1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH DỊCH vụ CÔNG điện tử CHO CÔNG dân – cấp căn cước CÔNG dân

22 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 550,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hình thành và phát triển của G2CTrong quá khứ, khi chưa có sự xuất hiện của chính phủ điện tử, các thủtục hành chính rất tốn công sức, thời gian cũng như tiền bạc, dân chúng khôngthể

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA KINH TẾ - LUẬT



BÀI THẢO LUẬN MÔN: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CĂN BẢN

ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH DỊCH VỤ CÔNG ĐIỆN TỬ CHO CÔNG DÂN –

CẤP CĂN CƯỚC CÔNG DÂN

Giáo viên hướng dẫn: Vũ Thị Thúy Hằng

Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2021DANH SÁCH THÀNH VIÊN

Trang 2

2 Chu Hải Anh 19D160002 2.6

3 Đinh Hồng Anh 19D160141 Lời mở đầu + kết luận

4 Lê Hoàng Quỳnh Anh 19D160003 1.4 + 1.5

5 Lê Thị Nguyệt Anh 19D160073 2.1

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, và đặcbiệt là sự phát triển của công nghệ thông tin, Thương mại điện tử cũng ra đời vàphát triển nhanh chóng trên toàn thế giới mà trong đó có Việt Nam Nó đượcxem như là sự phát triển tất yếu của nền “ Kinh tế số hóa” và “ Xã hội thôngtin” Việc áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh cũng nhưtrong đời sống xã hội hằng ngày đang dần trở thành một xu thế tất yếu của thờiđại

Việt Nam hiện đang là một nước đang phát triển, sự đổi mới của khoahọc, công nghệ đã mang tới cho nước ta nhiều bước tiến lớn trong học tập, làmviệc cũng như công tác quản lý con người, quản lý xã hội Tuy nghiên, quá trìnhnày còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc đòi hỏi phải có rất nhiều công trìnhnghiên cứu khách quan về quy luật vận động, phát triển thương mại điện tử để từ

đó xây dựng và triển khai chiến lược phát triển lĩnh vực phát triển và hoạt độngthương mại này

Do đó, nhóm 1 đã quyết định nghiên cứu và phát triển đề tài “ Phân tíchdịch vụ công điển tử cho công dân – cấp căn cước công dân ” để mang tới cho

cô cùng các bạn một cái nhìn khách quan về lợi ích của sự phát triển thương mạiđiện tử mang tới cho con người trong cuộc sống

Trang 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Sự hình thành và phát triển của G2C

Trong quá khứ, khi chưa có sự xuất hiện của chính phủ điện tử, các thủtục hành chính rất tốn công sức, thời gian cũng như tiền bạc, dân chúng khôngthể liên lạc với Chính phủ ngoài giờ hành chính, không thể ở bất cứ nơi nàongoài trụ sở của các cơ quan nhà nước Có rất nhiều khó khăn để Chính phủtruyền thống thực hiện những giao dịch hay cung cấp thông tin cho người dân Cùng với sự phát triển của công nghệ, chính phủ điện tử được hình thành theo 4loại (G2C, G2E, G2B, G2G) đặc biệt là G2C (quan hệ Chính phủ với người dân)

có khả năng phổ biến thông tin tới công chúng và các dịch vụ cơ bản dành chongười dân một cách nhanh chóng, tiết kiệm, dễ dàng, hiệu quả, thực hiện đượccác giao dịch một cách công khai minh bạch, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vàgiảm chi phí xã hội

Trên thế giới Chính phủ điện tử nói chung và mô hình G2C nói riêng đã rađời và phát triển từ lâu Một số quốc gia tiêu biểu:

- Tại Hàn Quốc: Đối với người dân, Hàn Quốc chú trọng xây dựng một hệthống thông tin quốc gia tạo thành một cơ sở dữ liệu nền tảng và hình thành thóiquen tra cứu thông tin liên quan đến Chính phủ qua mạng Từ năm 1995, cácdịch vụ hành chính công của Chính phủ Hàn Quốc đã được đưa dần lên mạnginternet, tập cho người dân thói quen làm việc theo các chế “một của” và phongcách làm việc không giấy tờ

- Tại Singapore: Singapore đã xây dựng Chính phủ điện tử từ những năm

80 của thế kỷ trước Đã xây dựng cơ sở dữ liệu chung, tất cả các dịch vụ hànhchính công của các bộ/ngành Với cơ sở dữ liệu này, người dân chỉ cần vào 1công duy nhất để thực hiện tất cả các dịch vụ hành chính

- Tại Pháp: Pháp xây dựng Cổng Dịch vụ công quốc gia và Hệ thống liênkết định danh quốc gia cho phép kết nối giữa các dịch vụ công trực tuyến với 1lần đăng nhập duy nhất (gọi là France Connect) Với France- Connect côn dânPháp chỉ cần đăng nhập hệ thống này để có thể sử dụng tất cả các dịch vụ côngtrực tuyến do các cơ quan nhà nước cung cấp

- Tại Việt Nam:

Chính phủ Việt Nam đang từng bước hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế

số và xã hội số bằng cách nắm bắt những cơ hội do cuộc Cách mạng cộng

Trang 6

nghiệp lần thứ tư mang lại.

Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã có sự tăng hạng về chínhphủ điện tử liên tục trong 06 năm qua (từ vị trí thứ 99 năm 2014 lên vị trí thứ 86trong năm 2020) Cụ thể, Liên hợp quốc đánh giá chỉ số về chính phủ điện tửtheo bốn mức: rất cao (trên 0,75 điểm); cao (từ 0,5 đến 0,75 điểm); trung bình(từ 0,25 đến 0,5 điểm), thấp (dưới 0,25 điểm) Năm 2020, chỉ số dịch vụ côngtrực tuyến của Việt Nam là 0,6529 điểm Theo số liệu thống kê năm 2019 của

Bộ Thông tin và Truyền thông, Việt Nam có 127.270 dịch vụ công trực tuyếnmức độ 1 và mức độ 2, có 26.734 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 (chiếm16,73%) và 5.792 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 (chiếm 3,62%) So với 06năm trước đó, cũng theo số liệu thống kê từ Sách trắng Công nghệ thông tin vàTruyền thông năm 2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông thì Việt Nam chỉ có2.366 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 (xấp xỉ 2,27%) và 30 dịch vụ công trựctuyến mức độ 4 (xấp xỉ 0,03%)

Từ ngày 09/12/2019, Cổng Dịch vụ công Quốc gia đã được đưa vào vậnhành tại địa chỉ www.dichvucong.gov.vn, được kết nối, tích hợp với cổng dịch

vụ công và hệ thống một cửa điện tử tại các bộ, ngành, địa phương Đây là nơicung cấp thông tin về thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến; hỗ trợ thựchiện, giám sát, đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trựctuyến và tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức trên toànquốc

Theo kế hoạch, trong năm 2020 sẽ tích hợp tối thiểu 30% các dịch vụcông trực tuyến thiết yếu, sau năm 2020 Cổng Dịch vụ công Quốc gia sẽ tiếp tụctăng dần, mỗi năm tích hợp 20% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4của các bộ, ngành, địa phương Tính đến tháng 9/2020, số thủ tục hành chínhcung cấp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia là 1.955 thủ tục và số hồ sơ trựctuyến thực hiện qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia là 507.171 hồ sơ

Như vậy, Việt Nam đã có sự thay đổi lớn về cung cấp dịch vụ công trựctuyến, đặc biệt là dịch vụ công trực tuyến mức độ cao (mức độ 3 và mức độ 4)với số lượng tăng vượt trội so với những năm trước đây Đây là kết quả quantrọng mà Việt Nam đã đạt được nhờ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạtđộng của các cơ quan nhà nước, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao,trên diện rộng để phục vụ người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là nỗ lực tích hợp

Trang 7

dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4 lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia.

(Chú thích: Theo hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông tại Thông

tư số 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/07/2009 về việc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, chương trình dịch vụ công trực tuyến được triển khai theo 4 mức độ:

1 Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí và lệ phí thực hiện dịch vụ.

2 Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 1

và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ

sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.

3 Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2

và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.

4 Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3

và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng.)

1.2 Khái niệm G2C (Government to Citizens)

G2C (Government to Citizens) là thương mại điện tử giữa Chính phủ với

công dân hoặc cá nhân riêng lẻ có khả năng giao dịch và cung cấp dịch vụ củachính phủ trực tiếp cho người dân

Mô hình này thường xảy ra thông qua các Công nghệ Thông tin Liên lạc(ICT)

Trang 8

Goverment Website Citizen

Ví dụ: Tổ chức bầu cử của công dân, thăm dò dư luận, quản lý quy hoạchxây dựng đô thị, tư vấn, khiếu nại, giám sát và thanh toán thuế, hoá đơn của cácngành với người thuê bao, dịch vụ thông tin trực tiếp 24/7, phục vụ công cộng,môi trường giáo dục

1.3 Vai trò của G2C

Bằng cách làm cho thông tin công khai dễ tiếp cận hơn thông qua việcthiết lập trang web, G2C tạo điều kiện cho người dân tải xuống các biểu mẫutrực tuyến, truy cập vào các dịch vụ nhanh chóng, thuận tiện, mọi lúc mọi nơi.Điều này tạo cơ hội cải thiện hiệu quả chức năng của chính phủ và giúp chínhphủ minh bạch hơn đối với công dân

Với loại G2C, chính phủ điện tử áp dụng hoạt động quản trị quan hệkhách hàng (CRM) trong việc tiếp cận với người dân cũng như tạo mối quan hệtốt đẹp với họ Bằng cách quản lý mối quan hệ khách hàng (người dân), doanhnghiệp (chính phủ) có thể cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cần thiết để đápứng nhu cầu của khách hàng (người dân)

Sự tương tác giữa Chính phủ và công dân (G2C) được thông qua nhiềuứng dụng khác nhau Người dân có thể trao đổi trực tiếp qua thư điện tử, sửdụng các công cụ tra cứu, tải xuống các biểu mẫu và tài liệu Các tương tác nàygiúp tiết kiệm thời gian

Nâng cao năng lực quản lý điều hành của Chính phủ và các cơ quan chínhquyền các cấp (trao đổi văn bản điện tử, thu thập thông tin chính xác và kịp thời

ra quyết định, giao ban điện tử …)

Giảm được chi phí cho bộ máy Chính phủ

Thực hiện một chính phủ hiện đại, hiệu quả và minh bạch

1.4 Đặc điểm của G2C

Về cơ bản, G2C là khả năng giao dịch và cung cấp dịch vụ của chính phủ

Trang 9

trực tiếp cho người dân như giấy khai sinh, giấy phép lái xe, tư vấn, khiếu nại,giám sát và thanh toán thuế, phục vụ công cộng cũng như hỗ trợ người dân đốivới các dịch vụ cơ bản như giáo dục, chăm sóc y tế, thông tin bệnh viện, thưviện và các dạng dịch vụ khác.

Tính cộng tác: được thiết kế, xây dựng và triển khai trên cơ sở hợp tácphối hợp giữa Chính phủ và cá nhân công dân

Tính đổi mới: CPĐT không chỉ thuần tuý là ứng dụng công nghệ mới, làwebsite hay việc chuyển giao các dịch vụ trên mạng, mà còn tính đến việc cảitiến quy trình công tác và tổ chức bộ máy

Mục tiêu hàng đầu của G2C là làm giảm chi phí cung cấp các dịch vụcông, giảm được chi phí cho bộ máy Chính phủ, đảm bảo sự liên lạc tốt hơngiữa chính phủ với công dân, người dân giảm thiểu thời gian và chi phí trongquá trình thực hiện một giao dịch

G2C tạo điều kiện cho người dân tải xuống các biểu mẫu trực tuyến, truycập vào các dịch vụ nhanh chóng, thuận tiện, mọi lúc mọi nơi Điều này tạo cơhội cải thiện hiệu quả chức năng của chính phủ và giúp chính phủ minh bạchhơn đối với công dân

1.5 Lợi ích và hạn chế của G2C

1.5.1 Lợi ích của G2C

Với dịch vụ công truyền thống người dân chỉ có thể liên hệ với Chính phủ

5 ngày/tuần, 8h/ngày tại trụ sở của các cơ quan nhà nước Với lợi thế của việcứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, Chính phủ điện tử có thể khắcphục được những hạn chế trên của Chính phủ truyền thống Thông qua CPĐT,người dân có thể thực hiện nhiều dịch vụ hành chính 365 ngày/năm, 7 ngày/tuần

24 giờ/ngày ở bất kỳ nơi nào

Tăng độ minh bạch và tin cậy của chính phủ, người dân sẽ được thôngbáo về những hoạt động mà chính phủ đang thực hiện cũng như những chínhsách mà họ đề ra

Khắc phục và đẩy lùi những tiêu cực diễn ra trong hoạt động công vụ đó

là cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, trì trệ, quan liêu …., các “thủ tục bôi trơn”.Với việc cung ứng các dịch vụ công trực tuyến, sẽ giải quyết các công việc củangười dân, doanh nghiệp theo đúng thủ tục, trình tự, thời gian, chất lượng đãđược quy định sẵn theo tiêu chuẩn

Trang 10

Cải thiện hiệu quả so với hệ thống hành chính làm việc trên bàn giấy, việctin học hóa và tự động hoá thủ tục hành chính của Chính phủ điện tử cho phépgiải quyết các dịch vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, gọn hơn, đơn giản hơn rấtnhiều

Giảm được chi phí cho hầu hết các dịch vụ công

Cho phép người dân có thể truy cập và thu thập thông tin liên quan đếnbất kỳ bộ phận nào của chính phủ và người dân có quyền tham gia vào quá trình

ra quyết định của chính phủ

1.5.2 Hạn chế của G2C

Bảo mật: Việc lưu trữ dữ liệu cá nhân của công dân có thể bị xem là kiểmsoát quyền riêng tư hoặc lạm dụng cho những mục đích khác Còn có nguy cơviệc dữ liệu bị mất cắp, hoặc bị rò rỉ thông tin hoặc bị bán, sử dụng cho các mụcđích thương mại

Chi phí: Tốn nhiều chi phí để có thể hoàn thành được chính phủ điện tử.Ngoài ra còn có các chi phí tiếp tục phát sinh như chi phí dùng để bảo trì, nângcấp trang web Đồng thời cũng phải trả một khoản phí lớn để bảo vệ được quyềnriêng tư, tránh bị hack dữ liệu

Chế độ chính trị: tùy vào các chế độ chính trị khác nhau mà sẽ có nhiềuvấn đề phát sinh liên quan, ví dụ với các nước theo chế độ xem trọng quyền tự

do và riêng tư của người dân thì việc nắm giữ thông tin cá nhân của người dân

sẽ bị nhiều sự phản đối

Với những nước chưa phát triển, chưa phổ cập internet toàn dân thì sẽ cónhững bộ phận người dân không thể tiếp cận được chính phủ điện tử, họ lànhững người có thể bị cập nhật thông tin chậm trễ, chính phủ không tiếp cậnđược nhóm đối tượng này thông qua chính phủ điện tử.

Trang 11

CHƯƠNG 2: DỊCH VỤ CÔNG ĐIỆN TỬ CUNG CẤP CHO CÔNG DÂN – CĂN CƯỚC CÔNG DÂN

2.1 Sự hình thành dịch vụ công điện tử - căn cước công dân

Đòi hỏi sự phát triển và áp dụng khoa học vào quá trình phục vụ ngườidân nhằm giải quyết các nhu cầu dãn cách xã hội của dịch bệnh covid – 19, tiếtkiệm thời gian đi lại, chờ đợi của người dân và giảm áp lực cho các cắn bộ côngan

Lấy ý kiến của các ban ngành thì đầu năm 2019 Bộ Công an đưa ra

dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 07/2016/TT-BCA quy định chi tiếtmột số điều của Luật Căn cước công dân và Nghị định số 137/2015/NĐ-CP củaChính phủ Trong đó, đối với trình tự, thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân, dựthảo mới của Bộ Công an đã bổ sung thêm quy định về “Trường hợp tiếp nhận

hồ sơ qua dịch vụ công trực tuyến” Cụ thể, với quy định mới, công dân sẽ kêkhai thông tin theo mẫu Tờ khai Căn cước công dân trên trang thông tin điện tửdịch vụ công trực tuyến; lựa chọn ngày, tháng, năm làm thủ tục gửi đến cơ quanCông an nơi công dân đăng ký thường trú Các thao tác này tương tự như thủ tụclàm hộ chiếu đang được sử dụng Sau khi công dân gửi thông tin tờ khai, cán bộtiếp nhận đề nghị cấp thẻ Căn cước công dân trên trang thông tin điện tử dịch vụcông trực tuyến kiểm tra thông tin của công dân kê khai trên Tờ khai Căn cướccông dân trực tuyến, trường hợp đầy đủ thông tin thì hẹn ngày để công dân đến

cơ quan Công an làm thủ tục

Hệ thống sẽ tự động hướng dẫn, kiểm tra, xác thực việc thực hiện kê khaiđúng quy trình và đầy đủ các thông tin hay chưa làm giảm công việc cho các cán

bộ phụ trách

Có thể nói, đây là một trong các bước tiến rất đáng trân trọng trong việccải cách thủ tục hành chính Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc đăng kýthủ tục cấp căn cước có giải pháp hỗ trợ khá thiết thực cho người dân Từ nay, ởbất cứ nơi nào, thời điểm nào, chỉ với thiết bị di động cầm tay, người dân có thểhoàn thành việc kê khai cấp căn cước công dân Nhờ chủ động chọn thời gianđến làm thủ tục, người dân tiết kiệm được rất nhiều thời gian chờ đợi đến lượt

để lấy dấu vân tay, chụp ảnh

Trước đây, khá nhiều người ở các tỉnh thành đang học tập, làm việc tạiTp.Hồ Chí Minh gặp khó khăn khi mất căn cước công dân, vì theo quy định, cáctrường hợp như vậy đều phải trở về địa phương nơi mình đăng ký hộ khẩu

Ngày đăng: 17/05/2021, 14:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w