Luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
DƯƠNG THỊ THẢO CHINH
NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT
SỐ GIỐNG ðỊA LAN TRỒNG CHẬU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ, PHÂN BÓN QUA LÁ ðẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT HOA ðỊA LAN
TẠI SAPA - LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ QUANG SÁNG
HÀ NỘI, 2008
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Dương Thị Thảo Chinh
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Quang Sáng ñã tận tình giúp ñỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo Khoa Sau ðại học; Khoa Nông học, ñặc biệt là thạc sỹ ðinh Thi Thu Hà ñã giúp
ñỡ và tạo mọi ñiều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñối với cha mẹ, bạn
bè, ñồng nghiệp và bà con nông dân nơi tôi tiến hành thực hiện ñề tài
ñã luôn ñộng viên, giúp ñỡ rất nhiều cả về tinh thần và vật chất cho tôi hoàn thành chương trình học tập và luận văn tốt nghiệp.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả luận văn Dương Thị Thảo Chinh
Trang 42.2 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới và Việt Nam 30
3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 36
4.1 ðặc ñiểm sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng của một
số giống hoa ñịa lan trồng chậu tại Sapa - Lào Cai 424.1.1 ðặc ñiểm ra lá của một số giống ñịa lan trồng chậu tại Sapa - Lào
Cai 42
4.1.2 Diện tích lá của một số giống ñịa lan trồng chậu tại Sapa - Lào Cai 44 4.1.3 ðặc ñiểm hình thái và mầu sắc lá, thân, hoa của một số giống ñịa
4.1.4 ðặc ñiểm sinh trưởng, ñường kính thân của một số giống ñịa lan
Trang 54.1.5 ðặc ñiểm ra hoa và sinh trưởng phát triển hoa của một số giống
4.1.6 ðộ bền và thời gian nở hoa của một số giống ñịa lan trồng chậu
4.1.7 Nghiên cứu diễn biến tình hình sâu bệnh hại trên một số giống
4.2 ảnh hưởng của một số phân bón lá ñến sinh trưởng phát triển và
năng suất, chất lượng hoa ñịa lan Trần Mộng trồng chậu tại Sapa
4.2.3 ảnh hưởng của phân bón lá ñến ñộng thái tăng trưởng ñường kính
thân của cây ñịa lan giống Trần Mộng trồng chậu 604.2.4 ảnh hưởng của phân bón lá ñến sự ra hoa và sinh trưởng phát
triển hoa của cây ñịa lan giống Trần Mộng trồng chậu 624.2.5 ảnh hưởng của phân bón lá ñến thời gian nở hoa và ñộ bền hoa của
4.2.6 ảnh hưởng của phân bón lá ñến diễn biến thành phần sâu bệnh hại
trên cây ñịa lan giống Trần Mộng trồng chậu 664.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể ñến sự sinh trưởng phát triển,
năng suất, chất lượng hoa ñịa lan giống Trần Mộng trồng chậu tại
4.3.1 ảnh hưởng của giá thể ñến sự ra lá cây ñịa lan giống Trần Mộng
4.3.2 ảnh hưởng của giá thể ñến diện tích lá của cây ñịa lan giống Trần
Trang 64.3.3 ảnh hưởng của giá thể ñến ñộng thái tăng trưởng ñường kính thân
của cây ñịa lan giống Trần Mộng trồng chậu 704.3.4 ảnh hưởng của giá thể ñến sự ra hoa và sinh trưởng phát triển hoa
4.2.5 ảnh hưởng của giá thể ñến thời gian nở hoa và ñộ bền hoa của
4.2.6 ảnh hưởng của giá thể ñến diễn biến thành phần sâu bệnh hại trên
4.4 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá và giá thể trồng
trong sản xuất hoa ñịa lan giống Trần Mộng trồng chậu 79
Trang 84.3 Đặc điểm hình thái và mầu sắc lá, thân, hoa của một số
giống địa lan trồng chậu tại Sapa - Lào Cai 454.4 Động thái tăng trưởng đường kính thân của một số giống địa
4.5 a Sự ra hoa và sinh trưởng phát triển hoa của một số giống địa
4.5b Sự ra hoa và chất lượng hoa của một số giống địa lan trồng
4.6 Độ bền và thời gian nở hoa của một số giống địa lan 534.7a Thành phần bệnh hại chủ yếu trên một số giống địa lan trồng
4.7b Thành phần sâu hại chủ yếu trên một số giống địa lan trồng
4.8 ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra lá của cây địa
4.9 ảnh hưởng của phân bón lá đến diện tích lá của cây địa lan
4.10 ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái tăng trưởng đường
kính thân của cây địa lan giống Trần Mộng trồng chậu 604.11a ảnh hưởng của phân bón lá đến sự ra hoa và sinh trưởng
phát triển hoa của cây địa lan giống Trần Mộng trồng chậu 62
Trang 94.11b ảnh hưởng của phân bón lá đến sự ra hoa và chất lượng hoa
địa lan giống Trần Mộng trồng chậu tại Sapa - Lào Cai 634.12 ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian nở hoa và độ bền
hoa của cây địa lan giống Trần Mộng trồng chậu 654.13 ảnh hưởng của phân bón lá đến diễn biến thành phần sâu
bệnh hại chủ yếu trên cây địa lan giống Trần Mộng trồng
4.16 ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng đường kính
thân của cây địa lan giống Trần Mộng trồng chậu 704.17a ảnh hưởng của giá thể đến sự ra hoa và sinh trưởng phát
triển hoa cây địa lan giống Trần Mộng trồng chậu 734.17b ảnh hưởng của giá thể đến sự ra hoa và chất lượng hoa cây
4.18 ảnh hưởng của giá thể đến thời gian nở hoa và độ bền hoa
4.19 ảnh hưởng của giá thể đến diễn biến thành phần sâu bệnh
hại trên cây địa lan giống Trần Mộng trồng chậu 784.20a Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá cho hoa địa
4.20b Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các loại giá thể trồng hoa
Trang 10DANH MỤC HÌNH
4.1 ðộng thái ra lá của một số giống ñịa lan trồng chậu tại Sapa
4.2 ðộng thái tăng trưởng ñường kính thân của một số giống ñịa
4.3 Chiều dài nụ hoa của một số giống ñịa lan trồng chậu tại
4.4 ảnh hưởng của phân bón lá ñến ñộng thái ra lá của cây ñịa
4.5 ảnh hưởng của phân bón lá ñến ñộng thái tăng trưởng ñường
kính thân của cây ñịa lan giống Trần Mộng trồng chậu 61 4.6 ảnh hưởng của phân bón lá ñến chiều dài ngồng hoa của cây
4.7 ảnh hưởng của giá thể ñến ñộng thái ra lá của cây ñịa lan
4.8 ảnh hưởng của giá thể ñến ñộng thái tăng trưởng ñường kính
thân của cây ñịa lan giống Trần Mộng trồng chậu 71 4.9 ảnh hưởng của giá thể ñến chiều dài ngồng hoa cây ñịa lan
4.10 ảnh hưởng của giá thể ñến chiều dài nụ hoa cây ñịa lan
Trang 111 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Trong muôn ngàn loài hoa ñua hương khoe sắc mà thượng ñế ñã ban cho loài người chúng ta, hoa lan ñược người Á Châu liệt vào hàng “vương giả”, có
vẻ ñẹp quyến rũ ñến mê hồn ñược thể hiện từ cấu trúc kiêu kỳ, phức tạp, những trạm trổ hết sức tinh vi của cánh hoa ñến những ñường nét “phong ñộ” mà “quý phái” của bộ rễ, thân và lá, ñặc biệt là hương thơm tao nhã Mặt khác, hoa lan còn có ñặc tính bền, tươi lâu, dễ bảo quản Chính vì vậy, hoa lan không chỉ chiếm ưu thế trong ñời sống tinh thần của con người mà chúng còn trở thành một mặt hàng mang lại nguồn thu lớn cho ngành nông nghiệp
Hoa lan thực sự ñã trở thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, thúc ñẩy ngành sản xuất kinh doanh phát triển mạnh mẽ ðặc biệt là các nước thuộc châu Á nhiệt ñới như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia… Trong ñó, Thái Lan có kim ngạch xuất khẩu hoa lan cắt cành năm 1987 là 21 triệu USD, năm 1990 là 26 triệu USD, năm 1991 là 30 triệu USD Singapore thu lợi nhuận từ lan cắt cành mỗi năm 10 triệu USD Kim ngạch xuất khẩu hoa lan trên thế giới hàng năm ñạt 1,8 tỷ USD (Phan Thúc Huân, 1989) [13]
Hiện nay, nghiên cứu về khoa học ở nước ta chủ yếu tập trung nghiên cứu nhân nhanh các giống hoa lan nhiệt ñới Kỹ thuật nuôi trồng trên quy mô công nghiệp hầu như còn ít, chưa có nhiều nghiên cứu về kỹ thuật trồng, chọn lọc loài lan rừng thích hợp với ñiều kiện khí hậu Sapa nói riêng và miền Bắc nói chung ðể phát triển lâu dài bền vững thì các chủng loại lan rừng Việt Nam cần ñược nghiên cứu nhằm bảo tồn nguồn gen ñể phục vụ cho việc lai tạo lan trong tương lai, tạo ra những loài lan ñặc hữu chỉ có ở Việt Nam Mặt khác, cần hoàn thiện nhanh chóng qui trình nuôi trồng lan công nghiệp nhằm ñáp ứng thị trường trong nước cũng như dần hướng tới thị trường xuất khẩu
Trang 12(Nguyễn Thiện Tịch, 1996) [23]
Ở nước ta có nhiều vùng trồng hoa qui mô lớn, nổi tiếng và giàu kinh nghiệm là đà Lạt (Lâm đồng), Vĩnh Tuy, Nhật Tân, đông Anh, Ngọc Hà (Hà Nội), Mê Linh (Vĩnh Phúc), đằng Hải (Hải Phòng), Gò Vấp (Thành phố Hồ Chắ Minh), Sapa (Lào Cai), Nam Phong (Nam định) Diện tắch trồng hoa trên cả nước tắnh ựến nay khoảng 4000 ha sau Ấn độ, Trung Quốc và Thái LanẦTuy nhiên, sản xuất hoa ở Việt Nam còn nhiều hạn chế do khắ hậu ắt thuận lợi, công nghệ sản xuất lạc hậu và thị trường nhỏ ựặc biệt là thị trường xuất khẩu
Sapa cũng như các vùng khác chủ yếu sản xuất hoa dựa vào kinh nghiệm
là chắnh Công nghệ sản xuất còn thiếu tắnh ựồng bộ, diện tắch trong nhà có mái che còn thấp nên chất lượng hoa cắt không cao, nhiều loại hoa chưa thể trồng trái
vụ nên chưa ựáp ứng ựược nhu cầu hoa cắt thường xuyên Bên cạnh ựó, ựầu tư cho KHKT chưa nhiều, chưa có các giống chủ lực và cơ sở nhân giống ựủ ựiều kiện phục vụ sản xuất hàng hoá, phần lớn vẫn phải nhập giống từ nước ngoài Vì vậy, sản xuất bị ựộng, giá thành sản xuất cao Hơn nữa sản phẩm chưa có nhãn mác, thương hiệu, vì thế hoa chưa có thị trường xuất khẩu mặc dù Lào Cai là tỉnh có cửa khẩu thông thương với Trung Quốc
địa lan là một loài lan quý có giá trị thương mại cao, có khả năng thắch ứng tốt với khắ hậu miền Bắc - Việt Nam để có cơ sở chắc chắn trước khi phát triển giống địa Lan cao cấp, tiến tới mở rộng vùng sản xuất và tạo thương hiệu riêng cho hoa lan của Sapa - Lào Cai Vì vậy, việc nghiên cứu xác ựịnh giống tốt ựạt chất lượng và kỹ thuật canh tác phù hợp là việc làm cần thiết và cấp bách
Xuất phát từ thực tế trên cũng như góp phần phát triển ngành nuôi trồng hoa lan ở Sapa - Lào Cai, giúp cho người trồng lan có ựược quy trình,
kỹ thuật chăm sóc lan nhằm phát triển ngành trồng hoa lan theo hướng công
nghiệp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ựề tài: ỘNghiên cứu ựặc ựiểm sinh
trưởng, phát triển của một số giống ựịa lan trồng chậu và ảnh hưởng của
Trang 13giá thể, phân bón qua lá ñến hiệu quả sản xuất hoa ñịa lan tại Sapa - Lào Cai”
Trang 141.2 Mục ựắch, yêu cầu
1.2.1 Mục ựắch
đánh giá ựặc ựiểm sinh trưởng, ra hoa của một số giống ựịa lan và xác ựịnh hiệu quả sử dụng phân bón lá, giá thể thắch hợp nhằm góp phần xây dựng quy trình thâm canh cây ựịa lan mang lại hiệu quả kinh tế cao trồng tại Sapa - Lào Cai
kỹ thuật canh tác cần thiết ựể nâng cao năng suất và chất lượng hoa
+ Kết quả nghiên cứu của ựề tài góp phần bổ sung thêm tài liệu khoa học phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học về hoa ựịa lan trồng tại Sapa - Lào Cai
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật trồng ựịa lan tại Sapa - Lào Cai, cung cấp thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc xây dựng vùng sản xuất hoa hàng hoá có thương hiệu riêng và hiệu quả kinh tế cao cho tỉnh Lào Cai
Trang 152 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về cây hoa lan
2.1.1 Nguồn gốc, vị trắ, phân loại và ựặc ựiểm thực vật của cây hoa lan
2.1.1.1 Ngu ồn gốc lịch sử
Theo các tác giả Trần Hợp (1990) [11], Nguyễn Tiến Bân (1997) [2],
Võ Văn Chi - Dương đức Tiến (1978) [3], Phạm Hoàng Hộ (2000) [9],
Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991) [4] cây lan Orchida thuộc họ phong lan Orchidaceae, bộ lan Orchidales, lớp một lá mầm Monoctyledoneae Cây lan ựược biết ựến ựầu tiên ở Phương đông Hoa lan ựược biết ựến vào khoảng 2500 năm về trước (Thời ựại của đức Khổng Tử, 551- 479 trước công nguyên) Ở Phương đông, lan ựược chú ý ựến vì vẻ ựẹp duyên dáng của lá, hương thơm tuyệt vời của hoa Khổng Tử ựề cao lan là Vua của những loài cỏ cây có hương thơm
Hoa lan thường mọc ở các vùng nhiệt ựới, ựã ựược các thuỷ thủ, các lái buôn, nhà truyền giáoẦ mang về nên người châu Âu biết ựến rất muộn, lan ựược chú ý trước hết ựể làm thuốc chữa bệnh Ở ựây người ta ựã tiến hành nghiên cứu rất công phu tỉ mỉ về lan Có thể nói Theophara stus là cha ựẻ
ngành học về lan và ông cũng là người ựầu tiên dùng từ Orchid ựể chỉ một
loài lan có củ tròn Sau ựó Robut Bron (1773 - 1858) là người ựầu tiên ựã phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác [10] Người ựặt nền tảng hiện ựại cho môn học về lan là John Lindley (1799 - 1865) Năm 1836 ông công bố,
sắp xếp các tông họ lan (A tabuler view of the tribes of orchidaler) Tên của
họ lan do ông ựưa ra ựược dùng cho ựến ngày nay [10]
Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan thời kỳ ựầu không rõ rệt, có lẽ người ựầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - Nhà truyền giáo người Bồ đào Nha, ông ựã mô tả cây lan ở Việt Nam lần ựầu tiên vào năm 1789 trong cuốn ỘFlora cochin chinensisỢ, gọi tên các cây lan trong
Trang 16cuộc hành trình ựến nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium
mà ựã ựược Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn ỘGenera planterumỢ (1862
- 1883) [9] Chỉ sau khi người Pháp ựến Việt Nam mới có những công trình nghiên cứu ựược công bố ựáng kể là F Gagnepain và A Gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước đông Dương trong bộ ỘThực vật đông Dương chắỢ do H Lecomte chủ biên, xuất bản năm 1932 - 1934 [15]
Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ (1972), ựã mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan gặp ở Nam Việt Nam trong bộ ỘCây cỏ Việt NamỢ (quyển II )
Sau năm 1975 các nhà khảo cứu Việt Nam, Liên Xô, Tiệp Khắc bắt ựầu tìm kiếm và nghiên cứu về những giống lan tại Việt Nam
Năm 1992, tác giả Gunnar Seidenfaden người đan Mạch ựã phát hành cuốn ỘHoa Lan tại đông dươngỢ gồm 200 giống và 2000 loài, trong ựó có khoảng 136 giống và 720 loài của Việt Nam
đến năm 1993, tác giả Phạm Hoàng Hộ [9] cho rằng, ở Việt Nam có tới
755 loài lan
Gần ựây nhất tác giả Leonid Averyanov (người Nga) và các tác giả Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Dương đức Huyến ựã lần lượt công bố trên
tờ nguyệt san Orchids của Hội hoa lan Hoa Kỳ những khám phá mới lạ ựã
phát hiện thấy 4 loài lan ở Việt Nam chưa ựược biết ựến ựó là Paphio pledilum helenae, Renamthera citrina, Paphiopedilum hiepii và Vanda bidupensis
2.1.1.2 V ị trắ phân bố
Cây hoa lan mọc ở khắp mọi nơi trên thế giới, từ miền gió tuyết ựến
sa mạc nóng bỏng khô cằn, từ miền núi cao rừng thẳm ựến ựồng cỏ của miền bình nguyên và ngay cả các vùng sình lầy cũng có lan đa số lan mọc tập trung ở các rừng cây nhiệt ựới, ở các nước Châu Á như Thái Lan, Lào, Cam
Pu Chia, Việt NamẦ có Dendrobium, Vanda, Phalaenopsis, Archinis, Renanthera, ở Châu Nam Mỹ như Costarica, Venezuela, ColombiaẦ có các
Trang 17giống Cattleya, Odontoglosum, Miltonia…
Theo Briger (1971), vùng trung sinh Bắc bán cầu có 75 chi và 900 loài, vùng trung sinh Nam bán cầu có 40 chi và 500 loài, Châu Âu có 120 loài, Bắc
Mỹ có 170 loài Họ lan (Orchidaceac) thuộc vào một loài hoa ñông ñảo với
khoảng chừng 750 chi và 30.000 loài nguyên thủy và khoảng một triệu loài
lan; loài hoa có số lượng lớn ñứng thứ 2 sau họ cúc (Asteraceac)
Theo Presley (1981) thì vùng Châu Á nhiệt ñới có 250 chi và 6.800
loài trong ñó chi Dendrobium có 1.400 loài, chi Coelogyne có 200 loài, chi Phalaenopsis có 35 loài, chi Vanda có 60 loài, vùng châu Mỹ nhiệt ñới có 306 chi và 8.266 loài, chi Cattleya có 60 loài, chi Epidendrum có 500 loài, chi Odontoglossum có 200 loài Vùng Châu Mỹ nhiệt ñới có 306 chi và 8.266 loài Trên thế giới có một số nước tập trung nhiều loài hoa như Colombia có 1.300 loài và Tân Ghinê có 1.450 loài, (Phan Thúc Huân, 1989) [13]
Khảo sát sơ bộ ở Việt Nam, chi Dendrobium có khoảng 89 loài, Paphiopedilum có 25 loài, Aerides có 5 loài, chi Cymbidium có 20 loài, chi Phalaenopsis có 7- 8 loài…
2.1.1.3 Phân lo ại hoa lan
Theo các tác giả Trần Hợp (1990) [11], Nguyễn Tiến Bân (1997) [2],
Vô Văn Chi - Dương ðức Tiến 1978 [3], Phạm Hoàng Hộ (1992) [9], Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991) [4] và Koopowitz (1986) [34], cây hoa
lan thuộc họ lan (Orchidaceae), ở trong lớp ñơn tử diệp, lớp 1 lá mầm (Monocotyledoneae), thuộc ngành ngọc lan - thực vật hạt kín Magnolio phyta, phân lớp hành Lilidae, bộ lan Orchidales
Theo tác giả Takhtajan (1980), họ lan bao gồm cả họ Apostasicideae và
họ Cypripedicideae chia thành 3 họ phụ gồm:
1 Orchidadeae
2 Cypripedicideae
3 Apostasicideae
Trang 18Trong ñó họ phụ lan (Orchidadeae) là phức tạp nhất, có nhiều giống
nhiều loại nhất, hai họ phụ kia mỗi loại chỉ có một tông, (Phan Thúc Huân, 1989) [13]
Gần ñây, do phân tích hoa ñầy ñủ hơn và ñi sâu vào ñặc tính di truyền, các nhà khoa học ñã chia họ lan thành 6 họ phụ:
có khoá phân loại cho các ñơn vị dưới loài, trong khi ñó việc phân loại cho các ñơn vị dưới loài hết sức quan trọng, nhất là trong công tác chọn giống cây trồng (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) [19], ñối với họ lan cũng gặp những khó khăn này
2.1.1.4 ðặc ñiểm thực vật của cây hoa lan
Thân cây họ lan: cây lan sống ở những nơi hoang dã, ở các ñịa ñiểm rất
khác nhau, ñiều kiện môi trường rất khác nhau như các sườn núi cao giá lạnh, trên cây cao gió thốc hoặc ẩm ướt tối tăm ven suối trong rừng rậm , cấu trúc
loài lan cũng ña dạng ñể thích nghi Thân các loài lan có 2 kiểu tiêu biểu nhất là:
Lan ña thân: Các chi lan Kiếm (Cymbidium), lan Hài
Trang 19(Paphiopedilum), lan Vũ nữ (Oncidium), Cát lan (Cattleya), lan Hoàng thảo (Dendrobium) thuộc vào kiểu lan ña thân
Thông thường, phần của cây lan nhìn thấy ñược chỉ có lá, hoa và cuống Chúng ñược mọc nên từ một ñoạn phình to, giống như củ hành nên người ta gọi là giả hành
Giả hành có thể nhỏ như lan Kiếm hoặc khá to như lan Bầu rượu
(Catlanthe), ngắn hình thoi như lan Hoàng thảo vẩy rồng, nhưng có loài khá
dài như lan Hoàng thảo phi ñiệp (dài tới 1m)
Việc tách bụi của lan ña thân là việc cắt thân rễ (căn hành), cắt ở vị trí nào ta cần tính toán sao cho mỗi bụi ñều có ñủ sức ñể phát triển mạnh, thường nên ñể mỗi có khoảng 3 giả hành
Lan ñơn thân: Các chi lan Vanda, Hồ ñiệp, Phượng vĩ, Ngọc ñiểm (Rhychostylis) thuộc kiểu lan ñơn thân Thân các loài lan ñơn thân luôn mọc
cao nên phía ngọn, phát triển theo chiều thẳng ñứng Sự phát triển chỉ ngừng khi ñỉnh ngọn bị thương tổn, chồi bên sẽ xé rách bọc lá ñể mọc thành thân nhánh và cũng vươn cao nên phía ñỉnh
Khi thân các loài lan ñơn thân vươn cao dễ bị ñổ nghiêng ngả, có loài
rễ gió (rễ khí) mọc theo thân bám chặt vào các cành cây hay bất cứ vật nào chúng gặp phải ñể giữ cho cây luôn ñược thẳng ñứng
Rễ lan: ña số rễ của các loài lan có lớp mô xốp bao quanh rễ thật Rễ của
phong lan có lớp mô xốp màu trắng ngà với nhiều công dụng khác nhau: bảo vệ nguồn dẫn nước bên trong của rễ; hút nước và các muối khoáng bám trên mặt rễ
và hấp thụ cả hơi nước trong không khí ẩm Chúng còn có khả năng bám chặt vào các vật mà chúng tiếp xúc Ruột rễ của các loài lan là một sợi rất chắc và khá dai như sợi cước, chính vì thế rễ lan bảo ñảm ñược cho cây lan có thể bám trên ngọn cây cao, ở các sườn non chót vót không bị gió mạnh cuốn ñi
Trang 20Miền chóp của rễ có chứa chất màu lục nên rễ cũng làm một phần chức năng quang hợp cho cây
Các sợi rễ không bấu víu vào các vật xung quanh nên chúng có thể hút sương sớm chiều và làm chức năng quang hợp Rễ có hình trụ nhưng khi bám vào các vật cứng rễ bị bẹp ñi trên vết bám
Nói chung rễ của các loài lan dù phát triển thành nhánh cấp I, cấp II, có khi cấp III nhưng không có rễ tóc nhỏ li ti như của các loài thực vật khác Nếu tính về diện tích bề mặt của cả bộ rễ một cây lan thì quá nhỏ so với bề mặt rễ của các loài thực vật khác
Lá lan: lá của họ lan có hình dáng và kích thước rất khác nhau Có loài
lan lá rụng vào mùa khô hanh ñể giảm bớt sự thoát hơi nước ða số lá của các loài lan ñều bền vững nhiều năm liền Người ta thường ñếm số lá trên ngọn lan ðai châu ñể xác ñịnh tuổi vì mỗi năm trung bình cây lan chỉ mọc thêm ñược một ñến hai lá
Lá của nhiều loại lan rất dai, dày dặn, rất chắc có thể trữ ñược nước và các chất dinh dưỡng Lá của các loài lan mọc ở 2 phía của thân cây
Lá của lan kiếm mọc trên cây thường dày và cứng hơn mọc dưới ñất vì chúng phải lưu trữ nước và dinh dưỡng
Lá và rễ của loài lan ñơn thân thường mọc vuông góc với nhau ở cùng một ñốt trên thân như lan Vanda, Bò cạp, Phượng vĩ Tuy vậy lá của lan ðai châu lại mọc từ kẽ lá
Hoa lan: hoa của tất cả các loài trong họ lan dù rất khác nhau về kích
thước màu sắc và hình dáng nhưng chúng ñược cấu tạo theo cùng một khuôn mẫu: Hoa lan có 7 bộ phận gồm: 3 cánh ñài bên ngoài, 3 cánh hoa và trụ của bông hoa ðoạn cuống tiếp giáp bông hoa, lá bầu hoa có 3 tâm bì chính là 3 ô của quả lan chứa ñầy các hạt nhỏ li ti gọi là tiểu noãn
Trang 21Cánh ñài: bộ phận bên ngoài của hoa là 3 cánh ñài, bảo vệ hoa khi còn
là nụ ðây là nét ñộc ñáo của hoa lan ðại ña số hoa lan có 3 cánh ñài hoàn toàn giống nhau Hoa lan Vanda có 3 cánh ñài to và ñẹp hơn cánh hoa, ngược lại ở một số loài lan như lan Hài có 2 cánh kém phát triển và dính liền vào nhau
Cánh hoa: cánh hoa là bộ phận quan trọng nhất ñể tạo ra vẻ ñẹp quyến rũ của hoa lan Hai cánh hoa trên giống nhau hoàn toàn về màu sắc
Tr ụ hoa: giữa bông hoa có một cái trụ Trụ hoa có chứa cả nhụy hoa và
nhị hoa, có loài lan hài có 2 nhị ðầu trụ là một nắp chứa phấn hoa Khác với các loài hoa khác, hạt phấn hoa ñược kết với nhau bằng một chất sáp tạo thành những viên gọi là phấn khối Do ñặc tính phấn hoa lan nên ở một số nước như Hàn Quốc người ta cho trồng hoa lan trong bệnh viện và cho mang hoa lan vào thăm bệnh nhân Số lượng phấn khối có thể là 2, 4, 6, 8 tùy loài hoa Cát lan và Laelia rất giống nhau về tất cả các mặt nhưng khác nhau về số phấn khối Cát lan có 4 phấn khối còn Laelia có 8 Phía dưới nắp là một ñiểm trũng bóng, nếu lấy ñầu que diêm chấm vào ñiểm ñó ta sẽ thấy có một chất
Trang 22nhầy và dính ðây chính là ñầu nhụy nơi tiếp nhận phấn
B ầu hoa: khi phấn khối rơi vào ñầu nhụy tạo ra sự thụ phấn Hoa sẽ
héo ñi nhanh chóng, bầu hoa phình rộng ra thành quả lan Trong mỗi quả có rất nhiều hạt (hàng vạn, hàng triệu tùy loại) Sau vài tháng hoặc lâu hơn, quả lan sẽ chín và nứt dọc theo 3 khe của 3 ô Các hạt lan có thể bị gió cuốn ñi rất
xa Hạt lan không chứa chất dinh dưỡng như những loài thực vật khác nên chúng không thể mọc thành cây lan con ñược nhưng chúng vẫn sinh sôi nảy
nở và phát triển vì chúng có những hạt ñã gặp ñược loài nấm cộng sinh hỗ trợ các chất dinh dưỡng ñể cây lan con lớn dần tới khi bộ rễ phát triển ñể có thể
tự nuôi sống
Họ lan ñược xếp vào ñỉnh cao của mức ñộ tiến hóa trong các họ cây có hoa Kết luận này dựa vào sự hoàn chỉnh của cấu trúc hoa lan tạo cho sự thụ phấn bằng côn trùng ñược thuận lợi nhất Nếu thụ phấn chỉ do phấn của bông hoa rơi trên ñầu nhụy của chính bông hoa ñó thì loài hoa này nhanh chóng bị thoái hóa hơn Phấn của hoa lan ñược kết dính nên không dễ dàng rơi xuống ñầu nhụy dù gió có lay mạnh bông hoa
Khi hoa còn là nụ, nụ có thể là nghiêng hay dựng ñứng ở các vị trí khác nhau Nhưng khi hoa nở cuống sẽ uốn cong có khi tới 1800 làm cho môi hoa lằm ngang, tạo thành nơi ñậu cho côn trùng, có khi là cái bẫy giữ côn trùng
Màu sắc rực rỡ, hương thơm quyến rũ hấp dẫn các loài côn trùng ñến hút mật và mang phấn khối của hoa này ñến ñầu nhụy của hoa kia Hiện tượng này làm giảm sự thoái hóa của họ lan nhưng ñồng thời hình thành nên loài lan lai tự nhiên Ví dụ như lan Cẩm báo là loại lan lai tự nhiên của lan Hồ ñiệp và lan Vanda
Quả lan: quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 - 6 ñường nứt dọc
Có dạng từ quả cải dài ñến dạng hình trụ ngắn, phình ở giữa Khi chín, quả nở
ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía ñỉnh và phía gốc ở một số loài khi
Trang 23quả chín nứt theo 1 - 2 khía dọc, thậm chí không nứt ra mà hạt chỉ ra khỏi vỏ khi vỏ này bị mục nát [2]
Hạt lan: hạt lan rất nhiều, nhỏ li ti Hạt chỉ cấu tạo bởi một khối chưa
phân hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa ñầy không khí, sau 2 - 18 tháng hạt mới chín Phần lớn hạt thường chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết ñể nảy mầm do ñó hạt nhiều, nhẹ có thể theo gió bay phát tán rất rộng nhưng hạt nảy mầm thành cây rất hiếm Chỉ trong những khu rừng già ẩm ướt vùng nhiệt ñới mới ñủ ñiều kiện cho hạt lan nảy mầm Khối lượng toàn bộ hạt trong 1 quả chỉ bằng 1/10 - 1/000 mg, trong ñó không khí chiếm xấp xỉ 76 - 96% thể tích hạt
2.1.2 Yêu cầu về ñiều kiện môi trường sinh thái của cây hoa lan
2.1.2.1 Yêu c ầu về nhiệt ñộ
Nếu như ẩm ñộ quyết ñịnh sự xuất hiện của các loài lan thì nhiệt ñộ quyết ñịnh sự phân bố các loài lan ấy trên thế giới Căn cứ vào ñiều kiện ñịa
lý, người ta chia lan làm 3 nhóm khác nhau:
Lan vùng l ạnh: phân bố từ vĩ tuyến 28 - 400, các loại lan này không cần nuôi dưỡng trong nhà kính
Lan vùng nóng: phân bồ từ vĩ tuyến 12 - 150, nhiệt ñộ trung bình từ 24 -
250, biến ñộng từ 18 - 400
Lan vùng trung gian: phân bố từ vĩ tuyến 15 - 280, vùng này có nhiệt ñộ xấp xỉ 90C vào tháng giêng và xấp xỉ 320C vào tháng 7
Căn cứ vào nhu cầu nhiệt ñộ của lan, người ta chia làm 3 nhóm:
Nhóm lan ưa nóng: bao gồm những loài lan chịu nhiệt ñộ ban ngày
không dưới 210C, ban ñêm không dưới 18,50C Những loại lan này thường có nguốn gốc ở vùng nhiệt ñới
Nhóm lan ưa nhiệt ñộ trung bình: bao gồm những loài lan chịu nhiệt ñộ
ban ngày không dưới 14,50C, ban ñêm không dưới 13,50C
Nhóm lan ưa lạnh: bao gồm những loài lan chịu nhiệt ñộ ban ngày
không quá 140C, ban ñêm không quá 130C Chúng thường xuất xứ ở vùng hàn
Trang 24ñới, ôn ñới và các khu vực núi cao vùng nhiệt ñới
Nhiệt ñộ ảnh hưởng ñến hoạt ñộng quang hợp và hô hấp của cây Ở ñiều kiện nhiệt ñộ tối thích, hoạt ñộng quang hợp và hô hấp của lan diễn ra thuận lợi, cây sinh trưởng, phát triển bình thường Ví dụ lan Hồ ñiệp, nhiệt ñộ
lý tưởng vào ban ngày là 22 - 250C, vào ban ñêm 180C [39] Nhiệt ñộ cũng ảnh hưởng ñến sự ra hoa của một số loài lan ở loài Paphiopedilum insigne và
Dendrobium nobile chỉ ra hoa khi nhiệt ñộ hạ xuống 130C hoặc thấp hơn Nếu nhiệt ñộ cao nó chỉ sinh trưởng sinh dưỡng Lan Hồ ñiệp chỉ ra hoa khi nhiệt
ñộ ban ñêm giảm xuống dưới 210C [40]
2.1.2.2 Yêu c ầu về ánh sáng
Ánh sáng là ñiều kiện rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển thông qua quá trình quang hợp và hô hấp Nhu cầu về ánh sáng của các loài lan là rất khác nhau Vanda lá tròn, Arachinis, Renanthera yêu cầu 100% ánh sáng tự nhiên, tức là khoảng 40000 lux Dendrobium yêu cầu 70% ánh sáng
tự nhiên, khoảng 15000 - 30000 lux Trong khi ñó lan Hồ ñiệp (Phalaenopsis)
nhu cầu chỉ là 30% ánh sáng tự nhiên, khoảng 5000 - 14000 lux [27] Cường
ñộ quang hợp gia tăng cùng với cường ñộ ánh sáng Tuy nhiên, khi cường ñộ ánh sáng vượt quá một trị số giới hạn nào ñó thì cường ñộ quang hợp không tăng lên nữa và có thể giảm do quá trình quang hô hấp Vì vậy, cần thiết kế vườn lan và hệ thống lưới che sao cho phù hợp với từng loài lan cụ thể Dựa vào nhu cầu ánh sáng của từng loài lan mà người ta chia ra làm 3 nhóm:
Nhóm lan ưa ánh sáng mạnh: Cần ánh sáng nhiều ≈ 100% ánh sáng trực tiếp như các loài Vanda, Renanthera, Cattleya
Nhóm lan ưa ánh sáng yếu: bao gồm các loài có nhu cầu ánh sáng
khoảng 30 - 40% như Phalaenopsis, Paphiopedilum
Nhóm lan ưa ánh sáng trung bình: bao gồm các loài có nhu cầu ánh
sáng khoảng 50 - 80% như các loài Dendrobium, Cymbidium
Ánh sáng ảnh hưởng ñến khả năng phân hoá mầm hoa và ra hoa của
Trang 25một số loài lan Hầu hết các loài thuộc chi Cattleya, Dendrobium nếu thiếu ánh sáng cây không ra hoa
2.1.2.3 Yêu c ầu về ñộ ẩm
Ẩm ñộ là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn ñến sự sinh trưởng,
và phát triển của các loài lan ða số các loài lan ưa ẩm, việc chọn ñịa ñiểm thích hợp cho vườn lan sẽ giúp cho cây lan sinh trưởng và phát triển tốt, ñồng thời giảm ñược rất nhiều công chăm sóc Khi trồng lan chúng ta cần lưu ý 3 loại ñộ ẩm sau:
Ẩm ñộ của vùng: là ẩm ñộ của một vùng sinh thái nhất ñịnh do ñiều
kiện ñịa lý, ñịa hình nói chung quy ñịnh Ví dụ ẩm ñộ của vùng có kênh rạch, sông suối cao hơn ẩm ñộ ở vùng trống, nhiều gió, ẩm ñộ ở vùng ñồi trọc thấp hơn ẩm ñộ của vùng trồng cây ăn quả, rừng…
Ẩm ñộ vườn: là ñộ ẩm của chính vườn lan, ñộ ẩm này có thể cải tạo
ñược theo ý muốn như ñào ao, xây bể làm mương rạch, trồng cây, làm giàn che, tưới nước…
Ẩm ñộ trong chậu: là ñộ ẩm cục bộ do cấu tạo của giá thể, thể tích
chậu, số lần tưới quy ñịnh ẩm ñộ này hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ thuật của người trồng lan
Trong thực tế ẩm ñộ của vùng cao thì tốt hơn ẩm ñộ cục bộ trong chậu cao, do ñó cần lưu ý hạn chế tưới nước trong mùa mưa và thời tiết có mưa phùn, mưa giầm khi ẩm ñộ không khí cao
2.1.2.4 Yêu c ầu về dinh dưỡng
Theo các tác giả Ajchara - Boonrote (1987) [29]; Richard - HW (1985) [37]; Soebijanto và CS (1988) [39], dinh dưỡng ñối với lan hết sức quan trọng, nó không ñòi hỏi số lượng lớn nhưng phải ñầy ñủ các thành phần dinh dưỡng Tuy nhiên còn tuỳ thuộc vào từng thời kỳ sinh trưởng của cây lan mà
Trang 26nhu cầu dinh dưỡng khác nhau
Vai trò của các nguyên tố ñối với cây lan:
Nhóm 1: gồm các nguyên tố cacbon (C), Hyñrô (H), Oxy (O) những
nguyên tố này thường có sẵn trong không khí và nước mà cây sử dụng trong quá trình quang hợp
Nhóm 2: các nguyên tố ña lượng:
N, P, K vai trò của nitơ (N): là một trong 3 nguyên tố cần thiết cho cây lan, giúp cho sự tăng trưởng của lá, làm cho cây xanh tốt, mặt khác N còn giúp cho quá trình ñiều hoà P, nếu thiếu N lá nhỏ hơi vàng, mầm yếu ít hoa
Vai trò c ủa P: là nguyên tố quan trọng thứ hai sau N, dùng kết hợp với
N giúp cho cây nẩy mầm khoẻ, ra hoa nhanh, ra rễ nhiều P còn giúp cho quá trình thụ phấn dễ dàng hơn, ñậu quả nhiều, quả mập, hạt chắc tỷ lệ nẩy mầm cao Nếu tỷ lệ P quá lớn kích thích cho sự ra hoa sớm lá ngắn, cứng
Vai trò c ủa K: giúp cho cây hấp thụ N một cách dễ dàng giúp cho sự
phát triển của chồi mới, K còn giúp cho sự vận chuyển nước và chất dinh dưỡng trong cây K giúp cho cây cứng, thúc ñẩy sự ra hoa, hoa có mầu sắc tươi hơn, cây ñề kháng với bệnh tốt hơn Nếu thiếu K cây cằn cỗi, khô ñầu lá ñậu quả ít hạt lép, tỷ lệ nẩy mầm thấp, khả năng chịu hạn kém
Nhóm 3: bao gồm các nhân tố Ca, Mg, S
Vai trò của Ca: là nhân tố cần thiết ñể tạo lập vách tế bào, giúp cho tế
bào hoạt ñộng một cách ñiều hoà trong việc tạo lớp prôtêin, giúp cây hấp thụ nhiều ñạm bộ rễ phát triển khoẻ Nếu cây hấp thụ quá nhiều Ca, cây không hấp thụ ñược Fe nhưng lại hấp thụ nhiều N dẫn ñến cây có mầu xanh khác thường, thiếu Ca rễ lan chậm phát triển, lá nhỏ
Vai trò c ủa Mg: là một trong những nguyên tố tạo nên diệp lục, giúp
cây phát triển cân ñối, hài hoà Phân bón có nhiều Mg, lá lan to xanh nhưng quá nhiều mầu sắc lá lại nhạt ñi, ngọn lá sẽ bị héo, thiếu Mg thì biểu hiện ngay ở rễ, rễ phát triển rất tốt, nhưng thân lá lại không phát triển, tỷ lệ rễ,
Trang 27thân, lá không cân ñối
Vai trò c ủa S: là nguyên tố không kém phần quan trọng là thành phần
của nguyên sinh chất trong tế bào Thiếu S cây cằn cỗi, lá vàng, mép lá ñen kích thước lá nhỏ
Các nguyên tố vi lượng: bao gồm Fe, Cu, Zn, Mn, Bo, Mo… Cây lan cần các nguyên tố vi lượng với lượng rất nhỏ nhưng không thể thiếu ñược Thường chúng có sẵn trong nước tưới, trong phân bón, nhưng cũng cần bổ sung thêm các nguyên tố này miễn sao không gây ñộc cho cây
2.1.2.5 Yêu c ầu về ñộ thông gió
Thích thoáng sợ gió ñó là một ñặc ñiểm khi nói về hoa lan [8] Không khí cũng là một món ăn của cây lan Khi trồng ở các thành phố thì các giàn lan thiếu gió vì bị các nhà cao tầng che khuất trừ các giàn lan ở trên sân thượng Lượng không khí di chuyển làm mát cây lan, không có gió sẽ làm cho giàn lan
bị hầm hơi, làm nóng cây lan Cho nên giàn lan nào thiếu gió thì cây lan ñó không tốt, nhưng giàn lan nào có nhiều gió quá làm thoát nhiều hơi nước, cây lan cũng không tốt Trường hợp này phải che bớt gió ðiều này cũng giải thích ñược là tại sao khi sống trong rừng không bao giờ chúng ta tìm thấy ñược lan sống ở dưới thấp (trừ ñịa lan ở xứ lạnh) Lan thường sống cheo leo trên các vách ñá, hoặc bám chót vót trên các ngọn cây cao ðộ thoáng gió là một trong những ñặc tính quan trọng về sinh thái của cây lan [13]
2.1.3 Các ñiều kiện cơ bản ñể trồng lan
2.1.3.1 Nhân gi ống lan
Cũng như các loại cây trồng khác, hoa lan có 2 phương pháp nhân giống chính ñó là vô tính và hữu tính
Nhân giống vô tính: là sự phân chia, tăng trưởng liên tục của các tế bào
từ một tế bào ban ñầu hoặc của các cây từ cây mẹ ban ñầu nên chúng giống nhau về mặt di truyền Nhân giống vô tính gồm các phương pháp sau:
Trang 28- Tách chiết: áp dụng vào thời kỳ ñầu của ngành lan chủ yếu ở lan kiếm
và sau ñó ñược phát triển rộng ở những chi ña thân (Cattleya, Dendrobium…), nhưng số lượng cây nhân giống không nhiều
- Nhân giống vô tính bằng nuôi cấy mô tế bào: phương pháp này có ưu ñiểm là hệ số nhân giống cao, cho phép tạo ñược một quần thể cây ñồng ñều, rút ngắn thời gian sản xuất cây giống, có thể áp dụng nhân giống trên quy mô công nghiệp
Nhân giống hữu tính: là sự kết hợp giữa giao tử ñực và giao tử cái Kết quả tạo ra hợp tử rồi phát triển thành hạt, từ hạt phát triển thành cây con Trong tự nhiên, hạt lan nảy mầm ñược nhờ nhiễm nấm Mỗi loài nấm chỉ giúp cho sự nẩy mầm của một số loài lan mà thôi (Nguyễn Thiện Tịch và cộng sự, 1996) [23]
Năm 1922, Knudson ở Mỹ ñã thành công trong việc thay thế nấm bằng ñường ở môi trường thạch ñể gieo hạt Ông nhận thấy sự nẩy mầm của hạt còn phụ thuộc vào thời gian hái quả, môi trường gieo cấy khác nhau, thích hợp với từng loài lan khác nhau (Nguyễn Thiện Tịch và cộng sự, 1996) [23] Phương pháp này cho hệ số nhân giống cao nhưng phẩm chất không ñồng ñều, thời gian từ khi mọc ñến ra hoa phải mất 3 - 4 năm (phalaenopsis) có những chi phải mất ñến 5 - 6 năm (cattleya, cymbidium…), phương pháp này tạo ra ñược những cây giống mang tính trạng theo ý muốn
2.1.3.2 Ch ậu và giá thể
Tuỳ theo loài lan, ñộ tuổi của cây mà lựa chọn chậu sao cho phù hợp
Có thể trồng bằng chậu ñất nung, chậu nhựa Chậu nhựa, hay dùng hơn cả vì
rẻ tiền, bền Chậu ñất nung thấm nước, mau khô và thoáng khí cho nên cần tưới thường xuyên hơn chậu nhựa Ngoài ra, còn trồng vào chậu gỗ, thân cây,
phù hợp với những loài lan cần thoáng gió như: Vanda, Aerides, Rhynchostylis… ðặc biệt, với lan Hồ ñiệp, do bộ rễ thuộc loại rễ thịt nên chậu
Trang 29trồng tốt nhất là chậu nhựa có lỗ thoát nước ở ñáy và ñường kính chậu chỉ ñược phép bằng 1/2 ñường kính tán lá [40] Thông thường, những cây lan con thường ñược trồng chung vào một chậu, sau 3 - 4 tháng thì trồng chuyển sang chậu lớn hơn, sau 1 - 2 lần chuyển chậu thì giữ nguyên cho ñến khi ra hoa
Giá thể: là khái niệm dùng ñể chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa ñặc biệt ñối với cây trồng nhất là cây ở giai ñoạn vườn ươm Các giá thể ñược sử dụng hiện nay gồm: than củi, gạch nung, rêu, xơ dừa, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ…
Than củi: dùng ñể giữ ẩm Là một giá thể tốt vì không chứa mầm bệnh, không mục nát và có khả năng giữ nước, hấp thụ dinh dưỡng tốt Phù hợp với
rất nhiều loại lan như Cattleya, Rhychostylis, Oncidium…
Gạch nung: trồng lan rất tốt nhưng phải nung già, ngăn rêu mọc, luôn tạo ñộ thoáng thích hợp cho bề mặt rễ bám, nhược ñiểm là nặng chỉ phù hợp
trồng chậu thích hợp với nhiều loài lan thuộc chi Cymbidium…
Rêu: có dạng sợi, dai, thoáng xốp giữ ẩm rất tốt, hấp thụ dinh dưỡng tốt rất phù hợp với nhiều loài lan khác nhau, nhất là lan Hồ ñiệp, nhưng giá thành rất cao, ñây cũng là nguyên nhân làm tăng giá thành sản phẩm
Xơ dừa: là giá thể rẻ tiền, dễ kiếm Tuy nhiên cũng có nhược ñiểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ bị sâu bệnh ðối với giá thể này cần phải thường xuyên phun thuốc phòng trừ sâu bệnh
Rễ bèo tây (lục bình): giữ ẩm tốt, dễ kiếm, rẻ tiền, trong rễ bèo có chứa một phần dinh dưỡng Chính vì vậy, từ xa xưa con người ñã dùng ñể bó bầu cành chiết nhanh ra rễ, nhưng chóng mục, dễ bị sâu bệnh vì vậy cũng phải thường xuyên phun phòng trừ sâu bệnh
Mút xốp: dễ kiếm, giữ nước rất nhanh nhưng thoát cũng nhanh vì vậy khi sử dụng giá thể này cần chú ý ñến chế ñộ tưới nước, phân
2.1.3.3 T ưới nước
Trang 30Nước cần cho sự sống của cây lan, nhất là lúc nó ựang ở giai ựoạn phát triển dinh dưỡng, thiếu nước lan sẽ khô héo dần và chết, nhưng thừa nước lại làm cho chúng dễ thối và chết
Người ta thường nói rằng nhiều cây lan bị chết do tưới nước không ựúng cách hơn là bất cứ lý do nào khác Có người còn tắnh xa hơn một bước
và nói là "còn hơn các nhân tố khác cộng lạiỢ đó là những nhận xét mạnh
mẽ Tiếc thay, những nhận xét ấy ựều ựúng, bởi vì nước và cách tưới nước là nguyên do của nhiều vấn ựề [1] Tuy nhiên có một số yếu tố cần xem xét khi tưới nước cho lan ựó là: lượng nước và chất lượng nước tưới
- Lượng nước tưới phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Theo mùa: nước ta nằm ở vùng nhiệt ựới gió mùa, sự thay ựổi theo mùa là tương ựối rõ rệt Về mùa mưa, ựộ ẩm không khắ tương ựối cao thắch hợp cho sự phát triển của cây lan Mùa này, cây lan cần lượng nước nhiều nhưng mưa ựã cung cấp cho nó Mặt khác nếu cây lan ở nơi thông thoáng cần ựược tưới nước nhiều hơn Vào các ngày nắng to, nhiệt ựộ cao, cũng phải gia tăng số lần tưới nhưng chủ yếu làm mát môi trường xung quanh và tưới vào sáng sớm, chiều mát
+ Theo loài lan: tuỳ theo giống, loài lan mà nhu cầu nước khác nhau Cây nhiều lá, lá lớn, dễ mất nước cần tưới nhiều Cây mập, dầy trữ nước tốt, chịu hạn tốt thì tưới ắt Những cây nhiều rễ gió cần tưới thường xuyên vào thời kỳ tăng trưởng (ra hoa, rễ, ựâm chồi) cây cần nhiều nước nên phải tưới nhiều hơn Thời kỳ nghỉ: không tưới nước cho cây nhưng vẫn cần ẩm, lúc ựó chỉ cần tưới xung quanh vườn lan
+ Theo giá thể, chậu trồng, môi trường trồng: cường ựộ ánh sáng, ựộ thông thoáng không khắ, giá thể, loại chậuẦ Tất cả ựều liên quan ựến ựộ ẩm
ở cây lan giúp chúng ta quyết ựịnh lượng nước tưới cho cây lan
- Chất lượng nước tưới: nước tưới ựối với lan cực kỳ quan trọng, nước
Trang 31phải sạch (không nhiễm mặn, phèn, ñộ pH thích hợp là 5,5 - 6,5) Các nguồn nước tưới dùng cho lan là:
+ Nước mưa: là nguồn nước lý tưởng ñặc biệt rất phù hợp cho lan, nước mưa có pH = 6 - 7 Tuy nhiên, ngày nay nước mưa chỉ tốt ở những vùng không bị ô nhiễm môi trường còn ở những vùng công nghiệp, nước mưa có chứa nhiều axit, hoá chất gây ảnh hưởng không tốt ñến sinh trưởng, phát triển của cây lan Do nước mưa có nhiều ưu ñiểm nên các vườn lan thường trữ nước mưa nhưng lưu ý ñồ chứa nước, cũng như mặt bằng trên ñó nước mưa chảy xuống (những mặt bằng tráng Zn, Cr, sản phẩm nhựa ñường hoặc thuốc bảo quản có ñộc tố không nên dùng)
+ Nước sông suối: rất tốt cho lan, nhưng lưu ý ñộ phèn, ñộ mặn, ñộ phù sa + Nước máy: phải ñể bay hơi clo
+ Nước giếng: cần loại bỏ những kim loại nặng như Mg, Mn, Fe … Với lan con chế ñộ tưới nước hết sức thận trọng Sau trồng 1-2 ngày không nên tưới vào cây mà chỉ cần giữ ẩm môi trường vì khi trồng giá thể còn
ẩm Nếu tưới nước ngay, tạo ñộ ẩm cao cây trồng dễ bị thối Thường với người mới trồng tỷ lệ chết ở giai ñoạn này tương ñối cao.Vì vậy, yêu cầu người trồng lan phải biết quan sát giá thể, cây, thời tiết, môi trường xung quanh Thường xuyên tưới nước 3 - 4 lần mỗi ngày nếu trời quá khô Theo nguyên tắc phải giữ ẩm cho lan con nhưng không quá ướt (Nguyễn Xuân Linh
- Kỹ thuật trồng hoa, 1998) [17] Theo Goh và Arditti (1985) thì Hồ ñiệp
(Phalaenopsis), lan Hài (Paphiopedilum) cần 2 ngày tưới 1 lần, lan kiếm (Cymbidium) chỉ cần 3 ngày tưới 1 lần, Cattleya cần 5 ngày tưới 1 lần Tuy
nhiên, tác giả cũng cho rằng cần phải xem xét ñến thời tiết khi tưới và nhất là chất trồng và chậu trồng Theo hãng G & B orchid Laboratory & Nursery Inc
[40] thì với lan Dendrobium và Phalaenopsis việc tưới nước tuỳ thuộc vào
mùa, ẩm ñộ của từng vùng trồng, nói chung ñộ ẩm không khí phải luôn luôn
Trang 32- Dụng cụ tưới: vòi tưới bông sen + máy bơm nước hợp với những vườn lan lớn Khi tưới, lật ngược vòi phun thành hình cầu vồng hạt nước rơi xuống nhẹ nhàng, với những vườn lan nhỏ có thể dùng bình bơm tay Khi tưới không phải tưới ñậm ngay một khu vực mà tưới ñi tưới lại cho giá thể ngấm nước dần và phải tưới thật ñậm (quan sát nước chảy xuống ñáy chậu ra ngoài
là ñược)
- Thời gian tưới: thường tưới vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát Nếu trời nắng nóng, ẩm ñộ không khí thấp buổi trưa có thể tưới mát môi trường xung quanh, không nên tưới trực tiếp vào cây
2.1.3.4 Bón phân
Phân bón ñóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất, phẩm chất cây trồng nông nghiệp ðặc biệt phân bón lá chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong nền nông nghiệp sạch nhất là rau, hoa, quả Cây hoa lan cũng không ngoại trừ ảnh hưởng này Nhiều người cho rằng cây hoa lan trong thiên nhiên mọc hoang dại ñược tận hưởng nguồn nước, nguồn dinh dưỡng từ nước mưa, vỏ lá mục, rêu, dương xỉ ở các hộc cây khe núi Vì thế khi mang cây lan
về trồng nguồn nước, muối khoáng bị cắt ñứt, các giá thể ñể trồng lan hầu như giữ ẩm, ñỡ cây nên việc bón thêm phân là cần thiết nhất là trong sản xuất kinh doanh hiện nay
Trang 33Cách tốt nhất ñể bón phân cho lan là dùng phân bón lá (phân lỏng) Phân bón khô khó sử dụng ñồng ñều, nếu nó dễ hoà tan có thể gây hại cho các
rễ non Phân bón lỏng dễ sử dụng và phân ñược phân tán khắp trong chậu mau chóng thấm xuống rễ, lá Phân bón bọc nhựa, giải phóng chậm, cũng có thể dùng ñược cho lan
Theo tác giả Nguyễn Hạc Thuý (2001) [26], hiện nay trên thị trường Việt Nam có khoảng trên 40 loại phân bón lá khác nhau trong ñó có rất nhiều loại phân bón lá vô cơ dùng cho lan mà phần lớn là các sản phẩm ngoại nhập hoặc sản xuất theo quy trình nước ngoài như Grow more (Hoa Kỳ), Yogen (Nhật), Agricomik (Thái Lan)… Chính vì có những chủng loại như vậy cho nên bón phân gì? Bón như thế nào có lợi cho sinh trưởng phát triển của cây và ñạt hiệu quả kinh tế cao ñó là một bài toán khó Do nhu cầu về dinh dưỡng ở mỗi giai ñoạn sinh trưởng là khác nhau nên phân bón cũng thay ñổi tuỳ từng giai ñoạn sinh trưởng của cây
Phân bón qua lá gồm: phân hoá học (vô cơ), phân hữu cơ (xác bã ñộng, thực vật…) và phân phức hữu cơ
- Cách sử dụng với phân hoá học: tuỳ theo từng loài và tuỳ theo giai
ñoạn sinh trưởng phát triển của cây
Phân có tỷ lệ ñạm cao (30:10:10): rất phù hợp cho cây con, những cây ñang nảy chồi mới, những cây sau khi cắt hoa
Phân có tỷ lệ lân cao: kích thích ra rễ, hoa, làm cho lá bớt màu xanh, giảm lượng nước ở trong lá, tăng khả năng ñề kháng của cây
Việc sử dụng phân có hàm lượng lân cao cần thận trọng vì nếucây ñang ở giai ñoạn sung yếu (do sâu bệnh, thiếu dinh dưỡng…) càng làm cho cây chậm lớn và ra hoa cũng xấu
Phân có tỷ lệ kali cao: giúp cây khoẻ, chống hạn, sâu bệnh tốt So với cây trồng khác thì cây lan cần lượng kali tương ñối nhiều vì mục ñích chính của nuôi trồng lan là thưởng thức hoa, kali giúp hoa có màu sắc ñẹp, bền
Trang 34thường sử dụng phân kali vào lúc cây lan có hoa
Với lan Hồ ñiệp dùng phân bón vô cơ là tốt nhất và chỉ nên bón vào mùa mưa(từ tháng 5- tháng 8) Sau khi cây hết hoa có thể thúc cho cây ra khi phun 3 lần liên tục hỗn hợp 0,5% của (Urê +KH2PO4+ FeSO4) theo tỷ lệ (1:1:1) [41]
Theo BFC (Bangkok Flower Centre) chế ñộ dinh dưỡng cho cây, khi cây con còn nhỏ thì phun NPK dạng 10 : 10 : 10, khi cây ở giai ñoạn sinh trưởng mạnh thì phun NPK dạng 20 : 20 : 20, ñể cây ra hoa thì phun NPK dạng 10: 20 : 10 hoặc 10 : 20 : 20 Như vậy, quy trình trồng hoa lan của họ ñạt ñến mức hoàn hảo
Nhiều tác giả của các nước có ngành lan phát triển ñều có chung một nhận xét: ðể cây lan sinh trưởng tốt ra hoa ñúng lúc, hoa bền thì việc nghiên cứu từng yếu tố ảnh hưởng cho từng loài lan là cả một vấn ñề công phu và nghệ thuật
Theo Keithly (1991), ở giai ñoạn cây con (bồn mạ) lan Dendrobium và Phalaenopsis phun 50 ppm N tổng số + 4,5 ppm P + 8,2 ppm K+ Chelat Sắt +
vi lượng là tốt nhất
Poole và Seeleing (1978) cho biết nồng ñộ 100 ppm N + 50 - 100 ppm
PK + 25 ppm Mg là tốt nhất cho lan Kiếm và Hồ ñiệp phát triển
Theo way và Lee 1994, cây con Hồ ñiệp phun loại NPK tỷ lệ 20 : 20:
20 là tốt nhất
Theo Hãng G & B orchid Laboratory & NurseryInc [41], cây con Hồ ñiệp sinh trưởng tốt nhất khi phun loại NPK tỷ lệ 20 : 20 : 20 kết hợp với phun phân hữu cơ ngâm từ xác bã ñộng vật
Theo trung tâm kỹ thuật Rau- Hoa- Quả Thường Tín, giai ñoạn cây con (15 ngày sau trồng) phun dinh dưỡng NPK có tỷ lệ 30 : 10 : 10 với nồng ñộ 0,2% ñịnh kỳ 5 ngày 1 lần cây con sinh trưởng rất tốt
- Cách s ử dụng phân hữu cơ: ngoài nguồn phân bón vô cơ ra, phân
Trang 35hữu cơ cũng rất tốt cho lan, phân hữu cơ dễ chế biến, nguyên liệu phong phú Trong phân hữu cơ chứa ựầy ựủ các dưỡng chất cần thiết cho cây như axắtamin, vitamin, vi lượng điều chú ý là các dạng phân hữu cơ dùng cho
hoa lan phải hoàn toàn hoai mục, không có mùi
Phân hữu cơ ở các dạng: nước tiểu người và ựộng vật, phân ựộng vật, xác bã ựộng vật, than xươngẦ Sự pha chế phân hiện nay dễ hơn nhờ nguyên liệu sẵn có, dễ tìm nhưng thành phần của phân không rõ rệt
+ Nước tiểu: hoà loãng nước tiểu với tỷ lệ 1: 10 hay loãng hơn, tưới cách nhật tốt nhất 1 tuần tưới 2 lần Phù hợp với tất cả các loài lan Hoặc 100ml nước tiểu + 100 g bã ựậu phụ ngâm với 0, 8 lắt nước cho lên men từ 7
- 10 ngày ựể lắng lọc lấy phần nước trong (nguyên chất) Mỗi tháng tưới 1 - 2
lần pha tỷ lệ 1 : 4 rất thắch hợp với Dendrobium, Phalaenopsis, Paphiopedilum , Oncidium, RenatherẦ
+ Xác bã ựộng vật: theo các nhà trồng lan đài Loan thì nước ngâm lông
gà, vịt, bột cá là tuyệt hảo ựối với lan hồ ựiệp mà không mọc rêu xanh
+ Theo các nhà vườn Thái Lan, họ ựã chế phân hữu cơ như sau: 3 kg rác thực vật (rau, củ, quả, hoa, láẦ) + 1kg ựường ựen để trong bình không
rỉ, ựậy nắp nhưng không cần kắn,ựể chỗ râm mát Sau 1 tháng chắt lấy nước
ựể sử dụng: hoà 1/1000 tưới cho rau, 1/5000 tưới cho hoa lan rất tốt
Cách t ưới phân: việc lựa chọn phân cho lan rất quan trọng nhưng cách
tưới phân cũng không kém phần quan trọng Tưới phân sao cho cây hấp thụ ựược nhiều nhất Tưới phân sao cho có hiệu quả kinh tế nhất
Rễ là cơ quan chắnh giúp lan hấp thụ nước và muối khoáng ngoài ra lá thậm chắ có loài thân cũng có khả năng hấp thụ nước và muối khoáng Vì vậy tưới làm sao cho ướt toàn bộ cây mà vẫn tiết kiệm phân người ta làm như sau: trước khi tưới phân, tưới nước qua một lượt sau ựó mới tưới phân như vậy cây hấp thụ phân ựược dễ dàng hơn Thường tưới vào buổi sáng sớm và chiều mát, tuyệt ựối tránh tưới vào buổi trưa
Trang 36Ta biết rằng phân ñược sử dụng hiệu quả qua ñường lá khi: phân ở dạng dung dịch, dung dịch ấy bám vào rễ, lá và giá thể Các chất tan dù ở dạng phân
tử hay ion sẽ xuyên qua màng tế bào chất ñể vào bên trong nguyên sinh chất của tế bào Vì vậy, phân mà ta tưới vào lá sẽ xâm nhập liên tục vào bên trong tế bào chừng còn ở dạng dung dịch Ngược lại tưới không lâu ñã thấy chúng khô ñọng lại các vệt trắng ở ngoài của lá thì chỉ ít phân ñược hấp thụ vào lá
Khoảng cách giữa những lần tưới: tuỳ thuộc vào ñiều kiện khí hậu, giá thể, tình trạng cây, loại phân, nồng ñộ phân…, việc tưới nên tiến hành từ nồng
ñộ thấp ñến cao, như vậy sẽ tốn công lao ñộng nhưng không nguy hại cho lan
Với lan con 5 ngày tưới 1 lần, lan trưởng thành 7 ngày/1lần (mùa hè),
từ 7 - 10 ngày (mùa ñông) Sau khi tưới phân, ngày hôm sau nên gia tăng lượng nước tưới với mục ñích nếu lượng phân chưa hấp thụ hết thì vẫn có thể tiếp tục ñồng thời giúp rửa sạch muối ñọng trên lá và trong giá thể
- Cách s ử dụng phân phức hữu cơ:
Là sản phẩm phức hữu cơ có nguồn gốc từ EDTA và các Aminoacid thuỷ phân từ các chất hữu cơ giàu protein (pomior- polymicroelements organic) Sản phẩm ở dạng dung dịch màu xanh lá mạ, trong, ñặc sánh; tỷ trọng từ 1,18 - 1,22;
ñộ pH 6,5 - 7 Kết quả phun phân bón lá pomior với nồng ñộ 0,4% ñịnh kỳ phun
5 ngày 1 lần, làm tăng năng suất và chất lượng hoa Cúc ñồng tiền rất rõ rệt, tỷ lệ hoa loại I ñạt 31,2% (Hoàng Ngọc Thuận, 2005) [25] Phân bón Pomior cũng làm tăng năng suất chất lượng hoa hồng, hoa cúc một cách rõ rệt
2.1.3.5 Giàn che
Mục ñích của làm giàn che là ñiều chỉnh cường ñộ ánh sáng cho phù hợp với nhu cầu của cây lan ñang trồng ở các nước tiên tiến người ta trồng lan trong nhà kính có hệ thống ñiều chỉnh ánh sáng, nhiệt ñộ, ñộ ẩm ngay cả chế ñộ chăm sóc cũng ñều tự ñộng cho nên cây sinh trưởng, phát triển rất tốt
Ở Việt Nam ngành trồng lan mới bắt ñầu cùng với ñiều kiện kinh tế
Trang 37chưa cho phép hiện ựại hoá, chúng ta có thể tự làm giàn che bằng nguyên liệu sẵn có tại ựịa phương nhưng phải ựạt một số tiêu chuẩn sau:
Giàn cao 2,5 - 4 m, mái nằm ngang hay xiên nhưng phải theo hướng Bắc - Nam ựể khi mặt trời di chuyển theo hướng đông - Tây ánh sáng không ảnh hưởng liên tục làm hại cây
Tuỳ theo nhu cầu ánh sáng của từng giai ựoạn sinh trưởng của cây mà
có chế ựộ chiếu sáng thắch hợp Với lan con ựể sinh trưởng phát triển tốt cần nhận ựược 100% ánh sáng từ lúc bình minh cho ựến 8 h sáng, lan trưởng thành nhu cầu ánh sáng tăng lên Tuỳ theo nhu cầu ánh sáng của từng cây mà
có chế ựộ chiếu sáng thắch hợp Vắ dụ: Phalaenopsis, Paphiopedilum cần 30 - 40% ánh sáng Dendrobium, Cattleya cần 50 - 60% ánh sáng Vanda cần 60 -
70% thậm chắ có loại cần chiếu sáng 100%
Hiện trên thị trường có bán các loại lưới che với chế ựộ che phủ 40, 50,
60, 70 - 80% ánh sáng rất nhẹ và tiện lợi Bên cạnh ựó có thể dùng giàn che bằng phên nứa ựan có ưu ựiểm mát rẻ tiền nhưng không bền và khó có ựược lượng ánh sáng phù hợp
2.1.3.6 Phòng tr ừ sâu bệnh
Trong tự nhiên mỗi cây có một số sâu và bệnh tấn công riêng Cây lan cũng không nằm ngoài quy luật này Sâu bệnh là một vấn ựề lớn và nan giải trong quá trình sản xuất, nhân giống và nuôi trồng hoa lan Vì vậy ựể tránh những thiệt hại không ựáng có việc phòng trừ sâu bệnh ngay từ ựầu là cần thiết Trước hết cần phải có biện pháp quản lý sâu bệnh một cách tổng hợp ựó là:
- Áp dụng cách làm vườn tối ưu trong việc trồng các giống lan
+ Cách trồng không ựúng có thể làm cây dễ nhiễm bệnh Tưới nước cần thiết và tưới vào thời ựiểm làm cho lá mau khô Bón phân thường xuyên, ựể giữ cho cây sinh trưởng phát triển bình thường Sang chậu lan khi cần thiết (ắt nhất 2 năm một lần)
+ Chọn giống sạch bệnh
Trang 38+ Cần phải kiểm tra cây ñịnh kỳ Xem xét tất cả các cây mới nhập về, cây ở những chỗ tiếp xúc với không khi bên ngoài lối ñi cũng như những chỗ trồng ñầy kín lan
- Áp dụng biện pháp vệ sinh ñối với những cây sâu bệnh và cả vườn lan Dùng thuốc trừ sâu bệnh khi cần thiết
Tuy nhiên hoa lan thường bị một số sâu bệnh hại sau:
* Bệnh ñốm vòng - thán thư (Colletotrichum gloeosporioides) Triệu
chứng ñầu tiên là lá màu nâu và giả hành có vết dạng hình tròn, lõm không ñều, màu sắc vàng hơi xanh nhạt, nhận thấy rất rõ Lá già nhất thường nhiễm bệnh nặng nhất, các lá chưa hoàn toàn trưởng thành cũng bị tấn công
Phòng trừ: cắt bỏ lá bị bệnh, xử lý thuốc như Zi-neb, Ridomil, An- vil
* Bệnh thối rễ, căn hành, giả hành do vi khuẩn (Erwinia Carotovorasub
sp và Erwinia chrysanthemi)
Triệu chứng khi nhiệt ñộ tăng kết hợp với ñộ ẩm cao, các vi khuẩn này
là loài ký sinh trên lá và xâm nhập vào những mô ñã bị thương tổn Các vùng
bị bệnh sẽ úa mềm, có màu nâu và mùi khó chịu Những vết úa thường lan nhanh trong lá, rễ và chậm hơn ở căn hành và giả hành
Phòng trừ: bằng thuốc diệt khuẩn như Physan, Caviben 50 HB, Thiram, Kitazin, thuốc diệt nấm gốc Sunphat ñồng 1% cũng có kết quả với vi khuẩn Ngoài ra có thể dùng Steptomicin + Penicilin
*Bệnh thối trắng rễ (Rhizoctnia solani): phá hoại trên nhiều giống như
Van da, Dendrobium, Cattleya, Oncidium Bệnh phân bố ở khắp mọi nơi trên thế giới Bệnh nặng làm cây sinh trưởng chậm lại Nấm gây bệnh có thể tấn công vào bất kỳ tuổi nào của cây nhưng thích hợp nhất với cây con, do vậy cây con trong vườn ươm thường bị hại nặng nhất Bệnh thường tiến triển chậm cây bị thối rễ mất sinh lực nếu cây không phòng trừ kịp thời sẽ bị chết (Alec Pridgeon, 1992) [30]
Trang 39*Virus: có thể làm thay ñổi hình thái của cây hoa lan từ chóp rễ ñến ñỉnh ngọn ảnh hưởng dễ thấy nhất là sự chuyển màu vàng (chlorosis) và mô
bị chết (necrosis) Các triệu chứng virus biến ñổi nhiều tuỳ thuộc nòi virus và ñiều kiện môi trường như ánh sáng, nhiệt ñộ, dinh dưỡng Thời gian giữa quá trình nhiễm bệnh và sự phát hiện cũng tuỳ thuộc vào nòi virus và ñiều kiện môi trường Virus không những làm ñổi màu sắc trong mô tế bào cây chủ, mà còn hạn chế sự phát triển của cây, làm cho cây cằn cỗi
Virus rất khó chữa, khi cây bị bệnh cần cách ly hoặc huỷ bỏ Hiện nay, công tác phòng ngừa virus xâm nhập là chính (tránh làm tổn thương các bộ phận sinh trưởng, tạo môi trường thuận lợi cho cây sinh trưởng và phát triển tốt)
Sâu h ại cây hoa lan:
Hoa lan rất phong phú và ña dạng nên cũng tập trung nhiều loài côn trùng phá hoại như: rệp sáp, rệp bông, bọ trĩ, rệp dính, bọ nhảy, kiến… Ngoài
ra còn có những loài sâu hại không phải là côn trùng như ốc sên, ốc, cuốn chiếu…
Biện pháp phòng trừ bằng các phương pháp: cơ giới, vật lý, hoá học Phương pháp hoá học thường sử dụng một trong các loại thuốc sau: Sherpa, Depterex, Pegasus, Danitol,… Một phương pháp phòng trừ quan trọng khác là
vệ sinh khu vườn: các lớp phủ mặt ñất, những ñống gạch vôi quanh vườn lan
có thể là nơi ẩn náu của ốc và ốc sên Việc tạo phong cảnh quanh vườn lan là ñiều không thích hợp vì vấn ñề sâu hại lây lan
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực trồng và chăm sóc hoa lan Nhiều kết luận ñã ñi vào thực tiễn sản xuất và ñang ñược áp dụng rộng rãi Tuy nhiên, ñể cây hoa lan phát triển mạnh hơn nữa và ñứng vững trên thị trường cần có những nghiên cứu sâu hơn nữa về kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc nhằm tìm ra những quy trình cụ thể cho từng loài lan, phù hợp với nhu cầu sản xuất nhằm tăng thu nhập cho người trồng lan và hướng
Trang 40tới xuất khẩu trong tương lai
2.2 Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất lan trên thế giới
Loddiges 1812 là người ựầu tiên trên thế giới thiết lập vườn lan thương mại Trong những thập kỷ gần ựây, cùng với phương tiện giao thông phát triển mạnh mẽ, các thành tựu khoa học kỹ thuật và sự phát triển về công nghệ sinh học ựược ứng dụng rộng rãi Do vậy, việc xuất khẩu hoa lan ngày càng tăng với qui mô rất lớn Nhiều nước ựã trở thành cường quốc xuất khẩu hoa như Thái Lan, đài LoanẦHoa lan ựã và ựang là nguồn lợi lớn của các nước đông Nam Á và thế giới (Phan Thúc Huân, 1989 [13] (Delforge, P.1995) [32] Hiện nay, Thái Lan là nước ựứng ựầu thế giới về xuất khẩu hoa lan, có
18 phòng nuôi cấy invitro hoa lan thương mại hoạt ựộng ở Băng Cốc và các vùng phụ cận (đồng Văn Khiêm, 1995) [15]
Nhờ khả năng thực hiện công nghệ mới trong nuôi cấy mô và lai tạo, với giá lao ựộng thấp, khắ hậu tốt, giao thông tốt cho phép Thái Lan sản xuất quanh năm và xuất ựi 50 nước trên thế giới Năm 1993, Thái Lan cung cấp 70,7% cho thị trường Anh, 81,4% cho hà Lan về lan cắt cành, 64 triệu cành cho ý và 5 triệu cành cho Nhật (Ngô Quang Vũ, 2002) [28]
đài Loan: có khắ hậu ấm áp, mưa nhiều gần giống với khắ hậu Việt
Nam nên có thể sản xuất hoa tươi quanh năm đài Loan chú trọng ựầu tư
nhiều vào nuôi trồng Phalaenopsis và chọn tạo nhiều giống mới, hiện nay ựã
tạo ra ựược một số giống lan quắ có khả năng cắt hoa và trồng trong chậu (Segerback, LB,1983) [38]
Singapore: nghề trồng hoa lan xuất khẩu trên qui mô lớn bắt ựầu từ
năm 1987 Nhà nước ựã thấy rõ tiềm năng xuất khẩu loại hoa này trên thị trường thế giới nên ựã mở rộng trang trại nuôi trồng hoa lan Năm 1992 xuất khẩu hơn 18 triệu USD, năm 1993 xuất 3,8 triệu cành ựến châu Âu và một lượng khá lớn ựến thị trường Nhật (Ngô Quang Vũ, 2002) [28]