Câu 2 8,0 điểm Nhận xét về Truyện Kiều Nguyễn Du có ý kiến cho rằng: Bằng hiểu biết của mình về Truyện Kiều, đặc biệt là những đoạn trích đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 9, em
Trang 1BỘ 15 ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI
MÔN NGỮ VĂN LỚP 9 CẤP HUYỆN NĂM 2020-2021
Trang 313 Đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 cấp huyện năm 2020-2021 - Phòng GD&ĐT Tam Nông
14 Đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 cấp huyện năm 2020-2021 - Phòng GD&ĐT Thanh Oai
15 Đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 cấp huyện năm 2020-2021 - Phòng GD&ĐT Thiệu Hóa
Trang 4PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Hãy khám phá xứ sở của cái đẹp qua tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
của Phạm Tiến Duật (Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập một, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam)
Trang 5Đáp an đề thi học sinh giỏi lớp 9 môn Ngữ văn Sở GD&ĐT Hưng Hà năm 2020
Trang 8PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
HUYỆN KHOÁI CHÂU
(Đề thi gồm có 02 trang)
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN
Năm học 2020 - 2021 Môn: Ngữ văn - Lớp 9
Thời gian: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
PHẦN I: ĐỌC- HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau rồi trả lời các câu hỏi bên đưới
Cả đời ra bề vào ngồi
Mẹ như cây lá giữa trời gió rung
cả đời buộc bụng thắt lưng
Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng Đường đời còn rộng thênh thang
Mà tóc mẹ đã bạc sang trắng trời
Mẹ đau vẫn giữ tiếng cười
Mẹ vui vẫn để một đời nhớ thương Bát cơm và nắng chan sương Đói no con mẹ xẻ nhường cho nhau
(Trích “Trở về với mẹ tạ thôi”- Đồng Đức Bốn) Câu 1 (7,0 điểm) Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chủ yếu của đoạn thơ
Câu 4 (1.5 điểm) Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong
câu thơ “Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng”
Câu 5 (2,0 điểm) Cảm nhận của em về hình ảnh người mẹ trong đoạn thơ trên
(Trình bày bằng đoạn văn từ 5 đến 7 dòng)
PHẦN II: TẬP LÀM VĂN (14,0 điểm)
Trang 9Một lúc sau, quả đúng có một chú tiểu trèo tường vào Đặt chân xuống, chú tiểu kinh ngạc khi phát hiện ra dưới đó không phải là chiếc ghế mà là vai thầy mình, vì quá hoảng sợ nên không nói được gì, đứng im chờ nhận được những lời trách cứ và
cả hình phạt nặng nề Không ngờ vị thiền sư lại chỉ ôn tồn nói: "Đêm khuya sương lạnh, con mau về thay áo đi” Suốt cuộc đời chú tiểu không bao giờ quên được bài học từ buổi tối hôm đó
Bài học từ câu chuyện trên gợi cho em những suy nghĩ gì?
Câu 2 (8,0 điểm)
Nhận xét về Truyện Kiều (Nguyễn Du) có ý kiến cho rằng: <<…Sự thành côn vĩ
đại nhất của tác phẩm vẫn là tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện một cách thiết tha, mênh mông đến não lòng trong tác phẩm.>>
Bằng hiểu biết của mình về Truyện Kiều, đặc biệt là những đoạn trích đã học trong
chương trình Ngữ văn lớp 9, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
Trang 13PHÒNG GD&ĐT TAM DƯƠNG KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 CẤP HUYỆN
NĂM HỌC: 2020 - 2021
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian: 150 phút, không kể thời gian giao đề
(Đề thi này gồm 01 trang)
Câu 1 (4,0 điểm)
Em hãy chỉ ra và phân tích hiệu quả của các phép tu từ trong đoạn thơ sau:
Nắng trong mắt những ngày thơ bé
Cũng xanh mơn như thể lá trầu
Bà bổ cau thành tám chiếc thuyền cau Chờ sớm chiều tóm tém
(Trích Thời nắng xanh – Trương Nam Hương, Tạp chí
Văn nghệ Quân đội, số ra ngày 4-12-2014)
Câu 2 (6,0 điểm)
Câu chuyện của hai hạt mầm
Có hai hạt mầm nằm cạnh nhau trên một mảnh đất màu mỡ Hạt mầm thứ nhất nói: Tôi muốn lớn lên thật nhanh Tôi muốn bén rễ sâu xuống lòng đất và đâm chồi nảy lộc xuyên qua lớp đất cứng phía trên
Tôi muốn nở ra những cánh hoa dịu dàng như dấu hiệu chào đón mùa xuân Tôi muốn cảm nhận sự ấm áp của ánh mặt trời và thưởng thức những giọt sương mai đọng trên cành lá
Và rồi hạt mầm mọc lên
Hạt mầm thứ hai bảo:
- Tôi sợ lắm Nếu bén những nhánh rễ vào lòng đất sâu bên dưới, tôi không biết sẽ gặp phải điều gì ở nơi tối tăm đó Và giả như những chồi non của tôi có mọc ra, đám côn trùng sẽ kéo đến và nuốt ngay lấy chúng Một ngày nào đó, nếu những bông hoa của tôi có thể nở ra được thì bọn trẻ con cũng sẽ vặt lấy mà đùa nghịch thôi Không, tốt hơn hết là tôi nên nằm ở đây cho đến khi cảm thấy thật an toàn đã
Và rồi hạt mầm nằm im và chờ đợi
Một ngày nọ, một chú gà đi loanh quanh trong vườn tìm thức ăn, thấy hạt mầm nằm lạc lõng trên mặt đất bèn mổ ngay lập tức
(Nguồn: Hạt giống tâm hồn - Từ những điều bình dị -
First News và NXB Tổng hợp TPHCM phối hợp ấn hành)
Suy nghĩ của em về vấn đề đặt ra trong câu chuyện trên?
Câu 3 (10 điểm)
Nhận định về thơ có ý kiến cho rằng:
“Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”
(Vôn - te)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng việc cảm nhận một tác phẩm hoặc một đoạn
trích thơ ca tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn 9, hãy làm sáng tỏ
- HẾT -
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
Họ tên học sinh:……… ……… , Số báo danh:…………, Phòng thi:…
ĐỀ CHÍNH THỨC
Trang 14PHÒNG GD&ĐT TAM DƯƠNG KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 CẤP HUYỆN
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN
(Gồm 04 trang)
A YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo cần nắm được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm Vận dụng linh hoạt hướng dẫn chấm, sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí, khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêu cầu cơ bản của
đề, diễn đạt tốt vẫn cho điểm tối đa
- Điểm bài thi làm tròn đến 0,25 điểm
B YÊU CẦU CỤ THỂ
Câu 1 (4,0 điểm)
Về hình thức: Học sinh có thể trình bày theo ý hoặc thành một đoạn văn, bài
văn ngắn Chữ viết sạch đẹp, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp
Về nội dung:
- Chỉ ra được các biện pháp tu từ:
+ Biện pháp tu từ so sánh: “ Nắng – như thể lá trầu”
+ Biện pháp tu từ ẩn dụ/ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: “ Nắng – xanh mơn”
- Tác dụng:
+ Biện pháp tu từ so sánh và ẩn dụ đã làm cho câu thơ sinh động, hấp dẫn, gợi
cảm, tạo nhịp điệu câu thơ uyển chuyển
+ Giúp người đọc, người nghe cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp ký ức tuổi thơ trong
tâm hồn mỗi con người: Về ánh nắng, về hình ảnh lá trầu, về người bà kính
yêu để mỗi chúng ta trân trọng hơn kỷ niệm tuổi thơ
Học sinh có thể bày tỏ những suy nghĩ khác nhau, dưới đây là các gợi ý:
Trang 15a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận 0,5
b Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác
lập luận; kết hợp tốt các lí lẽ, dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành
động:
1 Giới thiệu câu chuyện và quan niệm sống tích cực được gợi ra: Sống phải có
ước mơ cao đẹp, dám đương đầu với những khó khăn thử thách để thực hiện
ước mơ
0,5
- Tóm tắt thật ngắn gọn câu chuyện: Hạt mầm thứ nhất muốn lớn lên, bén rễ,
đâm chồi nảy lộc, nở hoa dịu dàng nên đã mọc lên Hạt mầm thứ hai sợ đất sâu
tối tăm, sợ chồi non bị côn trùng nuốt, sợ trẻ con vặt hoa nên nằm im, chờ đợi,
kết cục bị gà mổ tức khắc
- Mượn câu chuyện hai hạt mầm, tác giả đã nêu lên và khẳng định một quan
niệm nhân sinh đúng đắn, tích cực: Con người sống phải có ước mơ (mong
muốn những điều tốt đẹp trong tương lai), dám đối đầu với khó khăn để biến
ước mơ thành hiện thực và tỏa sáng Sống không có ước mơ, hèn nhát, sợ hãi,
thụ động chỉ nhận được sự thất bại, thậm chí bị hủy diệt
- Cuộc sống rất đa dạng và phong phú: Có cơ hội cho con người lựa chọn
nhưng cũng lắm thử thách gian nan Hành trình sống của con người là không
ngừng vươn lên để sáng tạo, in dấu ấn trong cuộc đời Khó khăn không hoàn
toàn là trở lực mà chính là động lực thôi thúc hành động, đạt tới thành công
- Ước mơ tạo nên bản lĩnh, là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn giúp con người
vượt qua khó khăn “xuyên qua đá cứng” để sống và tận hưởng hương vị, vẻ
đẹp của cuộc đời; là động lực thôi thúc con người tìm tòi, khám phá, đóng góp
sức mình làm cho cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn
- Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người có ước mơ, khát vọng và nỗ
lực vượt khó, chinh phục mọi thử thách để sinh tồn và phát triển
- Sợ hãi trước cuộc sống, không dám làm bất cứ điều gì, chỉ biết thu mình
trong vỏ bọc hèn nhát, thụ động chờ đợi con người sẽ trở nên yếu hèn Cuộc
sống không ước mơ, không dám đương đầu với thực tế là cuộc sống vô vị,
nhàm chán, sống thừa, sống vô ích, con người sẽ chỉ nhận được thất bại, thậm
chí có thể tan biến trong cuộc đời
(Trong quá trình lí giải cần chọn dẫn chứng minh họa)
- Bên cạnh những người có ước mơ, không ngừng vươn lên để sáng tạo, cũng
còn không ít người sợ hãi, né tránh gian khổ, khó khăn Bên cạnh những ước
mơ chính đáng, phù hợp với mục tiêu cao đẹp của cộng đồng cũng còn có ước
mơ vụn vặt, tầm thường, vị kỉ Biểu dương những người có ước mơ, có nghị
lực vươn lên Phê phán những người sống không có ước mơ, thụ động, ngại
Trang 16khó ngại khổ, không có ý chí, nghị lực
- Là một học sinh mỗi chúng ta phải luôn có ước mơ, nghị lực vượt qua những
khó khăn; không ngừng học tập, rèn luyện để thực hiện ước mơ
Câu 3 (10 điểm)
a Về kĩ năng:
- Biết cách làm bài văn nghị luận văn học, bố cục rõ ràng, vận dụng tốt các thao tác lập luận
- Biết cách phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận
- Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
b Về kiến thức:
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
b Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác
lập luận; kết hợp tốt các lí lẽ, dẫn chứng; đánh giá khái quát vấn đề nghị
luận:
- Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn: Thơ ca là nơi kết tinh những giai điệu cảm
xúc của tâm hồn nhà thơ
- Những tâm hồn cao cả, đa cảm luôn mang lại cho thơ những âm điệu phong
phú, mới mẻ có chiều sâu làm nên sức hấp dẫn cho thơ
=> Nhận định đã khẳng định vai trò then chốt của cảm xúc và nhất là một
tâm hồn nhạy cảm, một tấm lòng sâu nặng với đời sống thể hiện trong thơ
a Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn
- Thơ ra đời từ những xúc cảm thẩm mĩ phong phú, mãnh liệt của người làm
thơ trước cái đẹp muôn màu, trước muôn vàn trạng thái, cảnh ngộ gợi trăn
trở, suy tư từ cuộc sống
- Ngôn ngữ thơ đã giúp những cung bậc cảm xúc ấy ngân lên trên trang thơ
thành những giai điệu phong phú, cuốn hút và chinh phục lòng người mang
theo sức sống tâm hồn của mỗi nhà thơ
b Vẻ đẹp của những tâm hồn cao cả, đa cảm làm nên sức sống cho thơ
Trang 17- Tâm hồn nhà thơ chân chính luôn nhạy cảm của trước mọi vẻ đẹp của đời
sống sẽ dẫn lối người đọc đến xứ sở của những đắm say và thái độ nâng niu
cái đẹp
- Người nghệ sĩ ấy cũng luôn trĩu nặng suy tư trước nỗi đau và khát vọng của
con người, trước vận mệnh dân tộc sẽ mang đến cho thơ không chỉ xúc cảm
tha thiết mà còn cả một chiều sâu tư tưởng thấm thía thanh lọc con người
- Song, để sức lay động của câu thơ được thực sự chắp cánh bay cao cũng rất
cần đến tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ
- Học sinh chọn một bài thơ hoặc một đoạn trích thích hợp; Cảm nhận, bình
luận sâu sắc có định hướng làm nổi bật vấn đề Cụ thể là:
+ Vẻ đẹp của bài thơ đến từ sự đa cảm của tâm hồn thi nhân trong cội nguồn
cảm hứng sáng tác hướng đến mọi sắc thái của đời sống; đến từ nội dung, tư
tưởng sâu sắc xuất phát từ một tâm hồn cao cả nặng lòng với đất nước, nhân
dân, với số phận con người
+ Vẻ đẹp độc đáo đến từ những sáng tạo trong hình thức nghệ thuật tạo
thành một chỉnh thể, vươn tới sự hoàn mĩ; mang đậm dấu ấn riêng đặc sắc của
tác giả …
- Khẳng định lại ý kiến chính xác
- Với người sáng tác cần chú ý tới tính thẩm mĩ, vẻ đẹp phong phú, độc đáo
của thơ Muốn vậy nhà thơ cần có một tâm hồn đẹp, tinh tế và tài hoa và có
tầm tư tưởng sâu sắc trước cuộc đời
- Với người đọc: Đây là một tiêu chí quan trọng gợi ý cho chúng ta cảm nhận
và đánh giá thơ ca…
- HẾT -
Trang 18UBND HUYỆN THỦY NGUYÊN KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI HUYỆN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẤP THCS NĂM HỌC 2020-2021
Câu 1 (1,0 điểm): Điểm gặp gỡ của hai câu thơ sau:
“Đầu súng trăng treo.”
(Đồng chí - Chính Hữu)
“Vầng trăng thành tri kỷ”
(Ánh trăng - Nguyễn Duy)
Câu 2 (1,0 điểm): Đọc phần trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Nếp sống giản dị và thanh đạm của Bác Hồ, cũng như các vị danh nho xưa, hoàn toàn không phải là một cách tự thần thánh hóa, tự làm cho khác đời, hơn đời, mà đây là lối sống thanh cao, một cách di dưỡng tinh thần, một quan niệm thẩm mĩ về cuộc sống, có khả năng đem lại hạnh phúc thanh cao cho tâm hồn
và thể xác.”
(Phong cách Hồ Chí Minh - Lê Anh Trà)
a Em hiểu thế nào là “di dưỡng tinh thần”?
b Từ tinh thần của phần trích trên, hãy trình bày những điều em học tập được từ Chủ tịch Hồ Chí Minh để hình thành phong cách sống cho mình
PHẦN II LÀM VĂN (8,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm): Trình bày suy nghĩ của em về vấn đề được gợi ra từ ý kiến dưới
đây của nhà văn Nguyễn Khải:
“Ở đời này, không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới Điều cốt yếu
là phải có sức mạnh để vượt qua những ranh giới ấy.”
Câu 2 (5,0 điểm): Nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói:
“Người đọc thơ muốn rằng thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo, càng hay.”
Bằng hiểu biết của em, hãy làm rõ ý kiến trên
-HẾT -
(Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Họ và tên thí sinh:……… Số báo danh:……… Giám thị số 1:……… Giám thị số 2:……… ……
Trang 19UBND HUYỆN THỦY NGUYÊN HƯỚNG DẪN CHẤM
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP THCS
NĂM HỌC 2020 - 2021 MÔN: NGỮ VĂN 9
- Học sinh trình bày dưới dạng một đoạn văn ngắn hoàn chỉnh
- Hành văn trôi chảy, không mắc các lỗi về văn phạm
* Nội dung:
- Hai câu thơ đều có hình ảnh của trăng
- Trăng trong hai câu thơ đều là hình ảnh thiên nhiên, gần gũi thân
thuộc với người lính trong cuộc đời quân ngũ
- Hai bài thơ sáng tác ở những thời điểm khác nhau nhưng sự gắn bó
giữa trăng với người đều trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ Với
người chiến sĩ, trăng là người bạn tri kỉ, tri âm để gửi gắm tâm trạng và
- Phần b: Học sinh trình bày dưới dạng một đoạn văn ngắn hoàn chỉnh
- Hành văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, không mắc các lỗi về văn phạm
* Nội dung:
a Giải thích: di dưỡng tinh thần là quá trình nuôi dưỡng, bồi đắp cho
tâm hồn, tinh thần được thanh cao, vui khỏe, hạnh phúc
b Học sinh cần trình bày các ý sau:
- Tích cực chủ động trong việc tiếp thu tri thức văn hóa nhân loại, đặc
biệt là việc học ngoại ngữ, công nghệ thông tin…
- Cần có lối sống giản dị, lành mạnh phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh của gia đình, bản thân
- Tiếp thu cái mới, cái hiện đại nhưng phải giữ được bản sắc văn hóa
dân tộc
- Không quá coi trọng vật chất, luôn có ý thức bồi đắp tâm hồn, giữ cho
đời sống tinh thần được cân bằng
- Khẳng định ý nghĩa tốt đẹp của việc học tập phong cách Hồ Chí Minh
đối với các bạn trẻ hiện nay
0,25
0,25
0,5
PHẦN II LÀM VĂN (8,0 điểm)
1 Hình thức:
- Học sinh trình bày dưới dạng một bài văn ngắn hoàn chỉnh
- Hành văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục, không
mắc các lỗi về văn phạm
0,5
Trang 20Câu 1
(3đ)
2 Nội dung:
a Giải thích:
- Con đường cùng: là hoàn cảnh bế tắc, không có lối thoát
- Ranh giới: là những khó khăn, trở ngại
- Sức mạnh: là ý chí, nghị lực và niềm tin vào cuộc sống của con người
-> Câu nói của nhà văn Nguyễn Khải đã khẳng định, đề cao vai trò của
ý chí nghị lực giúp con người vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống
b Chứng minh, bàn luận:
- Trong cuộc sống con người thường gặp nhiều khó khăn, trở ngại thậm
chí là thất bại
- Không có hoàn cảnh nào là bế tắc, tuyệt vọng, không lối thoát nếu con
người có ý chí, nghị lực Ý chí, nghị lực là một trong những nhân tố
quan trọng nhất giúp mỗi người vươn tới thành công (lấy dẫn chứng
thực tế)
- Những khó khăn thử thách là cơ hội để con người nhận ra ý chí, nghị
lực của mình
- Những người có ý chí, nghị lực vượt lên chính mình sẽ được mọi
người yêu quý, khâm phục và làm theo
- Phê phán những người yếu đuối, dễ bị gục ngã trước thử thách của
hoàn cảnh
c Liên hệ bản thân:
- Luôn có niềm tin vào cuộc sống, coi những thử thách, khó khăn của
hoàn cảnh là một phần tất yếu của cuộc sống
- Thường xuyên rèn luyện ý chí, nghị lực, tinh thần vượt khó vươn lên
- Trau dồi tri thức, hình thành các kĩ năng sống cần thiết để thích ứng
với sự thay đổi của hoàn cảnh
- Đúng kiểu bài nghị luận văn học
- Đảm bảo bố cục đủ ba phần mở bài, thân bài, kết bài
- Hệ thống luận điểm sáng rõ, dẫn chứng hợp lí, lập luận chặt chẽ, giàu
sức thuyết phục
- Lời văn trong sáng, giàu cảm xúc
- Trình bày sạch đẹp, không mắc các lỗi về văn phạm
mang cái đẹp của đời sống con người
- Nội dung của thơ ca phải thể hiện “một tâm hồn, một trí tuệ” tức là
thơ ca phải thể hiện được tư tưởng, tình cảm của thi nhân và truyền tải
tư tưởng, tình cảm đó đến người đọc Thơ ca chính là tiếng nói của mỗi
0,5
3