1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa tăng trưởng và việc làm trong ngành du lịch tỉnh khánh hòa

105 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ các kết quả nghiên cứu và dựa trên quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, luận văn đã đưa ra năm nhóm giải pháp để gia tăng việc làm để thúc đẩy tă

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN LONG CHƯƠNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG VÀ VIỆC LÀM TRONG NGÀNH DU LỊCH TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN LONG CHƯƠNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG VÀ VIỆC LÀM TRONG NGÀNH DU LỊCH TỈNH KHÁNH HÒA

PGS.TS LÊ KIM LONG

Phòng Đào tạo sau đại học:

KHÁNH HÒA - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Mối quan hệ giữa tăng tưởng và việc làm trong

ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu

trong nghiên cứu này được thu thập, phân tích và tổng hợp trung thực Kết quả nghiên cứu báo cáo trong luận văn này chỉ tham khảo một số nghiên cứu đi trước, đồng thời tổng hợp lại theo phương pháp khoa học và chưa được trình bày hay công bố ở công trình nghiên cứu nào khác trước đây

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các giảng viên thuộc trường Đại học Nha Trang, đặc biệt là Phòng Sau Đại học, Khoa kinh tế đã dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu làm nền tảng cho việc thực hiện luận văn này

Tôi đặc biệt cảm ơn TS Phạm Hồng Mạnh đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để tôi

có thể hoàn tất luận văn cao học này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả gia đình, bạn bè, Cộng sự và những người

đã giúp tôi trả lời bảng câu hỏi khảo sát làm nguồn dữ liệu cho việc phân tích và cho ra kết quả nghiên cứu của luận văn cao học này

Cuối cùng, tôi hết lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình đã động viên

và tạo động lực để tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt đẹp

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chính 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu 4

1.7 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6

2.1 Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế - du lịch 6

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế 6

2.1.2 Du lịch 8

2.2 Các lý thuyết về việc làm 12

2.2.1 Tổng quan về lao động 12

2.2.2 Tổng quan về Việc làm và thất nghiệp 14

2.2.3 Các học thuyết kinh tế và việc làm 17

2.3 Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và việc làm 20

2.3.1 Độ co giãn của Việc làm 20

Trang 6

2.3.2 Đo lường độ co giãn của Việc làm 20

2.4 Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan 22

Tóm tắt chương 2 27

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 28

3.1 Phương pháp tiếp cận 28

3.2 Quy trình nghiên cứu 28

3.3 Phương pháp ước lượng 29

3.3.1 Phương pháp ICOR của mô hình Harrod – Domar 30

3.3.2 Phương pháp ước lượng tích lũy vốn đầu tư 31

3.4 Xây dựng mô hình nghiên cứu 31

3.4.1 Mô hình phân tích quan hệ giữa tăng trưởng du lịch và việc làm 31

3.4.2 Mô hình phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố tăng trưởng du lịch đến tăng trưởng trong ngành du lịch 32

3.5 Dữ liệu nghiên cứu 36

3.6 Các phương pháp phân tích dữ liệu 37

Tóm tắt chương 3 37

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tỉnh Khánh Hòa 38

4.1.1 Vị trí địa lý 38

4.1.2 Điều kiện tự nhiên 39

4.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hòa 39

4.2 Thực trạng về tăng trưởng kinh tế và du lịch Tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn 2006-2019 43

4.2.1 Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng kinh tế 43

4.2.2 Tình hình phát triển du lịch của Khánh Hòa 46

4.2.3 Thực trạng phát triển du lịch Khánh Hoà 62

4.3 Việc làm trong lĩnh vực du lịch 63

4.4 Mối quan hệ giữa tăng trưởng du lịch và việc làm của lao động Tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2006 - 2019 65

Trang 7

4.4.1 Kết quả phân tích dữ liệu 65

4.4.2 Kết quả ước lượng mô hình về mối quan hệ giữa tăng trưởng du lịch và việc làm tỉnh Khánh Hòa 65

4.4.3 Dự báo về Việc làm trong ngành du lịch của tỉnh Khánh Hòa 71

Tóm tắt chương 4 72

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 74

5.1 Mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh Khánh Hòa 74

5.2 Một số hàm ý quản trị nhằm giải quyết việc làm và thúc đẩy tăng trưởng du lịch tại Tỉnh Khánh Hòa 75

5.2.1 Chính sách giải quyết và hỗ trợ Việc làm 75

5.2.2 Đẩy nhanh hoạt động đào tạo nghề, nâng cao trình độ của lao động 75

5.2.3 Kiểm soát tỷ lệ tăng dân số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch 77

5.2.4 Chính sách tăng trưởng và phát triển nguồn lực cho tăng trưởng 78

5.2.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành du lịch 78

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GRDP Gross Regional Domestic Product Tổng sản phẩm trên địa bàn

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế và co giãn việc làm 22

Bảng 4.1: Giá trị sản xuất các khu vực sản xuất chính của Khánh Hòa 2002-2019 44

Bảng 4.2: Tổ chức du lịch tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2014-2020 46

Bảng 4.3: Giá trị sản xuất của du lịch Khánh Hòa giai đoạn 2014 – 2019 48

Bảng 4.4: Tổng mức bán lẻ sản phẩm và doanh thu dịch vụ giai đoạn 2015-2020 49

Bảng 4.5: Lượng khách du lịch đến Khánh Hòa giai đoạn 2018-2020 50

Bảng 4.6: Ngày khách lưu trú tại Khánh Hòa giai đoạn 2018-2020 51

Bảng 4.7: Hiện trạng cơ sở lưu trú của Khánh Hòa giai đoạn 2015 - 2019 52

Bảng 4.8: Chi tiêu bình quân của khách du lịch tại Khánh Hòa 53

Bảng 4.9: Nhân lực trong ngành du lịch của Khánh Hòa 64

Bảng 4.10: Kết quả thống kê mô tả về Tăng trưởng du lịch, Vốn đầu tư và việc làm trong lĩnh vực du lịch của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2006- 2019 65

Bảng 4.11: Kết quả ước lượng mô hình hồi qui 66

Bảng 4.12: Đóng góp của Việc làm vào Tăng trưởng du lịch 67

Bảng 4.13: Kiểm định nghiệm đơn vị (Unit Root test) 68

Bảng 4.14: Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu 69

Bảng 4.15: Kết quả kiểm định đồng liên kết 69

Bảng 4.16: Kết quả ước lượng VAR 70

Bảng 4.17: Các kị ch bản về tăng trưởng và việc làm của tỉnh Khánh Hòa 71

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ phân loại lực lượng lao động 13

Hình 2.2: Năng lực người lao động thể hiện chất lượng nguồn lao động 14

Hình 2.3: Sơ đồ chuyển dịch giữa các khu vực 19

Hình 3.1: Khung phân tích của nghiên cứu 28

Hình 3.2: Qui trình nghiên cứu 29

Hình 3.3: Quy trình phân tích mô hình var 36

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Khánh Hòa là một trong những tỉnh là trung tâm du lịch lớn của cả nước và được nhiều du khách quốc tế ghé thăm Nhiều năm qua, du lịch Khánh Hòa tăng trưởng ổn định so với mặt bằng chung của cả nước và là một trong những tỉnh thành đóng góp lớn vào nguồn thu ngân sách của quốc gia Trong giai đoạn 2005-2020, du lịch Khánh Hòa có nhiều cơ hội mới nhưng cũng nhiều khó khăn, thách thức do Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường và chịu sự tương tác từ các biến động về kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới và khu vực Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, cần phải xác định được các yếu tố nguồn lực có ảnh hưởng đến tăng trưởng, từ đó có các chính sách, biện pháp tác động phù hợp vào các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế Do vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng và việc làm trong lĩnh vực du lịch có ý nghĩa rất quan trọng

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, kể từ năm 2005 đến nay, du lịch của Khánh Hòa đã đạt được những thành tựu quan trọng, mặc dù có những năm kinh tế của tỉnh gặp những khó khăn, bất lợi nhưng nhìn chung quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh tăng liên tục, tốc độ tăng trưởng du lịch cao, đột phá và quyết định tăng trưởng chung của toàn tỉnh Tỷ trọng đóng góp của lao động vào tăng trưởng tỉnh bình quân cả giai đoạn chiếm khoảng 50 – 70% trong tăng trưởng du lịch

Có mối liên hệ giữa việc làm với tăng trưởng du lịch trong dài hạn Từ các kết quả nghiên cứu và dựa trên quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, luận văn đã đưa ra năm nhóm giải pháp để gia tăng việc làm để thúc đẩy tăng trưởng du lịch của tỉnh trong dài hạn: hỗ trợ việc làm, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, kiểm soát tăng dân số, chính sách tăng trưởng NNL và nâng cao chất lượng lao động

Từ khóa: việc làm, tăng trưởng du lịch, Khánh Hòa

Trang 12

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ nhiều năm qua, mối quan hệ giữa tăng kinh tế và việc làm cũng được khá nhiều tác giả nghiên cứu Một số nghiên cứu điển hình có thể kể đến như: Gideon Kiguru Thuku, Gachanja Paul và Obere Almadi (2013), Schmid (2008), Phạm Hồng Mạnh & Đồng Trung Chính (2014) v.v Các nghiên cứu đã giúp quá trình khái quát hóa về lý thuyết và phương pháp tiếp cận trong việc phân tích giữa tăng trưởng kinh tế nói chung và việc làm nói riêng Cùng với đó, việc làm luôn là một trong những vấn

đề được tất cả các nhà khoa học, các cấp quản lý và người lao động quan tâm hàng đầu Thực tế là thị trường việc làm hiện cũng đang diễn ra hết sức sôi nổi và phức tạp thể hiện qua các mối quan hệ hữu cơ với tăng trưởng kinh tế Việc làm là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội lớn nhất hiện nay ở bất kỳ quốc gia nào

Trong tiến trình đổi mới và phát triển ở Việt Nam, cùng bối cảnh và xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mỗi quốc gia để tận dụng lợi thế cạnh tranh, ngành du lịch được xác định là một trong những ngành kinh tế quan trọng, có vai trò chủ đạo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong tác động mạnh vào nền công nghiệp và quá trình hiện đại hóa nền kinh tế của mỗi quốc gia Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, ngành du lịch của Việt Nam có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với sức mạnh quốc gia, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, mở rộng mối giao lưu hợp tác toàn diện với cộng đồng quốc tế, làm tăng sự hiểu biết và truyền thông nền văn hóa giữa các quốc gia v.v Nền kinh tế được đánh giá là có tỷ lệ tăng trưởng tốt thì một trong những lý do cơ bản là đã tối ưu hóa được nguồn nhân lực của xã hội Tăng trưởng kinh tế thường tỷ lệ nghịch với tỷ lệ thất nghiệp, nền kinh tế phát triển tốt tạo ra nhiều việc làm hơn cho xã hội Như vậy, tăng trưởng du lịch và việc làm có mối quan hệ tác động và ảnh hưởng, do đó, nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng du lịch, việc làm cho người lao động là một trong những nhiệm vụ cấp thiết để tìm ra những đòn bẩy kinh tế - xã hội tác động vào các yếu tố nhằm tăng hiệu quả của điều tiết vĩ mô

Khánh Hòa là một trong những địa phương phát triển du lịch mạnh mẽ và nổi bật

ở Việt Nam với nhiều lợi thế cạnh tranh do tự nhiên và lịch sử đem lại, đó là: Địa hình

đa dạng; có tất cả các ngoại cảnh phong phú như rừng, núi, đồng bằng, bờ biển, hải đảo, vũng, vịnh v.v…; vùng biển rộng, bờ biển dài với 200 hòn đảo lớn, nhỏ; nhiệt độ

Trang 13

ôn hòa, ấm áp, nhiều ánh nắng (riêng Nha Trang mùa mưa chỉ kéo dài 2 tháng) Khánh Hòa nằm trên đường trục giao thông quốc gia với tuyến đường Quốc lộ và tuyến đường sắt trọng điểm xuyên quốc gia, đường quốc lộ nối Khánh Hòa với các tỉnh Tây Nguyên; mọi cơ sở hạ tầng quan trọng như cảng hàng không, cảng biển, đường biển ra hải phận quốc tế đều hiện hữu Bờ biển kéo dài gần 400 km, dải cát trắng mịn ven bờ tạo nên vô số bãi tắm đẹp, nước trong xanh, không có các loài cá dữ và nước xoáy ngầm Những dãy núi cao chạy ra biển Đông vừa là kỳ quan thiên nhiên, vừa che chắn gió cho các đầm và vịnh Mới đây, Vịnh Nha Trang vừa được Hiệp hội các vịnh đẹp Quốc tế công nhận là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới (Theo kết quả bình chọn trực tuyến thực hiện trên website https://world-bays.com/) Các ưu thế từ thiên nhiên

đã tạo nên một địa danh với thương hiệu Khánh hòa, cùng với các sản phẩm du lịch đa dạng và lý thú như các khu du lịch sinh thái liên quan đến biển và bờ biển, các khu nghỉ dưỡng cho các nhu cầu khác nhau, các hoạt động vui chơi giải trí trên và dưới mặt nước như bơi, lặn, các hoạt động du lịch khám phá đảo và thềm lục địa v.v Suốt thời gian qua, với lợi thế của địa hình tự nhiên, cùng với định hướng đúng đắn dưới sự quan tâm của Đáng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2010-2015), lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2015-2020) đã chỉ ra rõ vai trò và tầm quan trọng của phát triển ngành du lịch trong cơ cấu kinh tế, xã hội và văn hóa của tỉnh, từ đó, Du lịch Khánh Hòa đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm gần hai mươi phần trăm, khách du lịch trong nước và quốc tế liên tục tăng qua các năm v.v , và nhiều kết quả tích cực khác (Tỉnh Ủy Khánh Hòa, 2020) Hội tụ nhiều ưu đãi về tự nhiên và công sức sáng tạo của con người, hơn 20 năm đầu tư phát triển du lịch, Khánh Hòa đang từng bước vị thế là một địa danh du lịch tầm cỡ quốc gia và quốc tế Mặc dù vậy, nếu xem xét trong bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế với năng lực sẵn có, thì các thành tựu đã đạt được của ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa vẫn chưa vươn tới kỳ vọng, ngược lại, trong tiến trình phát triển, du lịch Khánh Hòa đang đối diện với nhiều thách thức

Để du lịch Khánh Hòa có thể phát triển mạnh và bền vững, tối ưu hóa các nguồn lực trong giai đoạn tới, đòi hỏi tất cả phải có những giải pháp tổng thể từ vĩ mô đến vi

mô để giải quyết nhiều vấn đề thách thức, cụ thể như khai thác và tìm kiếm các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, môi trường, cơ chế chính sách v.v Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra các giải pháp khắc phục là một yêu cầu bức

Trang 14

thiết, nhằm khai thác tối đa mọi nguồn lực và phát huy hết tiềm năng sẵn có của Khánh Hòa để hoạt động kinh doanh du lịch thật sự có hiệu quả, đóng góp vào tiến trình tăng trưởng kinh tế và hoàn thiện xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng của nền công nghiệp 4.0, tương xứng với tiềm năng và tầm vóc của một Trung tâm du lịch lớn tầm cỡ quốc gia và quốc tế

Với những vấn đề trình bày trên, cùng với mong muốn được tìm hiểu và đóng

góp kiến thức của mình, nên tôi chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa tăng trưởng và việc

làm trong ngành du lịch tại tỉnh Khánh Hòa” làm luận văn tốt nghiệp của mình

Nếu đề tài này nghiên cứu thành công sẽ đưa ra ra một bức tranh khá hoàn chỉnh

về thực trạng tăng trường du lịch và việc làm tại Tỉnh Khánh Hòa, đồng thời đưa ra những bằng chứng thực nghiệm từ kết quả nghiên cứu giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước có thêm những căn cứ phục vụ cho quá trình ra quyết định chính sách phát triển kinh tế, Việc làm du lịch tại Khánh Hòa trong tương lai

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá diễn biến tăng trưởng và việc làm trong ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa

- Ước lượng hệ số co giãn việc làm trong ngành du lịch phát tỉnh Khánh Hòa

- Kiểm định mối quan hệ giữa tăng trưởng và việc làm trong ngành du lịch của Khánh Hòa

- Đề xuất một số giải pháp/hàm ý quản trị nhằm giải quyết việc làm và thu nhập cho lao động trong ngành du lịch tại Khánh Hòa

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài “Mối quan hệ giữa tăng trưởng và việc làm trong ngành du lịch tại tỉnh Khánh Hòa” sẽ giải quyết các câu hỏi nghiên cứu:

(1) Diễn biến tăng trưởng và việc làm trong ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa như thế nào?

Trang 15

(2) Hệ số co giãn việc làm trong ngành du lịch phát tỉnh Khánh Hòa hiện nay ra sao? (3) Có mối quan hệ giữa tăng trưởng và việc làm trong ngành du lịch của tỉnh Khánh Hòa?

(4) Những hàm ý quản trị, chính sách nào nhằm thúc đẩy tăng trưởng và giải quyết Việc làm trong ngành du lịch của Khánh Hòa trong giai đoạn tới?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến tăng trưởng du lịch,

Việc làm và thu nhập tại tỉnh Khánh Hòa

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những phạm vi chủ yếu sau:

 Phạm vi về không gian: nghiên cứu ảnh hưởng của các tăng trưởng du lịch đến

Việc làm tại Khánh Hòa

 Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập về Việc làm, thu nhập tại Khánh Hòa

trong giai đoạn 2010-2020

 Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu sử dụng các lý thuyết về Việc làm và thu

nhập để xây dựng mô hình nghiên cứu và kiểm định về mối quan hệ giữa tăng trưởng

du lịch và thu nhập của lao động tại tỉnh Khánh Hòa

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm: Phương pháp thống kê; Phương pháp tổng hợp và so sánh; Phương pháp quy nạp và mô hình hoá

Luận văn sử dụng mô hình nghiên cứu định lượng nhằm khám phá ra mối quan

hệ hữu cơ giữa tăng trưởng du lịch, Việc làm trên bộ dữ liệu thứ cấp theo chuỗi thời gian để ước lượng mối liên hệ này Từ đó xác định độ co giãn của Việc làm và thu nhập theo tốc độ tăng trưởng du lịch của tỉnh Khánh Hòa để dự báo tình hình lao động Việc làm, thu nhập cho giai đoạn 2021-2025

Nguồn dữ liệu sử dụng được thu thập từ Tổng cục thống thống kê và Cục thống

kê Tỉnh Khánh Hòa, các sở ban ngành liên quan như Sở văn hóa, thể thao và du lịch,

Sở kế hoạch đầu tư, Trung tâm thông tin du lịch, Sở Công thương, các báo cáo nghiên cứu liên quan đến Việc làm Tỉnh Khánh Hòa, dữ liệu từ internet v.v

1.6 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu

Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu sẽ hệ thống hóa và góp phần làm rõ cơ sở lý

luận về các mối quan hệ tăng trưởng với Việc làm trong ngành du lịch

Trang 16

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này sẽ là một trong những đóng góp hỗ trợ thông

tin ra quyết định và chính sách của các đơn vị, tổ chức thuộc cơ quản quản lý nhà nước của tỉnh Khánh Hòa, những luận cứ khoa học về thực trạng tăng trưởng, lao động Việc làm trong ngành du lịch của tỉnh trong giai đoạn trước 2020 và đề xuất cho giai đoạn đến 2025

- Từ kết quả nghiên cứu của luận án, mong muốn góp phần khám phá thực tiễn khách quan về mối quan hệ giữa tăng trưởng Việc làm trong ngành du lịch từ đó đưa

ra các giải pháp chính sách tăng trưởng Việc làm trong ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2021 - 2025

- Ngoài ra, đề tài còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, những người nghiên cứu tiếp theo và cơ sở cho các nghiên cứu tương tự ở các địa phương khác

1.7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Chương 1 - phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận

văn gồm bốn phần (chương) cụ thể nội dung như sau:

Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Đây là các lý

thuyết cơ bản làm căn cứ khoa học nền tảng cho nghiên cứu và đề xuất của luận văn Nội dung của phần này bao gồm việc tổng hợp và phân tích các vấn đề liên quan đến

từ các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả, các nhà khoa học trong nước

và quốc tế đã thực hiện, cũng nhằm mục đích tìm kiếm những căn cứ khoa học quan trọng để phục vụ nghiên cứu đề tài luận văn

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung của phần này là các vấn đề

liên quan đến Phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài Các nội dung này bao gồm từ việc xây dựng mô hình nghiên cứu, thiết lập giả thuyết, quy trình khoa học, thu thập dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Sau khi đã xây dựng được các

thang đo cho các thành phần trong mô hình nghiên cứu, tác giả tập trung phân tích mối

quan hệ giữa các yếu tố và thảo luận vấn đề

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Phần này là những đánh giá và kết luận

chung cho cả luận văn Nội dung bao gồm việc tổng kết các nghiên cứu, đưa ra nhận xét và đề xuất Cuối cùng là việc mô tả những kết quả đã thực hiện được và những đóng góp cũng như mặt còn hạn chế của luận văn về mặt khoa học, phương pháp cũng như ý nghĩa thực tiễn

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế - du lịch

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

2.1.1.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm hay là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định” (Phan Thúc Huân, 2006; Nguyễn Trọng Hoài 2013) Tăng trưởng kinh tế là tỷ lệ tăng sản lượng thực tế, là kết quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của một nền kinh tế tạo ra Sự tăng trưởng kinh tế được so sánh với các năm gốc kế tiếp nhau được gọi là tốc độ tăng trưởng kinh

tế (Nguyễn Trọng Hoài, 2013) Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định (Nguyễn Trọng Hoài, 2013)

Cũng theo Nguyễn Trọng Hoài (2013), tăng trưởng kinh tế được biểu hiện bởi hai cách Cách thứ nhất là sự tăng lên của: (1) Tổng sản phẩm quốc dân (GNI); (2) Sản phẩm quốc dân ròng (NNP); (3) Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); (4) Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI) Cách thứ nhất này đơn thuần chỉ thể hiện việc mở rộng sản lượng quốc gia của một nước Cách thứ hai là sự tăng lên theo đầu người của các chỉ tiêu trên, cụ thể là: (1) Tổng sản phẩm quốc dân tính trên đầu người (GNI/đầu người); (2) Sản phẩm quốc dân ròng trên đầu người (NNP/đầu người); (3) Tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người (GDP/đầu người); (4) Thu nhập quốc dân sử dụng trên đầu người (NDI/đầu người) Phương pháp này thông qua các chỉ tiêu để có thể so sánh mức sống giữa các quốc gia khác nhau

2.1.1.2 Vai trò của tăng trưởng kinh tế quốc gia

Tăng trưởng kinh tế vừa là tiền đề và cũng là kết quả của điều hành kinh tế của

cơ quan chính phủ ở mỗi quốc gia Nó là mục tiêu đầu tiên mà các chính phủ hướng tới để vượt qua tình trạng kinh tế yếu kém, suy thoái, lạc hậu; nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống, đồng thời, nó là điều kiện để tạo thêm Việc làm, giảm thất nghiệp và nâng cao mức sống của nhân dân, là nền tảng củng cố an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia

Mặc dù mục tiêu và vai trò của phát triển kinh tế hết sức quan trọng, nhưng cũng cần lưu ý việc thực hiện thúc đẩy tăng trưởng phải hợp lý Tăng trưởng thích hợp

Trang 18

với khả năng của quốc gia ở từng thời kỳ nhất định Tăng trưởng bền vững là cách mà nhiều quốc gia lựa chọn, trái ngược với tăng trưởng “nóng” ở một số quốc gia châu Á

Vì vậy, tăng trưởng kinh tế hợp lý tức là thích hợp với khả năng và nguồn lực của mỗi quốc gia trong một thời kỳ

2.1.1.3 Đo lường tăng trưởng kinh tế

Thông thường, khi đánh giá tăng trưởng kinh tế, các học giả đi trước thường sử dụng phương pháp đo lường mức độ tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng hoặc tốc

độ tăng trưởng trung bình hàng năm trong một thời kỳ nhất định

Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế có thể là: Giá trị sản xuất (GO); Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); Tổng sản phẩm quốc dân (GNP); Tổng thu nhập quốc dân (GNI); Thu nhập quốc dân (NI); Tổng sản phẩm tính bình quân đầu người (GDP/đầu người) Tùy thuộc vào bối cảnh riêng của mỗi quốc gia mà sử dụng khác nhau, những quốc gia xuất khẩu vốn thì dùng GNP, nhập khẩu vốn như Việt Nam thì dùng GDP

Một số công thức đo lường thường được vận dụng:

Mức tăng trưởng của nền kinh tế theo kỳ gốc:

∆ Yt= Yt – Y(t-1) (2) Tốc độ tăng trường kinh tế sẽ cho biết quy mô và sản lượng gia tăng nhanh hay chậm qua các thời kỳ khác nhau Từ (1) và (2) ta có công thức:

Tốc độ tăng trưởng giữa thời điểm t và thời điểm gốc:

gY = ∆ Y * 100/Y0 (3) Tốc độ tăng trưởng liên hoàn:

gYt = ∆ Yt * 100/Y(t-1) (4) Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn từ năm 0,1….n:

0

n n Y

Y

Y

Với Yn là GDP năm cuối cùng của thời kỳ;

Y0 là GDP năm đầu tiên của thời kỳ tính toán;

Khi GDP (hay GNP) danh nghĩa được sử dụng đo lường quy mô của nền kinh

tế thì sẽ cho ra kết quả định lượng về tốc độ tăng trưởng GDP hoặc GNP danh nghĩa Trong trường hợp lấy GDP (hay GNP) thực tế để tính toán quy mô của nền kinh tế thì kết quả sẽ là tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thực tiễn cho thấy, các học

Trang 19

giả khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế chung hay ngành thường hướng tới việc dùng chỉ tiêu thực tế để đo lường hơn là tính toán dựa trên các chỉ tiêu danh nghĩa

2.1.1.4 Một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế

Theo trường phái cổ điển mà đại diện cho trường phái này là Adam Smith và

David Ricardo, nghiên cứu của hai ông được coi là sự kế thừa có phát triển từ mô hình Malthus Theo Smith (1904), lao động được sử dụng trong những công việc có ích và hiệu quả là nguồn gốc tạo ra giá trị cho xã hội và coi sự gia tăng tư bản là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Ricardo (Smith, 1904) nhấn mạnh rằng: nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn, tùy theo từng ngành và thích hợp với trình độ kỹ thuật nhất định, các yếu tố này kết hợp với nhau theo một tỷ lệ cố định, không thay đổi

Theo trường phái tân cổ điển mà đại diện là các nhà kinh tế tân cổ điển, họ

bác bỏ quan điểm mà trường phái cổ điển cho rằng: sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về lao động và vốn, họ cho rằng vốn và lao động có thể thay thế cho nhau, trong quá trình sản xuất có thể có nhiều cách kết hợp giữa các yếu tố nguồn lực để phát triển kinh tế, từ đó, tập trung đến các nguồn lực của sản xuất Học thuyết này còn được gọi là học thuyết Kinh tế học trọng cung, ra đời khoảng thập niên 80 thế kỷ trước của Chính quyền Reagan (Mỹ)

Theo trường phái kinh tế hiện đại thì các nhà học giả kinh tế hiện đại ủng hộ

việc xây dựng nền kinh tế hỗn hợp, trong đó, thị trường trực tiếp vận hành những hoạt động cơ bản của nền kinh tế, Nhà nước có vai trò điều tiết nhằm hạn chế những mặt trái của thị trường

2.1.2 Du lịch

2.1.2.1 Khái niệm

Du lịch là việc đi lại nhằm mục đích niềm vui hoặc kinh doanh; cũng là lý thuyết và thực hành về tổ chức các chương trình đi du lịch, ngành kinh doanh nhằm thu hút, cung cấp và giải trí cho khách du lịch, và việc kinh doanh của các tổ chức điều hành các chương trình du lịch (Từ điển tiếng Anh Oxford, 2005) Theo định

nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới: Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những

người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích

Trang 20

khác nữa, trong giai đoạn liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng được coi như là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư (World Tourism Organization, 1995)

Xuất phát từ những lý thuyết trên, ta có thể hiểu hoạt động du lịch có nhiều đặc thù, gồm nhiều quá trình và gồm nhiều thành phần tham gia, hoạt động này là một tổng thể thống nhất nhưng cũng nhiều vấn đề phức tạp Du lịch hàm chứa những đặc trưng của một ngành kinh tế, vừa có đặc thù của các ngành khác như thể thao - văn hóa

- xã hội

2.1.2.2 Các yếu tố tác động đến tăng trưởng và phát triển du lịch

Thứ nhất là các yếu tố ngoại cảnh:

Bối cảnh chính trị Bối cảnh chính trị thế giới, khu vực, quốc gia ít biến động

và phát triển ổn định là cơ hội để “thu hút khách du lịch đặc biệt là khách nước ngoài Chính trị ổn định cũng là tiền đề n h ằ m đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới Trên nền tảng mối quan hệ gắn bó bền vững đó, sự liên kết phát triển về du lịch giữa các vùng lãnh thổ, các quốc gia trong khu vực, trên bình diện toàn thế giới không ngừng phát triển Ngược lại, bất ổn chính trị chính là rào cản phát triển du lịch

Bối cảnh kinh tế quốc gia Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến

sự phát triển du lịch, lữ hành là tình hình phát triển kinh tế của địa phương Nền kinh

tế quốc gia phát triển bền vững là đòn bảy phát triển kinh tế và du lịch Điều này được lý giải bởi mối quan hệ tương hỗ của du lịch với các thành quả kinh tế khác, gọi

là mối quan hệ liên ngành Thông thường, một quốc gia có khả năng phát triển ngành

du lịch nếu quốc gia đó thiết lập được hệ thống cung ứng tối ưu nguồn lực cho du lịch Các ngành công nghiệp nền tảng và phụ trợ, các ngành dịch vụ hạ tầng và hệ thống chính sách thượng tầng v.v có ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng và phát triển du lịch Trong thực tế, ở một số quốc gia hầu như nền công nghiệp và nông nghiệp không phát triển, nhưng du lịch vẫn phát triển mạnh mẽ cùng với nhóm dịch vụ đi kèm, chẳng hạn như Singapore Điều này cho thấy du lịch và dịch vụ có ảnh hưởng rất tốt đến tăng trưởng kinh tế Tình hình phát triển hoạt động thương mại trong nước và quốc tế cũng là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến phát triển du lịch Bên cạnh

đó, hoạt động ngoại thương bao gồm xuất nhập khẩu có ảnh hưởng rất mạnh đến phát

Trang 21

triển kinh tế, tỷ lệ thuận khi tỷ trọng xuất khẩu cao, điều này tạo nên mối quan hệ tương tác ảnh hưởng đến du lịch và lữ hành khi các thương gia dịch chuyển qua các

địa phương trong các thương vụ Số dân trong độ tuổi lao động cao thì cũng tỷ lệ

thuận với sự phát triển kinh tế quốc gia

Nhu cầu của khách du lịch Sản phẩm luôn luôn được tạo ra đều nhằm thỏa

mãn một hay một số yêu cầu của khách hàng Chính vì vậy, sự biến động nhu cầu của du khách sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng trong ngành du lịch Các nhân tố tác động đến nhu cầu của du khách là: sự thay đổi về mức thu nhập, thay đổi trong lối sống, thay đổi về tư duy, chi phí và chất lượng của dịch vụ du lịch, v.v Sự biến động này có ảnh hưởng dương hoặc âm tới sự phát triển của ngành du lịch

Tài nguyên của du lịch Tài nguyên du lịch là cơ sở để phát triển du lịch Đó là

cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch (Quốc hội, 2017) Tài nguyên du lịch là một vấn đề quan trọng để phục vụ công tác quản lý nhà nước, hỗ trợ ra quyết định khai thác tài nguyên

du lịch thích hợp để thu hút được nhiều du khách Tài nguyên của du lịch bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, địa hình tự nhiên, các công trình thiên tạo v.v… Tài nguyên đồng thời cũng là nhân tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm và giải pháp về sản phẩm cho du lịch

Thứ hai là các yếu tố nội hàm:

Quản lý ngành Yếu tố này bao gồm: (1) Quy hoạch phát triển; (2) Định hướng

và kế hoạch chiến lược; (3) Thể chế pháp luật và các vấn đề hành chính

Quy hoạch phát triển du lịch là hoạt động đa chiều và hướng tới một hệ thống

đồng nhất Quy hoạch kết hợp hài hòa và tối ưu các yếu tố hạ tầng như chính trị, kinh

tế, tự nhiên, xã hội, luật pháp và khoa học công nghệ, liên quan đến quá khứ, hiện tại

và tương lai của một điểm đến du lịch (Quốc hội, 2017) Quy hoạch cũng thực hiện việc giả định và lựa chọn các chương trình hành động với nhiều phương án đặt ra trong đó xem xét đến cả những rủi ro Để quy hoạch khả thi, việc xác định các mục tiêu cụ thể cho chương trình hành động tại điểm đến sẽ là căn cứ cho các kế hoạch chi tiết và khả thi Trong bản kế hoạch chiến lược thúc đẩy phát triển du lịch, việc quy hoạch có tầm nhìn và kế hoạch hành động chi tiết sẽ có giá trị cho các bên liên quan,

Trang 22

đồng thời hạn chế rủi ro mà hoạt động du lịch có thể gây ảnh hưởng cho cộng đồng Vai trò của quy hoạch trong du lịch là rất lớn, vì vậy, nếu không quy hoạch, sẽ dẫn đến những thiệt hại về nguồn lực hoặc tổ chức, quản lý và các hoạt động khác v.v Một chính sách linh hoạt, thích hợp sẽ có tác dụng tích cực thúc đẩy tiến trình phát triển và ngược lại sẽ là sự kìm hãm Xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng du lịch thì thể chế hành chính và hạ tầng pháp lý là yếu tố quan trọng thúc đẩy hoặc cản trở sự quyết tâm của các nhà đầu tư Thể chế chính sách hợp lý, thuận lợi chính là tác nhân quan trọ ng mời gọi hợp tác đầu tư và ngược lại

Cơ sở hạ tầng và hạ tầng cơ sở kỹ thuật Hạ tầng cơ sở du lịch theo Luật du

lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm thiết lập các sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến hành trình của họ (Quốc hội, 2017) Như vậy, ở góc độ hẹp của ngành,

cơ sở hạ tầng của du lịch bao gồm nơi lưu trú như khách sạn, homestay, khu nghỉ dưỡng, danh lam thắng gia thông và xây dựng cơ bản, hệ thống thông tin, hệ thống thanh toán, hệ thống điện, nước và thoát nước, các dịch vụ y tế v.v Hạ tầng cơ sở là một trong những nhân tố quan trọng đối với quá trình phát triển Nó là yếu tố đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiếp diễn Tất cả mọi ngành muốn phát triển tốt đều đòi hỏi phải có một hệ thống hạ tầng cơ sở đáp ứng được tốt yêu cầu Ngành dịch vụ du lịch và

lữ hành cũng tuân theo quy luật đó

Hệ thống hạ tầng cơ sở của du lịch có vai trò quan trọng, tác động đến mức độ thỏa mãn nhu cầu của du khách bởi tính tiện ích của nó Quốc gia, vùng miền nào muốn du lịch phát triển tốt phải có cơ sở hạ tầng tốt

Nguồn nhân lực Con người là nguồn lực quý giá nhất trong các nguồn lực, là

yếu tố cốt lõi quyết định sự thành bại của một quốc gia, một thể chế kinh tế Đối với ngành du lịch, nhân lực tham gia vào quá trình hoạt động và phát triển du lịch, cả trực tiếp và gián tiếp, nếu nguồn nhân lực được đầu tư đúng như và đủ như kiến thức, kỹ năng, thái độ, thể lực v.v thì đó chính là là những yếu tố thuận lợi để thúc đẩy du lịch phát triển Từ đó, chúng ta có thể nói rằng việc phát triển tối ưu nguồn nhân lực chính

là yếu tố tiên quyết và nền tảng để phát triển bền vững ngành du lịch

Hoạt động truyền thông marketing và thương hiệu Truyền thông marketing

các sản phẩm du lịch của địa phương thông qua tổ chức các hội nghị, cuộc thi, thực hiện phong phú trên các phương tiện truyền thông trong phạm vi trong nước và quốc tế

Trang 23

v.v , là hoạt động rất quan trọng nhằm cung cấp thông tin, truyền thông du lịch, giới thiệu tiềm năng du lịch và những sản phẩm của địa phương tới du khách, góp phần tích cực vào sự phát triển của ngành du lịch

Hoạt động thu hút vốn đầu tư Nguồn vốn bằng tiền là yếu tố khởi nguồn, xây

dựng và phát triển mở rộng các sản phẩm du lịch Để thu hút khách du lịch, trước hết cần vốn để đầu tư hạ tầng và cơ sở dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi v.v Đồng thời phải tôn tạo các khu du lịch, di tích, bảo tồn văn hóa, v.v để tạo tính

đa dạng trong các sản phẩm giải trí, tạo sức hấp dẫn, phong phú v.v Từ đó, xác định quy mô phát triển, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư sẽ tạo động lực thúc đẩy du lịch phát triển bền vững, khai thác tối ưu thế mạnh đồng thời duy tu và bảo tồn môi trường,

cảnh quan, di tích v.v…

Hợp tác đồng bộ của các doanh nghiệp liên kết ngành, vùng Du lịch là

ngành công nghiệp không ống khói mang tính liên ngành, liên vùng rất cao, chính vì vậy, ngành du lịch khi phát triển sẽ tác động tới các ngành kinh tế khác cùng phát triển Bên cạnh đó, do có sự liên kết vùng mở rộng dẫn tới mọi người có nhiều cơ hội chia sẻ nguồn lực và giao lưu văn hóa, mở mang tầm nhìn và kiến thức thông qua sự hiểu biết tri thức ngày càng rộng Bên cạnh đó, du lịch cũng là ngành cũng thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển do sự du nhập của các yếu tố văn hóa, sắc tộc, tri thức, khoa học công nghệ, bên cạnh đó là sự mở rộng của thị trường tiêu thụ sản phẩm của các khu vực kinh tế khác, tạo tiền đề đẩy mạnh phát triển thương mại, xuất nhập khẩu Ngày nay, du lịch không chỉ dừng lại là việc tham quan một điểm đến, nó là tổng thể của một giải pháp làm thỏa mãn khách hàng - du khách với các nhu cầu vô cùng đa dạng, điều này làm cho cả một nền kinh tế phụ trợ phát triển theo

2.2 Các lý thuyết về việc làm

2.2.1 Tổng quan về lao động

Lao động được xem là một loại hàng hóa đặc biệt Dịch vụ lao động cũng như dịch vụ hàng hóa và dịch vụ khác được mua bán trên thị trường lao động (Phan Thúc Huân, 2006)

Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên (điều này cũng tùy theo quy định của

pháp luật nước sở tại ), có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả

lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động (Quốc Hội, 2019)

Có nhiều cách tiếp cận và các trường phái và học thuyết khác nhau đưa ra các định nghĩa khác nhau về lao động và người lao động Một số học giả cho rằng, người

Trang 24

lao động có thể là những cá nhân đang làm việc hoặc đang tìm kiếm Việc làm Tổ chức quốc tế về lao động thì định nghĩa người lao động là một bộ phận cư dân trong

độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, hiện đang có Việc làm hoặc họ là những người đang thất nghiệp (ILO, 2012) Các quốc gia thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization - ILO) về cơ bản đồng quan điểm với định nghĩa của ILO về người lao động Mặc dù vậy, mỗi quốc gia có một quy định riêng về

độ tuổi với độ tuổi nhỏ nhất và lớn nhất và dần dần đi tới thống nhất ở độ tuổi 15 là tuổi tối thiểu và 60 đến 64 hoặc cao hơn là tuổi tối đa, tuỳ theo quy định của mỗi nước

và sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia Mức trần của tuổi lao động thường tương đương với tuổi hưu trí, có một số quốc gia không quy định cụ thể tuổi nghỉ hưu, đồng thời cũng không quy định tuổi tối đa

Ở Việt Nam, theo quy định mới tại Bộ luật lao động năm 2019 thì tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động

nữ vào năm 2035 (Quốc Hội, 2019) Nói cách khác, lực lượng lao động đồng nghĩa với dân cư đang trong độ tuổi hoạt động các hành vi kinh tế Định nghĩa này đồng nhất với định nghĩa của ILO cũng như theo quy định trong Luật Lao động của Việt Nam 2019 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, có điểm khác là người thất nghiệp vẫn được tính vào lực lượng lao động và điểm khác nữa là khung tuổi lao động (nam 15 -

62 tuổi, nữ 15 - 60 tuổi) Trên cơ sở đó, sơ đồ dưới đây biểu diễn cơ cấu lao động đi đến những lý luận tiếp theo về Việc làm (Lê Thị Nguyệt, 2015)

Hình 2.1: Sơ đồ phân loại lực lượng lao động

Nguồn: Phạm Hồng Mạnh, 2015

Trang 25

- Lực lượng lao động nói chung bao gồm toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên đang

có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc

- Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động (nam đủ 15 tuổi đến hết 62 tuổi, nữ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc

Nguồn lao động được xem là một bộ phận dân cư trong độ tuổi quy định đang tham gia lao động và được coi là đang làm việc Họ cũng bao gồm những người không

có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm công việc (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005) Nguồn lao động của cả xã hội (bao gồm của địa phương, ngành, doanh nghiệp v.v ) là tổng thể lực lượng lao động của xã hội trong những thời điểm nhất định (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005)

Năng lực người lao động được xem xét theo hai cách tiếp cận Các thứ nhất là phân ra ba vấn đề kiến thức, kỹ năng, thái độ Cách thứ hai là tâm lực, trí lực, thể lực Các yếu tố này kết cấu lại tạo thành chất lượng của người lao động

Hình 2.2: Năng lực người lao động thể hiện chất lượng nguồn lao động

Nguồn: Tác giả

Như vậy, trí lực (thể hiện ở trình độ học vấn, trình độ tay nghề, kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm thực tế trong công việc v.v ), tâm lực (thái độ, sự đam mê với nghề nghiệp v.v ) và thể lực (thể hiện ở sức khỏe cơ bắp và trí tuệ, cảm xúc nguồn nhân lực) là các yếu tố cấu thành lên chất lượng nguồn nhân lực, giữa chúng luôn cần

có sự tương ứng và đồng điệu thì chất lượng của nguồn nhân lực mới có thể phát huy được hiệu quả cho xã hội

2.2.2 Tổng quan về Việc làm và thất nghiệp

2.2.2.1 Việc làm

Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật (ILO, 2012) Việc làm là một hoạt động được thực hiện thường xuyên và được đổi lại bằng thù lao hay tiền công hay doanh thu từ việc bán được sản phẩm, tuy theo mỗi ngành nghề Việc làm có thể thực hiện trong dài hạn hoặc ngắn hạn (từ Việc làm cả

Trang 26

đời người đến các Việc làm thời vụ) Nếu một người được đào tạo cho một loại công việc nhất định, họ có thể có một nghề nghiệp Tập hợp hàng loạt các công việc của một người trong cả cuộc đời là sự nghiệp của họ

Theo điều 9 của Bộ luật Lao động của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019) thì Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm (Quốc hội, 2019)

Theo thời gian thực hiện, Việc làm được chia thành: (1) Việc làm chính và tạm thời ; (2) Việc dủ đủ thời gian hoặc không đủ thời gian ; (3) Việc làm chính và việc làm phụ

2.2.2.2 Thất nghiệp

Thất nghiệp gồm những người không có Việc làm nhưng đang tích cực tìm Việc làm (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005) Sự phát triển của thị trường lao động ở nhiều quốc gia đã chỉ ra rằng, tình trạng thất nghiệp có nhiều dạng khác nhau, như: Thất nghiệp không tự nguyện, thất nghiệp dài hạn, thất nghiệp thời vụ v.v

Chỉ tiêu đánh giá thất nghiệp là tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ người lao động có đăng ký tìm Việc làm nhưng không có Việc làm (Begg và Cộng sự, 2007) Thất nghiệp là vấn đề xã hội nan giải mà tất cả các quốc gia đều phải đối mặt trong tình hình kinh tế suy thoái hoặc do dịch chuyển cơ cấu kinh tế Thất nghiệp có tác động ảnh hưởng rất lớn đến hầu hết các hoạt động của kinh tế và xã hội của các quốc gia Thứ nhất, thất nghiệp ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, giảm hoặc mất thu nhập

và giảm sút mức sống của dân cư Thất nghiệp cao đồng thời cũng là thời kỳ sản lượng quốc dân thực tế nhỏ hơn sản lượng tiềm năng, nền kinh tế không đạt được sản lượng tối ưu Mất Việc làm và giảm thu nhập ở khu vực nông thôn cũng ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Thu nhập thấp sẽ khiến người lao động không được đảm bảo chất lượng cuộc sống, bao gồm từ y tế, an ninh, an toàn cá nhân, hạn chế trong việc học tập và rèn luyện nhằm để phát triển trí lực, tâm lực và thể lực Thiếu Việc làm, không có thu nhập hoặc thu nhập thấp dẫn tới nhiều hệ quá xấu cho

xã hội

Có thể phân loại thất nghiệp thành một số loại như sau :

Thứ nhất là thất nghiệp tạm thời Nó bắt nguồn tự sự di dân giữa các vùng,

dịch chuyển lao động trong cơ cấu ngành nghề, theo các giai đoạn khác nhau của mỗi thời kỳ Xuất phát từ vấn đề này mà nảy sinh một bộ phận lao động tự nguyện thất

Trang 27

nghiệp và xảy ra trong một giai đoạn nhất định gọi là tạm thời Trình độ phát triển kinh tế và xã hội càng cao thì sự linh hoạt chuyển dịch của lực lượng lao động càng lớn giữa nghề này sang nghề khác, vùng này qua vùng khác Chính vì vậy, thất nghiệp tạm thời có xu hướng ngày càng phổ biến Ở hầu hết các quốc gia, hiện tượng di chuyển lao động giữa các địa phương vẫn luôn diễn ra, đó là hiện tượng dịch chuyển nguồn nhân lực từ thành thị đến nông thôn, từ miền Bắc vào miền Nam, từ Đông sang Tây Thất nghiệp tạm thời diễn ra trong giai đoạn ngắn và ít ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động ổn định quốc gia hay vùng

Thứ hai là thất nghiệp cơ cấu Đây là hiện tượng xảy ra do sự mất cân đối

giữa cung và cầu đối với lực lượng lao động có trình độ chuyên môn sâu về chuyên ngành mà người lao động được đào tạo so với nhu cầu của xã hội Hiện nay, nhiều quốc gia trong công cuộc phát triển đang thiếu lao động trình độ cao vừa thừa ra lao động bậc phổ thông, trong khi đó, đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về chất và lượng Chẳng hạn, nguồn nhân lực nông nghiệp dư thừa khi khoa học kỹ thuật phát triển mạnh ứng dụng mới làm năng xuất lao động tăng, sản lượng dôi dư Họ là lực lượng lao động trình độ bậc thấp, ngay cả việc sử dụng thành thạo máy móc công nghệ nông nghiệp cũng không thể đáp ứng Trong ngành du lịch, nguồn nhân lực đào tạo bài bản chưa nhiều, chủ yếu ở các quốc gia đang phát triển với nền kinh tế mới nổi, lao động hầu hết tự phát, tự làm tự học, tự rút kinh nghiệm, ít người được đào tạo khoa học qua trường lớp để đạt được tính chuyên nghiệp cao trong ngành dịch vụ quan trọng này

Thứ ba là thất nghiệp theo chu kỳ Thất nghiệp chu kỳ xuất hiện khi tổng cầu

về lao động giảm sút Thất nghiệp theo chu kỳ thường là hệ quả của thời kỳ suy thoái hay khép lại một chu kỳ kinh tế Thực tế cho thấy, ở tất cả các quốc gia, thất nghiệp theo chu kỳ xuất hiện trong các chu kỳ của khủng hoảng kinh tế quốc tế, khi kinh doanh, sản xuất bị ngưng trệ, doanh nghiệp bắt buộc phải cắt giảm lao động Trong bối cảnh này, người lao động mất Việc làm sẽ phải dịch chuyển hoặc thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, gây ra áp lực cho một số ngành nghề khác trong thị trường việc làm

Thứ tư là thất nghiệp tuyệt đối và tương đối Thất nghiệp tuyệt đối khi lực

lượng lao động trong một khoảng thời gian dài (tính theo năm) không có Việc làm và đang tích cực tìm kiếm công việc Vấn đề thất nghiệp tuyệt đối thường xảy ra đối với người lao động ở khu vực thành thị Bên cạnh đó, thất nghiệp tương đối (hay còn được

Trang 28

gọi là bán thất nghiệp) là những lao động có Việc làm nhưng Việc làm thường không đáp ứng đủ so với nhu cầu được làm việc của người lao động Thất nghiệp tương đối

có thể xảy ra ở cả hai khu vực nông thôn và thành thị Với thành thị, người lao động trong tình trạng thất nghiệp tương đối thường là lao động bậc thấp hoặc chưa qua đào tạo chính thức nên họ không khó có khả năng tìm kiếm được Việc làm ổn định Bên cạnh đó, họ còn là một bộ phận người lao động kinh doanh nhỏ ở mức vốn hạn chế, khó khăn trong việc mở rộng quy mô sản xuất hoặc kinh doanh Xuất phát từ vấn đề

cơ bản đó, Việc làm của họ không đáp ứng được nhu cầu lao động

Ngoài ra, theo Begg và Cộng sự (2007), nội dung thất nghiệp có thể được chia làm nhiều loại khác nhau, như thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu, thất nghiệp do thiếu nhu cầu và thất nghiệp truyền thống Tổng quát lại vấn đề, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp thời vụ xảy ra trong một bộ phận riêng biệt của thị trường lao động, thất nghiệp thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế suy thoái, toàn bộ thị trường lao động xã hội bị mất cân bằng, còn thất nghiệp theo học thuyết cổ điển là do các yếu tố môi trường vĩ

mô tác động

2.2.3 Các học thuyết kinh tế và việc làm

2.2.3.1 Lý thuyết tạo Việc làm của Keynes

Keynes (1883 - 1946) là một nhà khoa học xã hội người Anh với công trình nghiên cứu nổi tiếng: Lý luận chung về Việc làm, lãi suất và tiền tệ Trong công trình này, Keynes phân tích và phát hiện ra các mối quan hệ ràng buộc giữa Sản lượng - Thu nhập - Tiêu dùng - Đầu tư - Tiết kiệm - Việc làm Keynes cho rằng, trong sự vận hành của nền kinh tế, khi sản lượng tăng, thu nhập tăng, đầu tư cho phát triển tăng sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự tăng trưởng của Việc làm và ngược lại (Keynes, 1936) Hành vi chung của toàn xã hội là khi tổng thu nhập tăng lên thì tiêu dùng cũng tăng theo, nhưng tốc độ tăng của chi tiêu chậm hơn so với tốc độ tăng của thu nhập và người tiêu dùng có xu hướng gia tăng tiết kiệm từ nguồn thu nhập tích lũy, tác động tới nhu cầu tiêu dùng thực tế và sẽ giảm sút tương đối so với tổng thu nhập Điều này dẫn đến một nhóm sản phẩm tiêu dùng khó lưu thông trên thị trường để đến tay người tiêu dùng và dẫn tới dư thừa Hiệu ứng dư thừa này là nguyên nhân cơ bản gây ra khủng hoảng kinh

tế, tác động tiêu cực tới việc duy trì và mở rộng quy mô sản xuất ở các giai đoạn tiếp theo, từ đó gây ra hiện tượng mất Việc làm của người lao động Ttrong bối cảnh của nền kinh tế, khi tư nhân tăng quy mô đầu tư thì hiệu quả giới hạn của nguồn vốn đầu

Trang 29

tư có xu hướng giảm làm co hẹp giới hạn về thu nhập của nhà đầu tư trong tương lai Các nhà tư bản chỉ tăng đầu tư khi hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi suất Ngược lại, khi hiệu quả giới hạn của tư bản nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất thì các nhà tư bản không muốn đầu tư mở rộng nên quy mô sản xuất sẽ bị duy trì hoặc cũng có thể thu hẹp, từ đó có thể dẫn đến thất nghiệp tăng nếu năng suất lao động tăng lên Keynes cũng cho rằng, để có thêm nhiều Việc làm, giảm thiểu thất nghiệp xã hội, phải tăng quy mô tổng cầu của cả nền kinh tế quốc gia Chính phủ các quốc gia sử dụng các chính sách kích cầu tiêu dùng của cả khu vực chi tiêu Chính phủ và của Dân cư để gia tăng tổng cầu Kèm với đó, thông qua các chính sách điều tiết của nhà nước sẽ kích thích đầu tư từ khu vực tư nhân và của tất cả các tổ chức kinh tế trong toàn xã hội Keynes còn chỉ ra các biện pháp cụ thể như: giảm lãi suất cho vay đầu tư; giảm thuế khóa, trợ giá; bảo trợ cho đầu tư; in thêm tiền giấy nhằm hỗ trợ cho ngân sách nhà nước tăng đầu tư và bù đắp các khoản chi tiêu của Chính phủ Các biện pháp ông đưa ra đều nhằm kích thích đầu tư để nền kinh tế - chính trị - quốc phòng phát triển toàn diện v.v Học thuyết về Việc làm của Keynes thích hợp với bối cảnh các quốc gia phát triển, nhưng không hoàn toàn thích hợp với các quốc gia đang phát triển Lý do là ở ở hầu hết các quốc gia này, gia tăng sản lượng, tạo Việc làm gặp nhiều khó khăn không phải do tổng cầu không đủ cao …Ở các quốc gia đang phát triển, khi tổng cầu tăng sẽ kéo theo giá cả tăng, dẫn đến lạm phát Chính vì vậy, gia tăng tổng cầu để tăng quy mô sản xuất, tạo Việc làm không đúng với mọi quốc gia, trong mọi thời kỳ Bên cạnh đó, nếu tạo Việc làm ở thành thị và khu công nghiệp bằng cách tăng tổng cầu sẽ tạo ra làn sóng di dân từ nông thôn ra thành phố và tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị gia tăng Điều này có thể làm mất Việc làm và giảm sản lượng quốc dân của cả nước

2.2.3.2 Lý thuyết về tạo việc làm của Athur Lewis

Lewis (1954) là một nhà nghiên cứu kinh tế của Jamaica Ông đạt giải thưởng Nobel 1979 vì đã đưa ra tư tưởng cơ bản của lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa các khu vực của nền kinh tế, đây chính là việc chuyển lực lượng lao động dư thừa từ khu vực kinh tế này sang khu vực kinh tế khác do các nhà đầu tư quốc

tế đầu tư phát triển vào các quốc gia lạc hậu Quá trình này giúp nền kinh tế điều chỉnh

và thích ứng với điều kiện mới

Trong khu vực nông nghiệp, đất đai ngày càng thu hẹp cùng với quá trình công nghiệp hóa, lao động giản đơn trở nên dư thừa Lực lượng lao động cung ứng cho khu

Trang 30

vực nông nghiệp sẽ không cần quá nhiều, phần lao động dư thừa sẽ chuyển dịch sáng các ngành nghề kinh doanh sản xuất nhỏ lẻ khác ở khu vực nông thôn Một số khác di chuyển sang khu vực công nghiệp và di chuyển về thành phố Hai hiệu ứng xảy ra, một

là lao động chuyển bớt ra khỏi khu vực nông nghiệp, chỉ giữ lại nguồn nhân lực vừa đủ

để ổn định sản xuất và sản lượng Thứ hai, việc dịch chuyển này sẽ làm gia tăng sản lượng trong lĩnh vực công nghiệp, tạo điều kiện nâng cao sức tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung (Torado, Smith, 2012)

Hình 2.3 Sơ đồ chuyển dịch giữa các khu vực

Nguồn: Torado, Smith, 2012

2.2.3.3 Lý thuyết của Oshima

Nhà kinh tế học Nhật Bản Oshima (1963) đã công bố kết quả khám phá về mối quan hệ của hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp dựa trên những đặc điểm khác biệt của các quốc gia đang phát triển ở khu vực châu Á - gió mùa, nghĩa là nền nông nghiệp lúa nước có tính thời vụ cao Trước đây, nền văn minh lúa nước truyền thống

và lạc hậu vẫn luôn thiếu hụt lao động chân tay lúc ngày mùa thu hoạch Chính vì vậy, Oshima cho rằng cần có một lực lượng nông dân ổn định và chỉ gia tăng Việc làm khác như nuôi gia súc gia cầm trong những thời kỳ nông nhàn bằng cách tăng thêm vụ,

đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp v.v Tận dụng lao động nông nhàn để làm việc trong ngành công nghiệp và dịch vụ là một phương hướng quan trọng trong điều tiết nền kinh tế vi mô Việc tạo thuận lợi hơn nữa để có Việc làm đầy đủ cho mọi thành viên trong gia đình nông hộ trong những thời kỳ nhàn rỗi sẽ nâng cao mức thu nhập hàng năm của họ, đồng thời cũng thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ Như vậy, lực lượng lao động sẽ được sử dụng hết (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005)

Trang 31

2.2.3.4 Lý thuyết việc làm của Todaro và cộng sự

Học thuyết tân kinh điển của Todaro và cộng sự (1971) chỉ ra sự xuất hiện Việc làm do sự dịch chuyển lao động trên nền tảng điều tiết thu nhập giữa các khu vực kinh

tế khác nhau Harriss và Todaro cho rằng lao động ở nông thôn có thu nhập thấp, họ thường có những quyết định dịch chuyển về phương diện địa lý từ vùng thu nhập thấp sang vùng có thu nhập cao hơn (Torado và cộng sự, 1971) Như vậy, quá trình chuyển dịch hoàn toàn tự nhiên và dựa vào sự quyết định mang tính cá nhân Kết quả là cung cầu trên thị trường lao động ở từng khu vực mất đi sự cân bằng và ổn định, gây áp lực cho cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động quản lý nguồn nhân lực cả về kinh tế và hành chính (Torado và cộng sự, 1971)

Mô hình của Harris - Todaro đã giải thích được phần nào nguyên nhân của sự tồn tại thất nghiệp ở các thành phố lớn tại các quốc gia đang phát triển và giải thích lý do tại sao lực lượng lao động lại di chuyển tới các đô thị sầm uất cho dù nơi đó thất nghiệp rất cao

Tổng quát lại vấn đề các lý thuyết về Việc làm đã nghiên cứu cho thấy hầu hết đều tập trung phân tích mối quan hệ cung cầu trong lao động tác động đến Việc làm Những nghiên cứu này cũng chưa chỉ ra được vai trò của nhà nước trong hoạt động điều tiết nền kinh tế, nhưng nó cũng đặt nền móng quan trọng để để phân tích thực trạng Việc làm và tăng trưởng kinh tế

2.3 Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và việc làm

2.3.1 Độ co giãn của Việc làm

Định nghĩa cơ bản nhất của khái niệm độ co giãn của Việc làm là sự tăng hoặc giảm tỷ lệ phần trăm (%) người lao động đang làm việc trong nền kinh tế so với một phần trăm thay đổi trong tổng sản lượng, được đo bằng tổng sản phẩm trong nước (Đinh Phi Hổ & Cộng sự, 2008; Phạm Hồng Mạnh & cộng sự, 2015)

Trong nghiên cứu này, độ co giãn của Việc làm là sự thay đổi tỷ lệ phần trăm người lao động đang làm việc trong ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa so với một phần trăm thay đổi trong sự tăng trưởng du lịch của Tỉnh

2.3.2 Đo lường độ co giãn của Việc làm

Có một số phương pháp được sử dụng để tính toán độ co giãn

độ co giãn của Việc làm

Trang 32

0 0 1/

/

i i i

i i i i

Y Y Y

E E E

Với biểu thức trên cho thấy tử số là % sự thay đổi trong Việc làm ở giai đoạn trước và giai đoạn sau, trong khi mẫu số phản ánh cho sự thay đổi tỷ lệ phần trăm tương ứng trong đầu ra (Y) Trong khi phương pháp này là tính toán rất đơn giản, và

đã được chứng minh rằng độ co giãn của Việc làm từ năm này sang năm khác được tính bằng phương pháp này có xu hướng xem xét nhiều biến động và do đó có thể không thích hợp cho mục đích so sánh

Phương pháp thứ hai, mô hình hồi quy log tuyến tính, trong mối quan hệ với tăng

trưởng kinh tế (GDP) để phân tích độ co giãn và được thể hiện trong phương trình 2

i i

LnE 0 1  (2) Trong phương trình 2 này, độ co giãn của Việc làm theo tăng trưởng thu nhập được xác định bằng β1 Phương pháp tính toán này được xem xét thông qua 2 vế của phương trình 2, và bằng ∂ E /∂ Y:

E Y

Y E

E

(3)

Sử dụng phương pháp này, β1 đại diện cho sự thay đổi trong Việc làm so với sự thay đổi trong đầu ra Do đó, độ co giãn  1của (1) hàm ý rằng mỗi % thay đổi trong GDP so với 1% thay đổi trong Việc làm, chẳng hạn với độ co giãn là 0,4 ngụ ý rằng khi

tỷ lệ tăng trưởng GDP tăng lên 1% thì Việc làm tăng 0,4 phần trăm

Bằng cách biến đổi phương trình trên, độ co giãn của Việc làm theo ngành kinh tế, chẳng hạn như: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ sẽ được xác định như sau:

i i

LnE  1  (4) Trong đó:

Ei đại diện cho Việc làm theo ngành I (ví dụ ngành Du lịch);

Vi: đại diện cho giá trị gia tăng theo ngành kinh tế i

Phương pháp thứ ba được sử dụng chủ yếu thông qua bản chất sản xuất của lý

thuyết kinh tế Hàm sản xuất là một phương pháp thích hợp nhằm phát hiện mối quan

hệ giữa phát triển kinh tế, Việc làm và các yếu tố nguồn lực khác Trên cơ sở đó sẽ xác định được hệ số co giãn của Việc làm theo phát triển ngành du lịch

Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế bao gồm lao động, vốn, các nhân tố tổng hợp Hàm sản xuất tổng quát có dạng: Y= f (K, L) Trong đó: Y là giá trị

Trang 33

sản xuất, K là vốn và L là lao động Mặc dù vậy, hàm sản xuất COBB - DOUGLAS được các nhà nghiên cứu kinh tế sử dụng phổ biến để để xây dựng mối quan hệ giữa tăng trưởng ảnh hưởng đến yếu tố kinh tế như vốn và việc làm:

Y=AKαLβ (5) Lấy Logarit hai vế của (5), có phương trình tương đương:

và là cơ sở để khám phá mối quan hệ giữa tăng trưởng ngành du lịch và việc làm trong ngành du lịch Sử dụng các phương trình trên để ước lượng sẽ có các hệ số co giãn việc làm theo tăng trưởng với những kịch bản tăng trưởng khác nhau sẽ cho biết mối quan hệ giữa độ co giãn của Việc làm và việc làm thực tế

Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế và co giãn việc làm

Độ co giãn việc làm Tăng trưởng kinh tế dương Tăng trưởng kinh tế âm

ε < 0 (-) Tăng trưởng Việc làm

(+) Tăng trưởng Năng suất

(+) Tăng trưởng Việc làm (-) Tăng trưởng Năng suất

0 ≤ ε ≤ 1 (+) Tăng trưởng Việc làm

(+) Tăng trưởng Năng suất

(-) Tăng trưởng Việc làm (-) Tăng trưởng Năng suất

ε > 1 (+) Tăng trưởng Việc làm

(-) Tăng trưởng Năng suất

(-) Tăng trưởng Việc làm (+) Tăng trưởng Năng suất

Nguồn: Kapsos (2005)

2.4 Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan

Tăng trưởng kinh tế và việc làm là vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu trong giai đoạn vừa qua trên bình diện quốc tế và trong nước Nghiên cứu của Cộng đồng Châu Âu (European Communities, 1993) về Việc làm, năng lực cạnh tranh và tăng trưởng thì tăng trưởng kinh tế được thiết lập như là mục tiêu chính, cùng với đó khu vực này cần nỗ lực để nâng cao chất lượng lao động công nghệ cao hướng tới đẩy mạnh năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Nghiên cứu của Kapos (2005) và Dopke (2001) cũng cho thấy giữa tăng trưởng kinh tế và việc làm có một mối quan hệ tích

Trang 34

cực Điều này tức là tăng trưởng kinh tế tạo công ăn Việc làm mới, nhưng cường độ khác nhau từ một giai đoạn khác nhau và từ quốc gia này sang quốc gia khác Điều này phản ánh những phản ứng khác nhau của thị trường lao động đến quá trình tăng trưởng kinh tế Schmid (2008) thì cho rằng, các loại tăng trưởng kinh tế (chiều rộng hoặc chiều sâu) là một yếu tố quan trọng xác định khả năng tạo Việc làm Như vậy, tăng trưởng kinh tế như là phản ứng đối với sự tăng trưởng tổng cầu, có thể đạt được trong những trạng thái khác nhau, hoặc là số lượng đầu vào (lực lượng lao động, vốn, v.v ) tăng hoặc tối ưu hóa các yếu tố sản xuất (tăng trưởng chiều sâu), hoặc kết hợp cả hai Công trình nghiên cứu của Kapos (2005) đã tìm thấy mối quan hệ tác động giữa tăng trưởng kinh tế (GDP) và việc làm tại nhiều quốc gia trên thế giới và thực hiện đo lường độ co giãn của Việc làm, từ đó dự báo về Việc làm tại các quốc gia này

Emilia Herman (2011) đã nghiên cứu mối quan hệ ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến Việc làm và thu nhập ở Liên hiệp Châu Âu từ năm 2000 đến năm 2010 Những phát hiện chính của nghiên cứu cho thấy sự tồn tại về hệ số co giãn việc làm tương đối thấp đối với mức độ tăng trưởng kinh tế của EU, nhưng điều này có khác biệt đáng kể giữa các quốc gia

Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu đã ước tính độ co giãn của Việc làm (một thước

đo của mối quan hệ giữa Việc làm và tăng trưởng kinh tế) cho nhiều quốc gia khác nhau Boltho và Glyn (1995) đã tìm thấy độ co giãn của Việc làm với tăng trưởng lần lượt là 0,5

- 0,6 trong các quốc gia của OECD Nghiên cứu của Tổ chức Lao động quốc tế (1996) kết luận rằng phản ứng của tăng trưởng Việc làm với tăng trưởng GDP không giảm ở các quốc gia công nghiệp phát triển Mặc dù vậy, nghiên cứu của từng quốc gia tại các quốc gia này cho thấy, đã có một kết quả khác nhau với rất ít mối quan hệ tìm thấy ở các quốc gia như: Đức, Ý và Anh trong những năm 1990, đồng thời cũng đưa ra những gợi ý chính sách trong việc giải quyết Việc làm và giải quyết nạn thất nghiệp

Padalino và Vivarelli (1997) tìm thấy sự khác biệt đáng kể về sự co giãn việc làm giữa các quốc gia khác nhau, với sự co giãn ở mức 0,5 đối với Hoa Kỳ và Canada trong khi độ co giãn của Việc làm và tăng trưởng kinh tế tại Nhật Bản, Pháp, Đức, Ý

và Anh là gần bằng không Pini (1997) ước tính rằng độ co giãn của Việc làm ở Đức

và Nhật Bản tăng từ giai đoạn 1979-1995 so với 1960 - 1979 trong khi giảm ở Pháp và Thụy Điển và cho thấy sự thay đổi nhỏ ở Ý, Anh và Mỹ Pini cũng đã phát hiện ra rằng độ co giãn của Việc làm là âm ở Ý và Thụy Điển cho giai đoạn 1990-1995

Trang 35

Pianta, Evangelista và Perani (1996) phát hiện ra bằng chứng cho thấy tái cơ cấu các ngành kinh tế chủ yếu làm giảm mối quan hệ tương tác giữa tăng trưởng kinh tế và việc làm Trong số các quốc gia G7 được nghiên cứu (ngoại trừ Canada), đã tìm ra một mối quan hệ ảnh hưởng tích cực mang ý nghĩa thống kê giữa tăng trưởng giá trị gia tăng và việc làm không chỉ ở Đức và Mỹ Walterskirchen (1999) cũng đã tìm ra độ

co giãn của Việc làm cho các quốc gia EU (0,65 khi sử dụng một phân tích xuyên quốc gia của các quốc gia EU từ 1988-1998 Dữ liệu 1970-1998 cho 7 quốc gia cộng với EU nói chung, độ co giãn của Việc làm dao động từ 0,24 đến 0,76 cho Áo cho Tây Ban Nha, độ co giãn đối với Mỹ là 0,53)

Bên cạnh đó, nghiên cứu của William Seyfried (2014) đã phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và việc làm trong mười tiểu bang lớn nhất của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1990 - 2003 Seyfried đã phát triển mô hình của Boltho và Glyn (1995), Padaline và Vivarelli (1997), để ước lượng độ co giãn của Việc làm đối với tăng trưởng kinh tế Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ co giãn của Việc làm đối với tăng trưởng kinh tế được ước tính trong khoảng 0,31 - 0,61 đối với mười tiểu bang lớn nhất của Hoa Kỳ và trung bình độ co giãn của Việc làm đối với tăng trưởng kinh tế trên toàn nước Mỹ là 0,47% (Kết quả chỉ ra rằng mặc dù tăng trưởng kinh tế có một số tác động ngay lập tức về Việc làm, ảnh hưởng của nó tiếp tục trong vài quý trong hầu hết các tiểu bang được lựa chọn nghiên cứu)

Nghiên cứu của Gideon Kiguru Thuku, Gachanja Paul và Obere Almadi (2013)

đã nghiên cứu về tác động của sự thay đổi dân số với tăng trưởng kinh tế ở Kenya Với kịch bản này là có một nhu cầu thiết lập mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng dân số ở Kenya Phương pháp Vector tự hồi quy được sử dụng trong nghiên cứu để ước lượng mô hình hồi quy với dữ liệu chuỗi thời gian cho giai đoạn 1963 -

2009 (Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng dân số và tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng tích cực và sự gia tăng dân số sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại quốc gia này Nghiên cứu kết luận rằng tăng trưởng dân số đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế sau đó tại Kenya)

Tại Việt Nam, chính sách Việc làm và thu nhập đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, như: nghiên cứu của Giesecke, Tran, Meagher (2011) về sự phát triển và thay đổi trong thị trường lao động tại Việt Nam và dự báo xu hướng Việc làm trong ngành công nghiệp giai đoạn 2010 - 2020 thông qua việc sử dụng mô hình cân bằng

Trang 36

toàn bộ nền kinh tế quốc gia, với các biến số dự báo đầu vào cho những thay đổi trong các biến số thuộc về môi trường kinh tế vĩ mô và các giả định về môi trường của Việt Nam và dự báo về chính sách của Chính phủ

Nghiên cứu của Tổ chức lao động thế giới (ILO) đã nghiên cứu khuynh hướng Việc làm của lao động Việt Nam trong năm 2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp cho những người tuổi từ 15 đến 24 đã tăng đáng kể từ 4,7 đến 6,0% từ năm

1997 đến năm 2007 Tiếp tục đầu tư tạo Việc làm và giáo dục là cần thiết để nâng cao tăng Việc làm cho trẻ em và phụ nữ trong những thập kỷ tới (Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra rằng trong thị trường lao động của Việt Nam phần lớn dễ bị tổn thương Việc làm, đồng thời đã có sự phân biệt đối xử trong thị trường lao động về giới tính Điều này rất cần phải được xem xét chi tiết trong quá trình phân tích và đề xuất chính sách) Công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Tú Lan (2010) đã phân tích những tác động đến giải quyết Việc làm của Việt Nam Bằng việc sử dụng các số liệu thống kê

để mô tả những yếu tố ảnh hưởng đến Việc làm như: tài nguyên, hạ tầng vật chất, dân

số và tỷ lệ gia tăng dân số, đặc điểm của thị trường lao động và chính sách giải quyết Việc làm của Chính phủ

Nghiên cứu của Phạm Hồng Mạnh & Đồng Trung Chính (2014) về độ co giãn của Việc làm tại Việt Nam trong giai đoạn gần đây Bằng việc sử dụng dữ liệu của Ngân hàng thế giới và lý thuyết kinh tế để xây dựng các mô hình kinh tế lượng nhằm xác định hệ số co giãn giữa Việc làm đối với tăng trưởng kinh tế, đồng thời dự báo về Việc làm trong giai đoạn 2011- 2020 Kết quả phân tích cho thấy trong giai đoạn này,

hệ số co giãn việc làm theo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 0,325 Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, với tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế từ 6 - 7%/năm, đến năm 2015 sẽ giải quyết được từ 49,563 - 50,019 triệu Việc làm và đến năm 2020 sẽ có từ 54,492 - 57,209 triệu Việc làm Kết quả nghiên cứu cũng đề xuất một số hàm ý quản trị trong việc “thúc đẩy tăng trưởng và giải quyết Việc làm” của Việt Nam trong tương lai

Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Phạm Hồng Mạnh, Nguyễn Văn Ngọc, Hạ Thị Thiều Dao (2014, 2015) đã phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và việc làm tại Việt Nam Bằng việc sử dụng các dữ liệu tổng hợp của Tổng Cục thống kê trong các năm để mô tả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và việc làm, từ đó đưa ra những chính sách về tăng trưởng, Việc làm của lao động Việt Nam trong thời kỳ 2011 - 2020

Trang 37

Về du lịch, các công trình nghiên cứu sơ khai đã được thực hiện tử khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, tập trung chủ yếu là các đề tài liên quan đến phát triển du lịch biển (Phan Thanh Khởi, 2012) Các nghiên cứu này được thực hiện bởi giới quý tộc đi thám hiểm các vùng có thiên nhiên phong cảnh đẹp nhằm phát hiện ra tiềm năng phát triển du lịch nghỉ dưỡng, thể thao, khám phá v.v… Song song với nghiên cứu, ở Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Adams mà nổi bật nhất vào năm 1929, quy hoạch cụm du lịch trọng điểm ở trong và ven New York có dự báo và quy hoạch chi tiết (Phan Thanh Khởi, 2012)

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều công trình nghiên cứu du lịch có quy

mô rộng và sâu hơn, quan tâm đến phát triển bền vững, sử dụng nguồn tài nguyên hiệu quả, bảo tồn giá trị văn hóa, du lịch gắn kết nông nghiệp (Gunn và Burg, 1976) Từ giữa thập niên 70 của thế kỷ 20 đến nay, việc phát triển du lịch bền vững trở thành một

xu hướng một xu hướng, quan điểm, mục tiêu chung trên toàn thế giới Mỹ là một quốc gia có nhiều công trình nghiên cứu triển khai đầy đủ như nghiên cứu của Mieczkowski (1995), Staler (1997) hay ở Canada có Orelly (1991), Nga (Liên Xô cũ)

có nghiên cứu của Xtaukat (1969), Kotliarop (1978) đánh giá việc hình thành và phát triển du lịch, chỉ ra các điều kiện, nguồn lực trong đó cũng bao gồm các yếu tố vốn và lao động để hình thành vùng du lịch và xây dựng các khái niệm vùng du lịch

Từ cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, rất nhiều quốc gia tập trung nghiên cứu phát triển du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp sang phát triển dịch vụ du lịch và coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển của quốc gia, chẳng hạn như Trung Quốc, Singapore và hầu hết các quốc gia Châu Âu Các công trình nghiên cứu điển hình như phát triển và quản lý du lịch địa phương của Ngô Tất Hổ (2000), nghiên cứu đề phòng ô nhiểm môi trường và phân loại sinh thái khu du lịch của Tự Tôn Bình (1998)

Ở Việt Nam, từ thời các triều đình phong kiến đã rất quan tâm đến các danh thánh du lịch Các công trình nghiên cứu được ghi chép lại như: Đại danh lam, Trung danh lam và Tiểu danh lam Thời Pháp thuộc, Toàn Quyền Đông Dương cũng đã thống kê, nghiên cứu xếp hạng danh lam thắng cảnh và di tích của Việt Nam Cũng trong giai đoạn này, các nhà khoa học của Pháp cũng điều tra, khảo sát, khám phá nhiều vùng du lịch, sau này trở thành những điểm du lịch của Việt Nam nổi tiếng thế giới như Đà Lạt (1893-1911), SaPa (1903), Tam Đảo (1922), Sầm Sơn (1906), Nha

Trang 38

Trang (1891-1911), Vũng Tàu (1911), Đồ Sơn (1920-1928) v.v… (Phan Thanh Khởi, 2012) Từ 1990 trở lại đây, Nhà nước Việt Nam đã đặc biệt quan tâm đến phát triển du lịch và nguồn lực cho du lịch, điển hình là một số công trình lớn như: Dự án VIE/89/003 về kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch ở Việt Nam do tổ chức du lịch thế giới hỗ trợ thực hiện, nghiên cứu Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995-2000, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995-2000

do Viện nghiên cứu nghiên cứu phát triển du lịch thực hiện Tổng cục du lịch Việt Nam với nhiều công trình như: Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam năm 1986, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995-2010 năm 1995, Tổng quan

về du lịch (Vũ Đức Minh, 1999), Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Tỉnh Ủy Khánh Hòa, Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam (Phạm Trung Lương và nhóm nghiên cứu, 2000); Quy hoạch du lịch những vấn đề lý luận và thực tiễn (Trần Văn Thông, 2005); v.v đã tập trung nghiên cứu lý luận và thực tế trên phạm vi khác nhau (Phạm Hồng Long, Bùi Thị Hải Yến, 2007)

Tổng quát lại vấn đề các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và

du lịch, Việc làm có nhiều cách phân tích, tổng hợp khác nhau và hầu hết là căn cứ vào nền tảng lý luận của các học thuyết kinh tế Mối quan hệ này được nghiên cứu sử dụng các phương pháp hệ số co giãn việc làm hay phương pháp hạch toán tăng trưởng theo các yếu tố nguồn lực để xây dựng mô hình hồi quy nhằm ước lượng hệ số co giãn của Việc làm theo tăng trưởng kinh tế ở các khu vực và thể chế kinh tế khác nhau Dựa trên các mô hình kinh tế của các học giả đi trước, mà các nghiên cứu đã ước lượng sự thay đổi của lao động và việc làm thông qua hệ số co giãn, từ đó xây dựng các kịch bản về mối quan hệ này cho việc dự báo về tăng trưởng, Việc làm tại các quốc gia này

Tóm tắt chương 2

Trong chương hai, luận văn trình bày cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, Việc làm và tổng quan lý thuyết về Việc làm và mối quan hệ ảnh hưởng giữa tăng trưởng kinh tế và việc làm Trong đó nêu rõ các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, lao động, lực lượng lao động, nguồn Việc làm, thất nghiệp v.v

Trang 39

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp tiếp cận

Xuất phát từ cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

Mô hình nghiên cứu đề xuất về tăng trưởng du lịch tại tỉnh Khánh Hòa ảnh hưởng đến Việc làm biểu diễn trong Hình 3.1

Hình 3.1: Khung phân tích của nghiên cứu

Nguồn: Tác giả

Phương pháp tiếp cận của đề tài sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, như: phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê và mô hình hóa Mô hình: Hồi quy tuyến tính được giả định hợp lý để ước lượng độ co giãn của các yếu tố như vốn, Việc làm

và các nhân tố tổng hợp về năng suất Từ đó, luận văn đã phân tích mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng, mức độ đóng góp của tăng trưởng du lịch đến Việc làm của Tỉnh Khánh Hòa Cụ thể:

Xác định mức độ ảnh hưởng của tăng trưởng du lịch Khánh Hòa, tác giả sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS - Ordinary Least Square) để ước lượng hàm

số và tính toán mức độ ảnh hưởng từ tăng trưởng du lịch của Khánh Hòa đến Việc làm

3.2 Quy trình nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu của luận văn dự kiến được thực hiện qua các bước cơ bản sau đây:

Trang 40

Hình 3.2: Qui trình nghiên cứu

Nguồn: Tác giả

3.3 Phương pháp ước lượng

Hàm sản xuất của Knut Wicksell (1904), phát triển thành kiểm định dữ liệu bằng thống kê của Charles Cobb và Paul Douglas trong công trình nghiên cứu Lý thuyết sản xuất (Đinh Phi Hổ và Cộng sự, 2006) sẽ được vận dụng trong nghiên cứu này

Dựa vào hàm sản xuất COBB - DOUGLAS:

Cụ thể:

Y: sản lượng của nền kinh tế;

K: khối lượng tư bản;

L: Quy mô lao động;

a: Năng suất lao động tổng hợp (TFP -Total Factor Productivity)

α, β: Độ co giãn của vốn và lao động theo sản lượng;

Nếu tổng hệ số co giãn (α + β) = 1: Hàm sản xuất chỉ ra tình trạng lợi nhuận kinh doanh không thay đổi theo quy mô, tức là tỷ lệ tăng các yếu tố đầu vào bằng tỷ

lệ tăng sản lượng đầu ra

Nếu tổng hệ số co giãn (α + β) > 1: hàm sản xuất chỉ ra tình trạng lợi nhuận kinh doanh tăng dần theo quy mô, tức là tăng các yếu tố đầu vào nhỏ hơn tăng sản lượng đầu ra

Ngày đăng: 17/05/2021, 14:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w