1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống e learning hỗ trợ việc giảng dạy, học tập và đánh giá tại các trường phổ thông

84 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng hệ thống e-learning hỗ trợ việc giảng dạy, học tập và đánh giá tại các trường phổ thông
Tác giả Hoàng Ngọc Cảnh
Người hướng dẫn TS. Đinh Đồng Lưỡng
Trường học Trường Đại Học Nha Trang
Chuyên ngành Công nghệ thông tin
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Khánh Hòa
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển e-Learning (13)
    • 1.2 Tình hình phát triển và ứng dụng e-Learning (15)
      • 1.2.1 Trên thế giới (15)
      • 1.2.2 Tại Việt Nam (17)
    • 1.3 Các phương pháp tiếp cận e-Learning (19)
  • Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC DẠY HỌC (21)
    • 2.1 Phương thức dạy học (21)
    • 2.2 Tìm hiểu các phương thức dạy học (21)
      • 2.2.1 Phương thức dạy học truyền thống (21)
      • 2.2.2 Phương thức dạy học trực tuyến (online; e-Learning) (23)
      • 2.2.3 Phương thức dạy học kết hợp (hỗn hợp) (26)
  • Chương 3: XÂY DỰNG HỆ THỐNG E-LEARNING (0)
    • 3.1 Phân tích bài toán (33)
      • 3.1.1 Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với chương trình phổ thông (33)
      • 3.1.2 Các hệ thống e-Learning hiện được cung cấp và những bất cập (34)
      • 3.1.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông của GV và HS trường (36)
    • 3.2 Triển khai hệ thống e-Learning (39)
      • 3.2.1 Các tiêu chí thiết kế hệ thống e-Learning (40)
      • 3.2.2 Cấu trúc hệ thống e-Learning (42)
      • 3.2.3 Cài đặt hệ thống quản lý học tập bằng mã nguồn mở Moodle (43)
      • 3.2.4 Những thay đổi so với bản chuẩn của Moodle (46)
    • 3.3 Tổ chức quá trình học tập với hệ thống e-Learning (50)
  • Chương 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM (53)
    • 4.1 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm (53)
    • 4.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm (53)
    • 4.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm (53)
    • 4.4 Mục đích, nội dung và kết quả thực nghiệm (53)
      • 4.4.1 Lần thực nghiệm thứ nhất (53)
      • 4.4.2 Lần thực nghiệm thứ hai (54)
  • Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (0)
    • 5.1 Kết luận (0)
    • 5.2 Khuyến nghị (0)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Lịch sử hình thành và phát triển e-Learning

Thuật ngữ e-Learning lần đầu tiên xuất hiện vào tháng 10 năm 1999 tại hội thảo về hệ thống CBT ở Los Angeles Sau đó, nhiều khái niệm như học trực tuyến trên mạng và học trực tuyến ảo đã được phát triển để mô tả chính xác hơn Mặc dù chưa có định nghĩa chính xác cho e-Learning, các nguyên tắc của nó đã được ghi nhận qua lịch sử, với bằng chứng cho thấy hình thức đầu tiên của e-Learning đã tồn tại từ thế kỷ 19 Khái niệm này thực sự được xây dựng trên nền tảng của hàng thập kỷ các cuộc cách mạng và phát minh trong lĩnh vực học tập và giảng dạy.

Trước khi Internet xuất hiện, việc học từ xa đã được triển khai để giáo dục sinh viên về các môn học và kỹ năng cụ thể Vào những năm 1840, Isaac Pitman đã sử dụng phương pháp gửi thư để dạy tốc ký cho sinh viên, nhằm cải thiện tốc độ viết cho những người làm thư ký và nhà báo Ông gửi bài tập cho sinh viên, nhận kết quả và tiếp tục cung cấp thêm công việc để họ hoàn thành.

Vào năm 1924, máy tính tự kiểm tra đầu tiên được phát minh, cho phép sinh viên trả lời các câu hỏi trắc nghiệm thông qua một thiết bị giống như máy đánh chữ Máy có cửa sổ hiển thị câu hỏi và bốn lựa chọn trả lời, yêu cầu sinh viên nhấn phím để đưa ra câu trả lời đúng, và chỉ chuyển sang câu hỏi tiếp theo khi câu trả lời chính xác được cung cấp Điều này chứng tỏ máy có khả năng tự động giúp người học nhận biết đúng sai Tuy nhiên, máy không thành công do tâm lý chưa sẵn sàng và lo ngại của giáo viên về việc mất việc làm Dù vậy, ý tưởng về chức năng của nó vẫn được tích hợp vào nhiều hệ thống quản lý đánh giá hiện nay.

Vào năm 1954, BF Skinner, giáo sư tại Harvard, đã phát minh ra máy giảng dạy trực tuyến, giúp các trường quản lý việc giảng dạy cho sinh viên Thiết bị này giống như một cái hộp chứa danh sách câu hỏi, cho phép học sinh xem câu hỏi qua cửa sổ nhỏ và trả lời thông qua cơ chế đặc biệt Các câu trả lời được viết ra trên cuộn giấy, và khi học sinh trả lời đúng, họ có thể tiến lên và nhận phần thưởng Skinner tin rằng máy này phù hợp để dạy học sinh ở mọi lứa tuổi và cho bất kỳ môn học nào, từ đọc đến âm nhạc Ý tưởng của ông đã truyền cảm hứng cho nhiều nhà phát triển sau này.

Vào năm 1960, PLATO (Programmed Logic for Automatic Teaching Operations) đã được giới thiệu như là chương trình đào tạo dựa trên máy tính đầu tiên trên thế giới, được phát triển bởi Đại học Illinois Trong suốt 40 năm hoạt động, PLATO cung cấp các khóa học từ tiểu học đến đại học cho sinh viên tại UIUC, các trường học địa phương và những nơi khác, với hơn 15.000 giờ học có sẵn từ một trung tâm tập trung Khi công nghệ phát triển, nhu cầu học trực tuyến đã mở rộng ra ngoài những người có quyền truy cập vào phòng thí nghiệm của trường đại học Trước khi Internet ra đời, PLATO đã cho phép người dùng truy cập thông qua bảng tin và trò chuyện, đánh dấu bước khởi đầu cho nền tảng học trực tuyến hiện nay.

Phát triển e-Learning gắn liền với sự cải tiến kỹ thuật và khả năng chi trả tốt hơn cho thiết bị máy tính và Internet Kể từ những năm gần đây, sự tiến bộ này đã thúc đẩy việc áp dụng rộng rãi hình thức học trực tuyến, mang lại nhiều cơ hội học tập cho người dùng.

Vào năm 1980, sự ra đời của máy tính cá nhân đã cho phép mọi người sở hữu thiết bị này tại nhà, từ đó phát triển kỹ năng và mở rộng kiến thức Công nghệ đã tiến bộ đáng kể, với khả năng gửi thông tin không chỉ ở định dạng văn bản mà còn đa dạng hơn trong những năm tiếp theo.

Vào những năm 90, sự ra đời của trình duyệt web đã mở ra cơ hội cho người dùng làm phong phú nội dung văn bản bằng đồ họa Sự phát triển nhanh chóng của Internet cùng với giá thành giảm đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phổ biến rộng rãi Hệ thống Word Wide Web đã hỗ trợ tối đa cho việc lưu trữ và phân phối thông tin đến người dùng qua kết nối Internet Nhờ đó, các chương trình đào tạo dựa trên nền tảng web đã hình thành và phát triển, không chỉ phục vụ cho việc giảng dạy mà còn tạo cơ hội giao tiếp giữa giảng viên và sinh viên Vào thập niên 1990, môi trường học tập ảo đã được thiết lập, mở ra nhiều cơ hội học tập mới cho người dùng.

Học tập không chỉ giới hạn trong giáo dục phổ thông và đại học mà còn mở rộng ra lĩnh vực đào tạo Từ những năm 2000, nhiều công ty đã áp dụng e-Learning để đào tạo nhân viên, nhận thấy nhiều lợi ích từ phương pháp này Cả nhân viên mới và những người có kinh nghiệm đều có cơ hội nâng cao kiến thức chuyên môn và phát triển kỹ năng Các trường đại học hiện nay cung cấp nhiều khóa học trực tuyến, giúp cá nhân dễ dàng tiếp cận và có cơ hội nhận bằng cấp hoặc mở rộng kiến thức Ngày nay, e-Learning ngày càng trở nên phổ biến, với nhiều người nhận ra giá trị của việc học trực tuyến.

Tình hình phát triển và ứng dụng e-Learning

1.2.1 Trên thế giới: e-Learning phát triển phổ biến trên toàn thế giới ngày nay, tuy nhiên Mỹ vẫn là quốc gia hàng đầu với xu hướng e-Learning trong giáo dục Chính phủ Mỹ đã có những chính sách mạnh mẽ nhằm trợ giúp cho việc phát triển e-Learning từ cuối những năm 1990 và liên tục phát triển Theo những số liệu khảo sát của Palvia và cộng sự (2018) [31] có hơn 6 triệu sinh viên Mỹ đăng ký tham gia ít nhất một khóa học trực tuyến trong năm 2016, và tỷ lệ sinh viên theo học ít nhất một khóa học trực tuyến đã tăng lên hơn 30%

Theo nghiên cứu của KPMG Ấn Độ và Google (2017), thị trường giáo dục trực tuyến ở Ấn Độ có giá trị 247 triệu USD với 1,6 triệu người dùng, và dự kiến sẽ tăng lên 1,96 tỷ USD với khoảng 9,6 triệu người dùng vào năm 2021 Các yếu tố chính thúc đẩy sự phát triển của giáo dục trực tuyến và kết hợp tại Ấn Độ bao gồm nhu cầu học tập linh hoạt, sự gia tăng sử dụng công nghệ, và sự chấp nhận ngày càng cao của người tiêu dùng đối với các phương pháp học tập mới.

- Tăng trưởng mạnh mẽ của Internet và sự phổ biến của điện thoại thông minh

- Chi phí giáo dục trực tuyến thấp

- Chính sách của chính phủ thân thiện với kỹ thuật số

- Sự leo thang nhu cầu của các chuyên gia làm việc và người tìm việc cho giáo dục thường xuyên

Hàn Quốc là một trong những quốc gia tiên phong trong việc triển khai giáo dục e-Learning ở tất cả các cấp học, theo nghiên cứu của Hwang và cộng sự (2010).

Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ thông tin, đặc biệt là Internet, với 64,1% người dân có khả năng truy cập Internet mọi lúc, mọi nơi Hơn nữa, 89,9% dân số sử dụng Internet tại nhà, cho thấy sự phổ biến và tiện lợi của dịch vụ này trong đời sống hàng ngày.

Năm 2009, tỉ lệ sử dụng e-Learning tại các học viện giáo dục thường xuyên ở Hàn Quốc đạt 80%, với bậc tiểu học đạt 88%, trung học cơ sở 47,1% và trung học phổ thông 68,7% Chính phủ Hàn Quốc coi e-Learning là một biện pháp quan trọng trong cải cách giáo dục, được thể hiện qua việc ban hành luật phát triển công nghiệp e-Learning vào năm 2004 Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập qua các thiết bị điện tử và công nghệ thông tin, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của e-Learning tại các quốc gia có nền công nghệ tiên tiến Trong kỷ nguyên 4.0, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu và dữ liệu lớn đã tạo ra nhiều xu hướng mới trong e-Learning, bao gồm học tập qua trò chơi, học tập vi mô và áp dụng thực tế ảo Ngoài ra, các hình thức học tập cá nhân hóa và học tập thích nghi cũng đang được quan tâm, cho phép điều chỉnh mục tiêu và nội dung giảng dạy theo nhu cầu và năng lực của từng người học.

Kể từ năm 1997, khi Internet xuất hiện tại Việt Nam, đất nước này đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng về hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) song song với sự chuyển mình trong cơ cấu nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng lớn trong lĩnh vực e-Learning, theo dữ liệu khảo sát từ tổ chức nghiên cứu thị trường Ambient Insight.

2014 cho thấy Việt Nam là một trong 10 quốc gia dẫn đầu về tỉ lệ phát triển e- Learning được dự báo cho giai đoạn 2013 – 2018

Hình 1.2 Dự báo mức độ tăng trưởng e-Learning của Việt Nam trong giai đoạn

E-Learning đã thu hút sự chú ý của các trường đại học tại Việt Nam từ sớm, với 37 trường triển khai đào tạo trực tuyến vào năm 2005 Sau 15 năm, hầu hết các trường đại học và cao đẳng trên cả nước đã xây dựng hệ thống e-Learning riêng Nhiều tổ chức và trường cũng đã cập nhật mô hình e-Learning để phù hợp với quy chế đào tạo và khả năng tiếp cận của sinh viên Các hội thảo về ứng dụng e-Learning ngày càng gia tăng và phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua.

Từ năm 2016 đến nay, đào tạo trực tuyến đã trở thành xu thế tất yếu trong giáo dục, đặc biệt được nhấn mạnh tại hội thảo khoa học quốc gia của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2017 với chủ đề “Đào tạo trực tuyến trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0” Hội thảo đã thu hút nhiều bài viết xoay quanh bốn chủ đề chính: xu hướng đào tạo trực tuyến, mô hình và phương thức đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học, và chia sẻ kinh nghiệm cũng như giải pháp trong đào tạo trực tuyến Các trường đại học như Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, và Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức nhiều hội thảo về e-Learning, khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực này và nhu cầu thay đổi phương thức đào tạo để đáp ứng yêu cầu của thời đại 4.0.

Trong khi e-Learning ở bậc đại học phát triển nhanh chóng, thì ở giáo dục phổ thông (GDPT), nó vẫn còn chậm chạp và phụ thuộc vào đầu tư từ xã hội hóa Theo Trung Thành (2016), hầu hết các giải pháp e-Learning cho bậc phổ thông tại Việt Nam chủ yếu đến từ doanh nghiệp và cá nhân, cho thấy sự thiếu chủ động trong việc triển khai công nghệ này tại các trường Từ năm 2009-2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức cuộc thi “Thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử e-Learning” nhằm khuyến khích các giáo viên và trường học tìm hiểu về e-Learning Tuy nhiên, sự thiếu định nghĩa rõ ràng cho các khái niệm như “bài giảng điện tử” đã gây ra sự hoang mang cho giáo viên trong việc đánh giá sản phẩm e-Learning Gần đây, e-Learning đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu nhiều hơn từ các tác giả, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực này.

Các phương pháp tiếp cận e-Learning

Qua quá trình phát triển, có nhiều cách tiếp cận để hình thành quan điểm và giải pháp cho e-Learning Theo khảo sát của Molas và Fuertes (2018), dựa trên 855 bài nghiên cứu chia thành 68 chủ đề e-Learning trong năm 2017, các đánh giá cho thấy các phương pháp tiếp cận e-Learning dựa trên ba yếu tố chính từ 20 chủ đề phổ biến nhất.

Tiếp cận dựa trên công nghệ là yếu tố then chốt trong việc hình thành và phát triển e-Learning Lịch sử đã chứng minh rằng công nghệ có ảnh hưởng lớn đến sự ra đời và phát triển các mô hình e-Learning Hiện nay, bên cạnh các công nghệ truyền thống như máy tính và Internet, các nền tảng công nghệ mới nổi như di động, trò chơi, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đang ngày càng thâm nhập vào lĩnh vực e-Learning và có xu hướng thay thế các công nghệ trước đó.

e-Learning, với mục tiêu phục vụ việc dạy học, chịu ảnh hưởng từ các thuyết học tập như thuyết hành vi, thuyết kiến tạo và thuyết kết nối Những thuyết này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của e-Learning Để tổ chức các khóa học e-Learning hiệu quả, cần đảm bảo rằng thiết kế nội dung và hình thức kiểm tra đánh giá phù hợp với các triết lý giáo dục.

Thị trường công nghệ giáo dục (edtech) đã ghi nhận mức đầu tư 16,3 tỉ USD vào năm 2018, gần gấp đôi so với năm 2017, với hơn 1000 sản phẩm trải dài trên 50 phân khúc giáo dục Trên toàn cầu, có hơn 13.000 đơn vị và dự án đang phát triển trong lĩnh vực này Cấu trúc dịch vụ e-Learning chủ yếu bao gồm hai thị trường: nội dung và phần mềm, tập trung vào đào tạo trực tuyến Thị trường nội dung chủ yếu cung cấp các khóa học và chương trình cấp bằng từ các trường đại học, với các nền tảng như Coursera có 37 triệu người dùng và doanh thu 140 triệu USD trong năm 2018 Thị trường phần mềm bao gồm các hệ thống LMS và dịch vụ liên quan, cung cấp nhiều lựa chọn cho các trường học từ miễn phí đến có phí, tạo điều kiện cho sự phát triển của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này.

E-Learning, với bề dày lịch sử và nhiều cách hiểu khác nhau, được định nghĩa chủ yếu dựa trên việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) vào giáo dục Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng mọi ứng dụng CNTT&TT, đặc biệt là trên nền tảng Internet, đều thuộc về e-Learning Điều này bao gồm cả việc ứng dụng công nghệ trong phương thức dạy học truyền thống E-Learning tích hợp chặt chẽ giữa công nghệ và giáo dục, bao gồm việc phân tích, thiết kế, xây dựng, phân phối và quản lý các hoạt động học tập trực tuyến thông qua các hệ thống quản trị học tập LMS và LCMS, cũng như các ứng dụng di động, mạng xã hội và trò chơi học tập Hiểu đúng về bản chất của e-Learning sẽ giúp các nhà nghiên cứu, tổ chức cung cấp e-Learning, trường học, giáo viên và học sinh áp dụng thuật ngữ này một cách hiệu quả trong việc triển khai các giải pháp giáo dục.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC DẠY HỌC

Phương thức dạy học

Phương thức dạy học là khái niệm cốt lõi trong lý luận dạy học, đóng vai trò quan trọng và phức tạp trong nghề giáo Đây là chủ đề thường xuyên được thảo luận giữa các nhà lý luận dạy học, nhưng vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa, phân loại và mô hình cấu trúc của phương thức này, cho thấy sự thiếu thống nhất trong lĩnh vực này.

Nhiều mô hình dạy học đã được nghiên cứu, và cơ sở lý luận của chúng là nền tảng cho việc thiết kế mô hình e-Learning mà chúng tôi đang phát triển Chúng tôi đã chọn “Mô hình quan điểm dạy học – phương pháp dạy học – kỹ thuật dạy học” để khám phá các hình thức học tập đa dạng.

Mặc dù mô hình của Nguyễn Văn Cường và Bernd (2010) chưa được công nhận rộng rãi trong lý luận dạy học, nhưng nó lại được áp dụng phổ biến trong thực tiễn giảng dạy nhờ vào tính dễ hiểu cho các đối tượng tham gia quá trình dạy-học.

Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động của phương pháp dạy học, mang tính chiến lược và là mô hình lý thuyết của PPDH Trong nghĩa hẹp, PPDH được hiểu là những hình thức và cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện các mục tiêu dạy học cụ thể, phù hợp với nội dung và điều kiện dạy học nhất định PPDH cụ thể quy định các mô hình hành động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học.

Kỹ thuật dạy học là những phương pháp và hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống cụ thể nhằm quản lý và điều chỉnh quá trình giảng dạy hiệu quả.

Tìm hiểu các phương thức dạy học

2.2.1 Phương thức dạy học truyền thống

Quan điểm dạy học truyền thống, tồn tại từ lâu, tập trung vào việc truyền đạt kiến thức theo chương trình và sách giáo khoa Chương trình học được thiết kế dựa trên logic nội dung bài học, với cách giảng dạy thống nhất cho tất cả học sinh Điều này dẫn đến sự chú trọng vào hệ thống kiến thức lý thuyết, nhằm đảm bảo mọi đối tượng học sinh đều tiếp cận được nội dung học tập.

Trong dạy học truyền thống, có nhiều phương thức giảng dạy được phân chia thành ba nhóm chính: Nhóm dùng lời, bao gồm gợi mở, vấn đáp, thuyết trình, giải thích và thảo luận trên lớp; nhóm trực quan, với các phương pháp như dạy học trực quan và trình diễn; và nhóm thực hành, tập trung vào luyện tập, ôn tập và thực hiện thí nghiệm.

- Kỹ thuật dạy học: GV thuyết trình, diễn giảng là chủ yếu, phương tiện, kỹ thuật dạy học ở mức tối thiểu

- Ưu điểm: Dạy học truyền thống có các ưu điểm về tương tác trực tiếp

- Nhược điểm: Có rất nhiều hạn chế có thể liệt kê đối với phương thức học tập này

Phương thức dạy học truyền thống không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của tất cả học sinh trong một lớp Điều này thể hiện rõ ràng qua cách thiết kế nội dung học tập, cho thấy sự cần thiết phải đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Học sinh (HS) thường chỉ có một sự lựa chọn trong việc tiếp thu kiến thức: nghe giảng từ giáo viên (GV) và ghi chép lại Việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn hoặc giải quyết bài toán thực tế ít được chú trọng do số lượng HS trong lớp đông và thời gian học cố định Nếu HS không hiểu bài hoặc vắng mặt vì lý do sức khỏe, họ sẽ mất phần kiến thức quan trọng và không có cơ hội học lại Hơn nữa, mỗi HS có mức độ tiếp thu khác nhau, dẫn đến sự chênh lệch trong việc tiếp nhận kiến thức.

Việc vận dụng và phân tích kiến thức lý thuyết tại nhà thông qua bài tập về nhà là một phương pháp giúp học sinh phát triển tư duy cao Tuy nhiên, sự thiếu hướng dẫn và kiểm soát từ giáo viên có thể gây khó khăn cho học sinh, dẫn đến hiệu quả học tập không cao Tính tự giác của mỗi học sinh khác nhau, điều này thường dẫn đến tình trạng làm bài tập đối phó hoặc chép bài của bạn khác để nộp cho giáo viên.

Việc phát triển kỹ năng cho học sinh có thể dẫn đến sự thiếu tự tin trong học tập Nội dung giảng dạy theo phương pháp truyền thống thường mang tính hệ thống và logic cao, nhưng việc giáo viên là người chủ động trong quá trình dạy học khiến học sinh trở nên thụ động Điều này dẫn đến giờ học trở nên đơn điệu, buồn tẻ, và kiến thức thường thiên về lý thuyết, ít chú trọng đến kỹ năng thực hành, trải nghiệm và sự sáng tạo của học sinh, từ đó hạn chế khả năng ứng dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế.

Nội dung học tập thường không được cập nhật do phụ thuộc vào sách giáo khoa và sự thiếu quan tâm từ giáo viên Hơn nữa, nếu giáo viên không tổ chức dạy học hiệu quả, điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả học sinh trong lớp.

Giáo dục cho tất cả trẻ em vẫn là một mục tiêu khó đạt được do trường học không thể tiếp cận mọi em, đặc biệt là những học sinh nghèo ở vùng sâu, vùng xa Những em này thường có xu hướng bỏ học, mất đi cơ hội nhận được lợi ích từ các lớp học truyền thống.

Kết quả đánh giá học sinh thường phụ thuộc vào các bài kiểm tra định kỳ, thi học kỳ hoặc thi cuối năm Nếu học sinh vắng mặt hoặc thi không đạt, họ sẽ phải ở lại lớp và học lại các môn đã vượt qua từ năm trước, điều này có thể dẫn đến sự lãng phí lớn trong giáo dục.

2.2.2 Phương thức dạy học trực tuyến (online; e-Learning)

Dạy học trực tuyến là phương pháp giáo dục hiện đại, trái ngược với dạy học truyền thống, sử dụng kết nối Internet để hỗ trợ học tập Nó cho phép học sinh và giáo viên trao đổi tài liệu và thông tin mà không cần gặp mặt trực tiếp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và tương tác.

Kỹ thuật dạy học hiện đại đang ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ web, để phân phối nội dung học tập hiệu quả Việc tổ chức, theo dõi, kiểm tra và đánh giá học sinh được thực hiện qua các hệ thống LMS (Hệ thống quản lý học tập) hoặc LCMS (Hệ thống quản lý nội dung học tập), giúp nâng cao chất lượng giáo dục.

Những nghiên cứu [23, 30, 32] cho thấy e-Learning mang lại những lợi ích to lớn cho người học, người dạy, nhà trường và cả xã hội

e-Learning mang đến cho người học môi trường học tập linh hoạt và chủ động, cho phép họ tự do lựa chọn nội dung, thời gian và địa điểm học tập phù hợp nhất với nhu cầu của bản thân.

e-Learning cho phép người dạy ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng, cung cấp tài nguyên học tập phong phú cho học viên Điều này giúp người dạy có thêm thời gian để hỗ trợ học sinh mà vẫn duy trì tính tự học của họ Bên cạnh đó, e-Learning cung cấp các công cụ hiệu quả để theo dõi, giám sát và đánh giá quá trình học tập một cách công bằng.

e-Learning giúp các tổ chức giáo dục và nhà trường giảm chi phí hoạt động, bao gồm tiết kiệm chi phí đầu tư cho phòng học, phòng đào tạo và trang thiết bị thí nghiệm Đồng thời, nó cũng giải phóng thời gian cho giáo viên, cho phép họ tập trung vào các vấn đề quan trọng khác trong quá trình giáo dục và đào tạo.

e-Learning đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng xã hội học tập và khuyến khích học tập suốt đời Với hình thức đào tạo trực tuyến, mọi người đều có cơ hội tiếp cận kiến thức mà không cần đến lớp học truyền thống Các khóa học trực tuyến không phân biệt giới tính hay độ tuổi, giúp người học dễ dàng nâng cao kỹ năng cần thiết cho công việc hiện tại và tương lai Điều này không chỉ thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông tin mà còn nâng cao năng lực lao động, khả năng tiếp cận công nghệ thông tin của người dân, tạo ra sự bình đẳng trong giáo dục và nâng cao vị thế của các quốc gia trên trường quốc tế.

Theo Khan (2005) [26] thì có 8 khía cạnh ảnh hưởng đến sự thành công của e- Learning như sau:

XÂY DỰNG HỆ THỐNG E-LEARNING

Phân tích bài toán

3.1.1 Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với chương trình phổ thông

Để thực hiện nghị quyết số 29/NQ-TW về đổi mới giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định 5 phẩm chất và 10 năng lực cần phát triển ở học sinh Các giải pháp giáo dục và phương pháp đánh giá cũng được điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu này Chương trình giáo dục không còn chia thành từng bài học cụ thể mà chuyển sang hình thức học theo các chủ đề Việc dạy học theo chủ đề được triển khai qua 5 hoạt động cơ bản, mỗi hoạt động có 4 bước cụ thể.

5 hoạt động trong một chủ đề

4 bước trong một hoạt động

MÔ HÌNH DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ

Hình 3.1 Mô hình dạy học theo chủ đề

Theo [36], mỗi chủ đề được thực hiện qua nhiều tiết học, với nhiệm vụ học tập có thể diễn ra cả trong và ngoài lớp học Việc dạy học truyền thống chỉ diễn ra trong lớp học đã quen thuộc với giáo viên và học sinh, nhưng triển khai học tập bên ngoài lớp học đặt ra nhiều câu hỏi cần giải đáp về cách tiếp cận của học sinh Khác với chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, nội dung kiến thức hiện chỉ gói gọn trong sách giáo khoa và phải hoàn thành trong thời gian cố định Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, việc phân chia thời gian và các mức độ đạt được trong dạy học phụ thuộc vào cách thiết kế của giáo viên và khả năng tiếp nhận của học sinh, điều này gây khó khăn cho quản lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh trong việc theo dõi tiến trình học tập.

Việc kiểm tra và đánh giá học sinh (HS) hiện nay đang chuyển hướng theo định hướng đánh giá năng lực, nghĩa là quá trình đánh giá cần diễn ra liên tục trong suốt quá trình học tập, không chỉ dừng lại ở điểm số kiểm tra định kỳ Hình thức kiểm tra và đánh giá cũng đã được đa dạng hóa, khác với các bài kiểm tra truyền thống Để đánh giá đúng năng lực của HS, giáo viên (GV) cần kết hợp nhiều phương pháp đánh giá khác nhau, bao gồm đánh giá quá trình hoàn thành nhiệm vụ, quan sát, và đánh giá từ chính HS qua bài kiểm tra, cũng như từ bạn bè trong nhóm hay lớp học Sự phức tạp trong quy trình đánh giá này sẽ tạo ra những thách thức nhất định cho GV trong việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

Để giải quyết các khó khăn hiện tại, cần thiết phải xây dựng một hệ thống quản lý học tập, kiểm tra và đánh giá trong trường phổ thông Tuy nhiên, việc phát triển hệ thống này sẽ gặp nhiều thách thức nếu không có sự hỗ trợ hợp lý từ công nghệ thông tin và truyền thông.

3.1.2 Các hệ thống e-Learning hiện được cung cấp và những bất cập

Hiện nay, nhiều hệ thống e-Learning đã được giới thiệu bởi các tập đoàn, công ty và cá nhân, đồng thời cũng được áp dụng tại một số trường phổ thông Các giải pháp này chủ yếu tập trung từ ba nguồn chính.

Các tập đoàn và tổ chức lớn trên toàn cầu đã đưa ra nhiều giải pháp hỗ trợ giáo dục, điển hình là các sản phẩm như G-suite của Google và Microsoft Office, nhằm nâng cao chất lượng học tập và quản lý giáo dục.

Microsoft 365, Edmodo và các giải pháp tương tự đều miễn phí và tích hợp công nghệ hiện đại, nhưng chúng không được thiết kế riêng cho giáo dục, gây khó khăn cho người dùng không quen thuộc với công nghệ Việc tạo khóa học đầy đủ chức năng yêu cầu kết hợp nhiều yếu tố từ các giải pháp này Để sử dụng hiệu quả, các trường phổ thông cần đăng ký tên miền giáo dục (*.edu.vn) và có người thiết kế hệ thống liên thông giữa các đối tượng trong môi trường giáo dục, vì hiện tại chỉ có gói hỗ trợ mà không có gói thiết kế hệ thống cho người dùng.

Xu hướng sử dụng các hệ thống do doanh nghiệp trong nước cung cấp đang ngày càng phổ biến, với các giải pháp như hệ thống ViettelStudy của Viettel và hệ thống e-Learning mới nhất từ VNPT Các hệ thống này đi kèm với khung mẫu có sẵn, giúp giáo viên dễ dàng cập nhật nội dung vào các khung mẫu đó, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy.

Xây dựng khóa học mang lại cảm giác dễ chịu, nhưng nhiều giải pháp hiện tại không hỗ trợ hiệu quả cho việc đánh giá học sinh, đặc biệt trong đánh giá quá trình Hơn nữa, nhiều giải pháp trong xu hướng này yêu cầu học sinh hoặc nhà trường phải chi trả một khoản kinh phí lớn.

Xu hướng thiết kế cá nhân đang ngày càng phổ biến trong giáo dục, khi nhiều giáo viên tự tổ chức các giải pháp hỗ trợ giảng dạy trên nhiều nền tảng như mạng xã hội và website cá nhân Tuy nhiên, điều này có thể gây khó khăn trong việc quản lý chất lượng học tập và nội dung môn học, khiến học sinh phải theo dõi nhiều nền tảng khác nhau, dễ dẫn đến tình trạng bội thực công nghệ và quên mất mục tiêu chính là tiếp thu kiến thức Hơn nữa, sự thiếu chuyên nghiệp trong thiết kế của giáo viên đôi khi còn tạo cảm giác khó chịu cho học sinh.

Việc thiết kế hệ thống e-Learning không chỉ đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà còn cần nhiều yếu tố cấu thành khác nhau Nếu không lựa chọn giải pháp phù hợp và thiết kế không đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay cũng như tiêu chí của người dùng, các hệ thống e-Learning sẽ gặp khó khăn trong việc triển khai lâu dài và phát triển trong môi trường giáo dục phổ thông.

3.1.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông của GV và HS trường THCS Liên Đầm Để có cơ sở thực tiễn cho việc thiết kế hệ thống, chúng tôi tiến hành khảo sát trên tổng số 32 GV hiện trực tiếp giảng dạy các bộ môn tính điểm và 286 HS ở hai khối 8,

Trường THCS Liên Đầm đã tiến hành khảo sát với giáo viên, và các nội dung của phiếu khảo sát được trình bày chi tiết trong phụ lục 1 và phụ lục 2 Kết quả khảo sát đã được tổng hợp và thể hiện qua 3 biểu đồ, giúp minh họa rõ nét các thông tin thu thập được.

Hình 3.2 Biểu đồ so sánh khả năng sử dụng các phần mềm thông dụng của GV trường THCS Liên Đầm

Hình 3.3 Biểu đồ so sánh mức độ ứng dụng Internet để dạy học của GV

Hình 3.4 Biểu đồ so sánh mức độ sử dụng Internet để gửi tài liệu cho HS

Kết quả khảo sát đối với học sinh được thể hiện thông qua các biểu đồ sau:

Hình 3.5 Biểu đồ so sánh khả năng sử dụng các phần mềm của HS

Hình 3.6 Biểu đồ so sánh mục đích và mức độ sử dụng Internet của HS

Hình 3.7 Biểu đồ so sánh mức độ sử dụng các thiết bị có thể truy cập được

Qua các kết quả khảo sát, kết hợp với phỏng vấn chúng tôi nhận thấy rằng:

Nhà trường sở hữu một website tin tức được phát triển trên nền tảng CMS Nukeviet, tuy nhiên chưa có hệ thống hỗ trợ học tập trực tuyến và thư viện tư liệu điện tử Hiện tại, nhà trường có 2 đường truyền Internet tốc độ cao và 2 phòng thực hành tin học với tổng cộng 38 máy tính được kết nối mạng.

Tất cả giáo viên đều được trang bị các thiết bị hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin như máy tính để bàn, laptop và điện thoại thông minh có kết nối Internet tại nhà Hầu hết giáo viên đã ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ở mức độ cơ bản, chủ yếu sử dụng các ứng dụng Office của Microsoft Một số giáo viên thành thạo các phần mềm chuyên dụng cho từng bộ môn và các công cụ soạn thảo e-Learning như Adobe Presenter, Trí Việt Việc hỗ trợ học sinh qua công nghệ thông tin chủ yếu diễn ra qua email và các ứng dụng nhắn tin trên mạng xã hội như Zalo, Messenger Tuy nhiên, giáo viên chưa thực hiện dạy học trực tuyến hoặc tham gia thiết kế khóa học trực tuyến nào.

Triển khai hệ thống e-Learning

Kết quả nghiên cứu cho thấy e-Learning có nhiều ưu điểm và xu hướng ứng dụng trong giáo dục phổ thông là cần thiết Tuy nhiên, việc phát triển hệ thống e-Learning vẫn gặp nhiều hạn chế, chủ yếu chỉ dừng lại ở việc đưa ra các mô hình mà chưa đánh giá đúng nhu cầu và đặc điểm học tập của học sinh Bên cạnh đó, việc khai thác kỹ năng và kinh nghiệm của giáo viên vẫn chưa được chú trọng, mặc dù họ có trình độ kiến thức và kỹ năng về công nghệ thông tin.

GV và HS hiện nay đã có khả năng khai thác hệ thống e-Learning để phục vụ cho dạy và học Do đó, nghiên cứu thiết kế và phát triển một hệ thống e-Learning phù hợp là rất cần thiết để hỗ trợ quản lý, giảng dạy, học tập và đánh giá ở bậc phổ thông.

3.2.1 Các tiêu chí thiết kế hệ thống e-Learning

Dựa trên kết quả khảo sát và phân tích, một hệ thống e-Learning chỉ có thể phù hợp ở bậc phổ thông khi nó đạt được các tiêu chí sau:

Hệ thống e-Learning tại trường phổ thông cần đáp ứng đầy đủ yêu cầu của ba đối tượng chính: nhà quản lý, giáo viên và học sinh Điều này bao gồm việc đảm bảo các chức năng tối thiểu cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó và nhóm trưởng chuyên môn, đồng thời phục vụ nhu cầu giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.

Quản lý Giáo viên Học sinh

 Theo dõi việc tổ chức và dạy học của giáo viên.

 Theo dõi kết quả học tập của học sinh.

 Đưa ra các dự báo giúp định hướng các chính sách điều chỉnh học tập.

 Thiết kế được các khóa học trực tuyến, khóa học kết hợp bằng các công cụ có sẵn phù hợp với khả năng.

 Đánh giá được kết quả học tập của học sinh trong suốt quá trình.

 Hỗ trợ các thao tác lưu trữ và thống kê chất lượng.

 Dễ dàng kết nối và thực hiện được các thao tác trên hệ thống.

 Hỗ trợ kịp thời các thắc mắc cá nhân

 Học được ở nhiều thời điểm khác nhau

 Theo dõi kết quả học tập trong suốt quá trình.

Hình 3.8 Mô tả các nhu cầu cần đạt về chức năng của hệ thống e-Learning ở trường phổ thông

Hệ thống e-Learning cần phân công rõ ràng vai trò và trách nhiệm cho từng thành viên, đảm bảo đáp ứng các chức năng tổ chức hoạt động học tập phổ biến trong trường phổ thông Việc phân quyền cho các đối tượng tham gia trong hệ thống là rất quan trọng để tối ưu hóa hiệu quả học tập.

 Tạo tài khoản người dùng

 Hỗ trợ tương tác người dùng

 Cập nhật các tính năng của hệ thống

 Tạo các danh mục khóa học theo môn học/lớp học.

 Phân quyền quản lý các danh mục.

 Theo dõi, tổng hợp các thông tin liên quan đến danh mục cần quản lý

 Tạo bài giảng, bài kiểm tra.

 Thêm học sinh vào khóa học

 Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả đạt được

 Tham gia vào các khóa học do giáo viên yêu cầu.

 Thực hiện các hoạt động theo tiến trình học tập được gợi ý.

VAI TRÒ CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG TRONG HỆ THỐNG E-LEARNING

Hình 3.9 Mô tả vai trò của người dùng trong hệ thống e-Learning

Hệ thống e-Learning ở trường phổ thông cần linh hoạt trong thiết kế chủ đề học tập để hỗ trợ quá trình dạy học kết hợp giữa lớp học truyền thống và trực tuyến Giáo viên (GV) có quyền chủ động lựa chọn các hoạt động phù hợp cho lớp học và hoạt động trực tuyến, đảm bảo rằng những lựa chọn này phù hợp với khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của từng học sinh (HS) Không nên áp dụng một công cụ khuôn mẫu cho tất cả GV và HS, mà cần thiết kế các hoạt động phù hợp với từng đối tượng người dùng để tối ưu hóa hiệu quả học tập.

Hình 3.10 Các hình thức dạy học tương ứng với truyền thống trên hệ thống 3.2.2 Cấu trúc hệ thống e-Learning

Dựa trên các tiêu chí đã xác định, chúng tôi tiến hành lựa chọn và xây dựng hạ tầng cho hệ thống quản trị dạy học và đánh giá ở bậc phổ thông.

HỆ THỐNG QUẢN TRỊ DẠY HỌC - ĐÁNH GIÁ BẬC PHỔ THÔNG

Quản trị Giáo viên Học sinh

Hình 3.11 Thiết kế tổng quan hệ thống

Hệ thống được xây dựng trên nền tảng công nghệ web server với yêu cầu tiêu chuẩn về phần cứng và phần mềm Các thiết bị truy cập được tận dụng từ nguồn cơ sở vật chất của nhà trường, giáo viên và học sinh, những đối tượng người dùng chính Trong các phần tiếp theo, chúng tôi sẽ mô tả quá trình cài đặt và thiết lập công nghệ cho hệ thống quản trị Dạy học – Đánh giá bậc phổ thông, nhằm đáp ứng các yêu cầu chức năng của hệ thống e-Learning tại trường phổ thông.

HỆ THỐNG QUẢN TRỊ- ĐÁNH GIÁ (LMS)

Tài liệu khóa học Online

Tài liệu khóa học Offline Kiểm tra

Theo dõi quá trình Đăng ký

 Đăng ký bằng tài khoản hỗ trợ

Hệ thống e-Learning được cài đặt bằng mã nguồn mở Moodle, cho phép người dùng tạo khóa học trực tuyến và trang web học tập Moodle, từ phiên bản 3.0 trở đi, đã phát triển nhiều tính năng mới, hỗ trợ tích hợp công nghệ hiện đại và giải pháp bên thứ ba, giúp giảm tải dữ liệu Việc cài đặt Moodle trên host hiện nay trở nên đơn giản với nhiều hướng dẫn chi tiết trên Internet Người dùng chỉ cần chọn gói host phù hợp với quy mô tổ chức và yêu cầu về lưu trữ, bảo mật, sau đó tải gói cài đặt và thực hiện theo hướng dẫn.

Moodle mang lại nhiều ưu điểm cho việc thiết kế bài học, cho phép giáo viên cấu trúc nội dung dưới dạng thể loại, phân loại hoặc lược đồ Điều này giúp giáo viên chủ động thiết kế khóa học theo định hướng cá nhân, rất quan trọng trong việc xây dựng các hệ thống e-Learning hỗ trợ mô hình dạy học kết hợp ở bậc phổ thông, vì mỗi bộ môn có những yêu cầu và đặc thù riêng.

Giáo viên (GV) áp dụng nhiều phương pháp thiết kế khác nhau trong giảng dạy, tùy thuộc vào khả năng tiếp cận và yêu cầu đạt được của học sinh (HS) Họ chủ động xây dựng chiến lược thiết kế phù hợp cho từng lớp học, đảm bảo vẫn đạt được các mục tiêu giáo dục đề ra.

Mỗi một tính năng trong Moodle được gắn liền với một chức năng giảng dạy và nó ánh xạ với những thuyết học tập

Bảng 3.1 Mô tả các tính năng của Moodle với các chức năng giảng dạy gắn liền với thuyết học tập (Nguồn :Susan (2016) [34] )

Những tính năng này đảm bảo sự tương tác đa chiều giữa nhà quản lý với GV, giữa GV với HS, giữa nhà quản lý với HS

Hệ thống cho phép triển khai rộng rãi và phân quyền sâu cho từng đối tượng, giúp quản trị viên có thể thêm các đối tượng không mặc định như giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh và người hỗ trợ Điều này mang lại cho họ các chức năng phù hợp với vai trò đã được xác định, từ đó giúp các tổ chức giáo dục xây dựng đội ngũ quản trị và giám sát phù hợp với từng chức năng cụ thể.

Moodle là nền tảng mã nguồn mở do đội ngũ giáo dục toàn cầu quản lý, luôn cập nhật theo công nghệ và sự đa dạng trong giáo dục Việc cài đặt Moodle trên server dễ dàng, khiến nó trở thành lựa chọn hàng đầu cho các cơ sở giáo dục đại học và tổ chức giáo dục lớn trên toàn thế giới.

Mặc dù Moodle mang lại nhiều lợi ích, nhưng nó cũng có những hạn chế, như dung lượng lưu trữ lớn do phần mềm này chiếm dụng Khi số lượng người dùng tăng lên, hệ thống có thể phát sinh một lượng lớn file trong bộ nhớ đệm, dẫn đến việc các gói hosting có giới hạn về số lượng file upload dễ bị tràn, gây khó khăn trong việc truy cập hệ thống.

Để cải thiện hệ thống Moodle, người dùng cần nắm vững mối liên kết giữa các bảng và cột dữ liệu trong cơ sở dữ liệu, do số lượng lớn dữ liệu có thể gây khó khăn trong việc quản lý và tối ưu hóa.

Hình 3.13 Tổng quan cấu trúc hệ thống Moodle – Nguồn : examualator.com

Dung lượng RAM và tốc độ CPU trên máy chủ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ và khả năng truy cập của hệ thống, do đó, việc lựa chọn phần cứng cho trường học cần phải mạnh mẽ, dẫn đến chi phí dịch vụ cao Ngoài ra, Moodle thường bị đánh giá là phức tạp và khó sử dụng cho những người quản lý thiếu kinh nghiệm, cùng với một số hạn chế trong việc hỗ trợ xuất báo cáo và quản lý.

Tổ chức quá trình học tập với hệ thống e-Learning

Việc thiết kế hệ thống e-Learning cần kết hợp với hình thức tổ chức dạy học hiệu quả Chúng tôi đề xuất xây dựng các hoạt động dạy học theo từng chủ đề, với năm hoạt động thành phần, mỗi hoạt động chia thành bốn bước, nhằm tạo ra môi trường học tập tích cực cho học sinh Sau khi bổ sung các plugin, hệ thống e-Learning cung cấp đa dạng hoạt động và tài nguyên, giúp giáo viên và học sinh linh hoạt trong quá trình dạy và học Sự lựa chọn thời điểm dạy học trực tuyến hay trên lớp phụ thuộc vào khả năng tiếp cận công nghệ, khả năng truy cập hệ thống và đặc thù môn học, đảm bảo hệ thống e-Learning phù hợp với khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên và đặc điểm tâm lý học sinh.

Để thêm một hoạt động hoặc tài nguyên vào khóa học trên hệ thống e-Learning, người dùng cần thực hiện các bước cụ thể trong quy trình học tập.

Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ học tập cho học sinh thông qua việc yêu cầu đọc, nghe, xem và thảo luận Để hỗ trợ học sinh, giáo viên cung cấp các tài nguyên như video, hình ảnh, tệp nhúng và nhãn Hoạt động này được định hướng bằng các hướng dẫn cụ thể thông qua kế hoạch học tập hoặc chỉ dẫn chi tiết.

Học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập bằng cách tiếp cận nguồn học liệu điện tử và tham gia trao đổi qua diễn đàn thảo luận do giáo viên thiết lập Họ cũng có thể giao tiếp qua tin nhắn trong hệ thống hoặc thảo luận trực tiếp trên lớp về các nội dung liên quan, tùy thuộc vào mức độ của nhiệm vụ.

Báo cáo kết quả và thảo luận cho thấy học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập thông qua việc trả lời khảo sát, làm bài kiểm tra và nộp sản phẩm dưới dạng file đính kèm Dựa trên kết quả thu được, giáo viên tổ chức các hoạt động thảo luận nhằm nhấn mạnh, làm rõ và củng cố kiến thức trọng tâm cho học sinh, đồng thời hỗ trợ những học sinh chưa hoàn thành tiến độ học tập.

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập là một phần quan trọng trong giáo dục, trong đó giáo viên có thể thiết lập khung năng lực theo chuẩn năng lực liên quan đến khóa học Mỗi hoạt động của học sinh trong quá trình học tập sẽ được đánh dấu hoàn thành, có thể thực hiện thủ công hoặc tự động, và mức độ đạt được sẽ được đánh giá theo thang của khung năng lực Điều này giúp xác định kết quả cuối cùng của việc hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách chính xác và hiệu quả.

Hình 3.23 Theo dõi tiến độ hoàn thành khóa học của từng học sinh

Trong quá trình học tập và đánh giá, các hoạt động chủ đạo như diễn đàn thảo luận, thông báo, tin nhắn, và các dạng kiểm tra được tổ chức theo trình tự hợp lý dựa trên tình huống sư phạm mà giáo viên đặt ra Điều này cho phép giáo viên trong cùng một nhóm hoặc tổ chuyên môn hợp tác biên soạn một chủ đề, phân chia vai trò cho từng thành viên trong việc soạn thảo các hoạt động thành phần.

Chuyển đổi các bài kiểm tra trắc nghiệm từ hình thức giấy sang hệ thống trực tuyến sẽ tạo ra một ngân hàng câu hỏi ôn tập cho học sinh Chức năng phản hồi theo đáp án giúp học sinh tự kiểm tra và đánh giá mức độ hiểu biết của mình, đồng thời giáo viên cũng tiết kiệm thời gian trong việc chấm điểm và sửa lỗi cho học sinh.

Giáo viên có thể chủ động tạo danh sách thành viên cho khóa học dựa trên danh sách lớp được cung cấp bởi quản trị hệ thống Họ có khả năng phân nhóm học viên trước hoặc sau khi lập danh sách thành viên cho lớp học.

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Ngày đăng: 17/05/2021, 14:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Trương Thị Phương Chi (2017), Xây dựng và sử dụng e-learning vào dạy học các kiến thức hạt nhân nguyên tử vật lí 12 THPT theo mô hình lớp học đảo ngược, Vinh, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng e-learning vào dạy học các kiến thức hạt nhân nguyên tử vật lí 12 THPT theo mô hình lớp học đảo ngược
Tác giả: Trương Thị Phương Chi
Nhà XB: Đại học Vinh
Năm: 2017
12. Vũ Hữu Đức (2020), Nghiên cứu về phương thức học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin (E-learning) trong giáo dục Đại học và đào tạo trực tuyến mở dành cho đại chúng MOOCs (Massive Online Open Courses): Kinh nghiệm thế giới và ứng dụng tại Việt Nam.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về phương thức học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin (E-learning) trong giáo dục Đại học và đào tạo trực tuyến mở dành cho đại chúng MOOCs (Massive Online Open Courses): Kinh nghiệm thế giới và ứng dụng tại Việt Nam
Tác giả: Vũ Hữu Đức
Năm: 2020
13. Allen I.E., Seaman J. và Garrett R. (2007), Blending in: The extent and promise of blended education in the United States., ERIC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blending in: The extent and promise of blended education in the United States
Tác giả: Allen I.E., Seaman J., Garrett R
Nhà XB: ERIC
Năm: 2007
14. Alzaghoul A.F. (2012), "The implication of the learning theories on implementing e-learning courses", The Research Bulletin of Jordan ACM, 11(11), pp. 27-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The implication of the learning theories on implementing e-learning courses
Tác giả: Alzaghoul A.F
Nhà XB: The Research Bulletin of Jordan ACM
Năm: 2012
15. Anthony P. và Jeff S. (2009), "K-12 Online Learning: A 2008 Follow-up of the Survey of U.S. School District Administrators&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: K-12 Online Learning: A 2008 Follow-up of the Survey of U.S. School District Administrators
Tác giả: Anthony P., Jeff S
Năm: 2009
17. Cross J. (2004), "An informal history of eLearning", on The Horizon, 12, pp. 103-110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An informal history of eLearning
Tác giả: Cross J
Năm: 2004
18. Faiella F. và Ricciardi M. (2015), "Gamification and learning: a review of issues and research", Journal of e-Learning and Knowledge Society, 11(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gamification and learning: a review of issues and research
Tác giả: Faiella F., Ricciardi M
Nhà XB: Journal of e-Learning and Knowledge Society
Năm: 2015
19. Graham C.R. (2006), "Blended learning systems", The handbook of blended learning: Global perspectives, local designs, pp. 3-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The handbook of blended learning: Global perspectives, local designs
Tác giả: Graham C.R
Năm: 2006
20. Graham C.R. (2014), "Developing models and theory for blended learning research", Blended Learning: Research Perspectives, Volume 2, 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blended Learning: Research Perspectives
Tác giả: Graham C.R
Năm: 2014
21. Giurgiu L. (2017), "Microlearning an Evolving Elearning Trend", Scientific Bulletin, 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microlearning an Evolving Elearning Trend
Tác giả: Giurgiu L
Nhà XB: Scientific Bulletin
Năm: 2017
22. Hwang D.J., Yang H.K. và Kim H. (2010), E-Learning in the Republic of Korea Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-Learning in the Republic of Korea
Tác giả: Hwang D.J., Yang H.K., Kim H
Năm: 2010
23. Intel (2012), The Positive Impact of eLearning, White paper: Education TransformationIntel Sách, tạp chí
Tiêu đề: White paper: Education Transformation
Tác giả: Intel
Năm: 2012
24. Kellman P.J. (2013), "Adaptive and Perceptual Learning Technologies in Medical Education and Training", Military Medicine, 178(suppl_10), pp. 98- 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adaptive and Perceptual Learning Technologies in Medical Education and Training
Tác giả: Kellman P.J
Năm: 2013
25. Kim S., Song K., Lockee B. và Burton J. (2018), What is Gamification in Learning and Education?, in: Gamification in Learning and Education: Enjoy Learning Like Gaming, Kim S., Song K., Lockee B. và Burton J., Editors., Springer International Publishing, Cham. pp. 25-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gamification in Learning and Education: Enjoy Learning Like Gaming
Tác giả: Kim S., Song K., Lockee B., Burton J
Nhà XB: Springer International Publishing
Năm: 2018
27. Mửdritscher F. (2006), "E-learning theories in practice: A comparison of three methods", Journal of Universal Science and Technology of Learning, 28, pp. 3- 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-learning theories in practice: A comparison of three methods
Tác giả: Mửdritscher F
Năm: 2006
28. Mohammad N. và Ebrahim N. (2012), "Impact of E-Learning on Learning and Realizing Information Society", Research Journal of Applied Sciences,Engineering and Technology, 4, pp. 5016-5020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of E-Learning on Learning and Realizing Information Society
Tác giả: Mohammad N., Ebrahim N
Nhà XB: Research Journal of Applied Sciences, Engineering and Technology
Năm: 2012
29. Molas C.N. và Fuertes A.M. (2018), "E-Learning Research Report 2017. Analysis of the main topics in research indexed articles&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-Learning Research Report 2017. Analysis of the main topics in research indexed articles
Tác giả: Molas C.N., Fuertes A.M
Năm: 2018
30. O'Lawrence H. (2005), "A review of distance learning influences on adult learners: advantages and disadvantages&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of distance learning influences on adult learners: advantages and disadvantages
Tác giả: O'Lawrence H
Năm: 2005
32. Singh G., O'Donoghue J. và Worton H. (2005), "A study into the effects of elearning on higher education", Journal of University Teaching & Learning Practice, 2(1), pp. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A study into the effects of elearning on higher education
Tác giả: Singh G., O'Donoghue J., Worton H
Nhà XB: Journal of University Teaching & Learning Practice
Năm: 2005
33. Staker H. và Horn M.B. (2012), Classifying K-12 Blended Learning, Innosight Institute Sách, tạp chí
Tiêu đề: Classifying K-12 Blended Learning
Tác giả: Staker H., Horn M.B
Nhà XB: Innosight Institute
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w