1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của các trailer cổ động, quảng bá về chương trình truyền hình vtv đà nẵng

93 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 622,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển nhiều loại hình thông tin đại chúng, ngôn ngữ báo chí cũng tách dần ra theo từng ngành riêng, trong đó truyền hình được đánh giá là một trong những thể loại báo ch

Trang 1

PHẠM HOÀNG LAN

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ

CỦA CÁC TRAILER CỔ ĐỘNG, QUẢNG BÁ

VỀ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

CỦA VTV ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

PHẠM HOÀNG LAN

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ

CỦA CÁC TRAILER CỔ ĐỘNG, QUẢNG BÁ

VỀ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

CỦA VTV ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Trọng Ngoãn

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Hoàng Lan

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TRAILER CỔ ĐỘNG QUẢNG BÁ 6

1.1 PHONG CÁCH BÁO CHÍ CÔNG LUẬN 6

1.1.1 Đặc điểm của báo chí 6

1.1.2 Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí 11

1.2 TRUYỀN HÌNH VÀ NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH 20

1.2.1 Giới thiệu về truyền hình 20

1.2.2 Ngôn ngữ truyền hình 22

1.3 TỔNG QUAN VỀ TRAILER CỔ ĐỘNG, QUẢNG BÁ 26

1.3.1 Khái niệm quảng cáo 26

1.3.2 Khái niệm trailer 27

1.3.3 Khái niệm quảng bá chương trình 27

1.4 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VTV ĐÀ NẴNG 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2 LỰA CHỌN CHƯƠNG TRÌNH ĐỂ QUẢNG BÁ VÀ XỬ LÝ VỀ NỘI DUNG QUẢNG BÁ 32

2.1 LỰA CHỌN CHƯƠNG TRÌNH ĐỂ QUẢNG BÁ 32

2.1.1 Chương trình đặc biệt, chương trình quan trọng, đặc sắc 33

Trang 5

2.2 CÁCH XỬ LÝ NỘI DUNG QUẢNG BÁ 38

2.2.1 Thủ pháp tóm tắt văn bản 38

2.2.2 Tiêu điểm thông tin 41

2.2.3 Những yếu tố nổi bật 42

2.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA HÌNH VÀ LỜI 42

2.3.1 Tỉ lệ về thời lượng giữa hình và lời 42

2.3.2 Chức năng dẫn nhập của lời đối với hình 47

2.3.3 Chức năng thuyết minh của lời đối với hình 47

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 51

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TRAILER CỔ ĐỘNG, QUẢNG BÁ VỀ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CỦA VTV ĐÀ NẴNG 52

3.1 ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM VÀ TRÌNH BÀY VĂN BẢN 52

3.1.1 Hướng đến sử dụng ngữ âm chuẩn 52

3.1.2 Cách viết và đọc các yếu tố ngữ âm nước ngoài 54

3.1.3 Thể thức văn bản 56

3.2 ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG 59

3.2.1 Các lớp từ vựng được sử dụng với tần số cao 59

3.2.2 Các hình thức tu từ từ vựng ngữ nghĩa 68

3.3 ĐẶC ĐIỂM CÚ PHÁP 70

3.3.1 Các kiểu câu được sử dụng phổ biến 70

3.3.2 Các hình thức tu từ cú pháp 75

3.4 ĐẶC ĐIỂM DIỄN ĐẠT 75

3.4.1 Lựa chọn các câu đơn nghĩa và các câu suy lý đơn giản 75

3.4.2 Tạo lập các hàm ý chủ động 79

Trang 6

KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 7

BTV : Biên tập viên

TH : Thực hiện

THVN : Đài Truyền hình Việt Nam

VTV Đà Nẵng : Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại TP.Đà Nẵng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn hoạt động báo chí ở nước ta hiện nay rất đa dạng và phong phú Cùng với sự phát triển nhiều loại hình thông tin đại chúng, ngôn ngữ báo chí cũng tách dần ra theo từng ngành riêng, trong đó truyền hình được đánh giá là một trong những thể loại báo chí có ưu thế nổi trội bởi nó sử dụng tất cả các dạng thức ngôn ngữ mà báo in, báo nói (phát thanh), mạng Internet và các phương thức tuyên truyền khác sử dụng

Bắt đầu từ những năm nửa cuối thế kỷ 20, chính truyền hình đã tạo nên một cuộc cách mạng thông tin và làm nên sự bùng nổ truyền thông Truyền hình

đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau với những mục đích khác nhau:

về vai trò, vị trí của nó đối với các vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế; về phương thức, cách thức thông tin…Trong khi tiếp cận nhiều vấn đề như vậy thì ngôn ngữ truyền hình là đề tài chưa được chú trọng mặc dù vấn đề này có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với chất lượng sản phẩm truyền hình Cùng với những hình ảnh thực tiễn sống động, cách sử dụng ngôn ngữ của các chương trình truyền hình

có những đặc điểm khác biệt, ngôn ngữ truyền hình cần được xem xét từ góc

độ ngôn ngữ viết và cả ngôn ngữ nói

Ở Việt Nam hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu ngôn ngữ truyền hình một cách thấu đáo Trong khi thể loại báo chí truyền hình được đánh giá là thành tựu to lớn của khoa học công nghệ hiện đại, là loại hình báo chí hiện đại nhất của thời đại việc chú ý đến nội dung trong đó có ngôn ngữ trong các chương trình truyền hình sao cho tương xứng với vị trí vai trò của truyền hình là việc làm đáng kể Vì thế người làm nghề cũng như người nghiên cứu phải tự mình mò mẫm theo cách riêng của mình Người làm nghề thì phải vừa học vừa làm, vừa sáng tạo vừa đúc kết kinh nghiệm; các nhà nghiên cứu thì không có

Trang 9

điều kiện đi thẳng vào vấn đề, vậy nên trong một thời gian khá dài, vấn đề ngôn ngữ truyền hình vẫn là một khoảng trống vốn “một mình mình biết, một mình mình hay” Từ thực tế này, việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ truyền hình ở Việt Nam trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết

Trước sự cạnh tranh rất lớn từ các đơn vị sản xuất truyền hình, các phương tiện truyền thông, đặc biệt là với các loại hình truyền thông mới, việc xác định chiến lược quảng bá và nội dung chương trình là hai yếu tố sống còn

để định vị thương hiệu trên thị trường truyền hình Quảng bá về chính chương trình truyền hình của mình đã và đang là một hướng đi mới mà các đài truyền hình hướng đến Hiện tại vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách bao quát và có hệ thống từ góc độ ngôn ngữ học về đặc điểm ngôn ngữ của

chương trình trailer cổ động, quảng bá Do đó, chúng tôi chọn đề tài: “Khảo

sát đặc điểm ngôn ngữ của các trailer cổ động, quảng bá về chương trình truyền hình của VTV Đà Nẵng” làm đề tài luận văn thạc sĩ Từ việc nghiên

cứu đề tài, chúng tôi hi vọng có sự đóng góp thiết thực vào sự phát triển của VTV Đà Nẵng nói riêng, của Đài THVN nói chung

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nhận diện các đặc điểm sử dụng ngôn ngữ làm nên phong

cách riêng của các chương trình trailer cổ động, quảng bá qua việc khảo sát, phân tích, đánh giá đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của các chương trình này Qua đó chỉ ra được tác động của ngôn ngữ đối với người xem

Các vấn đề nêu ra trong luận văn về đặc điểm ngôn ngữ của các trailer

cổ động, quảng bá về chương trình truyền hình của VTV Đà Nẵng sẽ là cơ sở

để các biên tập viên có một cách nhìn nhận chính xác hơn về thực trạng ngôn ngữ mà mình sử dụng Từ cách nhìn nhận này, các biên tập viên sẽ có cách giải quyết hợp lý nhằm nâng cao chất lượng thông tin của truyền hình trong tương lai

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tìm hiểu một số đặc điểm ngôn ngữ chủ yếu trong các chương trình trailer

cổ động quảng bá về chương trình truyền hình của VTV Đà Nẵng xét trên các phương diện ngữ âm, từ vựng, cú pháp, diễn đạt, mối quan hệ giữa hình và lời

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Các trailer cổ động, quảng bá về các chương trình truyền hình được phát sóng trên VTV Đà Nẵng trong năm 2014 và 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng nghiên cứu trong quá trình thực hiện

đề tài:

4.1 Phương pháp lịch sử

Phương pháp này được sử dụng để tìm hiều đặc điểm của báo chí, đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí, truyền hình và ngôn ngữ truyền hình nhằm xác lập những tri thức nền tảng cũng như các khái niệm về quảng cáo, trailer, quảng bá chương trình

4.2 Phương pháp tổng hợp

Tổng hợp những tài liệu thu thập được, các khảo sát trên các văn bản giấy

từ kho tư liệu lưu trữ của VTV Đà Nẵng

4.3 Phương pháp mô tả

Mô tả cách sử dụng ngữ âm, từ vựng, cách diễn đạt ngôn ngữ trên các trailer cổ động, quảng bá về chương trình truyền hình của VTV Đà Nẵng

4.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

So sánh và đối chiếu theo khuôn mẫu về đặc điểm ngữ âm và trình bày văn bản, đặc điểm từ vựng, đặc điểm cú pháp và đặc điểm diễn đạt

4.5 Phương pháp phân tích

Đây là phương pháp cơ bản nhất làm cơ sở cho việc nhận định, đánh giá

Trang 11

bất kì lĩnh vực nào của báo chí trong khi nghiên cứu

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Trước hết việc nghiên cứu ngôn ngữ báo chí gắn liền với những thành tựu phong cách học Với quan niệm: “Phong cách là những khuôn mẫu trong hoạt động lời nói, hình thành từ những thói quen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyền thống, tính chất chuẩn mực, trong việc xây dựng các lớp văn bản (phát ngôn) tiêu biểu” [17, tr.19] Đinh Trọng Lạc đã khẳng định rằng ngôn ngữ báo chí có những nét đặc thù cho phép nó có vị thế ngang hàng với các phong cách chức năng khác trong ngôn ngữ như: phong cách khoa học, phong cách hành chính – công vụ, phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách chính luận Những biến đổi của ngôn ngữ báo chí hiện nay, bên cạnh việc thực hiện chức năng đa dạng đối với xã hội còn do sự tác động nhiều mặt của thời đại

Theo Vũ Quang Hào: “Nói đến ngôn ngữ báo chí” nếu hiểu “báo chí” không theo nghĩa truyền thống, nghĩa là “báo chí” được hiểu gồm báo in, báo phát thanh và báo hình, thì có thể nói rằng, ở tập bài giảng này (Ngôn ngữ báo chí) ngôn ngữ báo hình hoàn toàn bị bỏ ngỏ, do chỗ chúng tôi không xác định được phạm vi khảo sát” [14, tr.8]

Trang 12

Tìm hiểu “Bài giảng ngôn ngữ báo chí” của Khoa báo chí trường Cao

đẳng PTTH, chương IV, Ngôn ngữ báo hình, chúng tôi nhận thấy giáo trình

đó chỉ đề cập ngôn ngữ hình ảnh của thể loại này chứ không đề cập đến ngôn ngữ được phát thanh, một phần không thể thiếu của bất kỳ chương trình truyền hình nào

Như vậy có thể thấy việc tìm hiểu ngôn ngữ truyền hình là việc làm khó khăn Trong điều kiện bùng nổ thông tin như hiện nay, ngôn ngữ của chương trình cổ động quảng bá càng phải mang tính chuẩn mực để hướng công chúng vào một chuẩn ngôn ngữ nhất định nhằm góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Vì vậy, việc sử dụng ngôn ngữ, nhất là thực hiện các hành động ngôn ngữ một cách linh hoạt để vừa đạt được mục đích thông tin tuyên truyền vừa đảm bảo tính chính xác, tính hấp dẫn, lôi cuốn đối với người xem truyền hình là việc người làm chương trình quảng bá đặc biệt quan tâm

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TRAILER

CỔ ĐỘNG QUẢNG BÁ

1.1 PHONG CÁCH BÁO CHÍ CÔNG LUẬN

1.1.1 Đặc điểm của báo chí

Hoạt động của con người trong đời sống xã hội khá đa dạng và phong phú Bên cạnh hoạt động sản xuất để duy trì sự sống, con người cũng hoạt động sáng tạo nghệ thuật để thỏa mãn nhu cầu tinh thần… Hoạt động báo chí

là một phần của hoạt động tinh thần “nhằm cung cấp cho công chúng những thông tin, tức là thông báo cho công chúng biết mọi sự kiện, hiện tượng diễn

ra hàng ngày trong đời sống xã hội, Nội dung của những thông báo đó gọi là thông tin Những thông tin báo chí là những thông tin chính trị - xã hội Nghĩa

là thông tin báo chí bao giờ cũng chứa đựng những giá trị xã hội hay chính trị” [25, tr.51] Khác với thông tin trong giao tiếp cá nhân, hoạt động báo chí

là loại hình hoạt động thông tin chính trị - xã hội

Báo chí ra đời trước hết do nhu cầu thông tin Thông tin trong báo chí

có tính xã hội, tính tư tưởng và khuynh hướng rõ rệt Xã hội càng phát triển, nhu cầu thông tin của con người càng cao Do đó, báo chí trở thành công cụ đắc lực phục vụ nhu cầu thông tin của con người

Người ta dựa vào các tiêu chí khác nhau để phân loại báo chí Trước hết, dựa vào phương thức truyền tin chúng ta có: báo nói (phát thanh – truyền hình) và báo viết Dựa vào tiêu chí thời gian, tần số xuất phát hành một loại báo cụ thể, có thể chia báo chí thành các loại như: nhật báo, tuần báo, nguyệt san, bán nguyệt san hay nguyệt báo Theo nội dung và dung lượng thông tin thì báo dành cho các bài viết ngắn gọn, thông tin kịp thời còn tạp chí dành cho các thông tin chuyên đề, yêu cầu về thông tin cập nhật không quá nhất thiết

Trang 14

a Đặc điểm của báo chí

Theo Nguyễn Đức Dân [9, tr.21 - 29] báo chí có những đặc điểm:

- Đặc điểm “thời sự”

Càng ngày người đọc càng đòi hỏi báo chí thông tin nhanh và kịp thời

hơn nữa Các báo cạnh tranh với nhau về việc đưa tin kịp thời Tính thời sự trong tin tức thậm chí là những gì “cập phút, cập giờ” chứ không chỉ còn là những gì cập nhật nữa Bên cạnh đó thời sự còn được hiểu là những vấn đề đang được xã hội quan tâm

Tầm quan trọng của thông tin có thể liên quan tới tính hiếu kì của con người, có thể liên quan tới kích cỡ sự việc hoặc cũng có thể liên quan tới thời gian xa hay gần của sự việc

Ngược lại, tính “hấp dẫn” của tin cũng tác động và quy định ngược lại thế nào là tính “thời sự”

b Đặc điểm của báo chí hiện đại

Theo Nguyễn Văn Dững: “Báo chí truyền thống hoạt động trong bối cảnh và điều kiện khác với báo chí hiện đại Thuật ngữ báo chí hiện đại có thể

Trang 15

được dùng từ sau khi báo mạng điện tử xuất hiện; bởi vì từ loại hình báo chí

này bổ sung thêm hai đặc tính quan trọng của báo chí là tính tương tác và tính

đa phương tiện (multimedia)” [10, tr.45]

Báo chí truyền thống và báo chí hiện đại chỉ là những thuật ngữ mang tính chất tương đối Tuy vậy báo chí hiện đại có thể được xem xét ở các tiêu

chí “về thời gian; về khoa học công nghệ - công cụ và phương thức sản xuất

và chuyển tải thông điệp; về trình độ văn hóa của dân cư; về tư duy và phong cách của người làm báo” [10, tr.168]

Các đặc điểm báo chí hiện đại được Nguyễn Văn Dững [10, tr.168 - 187] trình bày như sau:

- Tính thời sự của thông tin báo chí

Thông tin thời sự là những sự kiện và vấn đề mới, đang và sắp xảy ra liên quan đến nhiều người và có ý nghĩa thời cuộc Sự kiện báo chí liên quan đến hai khái niệm: cái mới và cái lạ

- Tính công khai của thông tin báo chí

Báo chí hướng tác động đến quảng đại nhân dân, tác động vào số đông

Đó là tính công khai của báo chí Tính công khai tiềm ẩn sức mạnh của báo chí, phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, phụ thuộc vào mức

độ dân chủ của nền chính trị, tính minh bạch của nền kinh tế và trình độ dân trí

- Tính mục đích của thông tin báo chí

Mọi hoạt động của con người luôn có mục đích, có thể là mục đích mưu sinh, chính trị, nghệ thuật; mục đích cho bản thân, gia đình, cộng đồng; mục đích trước mắt và lâu dài Báo chí hiện đại đã có những bước phát triển vượt trội về mọi mặt, giúp con người có thể thỏa mãn các nấc thang nhu cầu

và mong đợi trên các lĩnh vực của cuộc sống

- Tính định kỳ, đều đặn của thông tin báo chí

Trang 16

Tính định kỳ của báo chí chính là sự giao ước, là hợp đồng trách nhiệm

xã hội của cơ quan báo chí với công chúng trong việc cung cấp và tiếp nhận thông tin Mỗi loại hình báo chí thể hiện tính định kỳ theo đặc trưng của mình Tính định kỳ của sản phẩm báo chí tiềm ẩn sức mạnh của báo chí, vì nó tạo ra phản xạ có điều kiện trong giao tiếp với công chúng xã hội

- Tính phong phú, đa dạng của thông tin báo chí

Thông tin báo chí thể hiện nhiều cấp độ, nhiều chiều, nhiều lĩnh vực, phương tiện và dạng thức biểu hiện Tính chất phong phú, đa dạng của thông tin báo chí thể hiện ở: đối tượng phản ánh trên tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội; đối tượng tác động phong phú, đa dạng; kênh chuyển tải thông tin phong phú; phương tiện và phương thức thông tin nhiều dạng vẻ khác nhau, linh hoạt; tính chất nhiều chiều tạo sự hấp dẫn

- Tính đa phương tiện

Đa phương tiện cho phép kết hợp các loại hình truyền thông trong việc chuyển tải thông điệp, nhằm gây chú ý, hấp dẫn và thuyết phục công chúng Thông điệp, sản phẩm đa phương tiện có khả năng tác động vào nhiều giác quan của con người làm tăng độ hấp dẫn, tính khách quan, chân thực, độ tin cậy và khả năng thuyết phục của thông tin

Trang 17

c Thể loại báo chí

Cùng với sự ra đời của báo chí, các thể loại báo chí cũng hình thành và dần dần được củng cố theo đặc thù bản chất của chúng Mỗi thể loại có lịch sử hình thành riêng theo mục đích, chức năng và đối tượng phản ánh

Thể loại báo chí là một trong những hiện tượng phức tạp của hoạt động

báo chí Để có hệ thống lý luận hoàn chỉnh và hoạt động thực tiễn thành thục

là điều không dễ dàng

Chúng ta biết rằng các sự kiện, hiện tượng, quá trình xảy ra trong đời sống xã hội có mức độ giá trị khác nhau Tùy thuộc vào tình huống và mục đích cụ thể mà nhà báo hoặc Bộ (Ban) biên tập lựa chọn một thể loại thích hợp để chuyển tải nội dung nhằm đạt hiệu quả cao nhất Việc sử dụng đúng thể loại báo chí có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và thành công của tác phẩm, vì không chỉ đơn thuần là xác định hình thức thể hiện mà trước hết là nghiên cứu đối tượng, phân tích nội dung, phạm vi phản ánh và mục đích nhất định của tác phẩm Vì vậy, thông hiểu và sử dụng tốt các thể loại báo chí sẽ giúp người làm báo lựa chọn nhanh chóng hình thức trình bày bài viết, giúp công chúng tiếp nhận tác phẩm phong phú, đa dạng và tòa soạn dễ nhận diện được thể loại để tổ chức trang báo, chương trình phát thanh, truyền hình, các website một cách khoa học, phù hợp với quan điểm và định hướng tuyên truyền của chế độ, của giai cấp [16, tr.9 – tr.10]

Lý luận báo chí đã chỉ ra rằng, thể loại báo chí hình thành trong lịch sử đấu tranh giai cấp, trong sự vận động, phát triển của đời sống xã hội và trong chính tự bản thân báo chí Trải qua quá trình lao động sản xuất và đấu tranh chính trị, tư tưởng, cuộc sống đòi hỏi báo chí phải có nhiều hình thức thể hiện phong phú, sinh động nhằm tác động nhanh chóng, hiệu quả vào tình hình xã hội và ý thức công chúng

Trang 18

Những nhà sáng lập nền báo chí cách mạng như C Mác, Ph Ănghen, V.I Lênin, Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Nhà nước ta đều là những người sử dụng thuần thục các thể loại báo chí

Chính các nhà kinh điển vừa là nhà cách mạng, vừa là nhà báo, nhà chính luận xuất sắc đã chỉ ra rằng: một tờ báo hay một nhà báo biết sử dụng nhiều thể loại báo chí thì báo chí sẽ tăng thêm tác dụng, hấp dẫn và lôi cuốn công chúng báo chí

Thực tiễn cho thấy, thể loại báo chí luôn gắn liền với cuộc sống con người và có tác dụng lớn đối với đời sống xã hội Nó cũng là hình thức sáng tạo mang tính lịch sử , tính quy luật, tính hệ thống của báo chí để phản ánh các sự kiện, hiện tượng, quá trình có thật vừa mới xảy ra trong hiện thực khách quan

cả trong nước và trên thế giới, có ý nghĩa chính trị - xã hội nhất định

Tùy theo tính chất kỹ thuật và phương thức thực hiện truyền thông, người ta có thể chia báo chí thành các loại hình như: báo in (báo, tạo chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn); báo nói (chương trình phát thanh); báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau); báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính)

Tóm lại, báo chí là phương tiện thông tin thời sự dành cho công chúng

Công chúng báo chí là tất cả mọi người, thuộc mọi tầng lớp trong xã hội, bất

kể già, trẻ, trai, gái, dân tộc, tôn giáo…Trong lĩnh vực báo chí, khái niệm thông tin được dùng như một danh từ để chỉ một dạng hoạt động của truyền thông đại chúng Trước hết, đó là thông tin thời sự - nghĩa là báo chí thông báo cho công chúng những sự kiện, hiện tượng, vấn đề đã, đang và sẽ diễn ra

1.1.2 Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí

a Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí

“Phong cách là những khuôn mẫu trong hoạt động lời nói, được hình

Trang 19

thành từ những thói quen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyền thống và chuẩn mực trong việc xây dựng các lớp văn bản tiêu biểu” [17, tr.19]

Với đặc điểm về yêu cầu tính xác thực rất cao, ngôn ngữ báo chí luôn chính xác, hấp dẫn Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện, thứ ngôn ngữ khách quan về những hoạt động, những gì đang xảy ra đúng như hiện thực khách quan, không hàm chứa sự thêm thắt, nhận xét, bình luận chủ quan của người viết

Trong tiến trình thực hiện các nhiệm vụ của báo chí đối với xã hội, hệ thống ngôn từ của báo chí loại bỏ và tiếp thu các đặc điểm ngôn ngữ ở các lĩnh vực, các thiết chế xã hội khác và tự thiết lập nên cho mình hệ đặc điểm riêng

Theo Tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn [20, tr.16]: chức năng của ngôn ngữ

trong phong cách báo chí gồm chức năng thông báo (thông tin trung thực, lành mạnh) và chức năng tác động (hướng dẫn dư luận, hướng vào nhu cầu,

nguyện vọng của người đọc, người nghe) Điều đó cũng có nghĩa là: báo chí

sử dụng ngôn ngữ để chuyển tải (thông báo) thông tin, sự kiện tác động đến công chúng Đồng quan điểm về chức năng của ngôn ngữ trong phong cách báo chí với TS Bùi Trọng Ngoãn, chúng tôi nhận thấy rằng: chính sự kiện đã tạo nên cho ngôn ngữ báo chí một loạt các tính chất cụ thể cần sử dụng trong quá trình viết báo Các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí cũng được tác giả Hoàng Anh [1, tr.9-13] lần lượt trình bày cụ thể:

- Tính chính xác:

Tính chính xác không chỉ đạt hiệu quả giao tiếp cao mà còn góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Vì số lượng người tiếp nhận các sản phẩm của báo chí đông tới mức không xác định được và họ lại luôn xem các cơ quan báo chí là “ngọn đèn chỉ dẫn” trong việc dùng ngôn từ, cho nên ngôn ngữ báo chí càng hoàn thiện thì tiếng Việt càng có điều kiện phát triển

- Tính cụ thể:

Mỗi sự kiện được đề cập trong tác phẩm báo chí đều phải gắn liền với

Trang 20

một không gian, thời gian xác định; với những con người cũng xác định Đây

là cội nguồn của sự thuyết phục, vì nhờ những yếu tố đó người đọc – người nghe có thể kiểm chứng thông tin một cách dễ dàng Do đó, trong ngôn ngữ báo chí nên hạn chế tối đã việc dùng các từ ngữ, cấu trúc không xác định hay

có ý nghĩa mơ hồ kiểu như “một người nào đó”, “ở một nơi nào đó”, “vào khoảng”, “hình như”…

- Tính đại chúng:

Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng, chính vì thế, ngôn ngữ báo chí phải là ngôn ngữ dành cho tất cả và của tất cả, tức là có tính phổ cập rộng rãi Tuy nhiên, phổ cập rộng rãi không có nghĩa là dễ dãi, thấp kém

và thời gian

- Tính bình giá:

Các tác phẩm báo chí không chỉ đưa thông tin về các sự kiện, mà còn phải thể hiện công khai thái độ của tác giả đối với sự kiện thông qua sự bình giá Sự bình giá này có thể là tích cực mà cũng có thể là tiêu cực, nhưng trong bất kỳ tình huống nào nó cũng được biểu đạt trực tiếp qua ngôn từ

- Tính biểu cảm:

Tính biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí gắn liền với việc sử dụng các từ ngữ, lối nói mới lạ, giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá nhân, và do đó sinh động

Trang 21

hấp dẫn hay ít nhất cũng gây được ấn tượng đối với độc giả Nếu ngôn ngữ báo chí không có tính biểu cảm, những thông tin khô khan mà nó chuyển tải khó có thể được công chúng tiếp nhận như mong muốn, vì chúng mới chỉ tác động vào lý trí của họ

- Tính khuôn mẫu:

Đó là những công thức ngôn từ có sẵn (lớp từ ngữ văn hóa), được sử dụng lặp đi lặp lại nhằm tự động hóa quy trình thông tin, làm cho nó trở nên nhanh chóng, thuận tiện hơn Khuôn mẫu bao giờ cũng đơn nghĩa và mang sắc thái biểu cảm trung tính…Giao tiếp báo chí không thể thiếu khuôn mẫu vì

nó tiết kiệm thời gian và công sức cho chủ thể sáng tạo, thích ứng với việc đưa tin cập nhật, tức thời Tuy nhiên, các thành tố khuôn mẫu trong ngôn ngữ báo chí lại luôn kết hợp hài hòa với các thành tố biểu cảm cho nên ngôn ngữ báo chí thường rất mềm mại, hấp dẫn chứ không khô khan như ngôn ngữ trong văn bản khoa học và văn bản hành chính là nơi người ta chỉ sử dụng thuần nhất các thành tố khuôn mẫu mà thôi

b Chuẩn mực ngôn ngữ và chuẩn ngôn ngữ trong báo chí

- Chuẩn mực ngôn ngữ

Để đánh giá sự sử dụng ngôn ngữ, cần dựa vào chuẩn mực Chuẩn mực

là căn cứ của cái đúng và mẫu mực, nó bảo đảm tính thống nhất và tính ổn định của ngôn ngữ văn hóa

Hoàng Phê xác định: “Chuẩn mực có thể chỉ phương tiện ngôn ngữ mà cũng có thể chỉ quy tắc Nghĩa là chúng ta nói có những âm, những từ chuẩn mực, cũng như nói có những cách phát âm, cách dùng từ chuẩn mực” (dẫn theo Đinh Trọng Lạc [17, tr.23])

Chuẩn mực ngôn ngữ (hay chuẩn mực văn hóa của ngôn ngữ toàn dân)

là khái niệm rộng nhất Đó là toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng

đã được mọi người thừa nhận và đã được coi là đúng và mẫu mực trong xã

Trang 22

hội nhất định và trong thời đại nhất định cũng như toàn bộ các quy tắc sử

dụng của xã hội đối với ngôn ngữ đó Chuẩn mực ngôn ngữ không gắn với

một phạm vi đặc trưng nào của hoạt động lời nói Cho nên chuẩn mực ngôn ngữ chỉ trả lời câu hỏi ngôn ngữ được “dùng có đúng với ngôn ngữ văn hóa

không?” Những từ sao, vì sao, tại sao, vì lẽ gì, cớ làm sao, hà cớ…là đúng chuẩn mực ngôn ngữ, nhưng từ răng (từ địa phương của miền Trung) là

không đúng chuẩn mực ngôn ngữ

Chuẩn mực phong cách là toàn bộ các chỉ dẫn thể hiện những tính quy

luật bắt buộc ở một thời kì nhất định của một ngôn ngữ trong việc lựa chọn

và kết hợp những chuẩn mực ngôn ngữ sao cho phù hợp với phong cách của

hoạt động lời nói và với các kiểu và thể loại văn bản Chuẩn mực phong

cách gắn với một phạm vi đặc trưng của hoạt động lời nói, với một kiểu, một

thể loại văn bản cụ thể Cho nên chuẩn mực phong cách chỉ trả lời câu hỏi:

“Dùng có phù hợp với hoàn cảnh hay ngữ cảnh (phong cách, kiểu, thể loại) này không?”[17, tr.23 - 25]

Sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩn mực là việc không phải dễ dàng và cần được mỗi người tự ý thức trau dồi để sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩn mực trong sinh hoạt, đời sống

Chuẩn ngôn ngữ là mẫu ngôn ngữ đã được xã hội đánh giá, lựa chọn và

sử dụng Ngôn ngữ chuẩn mực trước hết phải là những thói quen giao tiếp ngôn ngữ được định hình về mặt xã hội và được chấp nhận trong cảm thức ngôn ngữ của người bản ngữ Là cơ sở cho người nói hay người viết tạo lập lời nói, hay tạo lập văn bản, cũng là cơ sở cho người nghe/người đọc lĩnh hội được lời nói hoặc văn bản đó

Chuẩn mực ngôn ngữ bao gồm : chuẩn từ vựng, chuẩn ngữ pháp và chuẩn phong cách

+ Nội dung của chuẩn hóa từ vựng bao gồm 3 mặt: mặt ý nghĩa của từ

Trang 23

ngữ; mặt ngữ âm của từ ngữ; mặt chữ viết của từ ngữ

+ Chuẩn mực về ngữ pháp rất cần cho sự hiểu biết tiếng Việt và cho việc sử dụng tiếng Việt Chuẩn về ngữ pháp được biểu hiện ở việc cấu tạo các

từ, việc kết hợp các từ thành cụm từ và câu, ở việc cấu tạo các thành phần của văn bản và các văn bản thuộc các loại khác nhau

+ Xác định những đặc điểm tất yếu của việc dùng tiếng Việt trong các lĩnh vực giao tiếp và các tình huống giao tiếp khác nhau của đời sống xã hội chính là sự chuẩn mực về phong cách Ngôn ngữ được sử dụng để giao tiếp trong mỗi lĩnh vực, tình huống như vậy có những nhiệm vụ và mục đích nhất định, đòi hỏi những nhân tố và phương tiện ngôn ngữ đặc thù Có những chuẩn mực thuộc ngôn ngữ nói, có những chuẩn mực của ngôn ngữ viết, có những chuẩn mực thuộc các phong cách sinh hoạt hằng ngày, phong cách nghệ thuật, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách hành chính, phong cách báo chí,… Khi sử dụng tiếng Việt, chúng ta cần tuân thủ những nguyên tắc này

Tác giả Vũ Quang Hào cho rằng: “Chuẩn ngôn ngữ có những qui luật và cách sử dụng tồn tại khách quan trong một giai đoạn, trong một cộng đồng người

và mang tính chất bắt buộc tương đối với thành viên trong cộng đồng Nhưng ngôn ngữ luôn vận động nên cái chuẩn chung không những không loại trừ mà còn cho phép các biến thể khác nhau được sử dụng cùng với chuẩn” [14, tr.20]

Các biến thể đó có thể coi là chệch chuẩn, nhưng không phải là sai Nó cũng được coi là một sự sáng tạo và được công chúng chấp thuận và đón nhận

Hoàng Trọng Phiến quan niệm: “Chệch chuẩn là một thủ pháp sáng tạo, cách

tân phù hợp với chuẩn, với cái đúng, cái thích hợp và được thói quen dùng chấp nhận” (dẫn theo Vũ Quang Hào [14, tr.21])

Có thể khẳng định, chệch chuẩn là một hiện tượng chỉ có tính lâm thời, chỉ xuất hiện trong một giai đoạn nhất định và mang những sắc thái biểu cảm

Trang 24

nhất định Song cũng có những chệch chuẩn lại có sức sống lâu dài, trở thành khuôn mẫu độc đáo được nhiều người áp dụng, ngược lại cũng có những chệch chuẩn đi theo khuôn mẫu lại tạo ra sự bất thường tiêu cực

Chệch chuẩn chế định sự hình thành phong cách nhà báo, và chính phong cách nhà báo lại là yếu tố khẳng định sự cần thiết và vai trò của việc sáng tạo chệch chuẩn trong quá trình tạo lập văn bản báo chí

“Nhìn một cách tổng quát, một hiện tượng ngôn ngữ được coi là đúng phải thỏa mãn được những đòi hỏi của cấu trúc nội tại của ngôn ngữ và phải phù hợp với truyền thống ngôn ngữ, được mọi thành viên trong cùng một cộng đồng (trong những điều kiện tương đối thống nhất) hiểu đúng như nhau Cái đúng là yêu cầu bắt buộc trong việc sử dụng ngôn ngữ ở tất cả các cấp độ

và ở mỗi cấp độ ấy lại có những yêu cầu, những tiêu chuẩn riêng Như vậy, trong chuẩn ngôn ngữ thì cái đúng là nhân tố quan trọng bậc nhất bảo đảm cho quá trình giao tiếp” [1 , tr.18]

- Chuẩn ngôn ngữ trong báo chí

Báo chí có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội, trong sự phát triển kinh tế - văn hóa của địa phương nói riêng và cả nước nói chung, vì thế ngôn ngữ được sử dụng trong báo chí phải là ngôn ngữ chuẩn

Giáo sư John Hohenberg cho rằng: “Không thể cẩu thả trong việc sử

dụng ngôn ngữ ở các ngành truyền thông được Ngôn ngữ phải chuyển được tin tức, ý kiến và tư tưởng tới quần chúng càng hữu hiệu càng tốt Cũng không thể hạ giá văn phạm Sự chuẩn xác của ngôn ngữ làm sắc bén thêm ý nghĩa của sự kiện Vi thế sự kiện và chuẩn xác phải luôn luôn đi đôi với nhau” (dẫn theo Vũ Quang Hào [14, tr.11])

Chuẩn ngôn ngữ báo chí cần xét trên hai phương diện: phải mang tính chất quy ước xã hội và phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch sử

Trang 25

Chuẩn mực ngôn ngữ là một vấn đề lớn trong ngôn ngữ học Về khái

niệm chuẩn ngôn ngữ, cần xét trên hai phương diện: chuẩn mang tính chất

quy ước xã hội và chuẩn phải phù hợp với quy luật phát triển của nội tại ngôn ngữ trong từng giai đoạn nhất định Xác định chuẩn ngôn ngữ, đặc biệt

là chuẩn ngôn ngữ báo chí, cần phải dựa trên những cứ liệu thực tế của ngôn

ngữ ở tất cả các cấp độ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách Bên cạnh

đó, cần phải xét những lý do ngoài ngôn ngữ vốn ảnh hưởng đến sự phát triển, thay đổi của nó: những biến đổi lớn lao trong xã hội, vai trò tác động của các trào lưu, các nhóm xã hội…, công cuộc đổi mới và sự mở cửa hội nhập quốc tế Về mặt quy luật biến đổi nội tại của ngôn ngữ, nước ta có những văn bản, những cuộc vận động chuẩn hóa trên cơ sở nghiên cứu gốc

rễ từ nguyên, những biến đổi, sai khác, dị biệt trong hệ thống ngôn ngữ và quá trình phát triển Về mặt tác động từ bên ngoài, báo chí thể hiện rõ ràng những biến đổi của ngôn ngữ Nền báo chí Việt Nam từ khi ra đời cho đến

nay đã trải qua nhiều biến động xã hội ảnh hưởng đến chuẩn Thế nào gọi là

chuẩn? Ai định ra chuẩn? Chuẩn được xã hội chấp nhận như thế

nào? Chẳng hạn, thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, ngôn ngữ báo chí

chịu sự kiểm duyệt gắt gao của thực dân, phát xít Những quy định về chuẩn

ấy do giai cấp thống trị đề ra và phục vụ cho quyền lợi của chúng, xã hội Việt Nam không thừa nhận và luôn thể hiện sự phản kháng Trong cuộc đấu tranh giữ nước và dựng nước, những lớp từ, những phong cách báo chí thể hiện tính chất của cuộc chiến đấu ấy, của ý Đảng – lòng dân được coi là chuẩn mực, đã kêu gọi tinh thần sục sôi của đồng bào theo ngọn cờ chung Đến khi thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa, tác động của nền kinh tế thị trường và những luồng văn hóa, tư tưởng mới thâm nhập đã có ảnh hưởng ngày càng sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống khiến ngôn ngữ báo chí, văn phong báo chí ngày càng biến đổi đa dạng, phong phú và phức tạp

Trang 26

Những từ ngữ, cách diễn đạt của các giới, các nhóm xã hội, các thuật ngữ chuyên ngành, của các trào lưu…phát triển mạnh hơn Những ngôn ngữ như: ngôn ngữ Internet, ngôn ngữ hip-hop, ngôn ngữ Man-ga của truyện tranh Nhật Bản…xuất hiện trong đời sống, đi vào báo chí, và một hệ quả tất yếu là ngôn ngữ báo chí hiện nay đang có rất nhiều sự pha trộn vừa phong phú mà cũng vừa phức tạp

Có thể nói, mỗi nhóm xã hội có thể đề ra chuẩn ngôn ngữ cho riêng

mình và sử dụng trong phạm vi nhóm Khi ảnh hưởng của nhóm rộng rãi thì những từ chuyên biệt, cách diễn đạt, cách hiểu…của nhóm xã hội đó trở thành công cụ đắc lực của các phương tiện thông tin đại chúng Quá trình thông tin, phản ánh này càng sâu rộng thì ngôn ngữ báo chí càng bị ảnh hưởng sâu sắc Theo tác giả Vũ Quang Hào [14, tr.25 - 26]: Đối với mỗi một nhà báo, sự sáng tạo ở phương diện ngôn ngữ sẽ là một trong những yếu tố góp phần khẳng định phong cách của họ Những điểu này giúp độc giả phân biệt được nhà báo này với nhà báo khác, kể cả những nhà báo có chung sở trường về một loại đề tài nào đó hoặc về một thể loại báo chí nào đó

Chúng tôi tán đồng quan điểm của tác giả Hoàng Anh: “Ngôn ngữ của bất kỳ phong cách nào cũng phải bảo đảm tính chính xác Nhưng với ngôn ngữ báo chí, tính chất này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì báo chí có chức năng định hướng dư luận xã hội Chỉ cần một sơ suất dù nhỏ nhất về ngôn từ cũng có thể làm cho độc giả khó hiểu hoặc hiểu sai thông tin, nghĩa là có thể gây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng Sử dụng ngôn từ trong các tác phẩm một cách chính xác, nhà báo không chỉ đạt hiệu quả giao tiếp cao mà còn góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Vì số lượng người tiếp nhận các sản phẩm báo chí đông tới mức không xác định được và họ (nhất là trẻ em ) lại luôn xem các cơ quan báo chí là “ngọn đèn chỉ

Trang 27

dẫn” trong việc dùng ngôn từ, cho nên ngôn ngữ báo chí càng hoàn thiện thì tiếng Việt càng có điều kiện phát triển” [1, tr.9]

1.2 TRUYỀN HÌNH VÀ NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH

1.2.1 Giới thiệu về truyền hình

Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng truyền tải thông tin bằng sự kết hợp hài hòa giữa hình ảnh động và âm thanh, tạo ra khả năng chuyển tải các nội dung thông tin vô cùng phong phú, hấp dẫn và có hiệu quả bằng phương tiện truyền thông truyền hình [27, tr 69]

Xuất hiện vào đầu thế kỷ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ

sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Dần dần truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và các dịch vụ khác Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc; trở thành vũ khí, công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như lĩnh vực kinh tế xã hội

Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, truyền hình ngày càng đẹp hơn về hình thức, phong phú hơn về nội dung, làm cho cuộc sống như được

cô đọng lại và tăng thêm ý nghĩa

Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải, có truyền hình sóng (wireless TV)

và truyền hình cáp (CATV) Xét theo góc độ thương mại có truyền hình công cộng (public TV) và truyền hình thương mại (commercial TV) Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí,… Xét theo góc độ kỹ thuật có truyền hình tương tự

Trang 28

(Analog TV) và truyền hình số (Digital TV)

Tuy không phải là loại hình ra đời sớm nhưng truyền hình đang ngày càng khẳng định vị trí của mình trong “làng báo chí”, nó đã và đang là phương tiện thông tin hữu hiệu, là một lọai hình báo chí đang có thế mạnh, được công chúng quan tâm và đã trở thành kênh thông tin không thể thiếu trong đời sống hàng ngày

Hiện nay cả nước có 66 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương Trong đó, đài phủ sóng toàn quốc: Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV)

và Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) (ngày 27/6/2015, đã diễn ra lễ bàn giao nguyên trạng Đài Truyền hình Kỹ thuật số (VTC) từ Bộ Thông tin truyền thông về Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) theo quyết định số 752/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 02/6/2015); 64 đài PT-TH địa phương

Ngày 7/9/1970 là ngày phát sóng đầu tiên của Truyền hình Việt Nam Ngày 30/4/1975 ghi dấu ấn lịch sử chói lọi của dân tộc khi kết thúc Cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất Tổ quốc Cùng với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự nghiệp phát triển truyền hình địa phương của cả nước được đặc biệt quan tâm, trưởng thành nhanh chóng và có những tiến bộ vượt bậc Đáng chú ý, chất lượng các chương trình được nâng cao, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng

Ngày 7/9 trở thành ngày kỉ niệm truyền thống của truyền hình Việt Nam Từ ngày ấy đến nay, truyền hình Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng và có những tiến bộ vượt bậc Từ phát hình đen trắng chuyển sang phát hình màu, từ phát thử nghiệm chương trình 4 giờ/ ngày vào ban đêm, đến năm

1995 phát 10 giờ/ ngày; đến nay Đài Truyền hình Việt Nam phát với tổng số thời lượng là 200 giờ/ ngày trên 6 kênh VTV1, VTV2, VTV3, VTV4, VTV5, VTV6, VTV7 (thử nghiệm 6 giờ - 8 giờ sáng hàng ngày) cùng với 4 kênh truyền hình cáp hữu tuyến và 64 đài phát thanh - truyền hình địa phương

Trang 29

Ngành truyền hình Việt Nam đã có nhiều nỗ lực vượt bậc nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng Truyền hình Việt Nam còn chú trọng đẩy mạnh việc đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân viên, cán bộ kỹ thuật, đặc biệt là đội ngũ phóng viên, biên tập nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và sự quy chuẩn của đội ngũ người làm truyền hình hiện đại Như vậy, cùng với sự phát triển của các loại hình truyền hình, việc nâng cao chất lượng thông tin trên truyền hình ngày càng trở nên cấp thiết

1.2.2 Ngôn ngữ truyền hình

Đi theo sự phát triển nhiều loại hình thông tin đại chúng, ngôn ngữ báo chí cũng tách dần ra theo từng ngành riêng Lợi thế rất lớn của truyền hình là hình ảnh sống động, nên ngôn ngữ truyền hình không những phải bám sát các khuôn hình mà còn cần biết gợi mở cảm xúc cho người xem Tiếp nhận thông tin bằng mắt bao giờ cũng sâu hơn, hiệu quả hơn bằng tai nghe Ở truyền hình, công chúng vừa xem bằng mắt, vừa nghe bằng tai, do đó truyền hình có lợi thế hơn rất nhiều so với các loại hình báo chí khác

Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ của hình ảnh và âm thanh Đây chính là ưu thế của truyền hình vì cùng lúc cả hình ảnh và âm thanh được chuyển đến người tiếp nhận thông tin Khác với báo in được người đọc trực tiếp nhận bằng con đường thị giác, phát thanh bằng con đường thính giác Do vậy, truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện

Nếu như thông tin trên báo in do câu chữ và hình ảnh (ảnh chụp minh họa) trong bài viết đưa lại thì thông tin trên truyền hình là do hình ảnh cùng với lời đọc, lời bình Ngôn ngữ được sử dụng ở đây là ngôn ngữ viết dùng để đọc, vì vậy phải viết sao cho khán thính giả kịp hiểu khi nó được tác động đến vai tiếp nhận bằng âm thanh Chính vì vậy, ngôn ngữ trong chương trình

Trang 30

truyền hình không chỉ mang tính thời sự mà còn gây ấn tượng và đòi hỏi

giọng đọc cũng như từ ngữ phải có phong cách thân mật, tự nhiên “Biên tập

viên kể cho khán giả nghe một câu chuyện chứ không phải đọc cho khán giả nghe một bài viết sẵn” [9, tr.38] Do đó, vấn đề phát âm, ngữ điệu, ngắt

giọng…trên truyền hình cũng cần có sự quan tâm thỏa đáng

Đối với truyền hình, cùng với hình ảnh, nội dung chuyển tải đến người nghe bằng giọng đọc, muốn người tiếp nhận thông tin nắm bắt đầy đủ thông tin (qua đường tai nghe) thì nội dung cần phải đơn giản và đi sâu vào một khía cạnh nào đó của vấn đề chứ không thể nói tất cả các khía cạnh, ngóc ngách của vấn đề như báo viết Do đó, thông tin trên truyền hình sơ lược hơn

và từ ngữ cũng đơn giản hơn

Mặc dù là một loại hình báo chí nhưng bên cạnh những đặc điểm chung của báo chí, truyền hình còn có những điểm đặc trưng riêng của nó Dựa vào

“giáo trình lý luận báo chí truyền thông” của Dương Xuân Sơn, “ngôn ngữ báo chí, những vấn đề cơ bản” của Nguyễn Đức Dân, “báo chí truyền thông hiện đại” của Nguyễn Văn Dững, “ngôn ngữ báo chí” của Vũ Quang Hào;

chúng tôi tập hợp các đặc tính của ngôn ngữ truyền hình như sau:

a Tính tức thời

Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí Truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác, vì thế, ở truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra, thậm chí nó đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình Truyền hình có khả năng phát sóng liên tục 24/24 giờ trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật những tin tức mới nhất Đây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác

Trang 31

Nhờ các thiết bị kỹ thuật hiện đại, truyền hình có đặc trưng cơ bản là truyền trực tiếp cả hình ảnh và âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự kiện, sự việc

b Tính hình ảnh và âm thanh

Một ưu thế nổi trội của truyền hình chính là khả năng truyền tải cả hình ảnh và âm thanh cùng lúc Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhận bằng con đường thị giác, với phát thanh bằng con đường thính giác, người xem truyền hình tiếp cận sự kiện bằng cả thị giác và thính giác

Qua các cuộc nghiên cứu, người ta thấy 75% lượng thông tin con người thu được là do thị giác và 25% qua thính giác

Do vậy, truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin lớn

có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện

c Tính phổ cập và quảng bá

Do những ưu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ được nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu, vùng xa

Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ, một sự kiện xảy ra ở bất kỳ đâu nếu được đưa lên vệ tinh sẽ truyền đi khắp thế giới, được hàng tỉ người biết đến

d Khả năng thuyết phục công chúng

Truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là hình ảnh và âm thanh, đem lại độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng; có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của con người Truyền hình có khả năng truyền tải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa nên đáp ứng

Trang 32

yêu cầu chứng kiến tận mắt của công chúng “Trăm nghe không bằng một thấy” – đây là lợi thế của truyền hình so với loại hình báo in và phát thanh

e Khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân dân

Các chương trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng hổi, hấp dẫn người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình; vừa cho người xem thấy được thực tế của vấn đề, vừa tác động vào nhận thức của công chúng Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ, công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo, tác động dư luận cũng vì thế mà ngày càng rộng rãi

f Tính đơn thoại trong giao tiếp

Đây là một thứ ngôn ngữ độc thoại đặc biệt, đặc tính này được hiểu là ngôn ngữ của một người nói (biên tập viên) với hàng triệu người Vì vậy, đòi hỏi người thực hiện cần lựa chọn phương tiện ngôn ngữ sao cho thỏa mãn sự tiếp nhận của hàng triệu khán giả

g Tính khoảng cách

Đây chính là khoảng cách giữa biên tập viên và khán giả

Khán giả có thể nhìn thấy (xem) hoặc không thấy biên tập viên (chi nghe, không xem) nhưng một điều hiển nhiên là biên tập viên không hề nhìn thấy khán giả Do đó, biên tập viên cần thể hiện những yếu tố biểu cảm phi ngôn ngữ giao tiếp như nét mặt, ánh mắt, cử chỉ khi xuất hiện trên các chương trình mà mình đảm nhận đọc/ dẫn Mặt khác, tính khoảng cách còn thể hiện trong việc tiếp nhận của khán giả: có thể bật hay tắt tivi, tăng hay giảm âm thanh…Chắc chắn ngôn ngữ của chương trình dễ được khán giả tiếp nhận khi

nó không bị phức tạp hóa Do đó, biên tập viên cần có tốc độ đọc phù hợp, có

sự truyền cảm, lôi cuốn trong từng câu chữ

Trang 33

1.3 TỔNG QUAN VỀ TRAILER CỔ ĐỘNG, QUẢNG BÁ

1.3.1 Khái niệm quảng cáo

Quảng cáo là hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có khả năng mang lại lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân hoặc là các dịch vụ thông tin nhằm thực hiện một mục tiêu văn hóa, chính trị nào đó Quảng cáo phi thương mại

là những quảng cáo được xây dựng nhằm thuyết phục công chúng về một ý tưởng, hành động nào đó như tuyên truyền hiến máu nhân đạo, đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, cảnh báo về tác hại của thuốc lá,

Quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả phí hoặc không để thực hiện việc giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng, quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đó người muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận thông tin

Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán Quảng cáo được chuyển đi bằng nhiều phương tiện truyền thông khác nhau, như: Truyền hình: là phương tiện tác động đến người tiêu dùng đa dạng và toàn diện nhất, bằng âm thanh, hình ảnh sống động Quảng cáo trên truyền hình (thuật ngữ tiếng anh Television advertisement hay television commercial – viết tắt TVad) là một dạng phim hay tiết mục được dàn dựng sản xuất và phải trả phí bởi những tổ chức, hội đoàn muốn quảng bá một thông điệp nào

đó, thường là để quảng cáo hay khuyến mại một món hàng nào đó hoặc để cổ động, phổ biến điều gì đó [vi.wikipedia.org, truy cập 04/7/2015]

Quảng cáo trên truyền hình là một phương pháp truyền tin từ người thuê quảng cáo qua phương tiện truyền hình đến nhiều người Quảng cáo trên

Trang 34

truyền hình là một loại hình quảng cáo khá phổ biến được sử dụng từ những năm 50 của thế kỷ XX Đây là loại hình quảng cáo khá hiệu quả và ngày càng phát triển mạnh

Khái niệm quảng cáo trên truyền hình có phạm vi nhỏ hơn so với phạm vi quảng cáo nói chung Khái niệm quảng cáo trên truyền hình đã được mặc định hóa phương tiện truyền thông tin từ người thuê quảng cáo đến người tiêu dùng

1.3.2 Khái niệm trailer

Trailer hay phim quảng cáo cho bộ phim sắp được chiếu trong tương lai tại một rạp chiếu phim, trên các màn hình mà chúng được hiển thị Thuật ngữ

“trailer” đến từ nguyên trạng ban đầu là đoạn phim được hiển thị ở cuối của một chương trình phim Cách làm này đã không kéo dài, bởi vì khách có xu hướng rời khỏi nhà hát sau khi kết thúc phim Sau đó, trailer được hiển thị trước khi việc chiếu phim bắt đầu hoặc sử dụng như phim quảng cáo [vi.wikipedia.org, truy cập 04/7/2015]

1.3.3 Khái niệm quảng bá chương trình

Quảng cáo báo xuất hiện từ rất sớm ở những nền báo chí phát triển như Đức, Anh và đặc biệt phổ biến ở Thụy Điển Mục đích của quảng cáo báo và quảng bá báo chí cho dù khác nhau nhưng chúng đều chung một đối tượng hướng đến là công chúng báo chí [14, tr.289]

Quảng cáo báo và quảng bá báo chí đều chung một đối tượng hướng đến là công chúng báo chí nhưng mục đích khác nhau cho dù có những tương đồng nhất định Nếu như quảng cáo báo được phát hành cùng với số báo, nhằm thu hút độc giả, gợi sự tò mò của họ và thuyết phục họ (bằng ngôn ngữ trên quảng cáo báo) mua số báo đó, thì quảng bá báo chí là công việc mà một

cơ quan báo chí (một tờ báo, một đài phát thanh, một đài truyền hình, một trang web…) thậm chí một chương trình, hệ chương trình phát thanh hay truyền hình…giới thiệu hình ảnh của mình với đông đảo công chúng, thu hút

Trang 35

họ chú ý đến mình và thuyết phục họ chịu ảnh hưởng tích cực của mình bằng thông tin [14, tr.296]

Có nhiều hình thức quảng bá báo chí Phổ biến hơn cả là hình thức phác họa những nét căn bản nhất về một tờ báo, cơ quan báo chí, một chương trình, hệ chương trình phát sóng [14, tr.297]

Ưu điểm lớn nhất của cách quảng bá này là nó đem đến cho công chúng một hình ảnh khá đầy đủ và rõ nét về các chương trình truyền hình nhưng điểm yếu lớn nhất của nó là ngôn ngữ rất khó nhớ và càng rất khó gây hấp dẫn đối với công chúng Thậm chí nhiều quảng bá sử dụng trùng lặp một

số từ ngữ (thường là mỹ từ) khiến công chúng bị nhàm chán và rất khó có thể nhận ra sự khác biệt giữa chương trình này với chương trình khác nếu như họ không xem/nghe quảng bá từ đầu đến cuối [14, tr.297]

Ngôn ngữ quảng bá báo chí, theo Vũ Quang Hào là: Quảng bá hình ảnh

và sự tác động hiệu quả của mình bằng một ngôn ngữ rất ngắn gọn, có sức khu biệt cao, hàm lượng thông tin lớn và đặc biệt quyến rũ công chúng Đó là

thứ ngôn ngữ của khẩu hiệu.[14, tr.297]

Tuy nhiên, khẩu hiệu được nói đến ở đây không hoàn toàn trùng với

nghĩa thường thấy của từ này, càng không phải được nói đến với nghĩa của những khẩu hiệu được dùng ở một số măng-séc báo

Ngôn ngữ của khẩu hiệu quảng bá báo chí gồm ít nhất 3 thành tố cấu thành: được viết bằng một cụm từ hoặc một ngữ với ít từ ngữ nhất nhưng hàm chứa được lượng thông tin đúng bản chất nhất và đặc thù nhất về cơ quan báo chí; có khả năng quyến rũ, thuyết phục nhất và bất ngờ nhất đối với công chúng; nó hé mở chút lợi ích (hiểu theo nghĩa tích cực) với công chúng

Trailer cổ động, quảng bá về chương trình truyền hình cũng là một hình thức quảng bá báo chí Theo quyết định 663/QĐ-THVN ngày 25/5/2011 của Tổng Giám đốc Đài THVN Trần Bình Minh: “Đối với Đài THVN có nhiều

Trang 36

hình thức quảng bá, phổ biến hơn cả là hình thức phác họa những nét căn bản nhất, sử dụng các sản phẩm như trailer, clip và các hình thức khác để giới thiệu các chương trình truyền hình, các nội dung về kênh, chuyên mục, sự

kiện, nhân vật, thông điệp truyền thông phát trên các kênh sóng của Đài

THVN”

1.4 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VTV ĐÀ NẴNG

VTV Đà Nẵng là đơn vị trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam có chức năng sản xuất, khai thác các chương trình truyền hình tại khu vực để phát sóng trên sóng truyền hình Quốc gia (VTV) và trên sóng của Trung tâm THVN tại thành phố Đà Nẵng (VTV Đà Nẵng); truyền tiếp các chương trình truyền hình quốc gia tại địa bàn theo chỉ đạo của Tổng giám đốc, trên cơ sở đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đồng thời ghi nhận, phản ánh, giới thiệu những hình ảnh hoạt động của con người

và văn hóa của khu vực miền Trung, Tây nguyên với đồng bào trong nước và quốc tế

Vị trí địa lý: VTV Đà Nẵng được đặt ngay tại trung tâm của khu vực

miền Trung Tây Nguyên là Đà Nẵng, một địa bàn trọng yếu cả về kinh tế và an ninh quốc phòng, nơi có sông, có núi, có cửa biển lớn, cửa biển hiểu theo nhiều nghĩa, là cảng thị và cũng là vùng đất mở, vùng đất của hội nhập, phát triển Trong hoạt động tuyên truyền, VTV Đà Nẵng được ví như con mắt thần của Truyền hình Việt Nam, bởi tầm quan trọng của vị trí địa lý và lịch sử dân tộc vùng đất này Tất cả đã làm nên một VTV Đà Nẵng kiên cường và bản lĩnh

Truyền dẫn phát sóng: Trạm phát sóng trên đỉnh núi Sơn Trà đã chính

thức đưa vào sử dụng đầu năm 2012, ở độ cao gần 650 mét so với mực nước biển và máy phát mới có công suất 10kw, sóng kênh 9 VTV Đà Nẵng đã phủ hết địa bàn Đà Nẵng, gần hết địa bàn tỉnh Quảng Nam, một phần phía bắc tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Kon Tum và phía nam tỉnh Thừa Thiên Huế Với việc phủ

Trang 37

sóng Analog tăng gấp nhiều lần so với năm 2010 trở về trước, cùng với việc đưa chương trình VTV Đà Nẵng vào phát ở hệ thống Truyền cáp, Truyền hình

số mặt đất cũng như trên hệ thống Mytv, VTV Đà Nẵng sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người xem truyền hình ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên nói

riêng, cả nước nói chung

VTV Đà Nẵng thực sự góp phần tạo ra hình ảnh VTV như là nhịp cầu thân thiết nối lòng dân với ý Đảng, một bức tranh văn hóa chân thực, đa sắc

và sinh động, một dòng chảy nhân sinh mang đầy đủ các chiều kích từ mọi vùng miền trên đất nước VTV Đà Nẵng đã có 38 năm xây dựng và trưởng thành Vượt qua nhiều khó khăn, trở ngại, VTV Đà Nẵng đã có những bước phát triển mạnh mẽ Với hai nhiệm vụ chủ yếu sản xuất các chương trình; phản ánh các mặt đời sống của khu vực duyên hải nam Trung bộ và Tây Nguyên; phát sóng phục vụ khán giả xem truyền hình trong khu vực, VTV Đà Nẵng thực sự đã hòa nhập vào sóng Truyền hình quốc gia

Trang 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, chúng tôi đã tập trung trình bày về các cơ sở lí thuyết, các khái niệm cơ bản để làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu Cụ thể, chúng tôi nêu đặc điểm của báo chí, báo chí hiện đại; trình bày các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí; khái niệm truyền hình và chỉ ra đặc điểm của ngôn ngữ truyền hình Đồng thời, chúng tôi cũng nêu ra các chuẩn mực ngôn ngữ, chuẩn mực ngôn ngữ báo chí để là tiền đề cho việc triển khai luận văn Chúng tôi cũng đã chỉ ra các khái niệm về quảng cáo, khái niệm trailer và khái niệm về quảng bá chương trình Vì đề tài của luận văn là “Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của các trailer cổ động, quảng bá về chương trình truyền hình của VTV Đà Nẵng” nên chúng tôi cũng giới thiệu khái quát về VTV Đà Nẵng

Cơ sở lí thuyết này sẽ là yếu tố quan trọng, là kim chỉ nam định hướng cho việc triển khai các nội dung ở các chương chính của luận văn

Trang 39

CHƯƠNG 2 LỰA CHỌN CHƯƠNG TRÌNH ĐỂ QUẢNG BÁ

VÀ XỬ LÝ VỀ NỘI DUNG QUẢNG BÁ

2.1 LỰA CHỌN CHƯƠNG TRÌNH ĐỂ QUẢNG BÁ

Hiện tại vẫn chưa có tài liệu nào đề cập đến việc lựa chọn chương trình

để quảng bá Trong quá trình công tác tại VTV Đà Nẵng, xuất phát từ thực tiễn công tác biên tập của các BTV và chỉ đạo của lãnh đạo Đài THVN, Trung tâm THVN tại thành phố Đà Nẵng, quản lý phòng trong những cuộc họp, trao đổi chuyên môn; chúng tôi tiến hành phỏng vấn, đúc rút kinh nghiệm

Quảng bá chương trình trên Đài Truyền hình Việt Nam nói chung, VTV Đà Nẵng nói riêng (gọi tắt là quảng bá) là việc sử dụng các sản phẩm quảng bá như trailer, clip và các hình thức khác để giới thiệu các chương trình truyền hình, các nội dung về kênh, chuyên mục, sự kiện, nhân vật, thông điệp truyền thông phát trên Đài Truyền hình Việt Nam

Quảng bá phải phù hợp với định vị bản sắc của kênh, tuân thủ chiến lược tổng thể xây dựng thương hiệu VTV

Đối với VTV Đà Nẵng, chương trình quảng bá gồm có: cổ động quảng bá

về kênh VTV Đà Nẵng, cổ động về các ngày lễ lớn, các sự kiện, trailer giới thiệu các chuyên mục mới, giới thiệu quảng cáo phim truyện, giới thiệu ngày, tuần…

Là một trong những thể loại sản phẩm truyền hình, các trailer cổ động quảng bá thực hiện theo một quy trình sản xuất khép kín như sau:

Theo kế hoạch sản xuất được phân công, các BTV đăng ký với quản lý phòng về lịch sản xuất, xây dựng nội dung kịch bản, lời bình

Quản lý phòng duyệt nội dung bằng văn bản

BTV phối hợp với kỹ thuật viên thực hiện dựng hình ảnh, âm thanh hoàn chỉnh

Trang 40

Quản lý phòng duyệt sản phẩm đã hoàn chỉnh

Nếu sai sót về nội dung, hình ảnh thì chỉnh sửa kịp thời Sản phẩm đạt chất lượng phát sóng thì chuyển tổng khống chế để phát sóng theo kế hoạch

Tại cuộc họp triển khai sản xuất chương trình cổ động, quảng bá ngày 20/12/2012, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn và được Ông Trương Duy Hòa

– Trưởng phòng Chương trình – VTV Đà Nẵng cho biết: “Theo qui định

chung của Đài THVN và áp dụng thực tế tại VTV Đà Nẵng; Phòng Chương trình là đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì sản xuất các trailer cổ động, quảng

bá về chương trình truyền hình của VTV Đà Nẵng Các chương trình sẽ được quảng bá gồm: Chương trình đặc biệt, chương trình quan trọng, đặc sắc; các

sự kiện quan trọng, nổi bật Ngoài số lượng quota chương trình được giao, sẽ

có những chương trình đột xuất ngoài kế hoạch”

2.1.1 Chương trình đặc biệt, chương trình quan trọng, đặc sắc

Chương trình đặc biệt, chương trình quan trọng, đặc sắc; sự kiện về các ngày lễ, kỷ niệm trong năm, nội dung cần quan tâm của kênh VTV Đà Nẵng, các chuyên mục mới sẽ được phát sóng trên kênh VTV Đà Nẵng đều phải được quảng bá

Ví dụ 1:

“Một Tây Nguyên bao la hùng vĩ Một Tây Nguyên của những sử thi và huyền thoại Một Tây Nguyên đầy tiềm năng và khát vọng Một Tây Nguyên khi mùa xuân về với bạt ngàn hương hoa sắc của những lễ hội mừng năm mới rộn rã tiếng cồng chiêng và những vòng xoang nhịp nhàng Tây Nguyên có điều bạn biết và chưa biết Tây Nguyên ẩn chứa trong mình những vẻ đẹp nguyên sơ, trong những rừng sâu núi thẳm, trong những sử thi và những câu chuyện kể của những con người yêu Tây Nguyên đến cháy lòng Tây Nguyên nắng gió đại ngàn – Món quà gửi đến khán giả vào thời khắc thiêng liêng

Ngày đăng: 17/05/2021, 13:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm