hạn rất thích hợp cho nhện đỏ cam phát sinh phát triển và gây hại nặng, nhiệt độ trên 35 - 40 0C không thích hợp cho chúng sinh trưởng phát triển thậm chí chúng có thể bị chết hàng loạt (Jeppson và ctv, 1975)[46] Thời gian phát dục của nhện đỏ cam ở nhiệt độ 30 0C ngắn hơn ở

25 0C (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994) [5] Mưa nặng hạt kèm gió to có thể rửa trôi nhện đỏ cam

Sức đẻ trứng của nhện đỏ cam và tỷ lệ sống ở 25 0C cao hơn ở 30 0C nhưng ở nhiệt độ 30 0C chúng bắt đầu đẻ trứng sớm hơn, số lượng trứng đẻ trong một ngày cao hơn nhưng nhanh chóng kết thúc giai đoạn đẻ trứng Do

có vòng đời ngắn hơn và lại đẻ tập trung hơn nên tuy sức sinh sản thấp hơn ở

25 0C (số lượng trứng) nhưng ở nhiệt độ 30 0C nhện đỏ cam Panonychus citri

Trang 28

Mc Gregor có tỷ lệ tăng tự nhiên (r = 0,311) cao hơn ở 25 0C (r = 0,288)

Hàng năm Nhện có từ 8 - 10 lứa, thường phát triển mạnh vào mùa khô hạn và trời nắng ấm ở điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta trong một năm nhện thường có 2 cao điểm về số lượng là giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6 và giai đoạn tháng 9 đến tháng 11

b Nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead

- Tên khoa học: Phyllocoptruta oleivora Ashmead

- Tên khoa học khác: Eriophyes oleivorus, Phyllocoptes oleivorus và Typhlodromus oleivorus

- Họ: Eriophyidae

- Bộ: Acari

Nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora Ashmead cũng được coi là một trong những đối tượng gây hại nghiêm trọng trên cây cam, chúng có thể gây hại trên quả, lá và cành nhưng gây hại quan trọng nhất là trên quả, vì khi quả

bị hại sẽ làm giảm giá trị kinh tế của vườn cam

* Triệu chứng gây hại

Trên quả, nhện gây hại từ khi quả vừa mới hình thành cho đến khi thu hoạch, tập trung chủ yếu là giai đoạn quả non Chúng chích hút dịch vỏ quả làm vỏ quả bị biến màu, chuyển sang màu xỉn, màu nâu đen, gây hiện tượng

vỏ hơi sần sùi có mầu nâu xám hoặc xám bạc như xi măng, khi mật độ nhện cao vỏ quả như bị phủ một lớp lông sần sùi Những quả bị nhện rám vàng hại thường có vỏ dầy hơn bình thường và có kích thước quả nhỏ hơn những quả không bị nhện hại

Triệu chứng trên cành và lá: trên lá khi bị nhện rám vàng hại, mặt dưới của lá thường có màu nâu hơi đen hoặc hơi vàng, cành nhỏ màu nâu hơi tím và thâm đen

* Đặc điểm hình thái các pha phát dục

Trứng: màu trắng hơi vàng, có dạng hình cầu, kích thước trứng rất nhỏ,

đường kính khoảng 0,04 mm Trứng nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora

Trang 29

Ashmead thường được đẻ rải rác trên quả hoặc gần gân chính của lá

Nhện non: màu vàng nhạt, cơ thể dạng hình củ cà rốt với 2 cặp chân ngắn đưa ra phía trước đầu Pha nhện non có 2 tuổi

Nhện trưởng thành: có màu vàng tươi, cơ thể dẹp, thon dài có dạng hình

củ cà rốt, kích thước rất nhỏ, cơ thể dài khoảng 0,1mm, có 2 đôi chân, phần

đuôi nhọn có 2 lông dài, vuốt bàn chân có 5 lông cứng Cá thể đực cơ thể nhỏ hơn cá thể cái

* Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học

Trưởng thành đẻ trứng vào những phần lõm trên quả và gần gân chính của lá Theo kết quả khảo sát và nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương và Nguyễn Văn Đĩnh (2000)[] đ1 ghi nhận: thời gian phát triển của nhện thay đổi tùy theo điều kiện nhiệt độ môi trường, chu kỳ sinh trưởng dài trunt bình khoảng 13,88 ± 0,22 ngày ở nhiệt độ 25 0C, trái lại ở nhiệt độ 30 0C chu kỳ sinh trưởng chỉ kéo dài khoảng khoảng 8,24 ± 0,21 Thời gian trứng khoảng 3 ngày Thời gian sống của trưởng thành cái ở 2 ngưỡng nhiệt độ 25 0C và 30 0C lần lượt

là 25,07 ± 1,32 và 17,5 ± 0,89 ngày và trưởng thành đực là 20,40 ± 1,10 và 13,41 ± 0,95 ngày Số lượng trứng đẻ cao nhất vào ngày thứ tư và thứ năm sau khi đẻ trứng lần đầu tiên Một cá thể cái có thể đẻ khoảng 20 đến 30 trứng 2.2.2 Các loài thiên địch của nhóm nhện nhỏ hại CĂQCM

2.2.2.1 Thành phần và đặc điểm sinh vật hoc, sinh thái học của các loài thiên

Nghiên cứu của Trần Xuân Dũng (2001)[2] đ1 xác định được 8 loài côn trùng và nhện là thiên địch của nhóm nhện hại cam, quýt vùng đồi Hoà Bình

Trang 30

trong thời gian từ năm 1998 - 2001 Tác giả cho biết trong 8 loài ghi nhận

được thì có 4 loài có tính chuyên hoá cao với nhện nhỏ hại, đó là bọ rùa đen nhỏ Stethorus punctillum, bọ rùa đen 2 chấm Stethorus sp và 2 loài nhện nhỏ bắt mồi là Phytoseilus sp, Amblyseius sp 1 loài nhện lớn bắt mồi Euseius và 3 loài còn lại là chuồn chuồn cỏ Chrysopa sp, bọ cánh ngắn Oligota sp và bọ trĩ Scolothrip sp đây là những loài thiên địch có tính đa thực

Trong đó quan trọng nhất là nhóm nhện lớn bắt mồi Euseius, Amblyseius sp và Bọ rùa Stethorus sp Bên cạnh đó thì trong tự nhiên, quần thể nhện đỏ cam cũng thường bị siêu vi khuẩn hoặc nấm gây bệnh

b Đặc điểm sinh vật hoc, sinh thái học của các loài thiên địch của nhóm nhện nhỏ hại CĂQCM

Bọ trĩ 6 chấm Scolothrips sp: Trưởng thành màu vàng nhạt có ánh nâu, cánh sáng màu hơn với các lông tua dài ở viền cánh Đặc biệt trên mỗi cánh

có 3 chấm mầu tối đây là đặc điểm điển hình để phân biệt loài bọ trĩ bắt mồi sáu chấm Scolothrip sp với các loài bọ trĩ khác Chiều dài cơ thể của trưởng thành bọ trĩ sáu chấm dao động từ 0,9 mm đến 1,4 mm, trung bình 1,17 ± 0,02 mm; trứng bọ trĩ sáu chấm được đẻ rải rác từng quả ở mặt sau của lá cam, trứng có hình thon dài, hơi cong, một đầu gắn chặt vào thịt lá cam bằng một sợi tơ ngắn giúp cho trứng bọ trĩ không bị rơi, trứng mới đẻ có màu trắng trong sau chuyển sang màu xanh nhạt Trước khi nở trứng chuyển sang màu nâu đỏ nhạt, chiều dài trứng của bọ trĩ bắt mồi sáu chấm khoảng 0,3 mm đến 0,4 mm, trung bình đạt 0,31 ± 0,02 mm; pha ấu trùng của bọ trĩ trải qua 2 tuổi, tuổi 1 mới nở có mầu trắng trong hơi mờ, sau chuyển sang màu có ánh vàng nhạt, khi ăn trứng hoặc pha nhện non của nhện đỏ cam thì phần bụng có màu hồng, đó là những chất dịch được hút ra từ cơ thể của nhện đỏ Kích thước cơ thể ấu trùng tuổi 1 dao động trong koảng 0,4 - 0,7 mm, trung bình 0,56 ± 0,02 mm, ấu trùng tuổi 2 to và dài hơn ấu trùng tuổi 1, có thể nhìn thấy

rõ râu đầu, chiều dài cơ thể của ấu trùng tuổi 2 từ 0,7 - 0,9 mm, trung bình 0,8

± 0,03 mm ấu trùng khi đẫy sức toàn bộ cơ thể có mầu đỏ hồng; bọ trĩ 6 chấm không có giai đoạn nhộng nhưng có giai đoạn tiền nhộng, khi mới bước

Trang 31

vào giai đoạn tiền nhộng, bọ trĩ bắt mồi 6 chấm thường ít di chuyển, mầu sắc chuyển từ màu đỏ hồng sang màu trắng trong Râu đầu nhìn thấy rõ và bắt đầu xuất hiện mầm cánh Trên đốt bụng thứ nhất còn sót lại 1 chấm đỏ và chấm đỏ này tồn tại đến hết giai đoạn tiền nhộng

Thời gian phát dục từ trứng đến trưởng thành từ 12 -19 ngày, trung bình 14,5 ± 0,3 ngày, tuổi thọ của trưởng thành là 6,33 ngày, 1 trưởng thành cái có khả năng đẻ ít nhất là 17 quả và cao nhất đạt 28 quả/ 1 cá thể cái

Bọ cánh cứng ngắn Oligota sp: ấu trùng có 4 tuổi, thời gian phát dục của bọ cánh cứng ngắn Oligota sp phụ thuộc vào sự thay đổi của nhiệt độ, ở nhiệt độ 29,1 0C vòng đời trung bình là 20,6 ngày Thời gian phát dục của trứng biến động từ 1,3 ngày đến 3,2 ngày ở điều kiện phòng thí nghiệm Thời gian nhộng tương đối dài, biến động 6,2 ngày đến 16,6 ngày, con cái có thể sống trung bình 19,6 - 21,7 ngày và đẻ trứng từ 51,6 - 54,4 quả/ 1 cá thể cái Khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái phụ thuộc vào nhiệt độ và ẩm độ, ở

điều kiện nhiệt độ 21,9 0C ẩm độ 78,8 %, mỗi cá thể cái đẻ trung bình 3,08 quả trứng; ở điều kiện nhiệt độ 31,5 0C ẩm độ 65 %, mỗi cá thể cái đẻ trung bình 3,26 quả trứng (Phạm Văn Lầm, 2006 ) [17]

Nhện bắt mồi Amblyseius sp:

Trứng: hình trái xoan, mới đẻ có mầu trắng trong, sắp nở có mầu trắng

mờ Kích thước, dài khoảng 0,17 - 0,20 mm, trung bình 0,18 ± 0,004 mm, chiều rộng từ 0,11 - 0,14 mm, trung bình 0,13 ± 0,0004 mm

Trưởng thành: nhện bắt mồi Amblyseius sp có màu trắng đục, khi mới lột xác cơ thể có màu trắng trong, cơ thể dài 0,298 ± 0,015 mm, rộng 0,112 ± 0,006 mm và được chia làm 2 phần chính là phần đầu giả và phần thân Đầu giả bao gồm 1 đôi súc biện với nhiệm vụ tìm kiếm thức ăn và đây cũng chính

là cơ quan cảm giác của nhện bắt mồi, kim chích hút của nhện bắt mồi nằm ở phía dưới của đầu giả; phần thân cũng được chia làm 2 phần là thân trước và thân sau, thân trước chứa n1o bộ và 2 lỗ thở ở vị trí giữa đốt chày thứ 3 và thứ

4, phần thân sau có cơ quan sinh dục và hậu môn Ngoài ra phần thân còn là

Trang 32

nơi để gắn các đôi chân Trứng có hình bầu dục kích thước dài 0,09 ± 0,004

mm, rộng 0,048 ± 0,003 mm, khi mới đẻ trứng có màu trắng trong, còn khi sắp nở trứng chuyển sang màu trắng mờ

Nhện non: có 3 tuổi, tuổi 1 chỉ có 3 đôi chân, kích thước cơ thể dài 0,115 ± 0,003 mm, rộng 0,049 ± 0,003 mm, nhện non tuổi 2 có hình thái tương tự con trưởng thành và lúc này đ1 có 4 đôi chân, kích thước cơ thể dài 0,176 ± 0,006 mm, rộng 0,059 ± 0,003 mm, nhện non tuổi 3 lúc này kích thước và hình dạng cơ thể đ1 gần bằng con trưởng thành, kích thước cơ thể dài 0,176 ± 0,006 mm, rộng 0,059 ± 0,003 mm, nhện bắt mồi Amblyseius sp có khả năng sống, tỷ lệ sống sót và sức sinh sản mạnh nhất trên thức ăn là loài nhện đỏ son Tetranychus cinabarinus B

Quá trình phát triển của nhện bắt mồi trải qua 3 giai đoạn là: trứng - nhện non các tuổi - trưởng thành Thời gian phát dục và khả năng đẻ trứng của nhện bắt mồi phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ môi trường ở điều kiện nhiệt độ

25 0C vòng đời của chúng là 8,46 ± 0,07 ngày, ở điều kiện 30 0C là 7,28 ± 0,06 ngày, tuổi thọ của nhện bắt mồi ở điều kiện nhiệt độ 25 0C là 21,16 ± 0,89 ngày, ở nhiệt độ 30 0C là 16,83 ± 0,33 ngày, khả năng đẻ trứng ở điều kiện nhiệt độ 25 0C là 3,24 quả/ ngày, ở nhiệt độ 30 0C là 3,13 quả/ ngày

Bọ mắt vàng Chrysopa:

Trứng: hình elíp, kích thước trứng trung bình dài khoảng 0,80 mm và rộng khoảng 0,31 mm Trứng có một cuống dài và cuống trứng được gắn chặt vào nơi gần vị trí có con mồi, chiều dài của cuống trứng trung bình là 5,4 mm Lúc mới đẻ trứng có mầu trắng xanh, khi trứng sắp nở thì chuyển sang mầu nâu đen

ấu trùng: mới nở màu vàng trong hơi nâu, pha ấu trùng trải qua 4 tuổi Trên lưng ấu trùng có nhiều lông dài trắng như cước, các sợi lông này có tác dụng giữ xác của ký chủ trên lưng chúng Sau khi ấu trùng đẫy sức sẽ nhả tơ kết kén và hóa nhộng trong kén Kén của bọ mắt vàng tương đối dầy và chắc,

Trang 33

nhộng có dạng hình cầu, đường kính kén trung bình là 4,1 mm Khi lột xác trưởng thành sẽ cắt kén tạo thành kẽ hở đủ để chui ra ngoài, điều này làm cho kén giống như có nắp đậy

Trưởng thành: pha trưởng thành bọ mắt vàng có mầu xanh, trưởng thành cái có kính thước thân trung bình từ 10 - 12 mm, sải cánh dài trung bình từ 27

- 30 mm Trưởng thành đực dài thân trung bình từ 8 - 10 mm, sải cánh dài trung bình từ 25 - 27 mm Một trưởng thành cái có thể đẻ được từ 33 - 110 trứng/cá thể cái Tỷ lệ trứng nở rất cao, trung bình là 98,3 %

2.2.2.2 Vai trò của một số loài bắt mồi chủ yếu trong hạn chế số lượng nhện

nhỏ hại CĂQCM

Nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius sp là loài bắt mồi quan trọng và chuyên tính của nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Sức tiêu thụ thức ăn của Amblyseius sp rất lớn, cả đời của nhện cái có thể ăn 330 quả trứng của nhện

Theo Trần Thanh Tháp (2006) [26] bọ trĩ bắt mồi 6 chấm Scolothrips

sp là loài thiên địch quan trọng của nhện đỏ hại cam Panonychus citri Bọ trĩ tấn công tất cả các pha phát dục của nhện đỏ Panonychus citri Trong cả thời gian sống của trưởng thành có thể tiêu thụ hơn 423 trứng Panonychus citri, cả vòng đời một cá thể bọ trĩ có thể ăn trung bình 475 trứng nhện đỏ cam

Khi nghiên cứu về vai trò của một số loài thiên địch của nhóm nhện nhỏ hại CĂQCM tại Nghi Lộc - Nghệ An, tác giả Nguyễn Tuấn Lộc, 2007 [18] đ1 thấy rằng loài bọ trĩ 6 chấm Scolothrips sp trong điều kiện nhiệt độ 27,3 0C và

ẩm độ 78,7 % cả giai đoạn ấu trùng chúng có thể tiêu thụ được trung bình

Trang 34

22,5 quả trứng nhện đỏ Panonychus citri, cả giai đoạn trưởng thành là 421 quả

và cả đời của bọ trĩ 6 chấm có khả năng tiêu thụ xấp xỉ 470 quả trứng nhện đỏ cam Cũng theo kết quả nghiên cứu của tác giả này thì loài bọ rùa đen nhỏ Stethorus sp có sức tiêu thụ trứng nhện đỏ là khá lớn Một cá thể bọ rùa đen nhỏ trong đời có thể tiêu thụ trung bình 968 trứng nhện đỏ cam

Còn theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Vĩnh và ctv,

2005 [37] thì 1 cá thể bọ rùa đen nhỏ Stethorus sp cả đời có khả năng ăn trung bình 972,5 quả trứng nhện đỏ cam Từ những kết quả trên chúng ta có thể khẳng định được ý nghĩa và vai trò khống chế nhện đỏ cam của loài bọ rùa

đen nhỏ là rất lớn

Khả năng ăn mồi của ấu trùng bọ mắt vàng Chrysopa sp: ấu trùng bọ mắt vàng rất linh hoạt, chúng có thể tấn công rệp sáp giả có chiều dài cơ thể lớn hơn chúng 7 - 8 lần, đây là một ưu điểm rất lớn của loài thiên địch này

Đầu tiên chúng dùng cặp càng lớn gom sáp giả của con mồi lại rồi ngửa cổ đặt sáp đ1 được gom lại lên lưng để ngụy trang Sau đó chúng dùng cặp kìm ghim thủng con mồi và giữ chặt con mồi rồi bắt đầu hút dịch của cơ thể con mồi 2.2.3 Hiệu lực phòng trừ của một số loại thuốc đối với nhóm nhện nhỏ hại

Trang 35

dầu khoáng nhằm mục đích gây ảnh hưởng đến tập tính của côn trùng như: Sâu vẽ bùa, rầy chổng cánh và ngăn cản đến sự đẻ trứng của chúng thì phải phun vào lúc lộc mới nhú để lớp dầu bảo vệ có thể bao phủ được trên toàn bộ những phần mới sinh trưởng này Khi nhiệt độ cao và cây sinh trưởng nhanh, việc phun dầu khoáng có thể tiến hành định kỳ 5 - 7 ngày/lần Trong điều kiện như vậy dầu khoáng được sử dụng ở nồng độ thấp khoảng 40 ml/ 10 lít nước Còn nếu trong điều kiện nhiệt độ ôn hòa như mùa xuân và mùa thu khi cây ra lộc không nhanh, thời gian phun giữa các lần phun có thể là 10 - 14 ngày/lần,

ở điều kiện như trên thì có thể dùng dầu khoáng ở nồng độ 50 ml/10 lít nước Cách phun như vậy sẽ làm giảm đáng kể quần thể dịch hại mà không phải phun trong toàn bộ chu kỳ ra lộc của cây

Cách phun thuốc trừ dịch hại và dầu khoáng như sau: phun ướt hết mặt trên, mặt dưới của lá, quả, chồi lộc, cành ở phía trong và phía ngoài tán Để làm được như vậy, đặc biệt đối với cây to cần phải phun từ phía trong tán, vòi phun đặt từ phía trong tán cây và từ từ di chuyển nó theo vòng tròn Phun lại như vậy 2 - 3 lần xung quanh cây Nếu cây cao hơn 2,5 m người phun không thể phun tới ngọn, trong trường hợp đó, phải sử dụng bình bơm máy, hoặc buộc vòi phun vào sào tre, cọc sắt để có thể nâng vòi lên cao Chú ý không phun thuốc và dầu khoáng trong điều kiện nhiệt độ quá cao và khô hạn, gió mạnh, nhiệt độ quá thấp hay khi trời mưa

ở nước ta, theo những kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật trên cây cam ngọt ở Nông trường cam Cao Phong - Hòa Bình và trên quýt tiều ở Lai Vung - Đồng Tháp đều nhận thấy: khi phun dầu khoáng riêng lẻ ở các nồng độ 0,5 %, 0,75 % và 1 % hoặc hỗn hợp với các loại thuốc trừ sâu tổng hợp đều có tác dụng trừ nhện đỏ, nhện rám vàng và một số đối tượng hại khác như rệp sáp, rầy chổng cánh ( Lê Lương Tề, 2008) [25]

Tác giả Nguyễn Đức Tùng (2005) [28] đ1 làm một số thí nghiệm về

đánh giá hiệu lực của 3 loại thuốc hóa học Ortus 5 SC, Pegasus 500 SC, Comite 73 EC và một số thuốc trừ nhện có nguồn gốc thảo mộc như Kuraba

Trang 36

WP, kết quả đ1 xác định được thuốc Comite 73 EC là thuốc có hiệu lực trừ nhện cao nhất đạt 96,4 % (5 ngày sau phun), tiếp đó là thuốc Kuraba WP hiệu lực 5 ngày sau phun cũng đạt 92,13 % (tuy nhiên 1 ngày sau phun gần như chưa thấy được hiệu quả vì hiệu lực lúc này chỉ đạt 7,57 %) Theo Nguyễn Thị Thủy (2003) [27] thuốc Pegasus 500 SC và Nissorun 5 SC có hiệu lực phòng trừ nhóm nhện nhỏ hại cam là tốt nhất và thời điểm phun tốt nhất đối với loài nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora A là khi bắt đầu hình thành quả đến lúc quả non có đường kính nhỏ hơn 1 cm

Kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Xuân Dũng, 2002 [3] cũng khẳng

định rằng thuốc Pegasus 500 SC và Nissorun 5 SC có hiệu lực phòng trừ nhóm nhện nhỏ hại cam là tốt nhất Dầu khoáng DC - Tron Plus cho hiệu lực phòng trừ thấp nhưng khi được kết hợp với các loại thuốc trừ nhện trên thì lại cho kết qủa phòng trừ rất cao và thời gian hữu hiệu trừ nhện kéo dài được hơn 20 ngày Thời điểm phun thuốc trừ nhện rám vàng tốt nhất là giai đoạn bắt đầu hình thành quả đến khi quả non có đường kính 1 cm

Còn theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thủy, 2003 [27], các loại thuốc Pegasus 500 SC, Nissorun 5 EC có hiệu lực trừ nhện đỏ Panonychus citri rất cao (Pegasus 500 SC hiệu lực phòng trừ là 94,31% và Nissorun 5 EC hiệu lực phòng trừ là 91,67 % sau 7 ngày phun) Ngoài ra tác giả cũng xác định được khả năng phòng trừ nhện đỏ của hỗn hợp thuốc Pegasus 500 SC, Nissorun 5 EC, Comite 75 SC và dầu khoáng DC - Tron Plus cho hiệu lực phòng trừ rất cao và thời gian hữu hiệu của hỗn hợp kéo dài trên

14 ngày Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà, 2005[11] trên cây quýt tại Lạng Sơn cho thấy, Sau khi phun thuốc 7 ngày thì hiệu lực phòng trừ của các loại thuốc đều cao nhưng 2 loại thuốc Pegasus 500 SC, Nissorun 5 EC cho hiệu quả phòng trừ cao nhất là trên 90 %

Như vậy chúng ta có thể nhận thấy rằng hiện nay trên thị trường thuốc bảo vệ thực vật nhóm thuốc trừ nhện đạt hiệu quả cao được xác định là Pegasus 500 SC, Nissorun 5 EC, Comite 75 SC, và Dầu khoáng (dùng hỗn hợp với các loại thuốc hóa học trên)

Trang 37

3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng: Nhện hại cam và thiên địch của chúng

- Vật liệu nghiên cứu: Các giống cam đang trồng phổ biến tại địa phương (cam sành)

3.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Tại x1 Tân Thành huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang

- Thời gian nghiên cứu: Ngày 01 tháng 12 năm 2008 đến ngày 30 tháng

8 năm 2009

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Xác định thành phần nhện hại trên cây cam sành tại Hàm Yên - Tuyên Quang trong vụ đông xuân 2008 - 2009

- Xác định diễn biến mật độ của 2 loài nhện hại chính và thiên địch của chúng trong vụ đông xuân 2008 - 2009 trên cây cam sành tại huyện hàm Yên

- Tuyên Quang

- Xác định khả năng khống chế nhện hại của một vài loài thiên địch chính

- Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp phòng chống

+ Đánh giá hiệu quả phòng trừ nhện hại bằng biện pháp kỹ thuật canh tác + Đánh giá hiệu lực phòng trừ nhện hại cam của một số loại thuốc hóa học + Đề xuất biện pháp phòng chống theo hướng tổng hợp

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra tình hình sản xuất cam và thực trạng sử dụng

thuốc bảo vệ thực vật trên cây cam của người dân

Điều tra tình hình sản xuất cây cam và thực trạng sử dụng thuốc BVTV của người dân bằng phiếu điều tra Chọn 3 x1 có diện tích trồng cam lớn của huyện, mỗi x1 tiến hành phát phiếu điều tra đối với 30 hộ nông dân sản xuất

Trang 38

cam, sau đó tổng hợp và phân tích số liệu điều tra

3.3.2 Phương pháp điều tra xác định thành phần nhện hại

Chọn 3 vườn đại diện cho giống cam đang được trồng phổ biến tại Hàm Yên - Tuyên Quang, trong đó 1 vườn đang ở thời kỳ kiến thiết cơ bản, 1 vườn bắt đầu thời kỳ kinh doanh và 1 vườn kinh doanh ổn định Tiến hành điều tra

tự do trên các vườn đ1 chọn, mỗi vườn điều tra 20 cây ở các vị trí khác nhau Khi điều tra cố gắng thu bắt tối đa các loài nhện bắt gặp

Mẫu các loài nhện thu thập được đem làm tiêu bản (mẫu lame) để xác

định tên khoa học Mẫu vật được bảo quản theo phương pháp chung trong nghiên cứu côn trùng

Phân loại tần xuất xuất hiện của các đối tượng nhện hại và thiên địch theo các mức sau:

- Xuất hiện rất ít, số lần bắt gặp < 5%

+ Xuất hiện ít, số lần bắt gặp 5 - 15%

++ Xuất hiện trung bình, số lần bắt gặp 16 - 30%

+++ Xuất hiện nhiều, số lần bắt gặp > 30%

3.3.3 Phương pháp xác định diễn biến mật độ của 2 loài nhện hại chính

trên cây cam và các loài thiên địch của chúng

Điều tra diễn biến số lượng của những loài nhện hại chính và thiên địch của chúng được tiến hành định kỳ 7 ngày/lần trên 3 vườn cam cố định trên giống cam phổ biến nhất theo giai đoạn sinh trưởng của cây ( 1 vườn đang ở thời kỳ kiến thiết cơ bản, 1 vườn bắt đầu thời kỳ kinh doanh và 1 vườn kinh doanh ổn định)

Trong mỗi vườn đ1 chọn tiến hành điều tra tại 5 điểm, mỗi điểm điều tra 3 cây mỗi cây điều tra ở 4 hướng khác nhau, mỗi hướng điều tra 2 lá hoặc

2 búp lộc (5cm)

Thu bắt mẫu vật bằng tay, vợt, ngắt bộ phận nghi là có nhện và thiên

địch vào hộp mang về phân loại Thả mẫu vào lọ đựng có chứa dung dịch cồn

700 ghi chép địa ủiểm và thời gian lấy mẫu, nơi điều tra

Trang 39

- Đánh giá mức độ nhiễm và chỉ số hại của nhện nhỏ theo thang phân cấp được quy định tại quyết định 82/2003/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn

Cấp 0 : Không có nhện hại

Cấp 1 : Hại nhẹ ( nhện xuất hiện rải rác )

Cấp 2 : Hại trung bình ( nhện phân bố dưới 1/3 số lá, quả)

Cấp 3 : Hại nặng mật ( nhện phân bố trên 1/3 số lá, quả)

Việc xác định tên khoa học của các loài nhện nhỏ hại và thiên địch của chúng được tiến hành tại bộ môn Côn trùng Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội và sự định loại của GS.TS Nguyễn Văn Đĩnh

3.3.4 Xác định khả năng khống chế nhện hại của một vài loài thiên địch

chính

Nuôi cá thể loài bắt mồi chính trong phòng, hàng ngày cung cấp lượng thức ăn nhất định là trứng và các tuổi phát dục của nhện nhỏ hại cam Tiến hành thử khả năng ăn mồi của tất cả các tuổi phát dục của thiên địch

Chọn những lá cam bánh tẻ không có trứng và nhện hại các tuổi, cắt lá thành những đĩa hình tròn với đường kính 3cm và đặt trong lồng nuôi bên dưới lót bông đ1 thấm đẫm nước Lồng nuôi được thiết kế như sau: Đặt đĩa lá đ1 có thiên địch và thức ăn vào trong đĩa petri loại to có đường kính 10 cm sau đó chụp lên đĩa petri bằng cốc nhựa mỏng trong xuốt bên trên đ1 được đục các lỗ nhỏ để thoát khí

- Chuyển 30 trứng nhện hại vào lá đ1 chuẩn bị sau đó thả 1 cá thể thiên

địch vào đĩa lá đ1 có trứng nhện hại, sau 24 giờ tiến hành đếm số trứng còn lại trên đĩa lá để xác định khả năng ăn trứng của thiên địch

- Chuyển 10 cá thể nhện hại vào lá đ1 chuẩn bị sau đó thả 1 cá thể thiên

địch vào đĩa lá, sau 24 giờ tiến hành đếm số nhện hại còn lại trên đĩa lá để xác

định khả năng ăn mồi của thiên địch

Thí nghiệm được tiến hành ở điều kiện tự nhiên tại Tuyên Quang

Trang 40

- Cung cấp đủ nước tưới cho vườn cam bằng biện pháp tưới phun để luôn có

đủ độ ẩm cần thiết, tạo điều kiện bất lợi cho nhện hại sinh trưởng phát triển ở thí nghiệm này có 2 công thức tưới là:

+ Công thức 1: tưới phun lên toàn bộ tán lá bằng vòi bơm có áp lực lớn trong vòng 10 phút

+ Công thức 2: tưới phun lên toàn bộ tán lá bằng vòi bơm có áp lực lớn đến khi ướt đẫm cả cây

- Điều tra diễn biến số lượng của những loài nhện hại chính và thiên

địch của chúng được tiến hành định kỳ 7 ngày/lần, điều tra 5 điểm tịnh tiến sau mỗi lần điều tra, mỗi điểm 3 cây Mỗi cây điều tra ở 4 hướng khác nhau Mỗi hướng điều tra 2 lá hoặc 2 búp lộc (5cm) Để xác định hiệu quả của biện pháp kỹ thuật trong phòng chống nhện hại

3.3.5.2 Đánh giá hiệu lực phòng trừ nhện hại cam của một số loại thuốc hóa

học

Thí nghiệm gồm 7 công thức, mỗi công thức tiến hành trên diện tích là

1000 m2

CT1: Phun thuốc Vimite 10 ND nồng độ 0,1 %

CT 2 : Phun thuốc Ortus 5 SC, nồng độ 0,1 %

Ngày đăng: 06/12/2013, 19:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Diện tích cây cam trên địa bàn tỉnh Tuyên quang - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Hình 4.1. Diện tích cây cam trên địa bàn tỉnh Tuyên quang (Trang 46)
Hình 4.2. Các loại thuốc đang đ−ợc sử dụng trên cây cam tại Hàm Yên - - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Hình 4.2. Các loại thuốc đang đ−ợc sử dụng trên cây cam tại Hàm Yên - (Trang 47)
Bảng 4.2. Các loại thuốc BVTV đang đ−ợc sử dụng trên cây cam tại - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Bảng 4.2. Các loại thuốc BVTV đang đ−ợc sử dụng trên cây cam tại (Trang 48)
Hình 4.3: Tình hình sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật trên cây cam sành tại - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Hình 4.3 Tình hình sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật trên cây cam sành tại (Trang 52)
Hình 4.6. Tr−ởng thành Nhện trắng Polyphagotarsonemus latus - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Hình 4.6. Tr−ởng thành Nhện trắng Polyphagotarsonemus latus (Trang 56)
Hình 4.4: Trưởng thành  Nhện đỏ cam Panonychus citri  McGregor - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Hình 4.4 Trưởng thành Nhện đỏ cam Panonychus citri McGregor (Trang 56)
Hình 4.5. Trưởng thành Nhện đỏ son Tetranychus cinabarinus Koch. - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Hình 4.5. Trưởng thành Nhện đỏ son Tetranychus cinabarinus Koch (Trang 56)
Hình 4.7. Tr−ởng thành Nhện rám vàng Phyllocoptruta olivora - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Hình 4.7. Tr−ởng thành Nhện rám vàng Phyllocoptruta olivora (Trang 57)
Bảng 4.6. Diễn biến mật độ của nhện đỏ Panonychus citri trên cây cam - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Bảng 4.6. Diễn biến mật độ của nhện đỏ Panonychus citri trên cây cam (Trang 58)
Bảng 4.7. Diễn biến mật độ nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora trên  cam sộnh qua cịc lẵn ệiÒu tra vô đềng - xuẹn 2009 (con/lị) - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Bảng 4.7. Diễn biến mật độ nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora trên cam sộnh qua cịc lẵn ệiÒu tra vô đềng - xuẹn 2009 (con/lị) (Trang 60)
Bảng 4.12. Thời gian phát dục của bọ mắt vàng Chrysopa sp. - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Bảng 4.12. Thời gian phát dục của bọ mắt vàng Chrysopa sp (Trang 67)
Bảng 4.13. Vòng đời và tuổi thọ của bọ mắt vàng Chrysopa sp. - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Bảng 4.13. Vòng đời và tuổi thọ của bọ mắt vàng Chrysopa sp (Trang 68)
Hình 4.9c:  Pha nhộng Hình 4.9d:  Pha tr−ởng thành - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Hình 4.9c Pha nhộng Hình 4.9d: Pha tr−ởng thành (Trang 69)
Bảng 4.17. Hiệu lực phòng trừ của các loại thuốc đối với nhện đỏ - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Bảng 4.17. Hiệu lực phòng trừ của các loại thuốc đối với nhện đỏ (Trang 75)
Hình 4.10a: V−ờn đ−ợc cắt tỉa cành  Hình 4.10b: Hệ thống ống t−ới n−ớc - Nghiên cứu thành phần , mức độ gây hại của giống nhện  nhỏ hai cam và khăn chống chúng tại huyện hàm YEN, tỉnh tuyên quang
Hình 4.10a V−ờn đ−ợc cắt tỉa cành Hình 4.10b: Hệ thống ống t−ới n−ớc (Trang 81)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w