Luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH MAI
NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM HÌNH THÁI, SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA 3 DÒNG CHÈ NHẬP NỘI TRỒNG TẠI THANH BA - PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Trồng trọt
Người hướng dẫn : TS NGUYỄN ðÌNH VINH
HÀ NỘI - 2009
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đ, đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Mai
Trang 3Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đ, nhận
được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn
Đình Vinh, người đ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ công nhân viên chức trong Bộ môn Cây công nghiệp, Khoa Nông học, Viện sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban l,nh đạo, cán bộ bộ môn Chọn tạo
và nhân giống chè Viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc đ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đ, giúp đỡ động viên và khuyến khích tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Mai
Trang 4Mục lục
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục các hình viii
1.3 ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4
2.3 Nguồn gốc và phân loại cây chè 6
2.3.3 Sự phân bố của cây chè 9 2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 9 2.4.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 9 2.4.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 13 2.5 Một số phương pháp nhân giống chè 20
Trang 53 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 27 3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 27 3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.1.3 Thời gian nghiờn cứu 27
3.3 Phương pháp nghiên cứu 28
3.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu 28 3.3.3 Phương pháp sử lý số liệu 31
4.1 Đặc điểm địa lý của Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc 32 4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái thân cành của 3 dòng chè nhập nội 33 4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái lá của 3 dòng chè nhập nội 34 4.2.3 Nghiên cứu đặc điểm của hoa của 3 dòng chè nhập nội 41 4.3 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của 3 dòng chè nhập nội 42 4.3.1 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng thân của 3 dòng chè nhập nội 42 4.3.2 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng cành của 3 dòng chè nhập nội 43 4.3.3 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng búp của 3 dòng chè nhập nội 44 4.4 Năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của 3 dòng chè nhập nội 56 4.5 Nghiên cứu chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm của 3
4.6 Tình hình sâu bệnh hại trên 3 dòng chè nhập nội 68 4.7 Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng giâm cành của 3
dòng chè nhập nội tại Phú Hộ 69 4.7.1 Tình hình sinh trưởng của cây con trong vườn giâm 70 4.7.2 Chất lượng cây con và tỷ lệ xuất vườn 75
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
CS : Cộng sự CTV : Cộng tác viên FAO : Food Agriculture Oganization KHKT : Khoa học kỹ thuật
KTCB : Kiến thiết cơ bản NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn NXB : Nhà xuất bản
PP : Page paper PTS : Phó tiến sĩ TCN : Trước công nguyên TCNN : Tiêu chuẩn nông nghiệp ThS : Thạc sĩ
Tr : Trang V% : Độ biến động
Trang 7Danh mục bảng Bảng 2.1 Một số giống chè nhập nội đang được khảo nghiệm trong sản xuất 15
Bảng 4.1 Đặc điểm thân cành của 3 dòng chè nhập nội 34
Bảng 4.2 Đặc điểm hình thái lá của 3 dòng chè nhập nội 38
Bảng 4.3 Một số tính trạng đặc trưng của lá chè 39
Bảng 4.4 Một số đặc điểm về hoa của 3 dòng chè nhập nội 40
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu sinh trưởng thân của 3 dòng chè nhập nội 42
Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cành của 3 dòng chè nhập nội 43
Bảng 4.7 Đặc điểm hình thái và thời gian sinh trưởng búp của 3 dòng chè
Bảng 4.8 Đặc điểm búp 1tôm + 3lá và 1tôm + 2lá của 3 dòng chè nhập nội 47
Bảng 4.9 Tỷ lệ mù xòe của 3 dòng chè nhập nội(%) 48
Bảng 4.10 Động thái tăng trưởng chiều dài búp của 3 dòng chè nhập nội
Bảng 4.11 Tốc độ sinh trưởng chiều dài búp của 3 dòng chè nhập nội trong vụ
Bảng 4.15 Năng suất thực thu năm 2008 của 3 dòng chè nhập nội 56
Bảng 4.16 Năng suất thực thu theo từng tháng của năm 2008 57
Bảng 4.17 Năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của 3 dòng chè nhập nội 58
Bảng 4.18 Thành phần cơ giới búp của 3 dòng chè nhập nội 60
Bảng 4.19 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu sinh hóa của 3 dòng chè nhập
nội 62
Bảng 4.20 Kết quả đánh giá chất lượng chè xanh bằng phương pháp cảm quan 64
Trang 8Bảng 4.21 Kết quả đánh giá chất lượng chè đen bằng phương pháp cảm quan 66
Bảng 4.22 Một số loài sâu bệnh gây hại chính trên ba dòng chè nhập nội 68
Bảng 4.23 Tình hình sinh trưởng của cành giâm trong vườn ươm 70
Bảng 4.24 Động thái tăng trưởng của cây con trong vườn giâm 71
Bảng 4.25 Tốc độ sinh trưởng của cây con trong vườn giâm 73
Bảng 4.26 Tình hình sinh trưởng cây con 8 tháng tuổi 76
Bảng 4.27 Tỷ lệ xuất vườn của 3 dòng chè nhập nội sau sau 8 tháng 78
Trang 9DANH MụC CáC HìNH
Hình 4.1: Động thái tăng trưởng chiều dài búp của 3 dòng chè
nhập nội trong vụ Xuân năm 2009 51 Hình 4.2: Tốc độ sinh trưởng chiều dài búp của 3 dòng chè nhập nội
trong vụ Xuân năm 2009 51 Hình 4.3: Động thái tăng trưởng chiều dài búp của 3 dòng chè nhập nội
trong vụ Hè năm 2009 54 Hình 4.4: Tốc độ sinh trưởng chiều dài búp của 3 dòng chè nhập nội
trong vụ Hè năm 2009 54 Hình 4.5: Động thái tăng trưởng chiều cao cây con của 3 dòng chè nhập nội 72 Hình 4.6: Động thái tăng trưởng số lá trong giai đoạn vườn giâm của 3
dòng chè nhập nội 72 Hình 4.7: Tốc độ sinh trưởng chiều cao cây con của 3 dòng chè nhập nội 74 Hình 4.8: Tốc độ ra lá trong giai đoạn vườn giâm của 3 dòng chè nhập nội 74
Trang 101 mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Cây chè (Camellia sinensis (L).O.Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày,
được trồng ở nước ta từ lâu đời, chủ yếu ở các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc và Lâm Đồng
Chè là loại cây trồng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế, x, hội của người dân Việt Nam Từ xưa chè đ, là một thứ đồ uống thông dụng có tác dụng bảo vệ sức khỏe con người Ngày nay, trong các gia đình Việt Nam từ nông thôn đến thành thị, chè vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong giao tiếp,
lễ nghi, cưới xin, hội hè Ngoài ra, chè còn là cây trồng cho sản phẩm xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế cao Bởi vậy, cây chè đ, được xây dựng thành một trong mười chương trình trọng điểm phát triển nông nghiệp trong "Kế hoạch phát triển kinh tế- x, hội của nhà nước Việt Nam đến năm 2010"
Hiện nay, cây chè được coi là cây xóa đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái Quy hoạch các vùng chè tập trung, bao gồm sản xuất nông nghiệp - dịch vụ, đ, hình thành các cụm dân cư, nhằm góp phần cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, nhất là tại các vùng sâu vùng xa của đồng bào các dân tộc ít người ở Trung du, miền núi Phía Bắc và Tây Nguyên
Trong những năm gần đây, cây chè Việt Nam đ, phát triển theo hướng tăng dần cả về diện tích và sản lượng Tuy nhiên, ngành chè nước ta phát triển còn chưa xứng đáng so với tiềm năng vốn có Năng suất, chất lượng và giá trị xuất khẩu còn thấp so với các nước trồng chè khác Một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên thực trạng trên là chúng ta chưa có đủ giống tốt, đặc biệt
là giống có chất lượng cao để cung cấp cho sản xuất và phương thức trồng chè hiện nay vẫn chưa được cải thiện
Để nâng cao chất lượng chè ở Việt Nam, đa dạng hóa sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường chè thế giới Trong những năm gần đây ngành
Trang 11chè Việt Nam, đặc biệt là Viện nghiên cứu Chè đ, tiến hành đồng bộ các phương pháp chọn tạo và nhân giống, từ công tác nhập nội giống chất lượng cao, chọn lọc cá thể, lai tạo, gây đột biến và thu thập bảo quản nguồn gen
Tuy nhiên để nhanh chóng cải thiện năng suất chất lượng chè ở nước ta, thì việc nhập nội giống chất lượng cao và tiến hành khảo nghiệm nhằm chọn
ra giống tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái nước ta để từ đó đưa ra quy trình canh tác hợp lý là việc làm cần thiết Xuất phát từ yêu cầu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài " Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng của 3 dòng chè nhập nội trồng tại Thanh Ba
- Đánh giá một số chỉ tiêu hình thái chủ yếu của 3 dòng chè nhập nội
- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của 3 dòng chè nhập nội
- Đánh giá khả năng nhân giống vô tính bằng giâm cành của 3 dòng chè nập nội
- Đánh giá chất lượng búp và sản phẩm của 3 dòng chè nhập nội
- Đánh giá sơ bộ khả năng chống chịu sâu bệnh hại chính của 3 dòng chè nhập nội
Trang 121.3 ý nghÜa khoa häc vµ ý nghÜa thùc tiÔn
Trang 132 tổng quan tài liệu
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.1 Cơ sở sinh học
Chè là loại cây giao phấn, nếu trồng bằng hạt thì tỷ lệ đồng đều của cây con rất thấp, có tới 95% cây con không giống cây mẹ về các đặc điểm hình thá, các tính trạng về năng suất và chất lượng Đây là đặc điểm có ý nghĩa lớn
về tính đa dạng sinh học, là nguồn vật liệu khởi đầu trong công tác chọn tạo giống, đồng thời là điều chúng ta cần lưu ý trong sản xuất đặc biệt là trong việc nhân giống
Ba dòng chè TB1, TB2, TB3 đều được nhập nội từ ấn Độ Trong đó dòng TB1 mang nhiều đặc điểm của thứ chè Assamica, thân gỗ, lá bầu dục, chóp lá nhọn, mép lá lượn sóng, búp ít tuyết, cành phân bố đều, góc phân cành rộng biểu hiện của giống có khả năng cho năng suất cao Các dòng TB2, TB3 mang nhiều đặc điểm của thứ chè Shan, thân gỗ, vị trí phân cành hơi cao so với mặt đất, cành thưa hơn, búp có ít tuyết Cả ba giống đều được nhập vào nước ta từ năm 1988
2.1.2 Cơ sở sinh thái
ấn Độ nói chung và vùng đông bắc ấn Độ nói riêng là một vùng chè lớn, lâu đời, nổi tiếng thế giới Đây cũng là trung tâm khởi thuỷ của thứ chè Assamica Vùng Đông Bắc ấn độ bao gồm các bang Asam, Manipur, Sikkim
và Mizoramb có điều kiện khí hậu tương đương với miền bắc Việt Nam, với
đặc điểm nóng ẩm mưa nhiều Đây chính là cơ sở thực tiễn cho việc lựa chọn
và nhập nội một số giống chè của ấn Độ vào nước ta, đồng thời đây cũng là lý
do mà những giống chè nhập nội này đ, sớm thích nghi với khí hậu nước ta và
có những ưu thế về sinh trưởng và năng suất
Trang 14đoạn cây con, giai đoạn cây non, giai đoạn chè lớn, giai đoạn chè già cỗi
+ Chu kỳ phát triển nhỏ (hàng năm) là chu kỳ gồm 2 giai đoạn: sinh trưởng và tạm ngừng sinh trưởng
Những đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè là kết quả phản ánh tổng hợp giữa các đặc điểm của giống với những điều kiện ngoại cảnh Nghiên cứu chúng trong một môi trường nhất định và khảo nghiệm chúng ở một số vùng nhằm đánh giá tốt hơn khả năng sinh trưởng phát triển của chúng góp phần khai thác và sử dụng chúng tốt hơn trong sản xuất [30], [61]
2.1.4 Cơ sở thực tiễn
Việt Nam là một nước trồng chè lâu đời, các vùng trồng chè của chúng
ta rất đa dạng, nhưng chất lượng chè của chúng ta so với thế giới còn kém, các sản phẩm chè chưa phong phú Do đó để nhanh chóng nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới thì Việt Nam phải có các giống có chất lượng cao, phù hợp với các vùng sinh thái Một trong những biện pháp để giải quyết vấn đề trên đó là nhập nội các giống có chất lượng cao, tiến hành khảo nghiệm chọn ra giống tốt phù hợp với điều kiện sinh thái nước ta
2.2 Giá trị của cây chè
Từ xưa chè đ, là thứ nước uống phổ biến của nhân dân ta và các nước trên thế giới Nước chè ngoài tác dụng giải khát, còn có nhiều tác dụng khác
có lợi cho sức khỏe của con người như : an thần, chữa bệnh, bảo vệ và tăng
Trang 15cường sức khỏe Trong chè có nhiều vitamin C, B2, PP, K, E, F và các axit amin rất cần thiết cho cơ thể
Chè là cây trồng rất lâu đời ở Việt Nam, trồng chè đúng quy trình kỹ thuật sẽ tạo ra một thảm thực vật có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, xây dựng và bảo vệ môi trường sinh thái Ngoài ra chè là cây trồng dễ đưa vào các mô hình canh tác đất dốc bền vững như mô hình vườn - đồi, vườn - rừng, nông lâm kết hợp…đem lại hiệu quả kinh tế cao
Đối với nước ta chè là cây trồng cho sản phẩm xuất khẩu đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể Các sản phẩm chè của chúng ta ngày càng có chỗ đứng trên thị trường thế giới cũng như trong nước Cây chè đ, tạo công ăn việc làm, ổn
định đời sống cho hàng vạn lao động, hình thành nên các vùng sản xuất chè tập trung, góp phần cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, nhất là tại các vùng sâu vùng xa ở Trung Du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên
Chè còn là thứ nước uống tạo ra cho con người nguồn cảm hứng văn thơ, nghệ thuật…trên thế giới đ, hình thành nền văn hoá trà lâu đời, đẹp đẽ, sinh động, phong phú với nhiều nét độc đáo của từng dân tộc[3],[21],[45],[52] 2.3 Nguồn gốc và phân loại cây chè
2.3.1 Nguồn gốc
Theo công bố của hai nhà thực vật học Condolk và Vavilov trên thế giới
có 7 trung tâm chính phát sinh và phát triển cây trồng, trong đó có 3 trung tâm ở châu á, châu Mỹ có 2 trung tâm và châu Phi có 1 trung tâm Riêng về cây trồng làm chất kích thích như cà phê có nguồn gốc từ Châu Phi, cây ca cao có nguồn gốc từ châu Mỹ, còn cây chè có nguồn gốc từ Châu á [24], [37], [77]
Đến nay việc xác định nguồn gốc của cây chè vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những cơ sở lịch sử hay khảo cổ học, thực vật học Nhưng nhìn chung những quan điểm được nhiều người công nhận đó là:
- Quan điểm cho rằng cây chè có nguồn gốc từ Vân Nam Trung Quốc Tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu hàng loạt con sông lớn chảy qua Việt Nam, Lào, Campuchia và Miến Điện, do đó đầu tiên cây chè được mọc từ Vân
Trang 16Nam sau đó hạt được di chuyển theo các con sông đến các nước khác và từ đó lan ra cả vùng rộng lớn
- Một quan điểm nữa là dựa trên cơ sở khoa học “Trung tâm khởi nguyên cây trồng” thì cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc, nó được phân bố
ở các khu vực phía Đông và phía Nam Phía Đông – Nam theo cao nguyên Tây Tạng
- Quan điểm cho rằng cây chè có nguồn gốc từ Assam ấn Độ
Năm 1823 Robert Bruce đ, phát hiện được những cây chè hoang dại, lá
to hoàn toàn khác với cây chè Trung quốc và ở tất cả những nơi theo các tuyến
đường giữa Trung Quốc và ấn độ Từ đó ông cho rằng ấn Độ là nơi nguyên sản của cây chè ( Nguyễn Ngọc Kính năm 1979) [23]
- Quan điểm cho rằng cây chè có nguồn gốc Việt Nam
Djemukhatze 1982 [8] đ, đưa ra quan điểm nguồn gốc cây chè ở Việt Nam Từ năm 1961 đến năm 1976 ông đ, tiến hành điều tra cây chè dại tại Hà Giang, Nghĩa Lộ, Lao cai, Tam Đảo và tiến hành phân tích thành phần sinh hoá để so sánh với loại chè thường được trồng trọt, từ đó tìm ra sự tiến hoá của cây chè làm cơ sở xác định nguồn gốc Ông thấy rằng những cây chè hoang dại tổng hợp chủ yếu tổng hợp catechin đơn giản, cây chè tiến hoá tổng hợp catechin phức tạp Cây chè ở Việt Nam chủ yếu tổng hợp (-) epicathechin và (-) epigalocathechin galat ( chiếm 70% tổng số các loại cathechin), trong khi
đó chè ở Tứ Xuyên và Quý Châu Trung Quốc chỉ chiếm 18 – 20% Từ đó ông cho rằng nguồn gốc cây chè chính là Việt Nam Thực tế hiện nay, phần đông các nhà khoa học cho rằng nguyên sản của cây chè là cả một vùng từ Assam
ấn Độ sang Miến Điện, Vân Nam – Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan Từ đó chia ra làm hai nhánh, một đi xuống phía Nam, và một đi lên phía Bắc, trung tâm là vùng Vân Nam – Trung Quốc Điều kiện khí hậu ở đây rất lý tưởng cho cây chè sinh trưởng quanh năm [9],[23],[25],[26],[34],[71]
Trang 17Chi: Chè (Camellia) (Thea)
Loài: Camellia hoặc Thea sinensis
Có tới 20 cách đặt tên cây chè nhưng cách phân loại của Cohen Stuart (1919) được nhiều người chấp nhận,( Nguyễn Ngọc Kính 1979) [23]
Tác giả chia Camellia Sinensis ra làm 4 thứ (Varieta)
- Chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis var Macrophylla)
- Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis var Bohea)
- Chè Shan (Camellia Sinensis Var Shan)
- Chè ấn Độ (Camellia Sinensis Var Assamica)
*Chè Trung Quốc lá to: cây thân bụi hoặc gỗ nhỏ cao 5 - 7 m Phân cành trung bình, lá hơi tròn, có diện tích khoảng 30 cm2, có 8 - 9 đôi gân lá, lá mầu xanh nhạt, búp có khối lượng 0.5 - 0.6g
*Chè Trung Quốc lá nhỏ: Cây bụi phân cành nhiều, lá nhỏ (10 - 15cm), phiến lá dày, giòn, mầu xanh thẫm, 6 - 7 đôi gân (không rõ) Búp nhỏ, hoa nhiều, chịu rét tốt
*Chè Shan: Cây thân gỗ cao 6 - 10m Diện tích lá lớn hơn 50cm2, lá hình thuyền, răng cưa sâu, có khoảng 10 đôi gân lá Búp to nhiều tuyết, khối lượng búp khoảng 1.0 - 1.2g
*Chè ấn Độ: Thân gỗ cao trên 10m Phân cành thưa, lá hơi tròn, mặt lá gợn sóng gồ ghề, diện tích lá khoảng 40cm2, có 12 - 15 đôi gân lá Búp lớn có khối lượng 0.9 - 1.0g, búp giòn, chống chịu rét kém và thích đất tốt
Trang 182.3.3 Sự phân bố của cây chè
Điều kiện tự nhiên là yếu tố quan trọng quyết định sự phân bố của cây chè Các công trình nghiên cứu trước đây đ, kết luận: vùng khí hậu nhiệt đới vá á nhiệt đới đều thích hợp cho sự phát triển của cây chè
Hiện nay cây chè phân bố chủ yếu ở các nước châu á như Trung Quốc,
ấn Độ, Srilanca, Inđonexia và Việt Nam, đây là những nước có điều kiện khí hậu nóng ẩm Tuy nhiên, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, với hàng loạt các biện pháp kỹ thuật mới được áp dụng, vì vậy hiện nay cây chè hầu như đ,
được trồng khắp các châu lục trên thế giới từ 42 độ vĩ Bắc (Xochi – Liên Xô cũ) đến 27 vĩ độ Nam (Autralia), [21],[51]
2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.4.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
*Nghiên cứu về giống chè
Trung Quốc là nước có lịch sử trồng chè, chế biến và tiêu thụ chè lâu nhất thế giới Ngay từ thời nhà Minh đ, có những loại chè thương phẩm nổi tiếng về chất lượng như Bạch Kê Quan, Đại Hồng Bào, Ngự trà, Thiết Quan
Âm, Long Tỉnh Hiện nay giống chè của Trung Quốc rất đa dạng và phong phú có nhiều giống nổi tiếng như Chính Hoà, Đại Bạch Trà, Thiết Bảo Trà, Hoa Nhật Kim, Hùng đỉnh Bạch, PT95 Năm 1989 Trung Quốc đ, đăng ký 52 giống nhà nước [22]
Liên Xô (cũ) là một nước sản xuất và tiêu thụ chè lớn trên thế giới Giống chè chủ yếu là hạt chè nhập từ Kỳ Môn – Trung Quốc Ngoài ra họ còn nhập giống của ấn Độ và SriLanca Năm 1927 – 1928 đ, trồng được các giống chè chọn lọc lai tạo như giống Quốc gia số 1 và số 2 cho năng suất cao hơn đại trà 25 - 40 %, phẩm chất tốt Năm 1970 – 1971 họ bắt đầu trồng giống chè Kônkhitđa-1 dòng vô tính giâm cành, có phẩm chất tốt và có năng suát cao hơn đại trà 50 - 60%
Indonexia bắt đầu trồng chè từ năm 1684 nhưng không thành công, đến
Trang 19năm 1872 mới thành công với giống chè Asam nhập từ Srilanca Đến Nay Indonexia là một trong năm nước có diện tích chè lớn trên thế giới, 20 năm gần đây họ đ, tích cực chọn tạo giống mới cao sản và năm 1988 đ, có các dòng chè vô tính GMB-1, GMB- 2, GMB-3, GMB- 4, GMB-5, có sản lượng cao , theo Nguyễn Văn Toàn [60]
Nhật Bản là một quốc gia hải đảo, cả nước có 44 tỉnh, huyện trồng chè tập trung ở 14 tỉnh Từ năm 1990 năng suất chè bình quân của cả nước là 1725kg chè khô/ha Năng suất chè cao là do nhà nước coi trọng đầu tư vào nông nghiệp ở khâu giống tốt và các biện pháp quản lý, chăm sóc vườn cây Năm 1953, Nhà nước ban hành chế độ khen thưởng và đăng ký giống chè, nên
đ, thông qua 51 giống chè mới Năm 1968, giống mới chiếm 22,4% và ngày nay, giống mới đ, chiếm trên 65,2% diện tích chè, trong đó giống Yabukita chiếm 55,4%
Srilanca năm 1824 nhập hạt chè Trung Quốc gieo trồng tại vườn Bách thảo Hoàng Gia Peradeniya (Kandy), năm 1839, lại nhập hạt chè Assam từ ấn
Độ trồng tại vườn bách thảo trên Năm 1966, 12 vạn ha cà phê bị bệnh gỉ sắt phá huỷ hoàn toàn họ đ, chuyển sang trồng chè sau những thí nghiệm thành công của JamesTaylor Năm 1967 trồng được 24 vạn ha chè, sản lượng 22 vạn tấn, xuất khẩu 21 vạn tấn Năm 1958 trồng chè giâm cành bằng cây đầu dòng chọn lọc sêri 2020 (phổ biến là các giống: 2023, 2025, 2026, 2043…) có năng suất cao, chất lượng tốt Sau đó là sêri 3013 đến 3020, ngoài ra còn sử dụng chè hạt lai giữa 2023 x 2026, [34],[35],[60],[68],[75],[79]
Qua 100 năm, ngành chè thế giới đ, ttổng kết kết công tác chọn tạo giống mới, cây chè từ lúc được tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới đưa ra sản suất cần thời gian dài Theo thống kê năm 1990 của 11 nước và khu vực trồng chè trên thế giới có số lượng giống chè mới được tạo ra là 446 giống, trong đó có 387 giống vô tính chiếm 77%, giống lưỡng hệ, đa hệ vô tính 22 giống chiếm tỷ trọng 4.93%, giống hữu tính chọn lọc 37 giống chiếm tỷ trọng 8.3% Tỷ trọng phổ cập giống chè tốt mới trong sản xuất cao nhất ở Trung
Trang 20Quốc và Đài Loan trên 90%[22],[53]
*Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của cây chè
Nghiên cứu về sinh trưởng phát triển của cây chè, tác giả A.Alidatde (1964) cho thấy sự hình thành các đợt sinh trưởng là: khi trên búp chè có 5 lá thì ở nách các lá thứ nhất, thứ hai đ, có những mầm nách, khi lá thứ 6 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách thứ 3, khi lá thứ 7 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách lá thứ tư Ông cũng cho rằng: khi mầm chè qua đông có 2 lá
đầu tiên bao bọc mầm chè là lá vảy ốc, tiếp theo là lá cá Những mầm nách của những lá vảy ốc, lá cá là các mầm ngủ, các mầm nách của lá thứ 4 thứ 5 của đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh trưởng thứ 2
Nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè các tác giả K.E Bakhơtatde (1948) cho thấy: sự sinh trưởng của búp chè phụ thuộc vào điều kiện khí hậu,
ở những nước có mùa đông rõ rệt búp chè sẽ ngừng sinh trưởng vào mùa đông
và nó sẽ tiếp tục sinh trưởng ở thời kỳ ấm lên của mùa xuân Ngược lại ở những nước nhiệt đới (quần đảo Gia-va, Srilanka hay nam ấn độ) búp chè sinh trưởng liên tục, thời vụ thu hoạch búp kéo dài quanh năm Carr 1972 cũng đ, kết luận mùa hè thường có ngày ấm áp, giờ chiếu nắng dài, ẩm độ cao và mưa rào thường xuyên, thậm chí mưa rào cả vào đêm nên chè sinh trưởng rất tốt
Nghiên cứu thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng búp, các tác giả Carr (1992), Squire (1979), Tan ton (1982) [70], [76] đ, đưa ra giá trị trung bình là 47,5 ngày Việc tính toán cho 4 vùng khác nhau về kinh độ, độ cao so mặt biển, nhiệt độ không khí bình quân cho thấy số ngày cho 1 đợt sinh trưởng biến động từ 30 – 42 ngày vào mùa hè và 70 – 160 ngày vào mùa đông
Nghiên cứu sự sinh trưởng của búp chè trong điều kiện có đốn và không
đốn K.M Djemukhatze (1976) chỉ ra rằng: trong điều kiện để giống hoặc không đốn thì mầm chè được phân hoá ở vụ thu và vụ đông sẽ hình thành búp trong vụ xuân Trong khi đó nương chè có đốn thì sự phân hoá của mầm chè chủ yếu được hình thành trong vụ xuân và thời gian hình thành búp muộn hơn một số ngày so với nương chè không đốn hái
Trang 21*Nghiên cứu về yêu cầu sinh thái của cây chè
Theo Carr [71], thí nghiệm đ, đi đến kết luận: nhiệt độ không khí tối thiểu cho sinh trưởng chè là 130- 140C và tối thích là 180– 300 C, những ngày
có nhiệt độ tối đa vượt quá 300 C và tối thiểu thấp hơn 140 C thì làm giảm sinh trưởng của cây chè Nhiệt độ đất (tầng 0 – 30cm) thích hợp cho sinh trưởng của cây chè là 200– 250C Cũng theo ông thì số giờ chiếu sáng càng dài thì càng tốt, sự ngủ nghỉ sẽ xuất hiện khi độ dài ngày giảm xuống dưới 11 giờ 15 phút/ngày Hầu hết các vùng chè có lượng mưa 150mm/tháng thì sẽ sinh trưởng liên tục, tổng lượng mưa thích hợp là 1800mm và chè không thể sinh trưởng được ở vùng có lượng mưa dưới 1150mm mà không có tuới hợp lý
* Nghiên cứu về năng suất
Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và mối liên hệ giữa một số chỉ tiêu hình thái sinh trưởng đến năng suất, chất lượng các tác giả nước ngoài cho thấy: Chỉ tiêu kích thước bụi và tổng số búp có ý nghĩa đến sản lượng Giữa diện tích tán và tổng số búp đ, được xác định nhiều vùng ở Malawi (Nyirenda và Ripath 1984), Srilanka (Visser 1969), Đông phi (Magambo và Waithaka 1985), Assam (Barua và Dutta 1971)
Nghiên cứu về mật độ trồng chè, tác giả LayCock H.H (1961) phát hiện tương quan tuyến tính đơn giản giữa sản lượng chè búp và mật độ trong phạm
vi mật độ từ 0,4 vạn cây – 2 vạn cây/mẫu Trung Quốc với các giống chè Trung Quốc Nếu tiếp tục tăng nữa thì sản lượng chè lại giảm đi
* Nghiên cứu chất lượng chè nguyên liệu
Nghiên cứu về chất lượng chè trên thế giới: các tác giả Liên Xô (cũ) và của Trung Quốc nhận thâý chất lượng chè nguyên liệu phụ thuộc chủ yếu vào
2 yếu tố: đặc tính bên ngoài là thành phần cơ giới và hình thái của nguyên liệu; và đặc tính bên trong là nội chất được phản ánh bằng các chỉ tiêu thành phần hoá học chủ yếu của đọt chè như tanin, catechin, đường, axitamin và các chất khác Trong đó quan trọng nhất là tanin và và các catechin thành phần, sự biến đổi của chúng trong quá trình chế biến dẫn đến sự tạo thành màu nước,
Trang 22hương vị đặc trưng cho từng loại sản phẩm chè (Baxunốp – 1972) [67],[73]
*Nghiên cứu về các tính trạng chất lượng
Nghiên cứu mối quan hệ giữa các chỉ tiêu hình thái đến chất lượng chè các tác giả Wight và Barua (1954) cho thấy độ lồi lõm của lá và lông tuyết của lá có liên quan chất lượng chè, đặc biệt là lông tuyết có tương quan chặt chẽ
đến chất lượng chè (Wight và Gilchris 1959)
2.4.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
2.4.2.1 Các kết quả nghiên cứu về giống chè ở Việt Nam
*Hiện trạng tập đoàn giống chè ở Việt Nam
Thời kỳ năm 1918 - 1935, Người pháp tiến hành thu thập các giống chè của ấn Độ, Trung Quốc, Miến Điện, Lào và một số vùng trong nước như Hà Giang, Lào Cai, Ba Vì, Phú Thọ… Đến năm 1989 đưa vào hệ thống vườn tập
đoàn gồm 23 giống, trong đó giống địa phương 13 giống và giống nhập nội là
10 giống
Giai đoạn năm 1959 - 1990 là thời kỳ chủ yếu chỉnh lí và lai tạo giống, trao đổi giống với nước ngoài Tổng số thu thập gồm 37 giống, trong đó nguồn gốc địa phương 4 giống, nguồn nhập nội gồm 16 giống và nguồn chọn tạo
được 17 giống, các giống chè mới chọn lọc như PH1, 1A, TRI777, TH3, LDP1, LDP2
Giai đoạn năm 1994 - 1997, xúc tiến mạnh công tác thu thập, kết quả
đ, bổ sung được 34 giống Trong đó giống địa phương 4 giống, chọn lọc 5 giống, nhập nội 25 giống
So với trước năm 2000, tập đoàn giống chè được thu thập bảo quản để khai thác tăng 57 giống, tăng 37,7% so tổng số giống bảo quản
Cho đến nay chúng ta đ, có tập đoàn 151 giống chè có nguồn gốc cả trong
và ngoài nước tập hợp tại vườn tiêu bản của Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi Phía Bắc Trong đó, phân theo nguồn gốc có: 50 mẫu địa phương; 101 mẫu giống nhập nội Phân theo thứ chè có: thứ Trung quốc lá nhỏ 62 mẫu; thứ Trung
Trang 23quốc lá to 28 mẫu; Assam 35 mẫu; Chè shan 26 mẫu, theo Nguyễn Hữu La [28]
Đây là nguồn vật liệu phong phú phục vụ cho công tác lai tạo và chọn giống Từ nguồn vật liệu trên Viện nghiên cứu chè đ, tiến hành chọn tạo và
đưa ra sản suất 14 giống mới, trong đó có 3 giống Quốc gia PH1, TRI777, LDP1; và 11 giống khu vực hoá là: 1A, TH3, LDP2, Bát Tiên, Thuý Ngọc, Kim Huyên, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Hùng Đỉnh Bạch, PT95.[28],[33],[46],[52]
*Nhập nội giống chè
Nhập nội giống chè là một trong những công việc của quá trình thu thập
và bảo quản nguồn giống Nguồn nhập nội được chia ra làm 3 vùng:
+ Vùng Đông á: Trung Quốc, đảo Đài Loan, Lào, Nhật Bản
+ Vùng Trung á : Gruzia
+ Vùng Nam á: ấn Độ, Srilanka, Miến Điện
- Thời kỳ từ năm 1918 - 1935: thời kỳ này chủ yếu do người pháp tiến hành thu thập các giống chè của ấn Độ, Trung Quốc, Miến Điện, Lào Thời
kỳ này chúng ta đ, nhập nội 10 giống chè, trong đó có 6 giống của ấn Độ, 2 giống của Lào, 1 giống của Trung Quốc và 1 giống của Miến Điện
- Thời kỳ 1959 - 1990: nhập nội 16 giống, có 10 giống nhập từ Gruzia,
4 giống nhập từ Srilanka và 2 giống nhập từ Trung Quốc
- Thời kỳ từ 1994 - 1997: thời kỳ này chúng ta nhập nội 25 giống, trong
đó có 16 giống từ Trung Quốc, 7 giống từ đảo Đài Loan và 2 giống từ ấn Độ
Hiện nay tổng số giống chè nhập nội của chúng ta là 101 giống Từ tập
đoàn các giống chè nhập nội trên chúng ta đ, tiến hành chọn lọc được một số giống phù hợp với điều kiện nước ta và đang được khảo nghiệm trong sản xuất [19],[28],[33],[35],[46],[52]
Trang 24Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………15
B¶ng 2.1: Mét sè gièng chÌ nhËp néi ®ang ®−îc kh¶o nghiÖm trong s¶n xuÊt
thËp
N¨m c«ng nhËn gièng
DiÖn tÝch ¸p dông Ghi chó
Th¸i Nguyªn ChÕ biÕn chÌ xanh, ®en
2003 1000 ha, L©m §ång, L¹ng S¬n, Phó Thä, Hµ T©y , Yªn B¸i,
S¬n La
ChÕ biÕn chÌ olong
2003 800 ha, S¬n La ,Tuyªn Quang, L©m §ång, Yªn B¸i ChÕ biÕn chÌ xanh,
2003 Phó Thä, Hµ T©y, Yªn B¸i, S¬n 400 ha, L©m §ång, L¹ng S¬n,
La
ChÕ biÕn chÌ xanh
2003 10ha Phó Thä, Th¸i Nguyªn NghÖ An, Yªn B¸i ChÕ biÕn chÌ xanh
2003 10 ha Phó Thä, Th¸i Nguyªn NghÖ An, Yªn B¸i ChÕ biÕn chÌ xanh
2003 15ha Phó Thä, Th¸i Nguyªn NghÖ An, Yªn B¸i ChÕ biÕn chÌ xanh
2003 10ha Phó Thä, Th¸i Nguyªn NghÖ An, Yªn B¸i ChÕ biÕn chÌ xanh
Trang 25* Các kết quả chọn tạo giống mới
- Kết quả nghiên cứu khả năng thích ứng của tập đoàn giống chè Srilanka nhập nội
Năm 1977 đoàn khảo sát về chè và cao su của Bộ Nông nghiệp đ, nhập
từ Viện nghiên cứu chè Srilanka 5 dòng chè cành là: DT1; TRI 2023; TRI 2025; TRI 777 và TRI 2043 Qua thí nghiệm so sánh giống 10 năm tại Phú Hộ
đ, chọn ra giống TRI 777
Giống TRI 777 có nguồn gốc Shan ở Chồ Lồng - Mộc Châu - Sơn La,
được gửi hạt sang Srilanka năm 1973, qua quá trình chọn lọc và bình tuyển tại Viện nghiên cứu chè Srilanka cây chè chọn lọc mang số TRI 777 được công nhận giống quốc gia và trồng ở vùng cao của Srilanka (độ cao 800 - 1200m) Khi trở lại Việt Nam TRI 777 tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn cả TRI 777 được công nhận giống quốc gia năm 1997[35],[52]
- Tạo giống bằng phương pháp chọn lọc cá thể
Năm 1965 đ, tiến hành chọn lọc đợt 1, đến năm 1972 Viện nghiên cứu chè đ, chọn được giống PH1 có năng suất cao phổ biến ra sản xuất Giống PH1 được chọn lọc từ quần thể Manipur lá đậm thuộc thứ chè Assamica nhập nội từ ấn Độ vào Phú Hộ năm 1920 PH1 được công nhận giống năm 1987
Năm 1969 tiến hành chọn lọc đợt 2, chọn lọc được giống 1A Giống 1A
được chọn lọc từ chè Manipur lá đậm thuộc thứ chè Assamica, thân cây gỗ vừa, nhập nội từ ấn Độ vào Phú Hộ năm 1920, được Hội đồng khoa học Viện cây công nghiệp cho sản xuất thử năm1983
Để có giống chè chọn lọc nguồn gốc địa phương, năm 1970- 1976 đ, chọn lọc đợt 3 và chọn được cây chè TH3 có nguồn gốc từ giống chè Tô Hiệu, thuộc thứ chè Trung Quốc lá to thu thập tại Lạng Sơn năm 1963, năm 1978
được giâm cành và trồng giám định giống
Tại Trung tâm thực nghiệm chè Lâm Đồng, trong 17 cây chè Shan Trấn Ninh năm 1952 đ, chọn được ra hai giống TB11, TB14 có năng suất cao, chất
Trang 26lượng tốt
Năm 1997, Trung tâm NCTN chè Lâm Đồng đ, chọn và phổ biến ra sản xuất giống chè LĐ97 có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, ít kén
đất, chịu thâm canh[19],[33],[35],[52]
- Chọn giống bằng phương pháp lai hữu tính
Năm 1980, Viện nghiên cứu chè đ, tiến hành 7 tổ hợp lai mà bố mẹ đ,
được xác định Sau khi gieo hạt và tuyển chọn bước đầu đ, xác định được 35 cá thể có nhiều triển vọng Đến năm 1988 đ, chọn được 4 cá thể nổi bật đó là LDP1, LDP2, CDP và CLT Sau 10 năm giám định, so sánh giống đ, thu được kết quả tốt Hai dòng LDP1, LDP2 là 2 dòng lai sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, chất lượng tốt được Bộ NN & PTNT công nhận giống tạm thời năm 1994 cho phép mở rộng ra sản xuất và giống LDP1 được công nhận là giống quốc gia năm 2003 Hai dòng lai LDP1, LDP2 được chọn từ tổ hợp lai Trung Quốc
Các phương pháp sử dụng trong lai hữu tính
- Lai đơn giản: (A x B) (giống chè viết trước được qui định làm mẹ)
- Lai thuận nghịch: (A x B), (B x A)
- Lai dialen (Luân giao): đem các dòng định thử lai luân phiên trực tiếp với nhau: (A xB) (C xB) (D x B)
- Lai chu kỳ: (A xA) (A x B) (A x C)[33],[35],[46]
- Chọn giống bằng phương pháp gây đột biến
Năm 1989 - 1990 Viện nghiên cứu chè đ, tiến hành chọn giống chè bằng xử lý consixin hạt và mầm chè và xử lý tia garma với liều lượng khác nhau lên hạt chè, bước đầu đ, thu được một số kết quả Hạt chè 2 giống PH1
Trang 27và TRI 777 được sử lý bằng tia gama với liều lượng khác nhau đ, được gieo tháng 10/1989 Bằng phương pháp quan trắc, đo đếm đ, chọn được 7 cá thể trên hạt giống TRI 777 và 5 cá thể trên hạt giống PH1
Năm 1994, Lê Mệnh và cộng sự đ, thông báo kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của bức xạ gama lên hạt chè giống PH1 và TRI 777, tác giả thu được nhiều đột biến mới lạ, đặc biệt dòng 5.0 từ xử lý bức xạ trên hạt giống 777 có năng suất cao, chất lượng thơm ngon có nhiều triển vọng [33],[35]
2.4.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của cây chè
Nghiên cứu về đợt sinh trưởng của chè, tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) [23] cho thấy: trong năm chè để sinh trưởng tự nhiên có 3 - 5 đợt sinh trưởng, khi đốn hái thì có 6 - 7 đợt sinh trưởng, điều kiện thâm canh cao có thể
có từ 8 - 9 đợt sinh trưởng
Nghiên cứu thời gian sinh trưởng 1 đợt búp trên giống chè Trung du tại Phú Hộ, tác giả Nguyễn Phong Thái kết luận: thời gian sinh trưởng đợt búp dài hay ngắn phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ, vụ xuân búp chè có thời gian sinh trưởng dài nhất và ngắn nhất là vụ hè
Nghiên cứu sinh trưởng búp chè và sản lượng tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994) [59] cho rằng tổng số búp trên cây có tương quan thuận chặt với sản lượng
Nghiên cứu về hệ số diện tích lá tác giả Đỗ Văn Ngọc (1994) cho rằng:
hệ số diện tích lá có quan hệ thuận với mật độ búp từ tháng 5 - 12 Tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994)[61] cũng có kết luận tương tự và hệ số diện tích lá thích hợp từ 4 - 6
Theo Đỗ Ngọc Qũy (1980)[50] phân loại lá chè như sau:
Dạng phiến lá căn cứ theo tỷ lệ dài lá/rộng lá(d/r)
< 2.5 (hình trứng)
2.6 - 3 (trứng thuôn)
> 3.0 (thuôn mũi mác)
Trang 282.4.2.3 Nghiên cứu về các tính trạng chất lượng
Nghiên cứu những tính trạng về chất lượng, sắc tố trong lá chè, tác giả Trịnh Văn Loan [61] cho thấy Hàm lượng Chlorophin a, b cao trên 30% ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè, hàm lượng carotenoit cao trên 70% ảnh hưởng tốt đến chất lượng chè
Nghiên cứu tính trạng hình thái lá, búp được thông qua quan hệ hình thái lá và lông tuyết đến chất lượng tác giả Nguyễn Văn Niệm [42] có nhận xét: dạng lá lồi lõm, màu xanh vàng (nhạt) cho chất lượng tốt hơn dạng xanh
đậm, nhẵn bóng, các giống chè Shan có nhiều lông tuyết kể cả ở vùng thấp và chất lượng cũng rất cao, kết quả ngiên cứu của Đoàn Hùng Tiến và Đỗ Trọng Biểu cũng có kết luận tương tự [3], [4]
Tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) [23] cho rằng: lá chè mọc trên cành chè của các giống khác nhau có thế lá khác nhau, thế lá úp, thế lá nghiêng, thế lá rủ và thế lá ngang Thế lá ngang và thế lá rủ đặc trưng của giống chè có năng suất cao
2.4.2.4 Nghiên cứu về chất lượng chè nguyên liệu
Nghiên cứu đặc tính nguyên liệu búp: thành phần cơ giới và thành phần sinh hoá chủ yếu như hàm lượng nước, tanin, chất hoà tan, hàm lượng Catechin, đạm, axitamin, Cafein, hàm lượng sắc tố, hoạt tính của enzim của một số giống chè mới PH1, TRI777 và 1A đ, kết luận các giống chè 1A và TRI777 có thể làm được cả chè xanh và chè đen tốt, giống PH1 chế biến chè xanh kém và chế biến chè đen có chất lượng trung bình khá [4],[5],7],[57] 2.4.2.5 Nghiên cứu về kỹ thuật canh tác
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dạng đốn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng cây chè Trung du tuổi lớn ở Phú Hộ tác giả Đỗ Văn Ngọc đ, kết luận: các dạng đốn khác nhau làm ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng sinh dưỡng và sinh thực của cây, và đến chất lượng nguyên liệu búp
Đốn phớt xanh và sửa bằng ảnh hưởng tốt đến cây chè [13]
Trang 292.5 Một số phương pháp nhân giống chè
Thời kỳ 1921 - 1923, Du Pasquier đ, nghiên cứu nhân giống hữu tính (gieo hạt) và vô tính (ghép, chiết, giâm cành) và đ, chọn gieo hạt làm phương pháp chính Năm 1928 Du Pasquier đ, biên soạn và phổ biến quy trình trồng vườn sản suất hạt giống chè chọn lọc, vì giá tiền giống mua tại ấn Độ đem về Việt Nam rất đắt Các vườn chè sản xuất của Pháp đều trồng bằng hạt chè
Thời kỳ 1947 - 1954, A.Guinard nghiên cứu nhân giống vô tính (ghép, chiết, giâm cành) và đ, chọn giâm cành làm phương pháp chính, theo phương pháp của tiến sỹ Tubbs ( Anh), ông là người đầu tiên trên thế giới nghiên cứu thành công kỹ thuật giâm cành chè tại Viện Nghiên cứu chè Srilanca Năm
1952, Guinard đ, nghiên cứu và biên soạn quy trình nhân giống bằng giâm cành ở Bảo Lộc
Bắt đầu từ Guinard (1952) đ, có chuyển hướng nghiên cứu nhân giống bằng dòng vô tính thay cho dòng hữu tính (gieo hạt), vì hiện tượng tạp giao trong nhân giống hữu tính làm cho việc chọn lọc cá thể rất khó khăn, người ta
ước lượng phải có ít nhất 100 năm để thu được một dòng thuần Phương pháp nhân giống vô tính sản suất ra được những cây con đồng đều, giống cây mẹ
đầu dòng, cho kết quả nhanh, chỉ cần 5 - 10 năm đ, có thể chọn ra cây đầu dòng ưu tú
ở Bảo Lộc đ, nghiên cứu 3 phương pháp : chiết, ghép và giâm cành và
đ, chọn giâm cành làm phương pháp chính vì nó nhanh, dễ làm và hệ số nhân giống cao
Chiết là phương pháp đơn giản nhất, nhưng chậm và hệ số nhân giống thấp ở Bảo Lộc đ, đạt tỷ lệ sống 80%, nhưng mỗi cây chè chỉ chiết được 6
đến 10 cây con và cần đến 2 năm mới có được cây giống Kết luận này giống với kết luận của Sở nghiên cứu chè Kỳ Môn, An Huy, Trung Quốc (1959) : chiết cành chậm, hệ số nhân giống thấp, làm yếu cây mẹ Đây là kinh nghiệm truyền thống của nông đân Trung Quốc, đ, chiết các giống chè nổi tiếng lưu
Trang 30truyền cho đến ngày nay (Thiết Quan Âm, Đại Hồng Bào, Mai Chiếm của Phúc Kiến) Hiện nay phương pháp này gần như đ, bỏ không sử dụng
Kỹ thuật ghép khó hơn chiết, nó đòi hỏi sự khéo léo và có kinh nghiệm Kiểu ghép chữ V nhân giống nhanh, nhưng tỷ lệ sống thhấp (10 - 40%) Cây chè ghép mọc yếu hơn chè giâm cành, sản lượng giảm khoảng 20%
Giâm cành dễ làm hơn ghép, nó cho tỷ lệ sống và hệ số nhân giống cao hơn Tuy nhiên, do cây chè có bộ rễ chùm phát triển nhưng rất yếu và không trồng được rễ trần nên phải giâm vào bầu Do đó gây tốn kém và khó khăn trong vận chuyển[19],[52],
Liên Xô (cũ) là một trong những nước trồng chè lớn của thế giới trước
đây Họ chủ yếu sử dụng hạt chè nhập từ Trung Quốc và ấn Độ Năm 1927 –
1928 họ sử dụng hạt của các giống chè lai tạo, chọn lọc như Gruzia 1, Gruzia2, các giống này cho năng suất cao hơn Đại Bạch Trà 25 – 40% [60]
Từ những năm 80 về trước, trồng chè bằng hạt rất phổ biến ở nước ta Người dân thường gieo hạt tại chỗ hoặc trồng cây con không lựa chọn, việc trồng chè chưa được quan tâm đúng mức, trồng chè theo lối quảng canh, năng suất chất lượng không cao
Người Pháp sau khi vào nước ta đ, rất quan tâm tới việc phát triển cây chè, họ đ, triển khai nghiên cứu so sánh kỹ thuật gieo hạt chè Kết quả đ,
được Cresvot và Lemarier đánh giá tốt Thời kỳ 1920 – 1923 Du Pasquier đ, nghiên cứu nhân giống hữu tính và vô tính và đ, chọn gieo hạt là phương pháp chính Năm 1928 ông đ, biên soạn và phổ biến quy trình trồng vườn sản xuất
Trang 31hạt giống chè chọn lọc và ông đ, xác định với vùng chè Trung du miền Bắc (1921 – 1940) có hai cách trồng chè bằng hạt được áp dụng gieo thẳng ra ruộng sản suất và gieo qua vườn ươm rồi bứng bầu ra trồng ngoài ruộng sản xuất [35]
Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [50], Quy trình trồng chè hạt của Bộ Nông nghiệp quy định cho khoảng cách trồng chè 1,50 x 0,40m mỗi hốc gieo
5 - 6 hạt, độ sâu 3 - 5 cm, gieo dự trữ 5 - 10%
Tiêu chuẩn hạt chè tốt là hạt chín, tươi, chắc, nặng, to Đường kính trong 1kg hạt đối với giống Trung Du là 500 hạt, giống Shan là 400 hạt Hàm lượng nước trong hạt 25 - 30%, sức nảy mầm trên 75% [22],[51]
Sử dụng phương pháp nhân giống bằng hạt trong lai tạo đ, thu được nhiều kết quả Khi dùng cây mẹ là Đại Bạch Trà, cây bố là PH1, Viện nghiên cứu chè đ, lai tạo thành công hai giống chè LDP1 và LDP2 có năng suất, chất lượng cao, được hội đồng khoa học Bộ NN & PTNT thông qua và cho phép khu vực hóa năm 1994, giống LDP1 được công nhận giống quốc gia năm 2003 2.5.2 Nhân giống vô tính
Nghiên cứu môi trường cắm hom các nhà khoa học Liên Xô (cũ), ấn
Độ, Srilanca, Đông Phi đều cho rằng: cắm hom vào túi PE không ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom chè Việc giâm cành vào túi PE giá thành lại cao do tăng chi phí túi bầu và công đóng bầu, nên để giảm giá thành sản xuất cây con
Trang 32giống mà vẫn đảm bảo cây giống tốt các nhà khoa học Nhật Bản, Trung Quốc
đ, nghiên cứu giâm cành trực tiếp trên nền đất hoặc giá thể dinh dưỡng
ở Việt Nam, nghiên cứu về giâm cành các tác giả Đỗ Ngọc Quĩ, Nguyễn Văn Niệm (1963) đưa ra qui trình kỹ thuật giâm cành chè và được Bộ nông nghiệp ban hành Đến năm 1972 khi giống chè mới PH1 được chọn lọc dòng thì biện pháp giâm cành mới sử dụng phổ biến trong sản xuất [48]
Năm 1997, Nguyễn Văn Niệm và cộng sự, nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật nhân giống chè 1A Với nội dung là ảnh hưởng của thời vụ và phân bón tới giâm cành, kết quả cho thấy khi bón đầy đủ N + P+ K + hữu cơ thì cây con khoẻ, tỷ lệ xuất vườn cao Với thời vụ giâm cành khi xuất vườn cây con 14 tháng tuổi thì giâm cành vụ thu tỷ lệ cây sống cao hơn vụ xuân [43]
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng, tuổi hom và thời vụ đến sự phát triển của cành chè 1A giâm ở Phú Hộ, cho thấy rằng: hom xanh, giâm cành chè 1A vụ thu cho tỉ lệ xuất vườn cao nhất [5], [43]
Nghiên cứu tuổi hom, thời vụ giâm cành giống chè 1A, tác giả Đặng Văn Thư cho thấy hom xanh có tỷ lệ ra rễ tốt hơn hom bánh tẻ và hom 2 lá và thời vụ giâm hom vào vụ hè thu tỷ lệ ra rễ tốt hơn vụ xuân[33],[46]
Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức nhân giống đến phân bố bộ rễ của cây chè của Nguyễn Đình Vinh (2002)[65] cho kết quả là: trong những năm đầu, cây chè trồng bằng hạt có bộ rễ sinh trưởng phát triển tốt hơn cây chè trồng bằng cành giâm ở các tuổi lớn bộ rễ của cây chè trồng bằng cành phát triển tốt hơn cây chè trồng bằng hạt [65]
Theo Đỗ Văn Ngọc và cộng sự (2004), nghiên cứu kỹ thuật giâm cành chè trên nền đất, ở mật độ 250 - 300hom/m2 cây sinh trưởng tốt tương đương với giâm trong bầu, ở tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, giống chè Shan chất tiền
và giống LDP1 đều tốt hơn cả Biện pháp nhân giống chè theo phương pháp giâm trên nền đất (rễ trần) rất có hiệu quả, giảm được chi phí sản xuất cây
Trang 33giống, từ đó sẽ hạ giá thành cây giống khi xuất vườn [40]
Năm 2004, Nguyễn Văn Tạo và cộng sự đ, thực hiện dự án (Hoàn thiện qui trình công nghệ nhân giống vô tính giống chè LDP1 & LDP2 bằng giâm hom để chuyển giao cho sản xuất) Kết quả đ, xác định được thời vụ để hom thích hợp nhất vào lứa hái chính tháng 8 hàng năm, cắm hom vào tháng 11 -
12, tiêu chuẩn chất lượng hom chè giống quy định có thể sử dụng hom có thân mầu xanh đậm; hom nửa xanh nửa nâu; hom có mầu nâu sáng để giâm vô tính Đến hết năm 2004 diện tích hai giống chè lai LDP1 & LDP2 đ, trồng
được trên 14 ngàn ha, chiếm khoảng 12% diện tích chè cả nước [55]
2.5.2.2 Phương pháp nuôi cấy mô (Invitro)
Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật invitro được phát triển mạnh
và hoàn thiện từ những năm 60 của thế kỷ 20, sau khi đ, có môi trường nuôi cấy chuẩn, đặc biệt là sử dụng các chất kích thích sinh trưởng thực vật vào môi trường nuôi cấy, sử dụng các tế bào trần để nuôi cấy huyền phù… Ngày nay người ta có thể nuôi cấy tế bào thực vật của bất kỳ loại cây nào và nhân bản vô tính cây invitro để vi nhân giống và tạo ra giống mới, [14],[63]
*Ưu điểm của phương pháp
- Tạo được giống cây khoẻ, sạch bệnh mang lại giá trị kinh tế cao
- Hệ số nhân giống cao, đảm bảo được tính đồng nhất của cây con
- Tạo được những dạng cây con non dùng làm nguồn vật liệu bổ sung cho công tác chọn giống
- Cho phép duy trì nòi giống của những thực vật quí mà bản thân chúng khó
có thể nhân giống bằng các phương pháp khác hoặc nhân giống không thành công
Trang 34một số loại cây trồng khác thì rất khó đặc biệt là cây thân gỗ
- Đòi hỏi trang thiết bị tốn kém và chỉ có thể thực hiện ở những nơi có
đầy đủ trang thiết bị hiện đại với cán bộ có trình độ chuyên môn sâu
áp dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào các nhà khoa học Nhật Bản
là Nacomura và Oici (1985) đ, tạo ra được cây chè con Theo tác giả nhờ phương pháp này mà nguồn gen được tạo ra phục vụ cho công tác nghiên cứu giống Tuy nhiên phương pháp này khó áp dụng vào sản xuất đại trà và giá thành cây con cao do tỷ lệ chết khi chuyển cây con từ ống nghiệm ra vườn
ươm rất cao
2.5.2.3 Phương pháp ghép
Ghép là phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện bằng cách lấy một bộ phận của những cây giống tốt như đoạn cành, khúc rễ, mầm ngủ rồi nhanh chóng, khéo léo lắp vào vị trí thích hợp trên cây khác gọi là gốc ghép Sau đó chăm sóc để phần ghép và gốc ghép liền lại với nhau, tạo nên một cây mới hoàn chỉnh Trong đó phần gốc ghép có chức năng lấy dinh dưỡng trong
đất để nuôi toàn bộ cây mới thông qua bộ rễ, còn phần ghép có chức năng sinh trưởng, quang hợp tạo vật chất hữu cơ và tạo sản phẩm
Theo Trình Khởi Côn, Trang Tuyết Phong (1997) [22]: ghép chè đ, có lịch sử hơn 40 năm, phương pháp ghép truyền thống là ghép cành Trong những năm 40 của thế kỷ 20, khi kỹ thuật giâm cành phát triển thì kỹ thuật ghép chè không được áp dụng
Tới đầu những năm 50, ở Malawi do hạn hán kéo dài, đ, xuất hiện cây chè ghép với tỷ lệ sống đạt tới 80% nhờ chăm sóc như một cây chè giâm cành Malawi có 2 dòng vô tính dùng làm gốc ghép và 8 dòng vô tính dùng làm mắt ghép
Bangladesh bắt đầu trồng chè ghép từ năm 1970 Kenya ngoài giâm cành còn áp dụng chè ghép
Trang 35Kết quả nghiên cứu phương pháp ghép của Kvarakhelia T.K.(1959) ( theo Nguyễn Thị Ngọc Bình,(2002) [4] cho biết: tỷ lệ sống của mắt ghép đạt
từ 53 - 76% tùy thuộc vào phương pháp ghép Tác giả cũng cho rằng cây chè 2 tuổi làm gốc ghép cho kết quả tốt và ghép vào mùa thu có tỷ lệ sống cao đạt tới 80% Kết quả nghiên cứu của Aono, Saba, Tanaka, Sugimoto (1985) giống chè Yabukita dùng làm gốc ghép là tốt nhất so với giống Fujimidori và Yutakamidori Trong hai phương pháp ghép thì ghép nêm cho kết quả tốt hơn phương pháp ghép áp
Nghiên cứu về khả năng trưởng của cây chè ghép, Nyirenda (1990) cho thấy năng suất của một số dòng chè ghép có thể được tăng lên bằng cách ghép lên các giống khỏe mạnh
ở Việt Nam, theo Đỗ Văn Ngọc, Nguyễn Văn Toàn(2002) [10] đối với cây chè ghép có thể áp dụng kỹ thuật ghép nêm khi cây làm gốc ghép đạt 3 - 3.5 tháng tuổi
Trung tâm nghiên cứu chè Bảo Lộc Lâm Đồng đ, nghiên cứu thành công kỹ thuật tạo cây chè ghép từ giống TB14 và LĐ19 vào năm 1999, đề tài
được hội đồng khoa học tỉnh Lâm Đồng công nhận vào tháng 12/2000 [19],[46],[52]
Trang 363 Đối tượng, NỘI DUNG và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiờn cứu gồm 3 dũng chố TB1, TB2, TB3 ủược nhập nội
từ Ấn ðộ, cú triển vọng về năng suất và chất lượng
* Dòng TB: Được nhập từ ấn Độ về Thanh Ba bằng cành nên hình thái tương đối đồng đều, sinh trưởng khoẻ Dòng TB1 có dạng thân gỗ, lá bầu dục, chóp lá nhọn, mép lá lượn sóng, búp ít tuyết mang nhiều đặc điểm của thứ chè Assamica
Cành phân bố đồng đều, lá búp đều có màu xanh sáng, góc độ phân cành rộng biểu hiện giống có khả năng cho năng suất cao
Theo lý lịch đây là giống chọn lọc vô tính ở Tocklai, sản lượng cao nhưng chất lương trung bình được nhập vào Việt Nam năm 1988
* Dòng TB2: Được nhập về bằng hạt, có dạng thân gỗ, cành phân hơi cao so với mặt đất, lá búp có màu xanh, xanh vàng không đồng đều, răng cưa nhọn sắc, chóp lá nhọn, có cây có rất nhiều nụ, hình thái thân cành không đồng
đều, nhiều cây búp có tuyết, giống mang nhiều đặc điểm của thứ chè shan
* Dòng TB3: Được nhập nội bằng hạt, thân gỗ, nhiều dạng hình, búp lá
có màu xanh, to, dày, tròn, có cây rất nhiều tuyết, giống mang nhiều đặc điểm của thứ chè shan Có khả năng chịu hạn tốt, năng suất cao
3.1.2 ðịa ủiểm nghiờn cứu
Tại x, Vân Lĩnh - huyện Thanh Ba - tỉnh Phỳ Thọ và tại Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miềm núi Phía Bắc, x, Phú Hộ - thị x, Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ
3.1.3 Thời gian nghiờn cứu
Từ thỏng 8 năm 2008 ủến thỏng 10 năm 2009
Trang 373.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu về ựặc ựiểm hình thái của 3 dòng chè
nhẺp néi ( Lá, Hoa, Thân, Cành)
- Nghiên cứu ựặc ựiểm sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất cựa 3 dưng chÌ nhẺp néi
- Nghiên cứu, theo dõi khả năng nhân giống vô tắnh bằng giâm cành (tỷ
lệ sống, tỷ lệ xuất vườnẦ) cựa 3 dưng chÌ nhẺp néi
- Phân tắch một số thành phần hoá học trong búp chè và sờn phÈm chế
biến chè xanh, chÌ ựen ựể thử nếm cảm quan
- đánh giá sơ bộ khả năng chống chịu sâu bệnh hại chắnh của 3 dòng
chè nhẺp néi
3.3 Ph−ểng phịp nghiến cụu
3.3.1 Bè trÝ thÝ nghiỷm
ThÝ nghiỷm bè trÝ tuẵn tù theo hộng trến n−ểng chÌ Mẫi gièng lộ mét
cềng thục thÝ nghiỷm vắi 3 lẵn nhớc lỰi, mẫi lẵn nhớc lỰi cã diỷn tÝch 50m2
ThÝ nghiỷm giẹm cộnh chÌ ệ−ĩc bè trÝ tỰi v−ên giẹm cựa Viỷn KHKT
Nềng Lẹm nghiỷp miÒn nói PhÝa Bớc Ba gièng chÌ ệ−ĩc bè trÝ tuẵn tù theo
hộng trong v−ên giẹm, mẫi gièng lộ mét cềng thục thÝ nghiỷm vắi 3 lẵn nhớc
lỰi, mẫi lẵn nhớc lỰi cã diỷn tÝch 12m2
3.3.2 Cịc chử tiếu vộ ph−ểng phịp nghiến cụu
Mẫi ề thÝ nghiỷm lÊy 10 cẹy ệÓ theo dâi cịc chử tiếu
3.3.2.1 ậẳc ệiÓm hừnh thịi, sinh tr−ẻng cựa thẹn, cộnh chÌ
- Chiều cao cây (cm): ậo tõ bÒ mẳt ệÊt sịt cữ rÔ ệạn bÒ mẳt mét khung
vuềng ệẳt nỪm ngang trến mẳt tịn vộ song song vắi bÒ mẳt ệÊt
- ậ−êng kÝnh gèc (cm): ậo bỪng th−ắc panme cịch mẳt ệÊt 5cm
- độ rộng tán (cm): Chản cẹy chÌ cã ệé réng tịn trung bừnh, ệo vỡ trÝ
réng nhÊt cựa tịn cẹy ẻ phẵn giọa tịn theo hộng chÌ, dỉng hai th−ắc dùng
ệụng song song hai bến mĐp tịn ệo ệé réng giọa hai th−ắc
Trang 38- Chiều cao phõn cành (cm): Đo từ cổ rễ đến điểm phân cành đầu tiên
- Chiều dài ủốt cành (cm): Đo khoảng cách giữa lá thứ 2 và lá thứ 3 của
- Chiều rộng lỏ (cm): Chiều rộng đo vị trí rộng nhất theo chiều ngang của lá
- Diện tớch lỏ (cm2/lỏ ): Chiều dài x chiều rộng x kệ số K
( K là hệ số điều chỉnh, theo các kết quả nghiên cứu trước đây, các giống chè có dạng lá bầu, tròn hệ số K là 0.70 Các giống chè có dạng lá thuôn dài, hệ số K là 0.68 Cụ thể TB1, TB2 k=0.70, TB3 k=0.68)
- Gúc lỏ: Đo góc giữa lá thứ 3 và cành của đọt 1 tôm 5 lá
- Số ủụi gõn lỏ (ủụi/lỏ): ðếm những ủụi gõn nổi rừ và xuất phỏt từ gõn chớnh
- Sinh trưởng của bỳp
+ Mỗi giống ủo 30 bỳp cố ủịnh, ủo từ khi lá cá mở ủến khi đạt 1tôm + 5lá + Theo dừi thời gian sinh trưởng của cỏc bỳp ủo
Trang 39-Tỷ lệ bỳp mự (%): Hái tất cả các búp có trên mặt tán, lấy 100 gam búp ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại Tiến hành phân loại búp bình thường và búp mù Tính tỷ lệ % búp mù và búp bình thường
- Mật ủộ bỳp (bỳp/m2): Mỗi ô thí nghiệm lấy 5 cây theo đường chéo góc Dùng khung có chia ô vuông 25x25 cm đặt lên mặt tán, đếm tất cả các búp có ít nhất 1 lá có trong ô, tính mật độ búp trung bình cho một cây
- Khối lượng trung bỡnh 100 bỳp (g/100bỳp): Trên các ô thí nghiệm hái
100 búp ngẫu nhiên bảo quản riêng trong các túi ni long Cân 100 búp ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại Tính trung bình 3 lần nhắc lại được khối lượng bình quân 100 búp
- Khối lượng bỳp một lứa hái (g/lứa hái)
- Số ủợt sinh trưởng (số ủợt/năm): Là số lần sinh trưởng trên một cành chè trong điều kiện có tác động kỹ thuật đốn và hái chè
3.3.2.4 ðặc ủiểm sinh trưởng sinh thực
- Đặc điểm của hoa chè dõi theo quy trình khảo nghiệm DUS
- Nhuỵ hoa: Kí hiệu là G
- Mầu sắc, lông tuyết của cánh hoa, nhị và nhuỵ
Trang 403.3.2.6 Theo dừi khả năng nhõn giống vụ tớnh
- Tỷ lệ sống (%)
- Chiều cao cõy con vườn ươm (cm)
- Số lỏ thật trờn cõy (chiếc)
- Tỷ lệ xuất vườn (%)
- Khối lượng rễ, thõn, lỏ
- Hệ số nhân giống
3.3.2.7 Khả năng chống chịu sõu bệnh hại
Thời ủiểm phỏt sinh, gõy hại của một số loài sõu, bệnh hại chớnh trong năm 3.3.3 Phương pháp sử lý số liệu
- Thu thập và sử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học của Phạm Chí thành
- Sử lý số liệu trên phần mềm IRRI Start 4.0
- Thiết lập biểu đồ và đồ thị trên máy vi tính bằng phần mềm EXCEL