1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện tuy an, tỉnh phú yên

114 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu của Nguyễn Hà Việt Quốc 2016: “Đánh giá và khai thác tiềm năng du lịch văn hóa - tâm linh của tỉnh Kiên Giang”: Đề tài nghiên cứu đã đánh giá khái quát về tiềm năng du lịch vă

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHẠM THỊ HỒNG NHỰT

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH

TẠI HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHẠM THỊ HỒNG NHỰT

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH

TẠI HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS HỒ HUY TỰU Chủ tịch Hội Đồng:

PGS.TS LÊ KIM LONG Phòng Đào tạo Sau Đại học:

KHÁNH HÒA - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa

tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,

những số liệu, kết quả nêu ra trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hồng Nhựt

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi gởi đến Quý thầy cô trường Đại học Nha Trang lòng biết ơn sâu sắc Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang; lãnh đạo Sở văn hóa thể thao và du lịch Phú Yên, lãnh đạo ủy ban nhân dân huyện Tuy An và các cơ quan hữu quan đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới

PGS.TS Hồ Huy Tựu, người đã trực tiếp hướng dẫn và dành nhiều thời gian, công

sức giúp tôi hoàn thành Luận văn này

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin trân trọng cảm ơn!

Khánh Hòa, tháng 10 năm 2019

Phạm Thị Hồng Nhựt

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH xi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH 6

1.1 Các khái niệm 6

1.1.1 Khái niệm du lịch 6

1.1.2 Sản phẩm du lịch 6

1.1.3 Khái niệm văn hóa tâm linh 7

1.1.4 Các thành tố của văn hóa tâm linh 7

1.1.5 Du lịch văn hóa tâm linh 7

1.2 Một số đặc điểm về hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam 11

1.2.1 Các đặc trưng của du lịch văn hóa tâm linh 11

1.2.2 Một số đặc điểm của hoạt động du lịch văn hóa tâm linh ở nước ta 12

1.3 Những vấn đề đặt ra về đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh 15

1.4 Phương pháp đánh giá tiềm năng du lịch tâm linh 16

1.4.1 Các nội dung liên quan đến đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh 16

1.4.2 Các tiêu thức, chỉ tiêu và chuẩn đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh 18

1.5 Các bài học kinh nghiệm 19

1.5.1 Bài học kinh nghiệm từ các địa phương khác 19

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho cho huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 21

Tóm lược Chương 1 22

Trang 6

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TẠI

HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN 23

2.1 Khái quát về Tuy An 23

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của huyện Tuy An 23

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 27

2.2 Hiện trạng về du lịch văn hóa tâm linh ở huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 30

2.2.1 Cơ sở vật chất, kỹ thuật 30

2.2.2 Hệ thống lưu trú 31

2.2.3 Hệ thống cơ sở kinh doanh ăn uống 31

2.2.4 Hệ thống cơ sở kinh doanh lữ hành 31

2.2.5 Phương tiện vận chuyển khách du lịch 31

2.3 Đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh huyện Tuy An, Phú Yên 32

2.3.1 Tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh thông qua danh mục các di tích cấp tỉnh và cấp quốc gia trên địa bàn huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 32

2.3.2 Tiềm năng các điểm đến tiêu biểu của du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 35

2.3.3 Tiềm năng các hoạt động Lễ Hội văn hóa tâm linh tiêu biểu tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 47

2.3.4 Đánh giá của chuyên gia trong ngành du lịch của tỉnh Phú Yên về tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 52

2.3.5 Đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An từ cách tiếp cận dựa vào du khách 55

2.4 Đánh giá về hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, Phú Yên 69

2.4.1 Mặt mạnh 69

2.4.2 Mặt yếu 70

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 71

2.5 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 71

2.5.1 Điểm mạnh 71

Trang 7

2.5.2 Điểm yếu 72

2.5.3 Cơ hội 73

2.5.4 Thách thức 73

Tóm lược chương 2 74

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TẠI HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN 75

3.1 Quan điểm phát triển du lịch 75

3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch của tỉnh Phú Yên 75

3.1.2 Quan điểm phát triển du lịch của huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 75

3.1.3 Quan điểm khai thác tiềm năng du lịch tâm linh của huyện Tuy An 76

3.1.4 Các định hướng phát triển 76

3.2 Những giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 79

3.2.1 Giải pháp về tổ chức, quản lý 79

3.2.2 Giải pháp về cơ sở vật chất, kỹ thuật 81

3.2.3 Giải pháp phát triển nhân lực 82

3.2.4 Giải pháp thị trường du lịch 84

3.2.5 Giải pháp sản phẩm du lịch 84

3.2.6 Giải pháp quảng bá, xúc tiến và liên kết phát triển du lịch 87

3.2.7 Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch 88

3.2.8 Giải pháp về an ninh, an toàn du lịch 90

Tóm lược chương 3 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ VH-TT-DL : Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Sở KH&ĐT : Sở Kế hoạch và đầu tư

Sở VHTT&DL : Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng thống kê các cơ sở kinh doanh du lịch tại huyện Tuy An 30

Bảng 2.2 Bảng thống kê số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn huyện 31

Bảng 2.3 Danh mục di tích xếp hạng cấp Quốc gia 32

Bảng 2.4 Danh mục di tích xếp hạng cấp Tỉnh 33

Bảng 2.5 Danh mục chùa tại huyện Tuy An 41

Bảng 2.6 Danh sách các cơ sở thờ tự Cao đài, tin lành, công giáo trên địa bàn huyện 45

Bảng 2.7 Một số Lễ hội tiêu biểu ở huyện Tuy An 50

Bảng 2.8 Đánh giá về số lượng du khách đến với các điểm du lịch tâm linh trên địa bàn huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 52

Bảng 2.9 Đánh giá về tính lịch sử của các chùa, nhà thờ, các Lễ hội trên địa bàn huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 52

Bảng 2.10 Đánh giá về tính linh thiêng của các chùa, nhà thờ, các Lễ hội trên địa bàn huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên 53

Bảng 2.11 Đánh giá về tính đa dạng của các chùa, nhà thờ, Lễ hội trên địa bàn huyện 53

Bảng 2.12 Đánh giá về khả năng thu hút của các các chùa, nhà thờ, Lễ hội trên địa bàn huyện 53

Bảng 2.13 Công tác quản lý, khả năng tiếp cận, chi phí (đi đến) các chùa, nhà thờ, Lễ hội, các điểm đến du lịch tâm linh trên địa bàn huyện 53

Bảng 2.14 Đánh giá thu nhập, tổ chức các tour, quan tâm của du khách, quan tâm của chính quyền và quảng bá du lịch 54

Bảng 2.15 Đánh giá của chuyên gia đối với các điểm du lịch tâm linh trên địa bàn huyện Tuy An trong thời điểm hiện nay 55

Bảng 2.16 Đặc điểm mẫu khảo sát về độ tuổi 58

Bảng 2.17 Đặc điểm mẫu khảo sát về giới tính 59

Bảng 2.18 Đặc điểm mẫu khảo sát về trình độ học vấn 59

Bảng 2.19 Đặc điểm mẫu khảo sát về mức thu nhập 59

Bảng 2.20 Nhân tố đánh giá tiềm năng của các điểm văn hóa tâm linh 60

Bảng 2.21 Tính đa dạng của các điểm văn hóa tâm linh trên địa bàn huyện Tuy An 61

Bảng 2.22 Mức độ đánh giá đối với các nhân tố thuộc tính đa dạng của các điểm du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn huyện Tuy An 61

Trang 10

Bảng 2.23 Tính lâu đời của các điểm văn hóa tâm linh 62

Bảng 2.24 Các nhân tố thuộc tính lâu đời của các điểm văn hóa tâm linh 62

Bảng 2.25 Tính linh thiêng của các điểm văn hóa tâm linh 62

Bảng 2.26 Các nhân tố thuộc tính linh thiêng của các điểm văn hóa tâm linh 63

Bảng 2.27 Tính dễ tiếp cận của các điểm văn hóa tâm linh 63

Bảng 2.28 Các nhân tố thuộc tính dễ tiếp cận của các điểm văn hóa tâm linh 64

Bảng 2.29 Tính an ninh, an toàn của các điểm văn hóa tâm linh 64

Bảng 2.30 Các nhân tố thuộc tính an ninh, an toàn của các điểm văn hóa tâm linh 64

Bảng 2.31 Tính giải trí tinh thần của các điểm văn hóa tâm linh 65

Bảng 2.32 Các nhân tố thuộc tính giải trí tinh thần của các điểm văn hóa tâm linh 65

Bảng 2.33 Tính liên hoàn, liên kết của các điểm văn hóa tâm linh 66

Bảng 2.34 Các nhân tố thuộc tính liên hoàn, liên kết của các điểm văn hóa tâm linh 66

Bảng 2.35 Chi phí du lịch của các điểm văn hóa tâm linh 67

Bảng 2.36 Các nhân tố thuộc chi phí du lịch của các điểm văn hóa tâm linh 67

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Phú Yên 23

Hình 2.2 Toàn cảnh chùa Từ Quang (nguồn Phòng VHTT) 36

Hình 2.3 Lễ hội chùa Từ Quang Hằng năm, vào ngày mùng 10 và 11 tháng Giêng Âm lịch 37

Hình 2.4 Quang cảnh Chùa Bát Nhã 39

Hình 2.5 Chánh điện chùa Thanh Lương 40

Hình 2.6 Quang cảnh nhà thờ Mằng Lăng 43

Hình 2.7 Giáo xứ Chợ mới 45

Hình 2.8 Lễ hội cầu ngư 47

Hình 2.9 Lễ rước linh tại lễ hội Lê Thành phương 49

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tuy An là một vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa, giàu truyền thống yêu nước

và cách mạng Trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc từ thời mở đất, đặc biệt từ khi

có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, trải qua hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm

và hơn 40 năm xây dựng quê hương kể từ sau ngày đất nước thống nhất, Tuy An đã có những đóng góp quan trọng và đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Tuy An là nơi Phật giáo và thiên chúa giáo phát triển mạnh, Nhiều ngôi chùa có niên đại sớm như: Chùa Cổ Lâm Hội Tôn, Chùa Bát Nhã (Chà Tổ), Chùa Đá Trắng (Chàu Từ Quang) Nhà thờ Mằng Lăng Ngoài ra trên địa bàn huyện có gần 300 di tích gồm nhiều loại hình như: Di tích lịch sử văn hóa, khảo cổ học, danh lam thắng cảnh, kiến trúc nghệ thuật, đình, chùa, nhà thờ, lăng, miếu Cùng với hệ thống di sản văn hóa vật thể, Tuy An còn bảo tồn và phát huy được nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc như: Lễ Hội Cầu ngư, Lễ Hội Chùa Từ Quang, Lễ Hội Lê Thành Phương, Lễ hội Đầm Ôloan, Hội đua ngựa truyền thống Gò Thì Thùng, các trò chơi dân gian, các làn điệu dân ca, dân vũ; Tất cả những điều đó đã góp phần làm mảnh đất lịch sử giàu tiềm năng văn hóa

Tuy nhiên, hiện tại du lịch văn hóa tâm linh ở huyện Tuy An chưa được đầu tư phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có Hoạt động du lịch tại các di tích, chùa, nhà thờ diễn ra tự phát, thiếu định hướng Xuất phát từ thực tế tác giả quyết định chọn đề

tài: “Đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên”

Với đề tài này, luận văn đã được hoàn thiện với các mục tiêu chính là: Xây dựng khung phân tích để đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa – tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Đánh giá hiện trạng của du lịch văn hóa – tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác một cách có hiệu quả các tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh của huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Trên quan điểm phương pháp luận duy vật biện chứng, tác giả có sử dụng phương pháp so sánh và tổng hợp các số liệu từ khảo sát thực tế khách du lịch đến Tuy An về du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An

Luận văn cũng đã phân tích làm rõ nhiều nội dung về lý luận và thực tiễn về du lịch văn hóa tâm linh Vai trò của du lịch tâm linh đến quá trình phát triển chung của

du lịch huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

Trang 13

Sau khi nghiên cứu, phân tích và đánh giá tiềm năng về du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An Luận văn đã đưa ra kết luận cơ bản với các thành tựu đã đạt được cũng như tồn tại, nguyên nhân và giải pháp đặt ra với ngành du lịch tại huyện Tuy An trong thời gian tới Luận văn cũng đã mạnh dạn đưa ra các kiến nghị đối với nhà nước,

cơ quan ban ngành quản lý trực tiếp du lịch tại huyện Tuy An là tăng cường nghiên cứu xúc tiến đầu tư quảng bá thương hiệu du lịch văn hóa địa phương, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, lãnh đạo các khu du lịch phải đi đầu trong công tác phát triển hình ảnh du lịch tại huyện Tuy An

Từ khóa: Du lịch văn hóa tâm linh; Tiềm năng Du lịch Văn hóa tâm linh huyện Tuy An

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tuy An là vùng đất có bề dày lịch sử về văn hóa, nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng quý giá, phản ánh sự phong phú, đa dạng thể hiện rõ nét về bản sắc văn hóa đặc trưng của địa phương như: Thành cổ, mộ cổ, đền danh nhân lịch sử, chùa chiền, nhà thờ, làng nghề truyền thống, di tích lịch sử về kháng chiến, kèn đá, đàn đá… và nhiều danh lam thắng cảnh

Là địa phương có bề dày truyền thống cách mạng, được nhà nước phong tặng

“Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” Không những vậy, nơi đây là vùng đất ghi dấu sự phát triển hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Thiên Chúa giáo Cùng với hệ thống

di sản văn hóa vật thể là sự phát triển của hệ thống các di sản văn hóa phi vật thể như:

Lễ Hội Cầu Ngư, Lễ Hội Cầu An, Lễ Hội Lê Thành Phương, Lễ Hội Đầm Ô Loan, thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan du lịch

Hiện nay, trên địa bàn huyện đã được công nhận 08 di tích, danh thắng thuộc cấp Quốc Gia và có một phần danh thắng Vịnh Xuân Đài, thị xã Sông Cầu và 13 di tích cấp tỉnh

Tuy nhiên, hiện nay du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên vẫn chưa có những bước phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có Hoạt động du lịch tại các khu, tuyến, điểm đang diễn ra tự phát, thiếu định hướng, chỉ tập trung vào các lợi ích kinh tế trước mắt nên phần nào đã làm suy giảm các giá trị của tài nguyên, cơ sở hạ tầng thiết yếu chưa được đầu tư đúng mức Các sản phẩm du lịch đơn điệu, rời rạc, dịch vụ du lịch nghèo nàn, thiếu thốn, đặc biệt là các dịch vụ bổ sung Các hoạt động

du lic̣h văn hóa tâm linh còn mang tính tự phát, thiếu quy cũ, chưa thể tạo ra sự thu hút đối với du khách quốc tế và cũng là nguyên nhân khiến du khách đến đây thường lưu trú ngắn và chi tiêu rất ít

Trong bối cảnh trên, việc lựa chọn một phương thức tiếp cận mới sao cho vừa khai thác đươc những tiềm năng du lic̣h văn hóa tâm linh đa dạng và phong phú vừa hạn chế những tác đông xấu tới việc bảo tồn các di sản văn hóa là rất cần thiết Xuất

phát từ yêu cầu cấp thiết đó, tôi chọn đề tài: “Đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm

linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên” làm đề tài nghiên cứu của Luận văn Đề tài này

tập trung đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng, đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần khơi dậy tiềm năng văn hóa tâm linh, đồng thời hướng tới mục tiêu bảo tồn các giá trị di sản văn hóa vât thể và phi vât thể trên địa huyện

Trang 15

2 Tổng quan các nghiên cứu

Về vấn đề văn hóa và văn hóa tâm linh, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu như: Trần Ngọc Thêm với Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (2006), Lê Văn Quán với nguồn văn hóa truyền thống Việt Nam (2007), Hoàng Quốc Hải với Văn hóa phong tục (2007), Nguyễn Đăng Duy với Văn hóa tâm linh (2001), Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam (2001),Văn Quảng với Văn hóa tâm linh Thăng Long – Hà Nội (2009), Nguyễn Duy Hinh với tâm linh Việt Nam (2001), Hồ Văn Khánh với Tâm hồn – khởi nguồn cuộc sống văn hóa tâm linh (2011)… các tác phẩm trên tuy chưa nghiên cứu trực tiếp về vấn đề du lịch tâm linh, nhưng cũng là nguồn tài liệu rất bổ ích và là

cơ sở, nền tảng để người viết có thể phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này

Nghiên cứu của Nguyễn Hà Việt Quốc (2016): “Đánh giá và khai thác tiềm năng

du lịch văn hóa - tâm linh của tỉnh Kiên Giang”: Đề tài nghiên cứu đã đánh giá khái quát về tiềm năng du lịch văn hoa tâm linh trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đưa ra được những quan điểm mới về việc xác định tiềm năng thực sự về du lịch văn hóa - tâm linh của Kiên Giang, từ đó giúp cho việc đưa ra những chiến lược phát triển của ngành du lịch tỉnh Kiên Giang đúng đắn và phù hợp hơn trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay của ngành du lịch nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong thời gian đến

Đề cập trực tiếp tới hoạt động du lịch văn hóa tâm linh, đề tài luận văn cao học của Đoàn Thị Thùy Trang trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn “Tìm hiểu hoạt động du lịch văn hóa tâm linh của người Hà Nội (khảo sát trên địa bàn quận Đống Đa)” đã hệ thống các cơ sở lý luận về du lịch văn hóa tâm linh và đánh giá nhu cầu du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn Hà Nội, đồng thời khảo sát tài nguyên và các hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tiêu biểu trên địa bàn quận Đống Đa (Hà Nội);

Luận văn cao học của Kiều Khánh Vũ trường Đại học Văn hóa Hà Nội “Du lịch tâm linh Nam Định” (khảo sát trên địa bàn tỉnh Nam Định) đã đưa ra một số khái niệm, quan điểm để bước đầu tìm hiểu về loại hình du lịch tâm linh, Khảo sát, đánh giá các tiềm năng cũng như thực trạng phát triển du lịch tâm linh ở Nam Định; Đề xuất một số giải pháp khả thi để khai thác có hiệu quả các tiềm năng văn hóa và thúc đẩy sự phát triển các hoạt động du lịch tại Nam Định

Các công trình nghiên cứu trên tuy chỉ đề cập một phần đến vấn đề du lịch văn hóa tâm linh, và đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa của một địa phương; Một số tác phẩm cũng đã nói rõ về tiềm năng thế mạnh để phát triển du lịch văn hóa tâm linh là

Trang 16

các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Đây là nguồn tài liệu rất bổ ích để người viết kế thừa phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này Luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu đánh giá tiềm năng và giải quyết những nội dung nêu trên và kết quả sẽ đưa ra các giải pháp để khai thác loại hình du lịch văn hóa tâm linh trên địa, đưa loại hình du lịch này trở thành loại hình du lịch bền vững của địa phương, góp phần vào sự nghiệp phát triển triển kinh tế - xã hội của huyện nhà

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu chung

Đánh giá tiềm năng và đề ra các giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

3.2 Mục tiêu cụ thể

Xây dựng khung phân tích hợp lý để đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh

của một địa phương

Đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên nhằm rút ra những mặt tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của chúng

Xác định cơ hội và thách thức để khai thác tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên phát triển phù hợp với chiến lược phát triển du lịch - dịch

vụ của tỉnh Phú Yên và chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Thủ tướng Chính phủ

4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

4.1 Đối tượng của nghiên cứu

Các di sản văn hóa, tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh (các chùa, nhà thờ, lễ hội), tiềm năng và lợi thế về du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu dựa vào nguồn dữ liệu thứ cấp từ 2015 đến

2018 Dữ liệu sơ cấp được điều tra thu thập từ khoản thời gian 6 tháng đầu năm 2019 Phạm vi nội dung: Nghiên cứu xác định và đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên dựa trên phương pháp đánh giá tiềm năng du lịch của địa phương

Trang 17

5 Phương pháp nghiên cứu

Số liệu thứ cấp: Số liệu từ các báo cáo của ủy ban nhân dân (UBND) huyện Tuy

An, UBND tỉnh Phú Yên giai đoạn từ 2015-2018

Số liệu sơ cấp: Dùng phương pháp nghiên cứu sơ bộ được tiến hành bằng cách

sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu định tính bằng cách thảo luận nhóm nhằm xây dựng các mục hỏi khảo sát Nghiên cứu chính thức được thực hiện thông qua khảo sát chuyên gia và du khách sử dụng bảng câu hỏi chính thức

Nghiên cứu khảo sát chuyên gia trong ngành du lịch tỉnh Phú Yên: Số lượng 12 chuyên gia, thời gian từ tháng 5 đến tháng 6/2019 Hầu hết các chuyên gia đều có trình

độ và chuyên môn về kinh doanh và quản lý du lịch trên địa bàn tỉnh Nội dung phỏng vấn bao gồm vấn đề thu hút khách du lịch tâm linh; tính lịch sử linh thiêng của các di tích, lễ hội; cơ sở vật chất các di tích

Nghiên cứu khảo sát du khách: Kích thước mẫu của nghiên cứu này là từ 120 khách du lịch, được thực hiện từ tháng 04/2019 đến tháng 06/2019 Các phương pháp phân tích thống kê mô tả được sử dụng để phân tích dữ liệu khảo sát Đối tương được khảo sát là du khách đến viếng thăm các điểm du lịch văn hóa tâm linh tại Huyện Tuy

An, tỉnh Phú Yên

6 Khung phân tích của nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tác giả đã xác định khung phân tích áp dụng trong quá trình triển khai luận văn như sau:

Để nghiên cứu đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy an, tỉnh Phú Yên, luận văn lấy những kết quả nghiên cứu lý thuyết làm cơ sở khoa học để soi, chiếu và đưa ra các kết luận trên 2 phương diện: Thứ nhất, Ý nghĩa thực tiễn mà

du lịch văn hóa tâm linh mang lại cho du khách Thông qua hoạt động du lịch để bảo tồn các di tích có ý nghĩa tín ngưỡng tôn giáo, mang lại sự hấp dẫn cho du khách Thứ hai là những vấn đề hạn chế cần giải quyết và đưa ra giải pháp để phát triển đối với du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

7 Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của nghiên cứu

Đề tài đã tổng quan, tập hợp xây dựng được khung lý thuyết liên quan đến du lịch văn hoá tâm linh, góp phần làm cho người đọc nhìn nhận rõ hơn cách tiếp cận về

du lich tâm linh một cách khoa học và chặt chẽ nhất về mặt lý thuyết Kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau về việc nghiên cứu và đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

Trang 18

Đề tài cung cấp được bức tranh tổng quan về những quan điểm mới về việc xác định tiềm năng thực sự về du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên cũng như là cung cấp những thông tin hữu ích để các cấp lãnh đạo, quản lý có cái nhìn thực tế về tiềm năng du lịch văn hoá tâm linh Đồng thời đề tài cũng đề xuất những giải pháp mang tính tham khảo từ đó giúp cho việc đưa ra những chiến lược phát triển của ngành du lịch tỉnh Phú Yên phù hợp hơn trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay của ngành du lịch

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần đặt vấn đề và phần kết luận, nội dung chính của Luận văn được tác giả bố cục thành 3 chương với nội dung vắn tắt như sau:

Phần mở đầu: Đề cập đến sự cần thiết phải nghiên cứu, đề cấp đến mục tiêu nghiên cứu, tổng quan một số tài liệu, nêu lên các phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa đóng góp của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh

Chương 2: Đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

Chương 3: Các giải pháp khai thác tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

Trang 19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH

VĂN HÓA TÂM LINH

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm du lịch

Ngày nay du lịch đã trở thành một xu hướng toàn cầu Hội đồng Lữ hành và Du lịch Quốc tế (World Travel & Tourism Council - WTTC) đã công bố Du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp, là ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất và tạo ra nhiều của cải xã hội nhất (Nguyễn Thu Hương 2008) Du lịch đã thực sự trở thành một đề tài hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu Tuy vậy, thật khó để tìm được một khái niệm thống nhất về du lịch, bởi mỗi một tổ chức hay một học giả lại tiến hành nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau

Từ “du lịch” được định nghĩa lần đầu tiên tại Anh như sau: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc hành trình với mục đích giải trí Ở

đây sự giải trí là động cơ chính” (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa 2008)

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism Organization - UNWTO): “Du lịch là hành động rời khỏi nơi thường trú để đi đến một nơi khác, một môi trường khác trong một thời gian ngắn nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng Du lịch bao gồm mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn, cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không vượt quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định

cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích là thu lợi nhuận

1.1.2 Sản phẩm du lịch

Có nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch, một trong những khái niệm đó là: “ Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng (Từ điển du lịch – Tiếng Đức NXB Berlin 1984) Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất

kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó

Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch

Trang 20

1.1.3 Khái niệm văn hóa tâm linh

Theo (Nguyễn Đăng Duy, 1997) “Văn hóa tâm linh là một hoạt động văn hóa xã hội của con người, được biểu hiện ra những khía cạnh vật chất và tinh thần, mang những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng, tôn giáo, thể hiện nhận thức, thái độ (e dè, sợ hãi hay huyền diệu) của cong người” Trong cuộc sống ai cũng có những niềm tin vào những điều thiêng liêng, cao cả và chính niềm tin ấy là biểu hiện rõ ràng nhất của văn hóa tâm linh trong đời sống cá nhân cũng như cộng đồng Nó giúp con người sống hướng thiện, hành động và suy nghĩ tốt đẹp hơn Nó cũng giúp con người xoa dịu những nỗi đau thương mất mát, đem lại niềm tin vào cuộc sống tươi đẹp, công bằng, bình đẳng và bác ái Vì lẽ đó văn hóa tâm linh tạo nên chiều sâu cho nền văn hóa dân tộc

1.1.4 Các thành tố của văn hóa tâm linh

Theo (Toan Ánh, 1991), Văn hóa tâm linh bao gồm cả văn hóa hữu hình và văn hóa vô hình Văn hóa hữu hình như các không gian thiêng liêng (đình, chùa, phủ, nhà thờ ) hay các biểu tượng thiêng (tượng Phật, tượng Chúa ) Văn hóa tâm linh có những biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng trong đời sống của người Việt Phổ biến nhất là phong tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân trong mỗi gia đình

“Con người có tổ có tông - Như cây có cội, như sông có nguồn” Văn hóa tâm linh bao gồm cả văn hóa hành động

1.1.5 Du lịch văn hóa tâm linh

1.1.5.1 Khái niệm

Khái niệm du lịch tâm linh được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến Tại Việt Nam có thể nhắc đến khái niệm du lịch tâm linh của tác giả Nguyễn Văn Tuấn “Xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch” (Nguyễn Văn Tuấn, 2013) Từ quan điểm trên, có thể nhận định du lịch

Trang 21

tâm linh là một hình thức biểu hiện của du lịch văn hóa Các giá trị văn hóa tâm linh là yếu tố cốt lõi để hình thành nên các hoạt động du lịch và sản phẩm du lịch phục vụ cho

du khách Thông qua việc thụ hưởng các giá trị văn hóa tâm linh du khách sẽ hình thành nên những suy nghĩ tích cực hướng đến sự cân bằng và phát triển về mặt tinh thần Khái niệm của tác giả Nguyễn Văn Tuấn cũng khá gần gũi với sự nhận định về

du lịch tâm linh của nhóm tác giả Nguyễn Trọng Nhân - Cao Mỹ Khanh, cụ thể nhóm tác giả này cho rằng: “Phát triển du lịch văn hóa tâm linh ngoài mang lại các lợi ích kinh tế - xã hội - văn hóa cho nơi đến như những loại hình du lịch khác, còn giúp những người thực hiện chuyến du lịch hướng tinh thần của mình lên cao trong việc tìm kiếm mục đích cao cả và những giá trị có khả năng nâng cao phẩm giá cho cuộc sống

và bản thân họ nếu sự phát triển du lịch diễn ra đúng hướng” (Nguyễn Trọng Nhân - Cao Mỹ Khanh, 2014)

Gần đây nhất có thể nhắc đến khái niệm du lịch tâm linh do tác giả Hồ Kỳ Minh

đề xuất: “Du lịch tâm linh hiện nay được thể hiện trên nhiều cung bậc, nhiều dạng Dạng thứ nhất, đó là những hoạt động tham quan, vãn cảnh tại các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng Đây là dạng hẹp nhất, chưa thể hiện được ý nghĩa của hoạt động du lịch này nhưng lại là hoạt động phổ biến nhất hiện nay; Dạng thứ hai được mở rộng hơn với cách hiểu là tìm đến các địa điểm, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo bên cạnh tham quan vãn cảnh thì còn để cúng bái, cầu nguyện Dạng này có mở rộng hơn nhưng mới chỉ phù hợp với những đối tượng có theo tôn giáo, tín ngưỡng; Dạng thứ ba có mục đích chính

là tìm hiểu các triết lý, giáo pháp khiến cho con người trầm tĩnh, để tâm hồn thư thái, cải thiện sức khỏe và cảm nhận chính bản thân mình” (Hồ Kỳ Minh, 2015)

Thông qua nội hàm du lịch tâm linh của Hồ Kỳ Minh, có thể nhận thấy các hình thức của du lịch tâm linh được phân cấp thông qua mức độ tham gia của du khách Nền tảng để có thể hình thành và phát triển du lịch tâm linh là các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng Hay nói giá trị cốt lõi để xây dựng hoạt động du lịch tâm linh là các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo Du khách có thể thực hiện các hoạt động được phân cấp từ thấp đến cao tại các cơ sở tôn giáo này bao gồm: ngắm nhìn; thực hiện nghi thức tôn giá; tìm hiểu sân sắc và vận dụng các triết lý và niềm tin tôn giáo để hoàn thiện đời sống tinh thần và nâng cao thể chất cho bản thân

Tóm lại du lịch tâm linh là một hình thức biểu hiện của du lịch văn hóa Các giá trị văn hóa tín ngưỡng và tôn giáo là nền tảng quan trọng để hình thành và phát triển

Trang 22

hoạt động du lịch tâm linh Mục đích của khách du lịch tâm linh có thể chia thành nhiều thang bậc khác nhau nhưng xuất phát điểm của họ có sự giống nhau là có sự tôn kính/niềm tin với một lực lượng siêu nhiên gắn liền với một không gian văn hóa tín ngưỡng nhất định Trải nghiệm của họ tại các không gian linh thiêng sẽ có khả năng mang lại ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, sự hiểu biết hoặc gia tăng niềm tin cho chính mình Hơn thế nữa, thông qua các hoạt động du lịch tâm linh du khách còn có kỳ vọng nâng cao trí lực và thể lực của bản thân

1.1.5.2 Các hình thức du lịch văn hóa tâm linh

Hình thức cá nhân: Một số cá nhân đơn lẻ có thể tự túc chuẩn bị toàn bộ chuyến

đi của mình mà không cần thông qua các tổ chức du lịch Họ có thể tự do lựa chọn từ điểm đến, phương tiện, đến các dịch vụ du lịch khác Trong trường hợp này, họ thường chỉ sử dụng các dịch vụ tại các điểm đến: trông giữ xe, đồ đạc, thuê các vật dụng, ăn uống, nghỉ ngơi, Bên cạnh đó, một số cá nhân đơn lẻ cũng có thể các công ty du lịch

ký hợp đồng thực hiện các tuor du lịch Trong trường hợp này, du khách phải lệ thuộc hoàn toàn vào các điều kiện nhà cung ứng đưa ra như lịch trình, hành trình, các điều kiện khác, Giá dịch vụ sẽ cao hơn khoảng 10-25% so với hình thức hợp đồng tập thể

Hình thức tập thể: Là nhiều cá nhân có chung sở thích, cùng mục tiêu, chí hướng

hòa mình vào nhau tạo nên tập thể Đại đa số các chuyến đi mang tính tập thể thường

là sinh viên, học sinh đi theo lớp, cán bộ công nhân viên đi theo cơ quan, người dân đi theo hội đồng niên, hội phụ nữ, hội người cao tuổi, Đi theo hình thức này tập khách thường có người đại diện (trưởng đoàn) nên có tính tổ chức cao Đối với loại hình du lịch văn hóa tâm linh, người trưởng đoàn phải đại diện thực hiện các nghi lễ tại các điểm du lịch: dâng hương, hoa quả Các cá nhân trong đoàn đều ràng buộc mình vào tập thể Hình thức này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung ứng dịch vụ du lịch Bởi, tập khách này bao giờ cũng có những điểm tương đồng về trình độ, sở thích, tâm

lý, nghề nghiệp, nên việc phục vụ cũng dễ dàng theo một mẫu chuẩn

1.1.5.3 Điểm đến của du lịch văn hóa tâm linh

Du lịch là hoạt động liên quan đến những chuyến đi của con người rời khỏi nơi

cư trú thường xuyên đến một nơi khác để thỏa mãn nhu cầu của mình Đặc biệt đối với

du lịch văn hóa tâm linh điểm đến thường là những nghĩa trang liệt sĩ để đền ơn đáp nghĩa, biết ơn những người có công với đất nước, chùa chiền, đền miếu, thánh đường hoặc những thánh tích, những lễ hội truyền thống mang tính chất tâm linh Địa điểm

Trang 23

du khách tới có thể là một địa danh cụ thể, một khu vực, một vùng lãnh thổ, một quốc gia thậm chí là một châu lục

1.1.5.4 Khách du lịch của du lịch văn hóa tâm linh

Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 24h trở lên (hoặc có

sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không quá thời gian một năm Đối với những

du khách lưu lại ở nơi đến không quá 24h, không sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm được gọi là khách tham quan hay khách du lịch trong ngày

Tuy nhiên, để có thể hiểu một cách rõ ràng hơn về khách du lịch hay cần bắt đầu

từ khái niệm khách Ý nghĩa cơ bản của từ khách là người từ bên ngoài đến trong quan

hệ với người đón tiếp, phục vụ Khách rõ ràng phải được định nghĩa từ phía đón tiếp chứ không phải từ nơi đi như ở quan niệm nêu trên Khách tham quan là một loại khách đến với mục đích nâng cao nhận thức tại chỗ có kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tinh thần, vật chất hay dịch vụ, song không lưu lại qua đêm tại một cơ sở lưu trú của ngành du lịch (Theo từ điển tiếng Việt 1994)

Khách du lịch văn hóa tâm linh là khách có nhu cầu đến những địa điểm du lịch mang tính chất tâm linh Họ thường thực hiện chuyến đi trong ngày và không lưu lại qua đêm tại các địa điểm tâm linh Do vậy, khách du lịch văn hóa tâm linh ở đây được hiểu là khách tham quan

1.1.5.5 Hiệu quả của du lịch văn hóa tâm linh

Về phương diện lịch sử, du lịch văn hóa tâm linh mang đến cho du khách cái nhìn tổng quát lịch sử ra đời và phát triển của các tín ngưỡng tôn giáo, bên cạnh các giá trị từ nghệ thuật, kiến trúc của di tích, công trình kiến trúc; Về phương diện niềm tin, du khách có cơ hội xác định niềm tin của mình đối với một tôn giáo tín ngưỡng cụ thể Niềm tin sẽ giúp cho du khách cảm nhận được các giá trị linh thiêng của các di tích danh thắng; Về phương diện tâm linh, sau chuyến du lịch đa phần khách du lịch

đã có những thay đổi về tư duy và sống hướng thiện, hiểu rõ về ý nghĩa nhân sinh và giá trị cuộc sống; nhờ đó, sống sâu sắc hơn cho bản thân và mọi người Những đức tin lành mạnh sẽ giúp con người hướng thiện, loại dần cái ác, đem đến sự an lành của con người trong xã hội đầy biến động (Nguyễn Đăng Duy, 1997)

Ngoài việc thúc đẩy kinh tế du lịch, phát triển kinh tế dịch vụ Du lịch văn hóa tâm linh nếu được phát triển lành mạnh, đúng hướng, còn mang lại nhiều giá trị truyền

Trang 24

thống, giá trị tinh thần, giá trị văn hóa lịch sử Thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển, mang đến cho con người hướng sống thiện loại dần cái ác, hướng con người đến cái Chân – Thiện – Mỹ

1.2 Một số đặc điểm về hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam

1.2.1 Các đặc trưng của du lịch văn hóa tâm linh

Nhiều quan điểm thống nhất cho rằng du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa Đơn cử như việc công bố các thông tin về du lịch tâm linh của Tổng cục

du lịch Việt Nam: “Du lịch tâm linh lấy yếu tố văn hóa tâm linh làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần Do đó, việc sử dụng có trách nhiệm và bền vững các giá trị văn hóa và tự nhiên trong phát triển du lịch tâm linh sẽ mang lại cơ hội việc làm, tạo thu nhập cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, khôi phục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại” Như vậy, trước tiên có thể hình dung du lịch tâm linh là một hình thức biểu hiện của du lịch văn hóa

Theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2013), du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam có những đặc trưng khá riêng biệt, cụ thể:

Du lịch văn hóa tâm linh gắn với tôn giáo và đức tin và ở Việt Nam, trong đó Phật giáo có số lượng lớn nhất (chiếm tới 90%) cùng tồn tại với các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Cao đài, Hòa Hảo Triết lý phương Đông, đức tin, giáo pháp, những giá trị vật thể và phi vật thể gắn với những thiết chế, công trình tôn giáo ở Việt Nam là những ngôi chùa, tòa thánh và những công trình văn hóa tôn giáo gắn với các di tích là đối tượng mục tiêu hướng tới của du lịch tâm linh

Du lịch văn hóa tâm linh ở Việt Nam gắn với tín ngưỡng thờ cúng, tri ân những

vị anh hùng dân tộc, những vị tiền bối có công với nước, dân tộc (Thành Hoàng) trở thành du lịch về cội nguồn dân tộc với đạo lý uống nước nhớ nguồn

Du lịch văn hóa tâm linh ở Việt Nam gắn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân báo hiếu đối với bậc sinh thành

Du lịch văn hóa tâm linh ở Việt Nam gắn với những hoạt động thể thao tinh thần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần, đặc trưng và tiêu biểu ở Việt Nam mà không nơi nào có đó là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Ngoài ra du lịch tâm linh ở Việt Nam còn có những hoạt động gắn với yếu tố linh thiêng và những điều huyền bí (Nguyễn Văn Tuấn, 2013)

Trang 25

Qua đó có thể thấy được, tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh có tính hấp dẫn và đặc trưng rất độc đáo Nhìn rộng hơn, tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh có tính bản sắc cao vì thường gắn liền với văn hóa tộc người Mỗi cộng đồng dân tộc lại có những biểu hiện văn hóa đặc sắc thông qua việc tổ chức đời sống sản xuất và sinh hoạt tinh thần, đặc biệt là tín ngưỡng và tôn giáo Dựa vào tính chất này, có thể nói tài nguyên

du lịch văn hóa tâm linh là một trong những nội lực quan trọng để hình thành nên sản phẩm du lịch đặc thù cho địa phương

Đặc điểm tiếp theo có thể dễ dàng nhận thấy, du lịch tâm linh có tính mùa vụ rõ nét Vào mùa cao điểm nhất là dịp các sự kiện, lễ hội lớn được tổ chức tại các không gian văn hóa tâm linh vấn đề sức chứa là vấn đề cần được tính toán kỹ lưỡng cho hoạt động du lịch tâm linh

Khách du lịch văn hóa tâm linh trong nước có thành phần đa dạng (từ khách có khả năng chi trả thấp đến cao) Nhưng khách du lịch tâm linh ra nước ngoài thường là khách có khả năng chi trả cao và khi họ hoàn thành chuyến đi họ có những niềm tin và

vị thế phát triển một cách vượt bật trong cộng đồng có cùng niềm tin về tôn giáo Đối với du khách tham gia vào các tuyến du lịch văn hóa tâm linh có sự phân hóa theo hoạt động và đặc điểm tôn giáo của họ Trước tiên nếu đoàn du khách có cùng niềm tin tôn giáo và có mục đích thực hành nghi lễ tôn giáo thì tuyến du lịch tâm linh có bản chất là tuyến du lịch chuyên đề vì thế trong một hành trình du lịch văn hóa tâm linh có thể xuất hiện nhiều điểm tham quan du lịch có tính chất văn hóa tâm linh khá tương đồng hoặc sự mâu thuẫn về niềm tin là rất hạn chế Ngược lại nếu đoàn du khách tham gia vào hoạt động du lịch tâm linh chỉ dừng lại ở mức độ tham quan và tìm hiểu và không có nhu cầu thực hành nghi lễ tôn giáo thì tuyến du lịch tâm linh rõ ràng

có thể kết hợp nhiều điểm tham quan du lịch văn hóa tâm linh có tính chất khác nhau

và lúc này du lịch tâm linh là một biểu hiện thường gặp của loại hình du lịch văn hóa Cuối cùng có thể thấy rằng du lịch văn hóa tâm linh có mục đích hướng thiện rất

rõ nét nhằm điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi của người tham gia

1.2.2 Một số đặc điểm của hoạt động du lịch văn hóa tâm linh ở nước ta

Tại Việt Nam xuất hiện các hình thức du lịch tâm linh tiêu biểu: tham quan và tìm hiểu các công trình kiến trúc tín ngưỡng tôn giáo; tham dự các sự kiện liên quan đến các lễ hội gắn với việc bày tỏ niềm tin vào tín ngưỡng và tôn giáo; du lịch hành hương; du lịch thiền, du lịch tâm linh tưởng nhớ các anh hùng dân tộc Trong số 32,5

Trang 26

triệu khách du lịch nội địa năm 2012 chỉ tính riêng số khách đến các điểm tâm linh (chùa, đền, phủ, tòa thánh) có khoảng 13,5 triệu lượt, tương đương 41,5%

Một số điểm du lịch tâm linh tiêu biểu năm 2012 đón một lượng khách lớn như Miếu Bà Chúa Xứ An Giang (3,6 triệu lượt khách), Chùa Hương (1,5 triệu lượt); Chùa Bái Đính (2,1 triệu lượt), Yên Tử (2,3 triệu lượt), khu du lịch Núi Bà Đen (2,2 triệu lượt); Côn Sơn Kiếp Bạc (1,2 triệu) Đối với khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích tâm linh không nhiều, trong số 6,8 triệu lượt khách đến Việt Nam năm 2012 ước tính có khoảng 12% khách du lịch có đến các điểm du lịch tâm linh (Nguyễn Văn Tuấn, 2013, tr.3) Với sự xuất hiện của các công trình tín ngưỡng tôn giáo dày đặc, Việt Nam có lợi thế lớn trong việc khai thác các điểm đến này phục vụ cho mục tiêu phát triển du lịch Gần như trong các chương trình du lịch tổ chức tại Việt Nam đều xuất hiện tối thiểu một công trình tín ngưỡng tôn giáo đặc sắc Đơn cử như ở Hà Nội

có tứ trấn thành Thăng Long (đền Quán Thánh, đền Kim Liên, đền Voi Phục, đền Bạc Mã), chùa Trấn Quốc, chùa Hương; ở Quảng Trị có nhà thờ La Vang; ở Huế có chùa Thiên Mụ, chùa Từ Hiếu, điện Hòn Chén; ở Đà Nẵng có “tam giác tam linh” (3 ngôi chùa Linh Ứng ở Bà Nà, Ngũ Hành Sơn và bán đảo Sơn Trà); ở Nha Trang có chùa Long Sơn, nhà thờ Chánh Tòa Nha Trang (còn gọi là nhà thờ núi hay nhà thờ đá), tháp

Bà Po Nagar; ở Ninh Thuận có tháp Po Klong Giarai; ở Bình Thuận có dinh Vạn Thủy

Tú, tháp Po Shanư; ở Đà Lạt có nhà thờ Con Gà, nhà thờ Domain De Maria; ở thành phố Hồ Chí Minh có chùa Giác Lâm, miếu Bà Thiên Hậu, nhà thờ Đức Bà; ở An Giang có miếu Bà Chúa Xứ, chùa thầy Tây An, An Hòa Tự; ở Bạc Liêu có nhà thờ Tắc Sậy, Khi tiếp cận các công trình kiến trúc này, du khách có cơ hội tìm hiểu các giá trị cốt lõi về mặt văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức của cộng đồng địa phương và tín đồ của các tôn giáo

Hơn thế nữa các công trình này thường được phân bố tại những nơi có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn Chính yếu tố này giúp cho du khách có được những trải nghiệm thú vị khi tiếp cận với các không gian văn hóa tâm linh Bất cứ tín ngưỡng và tôn giáo nào tại Việt Nam đều có những sự kiện lớn trong năm Thời điểm tổ chức các lễ hội là mùa cao điểm cho hoạt động du lịch tâm linh

Tuy nhiên, số lượng du khách đến các điểm du lịch văn hóa tâm linh tăng cao nhưng hành vi tiêu thụ các dịch vụ du lịch (lưu trú, ẩm thực, tham quan các điểm du lịch lân cận) chưa phong phú và đa dạng dẫn đến việc chi trả của khách du lịch tâm

Trang 27

linh nhìn chung là chưa cao Một trong những hạn chế cho thực trạng nêu trên là năng lực cung ứng các hoạt động và dịch vụ du lịch cho khách du lịch tâm linh chưa thật sự tinh tế và hấp dẫn Bên cạnh đó là do thói quen tiêu dùng của khách du lịch tâm linh chủ yếu chi trả cho việc sắm lễ, việc quan tâm các dịch vụ khác còn hạn chế Vào mùa

lễ hội, số lượng du khách xuất hiện đông đảo, nếu tổ chức, quản lý và triển khai các hoạt động du lịch không khéo léo sẽ là cơ hội làm nảy sinh các hiện tượng chèo kéo, trộm cắp, mất an ninh trật tự, mê tín dị đoan từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của địa phương trong tầm mắt du khách gần xa Vấn đề sức chứa tại các điểm du lịch tâm linh vào mùa cao điểm cũng là vấn đề nan giải cho việc quản lý và phát triển

du lịch hiên nay Ví dụ, quần thể di tích núi Sam tại Châu Đốc - An Giang có diện tích

là 2ha Ngày cao điểm nhất tại khu vực núi Sam có thể đón đến 72.000 lượt khách Như vậy , rõ ràng sức ép của khách du lịch tâm linh vào mùa cao điểm là rất lớn Việt Nam là nơi xuất hiện các tín ngưỡng và tôn giáo nội sinh như: tín ngưỡng thờ Hùng Vương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo… Đây là điều kiện hình thành các dòng du khách hành hương tại Việt Nam về với cội nguồn khai đạo Đặc biệt là các dòng du khách Việt Kiều sinh sống tại hải ngoại thường xuyên phát động các phong trào du lịch hành hương kết hợp với từ thiện tại Việt Nam Một hình thức du lịch tâm linh khác là hình thức du lịch thiền vừa nâng cao trí lực vừa góp phần nâng cao thể lực cho du khách Tại Việt Nam các thiền viện theo tinh thần thiền phái Trúc Lâm là địa điểm khởi xướng cho hình thức du lịch này Tiêu biểu là các thiền viện Trúc Lâm ở Yên Tử (Quảng Ninh), Đà Lạt (Lâm Đồng),… Hình thức khác của du lịch tâm linh tạo những giá trị cảm xúc tích cực nhằm giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn tưởng nhớ người có công là các hoạt động như: viếng mộ chị Võ Thị Sáu (Côn Đảo – Bà Rịa Vũng Tàu), viếng mộ liệt sĩ tại nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn,… Như vậy các hình thức du lịch tâm linh tại Việt Nam khá

đa dạng và phong phú Từ đó có thể thấy được du lịch tâm linh đóng một vai trò rất quan trọng trong loại hình du lịch văn hóa ở nước ta Với thế mạnh sẵn có Việt Nam hoàn toàn có thể khai thác và phát triển du lịch tâm linh sao cho gia tăng lợi ích kinh tế nhưng vẫn cần đảm bảo hài hòa về vấn đề bảo tồn cảnh quan thiên nhiên và các giá trị văn hóa xã hội

Nhìn chung, hoạt động du lịch tâm linh ở nước ta có nhiều tiềm năng để phát triển Tuy nhiên việc khai thác và phát triển du lịch tâm linh chỉ đang dừng lại ở việc

Trang 28

thu hút khách về mặt số lượng nhưng chưa phát huy hết những lợi thế của điểm đến để đẩy mạnh chất lượng du lịch nhằm gia tăng nguồn thu Đồng thời khách du lịch tâm linh xuất hiện đông sẽ gây ra các áp lực cho điểm đến và là thách thức lớn cho bài toán đảm bảo sức chứa trong du lịch Như vậy, nhiệm vụ quan trọng cần thiết làm tìm cách khai thác và phát triển du lịch bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ, kích cầu cho du khách nhằm nâng cấp chuỗi giá trị du lịch tâm linh Liên đới đến nhiệm vụ này, các công việc cần thực hiện là xây dựng chiến lược khai thác và phát triển du lịch tâm linh thông qua việc điều tra, khảo sát và đánh giá: hệ thống tài nguyên du lịch tâm linh; khả năng cung ứng về mặt dịch vụ du lịch; cơ chế chính sách quản lý khai thác và phát triển; nguồn nhân lực và sự tham gia của cộng đồng địa phương tại chỗ Việc làm tiếp theo là cần tính toán việc quản lý sự tham gia của du khách vào mùa cao điểm nhằm đảm bảo sức chứa Khi sức chứa được đảm bảo sẽ góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa

tự nhiện tại điểm đến Có nhiều việc làm cấp bách cần được triển khai, nhưng hai trách nhiệm chính nói trên là việc làm cần thiết để giúp cho các địa phương khai thác và phát triển một cách bền vững hoạt động du lịch văn hóa tâm linh một cách bền vững

1.3 Những vấn đề đặt ra về đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh

Du lịch tâm linh là loại hình du lịch lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần Bằng cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh dựa vào những giá trị văn hóa gắn với lịch sử, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác Khách du lịch tâm linh thường hội tụ về các điểm du lịch tâm linh như: Ðền, chùa, đình, khu thờ tự, tưởng niệm và những vùng đất linh thiêng với phong cảnh đặc sắc gắn kết với văn hóa truyền thống

Đánh giá tiềm năng du lịch tâm linh thứ nhất là phải đánh giá được tiềm năng về điều kiện tự nhiên, thuận lợi về vị trí địa lý, đất đai, thổ nhưỡng, tài nguyên, con người Thứ hai, đánh giá các điều kiện hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ, nguồn du nhân lực và các chính sách của địa phương hổ trợ cho sự phát triển du lịch tâm linh

Thứ ba, đánh giá các tài nguyên du lịch trong đó bao gồm những di tích tâm linh,

di tích lịch sử, di tích cách mạng, các chùa chiền, nhà thờ, các lễ hội truyền thống, các công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch văn hóa tâm linh nhằm tạo sự hấp dẫn đối với du khách

Ngoài ra, để đánh giá được tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh chúng ta cần phải đánh giá hệ thống lưu trú, cơ sở kinh doanh ăn uống, cơ sở kinh doanh lữ hành, phương tiện vận chuyển,

Trang 29

Để du lịch tâm linh được phát triển mạnh cần phải đánh giá rõ được tất cả các yêu tố trên Bên cạnh đó các điểm du lịch tâm linh cần hội tụ đủ tính đa dạng, lâu đời, linh thiêng, dễ tiếp cận, an toàn, liên hoàn và chi phí phù hợp

1.4 Phương pháp đánh giá tiềm năng du lịch tâm linh

1.4.1 Các nội dung liên quan đến đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh

Các nhân tố về chính sách phát triển tài nguyên du lịch; cơ chế quản lý tài nguyên du lịch và khả năng tiếp cận tài nguyên du lịch được coi là những điều kiện cơ bản và quan trọng để đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh một cách hiệu quả (Đào Ngọc Cảnh, Nguyễn Kim Hồng, 2016)

Về chính sách phát triển tài nguyên: Tại Điều 15 và 16 của Luật Du lịch, Chính

sách về phát triển tài nguyên du lịch du lịch đã được thể hiện rất rõ theo đó: “Tài nguyên du lịch tâm linh phải được bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch tâm linh bền vững”; “Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm bảo vệ, đầu tư, tôn tạo tài nguyên du lịch, tạo điều kiện cho khách đến tham quan, thụ hưởng giá trị của tài nguyên du lịch theo quy định của pháp luật” Hiện nay trên địa bàn huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, các chính sách về tài nguyên du lịch, đặc biệt là những tài nguyên du lịch có giá trị, bước đầu đã được quan tâm phát triển Tuy nhiên, ngoài những chính sách chung về công tác phát triển du lịch thì những chính riêng mang tính chất riêng biệt, đặc thù của địa phương về phát triển tài nguyên du lịch, đặc biệt là các chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, các sản phẩm du lịch mang tính truyền thống, tâm linh còn chưa được nghiên cứu ban hành Điều này cũng ảnh hưởng nhất định không chỉ đến sự phát triển của các giá trị tài nguyên mà còn ảnh hưởng đến việc khai thác xây dựng sản phẩm du lịch cũng như đảm bảo chất lượng sản phẩm du lịch Như vậy, để có thể góp phần xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch của huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên mang tính cạnh tranh, phát triển lành mạnh, sâu sắc Đẩng và Nhà nước cần phải nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống chính sách liên quan

đến phát triển tài nguyên du lịch phù hợp với đặc thù của huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

Về cơ chế quản lý tài nguyên: Tại Điều 15 và 16 của Luật Du lịch, xác định rõ cơ

chế và trách nhiệm quản lý tài nguyên du lịch theo đó: “Nhà nước thống nhất quản lý tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước, có chính sách và biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch”; “Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương, các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản

Trang 30

lý tài nguyên du lịch, phối hợp trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch Khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch Tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý tài nguyên du lịch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước về du lịch có thẩm quyền trong việc sử dụng và khai thác tài nguyên du lịch cho các mục tiêu kinh tế khác, bảo đảm không làm giảm độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch” Như vậy, các quy định về quản lý tài nguyên du lịch là khá rõ ràng, tuy nhiên những quy định này lại chưa có sự thống nhất về quản lý các dạng tài nguyên khác nhau mà du lịch khai thác với tư cách là tài nguyên du lịch được điều chỉnh bởi các luật có liên quan như Luật Di sản văn hóa; Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học; Luật bảo vệ tài nguyên nước; v.v Đây là vấn đề tồn tại mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định quản

lý đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến quản lý tài nguyên du lịch tâm linh trên địa bàn huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến điều kiện khai thác

tài nguyên cho mục đích xây dựng sản phẩm du lịch ở huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

Về khả năng tiếp cận: Một trong những điều kiện quan trọng bật nhất để có thể

khai thác các giá trị tài nguyên đó là khả năng tiếp cận điểm tài nguyên du lịch đây chính là điều kiện để khai thác các giá trị tài nguyên cho mục đích phát triển du lịch nói chung và xây dựng sản phẩm du lịch nói riêng Khả năng tiếp cận phụ thuộc vào điều kiện cơ sở hạ tầng Vì vậy việc tiếp cận tài nguyên du lịch chính là điều kiện để khách du lịch tiếp cận các sản phẩm du lịch

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch: Bao gồm các nhân tố về vị trí địa lý, địa

hình, thời tiết, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn Đây là những lợi thế lớn mạnh của mỗi địa phương nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch đặc thù

Chính sách phát triển du lịch: Chính sách tác động lớn đến phát triển du lịch của

mỗi địa phương Cơ chế chính sách sẽ là nhân tố quan trọng khẳng định có phát triển

du lịch hay không và hướng phát triển du lịch đến những giá trị chuyên sâu nhằm mang về doanh thu lớn cho ngành

Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội: Cơ sở hạ tầng đồng bộ không những tạo điều kiện

thu hút được các dự án đầu tư và thực hiện cam kết của nhà đầu tư mà còn góp phần quan trọng tạo nên hình ảnh địa phương trong lòng du khách

Nhận thức của cộng đồng về phát triển du lịch: Cộng đồng sẽ là chủ thể quan

trọng nhất trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên và tài

Trang 31

nguyên du lịch Cộng đồng sẽ tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với các nguồn tài nguyên này, do đó nhận thức của cộng đồng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển du lịch của mỗi địa phương

1.4.2 Các tiêu thức, chỉ tiêu và chuẩn đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh

Phương pháp đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch được tiến hành theo 3 bước: xây dựng thang đánh giá, tiến hành đánh giá và đánh giá kết quả (Đào Ngọc Cảnh, Nguyễn Kim Hồng, 2016)

a) Xây dựng thang đánh giá

Xây dựng thang đánh giá là bước quan trọng và quyết định nhất tới kết quả đánh giá Việc xây dựng thang đánh giá bao gồm các nội dung rất quan trọng là: chọn các yếu tố đánh giá, xác định các bậc của từng yếu tố

Chọn các yếu tố đánh giá: Có rất nhiều yếu tố để đánh giá tài nguyên du lịch

như: Tính đa dạng, tính lâu đời, tính linh thiêng, tính an ninh, an toàn, tính dễ tiếp cận, tính giải trí, tính liên hoàn và chi phí của mỗi chuyến đi

Xác định các mức độ của từng yếu tố: Mỗi yếu tố thường được đánh giá theo 5

mức từ tốt đến xấu, ứng với các mức độ giá trị hoặc thuận lợi khác nhau (rất tệ, tệ, bình thường, tốt, rất tốt)

Xác định chỉ tiêu của mỗi mức: Xác định từng chỉ tiêu cụ tương ứng với từng

mức độ là cần thiết, có tính chất định lượng để có thể so sánh với kết quả đánh giá Để đảm bảo cho việc xác định chỉ tiêu của mỗi mức được chính xác cần dựa trên cơ sở điều tra, khảo sát, phân tích

Phương pháp đánh giá bằng phiếu điều tra khảo sát khách du lịch có ưu điểm là đảm bảo tương đối khách quan, dễ dàng thực hiện thông qua kết quả đánh giá được tiềm năng tài nguyên du lịch tại mỗi điểm đến du lịch bằng những giá trị đã được lượng hoá một cách tương đối Ngược lại thông qua phương pháp này đôi khi cũng sẽ

Trang 32

thiếu chính xác nếu như thiếu các tài liệu điều tra khảo sát và một phần lệ thuộc sự hiểu biết của du khách được khảo sát Vì vậy tác giả bổ sung thêm các phương pháp lấy ý kiến phỏng vấn chuyên gia để có những điều chỉnh kịp thời

1.5 Các bài học kinh nghiệm

1.5.1 Bài học kinh nghiệm từ các địa phương khác

Kinh nghiệm ở Kiên Giang

Kiên Giang là tỉnh có vị trí địa lý quan trọng, là trung tâm vùng nam đồng bằng sông cửu long và nằm trong tuyến du lịch xuyên vùng Kiên Giang-Cà Mau- Bạc Liêu- Cần Thơ- Hậu Giang và khả năng tiếp cận thuận lợi với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực nhờ hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường hàng không tương đối phát triển Xét trên góc độ khai thác tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh để hình thành các sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của khách du lịch trong nước và quốc tế, tỉnh Kiên Giang có những ưu thế nhất định Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang mật

độ di tích lịch sử văn hóadày đặc và nhiều lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm, trong đó có những lễ hội mang đậm tính độc đáo, đặc trưng riêng có của vùng quê Kiên Giang như lễ hội Chiêu đàn thi anh các, lễ hội đua ghe ngo của đồng bào dân tộc Khơmer, lễ hội truyền thống Nghinh ông Nam Hải, lễ hội dỗ tổ Hùng Vương, lễ hội giỗ tổ anh hùng Nguyễn Trung Trực Vùng đất Kiên Giang mang đậm “văn hóa xứ” xưa, nơi đây gắn liền với tín ngưỡng thờ Đức Thánh Thần và tín ngưỡng thờ Thành Hoàng, thờ Ông Nam Hải được coi là nơi “quê Cha, đất Mẹ”, nơi sản sinh ra các làn điệu hát vọng cổ… Đây là các yếu tố thuận lợi cho tổ chức các loại hình du lịch văn hóa – lịch sử gắn với tâm linh tín ngưỡng tại vùng quê này Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là phải khai thác và phát huy giá trị nguồn tài nguyên đó tạo đà cho hoạt động du lịch phát triển Để làm được điều đó tỉnh Kiên Giang đã có những kinh nghiệm:

Trước hết cần phải tiếp tụ đầu tư nâng cấp chất lượng các sản phẩm du lịch văn hóa vật thể và phi vật thể thông qua việc trùng tu tôn tạo các di tích, cải tạo, nâng cấp

hệ thống kết cấu hạ tầng, tăng cường công tác quản lý, tổ chức các lễ hội, các hoạt động văn hóa thể thao dân gian

Nâng cao chất lượng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ thuyết minh tại điểm du lịch Nội dung thuyết minh được các chuyên giá nghiên cứu, chuẩn hóa để giới thiệu đầy đủ những giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc của các điểm du lịch Ngành

du lịch cũng cần định hướng cho các cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ sản xuất các

Trang 33

mặt hàng đặc sản của địa phương, quà lưu niệm để phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách Việc kết nối các sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh Kiên Giang với các tỉnh lân cận Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh…nhằm xây dựng chương trình phát triển, tuyến điểm du lịch chuyên đề

Kinh nghiệm ở Quảng Bình

Quảng Bình là vùng đất văn vật, có bề dày truyền thống lịch sử văn hoá với 103

di tích lịch sử, trong đó có 1 di tích quốc gia đặc biệt, 51 di tích cấp quốc gia, 52 di tích cấp tỉnh…cùng với nhiều hiện vật, cổ vật có giá trị Từ vài năm trở lại đây, văn hoá tâm linh đã đi vào đời sống của con người, và chính vì thế nhu cầu du lịch văn hoá tâm linh của không ít du khách đến từ trong nước và ngoài nước đang trở thành hướng

mở để ngành du lịch Quảng Bình đẩy mạnh khai thác loại hình du lịch này

Sức bật của nền văn hoá truyền thống chính là thế mạnh đầy tiềm năng để ngành

du lịch Quảng Bình đẩy mạnh khai thác du lịch văn hoá tâm linh Có thể nói, những giá trị văn hoá to lớn của hệ thống các di tích lịch sử văn hoá, tâm linh trên địa bàn chính là lợi thế lớn để ngành du lịch Quảng Bình khai thác một cách triệt để và hiệu quả tiềm năng của loại hình du lịch văn hoá, lịch sử, tâm linh Chính vì vậy mỗi độ xuân về, số lượng lớn du khách trong nước và khách quốc tế lại nô nức về tham quan, trẩy hội góp phần thúc đẩy ngành du lịch Quảng Bình ngày một phát triển Những điểm du lịch văn hoá tâm linh thu hút đông đảo du khách đến với Quảng Bình kể đến

là Vũng Chùa – đảo Yến, Hang Tám cô, Đền thờ công chúa Liễu Hạnh, Chùa Non – Núi Thần Đinh…Trong 10 tháng năm 2015 Quảng Bình ước đón khoảng 2,583,620 lượt khách tham quan du lịch, riêng lượng khách tâm linh ước khoảng 1,491,058 lượt

có được những kết quả đó là nhờ:

Quảng Bình đã có nhiều chính sách khai thác hợp lý, hiệu quả lợi thế của du lịch sinh thái – văn hoá tâm linh để đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của du khách; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá về các điểm du lịch tâm linh trên các phương tiện truyền thông như đài báo, hoặc biên soạn các ấn phẩm du lịch, tham gia các hội chợ, triển lãm về du lịch trong nước và quốc tế, gắn kết các loại hình du lịch để xây dựng nhiều sản phẩm du lịch độc đáo để thu hút khách

UBND tỉnh đã quan tâm đầu tư trung tu tôn tạo các di tích lịch sử, góp phần thu hút đông đạo lượng khách cho tỉnh nhà Đã chủ động và tích cực tăng cường hợp tác

du lịch với các tỉnh, thành trong cả nước để vừa quảng bá cho ngành du lịch quảng Bình, vừa đúc rút những kinh nghiệm để từng bước phát triển du lịch của tỉnh

Trang 34

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho cho huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

Một là, cần có các nghiên cứu cơ bản về từng điểm du lịch văn hóa tâm linh

trong kế hoạch phát triển của huyện, tỉnh khi phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh Muốn phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại huyện phải đưa ra các chính sách phát triển du lịch cho thật phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương như các chính sách phát triển tài nguyên, cơ chế quản lý tài nguyên, khả năng tiếp cận …

Hai là, xây dựng chiến lược khai thác và phát triển du lịch tâm linh thông qua

việc điều tra, khảo sát và đánh giá: hệ thống tài nguyên du lịch tâm linh; khả năng cung ứng về mặt dịch vụ du lịch; cơ chế chính sách quản lý khai thác và phát triển; nguồn nhân lực và sự tham gia của cộng đồng địa phương tại chỗ

Ba là, hoàn thiện quy hoạch du lịch cho từng di tích, tăng cường công tác quản lý

để thực hiện các quy hoạch đã được phê duyệt Sự đa dạng, hấp dẫn của các tài nguyên

du lịch nhân văn của du lịch văn hóa tâm linh là ở vẻ đẹp nguyên bản, thô sơ Chính vì vậy đã mang đến sự khác biệt rõ rệt với các điểm du lịch khác Vấn đề quan trọng trong phát triển du lịch văn hóa tâm linh chính là việc bảo tồn và giữ gìn các giá trị của

di tích

Bốn là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất – kỹ thuật, kết cấu hạ tầng và các sản

phẩm du lịch văn hóa tâm linh cho phù hợp với từng địa điểm du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên kết giữa các điểm du lịch với nhau

Năm là, cần tính toán việc quản lý sự tham gia của du khách vào mùa cao điểm

nhằm đảm bảo sức chứa Khi sức chứa được đảm bảo sẽ góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa - tự nhiện tại điểm đến

Sáu là, mở các lớp cho cán bộ chính quyền các địa phương nâng cao nhận thức

về phát triển du lịch văn hóa tâm linh và hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý dịch vụ

du lịch Bên cạnh đó, cần phải tổ chức, quản lý chặt chẽ, có hiểu biết khi khai thác các giá trị văn hóa tâm linh phục vụ hoạt động du lịch

Bảy là, tập trung tuyên truyền quảng bá hình ảnh du lịch cho các chương trình du

lịch văn hóa tâm linh huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên trên cơ sở kết hợp phát triển du lịch với bảo tồn giá trị di sản văn hóa Có nhiều việc làm cấp bách cần được triển khai, nhưng tám trách nhiệm chính nói trên là việc làm cần thiết để giúp cho các địa phương

khai thác và phát triển hoạt động du lịch văn hóa tâm linh một cách bền vững

Trang 35

Tóm lược Chương 1

Chương 1 đã đề cập đến các khái niệm và cơ sở lý luận liên quan đến việc đánh giá du lịch văn hóa tâm linh, nêu ra một số đặc điểm của du lịch văn hóa tâm linh của nước ta hiện nay, các vấn đề cần đặt ra về đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh; xác định phương pháp đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm lịch để làm cơ sở cho việc phân tích khảo sát ở chương 2 Đồng thời tìm hiểu và học tập kinh nghiệm về phát triển du lịch văn hóa tâm linh ở các địa phương khác Từ đó rút ra bài học bài học kinh nghiệm cho địa phương

Trang 36

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH

TẠI HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN

2.1 Khái quát về Tuy An

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của huyện Tuy An

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Phú Yên

Tuy An là huyện ven biển, nằm ở phía Bắc tỉnh Phú Yên Có chiều dài bờ biển (không kể các đảo) là 42,5 km Thị trấn Chí Thạnh là huyện lỵ, cách thành phố Tuy Hoà 30 km về phía Bắc

Phía Bắc giáp thị xã Sông Cầu và huyện Đồng Xuân

Phía Nam giáp thành phố Tuy Hòa và huyện Phú Hòa

Phía Đông giáp biển Đông

Phía Tây giáp huyện miền núi Sơn Hòa

Tọa độ địa lý :

Từ 13O8’2’’ đến 13O 22’30’’ Vĩ độ Bắc

Trang 37

Từ 109O5’ 10’’ đến 109O 21’24’’ Kinh độ Đông

Diện tích tự nhiên của huyện là 414,99 km2, chiếm 8,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, gồm có 15 xã và 1 thị trấn Tuy An là cửa ngõ phía Bắc của thành phố Tuy Hòa; với vị trí trung tâm phía Bắc của tỉnh (Sông Cầu - Tuy An - Đồng Xuân) Thuận lợi về giao thông: có các tuyến Quốc lộ 1A, đường sắt Thống nhất Bắc- Nam nối liền các vùng kinh tế trọng điểm Quảng Nam - Đà Nẵng, khu công nghiệp Dung Quất, khu

CN Nhơn Hội TP Qui Nhơn với TP Hồ Chí Minh Tuy An còn có hệ thống giao thông: ĐT 641 (Chí Thạnh - Đồng Xuân - Phú Tài), đường Tuy Hòa - An Ninh Đông - QL1A; tỉnh lộ ĐT 643 (Hòa Đa-Tân Lương) tỉnh lộ ĐT 650 (Cầu Cây Cam - Sơn Hòa) nối liền Tuy An với các huyện miền Tây của tỉnh và các tỉnh Tây Nguyên Dân số trung bình năm 2018 là 125.246 người chiếm 14% dân số cả tỉnh, mật độ dân số 297 người/ km2 Vì vậy Tuy An có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh đối với tỉnh Phú Yên

Là vị trí trung tâm của 3 huyện và thị xã phía Bắc tỉnh Phú Yên, cửa ngõ phía Bắc của thành phố Tuy Hòa Tài nguyên đất đai phong phú và đa dạng, khí hậu thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi Là điều kiện tốt để phát triển ngành nông nghiệp hàng hóa toàn diện, góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp của tỉnh phát triển Tuy An có bờ biển dài 42,5km với một số đảo nhỏ gần bờ, có ngư trường đánh bắt thủy sản rộng lớn, có nhiều bãi biển và danh thắng đẹp cấp quốc gia; là điều kiện tốt để phát triển nền kinh tế biển cũng như ngành du lịch Trong định hướng phát triển kinh tế xã hội (KTXH) của tỉnh, Tuy An được xác định là một trong những tâm điểm phát triển của ba huyện phía Bắc, có nghĩa vụ đóng góp, giữ vững sự ổn định KTXH, bảo đảm cho phát triển chung cả vùng, cùng các huyện phát triển Đây là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, giàu truyền thống hào hùng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc và cũng là một trong những căn cứ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của cách mạng Phú Yên Ngoài đảm nhiệm chức năng khu vực phòng thủ ven biển vững chắc cho tỉnh, còn là địa bàn chiến lược quan trọng, là tuyến đầu hỗ trợ cho các huyện phía Tây của tỉnh trong việc bảo vệ quốc phòng - an ninh

2.1.1.2 Đất đai, địa hình, địa mạo

Theo hệ thống phân loại đất Việt Nam đã được Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, điều tra, xây dựng năm 1978 trên bản đồ tỷ lệ 1/25.000 Đồng thời năm

1993 điều tra bổ sung một số vùng đất trồng lúa về các chỉ tiêu nông hóa Năm 2007

Trang 38

Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, điều tra bổ sung, chỉnh lý xây dựng bản đồ đất tỉnh Phú Yên, tỷ lệ 1/100.000 Toàn huyện Tuy An có 8 nhóm đất được chia thành

18 đơn vị đất Theo Bản đồ địa hình UTM in năm 2003 tỷ lệ 1/50.000, 1/100.00, kết quả khảo sát đối chiếu thực địa năm 2018 Tuy An có địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam, với nhiều dãy đồi, núi thấp ăn lan ra sát biển, có thể chia thành hai dạng chính sau:

Địa hình vùng đồi núi thấp: Có độ cao trung bình từ 150 - 300 m, so với mặt

biển Điểm cao nhất là núi Hòn Chuông, núi Ông La cao 500 m Dạng địa hình này tập trung ở 3 xã miền núi (An Xuân, An Lĩnh, An Thọ), một phần ở vùng núi An Dân, An Nghiệp, An Cư, và đồi núi thấp ở các xã ven biển Diện tích 28.500 ha chiếm 68,6% DTTN

Dạng địa hình đồng bằng: Có độ cao từ 3m đến 10m, địa hình tương đối bằng

phẳng Bao gồm các dải đồng bằng của các xã An Nghiệp, An Định, An Dân, An Thạch, An Ninh Tây, An Ninh Đông, An Cư, An Hiệp, An Hòa, An Mỹ, An Chấn, vùng ven đầm, ven cửa sông Diện tích 12.919 ha (chiếm31,4%DTTN) Đây là vùng sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản của Huyện

2.1.1.3 Khí hậu, thủy văn

Khí hậu: Theo tài liệu “Bổ sung cơ sở dữ liệu và công bố đặc điểm khí hậu thủy

văn tỉnh Phú Yên” do Trung tâm khí tượng thủy văn Phú Yên thực hiện năm 2012, Tuy An thuộc tiểu vùng 5; nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương Nhiệt độ trung bình năm 26,90C, tháng nóng nhất 300C (tháng 6), tháng lạnh nhất 23,10C (tháng 1), biên độ dao động nhiệt độ trong ngày trung bình từ 70C-100C Số giờ nắng trung bình trong năm từ 2.300 – 2.600 giờ

nắng (trung bình nhiều năm 2.420 giờ) Tổng nhiệt độ năm 9.7220C

Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.104 mm, với 131 ngày mưa Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt:

Mùa khô từ tháng 1đến tháng 8, khí hậu khô nóng chịu ảnh hưởng của chế độ gió Tây Nam, ít có mưa, lượng mưa mùa khô chiếm 20% -30% lượng mưa năm

Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12, thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc mang theo mưa, nhiệt độ thấp, mát mẻ, lượng mưa trong mùa chiếm 70% - 80% lượng mưa cả năm Độ ẩm trung bình năm khá lớn, khoảng 80% Lượng nước bốc hơi bình quân hàng năm là 1.650mm

Trang 39

Thủy văn: Phụ thuộc vào nước mưa và nước của hệ thống các sông, suối, ao hồ

Nước các sông phụ thuộc vào nước ở thượng nguồn và lượng mưa hàng năm Có khoảng 70 – 75% lượng nước tập trung vào mùa mưa, các tháng còn lại lượng nước thấp (chiếm khoảng 25 – 30%), dòng chảy cạn kiệt vì vậy cần có biện pháp ngăn giữ, điều hòa nguồn nước Đặc điểm này có tác động mạnh đến công tác đầu tư cũng như

hiệu quả của các công trình ở khu vực

2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên rừng: Nằm nơi chuyển tiếp giữa vùng núi cao Sơn Hòa và đồng bằng

ven biển nên hệ động, thực vật rừng khá đa dạng Theo số liệu thống kê đất đai năm

2018 của phòng Tài nguyên và Môi trường Năm 2018 rừng của Tuy An có: 8.706 ha, chiếm 20% diện tích tự nhiên Trong đó: Rừng sản xuất: 6.373 ha; Rừng phòng hộ:

2.333 ha

Tài nguyên biển: Tuy An có bờ biển dài 42,5km với ngư trường rộng, nằm trong

vùng đa dạng về thủy, hải sản Nguồn lợi thủy sản ở vùng biển Tuy An (theo tài liệu của Viện Hải Dương Học) có khoảng 500 loài cá, 39 loài tôm, 15 loài mực và các loài hải sản khác Sản lượng hải sản đánh bắt hàng năm khoảng 10.00 tấn

Tài nguyên khoáng sản: Theo báo cáo về tài nguyên khoáng sản tỉnh Phú Yên

của Sở Công nghiệp; trên địa bàn huyện Tuy An có các loại khoáng sản sau: Mỏ Sắt trữ lượng 914.000 tấn; Mỏ Bau Xít trữ lượng khoảng 4,8 triệu tấn, hàm lượng Ô-xít nhôm khá; Mỏ Diatômíte trữ lượng 90 triệu tấn; Cát Ti -Tan, Zicon tập trung nhiều nhất ở vùng cát biển của An Mỹ, An Hoà với trữ lượng khoảng 6.200 tấn; Đá khối Granit xây dựng trữ lượng khoảng 3,5 triệu m3; Sét gốm trữ lượng khoảng 300.000 m3; Cát xây dựng trữ lượng khoảng trên 1.000.000 m3;

Tài nguyên du lịch, văn hoá: Tuy An không những là một vùng đất có bề dày về

lịch sử - văn hóa trên 400 năm mà còn là vùng đất giàu truyền thống cách mạng Qua khảo sát thống kê về tài nguyên du lịch - văn hóa, hiện nay Tuy An có gần 270 di tích thuộc di sản văn hóa vật thể với nhiều loại hình di tích như: Lịch sử, Lịch sử - văn hóa, khảo cổ, danh thắng, kiến trúc nghệ thuật Trong đó đáng chú ý là loại hình di tích lịch

sử văn hóa có 202 di tích (tiêu biểu với 26 đình, 44 chùa, 19 lăng thờ cá ông, 65 miếu còn lại là dinh, thanh minh, lẫm) và kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú trong đó tiêu biểu nhất là Lễ hội cầu ngư của ngư dân ven biển Đặc biệt trong đó có 07 di tích cấp Quốc gia là: đầm Ô Loan, gành Đá Đĩa (Danh thắng quốc gia), chùa Từ Quang (di

Trang 40

tích lịch sử kiến trúc) đền và mộ Lê Thành Phương, địa đạo gò Thì Thùng, nơi xảy ra

Vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh, thành An Thổ (nơi sinh đồng chí Trần Phú - Tổng

bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam) (di tích lịch sử - văn hóa) Ngoài ra còn

có chùa Tổ (An Hiệp), nhà thờ Mằng Lăng (An Thạch), gành Đèn, rừng dương Thành Lầu (An Ninh Đông) và các bãi tắm ven biển

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Tình hình dân số và lao động

Theo số liệu niên giám thống kê năm 2018, dân số trung bình là 125.246 người chiếm 14% dân số cả tỉnh, mật độ dân số 297 người /km2, tổng số hộ toàn huyện 35 nghìn hộ, tổng số lao động đang làm việc 75 nghìn người, số lao động được tạo việc

làm mới trong năm 2018 là 4,2 nghìn người (trong đó: Nữ 2,59 nghìn người, Nam 1,62

nghìn người)

2.1.2.2 Cơ sở kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

Hệ thống các công trình đầu mối về giao thông, thủy lợi, đê điều, hồ đập thường xuyên được đầu tư cải tạo, nâng cấp đảm bảo phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện Hệ thống trường học, trạm y tế, công sở làm việc được đầu tư làm mới, bổ sung kịp thời đảm bảo làm việc hiệu quả

Đường bộ: Toàn huyện có 24 tuyến với tổng chiều dài 259km, mật độ giao thông

0,52km/km2; 0,18 km/100 dân; trong đó: Quốc lộ 40km chiếm 15,5%, tỉnh lộ 80km chiếm 30,8%, huyện lộ 67km chiếm 25,9%, đường đô thị 14km chiếm 5,4%, xã lộ 58km chiếm 22,3% tổng chiều dài Tuyến giao thông đối ngoại quan trọng đi qua địa bàn huyện là QL1A Chất lượng mạng lưới đường bộ: Bê tông xi măng - bê tông nhựa 96km, chiếm 37%; láng và thấm nhập nhựa 127km, chiếm 49%; cấp phối đá dăm và đất 36km, chiếm 14%

Đường sắt: Huyện Có tuyến đường sắt thống nhất Bắc Nam đi qua với chiều dài

25 km, qua 2 ga hàng hóa (Chí Thạnh và Hòa Đa) Số lượng đường đón gửi trong ga phần lớn là có từ 2-3 Hiện ngành đường sắt đã và đang xây dựng và nâng cấp lại hệ thống cầu trên tuyến để đáp ứng tốc độ chạy tàu cũng như đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành đường sắt Việt Nam

Đường biển: Hệ thống cảng biển có 01 cảng cá Tiên Châu xã An Ninh Tây, quy

mô 600 lượt ngày/500CV, độ sâu trước cảng trên 12m, quy mô sản lượng thuỷ sản qua cảng 6.000 – 10.000 tấn/ năm 02 bến cá gồm: Bến cá Mỹ Quang (An Chấn) sản lượng

Ngày đăng: 17/05/2021, 14:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm