1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tu từ cú pháp trong tiểu thuyết hồ anh thái

122 19 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 780,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ chổ muốn có một sự tổng hợp đầy đủ và cụ thể về những đặc điểm dùng câu của Hồ Anh Thái, đặc biệt là khía cạnh tu từ cú pháp; đồng thời muốn tìm hiểu, xác nhận sự liên đới,

Trang 1

LÊ CẨM PHƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM TU TỪ CÚ PHÁP

TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Tất Thắng

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Cẩm Phương

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Lịch sử vấn đề 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục của luận văn 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHONG CÁCH HỌC VÀ CÚ PHÁP 9

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản của Phong cách học 9

1.1.2 Phương tiện tu từ cú pháp và biện pháp tu từ cú pháp 11

1.2 TÁC GIẢ HỒ ANH THÁI 25

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 25

1.2.2 Đặc điểm tiểu thuyết Hồ Anh Thái 27

1.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Anh Thái 30

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI - THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI 32 2.1 PHƯƠNG TIỆN TU TỪ CÚ PHÁP TRONG TIỂU THUYẾT 32

HỒ ANH THÁI 32

2.1.1 Thống kê, phân loại 32

2.1.2 Nhận xét, lý giải 34

2.2 BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP TRONG TIỂU THUYẾT 40

HỒ ANH THÁI 40

2.2.1 Thống kê, phân loại 40

Trang 5

3.1 THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT 55

3.1.1 Thể hiện chân dung nhân vật 55

3.1.2 Thể hiện tâm lý nhân vật 60

3.2 THỂ HIỆN BỨC TRANH HIỆN THỰC 74

3.2.1 Hiện thực ám ảnh, huyền hoặc 74

3.2.2 Hiện thực biến động, xô bồ 79

3.3 THỂ HIỆN PHONG CÁCH TÁC GIẢ 89

3.3.1 Phong cách biến hóa đa giọng 89

3.3.2 Phong cách khẩu ngữ 98

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 6

CÁC KÍ HIỆU:

(/) Phép tỉnh lược

CÁC CHỮ VIẾT TẮT:

BPTTCP Biện pháp tu từ cú pháp HTTTCP Hiện tượng tu từ cú phápPTTTCP Phương tiện tu từ cú pháp

Trang 7

2.2 Thống kể số lượng và tỉ lệ câu có sử dụng biện pháp tu từ cú

pháp trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Câu có chức năng thông báo, trao đổi thông tin giữa người với người trong quá trình giao tiếp Những cấu trúc câu thông thường đã tự mình giúp người sử dụng biểu đạt hiệu quả những nội dung cần truyền tải Tuy nhiên, nhiều khi những kết cấu ấy chưa đủ sức diễn tả hết mọi biến đổi của nội dung miêu tả, nội dung tình thái và ý tưởng của người sử dụng trong các ngữ huống nhất định (nhất là trong ngôn ngữ nghệ thuật) Bởi vậy, ngoài những cách kết hợp cú pháp thường có, người ta còn sử dụng những biện pháp kết hợp bất thường khác - những kiểu mà con người có thể thông qua nó biểu thị tốt nhất những diễn biến tư tưởng, tình cảm, thể hiện hiệu quả ý đồ người viết Chúng được gọi là những hình thức tu từ cú pháp trong các văn bản nghệ thuật Đối với nghệ sĩ ngôn từ, hình thức biểu đạt này là một trong những công cụ đắc lực, phục vụ cho việc tạo nên giá trị của tác phẩm Từ lối tư duy, dụng ý nghệ thuật của mình, người ta khéo léo sử dụng linh hoạt những hình thức tu từ ấy,

và nhiều khi nó trở thành một đặc điểm nổi bật làm lộ ra phong cách ngôn ngữ của người nghệ sĩ Tu từ cú pháp độc đáo, có dấu ấn thể hiện được cái tài trong cách dùng câu của người viết Nó không đơn thuần là những hình thức diễn đạt cầu kì, chải chuốt, nó đôi khi là sự trúc trắc, thô nhám có dụng ý, là cách dùng câu hợp lí, chính xác, phục vụ đắc lực nhất cho việc trao đổi, truyền đạt thông điệp, thể hiện tư tưởng

Trong bối cảnh hiện tại, khi mà tiếng Việt đang có nhiều sự nhiễu động

từ nội tại cũng như tác động bên ngoài, việc dùng câu, viết văn sao cho chuẩn xác, có mục đích, định hướng là vấn đề luôn được quan tâm, thậm chí không khỏi ám ảnh với nhiều người, cả giới nghiên cứu ngôn ngữ lẫn người sử dụng phổ thông

Trang 9

Từ khi nổi lên như là một hiện tượng lạ trong văn đàn Việt Nam, tác giả

Hồ Anh Thái cùng các tác phẩm của ông đã thường xuyên được chọn làm đối tượng nghiên cứu trong rất nhiều công trình khoa học xã hội Tuy nhiên, với một cây bút được đánh giá có sức viết mạnh, dồi dào, văn chương nhiều biến hóa, đặc biệt cách xây dựng một tác phẩm khá công phu và luôn có sự tìm tòi đổi mới thì dường như địa hạt văn chương Hồ Anh Thái vẫn còn có nhiều vấn

đề bỏ ngỏ

Trong quá trình tiếp xúc với những tác phẩm của ông (chủ yếu là tiểu thuyết) chúng tôi nhận thấy nhiều điều khá lí thú ở cách viết văn và câu cú của Hồ Anh Thái Văn ông nổi lên với bản sắc riêng biệt, mang dấu ấn đậm nét của sự biến đổi trong đời sống hiện đại Câu văn mang hơi thở xã hội, xuất hiện khá dày các hiện tượng tu từ cú pháp, những dạng câu cú không giống ai, được sử dụng với nhiều ẩn ý nghệ thuật So với văn của Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài hay bất kì nghệ sĩ ngôn từ nào khác, văn chương Hồ Anh Thái bao giờ cũng có hình vóc riêng biệt, độc đáo, không trộn lẫn

Xuất phát từ chổ muốn có một sự tổng hợp đầy đủ và cụ thể về những đặc điểm dùng câu của Hồ Anh Thái, đặc biệt là khía cạnh tu từ cú pháp; đồng thời muốn tìm hiểu, xác nhận sự liên đới, tác động của chúng đến phong cách văn chương của tác giả, chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài

“Đặc điểm tu từ cú pháp trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái”

Chọn nghiên cứu đề tài này, bản thân người viết cũng muốn tích lũy thêm những kiến thức về câu, cơ bản nắm vững lý thuyết tu từ cú pháp tiếng Việt, nâng cao kĩ năng phân tích, cảm thụ nội dung nghệ thuật văn bản từ phương diện cấu trúc Qua đó, rèn luyện thêm kĩ năng sử dụng tiếng Việt khi tạo lập văn bản; phục vụ tốt cho công tác giảng dạy môn Ngữ văn nói chung

và phần ngữ pháp tiếng Việt nói riêng trong nhà trường

Trang 10

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tiến hành với mục đích chính là:

- Có nhận thức chính xác, rõ ràng, cụ thể về vấn đề câu và phân loại câu trong tiếng Việt

- Có những kiến thức cần thiết về đặc điểm tu từ cú pháp trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái

- Phục vụ cho nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề liên quan

- Giúp bản thân người thực hiện có được những kinh nghiệm cần thiết trong việc tạo lập câu, sử dụng vốn từ tiếng Việt chính xác, súc tích, bồi dưỡng thêm khả năng viết lách, sử dụng ngôn từ của chính bản thân một cách hiệu quả

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tiến hành theo quan điểm của ngữ pháp cấu trúc truyền thống, những cơ sở lí luận về Phong cách học Theo đó, đề tài

sẽ đặt ra cho mình nhiệm vụ sau:

- Xác định các khái niệm về phong cách học liên quan đến đề tài

- Xác định cơ sở lí luận thế nào là câu, phân loại các kiểu câu tiếng Việt

về mặt cấu trúc

- Xác định các hình thức tu từ cú pháp thường có trong văn chương nói chung, đi đến tập hợp các hình thức cú pháp tu từ mà Hồ Anh Thái thường sử dụng trong tiểu thuyết của mình

- Tập hợp, đánh giá những giá trị biểu đạt mà tu từ cú pháp đem lại cho tiểu thuyết của nhà văn Hồ Anh Thái Đánh giá sự tác động của nó đến phong cách văn chương của tác giả

Trang 11

3 Lịch sử vấn đề

Tu từ cú pháp là một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu Phong cách học Hầu hết các giáo trình, sách tham khảo về lĩnh vực này đều đề cập đến nó với một dung lượng đáng kể Ở đó, tu từ cú pháp được xem xét là một bộ phận của các phương tiện và biện pháp tu từ phổ biến trong văn chương Các tác giả đã tiến hành định nghĩa thế nào là tu từ cú pháp, phân biệt chúng với các phạm trù tu từ khác (tu từ ngữ nghĩa, từ vựng, ngữ âm, văn bản) Các tác giả cũng tiến hành phân loại, khái quát đặc điểm và giá trị tu từ ở từng phương tiện cũng như biện pháp tu từ cú pháp riêng biệt Có thể kể đến một

số tài liệu như: “Phong cách học tiếng Việt” của Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2012), NXB Giáo dục Việt Nam, “99 Phương tiện và biện pháp tu

từ tiếng Việt” của Đinh Trọng Lạc (2005), Bài giảng “Phong cách học tiếng Việt” - Bùi Trọng Ngoãn, ĐHSP Đà Nẵng v.v…

Đây là những nền tảng lí luận quan trọng, giúp chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Tuy vậy, cách phân loại, tập hợp những dấu hiệu hình thức của tu từ cú pháp ở các tác giả còn tỏ ra chưa nhất quán, thậm chí có nhiều trái ngược, điều này là một trở ngại cho việc tiếp nhận cơ sở lí luận ban đầu của người học và người nghiên cứu Nó cũng gây khó khăn khi tiến hành tập hợp, thống kê, phân loại các nhóm phương tiện và biện pháp tu từ cụ thể trong phạm vi khảo sát

Nghiên cứu tu từ cú pháp trong tác phẩm của một nhà văn không phải là một đề tài mới Từ lâu nó đã được xem xét và khai thác ở nhiều tác giả có tên tuổi, có những biểu hiện nổi bật trong phong cách tu từ cú pháp Nguyễn Tuân

là một điển hình Tuy nhiên, do tính áp dụng cao, tính đơn nhất về tác giả nên

đề tài này vẫn luôn tiềm ẩn những mảng trống Trong đó có mảng nghiên cứu

về tiểu thuyết của Hồ Anh Thái

Trang 12

Đánh giá về hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái xưa nay vốn có rất nhiều công trình, bài viết của nhiều tác giả Ví dụ, trên phương diện tổng

quan, Hoài Nam, trong bài “Hồ Anh Thái người lúc nào cũng đang viết” đã

chia các tác phẩm (thuộc tất cả các thể loại) của nhà văn này thành 3 giai đoạn: giai đoạn tiền Ấn Độ, giai đoạn Ấn Độ và giai đoạn hậu Ấn Độ Trong

đó, có nhận xét: “Điểm qua ba giai đoạn sáng tác nói trên của Hồ Anh Thái,

dễ thấy rằng anh là người ngọ nguậy không yên, không tự bằng lòng với sự ổn định của cái mà người ta vẫn quen gọi là phong cách” [45] Nói về tính cấu trúc trong ngôn ngữ văn chương Hồ Anh Thái, Nguyễn Đăng Điệp viết trong

“Hồ Anh Thái người mê chơi cấu trúc”: “cấu trúc ngôn ngữ của Hồ Anh Thái

không bằng phẳng mà lổn nhổn một cách cố ý Ðiều này khiến cho hình ảnh đời sống trong tác phẩm của anh gần gũi với hơi thở của đời” [41] Tác giả còn khẳng định: “Hồ Anh Thái đã lao động cật lực trên từng con chữ như một nhà văn chuyên nghiệp, và với một vốn văn hóa dày dặn, anh không rơi vào tình trạng tự thỏa mãn mà luôn tìm cách bứt phá trên cơ sở kiến tạo những

kiến trúc mới mẻ, táo bạo” [41] Anh Thu ở bài “Nhà văn Hồ Anh Thái, sáng tạo bứt phá trên từng con chữ” cũng có đánh giá: “cùng với những cây bút

khác như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ…, Hồ Anh Thái đã góp phần tạo nên một động hình ngôn ngữ mới và giọng điệu văn xuôi khác hẳn với văn xuôi 1945 – 1975” [49]

Ngoài ra, hướng đến thể loại tiểu thuyết với các tác phẩm cụ thể còn có

một số bài viết như: “Từ tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, suy nghĩ

về một hiện tượng phê bình” (Phạm Xuân Thạch), “Một góc nhỏ văn chương

Hồ Anh Thái” (Diệu Hường), “Một chiêm nghiệm cõi người” (Trần Thị Hải Vân), “Chất hài hước nghịch dị trong Mười lẻ một đêm” (Hoài Nam)…vv

Tuy nhiên hầu hết đây mới chỉ là những bài nghiên cứu mang tính chất nhỏ lẻ, nội dung hướng vào khai thác tính lý luận văn học trong tiểu thuyết

Trang 13

của nhà văn hoặc những đánh giá sơ qua về vài đặc điểm điển hình ở một tác phẩm nhất định

Bên cạnh đó, mảng tiểu thuyết cũng là đối tượng nghiên cứu thường xuyên trong các công trình luận văn có tính quy mô và hệ thống lớn của các tác giả chuyên ngành Văn học Việt Nam Hướng tiếp cận tác phẩm vẫn là cái nhìn của lý luận văn học, sự tiếp cận về mặt ngôn ngữ học hầu như chưa có

Có thể kể đến một số công trình Luận văn Thạc sĩ như:

- Hoàng Anh Tú (2011), “Ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái”, Đại học Đà Nẵng

- Trà Thị Phương Thảo (2011), “Mô típ tội ác và trừng phạt trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái”, Đại học Đà Nẵng

- Mai Thanh Hiền (2013), “Phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái”, Đại học Đà Nẵng

- Lê Thị Kim Dung (2013), “Hình tượng nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái”, Đại học Đà Nẵng

- Trần Thị Hảo (2012),“Dấu ấn văn hóa Ấn Độ trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái”, Đại học Đà Nẵng

Đa số các bài viết, công trình đều chỉ dừng lại ở việc đánh giá, phê bình một cách chung chung, hoặc thiên về hướng nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật văn chương mang tính lí luận Chưa thấy có công trình nào xem xét hiện tượng tu từ cú pháp - một dấu hiệu hình thức của ngôn ngữ - như một đối tượng nghiên cứu khoa học độc lập Tuy vậy, đây chính là những gợi ý cần thiết, cung cấp những kiến thức nhất định cho chúng tôi khi tìm hiểu về nhà văn Hồ Anh Thái và các tác phẩm của ông Chúng có tính chất gợi mở, định hướng cho người viết khi tiến hành nghiên cứu đề tài

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: các phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp được sử dụng phổ biến trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái

- Phạm vi: phạm vi tiến hành khảo sát giới hạn trong các tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết của nhà văn Hồ Anh Thái Cụ thể có 9 cuốn sau:

+ “Người và xe chạy dưới ánh trăng” (1987)

+ “Người đàn bà trên đảo” (1988)

+ “Trong sương hồng hiện ra” (1990)

+ “Cõi người rung chuông tận thế” (2002)

+ “Mười lẻ một đêm” (2006)

+ “Đức Phật, nàng Savitri và tôi” (2009)

+ “SBC là săn bắt chuột” (2011)

+ “Dấu về gió xóa” (2012)

+ “Những đứa con rải rác trên đường” (2014)

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát: dựa trên hệ thống tu từ cú pháp đã được các nhà nghiên cứu xác lập trong văn chương, từ đó tìm hiểu tiểu thuyết đã được giới hạn nhằm nhận diện những phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp thường được Hồ Anh Thái sử dụng

- Phương pháp thống kê, phân loại: tập hợp và phân loại tu từ cú pháp theo hai hệ thống là phương tiện và biện pháp, tính số lượng, tần số xuất hiện của các phương tiện và biện pháp ở mỗi tác phẩm

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: vạch ra chi tiết giá trị biểu đạt và tác dụng của tu từ cú pháp thể hiện ở những khía cạnh nào, từ đó rút ra những nhận định khái quát về đặc điểm cơ bản của chúng

- Phương pháp miêu tả: dùng ngôn ngữ để trình bày mạch ngữ điệu, hoặc hình thức bên ngoài của một hình thức tu từ cú pháp nào đó Qua đó, đánh giá

Trang 15

giá trị biểu đạt cũng như các đặc điểm của chúng

- Phương pháp so sánh: so sánh tần số xuất hiện của nhóm biện pháp, phương tiện này với nhóm biện pháp, phương tiện khác nhằm đưa ra những kết luận chung

6 Đóng góp của luận văn

Cung cấp kiến thức cần thiết về hướng tiếp cận tác phẩm từ góc độ tu từ

cú pháp – một khía cạnh trong đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Anh Thái Tạo cơ sở lí luận, thực tiễn cho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến văn chương của ông

Việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần nhận diện những đặc điểm cơ bản, có tính hệ thống và xuyên xuốt của tu từ cú pháp trong chuỗi sáng tác của nhà văn theo từng giai đoạn Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai quan tâm nghiên cứu về ngôn từ, văn chương Hồ Anh Thái

Luận văn cũng đem lại cái nhìn và sự đánh giá khách quan về sự tác động của hiện thực đến phong cách sáng tác của nhà văn Góp phần đánh giá

vị trí, giá trị của tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong tiến trình văn học Việt Nam

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong tiểu thuyết

Hồ Anh Thái - Thống kê và phân loại

Chương 3: Giá trị biểu đạt của phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHONG CÁCH HỌC VÀ CÚ PHÁP

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản của Phong cách học

a Ý nghĩa tu từ

Ý nghĩa tu từ là một trong những khái niệm cơ bản của lý thuyết Phong cách học Ý nghĩa tu từ cũng thường được gọi bằng nhiều cái tên khác: màu sắc tu từ, giá trị tu từ, đặc điểm tu từ, sắc thái tu từ …Vậy, ý nghĩa tu từ là gì? Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Phong cách học, một tín hiệu ngôn ngữ bao giờ cũng gồm hai phần:

+ Phần nội dung cơ sở (hay còn gọi là phần thông tin cơ bản): là phần thông tin ý niệm thuần túy (nghĩa chỉ xuất, bất biến thể ý nghĩa)

+ Phần nội dung bổ sung (còn gọi là thông tin hàm chỉ, biến thể ý nghĩa)

Ý nghĩa tu từ chính là phần nội dung bổ sung của tín hiệu ngôn ngữ Nó

vừa chỉ rõ thái độ đánh giá, tình cảm với đối tượng được nói đến, vừa thể hiện chức năng phong cách của tín hiệu ngôn ngữ Như vậy, ý nghĩa tu từ bao gồm

cả hai khái niệm sắc thái biểu cảm và màu sắc phong cách Đây là các khái niệm mà người sử dụng hay nghiên cứu cần phải phân biệt

“Sắc thái biểu cảm của một đơn vị ngôn ngữ là nội dung biểu hiện bổ sung, chỉ rõ thái độ đánh giá tình cảm với đối tượng được nhận thức và được nói đến trong đơn vị ngôn ngữ.” [21, tr.5] Trong các đơn vị ngôn ngữ, sắc thái biểu cảm có thể có hoặc không (trung hòa)

“Màu sắc phong cách của một đơn vị ngôn ngữ là nội dung biểu hiện bổ sung, chỉ rõ giá trị chức năng của đơn vị ngôn ngữ, gợi cho ta liên tưởng đến phong cách chức năng mà đơn vị ngôn ngữ thường được sử dụng” [21, tr.6]

Trang 17

Ví dụ: các tín hiệu ngôn ngữ ngồi tót, ranh ma, quỷ quyệt, lơ láo, ton hót ngoài chứa đựng thông tin cơ bản, nó còn chứa đựng ý nghĩa hàm chỉ khi

được sử dụng vào trong các trường hợp cụ thể Ở đây là nghĩa về màu sắc tu

từ có sắc thái biểu cảm ác cảm, khinh ghét và mang phong cách khẩu ngữ

b Phương tiện tu từ

Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật - logic), chúng còn có ý nghĩa bổ sung hay còn gọi là ý nghĩa tu từ “Phương tiện tu từ bao giờ cũng nằm trong thế đối lập tu từ học (tiềm tàng trong ý thức của người bản ngữ) với phương tiện tương liên có tính

chất trung hòa của hệ thống ngôn ngữ” [15, tr.11]

Ví dụ: Các tín hiệu ngôn ngữ: nhanh, chậm, chạy, nhảy chỉ đơn thuần

là các tín hiệu mang ý nghĩa cơ bản Trong khi đó, các tín hiệu như: lén, nhếch mép, tròn mắt thì ngoài ý nghĩa cơ bản ra, chúng còn chứa đựng ý

nghĩa tu từ lần lượt là khinh thị, mỉa mai, ngạc nhiên vẻ ngộ nghĩnh

Căn cứ vào các cấp độ ngôn ngữ, các phương tiện tu từ được phân thành: phương tiện tu từ từ vựng, ngữ âm, cú pháp và văn bản

c Biện pháp tu từ

Là “những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ (không kể là trung hòa hay diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gợi hình, gợi cảm, nhấn mạnh, làm nổi bật ) do sự tác động qua lại của các yếu tố trong một ngữ cảnh rộng” [16, tr.61]

Ví dụ: Phép đảo ngữ trong trường hợp sau có tác dụng nhấn mạnh và làm nổi bật cái vẻ lố lăng, trịch thượng của anh chàng Bọ Ngựa:

“Bỗng mấy chú châu chấu ma đang nhảy nhót khoe tài quanh các nàng Cào Cào, vội né dạt sang một bên Rồi trong cửa hang chợt im tiếng ồn Tôi

thấy trịnh trọng tiến vào một anh bọ ngựa.”

(Tô Hoài)

Trang 18

Căn cứ vào các cấp độ ngôn ngữ, các biện pháp tu từ cũng được chia thành: biện pháp tu từ từ vựng, ngữ âm, cú pháp, văn bản

1.1.2 Phương tiện tu từ cú pháp và biện pháp tu từ cú pháp

a Khái niệm cú pháp

Trong ngữ pháp truyền thống, nghiên cứu câu được tiến hành trên ba phương diện: kết học, nghĩa học và dụng học Cú pháp là cách gọi một bình diện nghiên cứu câu – bình diện kết học – bình diện ngữ pháp (tức là nghiên cứu cấu trúc câu, kiểu cấu tạo câu, cách sắp xếp các kí hiệu ngôn ngữ để tạo câu) Xét đến tu từ cú pháp là xét đến những giá trị nghệ thuật, ý nghĩa tu từ được mang lại từ các cách sắp xếp, sử dụng trật kí hiệu trong câu và các kiểu cấu tạo câu

Vậy trong nghiên cứu cú pháp, câu là gì và căn cứ vào cấu tạo ngữ pháp người ta phân loại câu thành những kiểu nào?

Có nhiều cách định nghĩa câu đã được các nhà Việt ngữ học nêu ra Xét thấy tính rõ ràng, tương đối đầy đủ trên bình diện ngữ pháp, chúng tôi chọn định nghĩa của Đỗ Thị Kim Liên: “Câu là đơn vị ngữ pháp dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ và thông báo nhằm diễn đạt một ý nghĩa tương đối trọn vẹn, có cấu tạo ngữ pháp độc lập và có ngữ điệu kết thúc” [18, tr 101] Câu thường được phân loại dựa vào cấu tạo và mục đích nói

Trong đó, câu phân loại theo mục đích nói là hiện tượng nằm trên đường ranh giới của câu xét theo cấu tạo ngữ pháp (liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn) và câu xét ở bình diện ngữ dụng Do tính chất đó, chúng tôi vẫn đưa vào luận văn cách phân loại câu này (ở dạng tóm lược) để góp phần phục vụ cho những nội dung về sau trong đề tài

Trang 19

* Câu phân loại theo mục đích nói có các kiểu câu sau:

Bảng 1.1 Các kiểu câu phân loại theo mục đích nói

1 Câu trần thuật Tôi sống độc lập từ bé

2 Câu hỏi (nghi vấn) Chú mày năm nay bao nhiêu tuổi?

3 Câu cảm thán Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi!

4 Câu cầu khiến Đóng giùm chị cái cửa

Câu phân loại theo mục đích nói có liên quan đến cách thực hiện hành động nói khi sử dụng

Nếu câu thực hiện hành động nói tương đương với chức năng chính của

nó, ta gọi là cách thực hiện trực tiếp Ví dụ: Câu nghi vấn thực hiện hành

động hỏi à Cháu có biết nhà cô Ba ở đâu không?

Nếu câu thực hiện hành động nói không được thực hiện với chức năng chính của loại câu đó, ta gọi là cách thực hiện gián tiếp Đây là nguyên nhân phát sinh các dạng câu hỏi tu từ (hình thức là câu hỏi nhưng không dùng để hỏi) sẽ được đề cập đến ở mục Phương tiện tu từ cú pháp Ví dụ:

“Năm nay hoa đào nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?”

(Vũ Đình Liên)

* Câu phân loại theo cấu tạo

Có nhiều cách phân loại câu theo cấu tạo, tuy nhiên, để rõ ràng, ngắn gọn, đầy đủ, tránh sự phức tạp dài dòng, chúng tôi chọn cách phân loại của Trương Thị Diễm Theo đó, câu gồm hai loại: câu đơn và câu ghép

- Câu đơn: “Là câu chỉ có một nòng cốt câu Nó có thể được tạo thành từ

một cụm C-V hoặc được làm thành từ hai cụm C-V trở lên, nhưng trong đó

Trang 20

chỉ có một cụm C-V là nòng cốt câu, các cụm C-V còn lại bị bao chứa bên trong cụm C-V làm nòng cốt câu” [4, tr 64] Câu đơn gồm 3 kiểu:

+ Câu đơn bình thường: là câu do một kết cấu chủ vị tạo thành

Ví dụ: Cây chuối trổ hoa

+ Câu đơn đặc biệt: là câu được tạo bởi một từ, một cụm chính phụ hoặc

một cụm từ đẳng lập, không chứa cụm từ có quan hệ chủ vị làm nòng cốt

câu Ví dụ: Một bình xịt thuốc mê Một vụ án mạng

+ Câu đơn tỉnh lược: hay còn gọi là câu rút gọn, nó là câu mà trong đó

có hiện tượng tỉnh lược đi một bộ phận nào đó của câu

Ví dụ: Ai là kẻ đốt xe? - Yên Thanh (/)à tỉnh lược vị ngữ (là kẻ đốt xe)

- Câu ghép: “là câu được làm thành từ hai cụm C-V trở lên, mỗi cụm

chủ vị đó tương đương một nòng cốt câu đơn và chúng tiếp xúc với nhau làm thành những vế trong câu ghép Những cụm C-V là vế câu đơn không bị bao chứa bên trong cụm chủ vị khác, chúng ghép lại với nhau để làm thành câu”[4, tr 64]

Câu ghép gồm 4 loại: câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ, câu ghép

qua lại, câu ghép chuỗi

+ Câu ghép đẳng lập: “là câu ghép mà trong đó các vế câu bình đẳng với

nhau về ngữ pháp và liên kết với nhau bằng các quan hệ từ đẳng lập, các quan

hệ từ thường nằm giữa các vế câu”[4, tr.79]

Ví dụ: Chúng tôi có đèn pin và A Dai đã dự phòng mang theo mấy khúc nứa khô làm đuốc

(Hồ Anh Thái) + Câu ghép chính phụ: “là câu ghép mà hai cụm chủ vị làm vế câu có sự

phụ thuộc lẫn nhau, gắn bó với nhau tương đối chặt chẽ bằng các cặp quan hệ

từ chính phụ Giữa hai vế câu có quan hệ chính phụ Và theo trật tự thông thường, vế phụ đứng trước, vế chính đứng sau”[4, tr.79]

Trang 21

Ví dụ: Nhưng hễ có người yêu cái đẹp thì cũng lúc phải có người lồng lộn lên vì cái đẹp

+ Câu ghép qua lại: “là câu ghép không chứa các quan hệ từ chỉ rõ quan

hệ giữa hai vế mà hai vế được ghép lại bằng cặp phó từ hô ứng tạo ra quan hệ

qua lại” [4, tr 80] Ví dụ: Trời càng nóng, ruộng càng nứt nẻ

+ Câu ghép chuỗi: “là câu ghép mà các vế câu nối kết với nhau không

bằng các từ liên kết (phó từ, quan hệ từ, đại từ) Vì không có từ liên kết nên mối quan hệ ngữ pháp giữa các vế câu thường được xác định trong ngữ cảnh, tình huống Việc tách các vế câu của câu ghép chuỗi thành một câu riêng hầu

như không gặp trở ngại gì” [4, tr.80]

Ví dụ: Người lên rừng, kẻ xuống biển

b Phương tiện tu từ cú pháp

Theo Đinh Trọng Lạc: “Phương tiện tu từ cú pháp là những kiểu câu ngoài nội dung thông tin cơ bản ra còn mang phần thông tin bổ sung, có màu

sắc tu từ; được cải biến từ kiểu câu cơ bản có kết cấu C-V” [15, tr.84]

Tuy nhiên theo cách định nghĩa về phương tiện tu từ đã nêu ở phần trước, phương tiện tu từ cú pháp cần được hiểu là không chỉ có các kiểu câu

mà còn có những phương tiện ngôn ngữ tham gia cấu tạo câu mà nhờ chúng, câu văn ngoài ý nghĩa lôgic thì còn có ý nghĩa tu từ Từ nhận định đó cộng với việc tham khảo cách phân loại của nhiều tác giả khác, chúng tôi cho rằng

có các phương tiện tu từ cú pháp sau: câu đặc biệt, câu hỏi tu từ, câu đẳng thức, câu trùng ngôn, câu Danh – là – Danh, kiểu câu CN – gì mà – VN, câu nhắc lại chủ ngữ, tình thái ngữ, giải ngữ, đề ngữ

* Câu đặc biệt: Dạng câu này đã được định nghĩa ở phần phân loại câu

Tùy trường hợp sử dụng mà câu đặc biệt bộc lộ những giá trị tu từ cụ thể Có thể liệt kê một số giá trị tu từ cơ bản như sau:

Trang 22

+ Liệt kê sự vật có tính hàng loạt hoặc dồn dập Ví dụ:

Tưởng tượng Phán đoán Hồi hộp Mong chờ Sốt ruột Lo lắng

+ Miêu tả sự tồn tại như là hiển nhiên của sự vật hoặc sự kiện

Ví dụ: Ngày xưa, ở một khu rừng nọ Có một cái hang rất lớn

+ Đưa chủ đề hoặc thông tin bối cảnh vào văn bản một cách ngắn ngọn,

rõ ràng (Bối cảnh có thể là những biến cố lịch sử hoặc những hiện tượng thiên

nhiên) gắn liền với thời gian Ví dụ: Mùa thu Lá trong vườn bắt đầu rụng

* Câu hỏi tu từ: Là dạng câu có hình thức giống như câu hỏi nhưng

không nhằm mục đích để hỏi, tức là không yêu cầu cần phải có câu trả lời Câu hỏi tu từ là kiểu câu thực hiện hành động nói gián tiếp, có giá trị tu từ nhất định tùy vào tình huống, mục đích sử dụng (khẳng định, phủ định, cầu khiến, bộc lộ cảm xúc ) Ví dụ:

- Anh thích anh có quyền, chú làm gì được anh?à phủ định, thách thức

- “Người xưa có câu: Quạ đi, lại về quê cũ, cáo chết quay đầu về núi Cầm thú còn thế, huống chi là con người?” à khẳng định

(Nguyễn Trãi)

* Câu đẳng thức: là kiểu câu có thể thay thế trật tự theo kiểu “V là C”,

thể hiện sự đánh giá mang tính khẳng định của người nói đối với đối tượng được đề cập Trong đó, tính chất của đối tượng (thể hiện ở vị ngữ) được đưa lên đầu như là một cách để nhấn mạnh tính xác thực của đánh giá đó (tiêu điểm thông tin)

Ví dụ: - Rét nhất là độ tháng chạp

- Hay nói tếu nhất là bạn “Còi” lớp mình

* Câu trùng ngôn: Là câu đơn bình thường, trong đó chủ ngữ và vị ngữ

lặp nhau Câu trùng ngôn có khả năng truyền tải nhiều sắc thái nghĩa tùy vào tình huống Đối với câu trùng ngôn danh từ (chủ - vị do danh từ đảm nhiệm),

sự lặp lại lần hai đã chuyển hóa đối tượng thành khái niệm có tính khẳng định

Trang 23

sự tất yếu, hiển nhiên về bản chất đối tượng Ví dụ: Trẻ con là trẻ con

Với những câu trùng ngôn vị từ, sắc thái nghĩa có khi là sự khẳng định, sự

thách thức, sự nhượng bộ hoặc sự bất cần Ví dụ: Chơi thì chơi

* Câu Danh – là – Danh: Là câu đơn có cấu tạo chủ ngữ là danh từ

hoặc cụm danh từ, vị ngữ cũng là một danh từ hoặc cụm danh từ, hai bộ phần này liên kết với nhau bởi từ là Hữu Quỳnh gọi dạng câu này là câu luận Theo đó, phần vị ngữ có tác dụng nêu lên giá trị vốn là kết quả của một đánh giá, nhận xét mang tính khẳng định đối với đối tượng nêu ở chủ ngữ

Ví dụ: - Sa Pa là thiên đường mùa hè

* Câu nhắc lại chủ ngữ: là câu có chủ ngữ bao gồm danh ngữ và đại từ

hồi chỉ Kết cấu nhắc lại chủ ngữ là một trong những phương tiện nhấn mạnh, khẳng định đối tượng được nói đến tại chủ ngữ Kiểu câu này thường có trong

phong cách khẩu ngữ Ví dụ: - Dũng nó đi chơi chưa về cháu ạ!

* Câu CN - gì mà - VN: Là kiểu câu có tính phủ định, ở đó vị ngữ có tác

dụng bày tỏ sự bất bình, thái độ không đồng tình với những điều xảy ra được cho là trái với quy luật thông thường của sự vật được đề cập ở chủ ngữ

người nghe và với sự tình được phản ánh trong câu” [17, tr.67]

Phương tiện ngôn ngữ biểu thị tình thái ngữ khá đa dạng: một từ, tổ hợp

từ, quán ngữ tình thái, kết cấu chủ - vị

Dựa trên ý nghĩa tình thái mà các tình thái ngữ biểu đạt, tình thái ngữ được phân làm 3 loại cơ bản: tình thái chỉ ý kiến, tình thái chỉ quan hệ, thái

Trang 24

+ Nhận định về điều kiện may/ không may: họa may, chẳng may…

* Tình thái chỉ quan hệ, thái độ, tình cảm:

- Hoài nghi: ngộ nhỡ, hình như, chẳng lẽ, không khéo, e rằng, hay là

- Ngạc nhiên, bất ngờ: hóa ra, té ra

- Chấp nhận miễn cưỡng: vậy, thôi vậy, đành vậy, âu cũng đành

- Lịch sự: cảm phiền, xin lỗi, nói trộm vía, nói trộm bóng

- Buồn vui bất ngờ: ôi, a, ối, trời, lạy trời, trời ơi là trời, than ôi, hỡi ơi

* Tình thái hô đáp (hô ngữ):

- Biểu thức tình thái hô gọi: đại từ xưng hô, danh từ riêng, danh từ

chung + ơi/ạ/thưa/bẩm…

- Biểu thức tình thái đáp lời: vâng, dạ, bẩm…

Tình thái ngữ là một thành phần phụ bổ sung nghĩa tình thái cho câu Theo đó khi được khai thác dưới góc độ phương tiện tu từ cú pháp, tình thái ngữ tỏ ra là một công cụ thể hiện giá trị tu từ hữu hiệu

* Giải ngữ (còn gọi là: chú thích, chú ngữ, đồng vị ngữ)

Đinh Trọng Lạc định nghĩa: “giải ngữ là một trong những thành phần phụ của câu, mở rộng nòng cốt câu, có tính chất tự lập tương đối về mặt ngữ pháp” [15, tr.106]

Trang 25

Ví dụ: Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh

(Vũ Bằng) Giải ngữ có thể đứng giữa chủ ngữ và vị ngữ, đứng sau hoặc trước nòng cốt câu Nó có thể là một từ, cụm từ, câu, hay chuỗi câu Giải ngữ được đánh dấu bằng dấu ngạch ngang, dấu ngoặc đơn, dấu phẩy, dấu hai chấm

Giải ngữ tồn tại trong câu có khả năng tạo những hiệu quả tu từ khác nhau Nó có tác dụng làm sáng tỏ cho phần có liên quan bằng việc giải thích, bình luận, chứng minh, bổ sung, nhấn mạnh, bày tỏ vv, làm cho người đọc hiểu đúng, đầy đủ hơn câu nói, đồng thời nâng cao giá trị tu từ của câu văn Giải ngữ còn có tác dụng tạo ra hai lời tường thuật sóng đôi giữa tác giả/ nhà văn và tác giả /người kể Trong văn chính luận, khoa học, thành phần này

là cụm từ chêm xen (theo tôi, nghĩa là, theo quan điểm của tôi, theo sự hiểu biết của tôi ) có tác dụng nói lên tính chất khiêm tốn của tác giả, giống như

một lời rào đón Không phải lúc nào giải ngữ cũng được xem như một phương tiện tu từ cú pháp Tùy tình huống sử dụng mà chúng ta nhận ra nó có

ý nghĩa tu từ hay chỉ đơn giản là một thành phần phụ có chức năng làm rõ ý cho một bộ phận liên quan trong câu

* Đề ngữ (khởi ngữ, khởi ý)

Là một trong những thành phần phụ mở rộng nòng cốt câu, được dùng

để nêu lên một sự vật, một đối tượng, một nội dung với tư cách là chủ đề của câu Nó thường đứng trước nòng cốt câu, có tác dụng nhấn mạnh cho toàn nòng cốt hoặc cho từng thành phần câu

Ví dụ: - Nhà tôi tôi ở, việc tôi tôi làmà nhấn mạnh cho nòng cốt câu Giữa đề ngữ với phần câu tiếp theo có thể có trợ từ “thì, là” dùng để

nhấn mạnh

Ví dụ: - Hoa thì hoa héo mà cũng đòi thách thế?

Trang 26

Do tác dụng nhấn mạnh và thông báo ngay tiêu điểm thông tin ở vị trí đầu câu nên trong văn chương, đề ngữ cũng là một trong phương tiện tu từ cú pháp được giới sử dụng khai thác khi muốn thể hiện ý đồ nghệ thuật

c Biện pháp tu từ cú pháp

Theo Đinh Trọng Lạc: “Biện pháp tu từ cú pháp là cách phối hợp sử dụng các kiểu câu trong một ngữ cảnh rộng (trong chỉnh thể trên câu, trong đoạn văn và trong văn bản trọn vẹn) nhằm đem lại ý nghĩa biểu cảm và cảm xúc cho những mảnh đoạn của lời nói do chúng cấu tạo nên”[15, tr.183]

Theo chúng tôi, biện pháp tu từ cú pháp không chỉ là cách phối hợp các kiểu câu, nó còn là cách thức sử dụng, sắp xếp trật tự kí hiệu ngôn ngữ khi tạo câu, sao cho câu có giá trị tu từ, nhằm phục vụ mục đích nghệ thuật của người dùng Trên cơ sở đó, cộng với việc tham khảo sự phân loại khá đa dạng của nhiều tác giả (Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Bùi Trọng Ngoãn…),

chúng tôi cho rằng biện pháp tu từ cú pháp gồm những loại sau: phép tỉnh lược, im lặng, phép điệp, tách – chêm xen, đảo ngữ

Phép tỉnh lược là một cách thức tu từ có tác dụng nhấn mạnh lượng thông

tin và tăng cường tính biểu cảm Trong luận văn, chúng tôi kí hiệu là (/)

Ví dụ: Cốc nói năng rất lỗ mãng với thí sinh số 12 trong lúc đang đứng trên sân khấu: - (/) Có muốn thành hoa hậu, á hậu hay là thành thương binh?

(Hồ Anh Thái) Tỉnh lược có những dạng: tỉnh lược danh từ hoặc cụm danh từ, vị từ, từ chỉ cách thức đi với vị từ, tỉnh lược mệnh đề

Trang 27

* Phép im lặng (còn gọi là phép lặng hay ẩn ngữ)

Là phương thức biểu đạt bằng cách bỏ trống để người đọc, người nghe tự hiểu, không cần diễn đạt bằng lời Nó không phải là một sự tỉnh lược của thành phần mà là sự diễn đạt bằng tín hiệu zêrô, là khoảng lặng khi viết thường được thể hiện bằng dấu chấm lửng Phép im lặng có chức năng biểu cảm Ví dụ: Thể hiện phút trầm ngâm miên man trong một cái kết không có

hậu từ câu chuyện của nàng tiên cá, Hồ Anh Thái viết:

“Chỉ còn cách đâm con dao ấy vào tim chàng thì nàng mới trở lại là kiếp tiên cá, nàng sẽ sống thêm ba trăm năm nữa Không Nàng Tiên Cá chọn cách lao mình xuống nước, chấp nhận kết cục bị tan thành bọt biển ”

Phép điệp gồm điệp từ ngữ và điệp (lặp) cú pháp Ví dụ:

- Nhưng rồi ông đau Nhưng rồi ông tiếc

(Hồ Anh Thái) Trong hình thức điệp cú pháp, khi có sự sóng đôi của từng cặp mệnh đề hay từng cặp câu thì gọi là sóng đôi cú pháp Về khía cạnh này, Đinh Trọng Lạc đã tách nó ra thành một diện riêng Thiết nghĩ, xếp chúng lại một nhóm với tên gọi chung là phép điệp như cách chia của Bùi Trọng Ngoãn là hợp lí hơn cả Và ở phương diện tu từ, sóng đôi cú pháp tạo ra những hiệu quả nghệ thuật đặc biệt, đây cũng là biện pháp thường được sử dụng trong văn thơ Ví

dụ: “Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng”

(Nguyễn Khoa Điềm)

Trang 28

Đặt hai câu có cấu trúc giống nhau song song trong thế đối lập làm nổi bật hình tượng mặt trời của con người (em bé) giữa sự to lớn, vĩ đại của mặt trời thiên nhiên Qua đó nhấn mạnh rằng, em bé chính là mặt trời, nguồn ánh sáng, chính là sự sống của mẹ Không gian câu thơ trở nên phong phú, hình tượng trở nên sâu sắc với nhiều tầng ý nghĩa và giàu sức liên tưởng, gợi hình Trong phép lặp cú pháp, hiệu quả tu từ đặc biệt tăng cao khi có sự kết hợp với phép liệt kê

“Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày; không có mặc thì

ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười.”

(Trần Quốc Tuấn)

Kết cấu [Hoàn cảnh + thì + Giải pháp] được lặp lại liên tục tạo thành

một chuỗi các vế câu ghép nhằm liệt kê các hành động Sự phối hợp này có tác dụng nhấn mạnh và khẳng định sự đối đãi chu đáo, đầy tình nghĩa của Trần Quốc Tuấn đối với tướng sĩ trong mọi hoàn cảnh khó khăn

* Phép tách – chêm xen

- Tách: là biện pháp tách các thành phần trong câu ra thành những câu

riêng nhằm mục đích nghệ thuật nhất định hoặc tách ra về mặt cấu trúc và ngữ điệu – nghĩa của một trong các thành phần câu để đem đến cho nó một giá trị

cú pháp và nghĩa theo như mong muốn

Biện pháp tách câu thể hiện ở việc tách bộ phận câu thành câu dưới bậc

và phép biệt lập (khái niệm được Đinh Trọng Lạc trình bày ở cuốn “99 Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”)

· Về phép tách bộ phận câu thành những câu dưới bậc, theo Diệp

Quang Ban, câu dưới bậc thực chất “là một bộ phận của một câu trọn vẹn

được tách ra vì những lí do nghệ thuật Nó không tồn tại một cách độc lập, nó

Trang 29

chỉ có giá trị nghệ thuật và có ý nghĩa hiểu được xét trong mối quan hệ với câu mà từ đó nó được tách” [1, tr 278] Nó thường có giá trị biểu đạt:

+ Diễn tả nhịp suy nghĩ dồn dập của nhân vật Ví dụ:

“Đã có năm nhà nhận bán Tiền họ đã nhận ngay từ bây giờ Nhưng vừa mới lúc này đây, họ đến bảo không bán thóc nữa, mà lại bỏ tiền Mà trả có hai mươi Thế có giết người ta không!”

(Dẫn theo Đinh Trọng Lạc) + Miêu tả những hành động, những suy nghĩ rời rạc của nhân vật Ví dụ:

“Im lặng khá lâu Rồi bà đơn ca hỏi (…)

Im lặng lâu lâu nữa Rồi bà đơn ca lại lên tiếng.”

(Hồ Anh Thái) + Tách trạng ngữ nhằm nhấn mạnh không gian, bối cảnh, tình huống, thời gian…tác động đến nhân vật, gây ra một khoảng lặng nghệ thuật Ví dụ:

“Bốn người lính đều cúi đầu, tóc xõa gối Trong lúc tiếng đờn vẫn khắc khoải vẳng lên những chữ đờn li biệt, bồn chồn.”

(Anh Đức) + Chuyển hóa thông báo một cách tự nhiên và sinh động, có giá trị như một sự đánh dấu các đoạn văn liên đới với nhau, gắn kết các mảnh đoạn văn bản, tạo mảnh, đoạn văn mới Ví dụ:

“Anh càng hết sức để hát, để đàn, và để…không ai nghe

Bởi vì…

Đường càng vắng ngắt Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao su kín mít như bưng, kép nhép chạy uể oải…”

(Nguyễn Công Hoan)

· Về tách thành phần câu theo lối biệt lập: bất kì thành phần nào cũng

có thể được tách ra biệt lập, (nhưng thông thường là phần định ngữ, bổ ngữ), nhằm thể hiện ý nghĩa tu từ nhất định Ví dụ:

Trang 30

“Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau.”

(Nam Cao)

- Chêm xen: là đưa một từ, cụm từ, hoặc một kết cấu chủ vị vào mạch

ngữ lưu của câu.Việc chêm xen này mang tính bất thường nhằm mục đích nghệ thuật Chêm xem gây nên sự biến đổi ngữ điệu, sự gián đoạn hoặc mở

rộng nghĩa cho câu Có thể kể ra một số hình thức chêm xen như:

· Chêm xen tiểu từ “thì”, “là”, “mà” nhằm mục đích nhấn mạnh

“Thì”:

+ Vai trò làm liên từ hai sau liên từ một trong các cặp liên từ (nếu/ hễ/

giá thì (chỉ điều kiện), đã/ có/ khi/ lúc thì (tương ứng về thời gian)

Ví dụ: Hễ thấy nó thì đuổi cổ đi ngay

+ Nối hai yếu tố mà yếu tố sau là kết quả tất yếu của yếu tố trước

Ví dụ: Con vua thì lại làm vua/ Con sãi ở chùa thì quét lá đa

+ Nối giữa hai yếu tố lặp để nhấn mạnh

Ví dụ: Giận thì giận, mà thương thì thương

+ Hoạt động như một giới từ (nối hai từ hoặc hai bộ phận câu có quan hệ

chính phụ) Ví dụ: Tôi nghĩ là mình đã sai ở đâu đó

+ Đặt trước thành phần trạng ngữ của câu

Ví dụ: Là con gái, cần phải có tí nết na, nhu mì

+ Tham gia vào các kết cấu có tính quán ngữ: (đương nhiên là, té ra là,

ít ra là, hóa ra là, vậy là, nhìn chung là, cho nên là )

Trang 31

Ví dụ: Đương nhiên là nó đi đường tắt

“Mà”:

+ Để nối yếu tố phụ định ngữ thuyết minh với danh ngữ trong câu

Ví dụ: Nó thường vẽ trên cả mấy tàu lá chuối mà bố nó chặt

+ Trong một kết cấu cụm động từ, được dùng để nối yếu tố chỉ mục đích

với yếu tố chính (nói cho mà biết, hỏi để mà hay,hát cho mà nghe )

Ví dụ: Chiều nay heo hút rừng sâu/ Mưa nguồn suối lũ biết đâu mà tìm

(Tố Hữu) + Làm một liên từ đơn

Ví dụ: Nước hồ cạn sạch Mà nào tôi có biết trời nắng thế này đâu?

+ Tham gia vào các kết cấu liên từ kép như (không những mà còn,

chẳng cứ mà, do/vì/ tại/ bởi mà, vv ) nhằm mục đích nhấn mạnh

Ví dụ: Tôi mà nói thế thì trời vật chết

+ Trợ từ nhấn mạnh Ví dụ: - Ôi dào, ai mà biết được

+ Đặt trước vị từ, biểu thị ý nghĩa phủ định (kèm ngữ điệu)

Ví dụ: Nó mà đẹp nỗi gì?

² Cả ba tiểu từ “thì”, “là”, “mà” này thường rất hay được dùng trong

phong cách khẩu ngữ Khi khai thác ở ngôn ngữ văn chương, chúng đem lại những giá trị tu từ đáng chú ý, tác động rất lớn đến phong cách ngôn ngữ của người viết

· Chêm xen các từ, cụm từ, cụm chủ vị vào mạch liên tục của câu

Ở một số văn bản, nhất là thơ, tác giả rất hay chêm xen đột ngột một vài

từ, cụm từ, ngữ vào mạch câu đang nối tiếp nhằm tạo tính cách quãng, rời rạc

về ngữ điệu, phục vụ cho ý đồ nhấn mạnh hoặc tạo cảm xúc

Biện pháp chêm xen các từ, cụm từ vào mạch đang liên tục của câu văn

có quan hệ đến phép phân cách mà Đinh Trọng Lạc đề cập tới trong cuốn “99 Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” Theo đó, song song với việc

Trang 32

chêm một đơn vị ngôn ngữ vào chuỗi kí kiệu trong câu là việc cách quãng nó

ra thành nhiều đoạn trong dòng ngữ lưu ấy để tạo hiệu quả nghệ thuật Ví dụ:

“Đây là tiếng, hỡi bạn đời yêu dấu

Của một người bạn nhỏ trước khi đi”

đáp ứng mục đích tu từ của người viết Ví dụ:

“Bần thần hương huệ thơm đêm Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn Chân nhang lấm láp tro tàn

Xăm xăm bóng mẹ trần gian thủa nào.”

(Nguyễn Duy)

Ðã lan tím cả cánh chiều

Trong hồn lặng đã hiu hiu mộng tàn

(Lưu Trọng Lư)

1.2 TÁC GIẢ HỒ ANH THÁI

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

Hồ Anh Thái, sinh ngày 18/10/1960, nguyên quán ở Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An Ông là một trong những nhà văn thời hậu chiến gây được nhiều ấn tượng trên văn đàn đương đại Việt Nam Hồ Anh Thái bắt duyên với viết lách bằng nhiều truyện ngắn, tạp văn in các báo và tạp chí từ

Trang 33

những năm tháng còn là một cậu thanh niên tuổi mười tám Sau khi tốt nghiệp nghành Quan hệ quốc tế Hồ Anh Thái trở thành cán bộ làm việc tại cơ quan ngoại giao của ta Ông có cơ hội sinh sống và làm việc ở nhiều nước, đặc biệt

là tại Ấn Độ và Iran Thời gian 6 năm công tác tại đất Ấn được xem như bước ngoặt cho quá trình thẩm thấu chất Ấn vào văn chương Hồ Anh Thái Nói đến

Hồ Anh Thái, người ta nói đến một nhà văn giỏi ngoại ngữ, một nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu Ấn Độ và giảng viên văn hóa Hiện nay ông là Tiến sĩ ngành Văn hóa phương Đông, công tác tại Bộ Ngoại giao Việt Nam Ông cũng từng là Chủ tịch hội nhà văn Hà Nội (2002), Ủy viên BCH Hội nhà văn Việt Nam (nhiệm kì 2005 - 2010)

Người đọc văn Hồ Anh Thái thường có một đánh giá chung: ông là cây bút có sức viết bền, có tính chuyên nghiệp Qua thống kê, người ta lần lượt chỉ ra số đầu sách xuất bản trong hơn 30 năm gắn bó với nghiệp văn chương của ông Số lượng tương đương Nghĩa là gần như năm nào Hồ Anh Thái cũng viết Và dường như lúc nào ông cũng đang viết Các tác phẩm của Hồ Anh Thái đa dạng về chủ đề, biến hóa trong cách thể hiện, có sự biến đổi theo từng chặng đường

Vào những năm 80 - 90 của TK XX, Hồ Anh Thái nổi lên với giọng văn trẻ trung, tươi mới có chút hóm hỉnh khi viết về đời sống thanh niên, sinh viên với những cuộc phiêu lưu, những khát khao khám phá đời sống Những tác

phẩm tiêu biểu được biết đến là truyện ngắn “Chàng trai ở bến đợi xe” (1985), “Người và xe chạy dưới ánh trăng”(1987), “Người đàn bà trên đảo”(1988), “Trong sương hồng hiện ra”(1990) Cũng trong thời gian này,

Hồ Anh Thái cho ra đời nhiều tác phẩm độc đáo, hài hước mà thâm trầm về

vùng đất Ấn Độ: truyện ngắn “Người đứng một chân (1995)”, truyện vừa

“Tiếng thở dài qua rừng kim tước (1998)”

Trang 34

Từ năm 2000, ông có những tác phẩm được đánh giá cao và gây dư luận

như: tập truyện ngắn“Tự sự 265 ngày (2001)”, “Bốn lối vào nhà cười (2005)”, tiểu thuyết“Cõi người rung chuông tận thế (2002)”,“Mười lẻ một đêm (2006)” Năm 2007, ông trở lại với đề tài Ấn Độ bằng cuốn tiểu thuyết

“Đức Phật, nàng Savitri và tôi” Đây là tác phẩm đầu tiên của văn học Việt

Nam tái hiện chân dung Đức Phật thông qua một cốt truyện hấp dẫn, một văn phong giản dị, một cấu trúc có hiệu quả mở rộng chiều kích không gian và thời gian

Trong những năm tiếp theo, ông tiếp tục công bố đến đông đảo độc giả nhiều truyện ngắn, tiểu luận, tiểu thuyết mới Có thể kể đến như: tập sách

“Namaskar! Xin chào Ấn Độ”(2008), tiểu luận “Hướng nào Hà Nội cũng sông” (2009), tiểu thuyết “SBC là săn bắt chuột”(2011), “Dấu về gió xóa” (2012), tập truyện ngắn “Người bên này trời bên ấy”(2013), “Mảnh vỡ của đàn ông” (2014), gần đây nhất ông là cuốn tiểu thuyết “Những đứa con rải rác trên đường” (2014) gồm 3 truyện dài chắp nối tưởng đứt quãng mà hết

sức liền mạch theo kiểu của Hồ Anh Thái

Tác phẩm của Hồ Anh Thái thường mang tính triết luận, bao quát số phận của người Việt và đất nước thời hiện đại Ông là nhà văn có phát kiến về ngôn ngữ, tạo cho tiếng Việt thêm màu sắc, đa nghĩa và khả năng biểu đạt phong phú Những tác phẩm tiêu biểu của ông vì vậy cũng khó chuyển dịch sang ngôn ngữ khác Sách của ông được phát hành với số lượng lớn và đã được dịch ra hơn 10 ngôn ngữ, trong đó có tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Thụy Điển

1.2.2 Đặc điểm tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Hồ Anh Thái là một trong những cây bút viết tiểu thuyết sung sức Chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa hậu hiện đại và cảm quan tư duy mới, tiểu thuyết Hồ Anh Thái ngay từ đầu đã vượt ra khỏi lối viết anh hùng ca, khuynh hướng sử thi chủ nghĩa để tiến đến một thế giới đầy rẫy sự xô bồ nghịch dị,

Trang 35

những góc khuất lãng quên của đời sống, con người Các tác phẩm của ông chứa đựng nhiều đặc điểm riêng biệt Để tiện cho việc theo dõi, phân tích có tính hệ thống, căn cứ vào chuỗi sáng tác và một số đặc điểm điển hình, chúng tôi chia tiểu thuyết Hồ Anh Thái làm hai giai đoạn chính:

+ Giai đoạn 1: là thời kì ra đời các tiểu thuyết đầu tay với giọng văn sôi nổi trẻ trung, pha chút trầm tư, hoang mang của đời sống thị dân thời đổi mới

Gồm: “Người và xe chạy dưới ánh trăng”(1987),“Người đàn bà trên đảo”(1988), “Trong sương hồng hiện ra”(1990)

+ Giai đoạn 2: giai đoạn bứt phá về phong cách và ngôn ngữ Lối viết hoạt kê, giễu nhại trở thành tông chủ đạo; thế giới hiện thực, nhân vật cực kì

đa dạng, phản ánh bộ mặt biến động, xô bồ của xã hội hiện đại Gồm: “Cõi người rung chuông tận thế” (2002), “Mười lẻ một đêm” (2006), “Đức Phật Nàng Savitri và tôi” (2009), “SBC là săn bắt chuột” (2011), “Dấu về gió xóa” (2012), “Những đứa con rải rác trên đường” (2014)

Ở cả hai giai đoạn, ảnh hưởng to lớn của tư duy hậu hiện đại đã tác động hầu hết vào các khía cạnh trong tiểu thuyết của nhà văn

Trước tiên đó là khía cạnh phản ánh hiện thực Với Hồ Anh Thái, ông cho rằng quan niệm hiện thực là những gì ta nghe thấy, ta trải nghiệm thì chưa

đủ “Hiện thực còn là cái ta cảm thấy nữa Những gì tồn tại ở thế giới bên ngoài đều có thể tìm thấy ở thế giới bên trong mỗi con người, ở trong tâm và trí của họ” [31].Theo ông, “tiểu thuyết là một giấc mơ dài, gấp sách lại người

ta vừa mừng rơn vừa thoát khỏi cơn ác mộng, lại vừa nuối tiếc vì phải chia tay với những điều mà đời thực không có” [31] Xuất phát từ cách nghĩ này, Hồ Anh Thái đưa vào các tác phẩm của mình rất nhiều mảng màu, hình khối, sắc thái từ thế giới thực tại đến thế giới cơn mơ và những ảm ảnh kì bí thầm sâu trong nội tâm, trí óc con người Thế giới ấy đan quện bắt chéo nhau bởi những thời khắc xưa cũ và hiện đại, giữa thời gian quá khứ, hiện tại hay tương lai

Trang 36

Bởi vậy, nói đến khía cạnh phản ánh hiện thực trong tiểu thuyết của ông, người ta phải xem xét ở rất nhiều góc độ và không bao giờ chỉ ngừng lại ở những gì mà cuộc sống đang hiện hữu qua mỗi trang viết

Song song với khía cạnh hiện thực, nhân vật trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái luôn mang dáng dấp của thời đại và cũng luôn biến đổi không ngừng Đó không phải là những chân dung vĩ đại của các anh hùng, những vĩ nhân, những con người trong sáng, cao đẹp, thuần khiết Nhân vật của ông đủ các thể loại với đủ mọi tính cách hỗn tạp giữa cái đẹp với cái xấu xa hèn hạ, giữa lý tưởng với dục vọng tầm thường, giữa bi và hài, giữa con người thực tế với con người ảo tưởng, tạm bợ…Xây dựng nhân vật, nhà văn đặc biệt quan tâm đến sự đổi thay của họ trong xã hội hiện đại Điều đó thể hiện trong lối sống lợi danh, hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, thờ ơ, lãnh cảm Nhân vật Hồ Anh Thái cũng thường xuyên xuất hiện ở hình ảnh những con người bản năng, bị bản năng điều khiển, chi phối Thế giới nội tâm nhân vật thay đổi theo từng giai đoạn: sự chùng lại về mặt tâm lý, xu hướng hướng nội ở giai đoạn đầu; sự bùng nổ, cá tính hóa cao độ nhân cách điển hình, thiên về hành động ở giai đoạn hai

Kèm theo đó là sự biến thiên trong giọng điệu trần thuật Tiểu thuyết của

Hồ Anh Thái rất đa thanh, đa giọng Đó là sự lẫn hòa giữa giọng tác giả, giọng nhân vật khi dịch chuyển điểm nhìn trần thuật liên tục, gây nên biến đổi mới mẻ trong giọng điệu Sự hòa giọng góp phần tái tạo sự kiện và cảm xúc ở tầng sâu sự phức tạp rối bời về mặt tâm lí con người và biến động xã hội

Sự tác động từ chủ nghĩa hậu hiện đại cộng với năng lực tìm tòi của nhà văn đã tạo cho cốt truyện tiểu thuyết Hồ Anh Thái có những đặc điểm khác biệt Đó là một cốt truyện phân mảnh, lắp ghép gồm nhiều tình tiết tưởng rời rạc nhưng rất thống nhất Đó là dạng cốt truyện hồi tưởng, dạng cốt truyện

Trang 37

luận đề với những quan niệm phát kiến giàu màu sắc triết lý Tình tiết, nhân vật, chủ đề, tư tưởng người viết muốn gửi gắm được sắp xếp khoa học trong chuỗi cốt truyện với nhiều diễn biến ngày một phức tạp Đặc biệt, Hồ Anh Thái là người thích tìm hiểu và thể nghiệm cái mới về mặt cấu trúc

1.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Anh Thái

Để truyền đạt được khối hiện thực phức tạp đồng thời thể hiện được sự sáng tạo của người viết, ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Anh Thái tỏ ra rất bất thường, phá cách, đa dạng về cấu trúc ngôn từ Khi là sự dằng dặc của các kiểu trường cú với những vế câu tưởng như bất tận, khi là sự ngắt ngừng đột ngột và cụt ngũn của những kiểu câu ngắn rất tự do, phóng túng Cấu trúc câu mang đậm chất đời thường, pha trộn cả thể chính thống lẫn những hình thức biến đổi ngoại lai trong thời hội nhập kinh tế và bùng nổ công nghệ Ngôn ngữ nghệ thuật lẫn với phương ngữ, với ngôn ngữ hành chính, khoa học, chính trị…vv Đặc điểm này càng bộc lộ rõ nếu như có sự quan sát tiến trình xuất hiện các tác phẩm của nhà văn từ những năm 80 đến nay Suy cho cùng, đây cũng là một trong những hệ quả tất yếu từ sự tác động của chủ nghĩa hậu hiện đại và đời sống thực tiễn của đất nước đối với tiểu thuyết Hồ Anh Thái Bên cạnh mặt cú pháp, sự đa dạng của vốn từ vựng cũng ào ạt chảy vào từng trang viết của nhà văn Đặc biệt là các tác phẩm giai đoạn sau này Đọc nhiều tiểu thuyết của ông, người ta thấy sự pha trộn từ vựng đời sống chợ búa, thị dân, trí thức, mạng xã hội, của thành thị, thôn quê, của nước ngoài, nước ta…Điều đó là góp phần tạo nên cái nhìn về một bức tranh hiện thực đang ngày càng trở nên đầy phức tạp, rối rắm và chẳng có khi nào là thực sự rõ ràng, thuần nhất

Về mặt ngữ âm, ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Anh Thái pha lẫn cả Bắc – Trung – Nam, Ta – Tàu – Tây, miền ngược, miền xuôi, miền núi, đồng bằng, miền biển Mặt này gắn với sự phong phú về nhân vật được phản ánh trong

Trang 38

mỗi tác phẩm Gắn với những chuyến hành trình xuyên Việt mà ông hay cho nhân vật được du hý Với những địa bàn đặt nhân vật xuất hiện của nhà văn Ngữ điệu câu văn trong tiểu thuyết cũng luôn có sự biến hóa không ngừng Đặc điểm này xuất phát từ việc khai thác khá đa dạng, phóng túng các phương tiện ngôn ngữ (có thể chỉ là phương tiện đơn thuần hoặc phương tiện

có ý nghĩa tu từ) Ngữ điệu là một nhân tố nhỏ nhưng quan trọng tạo sự uyển chuyển, biến động có nghệ thuật của tiểu thuyết, và cũng là nhân tố khơi gợi

sự chú ý của độc giả bằng việc tăng tính hấp dẫn cho tác phẩm

Điều đáng chú ý là những đặc điểm này, mặc dù thống nhất với quy luật sinh tồn chung của thể loại tiểu thuyết đương đại Việt Nam nhưng lại có dấu

ấn cá tính khá rõ ràng về tác giả (nhất là khi đọc những tác phẩm gần đây của ông người đọc rất khó nhầm lẫn với một tác giả nào khác) Và theo như Hồ Anh Thái quan niệm, nhà văn có phong cách phải là nhà văn đa phong cách

Sự biến đổi không ngừng trong ngôn ngữ tiểu thuyết của ông đã phần nào khẳng định phương hướng thẩm mĩ mà ông theo đuổi trong sự nghiệp sáng tác của mình

« Tóm lại, trong Chương 1, chúng tôi trình bày những điểm cơ bản mang tính lý luận về phong cách, cú pháp, những vấn đề khái quát về Hồ Anh Thái và tiểu thuyết của ông Những cơ sở này sẽ là căn cứ để chúng tôi tìm hướng khảo sát và phân tích nhằm đi đến các kết luận cần thiết về đặc điểm

tu từ cú pháp trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái Riêng về phương diện các phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp, chúng tôi sẽ chỉ đưa vào khảo sát, đánh giá những dạng tiêu biểu, thường được nhà văn sử dụng Do vậy, có những phương tiện và biện pháp xuất hiện ở Chương 1 nhưng sẽ không được

đề cập ở Chương 2

Trang 39

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI - THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI

2.1 PHƯƠNG TIỆN TU TỪ CÚ PHÁP TRONG TIỂU THUYẾT

Bảng chỉ tập hợp những phương tiện tu từ cú pháp tiêu biểu và có tính chất gợi mở cho nội dung của đề tài Một số phương tiện dù nằm trong danh mục đã nêu ở Chương 1, song do tần số sử dụng quá ít, hoặc giá trị biểu đạt

mờ nhạt, không điển hình nên chúng tôi loại bỏ

Trong bảng, các từ viết tắt được chú thích như sau:

(8) TTN: tình thái ngữ (9) GN: giải ngữ

(10) /: mô tả không có sự xuất

hiện PTTTCP ở tác phẩm này

Trang 40

1 Người và xe chạy dưới ánh trăng 90 1.8 109 2 / / 168 3 43 0.8 5712

2 Người đàn bà trên đảo 94 3.3 96 3.4 / / 200 7.1 34 1.2 2811

3 Trong sương hồng hiện ra 114 4.2 83 3.05 / / 174 6.4 52 1.9 2718

4 Cõi người rung chuông tận thế 134 4 17 0.5 1 0.03 129 4 61 1.8 3313

5 Mười lẻ một đêm 1273 22 12 0.2 4 0.06 341 58 46 0.8 5851

6 Đức Phật, nàng Savitri và tôi 652 8.1 33 0.4 10 0.1 274 3.4 25 0.3 7991

7 SBC là săn bắt chuột 989 16.2 14 0.2 5 0.1 185 3.02 49 1 6113

8 Dấu về gió xóa 667 12.5 134 2.5 5 0.04 234 4.4 25 0.5 5337

9 Những đứa con rải rác trên đường 809 10.6 15 0.2 11 0.14 330 4.3 31 0.4 7611

Ngày đăng: 17/05/2021, 13:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2005
[2] Diệp Quang Ban (2001), Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2001
[3] Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2003), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
[4] Trương Thị Diễm (2013), Bài giảng Ngữ pháp tiếng Việt, Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Trương Thị Diễm
Năm: 2013
[5] Nguyễn Đức Dân (2013), Từ câu sai đến câu hay, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ câu sai đến câu hay
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2013
[6] Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[7] Lê Thị Kim Dung (2013), Hình tượng nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Tác giả: Lê Thị Kim Dung
Năm: 2013
[8] Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2006), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[9] Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình Ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
[10] Nguyễn Thái Hòa (1997), Dẫn luận phong cách học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận phong cách học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
[11] Nguyễn Văn Hiệp (2009), Cú pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
[12] Mai Thanh Hiền (2013), Phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái”, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Anh Thái”
Tác giả: Mai Thanh Hiền
Năm: 2013
[13] Trần Thị Hảo (2012), Dấu ấn văn hóa Ấn Độ trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn văn hóa Ấn Độ trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Tác giả: Trần Thị Hảo
Năm: 2012
[14] Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội, NXB GD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: NXB GD Việt Nam
Năm: 2012
[15] Đinh Trọng Lạc (2005), 99 Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
[16] Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2012), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
[17] Nguyễn Thị Lương (2009), Câu tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Lương
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2009
[18] Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
[19] Phương Lựu (2011), Lý thuyết văn học hậu hiện đại, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết văn học hậu hiện đại
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2011
[20] Nguyễn Lai (1996), Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học
Tác giả: Nguyễn Lai
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w