1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình

169 710 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh Thái Bình
Tác giả Nguyễn Văn Lượng
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Văn Song
Trường học Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 6,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học Nông nghiệp hà nội

-

nguyễn văn lượng

Đánh giá kết quả hoạt động của các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh Thái Bình

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ/ đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đ/ đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Văn L−ợng

Trang 3

LờI CảM ƠN

Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài tại Sở Lao động Thương binh X/ hội, Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh Thái Bình, tôi luôn nhận được:

- Sự chỉ đạo, dạy dỗ chu đáo của các thầy cô giáo trong trường, trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, đặc biệt là sự hướng dẫn khoa học tận tình của PGS TS Nguyễn Văn Song

- Sự chỉ đạo, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện của Sở Lao động Thương binh X/ hội, Sở Giáo dục Đào tạo, Ban Giám đốc 8 Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và đặc biệt là Ban Giám đốc của 3 Trung tâm: Hưng Hà, Thành Phố, Tiền Hải là những đơn vị trực tiếp nghiên cứu

- Sự giúp đỡ về tài liệu của Sở Lao động Thương binh X/ hội, Cục Thống

kê tỉnh, Sở Giáo dục Đào tạo, Sở Nông nghiệp và PTNT, Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh

- Sự động viên giúp đỡ của cơ quan, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với những sự giúp đỡ động viên quý báu đó

Thái Bình, ngày 25 tháng 10 năm 2008

Tác giả

Nguyễn Văn Lượng

Trang 4

mục lục

2.2 Các khái niệm về hiệu quả, kết quả và các tiêu chí để đánh giá 302.3 Khái niệm về Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc

2.4 Khái niệm về người tham gia sinh hoạt hướng nghiệp và người

2.7 Kết quả hoạt động ở các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề 45

Trang 5

3.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của các Trung tâm

Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động 79

4.1 Vị trí, vai trò, thực trạng của các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy

4.1.2 Thực trạng của các Trung tâm HNDN và tạo việc làm ở tỉnh Thái

4.2 Kết quả hoạt động của các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề

và tạo việc làm của tỉnh Thái Bình trong những năm gần đây 91

4.2.2 Kết quả điều tra cụ thể của 3 Trung tâm tiêu biểu thời điểm

4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các Trung

tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao

4.4 Đánh giá chung về kết quả hoạt động của các Trung tâm

HNDN và tạo việc làm ở tỉnh Thái Bình trong những năm qua 111

Trang 6

4.5 Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết

quả hoạt động của các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và

4.5.1 Các quan điểm chỉ đạo và những mục tiêu cụ thể về vấn đề

HN-DN và trong giai đoạn 2007 – 2010 và tầm nhìn 2015 1164.5.2 Định hướng phát triển và một số mục tiêu cụ thể của các

Trung tâm HN DN cấp huyện trong giai đoạn 2005-2010 và

4.6 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả hoạt động

của các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 2005- 2010 và tầm

4.6.1 Về công tác Hướng nghiệp và dạy môn công nghệ cho học sinh

THCS - Chức năng gián tiếp tạo việc làm cho lao động tiềm

4.6.2 Về công tác Hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh THPT,

BT THPT- Chức năng gián tiếp và trực tiếp tạo việc làm cho lao

4.6.3 Về vấn đề tham gia thực hiện vào chương trình phổ cập tin học

cho thanh niên nông thôn- Chức năng trực tiếp nâng cao chất

4.6.4 Về vấn đề chuyển giao khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến

trong lĩnh vực phát triển ngành nghề ở nông thôn và áp dụng

4.6.6 Về các giải pháp trước mắt và lâu dài góp phần vào công tác

Trang 7

4.6.7 Về giải pháp đối với các loại hình liên kết 1274.6.8 Về các giải pháp giáo dục định hướng tư vấn xuất khẩu lao

Trang 8

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 9

Danh môc b¶ng

Trang 10

4.7 Kết quả đào tạo nâng cao tay nghề của các Trung tâm hướng

nghiệp, dạy nghề cho người lao động ở khu vực nông thôn 3 năm

tổng số người học sau khi học nghề ở 8 Trung tâm trong toàn

4.13 Kết quả điều tra ý kiến những học viên đ/ học xong chương trình

nghề tại 3 Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề Hưng Hà, Thành

4.14 Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên và người quản lý đào tạo tại

3 Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề Hưng Hà, Thành Phố, Tiền

4.15 Kết quả điều tra năng lực giáo viên của 8 Trung tâm HNDN và

4.16 Kết quả điều tra trình độ tin học, ngoại ngữ giáo viên của 8

4.17 Kết quả điều tra ý kiến của các công ty, xí nghiệp sử dụng người

đ/ học xong chương trình nghề tại 3 Trung tâm Hướng nghiệp,

Trang 11

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo dự báo của các nhà khoa học đến năm 2010 dân số nước ta có thể lên tới 100 triệu người trong đó có khoảng 56,8 triệu người ở độ tuổi lao động [1] Sức ép về dân số và việc làm vô cùng gay gắt do cung về lao động giản đơn nhiều hơn cầu, trong khi cung về lao động lành nghề lại không đáp ứng đủ cầu Dạy nghề cho người lao động là một chủ trương rất lớn của Đảng và Nhà nước trong những năm gần đây Công tác dạy nghề ở nước ta đến nay đ/ có những bước phát triển đáng kể cả về quy mô và chất lượng đào tạo Tuy vậy, vấn đề tạo việc làm có thu nhập ổn định, lâu dài cho các đối tượng đ/ được học nghề, vẫn còn nhiều bất cập, thực tế cho thấy có rất nhiều người đ/ được học nghề nhưng không tìm nổi việc làm hoặc có việc làm nhưng thu nhập thấp, sau một thời gian chán nghề, bỏ việc, lại trở thành thất nghiệp Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên, trong đó có một nguyên nhân cơ bản, then chốt là công tác hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm của chúng

ta chưa thực sự ăn khớp với nhau Chúng ta mới chỉ chú trọng đến việc dạy nghề và thường chạy theo chỉ tiêu số lượng người được học nghề hàng năm mà chưa đề cao chất lượng đạo tạo và tỷ lệ người thực sự kiếm được việc làm sau

đào tạo Bên cạnh đó, công tác hướng nghiệp cho người lao động trước khi dạy nghề - một công việc rất quan trọng đối với các nước phát triển trên thế giới thì ở nước ta vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Tỷ lệ cơ cấu lực lượng lao động của nước ta năm 2003 là 1/1,5/3,5 (1 kỹ sư, 1,5 kỹ thuật viên và 3,5 công nhân qua đào tạo) [28] Như vậy hiện tại chúng ta đang thừa thầy thiếu thợ, lực lượng lao động gián tiếp quá nhiều, lực lượng lao động qua đào tạo thiếu trầm trọng, số kỹ sư dư thừa phải làm công việc của người công nhân trực tiếp, họ thiếu hẳn kỹ năng kỹ sảo và các thao tác của nghề, sẽ làm ảnh hưởng tới năng suất lao động Chúng ta đ/ và đang

Trang 12

phấn đấu điều chỉnh lực lượng lao động hợp lý hơn 1/2/9 vào năm 2009 [28] Muốn vậy phải phát triển mạnh đào tạo nghề Thành lập thêm các trường dạy nghề, tăng quy mô để ngành dạy nghề đủ sức mỗi năm đào tạo thêm 1 triệu công nhân bởi lẽ ngành dạy nghề sẽ góp phần đào tạo 80% lực lượng lao động trực tiếp cho x/ hội [28]

Thái Bình là một tỉnh thuần nông, đất chật, người đông, có nguồn nhân lực dồi dào, là một trong những tỉnh có tỷ lệ dân số đông nhất cả nước (năm

quyết việc làm cho người lao động, đ/ hình thành rất nhiều mô hình hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm Nghị quyết 13/2004/NQ-TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình về phát triển đào tạo dạy nghề giai đoạn 2004 -

2010 có ghi rõ: “Mục tiêu đến năm 2010 tỉnh Thái Bình sẽ tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên từ 40% đến 50%; bình quân mỗi năm giải quyết từ 20 nghìn

đến 50 nghìn chỗ làm mới, hạ tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 3%; nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của lao động nông thôn lên từ 85% - 90%; mỗi năm đưa khoảng 3 nghìn lao động ra làm việc ở nước ngoài” Trong những năm qua, các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm (Trung tâm HNDN) của tỉnh Thái Bình đ/ và đang góp phần to lớn vào việc thực hiện Nghị quyết này Việc nghiên cứu, đánh giá đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao kết quả hoạt động của các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm người lao động là rất cần thiết

Được sự đồng ý của khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường

Đại học Nông nghiệp - Hà Nội, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá kết quả hoạt động của các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề

và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh Thái Bình”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá kết quả hoạt động của các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề

Trang 13

và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh Thái Bình trong những năm gần

đây, đề xuất một số giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả hoạt động của các Trung tâm

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn đối với hoạt động Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm

- Đánh giá kết quả hoạt động của các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề

và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh Thái Bình Tìm ra các nguyên nhân

ảnh hưởng tới kết quả hoạt động của các Trung tâm

- Đề xuất một số giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả hoạt động của các Trung tâm

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh Thái Bình

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Một số vấn đề cơ bản về các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm

- Kết quả hoạt động của các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm

- Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm

- Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạt động và gắn kết các hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm thành một thể thống nhất có tác động quyết định đến kết quả hoạt động của nhau

1.3.2.2 Phạm vi về không gian

Nghiên cứu được thực hiện ở một số Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề

Trang 14

vµ t¹o viÖc lµm tiªu biÓu trªn ph¹m vi tØnh Th¸i B×nh

Trang 15

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm cơ bản về hướng nghiệp và dạy nghề

Hướng nghiệp là hệ thống tác động của x/ hội về giáo dục học, y học, x/ hội học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân Trong nhà trường, hướng nghiệp là hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai, trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong x/ hội [30]

Hướng nghiệp là công việc điều chỉnh động cơ chọn nghề của học sinh,

điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp theo xu thế phân công lao động x/ hội Hướng nghiệp luôn luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động tuổi trẻ của đất nước, từ đó nâng cao năng suất lao động của x/ hội, đưa người lao động vào đúng vị trí giúp họ phát huy hết năng lực, sở trường, phát triển cao những hứng thú nghề nghiệp, làm nảy nở óc sáng tạo Làm được như vậy thì hướng nghiệp đ/ giúp cho nghề nghiệp không chỉ đơn thuần là nơi kiếm sống mà còn là nơi thể hiện nhân cách, phát triển tài năng, cống hiến sức lực

và trí tuệ cho đất nước [31]

Hướng nghiệp cần phải bám sát mục tiêu kinh tế x/ hội của đất nước và

địa phương chuẩn bị cho thế hệ trẻ dễ dàng kiếm được việc làm theo sự phân công lao động trong phạm vi cả nước và thậm chí là dễ tìm việc làm trên thế giới Khi hướng nghiệp gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất, các cơ sở dạy nghề và tạo việc làm, sẽ có tác dụng tạo được nhiều việc làm cho x/ hội góp phần ổn định chính trị và làm giàu cho đất nước

Trang 16

Nhiệm vụ chung của hướng nghiệp là giúp cho thế hệ trẻ làm quen với

những nghề cơ bản trong x/ hội để các em tự trả lời được câu hỏi trong giai

đoạn hiện nay những nghề nào đang cần phát triển nhất, thái độ đối với nghề

đó như thế nào là đúng, những yêu cầu tâm sinh lý mà nghề đó đặt ra là gì,

những điều kiện cần thiết để học nghề đó và hành nghề đó Trong quá trình

hướng nghiệp học sinh sẽ xuất hiện và hứng thú nghề nghiệp, hứng thú này sẽ

được bộc lộ dần dần Đó là một động lực hết sức quan trọng để học sinh gắn

bó với nghề Đây là chỉ số quan trọng hàng đầu để xét sự phù hợp nghề của

con người [30]

Học sinh được đọ sức với năng lực chuyên môn thực sự để tự so sánh sự

phù hợp năng lực của mình với yêu cầu của nghề vì vậy phải luôn tạo cho học

sinh được thực hành thử, ướm thử với một số nghề để các em được thử sức với

nghề Hướng nghiệp giáo dục cho học sinh ý thức tôn trọng lao động thuộc

các nghề khác nhau, ý thức tiết kiệm bảo vệ của công, nói tóm lại là phải

giáo dục lương tâm và đạo đức nghề nghiệp, làm cho các phẩm chất nhân cách

của người lao động được hài hoà và cân đối

Những đặc điểm tâm sinh lý

của người lao động

Những yêu cầu của nghề Hình 1 Sự phù hợp nghề [31]

X

X

X

Trang 17

Khi những đặc điểm tâm sinh lý của người lao động về nhu cầu, khả năng, hứng thú, sức khoẻ, có nhiều điểm phù hợp với những yêu cầu của nghề nào đó thì chúng ta nhận định rằng người đó phù hợp với nghề đang chọn

Hướng nghiệp giúp cho học sinh trả lời được 3 câu hỏi: tôi muốn làm nghề gì? (hứng thú) Tôi có thể làm được nghề gì? (năng lực) Tôi phải làm nghề gì? (nhu cầu x/ hội)

Các vấn đề này sẽ được thực hiện đầy đủ tại các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề

Hình 2: Xác định miền chọn nghề tối ưu [31]

Tôi muốn

Tôi cần phải Tôi có

thể

Trang 18

Hình 3 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động [31]

Nghề: là thuật ngữ để chỉ mọi hình thức lao động, là mọi việc làm theo sự phân công của x/ hội Con người thông qua việc hành nghề để kiếm sống nhằm duy trì bản thân và xây dựng đất nước Nghề nằm trong một ngành hay một nhóm nghề nào đó Nghề được sinh ra, phát triển trong sự phát triển tiến

bộ của x/ hội, có những nghề ra đời và phát triển lâu dài thì trở thành nghề truyền thống, đồng thời cũng có những nghề mới du nhập do tiến bộ của KHKT đem lại [31] Nghề có 3 cấp độ khác nhau: bán lành nghề, lành nghề

và lành nghề ở trình độ cao Bán lành nghề là được trang bị một phần kiến thức và kỹ năng của một nghề với các công việc đơn giản, quen thuộc lặp đi lặp lại nhiều lần trong một phần nhất định, khi phối hợp với các công việc khác cần có sự hướng dẫn và giám sát của những người có trình độ cao hơn Lành nghề là được trang bị kiến thức và kỹ năng nghề ở diện rộng chuyên môn sâu, có khả năng đảm bảo được công việc phức tạp của nghề, biết phát hiện và sửa chữa những trục trặc kỹ thuật, có khả năng đưa ra một số sáng kiến cải tiến đơn giản trong phạm vi hẹp, có khả năng kiểm tra, hướng dẫn người khác một số công việc ở mức độ phức tạp trung bình, có tính độc lập và

động

Các

điều kiện thể chất

Khả

năng chịu tải tâm

Xử lý thông tin, tình huống

Tâm thế và

động cơ

Đào tạo học tập

Trang 19

chịu trách nhiệm cá nhân cao Lành nghề ở trình độ cao là được trang bị kiến thức chuyên môn vững vàng, kỹ năng thành thạo, có khả năng tự vận hành

được các thiết bị hiện đại và tự xử lý được các tình huống phức tạp, đa dạng trong một dây truyền lao động, đọc và vẽ được hầu hết các bản vẽ kỹ thuật, các sơ đồ phức tạp trong nghề, có khả năng l/nh đạo một nhóm, một tổ về chuyên môn nghề nghiệp, giám sát và quản lý tốt các lao động bán lành nghề, lành nghề, có tính độc lập và chịu trách nhiệm cá nhân cao trong công việc Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi đ/ hoàn thành khoá học [21] Dạy nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó để sau một thời gian nhất định người học có thể

đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới Dạy nghề có 3 giai đoạn cơ bản: Giai đoạn 1, dạy nghề cho người chưa biết gì về nghề trở thành người bán lành nghề

Giai đoạn 2, dạy nghề cho người bán lành nghề trở thành người lành nghề (trong đó có nhiều cấp bậc)

Giai đoạn 3, dạy nghề cho người lành nghề trở thành những người lành nghề ở trình độ cao

Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp cho sản xuất, dịch vụ, có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có

đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [21]

Vai trò của hướng nghiệp dạy nghề:

Là một bộ phận của hệ thống kinh tế x/ hội có chức năng đào tạo nguồn

Trang 20

nhân lực trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho x/ hội Theo C.Mác, muốn tạo ra của cải vật chất phải có 3 yếu tố: lực lượng lao động, đối tượng lao động

và công cụ lao động; các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ và bổ trợ cho nhau Lực lượng lao động (con người) sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động tạo ra của cải vật chất Trong 3 yếu tố đó có lực lượng lao

động là yếu tố quan trọng nhất, có khả năng thay đổi các yếu tố khác Lực lượng lao động bao gồm: lao động gián tiếp (kỹ sư, kỹ thuật viên) và lao động trực tiếp (công nhân lành nghề, bán lành nghề và lao động giản đơn)

ở giai đoạn cơ khí hoá, tỷ lệ cơ cấu lực lượng lao động hợp lý mà các nước tiên tiến áp dụng trong lĩnh vực công nghiệp là 1/4/60/20/15 nghĩa là cứ

100 người lao động thì cần 1 kỹ sư, 4 kỹ thuật viên, 60 công nhân lành nghề,

20 công nhân tay nghề thấp và 15 lao động giản đơn [28]

Như vậy ngành hướng nghiệp dạy nghề có nhiệm vụ đào tạo số công nhân lành nghề và tay nghề thấp Nếu tỷ lệ cơ cấu lực lượng lao động không

đảm bảo sẽ tạo ra sự mất cân đối giữa lực lượng lao động gián tiếp và trực tiếp làm cho quá trình sản xuất mất ổn định Tỷ lệ cơ cấu lực lượng lao động của nước ta năm 20003 là 1/1,5/3,5 (1 kỹ sư, 1,5 kỹ thuật viên và 3,5 công nhân qua đào tạo) [28] Như vậy hiện tại chúng ta đang thừa thầy thiếu thợ, lực lượng lao động gián tiếp quá nhiều, lực lượng lao động qua đào tạo thiếu trầm trọng, số kỹ sư dư thừa phải làm công việc của người công nhân trực tiếp, họ thiếu hẳn kỹ năng kỹ sảo và các thao tác của nghề, sẽ làm ảnh hưởng tới năng suất lao động Chúng ta đ/ và đang phấn đấu điều chỉnh lực lượng lao động hợp lý hơn 1/2/9 vào năm 2009 Muốn vậy phải phát triển mạnh đào tạo nghề Thành lập thêm các trường dạy nghề, tăng quy mô để ngành dạy nghề đủ sức mỗi năm đào tạo thêm 1 triệu công nhân bởi lẽ ngành dạy nghề sẽ góp phần

đào tạo 80% lực lượng lao động trực tiếp cho x/ hội [28]

Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động

là một mô hình kết hợp hài, khoa học của 3 giai đoạn trong công tác tạo việc

Trang 21

làm, trước hết làm cho người lao động biết được thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động và những thông tin quan trọng về nghề, từ đó định hướng giúp cho họ lựa chọn nghề cho phù hợp, từ việc lựa chọn nghề cho phù hợp thì học nghề có hiệu quả và dễ kiếm việc làm

Đối tượng của hướng nghiệp là những học sinh lớp 9 và học sinh THPT cùng những người lao động trên địa bàn có nhu cầu tìm việc làm Kết quả của

nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó chất lượng tổ chức hoạt động dạy

và học có tính chất quyết định Vì vậy Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề là hình mẫu trong hướng nghiệp có bản chất đặc trưng riêng và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương

Phân loại các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề:

Hiện tại ở Việt Nam đang tồn tại các mô hình hướng nghiệp dạy nghề sau:

Trung tâm Hướng nghiệp (tên đầy đủ là Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp), hoạt động chủ yếu làm công tác hướng nghiệp

Trung tâm dạy nghề, hoạt động chủ yếu là dạy nghề

Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề vừa mang chức năng của một trung tâm hướng nghiệp, vừa mang chức năng của trung tâm dạy nghề ở tỉnh Thái Bình hiện đang có 8 Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề Tất cả 8 trung tâm này hiện tại đều vừa làm công tác hướng nghiệp cho toàn thể học sinh trên địa bàn, vừa được giao nhiệm vụ dạy nghề và tạo việc làm cho một bộ phận người lao động Mô hình hướng nghiệp - dạy nghề - tạo việc làm đang là một mô hình phù hợp, trong những năm gần đây mô hình này hoạt động thực sự có hiệu quả và đang rất phù hợp với chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước là đào tạo nhân lực theo nhu cầu x/ hội

2.1.2 Các khái niệm cơ bản về dân số, lao động và việc làm

a Lao ủộng

Lao động là khái niệm chung dùng để chỉ con người khi tham gia vào

Trang 22

các hình thức sản xuất nào đó trong x/ hội Người lao động có thể qua đào tạo

và không qua đào tạo hoặc chưa qua đào tạo; có thể là những lao động giản

đơn hoặc lao động phức tạp

Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên đang

có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc

Nguồn lao động là toàn bộ dân số trong độ tuổi trừ đi những người trong

độ tuổi này hoàn toàn mất khả năng lao động Theo quy định của Tổng cục Thống kê khi tính toán cân đối nguồn lao động x/ hội, nguồn lao động gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân

Số lượng lao động: là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động ở nước ta theo quy định của Bộ Luật lao động người trong độ tuổi lao động là: nam từ 15 - 60 tuổi; Nữ từ 15 - 55 tuổi

Chất lượng lao động: thể hiện qua trình độ lành nghề, hiểu biết, vận dụng khoa học - kỹ thuật, sức khoẻ

* Thị trường lao động

Thị trường lao động là biểu hiện quan hệ lao động diễn ra một bên là người lao động và một bên là sử dụng lao động, dựa trên nguyên tắc thoả thuận, thông qua các hợp đồng lao động

Cung về lao động: được biểu hiện khối lượng lao động sống (số lượng, chất lượng và cơ cấu của lực lượng lao động) tham gia vào thị trường lao động trong một thời gian nhất định Nắm cung cầu và sự biến động cung cầu lao

động làm cơ sở quyết định chính sách quốc gia, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, phân bố và sử dụng lao động toàn x/ hội

Cung thực tế: bao gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động đang làm việc và những người thất nghiệp

Cung tiềm năng: bao gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động

Trang 23

đang làm việc và những người đang thất nghiệp, những người trong độ tuổi lao

động có khả năng lao động đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia

đình mình và nhưng người không có nhu cầu làm việc

Cầu về lao động là khả năng thuê mướn lao động trên thị trường lao

động với các mức tiền lương, tiền công tương ứng

Cầu thực tế là nhu cầu thực tế cần sử dụng lao động tại một thời điểm nhất định bao gồm cả chỗ làm việc trống và chỗ làm việc mới Chỗ làm việc trống là chỗ làm việc đ/ từng sử dụng lao động, nay không có lao động làm việc và đang có nhu cầu sử dụng lao động Chỗ làm việc mới là chỗ làm việc mới xuất hiện và đang có nhu cầu sử dụng lao động

Cầu tiềm năng là số lao động tương ứng với tổng số chỗ làm việc có

được sau khi đ/ tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm trong tương lai như vốn, đất đai, tư liệu sản xuất, công nghệ, chính trị, x/ hội

Quan hệ cung - cầu lao động thể hiện trên 3 trạng thái: trạng thái cần bằng cung - cầu lao động, trạng thái rối loạn cân bằng cung - cầu lao động và trạng thái cân bằng mới

Trong thị trường sức lao động, quy luật cung - cầu thể hiện khá rõ Nếu mức tiền công quá cao thì có hiện tượng cung lao động lớn hơn về cầu lao

động Nghĩa là số người muốn đi làm việc sẽ lớn hơn số người tìm được việc làm ở mức tiền công này Ngược lại, khi mức tiền công thấp thì khả năng thu hút lao động sẽ lớn hơn và xuất hiện cầu về lao động lớn hơn cung dẫn đến thiếu hụt về lao động

* Năng suất lao động

Năng suất lao động là "Sức sản xuất của lao động cụ thể có ích", nói lên kết quả hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một đơn vị thời gian nhất định Năng suất lao động đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian; hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Trang 24

Theo C Mác "Năng suất lao động thường được dùng đồng nghĩa với hiệu quả của sức lao động" và "Khả năng của sức lao động" Từ định nghĩa năng suất lao động của C Mác, mức năng suất lao động được xác định bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian lao động

Các khái niệm dân số, dân số hoạt động kinh tế, nguồn lao động, lực lượng lao động, thị trường lao động, năng suất lao động liên quan trực tiếp tới hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động, trên cơ

sở thống nhất những khái niệm này ta sẽ thấy được các chuẩn mực cơ bản để xác định, thống kê, đánh giá và có đầy đủ thông tin về tình trạng việc làm, thiếu việc làm, tình trạng thất nghiệp Từ đó chúng ta có thể đề xuất các chính sách, tìm các giải pháp tác động làm gảm tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm, mặt khác, hệ thống khái niệm này sẽ là cơ sở để xác định chuẩn xác mức độ có thể

về tỷ lệ người có việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp

c Khái niệm về việc làm

Việc làm được hiểu là những hành động cụ thể, những công việc cụ thể

được giao cho làm và được trả công để sinh sống Trước đây việc làm phải gắn với một nghề nào đó hoàn chỉnh, gắn với quan niệm: " Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh" nghĩa là giỏi một nghề đủ làm cho cả một đời vinh hiển Nay khái niệm việc làm có những thay đổi theo hướng linh hoạt và rộng r/i hơn: việc làm nhiều khi chỉ gắn với một công việc, một phần công việc hoặc một số kỹ năng lao động của một nghề nào đó , miễn là qua hoạt động cụ thể, người lao

động có thể hoàn thành nhiệm vụ và kiếm tiền để đảm bảo cuộc sống Xu thế mới đa nghề hoặc giỏi 1 nghề, biết nhiều nghề đang được nhiều người lao

động phát huy, trên thực tế đ/ giúp cho việc tìm kiếm công ăn việc làm của nhiều người được dễ dàng hơn, giúp họ dễ dàng thích nghi với việc di chuyển nghề nghiệp khi thị trường lao động có sự thay đổi Nghề và việc làm có mối quan hệ mật thiết với nhau: giỏi nghề đồng nghĩa với dễ tìm việc làm, người giỏi nghề không những đem lại thu nhập cao cho bản thân mà còn được x/ hội

Trang 25

tôn vinh, ca ngợi; việc làm ngoài việc kiếm sống còn đem lại phẩm chất, nhân cách cho con người [31]

Để có thể đề ra được một chính sách giải quyết việc làm đúng đắn trước hết phải làm rõ khái niệm về việc làm

Khái niệm việc làm không phải là vấn đề mới, nhiều nhà kinh tế học đ/ nêu lên quan điểm của họ về vấn đề này

Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật

Quan điểm xem xét việc làm như một tế bào, một đơn vị nhỏ nhất phân chia từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cho rằng: Việc làm là một phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, hoặc những phương tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần của x/ hội

Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được x/ hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực Nhà nước và kinh tế tập thể Trong cơ chế đó, Nhà nước bố trí việc làm cho người lao động Do đó trong x/ hội không thừa nhận có hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, lao

động dôi dư, việc làm không đầy đủ Ngày nay người lao động có quyền làm việc cho bất cứ người sử dụng lao động nào mà pháp luật không ngăn cấm

Điều 13 Chương II Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà x/ hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không

bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm",

* Phân loại việc làm

Phân loại chính xác việc làm sẽ cho chúng ta một cách nhìn nhận trung thực hơn về mức độ sử dụng lao động x/ hội và cho phép xác định được quy mô việc làm cần phải tạo thêm cho người lao động

Theo mức độ đầu tư thời gian cho việc làm có:

Việc làm chính là những việc làm mà người lao động dành nhiều thời

Trang 26

gian nhất cho công việc

Việc làm phụ là những việc làm mà người lao động dành ít thời gian hơn

so với việc làm chính

Theo mức độ sử dụng thời gian lao động năng suất và thu nhập có: Việc làm đầy đủ: căn cứ trên 2 khía cạnh chủ yếu là mức độ sử dụng thời gian lao động, mức năng suất và thu nhập Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động theo chế độ thời gian lao động hiện nay ở nước ta là 8 giờ/ngày, 40 giờ/tuần) [6] Mặc khác, việc làm đó phải mang lại thu nhập không thấp hơn tiền lương tối thiểu (mức lương tối thiểu hiện nay do pháp luật quy định ở Việt Nam là 540.000 đồng/tháng)

Việc làm không đầy đủ: là mức độ sử dụng thời gian lao động, mức năng suất và thu nhập thấp hơn khả năng có thể đạt được ở mức tối thiểu của người lao động (một dạng của thiếu việc làm)

* Thiếu việc làm:

Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì người thiếu việc làm là người trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm

Có dạng thiếu việc làm hữu hình (nhìn thấy được) và dạng thiếu việc làm vô hình (không nhìn thấy được) rất khó xác định ở Việt Nam, theo hướng dẫn

điều tra lao động việc làm năm 2000 của Bộ Lao động - Thương binh và X/ hội "Người thiếu việc làm là những người có số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra dưới 40 giờ hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định và họ có nhu cầu làm việc"

Theo một số chuyên gia về chính sách lao động việc làm thì: người thiếu việc làm là những người đang làm việc có mức thu nhập dưới mức lương tối thiểu và họ có nhu cầu làm thêm

Vì vậy, để thống nhất khái niệm người thiếu việc làm nên dựa vào khái niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra và cũng chỉ xác định người

Trang 27

thiếu việc làm ở dạng nhìn thấy được, còn các trường hợp khác nên dựa vào nhóm người có việc làm không ổn định Từ khái niệm thiếu việc làm do tổ chức lao động quốc tế và các nhà nghiên cứu của Việt Nam đưa ra thì: người thiếu việc làm là người thuộc lực lượng lao động đang có việc làm nhưng thời gian làm việc ít hơn mức chuẩn quy định cho người đủ việc làm và mang lại thu nhập thấp hơn mức lương tối thiểu

Theo ILO khái niệm thiếu việc làm được biểu hiện dưới dạng vô hình và hữu hình

Thiếu việc làm vô hình: là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian, thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp Nguyên nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kỹ năng của người lao động thấp không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động tồi, tổ chức lao động kém

Thiếu việc làm hữu hình: là khái niệm để chỉ hiện tượng lao động làm việc thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm đang tìm kiếm thêm việc làm và sẵn sàng để làm việc

Nguyên nhân thiếu việc làm:

Trang 28

d Thất nghiệp

Theo định nghĩa của AIGRED SANVY: "Người thất nghiệp là người khoẻ mạnh muốn lao động để kiếm sống nhưng không tìm được việc làm" [32]

Một người được coi là thất nghiệp, nếu người đó không có việc làm và

đang cố gắng đi tìm việc làm nhưng chưa tìm được trên thị trường

Thất nghiệp là những hiện tượng gồm những phần mất thu nhập, do không có khả năng tìm được việc làm trong khi họ còn trong độ tuổi lao động

có khả năng lao động, muốn làm việc và đ/ đăng ký ở cơ quan môi giới về lao

động nhưng chưa được giải quyết

Như vậy, những người thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc lực lượng lao

động hay dân số hoạt động kinh tế

Người thất nghiệp phải có 3 tiêu chuẩn:

Hiện chưa có việc làm

Có khả năng làm việc

Đang mong muốn được làm việc và đang đi tìm việc làm

Với cách hiểu như thế, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng chưa làm việc đều được coi là thất nghiệp Do đó một tiêu thức quan trọng để xem xét một người được coi là thất nghiệp thì phải biết được người đó có muốn đi làm hay không Bởi lẽ, trên thực tế nhiều người có sức khoẻ, có nghề nghiệp song không có nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào "nguồn dự trữ" như: kế thừa, bố mẹ nuôi

* Nguyên nhân của thất nghiệp

Thất nghiệp xảy ra khi số chỗ làm việc trống ít hơn số người đi làm việc hoặc số chỗ làm việc trống đòi hỏi trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp mà người tìm việc không đáp ứng được Có nhiều nguyên nhân dẫn

đến thất nghiệp, thất nghiệp là kết quả của nhiều yếu tố tác động qua lại lẫn nhau Có thể lý giải về nguồn gốc thất nghiệp như sau:

Trang 29

Tiền lương, tiền công quá cao so với mức năng suất lao động (máy móc, thiết bị )

Tiền lương, tiền công quá cao so với mức năng suất lao động

Nền kinh tế vĩ mô nằm trong tình trạng khủng hoảng suy thoái

Người lao động tự nguyện nghỉ việc để hy vọng tìm được công việc tốt hơn Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của người lao động không phù hợp với yêu cầu của người sử dụng lao động

Cầu lao động quá thừa th/i so với cung lao động, trong đó có sự tác động của yếu tố dân số, do dân số tăng nhanh, lực lượng lao động lớn, nền kinh tế chưa đủ sức tạo chỗ làm cho người lao động

e Hậu quả thất nghiệp, thiếu việc làm

Thất nghiệp, thiếu việc làm tác động lớn đến vấn đề kinh tế - chính trị x/ hội, là gánh nặng lên vai x/ hội và từng gia đình

Khi nền kinh tế không có khả năng tạo đủ việc làm cho những người có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc, thì việc sử dụng không hết tiềm năng lao động sẽ là sự mất đi vĩnh viễn lợi ích tiềm năng của x/ hội Hậu quả kinh tế trực tiếp của nó có thể dễ dàng nhận thấy là sự giảm sút tổng thu nhập quốc dân Bởi vì, lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho x/ hội

Đối với từng thành viên của x/ hội và gia đình, thất nghiệp, thiếu việc làm làm là mất đi tiền lương, tiền công hoặc các khoản thu từ những hoạt

động tự làm và có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống Thực tế cho thấy phần

đông người thất nghiệp, thiếu việc làm có mức thu nhập dưới ngưỡng đói nghèo Giữa thất nghiệp, thiếu việc làm, đói nghèo và sự phân chia thu nhập

có mối liên hệ khăng khít với nhau

Thất nghiệp, thiếu việc làm còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp có thể đạt được trong quá trình lao

động Mặt khác đối với những người đ/ được đào tạo, thất nghiệp, thiếu việc

Trang 30

làm sẽ làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ tay nghề vốn có

Hậu quả của thất nghiệp, thiếu việc làm có thể dẫn tới nhiều tiêu cực trong đời sống x/ hội và ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách con người, bởi vì lao động, việc làm không chỉ là nguồn gốc của thu nhập mà lao động là

điều kiện để phát triển nhân cách, để khẳng định mình là môi trường giao tiếp Thất nghiệp, thiếu việc làm còn là vấn đề công bằng x/ hội có ý nghĩa chính trị sâu sắc Trong chế độ x/ hội chủ nghĩa, một bộ phận lớn tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân Về nguyên tắc, mọi thành viên x/ hội đều có quyền bình đẳng về quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất này Tuy vậy, thực

tế chỉ một bộ phận dân cư có quyền sử dụng và có thu nhập, bộ phận còn lại (những người thất nghiệp, thiếu việc làm) có quyền sở hữu nhưng không có quyền sử dụng và không có thu nhập cho bản thân Do vậy: "Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm, phải là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn x/ hội"

g Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động

Đảng ta luôn coi việc phát huy nhân tố con người như là một nguồn lực quan trọng nhất của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây chính là tài nguyên vô giá, nguồn nội lực dồi dào cần chăm sóc để phát triển

Đầu tư vào con người và phát huy nguồn lực của con người là yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững

Ngân hàng thế giới (Word bank) nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn vật chất và vốn con người có mối liên hệ bổ sung lẫn nhau trong tăng trưởng và phát triển kinh tế

Con người không những là yếu tố quyết định động lực của sự phát triển

và là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển

Tiềm năng sức lao động, con người với trí tuệ và lao động được định hướng bởi trí tuệ, đ/ và đang là tài sản quý giá nhất, là nguồn lực quan trọng, quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Vai trò này ngày càng tăng lên khi

Trang 31

trí tuệ hoá lao động đang trở thành xu thế phổ biến

Việc làm đối với người lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển Con người tồn tại phải được tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như: thức ăn, đồ mặc, nhà ở, phương tiện đi lại để có những thứ đó con người phải sản xuất và không ngừng tái sản xuất với quy mô ngày càng mở rộng

Từ lý luận và thực tiễn đ/ chứng minh, có 3 yếu tố cơ bản nhất để phát triển con người là phải đảm bảo an toàn lương thực, an toàn việc làm và an toàn môi trường

Trong quá trình phát triển, con người là người hưởng thụ, mặt khác con người cung cấp đầu vào quan trọng cho quá trình biến đổi và phát triển sản xuất Hoạt động lao động ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của loài người, đó là hoạt động thuộc về bản năng sinh tồn, con người chỉ có thể tồn tại, phát triển và hoàn thiện không ngừng thông qua lao động sản xuất Do vậy nhu cầu có việc làm là nhu cầu để con người tồn tại và phát triển, là yếu tố khách quan và chính đáng của người lao động Mọi người có quyền tự do lựa chọn quyền và học hỏi nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mình

h Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động

* Nhân tố về điều kiện tự nhiên

Không thể nào có sự thuận lợi trong giải quyết việc làm tại chỗ đối với một số bộ phận người lao động sống ở những nơi bất lợi (vùng núi cao, hải

đảo ), ở những nơi thuận lợi: hạ tầng cơ sở phát triển, tài nguyên phong phú,

có nhiều dự án, nhiều chương trình kinh tế, x/ hội đầu tư vấn đề giải quyết việc làm ở đây sẽ có điều kiện hơn

* Nhân tố liên quan đến chính sách vĩ mô

Nhóm chính sách chung có quan hệ và tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lao động toàn x/ hội như: chính sách tín dụng ưu đ/i, chính sách đất đai, chính sách thuế

Nhóm chính sách khuyến khích phát triển lĩnh vực, hình thức và vùng có

Trang 32

khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường (Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách phát triển khu vực phi kết cấu, chính sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính sách di chuyển lao động và hành nghề, chính sách phát triển các hình thức thanh niên xung phong xây dựng kinh tế và tạo việc làm, chính sách gia công xuất khẩu, chính sách khôi phục

Ngoài ra vấn đề di dân và các dòng di dân, đặc biệt là di dân từ nông thôn ra đô thị gây ra các áp lực kinh tế, x/ hội và chính trị còn nguy hiểm hơn

so với tỷ lệ gia tăng dân số nhanh chóng Quá trình đô thị hoá gây ra hậu quả trực tiếp đến vấn đề việc làm, để có thể thu hút hết số lao động này, cần phải nhanh chóng tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc Một vấn đề khác là chất lượng của số lao động này về học vấn, đào tạo, trình độ nghề nghiệp không

đáp ứng được với yêu cầu công việc trong khu vực đô thị Do vậy họ có thể gia nhập đội quân lao động có chất lượng thấp được đặc trưng bởi tỷ lệ thất nghiệp

và thiếu việc làm cao

Trang 33

* Nhân tố về môi trường sinh thái

Giải quyết việc làm vừa là nhiệm vụ bức xúc vừa là chiến lược lâu dài Vấn đề đặt ra là phải bảo đảm cho môi trường nhân tạo hoà hợp với môi trường thiên nhiên, xem đây là một mục tiêu chính quan trọng trong giải quyết việc làm

* Nhân tố về vấn đề định hướng nghề nghiệp và khoa học công nghệ

Về giáo dục định hướng nghề nghiệp

Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học, công nghệ của đất nước đó Trình độ khoa học, công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện giáo dục Đ/ có rất nhiều bài học thất bại, khi một nước nào đó

sử dụng công nghệ ngoại nhập tiên tiến, trong khi tiềm năng khoa học công nghệ trong nước còn rất non yếu Sự non yếu thể hiện ở chỗ: thiếu các chuyên gia giỏi về khoa học công nghệ và quản lý, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề và tất yếu đ/ không thể ứng dụng được các công nghệ mới Không có sự lựa chọn nào khác, hoặc là đào tạo các nguồn nhân lực quý giá cho đất nước phát triển, hoặc phải chịu tụt hậu so với các nước khác

Giáo dục - đào tạo giúp cho người lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc và rõ ràng, người lao động qua quá trình đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà x/ hội phân công sắp xếp Trong quá trình giáo dục phải gắn chặt với vấn đề Hướng học

và Hướng nghiệp Tất cả mọi con người đều được đi học, nếu vấn đề Hướng nghiệp được triển khai sớm thì đại bộ phận dân số sẽ được hưởng lợi do công tác Hướng nghiệp đem lại, sẽ giúp cho mọi người dễ dàng tìm được nghề phù hợp ngay từ đầu

Về khoa học công nghệ

Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần cùng với việc mở rộng hợp tác liên doanh với các nước cũng như sự phát triển của công nghệ đ/ làm biến đổi cơ cấu đội ngũ lao động

Trang 34

Trong nền kinh tế phát triển, người lao động muốn thích ứng với các công việc x/ hội yêu cầu, trước hết họ phải là những người được trang bị nhất

định về khoa học công nghệ Tuy nhiên trong thực tế ở những nước sản xuất kém phát triển thường có sự mâu thuẫn: nếu công nghệ sản xuất tiên tiến, với các dây chuyền sản xuất tự động hoá, chuyên môn hoá cao thì trình độ người lao động chưa bắt kịp thời dễ dẫn đến trình trạng một bộ phận người lao động

bị gạt ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh Vì thế, bên cạnh công việc đào tạo nâng cao trình độ lành nghề cho người lao động, vấn đề lựa chọn áo dụng mức độ công nghệ nào trong dây chuyền sản xuất kinh doanh, phải tính toán rất kỹ, bởi lẽ: chính sách khoa học công nghệ có tác động mạnh mẽ đến vấn

đề giải quyết việc làm cho người lao động

2.1.3 Hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm ở một số nước trên thế giới Trung Quốc là nước đ/ dành được thành tích trong giải quyết việc làm Với hơn 800 triệu nông dân trong tổng số 1,2 tỷ dân, những khó khăn mà x/ hội Trung Quốc gặp phải trong công việc giải quyết số nhân khẩu lao động ở nông thôn, lớn hơn bất kỳ ở một số quốc gia nào khác Cách đây mấy năm báo chí Trung Quốc đ/ dự tính rằng: nếu không có cách giải quyết thì từ năm 2000 trở đi Trung Quốc phải xây dựng thêm 70 thành phố, mỗi thành phố từ 1 triệu dân trở lên, nhưng dù thế cũng chưa chắc đ/ giải quyết được vấn đề cơ bản này

Trung Quốc đ/ trải qua một quá trình tìm kiếm, thử nghiệm nhiều phương sách Đ/ từng có những chủ trương di dân thực hiện những cuộc "Đại khai hoang" với các khẩu hiệu "Chí lớn để ở cao nguyên", "Xây dựng quê hương thứ 2" nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề Bởi lẽ, theo một chuyên gia kinh tế, đó vẫn là quan điểm "Ly hương bất ly nông"

Đối lập với quan điểm đó, quan điểm "Ly nông bất ly hương" được áp dụng trong chiến lược hoá kinh tế Xuất phát từ chỗ nhận thức lại kinh tế nông nghiệp Nếu như trước đây người ta cho rằng: kinh tế nông thôn là kinh tế

Trang 35

"đơn nghiệp" thì bây giờ theo quan điểm thị trường nó được coi như là kinh tế

"đa nghiệp", "đa doanh", “đa phương”, “đa dạng” Cần tận dụng nguồn sức lao

động, hàng triệu người ở nông thôn không chỉ làm nông nghiệp mà còn phát triển kinh tế hộ gia đình, mở mang hàng chục ngành nghề, nâng cao đời sống nhân dân, cải thiện một cách đáng kể thị trường nội địa

Nhờ làm vậy, những năm qua ở nông thôn Trung Quốc, ngoài sản xuất nông nghiệp, đ/ xuất hiện hàng chục vạn doanh nghiệp vừa và nhỏ, các xí nghiệp và tổ hợp hương trấn sản xuất, kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp, thu hút được 40 - 60 % lực lượng lao động dôi dư trong nông nghiệp, tạo được việc làm cho hàng trăm triệu người Ngoài ra, ở Trung Quốc hình thành nhiều

"Công ty dịch vụ việc làm" Những công ty dịch vụ lao động đầu tiên được thành lập từ năm 1979 đến nay đ/ được phát triển, mở rộng, hiện nay đ/ có 80.771 công ty dịch vụ lao động, trong đó có 3144 do các vụ lao động quản

lý, 5964 do chính quyền các cấp: quận, huyện và các uỷ ban l/nh đạo, 68.810 công ty thuộc sự chỉ đạo của các xí nghiệp, viện và tổ chức Nhà nước khác Tổng số có 9 triệu người được các công ty dịch vụ lao động đào tạo và xếp việc làm Trong 6 năm qua các công ty dịch vụ lao động đ/ lập ra 235.000 đơn

vị chi nhánh thực hiện sản xuất, bán buôn, bán lẻ và các nghề dịch vụ sử dụng gần 7 triệu lao động [15]

Mạng lưới các công ty, dịch vụ lao động đ/ được hình thành ở hầu hết các thành phố, thị x/ và trong một số vùng nông thôn Nhờ đó mà giải quyết

được quá trình thuyên chuyển lực lượng lao động thặng dư đến các khu vực phi nông nghiệp Ngay từ khi mới thành lập các công ty dịch vụ lao động đ/ chú trọng việc đào tạo lại nghề cho những người tìm việc, hàng năm các trung tâm đào tạo của Trung Quốc đ/ đào tạo được khoảng 2,06 triệu người Hầu hết các chương trình dạy nghề đều do các công ty dịch vụ quản lý

Giải quyết việc làm cho lực lượng lao động dôi dư và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là 2 vấn đề lớn nhưng không phải mới, mà nước nào cũng

Trang 36

tính tới Đ/ có những nước phát triển doanh nghiệp và và nhỏ, thu hút được nhiều lao động nông nghiệp dôi dư rời bỏ nông thông ra thành thị kiếm sống ngày một đông Nhưng cái mới, cái đáng nói ở Trung Quốc là 2 vấn đề đó đ/

được giải quyết trong điều kiện "Bất ly hương" Dĩ nhiên, để thực hiện "Ly nông bất ly hương" sẽ phải giải quyết nhiều vấn đề khó khăn phức tạp khác Để giải quyết tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn, Nhật Bản đ/ tiến hành:

Cải cách ruộng đất và thực hiện chương trình đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp Chính cải cách ruộng đất đ/ khuyến khích người nông dân đầu tư thêm nhiều lao động vào ruộng đất chính họ sở hữu Để tăng sản lượng, số ngày làm việc bình quân một vụ trên một diện tích gieo trồng được tăng lên Bên cạnh đó thâm canh tăng vụ, hợp lý hoá cơ cấu cây trồng đ/ hạn chế được tình trạng thiếu việc làm theo thời vụ

Các chính sách và chương trình hỗ trợ nông thôn khác như chương trình tưới tiêu, cung cấp tín dụng và trợ giá nông nghiệp, đưa giáo dục nông học vào trường phổ thông, hình thành các trung tâm nghiên cứu và trạm ứng dụng thử nghiệm phục vụ nông dân Những chương trình này đ/ tạo thêm việc làm và thu nhập cho nông dân Nhật Bản Sức mua ở các khu vực nông thôn tăng lên, tạo điều kiện để phát triển kinh tế phi nông nghiệp và công nghiệp, từ đó thu nhập của các hộ nông dân đ/ không ngừng tăng lên

Một nguyên nhân thành công của Nhật Bản trong việc duy trì tỷ lệ thất nghiệp là mở rộng các dịch vụ ngành nghề nông nghiệp, bán lẻ và phân phối trong các lĩnh vực, nền kinh tế thoát khỏi áp lực của di dân và cạnh tranh quốc tế Thái Lan áp dụng mô hình gắn liền chính sách phát triển quốc gia với chính sách phát triển nông thôn thông qua hình thái phát triển xí nghiệp ở làng quê nghèo Phát triển doanh nghiệp nhỏ, mở rộng các trung tâm dạy nghề, đặc biệt là ở nông thôn để giảm bớt quỹ thời gian lao động nhàn rỗi Nhờ hoạt

động của Ban phát triển nông thôn (IBIRD) và tổ chức hiệp hội dân số và phát

Trang 37

triển cộng đồng (PDA) theo mô hình trên, hàng năm Thái Lan giải quyết cho gần 1 triệu lao động có việc làm [19]

2.1.4 Vấn đề định hướng nghề nghiệp và việc làm ở nước ta hiện nay

Trong 10 năm từ 1991 - 2000 thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn của

Đảng, cơ chế chính sách phù hợp của Nhà nước đ/ tạo được sự chuyển biến cơ bản về nhận thức, phương thức tạo mở việc làm, đ/ huy động được mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển và tạo mở việc làm Chương trình, mục tiêu quốc gia

về giải quyết việc làm đ/ được triển khai thực hiện có kết quả với sự quan tâm của các ngành, các cấp và toàn x/ hội Vì vậy đ/ giảm thất nghiệp, tăng việc làm và bước đầu đ/ chuyển đổi cơ cấu và chất lượng lao động theo hướng tích cực [25]

Nhận thức quan niệm về việc làm và chủ trương tạo việc làm cho người lao động đ/ được thay đổi cơ bản, người lao động đ/ đứng vào vị trí trọng tâm, năng động và chủ động tự tạo việc làm cho mình và cho người khác trong các thành phần kinh tế, không thụ động trông chờ vào sự bố trí việc làm của Nhà nước Người sử dụng lao động được khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ tạo mở việc làm Nhà nước tập trung ban hành luật pháp, cơ chế chính sách, tạo môi trường và cơ hội thuận lợi để mọi người tự tạo việc làm cho mình và cho x/ hội

Cùng với việc ban hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật đầu tư nước ngoài, Luật Đất đai, Luật doanh nghiệp Bộ Luật lao động ra đời là xác lập khung pháp luật về quan hệ lao động trong cơ chế thị trường tương đối hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho việc thuê mướn, sử dụng lao động, thúc đẩy quan hệ lao động và thị trường lao động phát triển, mở ra khả năng mới giải phóng tiềm năng lao động và mở việc làm

Nhà nước, các ngành, các cấp đ/ có nhiều cố gắng huy động nguồn vốn

đầu tư phát triển, nhất là nguồn vốn trong nước Tổng nguồn vốn đầu tư toàn x/ hội thực hiện trong 10 năm qua (Theo giá năm 1995) khoảng 63 nghìn tỷ

Trang 38

đồng, tương đương khoảng 57 tỷ USD Nguồn vốn đầu tư này đ/ giữ vai trò chủ đạo trong thực hiện thành công chương trình quốc gia tổng hợp về giải quyết việc làm

Cùng với phát triển kinh tế - x/ hội để giải quyết việc làm, Đảng và Nhà nước ta đ/ có những quyết sách quan trọng, tăng cường hỗ trợ trực tiếp cho người lao động để tạo việc làm và thu nhập Đặc biệt là đ/ dùng ngân sách Nhà nước lập quỹ quốc gia giải quyết việc làm để cho vay vốn l/i suất ưu đ/i, không phải thế chấp, theo dự án nhỏ tạo việc làm, hình thành và phát triển hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm và các cơ sở đào tạo nghề x/ hội

Đ/ phát triển nhiều hình thức, mô hình tổ chức giải quyết việc làm phong phú, đa dạng ở các địa phương, các ngành, các cấp, đơn vị cơ sở với sự tham gia tích cực, chủ động của các tổ chức đoàn thể x/ hội Đ/ xuất hiện những nhân tố quan trọng góp phần tạo nhiều việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động như: Doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh tế gia đình, kinh tế trang trại, chương trình sản xuất hàng tiêu dùng, nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và xuất khẩu hải sản, làng nghề, dịch vụ

Với kinh nghiệm hợp tác quốc tế về lao động, Đảng và Nhà nước đ/ có chủ trương, chính sách và các cơ chế phù hợp về xuất khẩu lao động và chuyên gia Xuất khẩu lao động và chuyên gia đ/ trở thành ngành kinh tế đối ngoại đặc thù, giải quyết việc làm với thu nhập cao và nâng cao trình độ tay nghề, tác phong công nghiệp cho 12 vạn lao động và chuyên gia

Chương trình quốc gia giải quyết việc làm được triển khai thực hiện có kết quả với sự quan tâm của các ngành, các cấp, sự hưởng ứng tích cực của mọi tầng lớp nhân dân, các đoàn thể và bản thân người lao động Quỹ quốc gia giải quyết việc làm được hình thành từ năm 1992, tới nay đ/ có khoảng 2000

tỷ đồng, trong đó: 1350 tỷ đồng từ ngân sách Nhà nước, doanh nghiệp cho vay

4000 tỷ đồng, thu hút 3 triệu lao động, trong đó: 1,4 triệu đồng có việc làm mới và 1,6 triệu người có thêm việc làm Cả nước có khoảng 143 trung tâm

Trang 39

dịch vụ việc làm, hàng năm tư vấn việc làm và tư vấn nghề nghiệp cho 20 vạn người, giới thiệu và cung ứng 8 vạn lao động Triển khai Nghị quyết TW2 (Khoá 8), công tác dạy nghề đ/ một bước chuyển đổi theo hướng gắn chặt với sản xuất và nhu cầu của thị trường lao động [25]

Trong quy hoạch mạng lưới dạy nghề, cả nước tới nay đ/ có 154 trường dạy nghề, 286 trung tâm dạy nghề, 320 Trung tâm HNDN, 143 trung tâm dịch

vụ việc làm và nhiều tổng công ty, doanh nghiệp, trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có dạy nghề Quy mô đào tạo được mở rộng, số học sinh được

đào tạo nghề dài hạn đ/ tăng từ 80.000 (năm 1996) lên 250.000 (năm 2007) chưa kể khoảng nửa triệu người được đào nghề ngắn hạn [25]

Kết quả thực hiện chỉ tiêu giải quyết việc làm:

Từ năm 1991 đến năm 2000, số người có việc làm tăng từ 30,9 triệu lên 40,6 triệu người, tức là tăng 32,2%, bình quân hàng năm tăng khoảng 2,9% Nhìn chung, số chỗ làm việc mới được tạo ra hàng năm có xu hướng gia tăng trong suốt cả thời kỳ Nếu như giai đoạn 1991 - 1995 số việc làm tăng thêm bình quân hàng năm là 863 nghìn người thì trong giai đoạn 1996 - 2000 là 1,2 triệu người

Giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn

Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên liên tục từ 10% năm 1996 lên khoảng 20% năm 2000 (trong đó đ/ qua đào tạo nghề khoảng 13,4%)

Cơ cấu lao động đ/ có chuyển dịch theo hướng tăng lao động cho sản xuất công nghiệp, xây dựng từ 13,6% (năm 1991) lên 16,7% (năm 2000), lao

động trong các ngành dịch vụ từ 13,8% (năm 1991) lên 22% (năm 2000), giảm lao động nông lâm, ngư nghiệp từ 72,6% (năm 1991) xuống còn 63,1% (năm 2000)

Do kết quả của cải cách hành chính và sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, lao động trong khu vực Nhà nước đ/ giảm từ 14,7% (năm 1991) xuống còn 9% (năm 2000) Khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác thu hút khoảng

Trang 40

90% lao động x/ hội Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tuy chỉ mới thu hút

được 33 vạn lao động, song đ/ có vai trò tích cực trong chuyển dịch cơ cấu lao

động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá [25]

Bên cạnh những kết quả đ/ đạt được vẫn còn những mặt yếu kém và bất cập chủ yếu là:

1 Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn còn cao, cơ cấu và chất lượng lao động chuyển dịch còn chậm, năng suất lao động thấp

Sự chuyển biến nhận thức về lao động, việc làm chưa đồng bộ giữa các cấp, các ngành, nhất là trong bố trí chiến lược, kế hoạch và đầu tư

2 Còn thiếu những chính sách đủ mạnh để khuyến khích đầu tư, huy

động mọi nguồn lực, phát triển các thị trường (trong đó có thị trường lao

động) để tăng trưởng kinh té và tạo mở việc làm Chế độ tiền lương, tiền công

và thu nhập chưa thể hiện sự công bằng trong phân phối và tôn vinh lao động sáng tạo trọng dụng nhân tài, chưa trở thành động lực để người lao động toàn tâm, toàn ý với công việc và nâng cao chất lượng lao động

Việc thực hiện chương trình, mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm ở một số địa phương còn lúng túng, việc giải ngân quỹ quốc gia giải quyết việc làm còn chậm, hiệu quả của một số dự án tạo việc làm còn thấp

2.2 Các khái niệm về hiệu quả, kết quả và các tiêu chí để đánh giá

*Khái niệm về hiệu quả

Theo quan niệm của các nhà kinh tế thì hiệu quả có thể được hiểu là phạm trù kinh tế phản ánh của chất lượng của quá trình lao động sản xuất, nó

được xác định bằng cách so sánh kết quả thu được với những chi phí bỏ ra

*Phân loại hiệu quả

Theo yếu tố cấu thành thì người ta phân hiệu quả thành 3 loại:

Hiệu quả kỹ thuật: là khối lượng sản phẩm có thể đạt được trên 1 đơn vị chi phí đầu vào hay 1 nguồn lực được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh

Ngày đăng: 06/12/2013, 17:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tài liệu bồi d−ỡng đảng viên mới – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2005 Khác
2. Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm KTTH - HN, ban hành kèm theo Quyết định số 44/2008/QĐ- BGD&ĐT ban hành ngày 30/7/2008 Khác
3. Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm DN, ban hành kèm theo Quyết định số 776/2001/QĐ-BLĐTBXH ngày 09/8/2001 Khác
4. Văn kiện Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ X Khác
5. Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI 6. Luật Lao động 1994, Luật Giáo dục 2005 Khác
7. Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 09/01/2001 của Chính phủ Khác
8. Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mạng l−ới dạy nghề 2005 - 2010 Khác
9. Thông t− số 01/1999/TT-LĐTBXH quản lý đào tạo nghề ở Trung −ơng và địa phương Khác
10. Nghị quyết số 13/NQ-TU ngày 21/10/2004 Khác
11. Quyết định số 107/2004/QĐ-UB phê duyệt quy hoạch cơ sở dạy nghề Khác
12. Chỉ thị số 33 của Bộ Giáo dục Đào tạo Khác
13. Tô Dũng Tiến (2001), Ph−ơng pháp nghiên cứu, NXB Nông nghiệp Khác
14. Nguyễn Văn Song (2003), Bài giảng kinh tế công cộng, kinh tế tài nguyên môi tr−ờng, NXB Khác
15. Thái Ngọc Tịnh (2002), Những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh, Luận văn tiến sĩ kinh tế Khác
16. Thái Bình thế và lực mới trong thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia, 2007 Khác
17. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2007),Một số chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn, NXB Nông nghiệp Khác
19. Niên giám thống kê 2007. NXB Thống kê Khác
20. Thủ t−ớng Chính Phủ. QĐ Phê duyệt quy hoạch tổng thể KTXH Thái Bình đến năm 2020. 14/11/2006 Khác
22. Từ Điển Kinh tế (1979), NXB Sự thật Hà Nội Khác
23. Từ Điển Tiếng Việt (2000), NXB Đà Nẵng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sự phù hợp nghề [31] - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Hình 1. Sự phù hợp nghề [31] (Trang 16)
Hình 3 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất  lao động [31] - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Hình 3 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động [31] (Trang 18)
Bảng 3.1. Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của tỉnh - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 3.1. Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của tỉnh (Trang 66)
Bảng 3.2. Tình hình phân bổ dân số tỉnh Thái Bình - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 3.2. Tình hình phân bổ dân số tỉnh Thái Bình (Trang 68)
Bảng 3.3. Tình hình trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật của tỉnh - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 3.3. Tình hình trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật của tỉnh (Trang 70)
Bảng 3.4. Kết quả sản xuất kinh doanh một số ngành chính của tỉnh - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 3.4. Kết quả sản xuất kinh doanh một số ngành chính của tỉnh (Trang 72)
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu phát triển ngành chăn nuôi - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu phát triển ngành chăn nuôi (Trang 75)
Bảng 3.8. Số l−ợng mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứu - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 3.8. Số l−ợng mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứu (Trang 87)
Hình 6: Sơ đồ phân bố hệ thống các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Hình 6 Sơ đồ phân bố hệ thống các Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề (Trang 93)
Bảng 4.1. Trích ngang một số mô hình Trung tâm H−ớng nghiệp, dạy nghề tỉnh Thái - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 4.1. Trích ngang một số mô hình Trung tâm H−ớng nghiệp, dạy nghề tỉnh Thái (Trang 96)
Bảng 4.3. Tình hình đầu t− về cơ sở vật chất của các Trung tâm HNDN  Thái Bình - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 4.3. Tình hình đầu t− về cơ sở vật chất của các Trung tâm HNDN Thái Bình (Trang 99)
Bảng 4.7. Kết quả đào tạo nâng cao tay nghề của các Trung tâm HNDN - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 4.7. Kết quả đào tạo nâng cao tay nghề của các Trung tâm HNDN (Trang 103)
Bảng 4.9. Kết quả số người lao động tìm được việc làm ổn định lâu dài / tổng số người - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 4.9. Kết quả số người lao động tìm được việc làm ổn định lâu dài / tổng số người (Trang 105)
Bảng 4.16. Kết quả điều tra trình độ tin học, ngoại ngữ giáo viên của 8 Trung tâm - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 4.16. Kết quả điều tra trình độ tin học, ngoại ngữ giáo viên của 8 Trung tâm (Trang 113)
Bảng 4.17. Kết quả điều tra ý kiến của các công ty, xí nghiệp - Đánh giá kết quả hoạt động của các trung tâm hường nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở tỉnh thái bình
Bảng 4.17. Kết quả điều tra ý kiến của các công ty, xí nghiệp (Trang 116)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w