1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác chống thất thu thuế giá trị gia tăng trên địa bàn thành phố bảo lộc tỉnh lâm đồng

89 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 913,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Bộ tài chính 2013 đã chỉ ra 5 nguyên nhân về việc thất thu thuế GTGT: “Thứ nhất, chính sách thuế GTGT còn quá nhiều khe hở, quá nhiều bất cập, không phù hợp với thực tại và yêu cầu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

KHÁNH HÒA - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC CHỐNG

THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu trong luận văn này được thu thập và sử dụng một cách trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của đề tài này

Khánh Hòa, tháng 7 năm 2020

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy cô Trường Đại học Nha Trang cùng toàn thể các bạn học viên cao học trong lớp đã luôn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Tôi xin đặc biệt cảm ơn TS Nguyễn Thành Cường đã quan tâm và nhiệt

tình hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện Luận văn để giúp tôi hoàn thành tốt Luận văn này

Sau cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã hết lòng quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi để hoàn thành chương trình Cao học và Luận văn này

Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã trao đổi và tiếp thu các ý kiến đóng góp của các Thầy cô và bạn bè, tham khảo nhiều tài liệu song cũng không thể tránh khỏi sai sót Rất mong nhận được những thông tin đóng góp, phản hồi từ Quý Thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn và kính chúc Quý Thầy Cô, bè bạn và đồng nghiệp sức khỏe, hạnh phúc và thành công trên mọi lĩnh vực

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, tháng 7 năm 2020

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 5

1.1 Nội dung về thuế GTGT 5

1.1.1 Khái niệm về thuế GTGT 5

1.1.2 Vai trò của thuế giá trị gia tăng 7

1.1.3 Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng 9

1.2 Thất thu thuế 14

1.2.1 Khái niệm về thất thu thuế 14

1.2.2 Các dạng biểu hiện của thất thu thuế GTGT 15

1.2.3 Những nguyên nhân cơ bản của thất thu thuế 15

1.2.4 Ảnh hưởng của vấn đề thất thu thuế 16

1.2.5 Tính cấp thiết tăng cường chống thất thu thuế giá trị gia tăng 17

1.3 Các hình thức thất thu thuế GTGT 20

1.4 Tổng quan về thất thu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam 21

1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan 24

Tóm lược chương 1 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ CÔNG TÁC CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẢO LỘC 26

2.1 Giới thiệu về Thành phố Bảo Lộc 26

2.1.1 Vị trí 26

2.1.2 Diện tích tự nhiên 26

2.1.3 Điều kiện tự nhiên 26

Trang 6

2.1.4 Dân số 28

2.1.5 Diện tích, sản lượng, năng suất một số cây trồng chủ lực 29

2.1.6 Hoạt động của các doanh nghiệp và thu hút đầu tư 29

2.2 Thực trạng thất thu thuế GTGT, công tác chống thất thu thuế GTGT trên địa bàn thành phố Bảo Lộc 29

2.2.1 Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của Chi cục thuế Thành phố Bảo Lộc 29

2.2.2 Cơ cấu tổ chức 30

2.2.3 Thực trạng công tác thu thuế GTGT tại thành phố Bảo Lộc 35

2.2.4 Thực trạng thất thu thuế GTGT và công tác chống thất thu thuế GTGT tại thành phố Bảo Lộc 38

2.3 Nguyên nhân đẫn đến thất thu thuế GTGT 55

2.3.1 Các nguyên nhân nói chung 55

2.3.2 Một số nguyên nhân riêng tại thành phố Bảo Lộc 57

Tóm lược chương 2 58

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẢO LỘC 59

3.1 Phương hướng chống thất thu thuế GTGT ở thành phố Bảo Lộc 59

3.2 Giải pháp chống thất thu thuế GTGT ở thành phố Bảo Lộc 61

3.2.1 Không ngừng hoàn thiện luật thuế GTGT 61

3.2.2 Cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế 63

3.2.3 Các biện pháp cụ thể 66

3.3 Một số kiến nghị 69

Tóm lược chương 3 71

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐKKD Đăng ký kinh doanh

GTGT Giá trị gia tăng

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả thu thuế GTGT qua các năm 37

Bảng 2.2: Kết quả thu thuế GTGT của hộ ấn định thuế 40

Bảng 2.3: Kết quả số hộ thực hiện sổ sách kế toán 41

Bảng 2.4: Kết quả số thuế GTGT thất thu do hiện tượng “nghỉ giả” 46

Bảng 2.5: Kết quả điều tra doanh số điển hình năm 2018 50

Bảng 2.6: Kết quả điều tra doanh số kê khai ở các hộ điển hình năm 2017 52

Bảng 2.7: Kết quả xử lý về thuế do Công an chuyển từ 2016-2018 55

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của chi cục thuế 31

Biểu đồ 2.1: Số thuế còn tồn đọng của DN 41

Biểu đồ 2.2: Số đơn vị vi phạm qua các năm 43

Biểu đồ 2.3: Số tiền phạt qua các năm 43

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Trong hệ thống chính sách thuế hiện hành của Việt Nam, thuế GTGT là một sắc thuế có vai trò rất quan trọng không chỉ trên góc độ là công cụ rất mạnh của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khuyến khích đầu tư mở rộng SXKD hợp lý, mà sắc thuế này còn đóng góp số thu lớn cho ngân sách nhà nước hàng năm Thất thu thuế là một hiện tượng thực tế khách quan vốn có của bất kỳ hệ thống thuế khóa nào Thất thu thuế luôn có biểu hiện, diễn biến rất đa dạng và phức tạp, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của một quốc gia

Trong thời gian qua, Chi cục thuế thành phố Bảo Lộc, Công an thành phố Bảo Lộc đã triển khai và thực hiện quyết liệt công tác chống thất thu thuế Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là “Các cơ quan quản lý Nhà nước đã thực hiện công tác này như thế nào? Có đạt được kết quả như mong đợi không? Cần những giải pháp nào để hạn chế tối đa việc thất thu thuế?” thì đến nay vẫn chưa được đánh giá một cách có hệ thống, đầy đủ Vì vậy, việc hoàn thiện công tác chống thất thu thuế giá trị gia tăng trên địa bàn thành phố Bảo Lộc là hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Mục tiêu của đề tài là đánh giá thực trạng thất thu thuế GTGT và công tác chống thất thu thuế GTGT trên địa bàn thành phố Bảo Lộc Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác chống thất thu thuế GTGT tại địa phương

Để đáp ứng mục tiêu đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh trên dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo của Chi Cục thuế thành phố Bảo Lộc, các Đội thuế trong giai đoạn 2016 – 2018

Kết quả nghiên cứu đã đánh giá thực trạng thất thu thuế GTGT, công tác chống thất thu thuế GTGT trên địa bàn thành phố Bảo Lộc trong thời gian qua Thực tiễn cho thấy với một địa phương nhỏ như Tp Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng thì cũng đã phát hiện nhiều vụ trốn thuế, gian lận thuế lớn đến mức báo động cho

Trang 11

thấy tình hình gian lận thuế, trốn thuế nói chung vẫn rất vẫn phức tạp Trên cơ

sở phân tích thực trạng, luận văn đã đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác chống thất thu thuế GTGT trên địa bàn thành phố Bảo Lộc trong thời gian tới Cụ thể tập trung vào 3 nhóm giải pháp đó là: (i) Không ngừng hoàn thiện luật thuế GTGT; (ii) Giải pháp cải cách HC trong lĩnh vực thuế; (iii) Các biện pháp cụ thể khác

Từ khóa: Thuế GTGT, chống thất thu thuế, thành phố Bảo Lộc

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết của đề tài

Thuế không chỉ là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý nền kinh tế

mà còn là nguồn thu chủ yếu của NSNN Thông qua việc thu thuế, nhà nước có thể tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình để có thể thực hiện chức năng của mình Trong hệ thống chính sách thuế hiện hành của Việt Nam, thuế GTGT là một trong những sắc thuế có vai trò rất quan trọng không chỉ trên góc

độ là công cụ rất mạnh của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khuyến khích đầu tư mở rộng SXKD hợp lý, mà sắc thuế này còn đóng góp số thu lớn cho NSNN hàng năm

Trọng Bảo (2013) cho rằng: “Thất thu thuế là một hiện tượng thực tế khách quan vốn có của bất kỳ hệ thống thuế khóa nào Nó phản ánh hai mặt của một vấn đề là lợi ích của Nhà nước và lợi ích của DN hay lợi ích cá nhân Trên thực

tế thì hai lợi ích này thường mâu thuẫn nhau, Nhà nước luôn có khuynh hướng tăng nguồn thu từ thuế, trong khi đó DN luôn mong muốn giảm số thuế phải nộp càng nhiều càng tốt Từ đó thất thu thuế luôn có biểu hiện, diễn biến rất đa dạng

và phức tạp, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của một quốc gia”

Theo Bộ tài chính (2013) đã chỉ ra 5 nguyên nhân về việc thất thu thuế

GTGT: “Thứ nhất, chính sách thuế GTGT còn quá nhiều khe hở, quá nhiều bất cập, không phù hợp với thực tại và yêu cầu phát triển của nền kinh tế; Thứ hai,

thuế GTGT là một loại thuế mới tiên tiến, nhưng công nghệ quản lý thu thuế chưa theo kịp, do đó đã tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi, để các chủ thể kinh doanh

trốn thuế, lậu thuế; Thứ ba, trong tư tưởng cải cách thuế vẫn còn mang nặng dấu ấn cơ chế cũ - cơ chế kế hoạch hóa tập trung; Thứ tư, quá trình cải cách

thuế mới tập trung nhiều đến khía cạnh chính sách mà chưa có sự quan tâm thích đáng đến việc cải cách hành chính Thuế, dẫn đến năng lực quản lý hành chính Thuế thấp, hiệu quả chưa cao, làm xuất hiện nhiều tồn tại trong công tác

hành thu; Thứ năm, chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để triển khai

thuế GTGT có hiệu quả”

Trang 13

Thực trạng gian lận thuế GTGT tại thành phố Bảo Lộc diễn ra khá phổ biến với các trường hợp như bán hàng không xuất hóa đơn, kê khai giảm giá trị hàng bán thấp hơn so với giá trị thực tế mà khách hàng thanh toán, kê khai khấu trừ thuế GTGT của các hóa đơn bất hợp pháp Trên địa bàn thành phố, trong một vài năm gần đây tình trạng thất thu do công tác quản lý ĐTNT, ấn định thuế, hoàn thuế… xử lý các đơn vị gian lận thuế qua công tác thanh tra, kiểm tra cũng đạt được nhiều kết quả Các cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều vụ vi phạm bị

xử phạt hành chính, thậm chí có những vụ viêc phải xử lý hình sự như Công ty TNHH Diễm Như đã sử dụng các hóa đơn khống trên để hợp thức hóa đầu vào,

kê khai khấu trừ thuế với số tiền 324.048.287.404 đồng, trong đó tiền thuế GTGT là 15.430.870.829 đồng Vụ án Mua, bán trái phép hóa đơn xảy ra tại Tp Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng do Nguyễn Thị Hằng và Trần Thị Thanh Nga thành lập nhiều DN với mục đích mua bán hóa đơn với giá trị hàng hóa trước thuế thể hiện

trên hóa đơn khoảng 90 tỷ đồng

Chi cục thuế thành phố Bảo Lộc, Công an thành phố Bảo Lộc đã triển khai

và thực hiện quyết liệt công tác chống thất thu thuế tuy nhiên câu hỏi đặt ra là các cơ quan quản lý Nhà nước đã thực hiện công tác này như thế nào? Có đạt được kết quả như mong đợi không? Cần những giải pháp nào để hạn chế tối đa việc thất thu thuế? thì đến nay vẫn chưa được đánh giá một cách có hệ thống, đầy đủ

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác chống thất thu thuế, qua thời gian tìm hiểu công tác quản lý thuế tại thành phố Bảo Lộc, tôi nhận thấy đây là vấn đề hấp dẫn, có chiều sâu, phù hợp với chuyên ngành Quản lý kinh tế tôi đã

học, nên tôi chọn đề tài “Hoàn thiện công tác chống thất thu thuế giá trị gia

tăng trên địa bàn thành phố Bảo Lộc” để làm luận văn Thạc sỹ

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá thực trạng thất thu thuế GTGT và công tác chống thất thu thuế GTGT trên địa bàn thành phố Bảo Lộc Trên cơ sở

Trang 14

đó đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác chống thất thu thuế GTGT tại địa phương

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu chung, các mục tiêu cụ thể của đề tài cần thực hiện như sau:

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng thất thu thuế GTGT, công tác quản lý

chống thất thu thuế GTGT tại thành phố Bảo Lộc trong thời gian qua

Mục tiêu 2: Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác

chống thất thu thuế GTGT tại thành phố Bảo Lộc trong thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đánh giá tình trạng thất thu thuế GTGT

và công tác chống thất thu thuế GTGT tại thành phố Bảo Lộc

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: Đề tài được thực hiện tại Thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm đồng + Về thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ năm 2016 đến năm 2018

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo của Chi Cục thuế thành phố Bảo Lộc, các phòng thuế trong giai đoạn 2016 – 2018

1.4.2 Phương pháp phân tích số liệu

Để thấy rõ sự biến động của các chỉ tiêu đánh giá qua các năm, nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích, so sánh tính biến động của các chỉ tiêu giữa các thời kỳ về mặt tuyệt đối (±) và tương đối (%) để rút ra các xu hướng chung, nguyên nhân, điều kiện để nhận xét, đánh giá

1.5 Kết cấu đề tài

Trang 15

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu bao gồm

3 chương sau đây:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA

TĂNG VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Chương 2: THỰC TRẠNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ

CÔNG TÁC CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC

CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1.1 Nội dung về thuế GTGT

1.1.1 Khái niệm về thuế GTGT

Theo Luật Thuế GTGT đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008 nêu rõ: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của HH, DV phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” Như vậy thuế GTGT là loại thuế gián thu dựa trên giá trị tăng thêm của HH, DV phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng

Thuế VAT được áp dụng lần đầu tiên tại Pháp năm 1954 Sau đó được triển khai rộng rãi sang các nước khác Dựa trên nội dung của thuế VAT, mỗi nước xây dựng cho mình một luật thuế riêng phù hợp với điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia và hầu hết đã thu được kết quả tốt, cải thiện được tình hình tài chính của đất nước Đến nay, Thuế VAT đã được khẳng định là một sắc thuế ưu việt, được áp dụng hầu hết các nước trên thế giới

Ở Việt Nam, chính sách thuế trước đây chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, làm cản trở quá trình mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới Để khắc phục và tạo tiền đề để đưa nước ta bước sang giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước, mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới Việt Nam đã cải cách thuế bước 2 nhằm phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam một cách

rõ ràng, cụ thể, sâu sắc và hoà nhập với kinh tế trong khu vực và trên thế giới Vậy thuế GTGT là gì?

Thuế GTGT là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng hàng hoá (nói cách khác là đánh trên phần giá trị chênh lệch giữa giá đầu ra và giá đầu vào do các cơ sở SXKD tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh dịch vụ) Thuế GTGT là loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá thanh toán

Trang 17

nước thông qua việc trả tiền mua hàng của người tiêu dùng, nhà sản xuất kinh doanh và cung ứng dịch vụ chỉ là người nộp thay

Thuế GTGT là loại thuế mới nhằm thay thế và khắc phục những hạn chế và tích luỹ trùng khắp của thuế Doanh thu Thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm (được thể hiện vào tiền lương, tiền công, tiền lợi nhuận, lợi tức và các khoản chi phí tài chính khác) của hàng hoá dịch vụ Người bán hàng, người sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ lần đầu phải nộp thuế GTGT trên toàn bộ doanh thu bán hàng, còn người bán hàng ở các khâu tiếp theo chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm Đến cuối chu kì sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ, tổng số thuế thu ở các công đoạn cộng lại sẽ đúng số thuế tính trên giá bán của hàng hoá, dịch vụ đó cho người tiêu dùng cuối cùng Chính vì lẽ đó, một sản phẩm hàng hoá dịch vụ dù qua nhiều khâu, từ sản xuất đến tiêu dùng đều phải chịu thuế như nhau

Thuế GTGT có phạm vi điều chỉnh rộng, áp dụng với tất cả các loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong nước (kể cả hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và hàng hoá nhập khẩu), bao trùm lên mọi tổ chức, cá nhân thuộc mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh và cung ứng dịch vụ Mức thuế phải nộp thường căn cứ vào công dụng vật chất của sản phẩm chứ không phân biệt người mua và mục đích sử dụng Thuế này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN, được coi trọng trong tổng thể toàn bộ hệ thống thuế

Thuế giá trị gia tăng theo cấu trúc thuế tỷ lệ, có ít mức thuế suất, đơn giản trong quá trình tính toán và thu thuế, thể hiện chính xác bản chất GTGT Ngoài mức thuế suất 0% mà phần lớn các nước đang áp dụng cho hàng hoá xuất khẩu nhằm hoàn lại phần thuế đã thu ở khâu trước, Nhà nước khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu cạnh tranh trên thị trường quốc tế, các nước thường quy định từ 2 đến 3 mức thuế tuỳ theo tính chất của từng loại hàng hoá dịch vụ Ở nước ta, thuế GTGT được điều chỉnh còn lại 3 mức thuế (trước đây là 4 mức) là: 0%, 5% và 10%

Có hai cách xác định GTGT:

Theo phương pháp trực tiếp: theo phương pháp này GTGT được xác định bằng tiền lương cộng lại với lợi nhuận, phương pháp này chính xác nhưng xác định khó

Trang 18

Phương pháp gián tiếp: theo phương pháp này GTGT được xác định bằng giá trị hàng bán ra trừ đi giá trị mua vào tương ứng Trên thực tế, cách này dễ xác định, được dùng tính thuế GTGT mặc dù nó thiếu chính xác

1.1.2 Vai trò của thuế giá trị gia tăng

Thuế GTGT tạo nên môi trường công bằng, qua đó góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá, dịch vụ

Thuế GTGT lại có ưu điểm là chỉ thu vào phần giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ qua các khâu từ quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá cho đến tiêu dùng, hoàn toàn không thu thuế trên toàn bộ doanh thu như mô hình thuế doanh thu Việc

áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu không ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm tiêu dùng, không gây khó khăn, trở ngại cho các khâu từ sản xuất lưu thông hàng hoá

và tiêu dùng cuối cùng

Thuế GTGT không có hiện tượng thuế trùng thuế, giúp cho giá cả hàng hoá, dịch vụ được xác định hợp lý và chính xác hơn, góp phần ổn định giá cả, khuyến khích và thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá

Thuế GTGT động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào NSNN, góp phần hình thành khoản thu lớn vào ổn định cho NSNN Với phạm vi áp dụng rộng rãi trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, đối tượng nộp thuế và chịu thuế đều dễ dàng chấp nhận, tính tập trung của thuế, các yếu tố trên tạo tiền đề để thuế GTGT thực hiện vai trò này một cách rõ rệt trên thực tế

Thuế GTGT áp dụng thuế suất 0% đối với hàng xuất khẩu và được khấu trừ hoặc hoàn lại toàn bộ số thuế GTGT của các yếu tố mua vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng hoá xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế

Đối với hàng nhập khẩu, thuế GTGT cùng với thuế nhập khẩu làm tăng chi phí cho các nhà nhập khẩu Nếu thuế nhập khẩu là hàng rào thuế quan thứ nhất bảo hộ mậu dịch thì thuế GTGT ở khâu nhập khẩu cũng có thể xem là hàng rào thuế quan thứ hai góp phần bảo hộ mậu dịch dù mức độ bảo hộ có thấp hơn thuế nhập khẩu

Thuế GTGT góp phần tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy

Trang 19

thuế GTGT đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy người mua và người bán thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ Góp phần thực hiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta phù hợp với sự vận động và tăng trưởng của nền kinh

tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế với các nước khác trên thế giới

Đảm bảo nguồn thu to lớn, ổn định cho NSNN, thể hiện

Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hoạc nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ chịu thuế Đối tượng chịu thuế là tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ được sản xuất, cung ứng dịch vụ trong nước hay nhập khẩu đều là đối tượng chịu thuế GTGT Như vậy, diện đánh thuế GTGT rất sâu rộng, vì vậy thuế GTGT có khả năng đem lại nguồn thu lớn cho NSNN

Do đặc điểm nền kinh tế Việt Nam, hiện nay có nhiều thành phần kinh tế cùng song song tồn tại và hoạt động, nhận thức về pháp luật và sự am hiểu về chính sách thuế chưa cao, mặt khác còn nhiều việc thực hiện mở sổ sách kế toán,

sử dụng hoá đơn chưa nghiêm dẫn đến khó xác định căn cứ tính thuế Vì vậy, nước ta sử dụng cả hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp

Vai trò điều chỉnh sản xuất và tiêu dùng hàng hoá, khuyến khích xuất khẩu Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước sử dụng thuế như là một công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua chính sách thu thuế, tất cả các chủ thể kinh tế và dân cư đều trở thành đối tượng điều chỉnh của Nhà nước Nhà nước dùng chính sách thuế để tác động đến quy mô, tốc độ và định hướng đầu tư của các chủ thể kinh tế cho phù hợp với phương hướng, chiến lược phát triển chung của nền kinh tế quốc dân mà Nhà nước đặt ra Luật thuế GTGT của Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu này, thể hiện:

Về thuế suất: áp dụng mức thuế 5% với các mặt hàng hoá thiết yếu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng, 10% cho các mặt hàng không thiết yếu cần điều tiết mạnh, 0% đối với mặt hàng xuất khẩu

Về phương pháp tính thuế: đối với những đơn vị chấp hành tốt chế độ mở, ghi chép sổ sách kế toán và có đầy đủ hoá đơn chứng từ (thường là tất cả các đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân) thì được tính thuế theo phương pháp

Trang 20

khấu trừ thuế Từ đó kích thích được các thành phần kinh tế thực hiện việc mở

sổ sách kế toán và khuyến khích việc sử dụng hoá đơn chứng từ trong quan hệ mua bán và cung ứng hàng hoá, dịch vụ

Về hoàn thuế: quy định hoàn thuế cho các cơ sở có mua sắm TSCĐ, cơ sở kinh doanh xuất khẩu được hoàn thuế đầu vào tương ứng, các cơ sở thuế đầu vào phát sinh lớn hơn số thuế đầu ra liên tục trong 3 tháng … đã khuyến khích đầu tư mở rộng trong hoạt động sản xuất, tạo điều kiện về vốn cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh

Như vậy, thuế GTGT có vai trò rất lớn trong hoàn cảnh cụ thể của nền kinh

tế nước ta hiện nay Mục đích của việc áp dụng thuế GTGT nhằm kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh để dần lành mạnh quan hệ thị trường, tạo môi trường bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi phát huy hết thế mạnh về lao động, kỹ thuật, tiền vốn trong nước, duy trì công bằng xã hội, đảm bảo nguồn thu ổn định cho NSNN

1.1.3 Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng

+) Đối tượng chịu thuế GTGT: Tất cả HH, DV dùng cho SXKD và tiêu

dùng ở Việt Nam, trừ 29 nhóm đối tượng HH, DV không chịu thuế quy định tại Điều 5 của Luật thuế GTGT :

- Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất và bán ra

- Sản phẩm muối (là sản phẩm mà thành phần chính có công thức hóa học

là NaCl)

- Hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

- Chuyển quyền sử dụng đất thuộc diện chịu thuế chuyển quyền sử dụng đất

- Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê

- Dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư

- Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng và các loại bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh

- Dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật nuôi, dịch vụ sinh đẻ có kế hoạch, dịch vụ điều

Trang 21

dưỡng sức khỏe, phục hồi chức năng cho người bệnh Dịch vụ y tế bao gồm cả vận chuyển người bệnh, dịch vụ cho thuê phòng bệnh, giường bệnh của cơ sở y tế; xét nghiệm, chiếu, chụp, máu và chế phẩm máu dùng cho người bệnh

- Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân

cư, duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng, phục vụ tang lễ v…v…(chi tiết tham khảo tại Luật thuế GTGT ngày 3 tháng 6 năm 2008, Nghị định số 123/2008/NĐ-CP Chính phủ, Thông tư số 129/2008/TT-BTC của Bộ Tài Chính)

+) Đối tượng nộp thuế GTGT: Các tổ chức, cá nhân có hoạt động SXKD

HH, DV chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhập khẩu HH chịu thuế GTGT Tất cả các

tổ chức, cá nhân nhập khẩu HH, mua DV từ nước ngoài hoặc được xem như nhập khẩu HH từ nước ngoài nếu các HH, DV này thuộc diện chịu thuế GTGT ở Việt Nam thì các nhà nhập khẩu này cũng là đối tượng nộp thuế GTGT

+ Trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện luật thuế GTGT: Luật Thuế GTGT

năm 2008 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XII nêu rõ: “Cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng hạn theo quy định của luật này; Cơ quan thuế trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện đúng các quy định của luật này; Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình giám sát, phối hợp với cơ quan thuế trong việc thi hành luật thuế GTGT; Công dân Việt Nam có trách nhiệm giúp cơ quan thuế, cán bộ thuế trong việc thi hành luật này”

Trang 22

+ Cách tính thuế GTGT

* Căn cứ tính thuế GTGT

- Giá tính thuế: Luật Thuế GTGT năm 2008 đã được Quốc hội nước

CHXHCN Việt Nam khóa XII quy định: “Đối với hàng hóa, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT; Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu; Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu tặng

là giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này; Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hóa tính theo giá bán trả 1 lần không tính theo số tiền trả từng kỳ; Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu từng kỳ; Đối với gia công hàng hóa là giá gia công; Đối với hàng hóa, dịch vụ khác là giá do chính phủ quy định Giá tính thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng”

- Thuế suất: Luật Thuế GTGT năm 2008 đã được Quốc hội nước

CHXHCN Việt Nam khóa XII quy định: “Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch xuất khẩu, vận tải quốc tế, những hàng hóa, dịch thuộc diện không chịu thuế GTGT được quy định tại Điều 5 luật thuế GTGT; Mức thuế suất 5% áp dụng đối với nước sạch phục vụ sản xuất sinh hoạt; phân bón, quặng

để sản xuất phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh và chất kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng; thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác; DV đào đắp, nạo vét kênh, mương, ao, hồ phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho câu trồng, sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp; sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa qua chế biến; mủ cao su

sơ chế, nhựa thông sơ chế, lưới, dây giềng và sợi để đan lưới đánh cá; thực phẩm tươi sống, lâm sản chưa qua chế biến, trừ gỗ, măng và sản phẩm quy định tại khoản 1 điều 4 ở trên; Đường, phụ phẩm trong sản xuất đường, bao gồm gỉ đường, bã mía, bã bùn; sản phẩm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, rơm, vỏ dừa,…các sản phẩm thủ công khác sản xuất bằng nguyên liệu tận dụng từ nông nghiệp, bông sơ chế, giấy in báo; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất

Trang 23

nông nghiệp, bao gồm máy cày, máy bừa, máy cấy, máy gieo hạt, máy tuốt lúa, máy gặt, máy gặt đập liên hợp, may thu hoạnh sản phẩm nông nghiệ; thiết bị, dụng cụ y tế, bông băng vệ sinh y tế, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, sản phẩm hóa dược, dược liệu là nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập, bao gồm các mô hình, hình vẽ, bảng, phấn, thước kẻ, compa; hoạt động văn hóa, triển lãm, thể dục, thể thao, biểu diễn nghệ thuật, sản xuất phim, nhập khẩu, phát hành và chiếu phim; đồ chơi trẻ em, sách các loại trừ sách quy định tại khoản 15 điều 5 nói trên; DV khoa học, công nghệ theo quy định của Luật khoa học và công nghệ; Mức thuế suất 10% áp dụng đối với các hàng hóa, dịch không thuộc diện áp dụng các mức thuế suất 0%, 5%”

* Phương pháp tính thuế

- Phương pháp khấu trừ thuế: Áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực

hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế

Số thuế phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – thuế GTGT đầu vào

 Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế của HH, DV bán ra * Thuế suất

 Thuế GTGT đầu vào = Tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hoá đơn GTGT mua HH, DV hoặc chứng từ nộp thuế GTGT HH nhập khẩu

- Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT: Áp dụng đối với cơ sở kinh

doanh, cá nhân, hộ kinh doanh, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế

độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật ; Hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý

Số thuế phải nộp = GTGT của HH, DV * Thuế suất thuế GTGT

Giá trị gia tăng của HH, DV = Giá thanh toán của HH, DV bán ra – Giá thanh toán của HH, DV mua vào

Trang 24

* Khấu trừ và hoàn thuế GTGT

- Khấu trừ thuế GTGT: Luật Thuế GTGT năm 2008 đã được Quốc hội

nước CHXHCN Việt Nam khóa XII quy định: “Thuế GTGT mang bản chất liên hoàn vì vậy thuế GTGT đã được nộp ở giai đoạn trước sẽ được khấu trừ ở giai đoạn sau thông qua cơ chế giá cả khi thực hiện hành vi mua bán trao đổi sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Việc khấu trừ thuế đã nộp ở giai đoạn trước gọi là khấu trừ thuế GTGT đầu vào Thuế GTGT đầu vào là tổng số thuế GTGT trên hoá đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập khẩu” Thuế GTGT đầu vào là tổng số thuế GTGT trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá nhập khẩu Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khấu trừ thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định:

+ Chỉ khấu trừ thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ, trường hợp không hạch toán riêng thì số thuế đầu vào được khấu trừ theo phương pháp phân bổ dựa trên tỷ lệ doanh số chịu thuế so với tổng doanh số bán ra tại doanh nghiệp

+ Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hành hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT thì không được khấu trừ, trừ một số trường hợp theo quy định

+ Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong tháng nào thì được

kê khai khấu trừ trong tháng đó không phân biệt đã được xuất dùng hay chưa

+ Cơ sở mua vật tư hàng hoá không có hoá đơn chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không ghi riêng số thuế GTGT ngoài giá bán thì không được khấu trừ, trừ một số trường hợp có quy định riêng

+ Thuế đầu vào của TSCĐ được kê khai khấu trừ như đối với vật tư, hàng hoá khác Nếu số thuế khấu trừ phát sinh lớn cơ sở được tính khấu trừ dần Sau

3 tháng mà số thuế khấu trừ vẫn còn thì doanh nghiệp có thể đề nghị cơ quan thuế xét hoàn thuế

Trang 25

- Hoàn thuế GTGT: Điều 16 luật thuế GTGT quy định: “Đối tượng được

xét hoàn thuế GTGT là cơ sở kinh doanh 3 tháng liên tục trở lên có số luỹ kế số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế; Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hóa xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu trở lên thì được xét duyệt hoàn thuế theo tháng hoặc chuyến hàng; Đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới đã đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế nhưng chưa có phát sinh doanh thu bán hàng để tính thuế GTGT đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên được xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm Số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn từ 200 triệu trở lên thì được xét hoàn thuế từng quý; Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư cơ sở sản xuất mới thành lập tại địa bàn khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa

đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, nếu có số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT; Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sát nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản có thuế GTGT nộp thừa, cơ sở có quyền đề nghị cơ quan hoàn thuế hoàn lại số thuế nộp thừa; Đối với các dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại: chủ chương trình, dự án hoặc tổ chức Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức cá nhân nước ngoài để mua hàng hóa tại Việt Nam thì được hoàn lại tiền thuế GTGT đã ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng”

1.2 Thất thu thuế

1.2.1 Khái niệm về thất thu thuế

Luật Thuế GTGT năm 2008 nêu rõ: “Thất thu thuế được hiểu là hiện tượng trong đó những khoản tiền từ các cá nhân, tổ chức có tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hay có những điều kiện cơ sở vật chất nhất định so với khả năng của họ cần phải đóng nộp vào NSNN, song vì những lý do xuất phát từ phía Nhà nước hay người nộp thuế mà những khoản tiền đó không được nộp vào NSNN”

Trang 26

1.2.2 Các dạng biểu hiện của thất thu thuế GTGT

Dạng thất thu thuế giá trị gia tăng là những biểu hiện bên ngoài của thất thu thuế theo những tiêu thức nhất định Do vậy, có thể khái quát các dạng thất thu thuế giá trị gia tăng cơ bản đã được thể hiện trong Luật thuế GTGT năm 2008 bao gồm: “Thất thu thuế do không bao quát hết số cơ sở sản xuất, kinh doanh: Nguyên nhân này do các cơ sở sản xuất, kinh doanh không đăng ký kinh doanh, không đăng ký mã số thuế hoặc đăng ký kinh doanh nhưng chưa đăng ký mã số thuế mà vẫn tiến hành SXKD; Thất thu từ hoạt động xây dựng, du lịch lữ hành, vận tải tư nhân, cho thuê nhà nghỉ còn lớn: Nguyên nhân là các cá nhân, các hộ kinh doanh, các doanh nghiệp thường không khai báo, không đăng ký nộp thuế nhằm trốn, tránh nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước; Thất thu do chưa bao quát hết thu nhập của người nộp thuế cũng như số lượng người phải nộp thuế thu nhập cá nhân: Nguyên nhân là do số lượng người lao động hành nghề tự do ở nước ta còn lớn, thu nhập của người lao động ở nước ta có từ nhiều nguồn thu khác nhau

và Nhà nước chưa có biện pháp quản lý hiệu quả”

1.2.3 Những nguyên nhân cơ bản của thất thu thuế

Do đó, tình trạng thất thu thuế như trên có thể đề cập đến một số nguyên nhân chủ yếu như sau:

+ Xuất phát từ người nộp thuế: Để có thể đảm bảo quyền lợi của giai cấp

thống trị, nhà nước cần có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình Nguồn này được lấy bằng cách động viên một phần thu nhập của các tầng lớp trong xã hội Với quyền lực của mình, nhà nước đặt ra các loại thuế buộc mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội phải tuân theo Nhu cầu chi tiêu của nhà nước càng nhiều thì mức động viên của thuế càng cao Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường mục tiêu của các nhà kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận, vì vậy họ luôn tìm cách để làm tăng doanh thu, giảm chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, và thuế cũng là một khoản chi mà họ phải nộp cho nhà nước nên sẽ làm giảm lợi nhuận mà các nhà kinh doanh này thu được Như vậy, trong thuế luôn tồn tại mâu thuẫn giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của

Trang 27

người kinh doanh, chính vì lẽ đó tình trạng thất thu thuế, gian lận về thuế là không thể tránh khỏi

+ Xuất phát từ các cơ quan quản lý nhà nước: Chưa có sự phối hợp chặt

chẽ trong công tác quản lý thuế làm cho sự quản lý thuế của các doanh nghiệp bị rời rạc và lỏng lẻo hơn gây thất thu thuế cho NSNN Chính quyền các cấp chưa tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế làm việc

+ Xuất phát từ bản thân cơ quan thuế: Do trình độ quản lý còn yếu, bộ

máy tổ chức kém hiệu quả và do trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý chưa cao Do không bao quát hết số cơ sở SXKD, cụ thể, các cơ sở này xin tạm nghỉ kinh doanh nhưng thực tế vẫn tiến hành các hoạt động sản xuất

+ Xuất phát từ thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế: Thủ tục hành

chính trong lĩnh vực thuế đã được cải thiện nhiều song vẫn còn nhiều hạn chế gây khó khăn cho người nộp thuế Nhiều quy trình quản lý thuế còn nhiều bất cập chưa sửa đổi do vậy gây tâm lý e ngại đến cơ quan thuế của người nộp thuế

+ Xuất phát từ công tác kiểm tra, thanh tra thuế còn nhiều bất cập, chưa thực sự phát huy hiệu quả: Tình trạng chưa nắm bắt đủ thông tin, đánh

giá đúng đối tượng mà vẫn tiến hành kiểm tra, thanh tra do vậy không phát hiện được vi phạm của các cơ sở Việc xử lý các hành vi trốn thuế, lậu thuế còn chưa nghiêm, mức xử phạt còn quá nhẹ không có tính răn đe khiến cho tình trạng trốn thuế, buôn lậu vẫn tái phạm Cán bộ thuế chưa quan tâm đúng mức tới công tác thanh tra, kiểm tra đôn đốc các cơ sở kinh doanh nộp thuế đầy đủ, kịp thời

+ Xuất phát từ hệ thống thuế giá trị gia tăng còn nhiều bất cập gây khó khăn trong thực tiễn tính toán, thực hiện: Chính sách và chế độ thuế vẫn còn

nhiều chỗ còn chưa hợp lý như thuế suất, biểu thuế còn phức tạp và chi li chưa phù hợp với thực tiễn Luật thuế sửa đổi bổ sung thiếu tính kịp thời và hợp lý sẽ nên không bao quát được hết nguồn thu

1.2.4 Ảnh hưởng của vấn đề thất thu thuế

Thất thu thuế nói chung và thất thu GTGT xảy ra sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đất nước Theo Nguyễn Thị Thanh Hoài và Phạm Nữ Mai Anh

(2009) cho rằng: “Về mặt chi tiêu của nhà nước: Thuế là nguồn thu chủ yếu của

Trang 28

Nhà nước, ở nước ta thu thuế đóng góp khoảng 80% vào ngân sách Khi xảy ra tình trạng thất thu thuế thì nguồn thu sẽ giảm đi, và nó sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch

chi tiêu của Nhà nước Về mặt xã hội: Thất thu thuế gây ra tác động không nhỏ

đối với đời sống KTXH) của người dân Thất thu thuế có ảnh hưởng đến việc thực hiện công bằng XH do cá nhân cố tình trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế Thất thu thuế tạo ra sự phân hoá giàu nghèo, bất đối xứng giữa các thành viên trong

XH Về mặt kinh tế: Thất thu thuế làm giảm trầm trọng nguồn thu của NSNN,

ảnh hưởng tới công tác quản lý thu thuế, kế hoạch thu và các chính sách phát triển định hướng trong tương lai sẽ khó thực hiện hơn tạo ra một cơ chế bất hợp

lý ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh giữa các DN và các thành phần kinh tế Thất thu thuế còn gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế vì qua đây cho

thấy sự hoạt động kém hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước Về mặt đạo

đức: Việc dùng những thủ đoạn tinh vi nhằm trốn thuế gây thất thu đã cho thấy

sự xói mòn đạo đức, làm ăn bất chính của một số cá nhân, một số DN, luật lệ là chuẩn mực chung cho mọi hoạt động trong SXKD tuy nhiên nó lại không được tôn trọng một cách đúng nghĩa”

1.2.5 Tính cấp thiết tăng cường chống thất thu thuế giá trị gia tăng

Với những ảnh hưởng của thất thu thuế nêu trên, chúng ta càng nhận ra tầm quan trọng của chống thất thu thuế ở mức thấp nhất là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách hiện nay

Thuế tác động vào nhiều mặt của xã hội, tác động mạnh vào thu nhập của mọi tầng lớp nhân dân Việc thực hiện thu đúng cũng đồng nghĩa với việc tính toán hài hòa giữa tiền thuế phải nộp và thực tế kinh doanh Nếu như có sự chênh lệch cao hơn mà theo đó người nộp thuế phải nộp nhiều hơn thì sẽ gây ra sự khó khăn cho người tham gia sản xuất kinh doanh và gây tác động xấu và kìm hãm lại sự phát triển của nền kinh tế Do vậy, thực hiện thu đúng không những phụ thuộc vào những quy định về chính sách thuế mà việc áp dụng cũng phải đúng với thực tế

Trang 29

bản của chính sách thuế, cho nên việc chống thất thu thuế phải hướng đến đảm bảo một nguồn thu vững chắc cho NSNN Chống thất thu thuế có hiệu quả cao

sẽ làm tăng thu cho NSNN để thực hiện vai trò tổ chức, quản lý và định hướng nền kinh tế phát triển theo hướng có lợi, tạo các mối quan hệ công bằng và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển

Bên cạnh đó, chỉ tiêu thu NSNN là một trong những chỉ tiêu pháp lệnh quan trọng hàng đầu được Quốc hội phê chuẩn và thông qua hàng năm Nó có liên quan và chi phối tới việc thực hiện các chỉ tiêu khác như kinh tế, xã hội, an ninh, văn hoá, quốc phòng… Vì vậy, chống thất thu thuế là đáp ứng yêu cầu đảm bảo nguồn thu NSNN thông qua công cụ thuế

Mặt khác, trong công tác quản lý thuế cần đảm bảo những yêu cầu sau: Thu đúng, thu đủ và thu kịp thời, có như vậy thì NSNN mới được đảm bảo, tạo nên

sự công bằng trong xã hội khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển trên mọi lĩnh vực Hoàn thành tốt ba yêu cầu trên chính là mục tiêu phấn đấu của ngành thuế

Bất kì quốc gia nào, thuế luôn luôn đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế xã hội, là nguồn thu chủ yếu của NSNN và là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý, điều tiết sản xuất kinh doanh cũng như phân phối, tiêu dùng thúc đẩy kinh tế phát triển đúng hướng, đảm bảo công bằng xã hội Ở nước

ta cũng không ngoại lệ, thuế trở thành nguồn thu chủ yếu của NSNN với số thu

từ thuế chiếm trên 90% tổng thu NSNN Và hệ thống thuế hiện hành đã đem lại kết quả thu vào NSNN ngày càng tăng qua các năm, đáp ứng về cơ bản yêu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng của NSNN, giảm tỷ lệ bội chi, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, phát huy được tác dụng trong quản lý, điều tiết vĩ

mô nền kinh tế, đã tạo được môi trường bình đẳng, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới

Song bên cạnh những thành tựu đã đạt được, còn có một số hạn chế nhất định dẫn đến tình trạng thất thu thuế lớn Để thấy rõ vấn đề này, ta đi xem xét các vấn đề cụ thể:

Trang 30

Thất thu thuế là hiện tượng số thuế thực thu vào NSNN nhỏ hơn so với số thuế lẽ ra phải thu được trong một thời gian nhất định Thất thu thuế có hai dạng:

- Thất thu tiềm năng: là hiện tượng số thu nhỏ hơn so với khả năng thực tế

có thể thu được do chính sách thuế qui định chưa bao quát hết được các nguồn thu dẫn đến bỏ sót nguồn thu

- Thất thu thực: là hiện tượng số thuế thực thu nhỏ hơn số thực thu phát sinh theo luật định

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng thất thu thuế:

- Từ phía đối tượng nộp thuế (ĐTNT): có hành vi khai man, trốn lậu thuế như không đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, khai man doanh số… dẫn đến các khoản đó phải thu nhưng không thu được

- Từ phía cán bộ nộp thuế: biện pháp quản lý ĐTNT chưa chặt chẽ, xác định chưa sát doanh số ấn định … gây hậu quả thất thu thuế vào NSNN

Hiện tượng thất thu thuế gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội của nước ta Cụ thể là:

- Làm giảm nguồn thu NSNN, không những không đáp ứng được nhu cầu chi NSNN, làm cho tình trạng bội chi của ngân sách diễn ra thường xuyên mà làm hạn chế vai trò, tác dụng của thuế đối với nền kinh tế, gây ra lạm phát

- Thất thu thuế làm cho thuế không phát huy mạnh mẽ mục tiêu đảm bảo công bằng xã hội giữa các thành phần kinh tế, giữa các tầng lớp dân cư, ảnh hưởng lớn đến sự bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh

tế, ảnh hưởng đến phát triển của nền kinh tế nói chung và không đảm bảo điều hoà lợi ích giữa nhà nước, thị trường và mỗi người dân

- Ngoài ra, thất thu thuế còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới hiệu lực của các luật thuế, gây sự thiếu tin tưởng, làm giảm ý thức chấp hành pháp luật thuế của các ĐTNT Từ đó làm ảnh hưởng đến vai trò quản lý thống nhất của nhà nước Nhận thức được vai trò quan trọng của thuế trong nền kinh tế thị trường hiện nay và hậu quả nghiêm trọng của hiện tượng thất thu thuế, nhiệm vụ tăng cường quản lý và chống thất thu thuế là nhiệm vụ đặt lên hàng đầu không những

Trang 31

đòi hỏi sự nỗ lực của riêng ngành thuế và các ngành các cấp có liên quan mà còn cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp đó với nhau

Tuy nhiên, tình trạng thất thu thuế còn diễn ra nghiêm trọng với mọi sắc thuế, ở mọi ngành nghề, mọi thành phần kinh tế

Thuế GTGT vẫn còn nhiều điều bất cập trong chính sách hơn nữa sự hiểu biết của người dân về luật thuế mới vẫn còn thấp, nghiệp vụ của cán bộ thuế chưa cao nên trong những năm qua vẫn còn tồn tại hiện tượng thất thu thuế ở mức độ cao Trong đó đa phần các hộ kinh tế cả thể thực hiện mua bán hàng hoá, dịch vụ bằng tiền mặt, chưa thực hiện tốt chế độ kế toán, việc sử dụng hoá đơn chứng từ trong mua bán hàng hoá chưa đầy đủ do đó công tác kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng gặp rất nhiều khó khăn Các doanh nghiệp thì tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để trốn thuế như: khai man doanh số, sử dụng hoá đơn giả, quay vòng hóa đơn, mua bán hóa đơn bất hợp pháp…

từ thuế đầu vào đưa khấu trừ thuế, Một số hình thức sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để gian lận thuế thể hiện ở việc các doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu mua và khâu bán Chính vì những nguyên nhân này mà đã có vô số những vụ vi phạm liên quan đến vấn đề hóa đơn chứng

từ, với một số dạng chủ yếu sau: Thứ nhất, hóa đơn in giả hoàn toàn Nhìn bề ngoài thì loại hoá đơn này giống như hoá đơn GTGT do Bộ tài chính phát hành

và chỉ có thể phát hiện bằng máy soi nghiệp vụ còn người mua và người bán

Trang 32

hàng không dễ phát hiện; Thứ hai, hoá đơn thật do Bộ tài chính phát hành được bán cho một đơn vị nhất định nhưng tuồn ra thị trường mua bán một cách bất hợp pháp; Thứ ba, hoá đơn do Bộ tài chính phát hành được sử dụng khi mua bán hàng hóa nhưng ghi giá thanh toán không đồng nhất giữa 3 liên của 1 số hoá đơn, hoặc cố tình ghi sai mã số của người bán gây khó khăn cho sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan thuế; Thứ tư, cạo sửa hoá đơn mua hàng ghi số tiền cao hơn số thực tế để khấu trừ, hoàn thuế, thanh toán, quyết toán thuế; Thứ năm, lập hóa đơn khống, nghĩa là thực tế không mua bán hàng hóa nhưng thông đồng với các đơn vị xuất khẩu để kê khai hoàn thuế GTGT hàng xuất khẩu…; Thứ sáu, khi bán hàng hóa, dịch vụ việc lập hoá đơn cho khách hàng còn khá tuỳ tiện, không giao hoặc giao hoá đơn không hợp pháp để trốn thuế”

Về hoàn thuế: Luật Thuế GTGT năm 2008 đã được Quốc hội nước

CHXHCN Việt Nam khóa XII nêu rõ có 6 cách thức gian lận trong khâu hoàn

thuế đó là: “Thứ nhất, tạo nguồn hàng khống, lập hợp đồng mua bán nội địa khống với phương thức thanh toán trực tiếp; Thứ hai, hợp thức hóa nguồn tiền

mua hàng xuất khẩu bằng cách lập các hợp đồng vay khống, hoặc lập danh sách

góp vốn kinh doanh bằng hợp đồng giả; Thứ ba, làm giả hợp đồng vận chuyển,

thanh toán cước vận chuyển hàng hóa trong nội địa và ra cửa khẩu, tạo dựng hợp

đồng mua bán ngoại thương và thanh toán giả; Thứ tư, quay vòng nhiều lần hàng xuất khẩu; Thứ năm, móc nối với cán bộ hải quan cửa khẩu xác nhận khống hồ

sơ hoặc khai tăng giá và khối lượng hàng hóa; Thứ sáu, hình thành các đường

dây với những chi nhánh, văn phòng hoặc thành lập các doanh nghiệp chỉ để làm dịch vụ hồ sơ hoàn thuế”

1.4 Tổng quan về thất thu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

Ở nước ta, Luật Thuế GTGT năm 2008 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XII nêu rõ: “Việc thực hiện luật thuế GTGT đã đạt được những thành tựu đáng kể như tổng thu cho NSNN liên tục tăng qua các năm, khuyến khích xuất khẩu, góp phần ổn định giá cả, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế ở nước ta phù hợp với kinh tế thị trường tạo điều kiện mở rộng hợp tác

Trang 33

đạt được kể từ khi được chính thức áp dụng cho đến nay thì tình trạng thất thu

về thuế GTGT vẫn là vấn đề muôn thuở của các nhà quản lý cũng như của ngành thuế nói riêng”

Gian lận thuế GTGT không những là vấn đề của riêng nước ta mà là vấn

đề của cả các nước khác trên thế giới Do được cung cấp hóa đơn thuế GTGT khống nhằm chiếm dụng tiền hoàn thuế quá dễ dàng, một số DNTN thi nhau mua bán hóa đơn Số tiền mỗi DNTN xuất khống hóa đơn được phát hiện lên đến hàng tỷ đồng Trên cả nước trong những năm qua phát hiện rất nhiều vụ án liên quan đến hành vi mua bán trái phép hóa đơn và trốn thuế Một số vụ điển hình trên cả nước: Tháng 10/2016, Thanh tra Chính phủ đã yêu cầu Cục thuế TP HCM chuyển cho cơ quan công an để điều tra vụ việc 18 DN tại đây mua bán và

sử dụng hàng trăm hóa đơn của các DN đã bỏ trốn, gây thất thu thuế Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ, số tiền ghi trên hóa đơn được 18 DN mua bán trên 200 tỷ đồng, gây thất thu thuế GTGT 19,7 tỷ đồng Đáng chú ý việc mua bán hóa đơn này thông qua nhiều cấp trung gian ở nhiều tỉnh, thành phố khác nhau Đầu tháng 8/2016, Công an thành phố Hà Nội triệt phá thành công chuyên

án “VAT6”, bóc dỡ một đường dây phạm tội “in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp NSNN" Đối tượng cầm đầu đường dây này là Hoàng

Lệ Hằng, sinh năm 1971, ở đường Trần Khát Chân, quận Hai Bà Trưng “Nữ quái” đặt trụ sở làm việc tại quán cà phê tại phố Cẩm Hội, quận Hai Bà Trưng

và tập hợp, chỉ đạo điều hành một nhóm hơn 10 người có quan hệ gia đình, người quen để hoạt động mua, bán hoá đơn Giá trị gia tăng Bản thân Hằng trực tiếp thu gom các DN từ các đối tượng khác với giá từ 30-40 triệu đồng 1 DN, bao gồm cả con dấu và hoá đơn,

Tại thời điểm bị bắt giữ, Công an đã thu giữ tang vật gồm 36 bộ dấu pháp nhân công ty “ma”; 28 bộ dấu Hộ kinh doanh cá thể; gần 200 quyển hoá đơn có nhiều tờ đã viết nội dung; cùng nhiều chứng từ, séc, sổ sách thống kê ghi chép các loại hoá đơn đã mua bán; hơn 757 triệu đồng tiền mặt Bước đầu cơ quan an ninh xác định Hoàng Lệ Hằng và đồng bọn xuất khống hoá đơn với tổng giá trị gần 800 tỷ đồng của hơn 33 công ty “ma”, gây thất thu thuế trên 78 tỷ đồng cho

Trang 34

NSNN thì vụ Lê Văn La và Nguyễn Thị Dậu thành lập 8 công ty "ma" để mua bán HĐ trái phép, "móc" của NSNN hàng trăm tỷ đồng; còn đường dây mua bán hóa đơn do Nguyễn Trường cầm đầu cũng cho "bốc hơi" khỏi các ngân hàng hơn 5.450 tỷ đồng

Tiếp cận tài liệu của Cục Thuế Hà Nội về xử lý vi phạm pháp luật về thuế mới thấy thực trạng vi phạm đáng ngại Cơ quan thuế cũng chuyển hồ sơ đề nghị Công an điều tra, xác minh sai phạm về thuế 168 vụ, liên quan đến 177 DN có dấu hiệu phát hành hoá đơn trái phép Mới đây, đường dây mua bán hóa đơn giá trị gia tăng khủng do Nguyễn Trường cầm đầu làm "bốc hơi" hơn 5.450 tỷ đồng tại các ngân hàng, hưởng lợi bất chính trên 38 tỷ đồng, song Tòa án Hà Nội chỉ

có thể tuyên phạt Nguyễn Trường 30 tháng tù giam, các đồng phạm của Trường chịu mức án từ 12 đến 15 tháng tù treo Tòa án cấp sơ thẩm Hà Nội cũng tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Căn là Giám đốc Xí nghiệp thương mại DV, chi nhánh công ty CP vật tư và thiết bị Toàn bộ 42 tháng tù vì tội Trốn thuế, buộc truy nộp

số tiền thuế đã trốn là hơn 12 tỷ đồng Xí nghiệp này đã mua 711 số hóa đơn (liên 2) với tổng giá trị HH ghi trên hóa đơn chưa tính thuế giá trị gia tăng là hơn

138 tỷ đồng của 9 công ty Bị cáo đã dùng các hóa đơn trên để kê khai, báo cáo thuế cho xí nghiệp do mình làm giám đốc để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, trốn đóng thuế hơn 12 tỷ đồng

Ngày 28/11/2018, Công an TP.Hải Phòng thông tin, các trinh sát Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an thành phố phối hợp đơn vị chức năng bắt quả tang đối tượng Đinh Thị Huyền, sinh năm 1991 và chồng là Bùi Minh Tiến, sinh năm

1985, ở phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng khi đang thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng Tại thời điểm kiểm tra, lực lượng công an thu 104 triệu đồng, 2 hóa đơn GTGT của Công ty TNHH DV Nguyễn Lê Phát xuất bán cho Công ty TNHH Phạm Tải, cùng một số tang vật liên quan Khám xét khẩn cấp chỗ ở của các đối tượng, cơ quan công an thu giữ 3 máy tính xách tay, 7 con dấu của 7 công ty khác nhau, 10 quyển hóa đơn có liên quan đến hoạt động mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng Căn cứ vào tài liệu điều tra, xác

Trang 35

1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan

Về vấn đề thất thu thuế GTGT đã có một số các tác giả trước đây thực hiện Trong phần này, đề tài trình bày một số nghiên cứu điển hình như sau:

+ Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hoài và Phạm Nữ Mai Anh (2009) với

đề tài “Chống gian lận thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay” Kết quả nghiên cứu đã

đưa ra những nhân tố tác động đến gian lận thuế GTGT bao gồm: (1) Chính sách thuế; (2) Tổ chức bộ máy thu thuế; (3) Ứng dụng khoa học công nghệ; (4) Công tác thanh kiểm tra giám sát thuế; (5) Chính sách tuyên truyền và động viên khuyến khích; (6) Phối hợp giữa các ban ngành chức năng Nhóm tác giả đã làm

rõ những vấn đề lý luận về thuế GTGT, nguyên tắc thiết lập thuế GTGT, vai trò của thuế GTGT, gian lận thuế GTGT, các hành vi gian lận thuế GTGT, chỉ ra ảnh hưởng của gian lận thuế GTGT Đồng thời để hạn chế tình trạng gian lận thuế GTGT ở Việt Nam, đề tài đã đưa ra nhiều biện pháp hoàn thiện và chống gian lận thuế GTGT

+ Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) với đề tài “Hoàn thiện quản

lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của DN - nghiên cứu tình huống của Hà Nội” Bằng phương pháp tổng hợp và phân tích, tác giả

đã tập trung phân tích từ hoạt động quản lý thu thuế của nhà nước, từ đó đưa ra giải pháp tăng cường tuân thủ thuế đối với các DN

+ Nguyễn Quang Úy (2014) với nghiên cứu “Tăng cường chống thất thu

thuế GTGT trên địa bàn tỉnh Quảng Trị” Tác giả đã phân tích đánh giá thực

trạng, nguyên nhân gây thất thu thuế GTGT tại tỉnh Quảng Trị; Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến tăng cường chống thất thu thuế GTGT tại tỉnh Quảng Trị bao gồm: (1) Công tác giám sát kết hợp với tuyên tryền động viên; (2) Thanh tra giám sát công tác nộp thuế; (3) Sự phối hợp ban ngành chưc năng và chính sách tuyên truyền pháp luật thuế; (4) Ứng dụng công nghệ; (5) Thủ tục quản lý; (6) Ban ngành chức năng và công tác giám sát; (7) Trình độ cán bộ quản lý Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra các giải pháp ứng dụng cho việc chống thất thu thuế GTGT tại tỉnh Quảng Trị

Trang 36

+ Đinh Tiến Hải (2018) với nghiên cứu “Một số giải pháp tăng cường công

tác chống thất thu thuế tại Cục Thuế TP Hà Nội” Qua tìm hiểu và khảo sát tại

Cục Thuế TP Hà Nội, tác giả cho thấy, công tác chống thất thu thuế nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng thời gian qua đã được cơ quan Thuế chú trọng và đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên so với yêu cầu và nhiệm vụ đề ra, thực tế đòi hỏi phải làm tốt hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các đối tượng NNT trong thời gian tới Đo đó, tác giả đã đề xuất Một

số giải pháp tăng cường công tác chống thất thu thuế tại Cục Thuế TP Hà Nội

Thông qua tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan cho thấy vấn đề chống thất thu thuế GTGT tại Thành phố Bảo Lộc chưa được tác giả nào nghiên cứu Do đó, với vị trí công tác hiện tại, tác giả muốn tìm hiểu vấn đề này

để đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác chống thất thu thuế GTGT tại thành phố Bảo Lộc, phục vụ cho công tác chuyên môn hiện tại của mình Do đó, đề tài của tác giả không có sự trùng lắp với các đề tài nghiên cứu trước đây

Tóm lược chương 1

Chương 1 đã trình bày khái quát cơ sở lý luận về thất thu thuế GTGT và chống thất thu thuế GTGT Cụ thể, chương 1 đã trình bày nội dung về thuế GTGT, thất thu thuế GTGT Đồng thời chương 1 cũng trình bày tổng quan về thất thu thuế GTGT ở Việt Nam trong thời gian qua, tình hình nghiên cứu trước đây về thất thu thuế GTGT Cơ sở lý luận chương 1 sẽ là tiền đề để áp dụng phân tích thực trạng trong chương 2

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

VÀ CÔNG TÁC CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRÊN

ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

2.1 Giới thiệu về Thành phố Bảo Lộc

Bảo Lộc được biết đến là mảnh đất trù phú trên cao nguyên Di Linh, là đầu mối giao thông quan trọng của Lâm Đồng trong việc phát huy tiềm năng, mở rộng giao lưu với các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ

2.1.1 Vị trí

Trung tâm thành phố Bảo Lộc cách trung tâm thành phố Đà Lạt 120 km về hướng Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 180 km về hướng Bắc

Phía Đông, phía Nam và phía Bắc giáp huyện Bảo Lâm

Phía Tây giáp: huyện Đạ Huoai

2.1.2 Diện tích tự nhiên

Thành phố Bảo Lộc có diện tích 23.256 ha, chiếm 2,38% diện tích toàn tỉnh Lâm Đồng

2.1.3 Điều kiện tự nhiên

Thành phố Bảo Lộc được biết đến là mảnh đất trù phú trên cao nguyên Di Linh, là đầu mối giao thông quan trọng của Lâm Đồng trong việc phát huy tiềm năng, mở rộng giao lưu với các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ Với khí hậu ôn hòa, quanh năm mát mẻ, nhiệt độ trung bình cả năm 21- 220C, Bảo Lộc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, nghỉ dưỡng

Bảo Lộc hiện có 25 nhà máy chế biến chè và hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ,

có khả năng chế biến 150.000 tấn chè búp tươi/năm Ngoài ra, nơi đây còn là

“thủ phủ” của tơ tằm với 9 nhà máy sản xuất và 18 cơ sở, hàng năm cung ứng cho thị trường khoảng 400 tấn tơ tự động, 500 tấn tơ cơ khí, 1.300 tấn sợi cotton

và trên 5 triệu mét lụa, vải các loại

Ngoài cây công nghiệp, vùng đất này còn được xem là nơi giàu tài nguyên khoáng sản Bảo Lộc đã thu hút nhiều doanh nghiệp đến đầu tư vào lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và tinh chế khoáng sản,

Trang 38

Cũng tại Bảo Lộc đã hình thành nhiều khu, cụm công nghiệp hoạt động tấp nập, nhộn nhịp Riêng tại Khu công nghiệp Lộc Sơn, đến nay đã có 32 dự án được cấp phép đầu tư

Đồi dốc: Bao gồm các khối bazan phong hóa bị chia cắt mạnh tạo nên các ngọn đồi và các dải đồi dốc có đỉnh tương đối bằng với độ cao phổ biến từ 800 đến 850 m Độ dốc sườn đồi lớn (từ cấp II đến cấp IV), rất dễ bị xói mòn, dạng địa hình này chiếm 79,8% tổng diện tích toàn thành phố, là địa bàn sản xuất cây lâu năm như chè, cà phê, dâu

Thung lũng: Phân bố tập trung ở xã Lộc Châu và xã Đại Lào, chiếm 9,2% tổng diện tích toàn thành phố Đất tương đối bằng phẳng, nhiều khu vực bị ngập nước sau các trận mưa lớn, nhưng sau đó nước rút nhanh Vì vậy, thích hợp với phát triển cà phê và chè, nhưng có thể trồng dâu và cây ngắn ngày

Khí hậu

Nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do độ cao trên 800 m so với mặt nước biển và tác động của địa hình nên khí hậu Bảo Lộc có nhiều nét độc đáo với những đặc trưng chính như sau:

Nhiệt độ trung bình cả năm 21-22°C, nhiệt độ cao nhất trong năm 27,4°C, nhiệt độ thấp nhất trong năm 16,6°C

Số giờ nắng trung bình 1.680 giờ/năm, bình quân 4,6 giờ/ngày (tháng mùa mưa: 2-3 giờ/ngày, các tháng mùa khô: 6-7 giờ/ngày), mùa khô nắng nhiều nhưng nhiệt độ trung bình thấp tạo nên nét đặc trưng độc đáo của khí hậu Bảo Lộc

Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm 2.513

mm, số ngày mưa trung bình cả năm 190 ngày, mưa nhiều và mưa tập trung từ

Trang 39

Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao từ 80-90%

Gió: gió chủ đạo theo hai hướng chính:

Gió Đông Bắc thịnh hành từ tháng 1 đến tháng 4

Gió Tây Nam thịnh hành từ tháng 6 đến tháng 9

Nắng ít, độ ẩm không khí cao, nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn tạo nên những nét đặc trưng riêng cho vùng đất Bảo Lộc

Thủy văn

Nước mặt: Hệ thống sông DaR’Nga: Phân bố ở phía Đông thành phố Bảo

Lộc, là ranh giới giữa thành phố và huyện Bảo Lâm, các phụ lưu lớn của sông DaR’Nga trong thành phố Bảo Lộc gồm có: suối DaSre Drong, suối DaM’Drong, suối DaBrian Các suối này có nước quanh năm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Hệ thống suối Đại Bình: Phân bố chủ yếu ở phía Nam Quốc lộ 20, bắt nguồn từ dãy núi cao ở phía Nam và Tây Bảo Lộc Các phụ lưu gồm: suối DaLab, suối Tân Hồ, suối Đại Bình có lượng nước phong phú, có thể sử dụng làm nguồn nước tưới ổn định cho thung lũng Đại Bình

Hệ thống suối ĐamB’ri: Là vùng đầu nguồn của suối ĐamB’ri, phân bố tập trung ở xã ĐamB’ri, phần lớn các nhánh suối chỉ có nước vào mùa mưa Suối ĐamB’ri có nhiều ghềnh thác, trong đó có thác ĐamB’ri là cảnh quan có giá trị rất lớn về du lịch

Nước ngầm: Nhìn chung khu vực Bảo Lộc có trữ lượng nước ngầm khá,

chất lượng nước tương đối tốt có thể vừa phục vụ cho sinh hoạt vừa phục vụ cho

sản xuất nông nghiệp và công nghiệp

Trang 40

Bảo Lộc gồm 6 phường và 5 xã với 120 thôn, buôn, khu phố: Phường I, Phường II, Phường B’Lao, Phường Lộc Phát, Phường Lộc Tiến, Phường Lộc Sơn, Xã Lộc Thanh, Xã ĐamB’ri, Xã Lộc Nga, Xã Đại Lào, Xã Lộc Châu

2.1.5 Diện tích, sản lượng, năng suất một số cây trồng chủ lực

Sản lượng chè chế biến đạt 22.600 tấn, tăng 1,7% số cùng kỳ; lụa tơ tằm đạt 5,8 triệu m2, tăng 2%; sợi tơ tằm đạt 1.700 tấn, tăng 4,4%; quần áo các loại đạt 2,9 triệu sản phẩm, tăng 8,3%

Diện tích cà phê ước đạt 9.988 ha, tăng 3,2% số cùng kỳ; diện tích chè 6.917 ha, giảm 2,7%, giảm chủ yếu do chuyển đổi sang diện tích cà phê; diện tích cây dâu tằm 435 ha, tăng 9,9%, diện tích trồng mới ước đạt 80ha, tăng 2,3%

so cùng kỳ

2.1.6 Hoạt động của các doanh nghiệp và thu hút đầu tư

Số lượng các dự án đầu tư nguồn vốn ngoài ngân sách còn hiệu lực trên địa bàn thành phố là 110 dự án, với tổng vốn đăng ký 8.249 tỷ đồng và 46,42 triệu USD, diện tích sử dụng đất 1.194 ha; trong đó có 66 dự án đã đi vào hoạt động,

28 dự án đang triển khai thực hiện; 16 dự án chậm triển khai hoặc ngưng hoạt động;

Riêng Khu công nghiệp Lộc Sơn hiện có 29 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 1.229 tỷ đồng và 25 triệu USD, diện tích sử dụng đất 68,94/118,15 ha đất công nghiệp đã GPMB và có hạ tầng, trong đó có 18 dự án đi vào hoạt động,

4 dự án đang triển khai, 7 dự án chậm triển khai hoặc ngưng hoạt động

Cụm Công nghiệp Lộc Phát hiện có 6 dự án, với tổng vốn đăng ký 98,26 tỷ đồng, diện tích sử dụng đất 5,57 ha, trong đó, có 4 dự án đang hoạt động, 1 dự

án đang triển khai, 1 dự án chậm triển khai Tổ chức thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư các dự án theo phương thức hợp tác công tư (BT), lập hồ sơ tổ chức đấu thầu theo quy định

2.2 Thực trạng thất thu thuế GTGT, công tác chống thất thu thuế GTGT trên địa bàn thành phố Bảo Lộc

2.2.1 Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của Chi cục thuế Thành phố Bảo Lộc

Chi cục thuế thành phố Bảo Lộc là một đơn vị HCSN nằm trên địa bàn thành phố Bảo Lộc thuộc Cục thuế tỉnh Lâm Đồng

Ngày đăng: 17/05/2021, 14:17

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w