Văn học hậu hiện đại đã ghi nhận nhiều thành công với các sáng tác của: Franz Kafka, Samuel Beckett, Umberto Eco, Gunter Grass, Gabriel Garcia Márquez, Don DeLillo, J.M.Coetzee, Orhan P
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐINH THỊ KIM TUYẾT
3.3.3.9 [NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN] CỦA ĐẶNG THÂN
TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN HẬU HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ MINH HIỀN
Đà Nẵng, Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Đóng góp của luận văn 11
6 Bố cục luận văn 11
CHƯƠNG 1 DIỄN NGÔN HẬU HIỆN ĐẠI VÀ 3.3.3.9 [NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN] CỦA ĐẶNG THÂN 12
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ DIỄN NGÔN VĂN HỌC VÀ DIỄN NGÔN HẬU HIỆN ĐẠI 12
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn 12
1.1.2 Từ diễn ngôn đến diễn ngôn văn học 17
1.1.3 Diễn ngôn văn học trong các sáng tác theo khuynh hướng hậu hiện đại ở Việt Nam sau 1975 21
1.2 ĐẶNG THÂN VÀ “CUỘC PHIÊU LƯU TRONG CÁI VIẾT” 30
1.2.1 Đặng Thân và quá trình bắt nhịp với văn học đương đại Việt Nam 30 1.2.2 “Cuộc phiêu lưu trong cái viết” của Đặng Thân 33
CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG 3.3.3.9 [NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN] TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN HẬU HIỆN ĐẠI 42
2.1 THẾ GIỚI SỐNG ĐA TRỊ, HỖN ĐỘN VÀ HƯ VÔ 42
2.1.1 Thế giới của những mảnh ghép đa diện 42
2.1.2 Thế giới của hoài nghi và niềm tin vụn vỡ 47
2.2 CON NGƯỜI - “KẺ DIỄN VAI CỦA MÌNH TRÊN SÂN KHẤU
CUỘC ĐỜI” 52
2.2.1 Con người tự “huyễn hoặc” trong trò diễn cuộc đời 52
Trang 42.2.2 Con người tha hóa trong biến động cuộc đời 55
2.2.3 Con người bất lực trong hành trình tìm kiếm bản thể 60
2.3 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 64
2.3.1 Không gian sân khấu hóa mạng xã hội 64
2.3.2 Không gian “huyễn ảo hóa” hiện thực 69
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG 3.3.3.9 [NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN] TỪ GÓC NHÌN DIỄN NGÔN HẬU HIỆN ĐẠI 77
3.1 KẾT CẤU NGHỆ THUẬT 77
3.1.1 Kết cấu liên văn bản 77
3.1.2 Kết cấu phân mảnh 84
3.2 NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT 88
3.2.1 Xây dựng người trần thuật đồng sự 88
3.2.2 Phối kết nhiều điểm nhìn trần thuật 93
3.3 NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 98
3.3.1.Ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ “thời @” 98
3.3.2 Ngôn ngữ thông tục, suồng sã 101
3.3.3 Ngôn ngữ “nhại” 104
3.4 GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT 107
3.4.1 Giọng giễu nhại 107
3.4.2 Giọng hoài nghi 112
3.4.3 Giọng triết lý 113
KẾT LUẬN 118 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Mang những ưu thế vượt trội so với các loại hình nghệ thuật khác
khi thể hiện đời sống tâm hồn con người, văn học đã trở thành một phần không thể thiếu trong cơ tầng văn hóa - ý thức của bất cứ thời đại lịch sử nào, đồng thời cũng chịu những ảnh hưởng từ cơ tầng văn hóa - tri thức của thời đại đó Vì thế, bên cạnh việc quan tâm đến những vấn đề nội tại của văn bản, còn phải đặt nó trong mối quan hệ giữa văn học với ý thức hệ văn hóa và xã hội mà nó nảy sinh và tồn tại mới có thể thấu hiểu đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật Lí thuyết diễn ngôn ra đời và được áp dụng vào nghiên cứu các hiện tượng văn học đã tỏ rõ tính hiệu quả trong việc khám phá những
mã ngầm của của văn học trong mối liên hệ với cuộc sống, từ đó tạo ra một hướng mới trong nghiên cứu văn học
1.2 Văn học hậu hiện đại đã ghi nhận nhiều thành công với các sáng tác
của: Franz Kafka, Samuel Beckett, Umberto Eco, Gunter Grass, Gabriel Garcia Márquez, Don DeLillo, J.M.Coetzee, Orhan Pamuk, Murakami… Với tinh thần giải tự sự, phi trung tâm hóa, văn học hậu hiện đại đã đem lại một cảm quan mới về thế giới, trong đó, sự hỗn độn, ngổn ngang của đời sống biến con người thành những thực thể bơ vơ, cô đơn trên chính mảnh đất tồn tại của mình, dẫn tới sự hoài nghi tồn tại, hoài nghi mọi tri thức, tôn giáo, đức tin, đạo đức, luật pháp… Ở Việt Nam, văn học đương đại đang ngày càng hòa nhịp nhanh với khuynh hướng hậu hiện đại như một tất yếu trong quá trình bắt nhịp với tinh thần thời đại Tuy chưa thành trào lưu nhưng dấu ấn hậu hiện đại xuất hiện khá đậm nét trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh,
Hồ Anh Thái, Đoàn Minh Phượng, Thuận đã tạo đà cho văn học Việt Nam đẩy nhanh quá trình cách tân
Trang 61.3 Tác phẩm 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân có thể được
xem là một tác phẩm mang linh hồn hậu hiện đại từ tư tưởng, quan niệm, nội dung đến hình thức nghệ thuật ĐặngThân đã sáng tạo một thế giới đa trị theo
xu hướng toàn cầu hóa bằng quan niệm về một thế giới phẳng của thời đại công nghệ thông tin và hình thức diễn ngôn mới mang tinh thần xóa bỏ mọi khoảng cách Không chỉ tạo nên một diễn ngôn hậu hiện đại mới mẻ, Đặng Thân còn biến ngôn từ thành một trò chơi nghệ thuật đầy thử thách, sáng tạo, khiến người đọc bị cuốn vào cuộc chơi giải mã tác phẩm một cách say mê và đầy thú vị
Chọn đề tài 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân từ góc nhìn diễn ngôn hậu hiện đại, chúng tôi mong muốn hướng đến việc khám phá và giải mã thế giới nghệ thuật phức tạp, đa tầng nghĩa của 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] Qua đó, hy vọng làm nổi bật phong cách nghệ thuật của nhà văn
Đặng Thân cũng như những đóng góp của ông đối với văn học Việt Nam đương đại
2 Lịch sử vấn đề
Có thể nói, ngay từ khi xuất hiện, sáng tác của Đặng Thân, đặc biệt là
cuốn tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] đã trở thành một hiện tượng
lạ trong văn đàn Với lối viết táo bạo, độc đáo theo khuynh hướng hậu hiện đại, tác phẩm đã nhận được nhiều quan tâm của bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình văn học
Nhà văn Đà Linh trong bài viết Lối viết đa tuyến tính trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] đã bước đầu có những phát hiện và đánh giá tích cực
về tác phẩm này Đà Linh cho rằng có thể tóm tắt cuốn sách theo năm nhân vật với năm cốt truyện đồng thời, độc lập, xuyên suốt nhau và bên cạnh những cốt truyện đó là hàng loạt các đề tài, liên hệ khác Từ đây, tác giả bài
viết khẳng định: “Với 666 trang, tác phẩm mang cái tên lạ - 3.3.3.9 [những
Trang 7mảnh hồn trần] thực sự là một bước đi tiếp trong sáng tạo, một sự cố gắng, nỗ
lực rất lớn của Đặng Thân, đặc biệt trong bối cảnh cuộc sống đang diễn ra với nhiều mặt, đa chiều, phức tạp, nhiều tầng nấc đan xen, chằng chịt với tốc độ chóng mặt, mà nhiều nhà văn đã chững lại, thậm chí rất khó khăn để tiếp tục sáng tạo… đã thêm khẳng định bản lĩnh, tâm huyết và đặc biệt là gương mặt, giọng điệu văn học thời kì mới, nổi bật trên văn đàn của anh” [53]
Nhà văn Nguyễn Quang Thiều trong bài phát biểu khai mạc Tọa đàm ra
mắt sách 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] tại Trung tâm văn hóa Pháp
(L’Espace), ngày 7/1/2012 đã chỉ ra một số điểm đáng lưu ý về tác phẩm:
“Cuốn tiểu thuyết này của nhà văn Đặng Thân cho tôi cái cảm giác là nó giống như một tờ báo trong đó có rất nhiều thứ, giống như một computer Ở đây có văn bản của thi ca, có văn bản của lịch sử, có văn bản của lý luận phê bình… Ở đây có những văn bản khác nữa, và có cả những văn bản quá hiện đại như ngôn ngữ - hình thức của chat, hay là comment trên các blog và các trang web Nhất là ở đây các văn bản đều tách rời nhau, không phụ thuộc nhau, đứng độc lập với nhau, và những câu chuyện đôi khi cũng đứng rời tách biệt nhau hoàn toàn Nhưng ở đây sự tách biệt này không phải sự rời rã, mà có một sự liên thông, sự liên kết mà tôi nghĩ rằng rất chặt chẽ…” [73]
Trong bài viết Cuộc chạy đua tiếp sức lịch sử (Đặng Thân nhìn từ Nguyễn Huy Thiệp), Đỗ Lai Thúy đã đánh giá khá cao vị trí của Đặng Thân cũng như tác phẩm 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] trong lịch sử văn học khi
xem nhà văn này là người tiếp sức trong cuộc chạy đua từ hiện đại đến hậu hiện đại: “Cũng như ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, người ta có thể thấy ở tiểu thuyết Đặng Thân đầy những thủ pháp của văn chương đương đại như đồng hiện, cắt dán, lắp ghép, dòng ý thức, tính dục, giễu nhại Có điều, tiểu
thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] có một kết cấu mở, như một tiểu thuyết
mạng, mà trên diễn trình của nó người đọc không chỉ đồng sáng tạo với nó ở
Trang 8chỗ tạo nghĩa, mà còn có thể cùng đồng hành với nó bằng những phát biểu
như là một bộ phận của tiểu thuyết” [78] Tiếp đó, với viết bài Đặng Thân: điển hình của văn học đổi mới Đỗ Lai Thúy đã chỉ ra hai đặc điểm cho thấy
tác phẩm là một cuốn tiểu thuyết hậu hiện đại: “sự phân mảnh và tính giễu nhại” [77]
Gần đây, trong chuyên luận Thơ như là mỹ học của cái khác, khi nhận
xét khái quát về văn xuôi hậu hiện đại ở Việt Nam, Đỗ Lai Thúy một lần nữa
khẳng định: “Có thể nói, tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng
Thân là cuốn tiểu thuyết hậu hiện đại tiêu biểu Vượt qua sự viết về cuộc phiêu lưu tiền hiện đại, và cuộc phiêu lưu trong cái viết (hiện đại) Đặng Thân
đã viết về cái viết (hậu hiện đại), đem cái viết của mình ra giễu nhại và, qua
đó, giễu nhại tất cả cái viết khác” [34, tr.40]
Nhà văn Đỗ Quyên với bài viết Rất nhiều điều về tiểu thuyết Đặng Thân
cũng đồng ý với Đỗ Lai Thúy khi cho rằng: “Về thi pháp học hình thức,
3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] mang chất hậu hiện đại ngồn ngột và ngùn
ngụt” [65] Cùng với việc chỉ ra các yếu tố hậu hiện đại xuất hiện trong tác phẩm như: tính chất giễu nhại hậu hiện đại, tính chất đa văn bản, tác giả khẳng định rằng: “Về thi pháp tư duy nghệ thuật, tiểu thuyết Đặng Thân lại thuộc về các khuynh hướng hiện đại và các hình thái trước đó, trong ý niệm căn bản về con người nghệ thuật, về không thời gian nghệ thuật, và cả về hình tượng tác giả” [65]
Đồng quan điểm với Đỗ Quyên, nhà phê bình văn học Văn Chinh nhận định: “Đặng Thân có ý thức đổi mới thi pháp tiểu thuyết và ông ta đã thành công” [41], tuy nhiên, người viết không đồng ý khi xếp Đặng Thân vào hàng
những nhà văn hậu hiện đại với tác phẩm này khi cho rằng trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], “Đặng Thân đã tuân thủ phép điển hình nghiêm ngặt
của chủ nghĩa hiện thực” [41] ở việc xây dựng các hình tượng nhân vật
Trang 9Một trong những nhà nghiên cứu dành nhiều quan tâm và có những bài viết khá sâu về tác phẩm này là PGS.TS Lã Nguyên Trong buổi Tọa đàm
Trình diễn đa thoại về tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] diễn ra tại
viện Goethe, Hà Nội (ngày 18/10/2012), Lã Nguyên đã khám phá tác phẩm trên ba lớp nghĩa cơ bản là: nhan đề, không gian trò diễn và chủ thể lời nói trong văn bản, khung truyện kể và cấu trúc biểu nghĩa của văn bản Từ đó ông tìm ra các lớp nghĩa tương ứng: khi dựa vào nhan đề thì đây là một tiểu thuyết phúng dụ; nếu xét trên không gian trò diễn thì tác phẩm tạo ra một không gian màn hình đa chiều, còn từ khung truyện kể, tác phẩm lại tạo nên một cấu trúc ngữ nghĩa đa trị, cực kì phức tạp Với những phân tích đó, Lã Nguyên đánh giá khá cao tác phẩm này cũng như đóng góp của Đặng Thân: “Nhìn lại lịch
sử văn học Việt Nam chúng ta thấy giai đoạn nào cũng có những tác giả, tác phẩm xuất sắc, thế nhưng không phải giai đoạn nào cũng có tác giả tạo ra được bước ngoặt trong lịch sử văn học dân tộc Văn chương sau Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và Nguyễn Tuân dường như một thời gian rất dài không có
gì thay đổi Mãi đến khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, theo tôi, nó đã tạo ra một cái sự khác, và đến khi Đặng Thân xuất hiện, với những tác phẩm như
Manet, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] thì ta lại bắt gặp một bước ngoặt khác
Bước ngoặt mà ĐặngThân tạo ra chính là bước ngoặt của văn học hậu hiện đại bằng cách tạo ra những không gian trò diễn kiểu khác, những chủ đề với những cấu trúc khác Đặng Thân đã thực sự tạo ra một tác phẩm đa thanh phức điệu, xây dựng được một khung truyện kể giản đơn để tạo ra ở bên trên một cấu trúc ngữ nghĩa vô cùng phong phú phức tạp Với ý nghĩa ấy thì tác
phẩm 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là một sự kiện cực kì quan trọng trong
đời sống văn học của nước ta” [81] Theo ông, “Đây là cuốn tiểu thuyết hiện giờ có thể coi là cách tân nhất ở Việt Nam” [81]
Trang 10Tiếp nối ý này, trong bài viết: Văn xuôi hậu hiện đại Việt Nam: quốc tế
và bản địa, cách tân và truyền thống, khi phân tích những yếu tố mang tính cách tân và truyền thống của văn học hậu hiện đại, Lã Nguyên xem 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] như một ví dụ tiêu biểu Trong bài viết này, ông đã đi
sâu phân tích những thành công về mặt nội dung và nghệ thuật của tác phẩm như: xây dựng không gian văn học mạng trên cơ sở không gian trò diễn của sân khấu dân gian, biến tác phẩm thành một cấu trúc ngữ nghĩa đa trị với nhiều chủ đề và tầng tư tưởng trên nhãn quan giá trị hậu hiện đại (chủ yếu là tính giễu nhại toàn trị Từ đó, ông khẳng định: “Sáng tác của Đặng Thân,
trước hết là tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], là bước ngoặt quyết đoán của văn học hậu hiện đại Việt Nam Bước ngoặt này được đánh
dấu bằng hàng loạt cách tân vô tiền khoáng hậu mà Đặng Thân đã tạo ra trong cuốn tiểu thuyết” [60]
Cũng trong buổi Tọa đàm Trình diễn đa thoại, PGS.TS Lê Huy Bắc có
chung quan điểm với Đỗ Lai Thúy, Lã Nguyên khi cho rằng: “cấu trúc của tác phẩm này hoàn toàn là hậu hiện đại” [81] bởi trong nó hàm chứa cả bốn yếu
tố vốn là bốn đặc trưng lớn của văn chương hậu hiện đại: tính hư vô, tính hỗn độn, tính liên văn bản, tính vạm vỡ
Tiếp đó, với bài viết Trung tâm - Ngoại biên: vua thất thế sãi làm vua,
khi tiếp cận văn học đương đại Việt Nam từ lí thuyết “trung tâm - ngoại biên”, Lê Huy Bắc nhấn mạnh: “Tác phẩm hậu hiện đại tiêu biểu tại thời điểm
này chính là 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân Người đọc có
thể tìm thấy ở đây vô vàn điều “khác biệt” với tư duy tiểu thuyết Việt đương thời và trước đó Cấu trúc sách cho thấy thân phận của một môn đồ trung thành của mảnh vỡ trí tuệ, mảnh vỡ internet Những mảnh vỡ vô chủ, vô đích, trôi dạt trên sự sống theo những ngẫu nhiên, nhưng vẫn không thiếu những biểu tượng, ẩn dụ (…) Với lối tư duy trác tuyệt của mình, Đặng Thân đã biến
Trang 11ngôn ngữ thành phi ngôn ngữ, biến khả năng giao tiếp thành thảm họa, biến lịch sử thành hư cấu và hư cấu thành lịch sử, biến khoa học thành trò chơi, biến chuyện tình yêu thành xác thịt và xác thịt thành tình yêu, biến bạn thành thù và thù thành bạn, biến nhà thông thái thành kẻ ngốc và kẻ ngốc thành thông thái, biến tri thức thành phản tri thức, biến vĩ nhân thành thành cuồng nhân ngay trong chính “cái vĩ” của mình Một cái nhìn đa diện, đầy chất chơi
về cuộc đời như thế đã cho thấy sự bất an về bản thể, về hành trình sống của nhân loại Một bất an ngẫu nhiên, không xuất phát từ thực tại mà dường như
tự khi cái được gọi là trái đất hình thành và khi cái được gọi là con người ra đời” [39]
Tương tự như hướng nghiên cứu trên của Lê Huy Bắc, với bài viết Đặc trưng ngoại biên hóa trong văn học hậu hiện đại nhìn từ trường hợp Đặng Thân, tác giả Phan Tuấn Anh đã chỉ ra tính ngoại biên trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] Trong đó, tác giả xem tác phẩm của Đặng Thân như là tác
phẩm tiêu biểu của văn học mạng/máy tính với những đặc điểm riêng của nó như: “nguyên tắc thẩm mỹ Facebook và lối đọc status - entry”, “cấu trúc tam quyền phân lập”, “cấu trúc văn bản có tính ma trận”… Từ những phân tích cụ thể, rõ ràng, tác giả bài viết đi đến kết luận: “Về thân phận ngoại biên của những tác phẩm văn học mạng/máy tính nói chung và trường hợp Đặng Thân nói riêng, đây là một trạng huống cô đơn tất yếu mà những người đi tiên phong vẫn phường gặp phải trong một hoàn cảnh chưa thật sự sang trang hậu hiện đại ở nước ta” [36, tr.13]
Cũng tiếp cận 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] từ góc nhìn trung tâm- ngoại biên, trong bài viết Sự choán ngôi của văn học ngoại biên và một số biểu hiện trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], tác giả Nguyễn Đức Tâm An
lại quan tâm đến những yếu tố lệch chuẩn và những ánh xạ liên văn bản hiện diện trong cả nội dung và nghệ thuật của tác phẩm và đưa ra kết luận: “Một
Trang 12cuộc cách tân hoàn toàn về nghệ thuật viết và đọc tiểu thuyết Việt Nam đã
được hiển lộ đoàng hoàng trên văn đàn qua 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]
Chất phản biện của tác phẩm hiện rõ trong phản - tu - từ, chơi - xấu - chữ, đảo
- điển - tích…” [35]
Tác giả Mai Vũ khi nghiên cứu những sáng tác văn học mạng ở Việt
Nam cũng đánh giá khá cao vị trí của Đặng Thân cũng như 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] trong văn học mạng Việt Nam Tác giả bài viết cho rằng: “…
bắt đầu đến tiểu thuyết của Đặng Thân, văn học mạng trở thành nhân vật điển hình (với những thay đổi tận gốc rễ) của văn học hậu đổi mới” [82]
Khi đi sâu vào phân tích, khám phá một số nét nghệ thuật hậu hiện đại tiêu biểu xuất hiện trong tác phẩm này, TS Phùng Gia Thế đã xem tác phẩm của Đặng Thân như một “siêu thị chữ” với tất cả “sự bề bộn của nó”: “Đọc
3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], thấy đầy đủ các đặc tính của một lễ hội giả
trang Giễu nhại, bỡn cợt, mắng rủa, hạ bệ, chết chóc, tái sinh, ngôn ngữ vỉa
hè, khẩu ngữ, nói lắp, lảm nhảm, phát ngôn loạn xị, hỗn loạn, ngôn ngữ teen, ngôn ngữ chat, từ ngữ sai chính tả Với Đặng Thân, tiểu thuyết thành một sân chơi cacnavan Ở đó, mọi thứ đều được bày ra trên một mặt sân giá trị
bình đẳng” [70] Đi sâu vào phân tích tính chất cacnavan trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], ông chứng minh rằng “nhại” là một trong những phong cách
độc đáo của Đặng Thân trong cuốn tiểu thuyết này
TS Nguyễn Văn Tùng khi viết Hài hước, trào tiếu, sân khấu hóa - một khuynh hướng tiểu thuyết gần đây cũng chú ý đến tính giễu nhại, trào tiếu và
sân khấu hóa xuất hiện ở tác phẩm này: “Tính chất sân khấu hóa thể hiện rất
rõ trong việc tác giả đạo diễn, sắp đặt cho các nhân vật xuất hiện”, còn “tính giễu nhại, trào tiếu” thì thể hiện ở “phương diện ngôn ngữ” và “việc tái hiện hiện thực cuộc sống” [80]
Trong luận văn Thạc sĩ Thế giới nghệ thuật đa trị trong tiểu thuyết
Trang 133.3.3.9 [những mảnh hồn trần] [20], tác giả Nguyễn Thị Kim khẳng định: thế
giới nghệ thuật trong tác phẩm là một thế giới đa trị Theo tác giả, tính đa trị
trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] biểu hiện ở: đa chủ đề, đa điểm nhìn, đa
ngôn ngữ, giọng điệu, đa tôn giáo, đa văn bản; đồng những biểu hiện này xuất phát từ tư tưởng của nhà văn về nghệ thuật và cuộc đời Tác giả bài viết cho rằng, tính đa trị là một trong những yếu tố tạo nên chất hậu hiện đại rõ nét trong tác phẩm
Còn tác giả Trần Thị Thùy Dương trong Truyền thống và cách tân trong văn xuôi Đặng Thân lại chỉ ra những bình diện cách tân trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] như: kết cấu (truyện lồng truyện, kết cấu đa chiều), ngôn ngữ
(ngôn ngữ đời thường gia tăng tính khẩu ngữ, ngôn ngữ chat…), giọng điệu (giễu nhại, triết lí) Tác giả cũng cho rằng: “Đặng Thân tạo ra cho mình một lối viết hậu hiện đại nhưng không xa rời các cấu trúc nghệ thuật truyền thống Điều này có thể tìm thấy qua giọng điệu giễu nhại, nghệ thuật phân mảnh, cách xây dựng hình tượng phúng dụ, lối nói đồng dao, dụ ngôn, cách sắp đặt mối quan hệ giữa ngoại vi và trung tâm, cách tổ chức không gian nghệ thuật” [13]
Với Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Đặng Thân từ Manet đến 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] [25], tác giả Trần Thị Ban Mai đã khẳng định
điểm mới của nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết này như việc tạo một cuộc đua tranh giữa những cái tôi tự thuật - người trần thuật đồng đẳng, đồng thời mở ra sàn diễn đa thoại cho những người trần thuật bất định, trao điểm nhìn cho các nhân vật
Như vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu về 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]
đều tập trung đến tính chất hậu hiện đại của tác phẩm Song việc quan tâm nghiên cứu tác phẩm bằng lí thuyết diễn ngôn để có một cái nhìn thật cụ thể, bản chất về tác phẩm vẫn còn bị bỏ ngỏ Vì thế, trên cơ sở nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi cho rằng việc áp dụng lí thuyết diễn ngôn
Trang 14(trong đó chú trọng đến diễn ngôn hậu hiện đại) vào nghiên cứu tác phẩm là cần thiết vì thông qua đó, có thể khám phá những giá trị nội dung và nghệ thuật cuốn tiểu thuyết đặc biệt này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác phẩm 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của
Đặng Thân, NXB Hội nhà văn, 2011
- Phạm vi nghiên cứu: Các đặc điểm nội dung và nghệ thuật của 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] dưới góc nhìn diễn ngôn hậu hiện đại
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Cấu trúc các yếu tố cấu thành nên
diễn ngôn hậu hiện đại trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] thành một hệ
thống hoàn chỉnh để nhận diện một cách khái quát, sâu sắc hơn diễn ngôn hậu hiện đại trong tác phẩm này
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xem xét, lí giải, đánh giá đặc điểm nội dung, nghệ thuật của tác phẩm trên cơ sở lí thuyết diễn ngôn hậu hiện đại,
từ đó tổng hợp, khái quát lại để có cái nhìn khoa học và đúng mục về tác phẩm
- Phương pháp thống kê: Khảo sát sự xuất hiện của các yếu tố làm nên diễn ngôn nghệ thuật trong tác phẩm để rút ra những kết luận khoa học
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh, đối chiếu 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] với một số tác phẩm văn học hậu hiện đại ở Việt Nam để thấy
được nét tương đồng và dị biệt làm nên nét độc đáo đậm tính chất hậu hiện đại trong tác phẩm này dưới lí thuyết diễn ngôn hậu hiện đại
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác
Trang 155 Đóng góp của luận văn
Luận văn khám phá - giải mã thế giới nghệ thuật (cả nội dung và hình
thức) của 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] từ góc nhìn diễn ngôn hậu hiện đại
để phát hiện những giá trị nghệ thuật độc đáo, mới lạ của tác phẩm và khẳng định những đóng góp có tính cách tân của nhà văn Đặng Thân trên cho nền văn học đương đại Việt Nam
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Diễn ngôn hậu hiện đại và 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]
của Đặng Thân
Chương 2 Hình tượng nghệ thuật trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]
từ góc nhìn diễn ngôn hậu hiện đại
Chương 3 Một số thủ pháp nghệ thuật trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] từ góc nhìn diễn ngôn hậu hiện đại
Trang 161.1.1 Khái niệm diễn ngôn
“Diễn ngôn” là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong những nghiên cứu về khoa học nhân văn, đặc biệt là trong ngôn ngữ, văn học, xã hội học Tuy nhiên, thuật ngữ này lại rất khó định nghĩa một cách chính xác và đầy đủ bởi bản thân nó dung chứa nhiều nội hàm khác nhau khiến việc đưa ra một định nghĩa duy nhất sẽ dễ dẫn đến sự thiếu hụt một nội hàm tiềm ẩn nào đó Bản thân từ “diễn ngôn” đã được sử dụng trong đời sống ngôn ngữ khá lâu “Theo khảo chứng của Manfred Frank, “diễn ngôn” (discourse) bắt nguồn
từ tiếng La-Tinh “discoursus” mà từ này có gốc động từ là “discurere” có nghĩa là “tán láo chơi, nói luyên thuyên”” [Dẫn theo 27, tr.18] Trong “Collins Concise English dictionary (1988) thì diễn ngôn được hiểu với những hàm nghĩa sau: “Thứ nhất là sự giao tiếp bằng lời, nói chuyện, hội thoại Thứ hai là
sự triển khai một vấn đề nào đấy bằng cách nói hoặc viết theo một trật tự Thứ
ba, các nhà ngôn ngữ học thường sử dụng thuật ngữ diễn ngôn để chỉ một đơn
vị của văn bản - đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu”” [Dẫn theo 27, tr.18] Nhà nghiên cứu Teun A Van Dijk trong quá trình tìm hiểu và phân loại diễn ngôn
đã khái quát: “diễn ngôn là sự kiện giao tiếp giữa người nói và người nghe (người quan sát ) trong quá trình hành động giao tiếp, trong ngữ cảnh không gian và thời gian nhất định” [Dẫn theo 67] Như vậy, về cơ bản, trong hoạt động ngôn ngữ, từ “diễn ngôn” là chỉ “một lối nói, một cách nói, hoặc một lượt lời nói có độ dài không xác định, sự triển khai không bị hạn định bởi chủ
Trang 17ý nghiêm ngặt” [Dẫn theo 27, tr.18]
Trong quá trình sử dụng, thuật ngữ diễn ngôn sử dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ học, văn hóa, xã hội học, văn học… Nhìn chung có hai hướng nghiên cứu diễn ngôn cơ bản, đó là hướng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học và xã hội học
Khái niệm “diễn ngôn” được sử dụng như một thuật ngữ chuyên ngành xuất phát từ những luận điểm của nhà ngôn ngữ học người Áo F.de.Saussure
trong iáo trình ngôn ngữ học đại cương Trong công trình này, Saussure đã
phân biệt sự sự khác nhau giữa ngôn ngữ và lời nói Theo ông, “ngôn ngữ là một hệ thống, một kết cấu tinh thần trừu tượng, khái quát” [Dẫn theo 57] mang “tính cộng đồng” trong khi “lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh cụ thể” [Dẫn theo 57] vì thế nó mang “tính cá nhân” Do đó, ngôn ngữ học không nghiên cứu lời nói mà chỉ quan tâm đến “hệ thống các nguyên tắc chi phối việc sử dụng ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, cú pháp” [27, tr.20] Quan điểm của Saussure đã làm nền tảng để phân biệt hai thuật ngữ: discourse (diễn ngôn) và text (văn bản) trong ngôn ngữ học Các nhà ngôn ngữ học đã thống nhất rằng: “Văn bản (text) là cấu trúc ngôn ngữ mang tính chất tĩnh, còn diễn ngôn (discourse) là cấu trúc lời nói mang tính động” [57] Sau này, Emil Benviniste đã sử dụng thuật ngữ “discourse” như là “sự giải thích lập trường của người nói trong phát ngôn” [Dẫn theo 67] Còn Zeling Harris cho rằng diễn ngôn là “văn bản liên kết ở bậc cao hơn câu” [Dẫn theo 27, tr.20] Từ đó ông đề xuất xem “đối tượng phân tích của diễn ngôn là tính liên tục của phát ngôn, là đoạn cắt của văn bản lớn hơn câu” [Dẫn theo 27, tr.21] Theo Diệp Quang Ban, “trong cách hiểu ngắn gọn nhất, Phân tích diễn ngôn là một cách tiếp cận phương pháp luận đối với việc phân tích ngôn ngữ bên trên bậc câu, gồm các tiêu chuẩn như tính kết nối, hiện tượng hồi chiếu… Hiểu một cách cụ thể hơn thì Phân tích diễn ngôn là đường hướng
Trang 18tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết, bậc trên câu, (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết sức phong phú đa dạng” [8, tr.158] Với việc nghiên cứu diễn ngôn, các nhà ngôn ngữ đã xác định lại mục đích của việc nghiên cứu ngôn ngữ, trong
đó coi trọng việc mô tả khả năng giao tiếp và việc liên kết các câu lại với nhau một cách mạch lạc theo chủ đề của diễn ngôn, điều này khác với ngôn ngữ học truyền thống chỉ tập trung vào những đơn vị thành tố và cấu trúc câu Tuy nhiên, sau này, một số nhà nghiên cứu như Bakhtin, Foucault… nhận thấy sự thiếu sót của các nhà ngôn ngữ học khi đối lập hoàn toàn giữa ngôn ngữ và lời nói, chỉ quan tâm đến việc nghiên cứu những yếu tố nội tại của ngôn ngữ mà không chú ý đến những yếu tố bên ngoài chi phối việc sử dụng ngôn ngữ nên đã đưa ra nhiều kiến giải về khái niệm diễn ngôn, mở ra quan niệm diễn ngôn theo hướng xã hội học Trong những công trình nghiên cứu của mình, nhà lí luận văn học người Nga, M.Bakhtin cho rằng diễn ngôn
là một đối tượng của nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, còn tác giả nổi tiếng người Pháp, M.Foucault thì mở rộng khái niệm diễn ngôn như một phạm trù của lịch sử tư tưởng hay phương pháp
Với Bakhtin, diễn ngôn mang nội hàm riêng biệt Quan tâm đến phát ngôn, xem nó là đơn vị giao tiếp của lời nói bởi “bản thân lời nói chỉ có thể tồn tại trong thực tế dưới hình thức phát ngôn cụ thể [Dẫn theo 57], Bakhtin cho rằng “lời nói của cá nhân không chỉ phụ thuộc vào ngôn ngữ chung của
xã hội mà còn phụ thuộc vào môi trường văn hóa của từng thời kì lịch sử” [Dẫn theo 27, tr.26] Và vì thế, các yếu tố như chủ thể, hoàn cảnh lịch sử, ngữ cảnh, văn hóa… có ý nghĩa quan trọng trong việc quy định ý nghĩa diễn ngôn, phương thức diễn ngôn Diễn ngôn gắn liền với ký hiệu nên gắn liền với xã hội, nó mang tính xã hội Con người phải nói theo các quy tắc ngôn ngữ nhất
Trang 19định nếu muốn tồn tại trong xã hội Như vậy đối với Bakhtin, diễn ngôn là phần nội dung, ý nghĩa, sức mạnh do ngôn ngữ mang lại chứ không phải cái ngôn ngữ như đối tượng nghiên cứu chuyên biệt của ngôn ngữ học Bakhtin quan niệm: “Diễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ thể, là ngôn ngữ trong sử dụng, trong bối cảnh xã hội, của những giọng xã hội mâu thuẫn và đa tầng” [Dẫn theo 57] Theo ông, bản chất của diễn ngôn là mang tính đối thoại bởi nó chính là “mảnh đất giao cắt, hội tụ tranh biện, của những
tư tưởng, quan niệm khác nhau” [Dẫn theo 57] Diễn ngôn không tách rời ý thức chủ quan của người nói, nó là sản phẩm của giao tiếp, là sản phẩm của
xã hội, là kết quả của sự tác động qua lại về mặt xã hội của ba nhân tố: người nói, người nghe, người được biểu hiện Có thể thấy, diễn ngôn theo quan niệm của Bakhtin được nhìn từ gốc độ bản thể tư tưởng, triết học, dùng diễn ngôn
để thay thế cho ngôn ngữ, diễn ngôn biểu hiện bề ngoài bằng hình thức ngôn ngữ nhưng nội hàm của nó thì mang nội dung triết học
Bên cạnh Bakhtin, M.Foucault cũng mở ra một hướng nghiên cứu diễn ngôn quan trọng Diễn ngôn của Foucault gắn với ý nghĩa triết học và tư tưởng hệ Nội hàm của khái niệm diễn ngôn rất phong phú, phức tạp, bao gồm
“các ý kiến về tính dục, nhà tù, hình phạt…, các học thuyết về khoa học y học, tâm lý học, xã hội học, các thiết chế về kiểm soát xã hội (nhà tù, nhà trường, bệnh viện, phòng xưng tội trong nhà thờ…)” [Dẫn theo 27, tr.28] Foucault đưa ra khái niệm “trường tri thức”, được hiểu như là “cái khung tư tưởng” thể hiện nhận thức chung của một cộng đồng trong một thời kì nhất định Đây chính là “không gian tri thức” quyết định các hệ hình giá trị và sự vận hành của các diễn ngôn Theo Foucault, “văn bản có độ dài, có tác giả, có cấu trúc, có thể loại, còn diễn ngôn thì không, nó chỉ là cái cơ chế, cấu trúc vô thức chi phối mọi hoạt động lời nói của xã hội Diễn ngôn thuần tuý là sự kiện
tư tưởng, ý thức hệ Mục đích nghiên cứu diễn ngôn là phơi bày cơ chế quyền
Trang 20lực, xuyên qua các cuộc vật lộn chữ nghĩa của đủ các thứ chủ nghĩa, tổ chức, văn bản” [Dẫn theo 67] Do đó “nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu các quy tắc và cấu trúc trong xã hội quy định sự hình thành các ý kiến, học thuyết khoa học, nghiên cứu các cơ chế sản sinh ra các văn bản, các dạng ngôn từ trong đời sống xã hội” [Dẫn theo 27, tr.28] Như vậy, cái mà ông quan tâm chủ yếu “những quy tắc đã chi phối việc diễn ngôn ra đời và vận hành trong đời sống” [Dẫn theo 27, tr.48], chỉ ra mối quan hệ giữa tri thức và quyền lực trong việc kiến tạo nên diễn ngôn Ông cho rằng, “trong bất cứ xã hội nào, việc sản xuất ra diễn ngôn đều phải kinh qua kiểm soát, lựa chọn, tổ chức, và phải được cân nhắc qua trình tự nhiều lần nhằm trung lập hóa sự toàn trị của quyền lực và các mối quan hệ nguy hiểm gắn liền với nó, thức tỉnh những điều chưa được dự kiến trước về sự kiện phát ngôn, nhằm tránh tính vật chất của quyền lực ấy và sự uy hiếp ấy” [Dẫn theo 67]
Như vậy, trong quá trình sử dụng và nghiên cứu, khái niệm diễn ngôn đã trở nên phức tạp hơn bởi sự bắt rễ của những nội hàm mới Với mỗi quan niệm, mỗi hướng nghiên cứu, thuật ngữ diễn ngôn lại được sử dụng với
những ý nghĩa khác nhau Trong công trình Tiểu thuyết Việt Nam đương
đại-từ góc nhìn diễn ngôn, Nguyễn Thị Hải Phương đã xác định bốn đặc điểm của
diễn ngôn Theo tác giả, diễn ngôn trước hết là “một cấu trúc liên văn bản, liên chủ thể” [27, tr.30] Nó là nguyên tắc ẩn chìm chi phối sự hình thành các văn bản, nó tồn tại bên ngoài chủ thể nói và chi phối chủ thể nói, khiến “chủ thể phát ngôn không còn là những chủ thể tự do biểu lộ những ý kiến cá nhân
mà bị hạn chế và bị trói buộc trong một khung diễn ngôn có trước” [27, tr.30] Bên cạnh đó, “diễn ngôn còn là sản phẩm của môi trường sinh thái văn hóa” [27.tr.32] Diễn ngôn hình thành và tồn tại theo những quy tắc, quy ước riêng của từng thời kì lịch sử, văn hóa, xã hội Do đó, mỗi diễn ngôn luôn thể hiện những đặc trưng và mỹ cảm riêng của mỗi thời kì lịch sử, nền văn hóa, dân
Trang 21tộc… “sinh thành” ra nó Khi môi trường văn hóa, lịch sử xã hội thay đổi thì
tự thân diễn ngôn cũng thay đổi để phù hợp với nó Mặt khác, diễn ngôn còn
là “sự kiến tạo thế giới theo một quan niệm, tư tưởng hệ nhất định” [27, tr.33] đồng thời nó cũng là “một cấu trúc biểu nghĩa khái quát mang nội hàm văn hóa, ý thức hệ” [27, tr.34]
Với những gì đã tổng hợp ở trên, chúng tôi đồng ý theo cách hiểu về thuật ngữ diễn ngôn sau đây của tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Phương: “Diễn ngôn
là những tổ chức kí hiệu, những cấu trúc ngôn ngữ đầy ắp nội dung tư tưởng
hệ, thể hiện nhãn quan giá trị, hệ thống quan niệm về thực tại của một thời đại, của các nhóm xã hội khác nhau Nó là một cấu trúc liên văn bản, liên chủ thể, một sản phẩm của môi trường sinh thái văn hóa, nó chứa đựng bên trong một cấu trúc biểu nghĩa khái quát mang nội hàm văn hóa, ý thức hệ Nói đến diễn ngôn là ta nói đến một sự kiện ngôn ngữ đồng thời là một sự kiện xã hội, một sự kiện của văn hóa tư tưởng, là cách kiến tạo thế giới bằng ngôn từ và cách kiến tạo này chịu sự chi phối của một quan niệm tư tưởng, một ý thức hệ nhất định” [27, tr.35]
1.1.2 Từ diễn ngôn đến diễn ngôn văn học
Mặc dù xuất phát điểm là một khái niệm thuộc ngôn ngữ học, nhưng ngày nay, nội hàm khái niệm diễn ngôn đã được mở rộng và phân tích diễn ngôn không còn thuộc độc quyền của phạm vi ngôn ngữ học Diễn ngôn và Phân tích diễn ngôn đã trở thành một khái niệm và phương pháp được nhiều
bộ môn khoa học xã hội khác sử dụng, trong đó có nghiên cứu văn học Lí thuyết về diễn ngôn được ứng dụng nhiều trong nghiên cứu văn học và đem lại phương pháp luận mới cho việc khám phá các tác phẩm văn chương Vận dụng lí thuyết diễn ngôn của ngôn ngữ học, các nhà lí luận văn học theo trường phái cấu trúc, kí hiệu học như G.Genette, Tz.Todorov, R.Barthes, Iu.Lotman… xem diễn ngôn chính là cách “cấu trúc văn bản” nên chỉ đi sâu
Trang 22vào nghiên cứu “tính văn học” trong nội tại mà không đặt văn bản đó vào các ngữ cảnh văn hóa, lịch sử xã hội Đối với G.Genette “diễn ngôn tự sự là cách thức trình bày một câu chuyện” [Dẫn theo 57] trong đó có các phạm trù ngữ pháp như “thời, thức, giọng” Ngoài ra, ông còn đưa ra một số phương diện như điểm nhìn, người trần thuật biết hết, người trần thuật ngôi thứ ba, thời gian tự sự Những khái niệm này trở thành những thuật ngữ quan trọng trong việc nghiên cứu tác phẩm văn học theo phương pháp tự sự học Iu.Lotman thì quan niệm “tác phẩm nghệ thuật là một cấu trúc biểu nghĩa” [Dẫn theo 27, tr.24], một mô hình nghệ thuật (hữu hạn) Ông đưa ra những vấn đề như: khung, không gian, truyện kể, nhân vật, đặc trưng của thế giới nghệ thuật, nhân vật và tính cách, điểm nhìn của văn bản… trong một cấu trúc văn bản nghệ thuật Còn nhà nghiên cứu người Nga, Tz.Todorov xem diễn ngôn như
là “lời nói”, trong đó ông quan tâm đến các vấn đề như: “chủ ý của diễn ngôn, địa vị và thái độ của chủ thể diễn ngôn” [Dẫn theo 27, tr.24] Nhà lí luận Roland Barthes lại hiểu khái niệm diễn ngôn có phần giống với khái niệm “lối
viết” Trong cuốn Độ không của lối viết, ông cho rằng trong quá trình sáng
tạo nghệ thuật, nhà văn phải chịu sự ràng buộc của xã hội Khi viết, nhà văn phải lựa chọn cho mình một “lối viết” nhất định nhằm thể hiện lập trường của mình trước xã hội và lịch sử: “Lối viết là một hành động liên kết lịch sử… lối viết là một chức trách, nó là một quan hệ giữa sáng tạo và xã hội, nó là hành ngôn văn học được biến đổi vì mục đích xã hội của mình Nó là hình thức bị bắt chộp trong ý đồ có tính người của mình và gắn liền với những khủng hoảng lớn của lịch sử” [Dẫn theo 27, tr.23] Theo Roland Barthes, nhà văn không chỉ chịu ảnh hưởng bởi lối viết của người khác mà còn của chính anh
ta Có thể hiểu “lối viết” ở đây cũng gần giống như phong cách cá nhân, cũng
bị chi phối bởi những quy định, ràng buộc của các thể chế chính trị, văn hóa, các quy ước đã có trước đó Như vậy, khi vận dụng mô hình ngôn ngữ để hiểu
Trang 23diễn ngôn văn học, các nhà cấu trúc luận đã “quy lược mọi hình thức diễn ngôn vào một hệ thống kí hiệu” [27, tr.25], theo cách hiểu đó, diễn ngôn không mô phỏng thực tại mà do “hệ tư tưởng tạo ra, rồi đến lượt mình, diễn ngôn tạo ra hiện thực” [27, tr.25]
Trong quan niệm của Bakhtin, diễn ngôn văn học thuộc về phạm trù thi pháp học Bakhtin đưa ra khái niệm “lập trường tác giả” nhằm chỉ phương châm, chiến lược phát ngôn của nhà văn “Diễn ngôn thể hiện trong văn bản nhưng là siêu văn bản” [Dẫn theo 67] Bakhtin xem diễn ngôn văn học là một hình thái nghệ thuật của tư tưởng; bao gồm “sự thống nhất hữu cơ giữa hình thức và nội dung, hình thức và tư tưởng” [Dẫn theo 27, tr.36] Ông cho rằng ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ có ý thức hệ, trong đó “các nguyên tắc thế giới quan sẽ chuyển thành các nguyên tắc nghệ thuật chi phối hình thức biểu đạt của ngôn ngữ” [Dẫn theo 27, tr.36] Do đó, diễn ngôn văn học gắn chặt với lịch sử tư tưởng và chịu sự chi phối của các hình thái ý thức xã hội, của ý thức
hệ như triết học, văn hóa, thẩm mỹ Khi hệ tư tưởng và tư duy của nhà văn thay đổi thì cách thức xây dựng hình tượng, sử dụng ngôn ngữ của diễn ngôn của văn học cũng thay đổi theo
Như vậy, diễn ngôn văn học cũng được hiểu theo các hướng khác nhau Nếu các cấu trúc luận chỉ coi diễn ngôn văn học thuộc nội tại trong từng văn bản thì những nhà lí luận như Bakhtin và Foucault chú ý đến mối liên hệ của
nó với ý thức hệ văn hóa - xã hội Từ đây, chúng ta có thể khái quát những đặc điểm của diễn ngôn văn học như sau
Trong diễn ngôn văn học, “thế giới thực tại hiện lên không phải như nó vốn có mà bị biến dạng, thay đổi ít nhiều” [27, tr.40] bởi thế giới đó đã được khúc xạ và nhào nặn trong quá trình sáng tạo của nhà văn Do đó, diễn ngôn văn học luôn tạo ra ý nghĩa mới, đem lại cách nhìn mới về hiện thực Với việc kiến tạo nên thế giới quan mới, diễn ngôn văn học trong chừng mực nào đó có
Trang 24khả năng thay đổi thói quen cảm nhận và cách đánh giá về hiện thực đối với người đọc, từ đó tạo ra tri thức và quyền lực riêng của nó Như vậy, diễn ngôn văn học có chức năng kiến tạo nên tri thức về đời sống theo một quan niệm tư tưởng hệ nhất định, tuy nhiên sự kiến tạo đó không chỉ hướng đến việc “một hiện tượng đời sống cụ thể, riêng lẻ mà là kiến tạo ra những nguyên tắc mới trong cách nhìn nhận về đời sống, về con người” [27, tr.39] Chính vì thế,
“diễn ngôn văn học luôn tự phủ định mình, tạo ra cái khác mình, chống lại sự sáo mòn, khuôn mẫu” [27, tr.44] để tạo thành diễn ngôn nghệ thuật mới Và
sự vận động của văn học suy cho cùng là sự vận động của diễn ngôn, hình thái của diễn ngôn này chống lại hình thái diễn ngôn cũ trước đó
Những đặc trưng trên của diễn ngôn văn học cho thấy sự chi phối của các yếu tố: thời đại, chính trị, ý thức hệ, thị hiếu thẩm mỹ, tâm lý… lên quá trình hình thành và quy tắc vận hành của các diễn ngôn Cho nên, khi nghiên cứu diễn ngôn văn học cũng có nghĩa là chúng ta nghiên cứu hệ thống chủ thể diễn ngôn trong đó chú trọng sự tác động qua lại của ba yếu tố: người viết, nhân vật, người đọc
Như vậy, có thể hiểu diễn ngôn văn học là một hình thái nghệ thuật ngôn
từ với sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung, tư tưởng và hình thức “Diễn ngôn văn học là diễn ngôn thứ sinh, được kiến tạo lại và thể hiện trong ngôn ngữ hình tượng (với hệ thống sự kiện, nhân vật, người kể chuyện, nhân vật trữ tình, kết cấu, chi tiết, từ ngữ, các phương thức tu từ…)” [27, tr.46] theo một quan điểm, tư tưởng nhất định Hiểu một cách đơn giản thì “Trong văn học, diễn ngôn chỉ chiến lược phát ngôn nghệ thuật thể hiện trong các nguyên tắc cấu tứ, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ để vượt thoát khỏi các hạn chế nhằm phát ra được tiếng nói thể hiện tư tưởng mới trong sáng tác” [67]
Trang 251.1.3 Diễn ngôn văn học trong các sáng tác theo khuynh hướng hậu hiện đại ở Việt Nam sau 1975
Ra đời từ những năm ba mươi của thế kỉ XX, chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism) dần trở thành một hiện tượng văn hóa đặc thù của thời đại hậu công nghiệp Khi nền kinh tế, xã hội, kĩ thuật có những bước tiến không ngừng cũng là lúc thế giới phải đối mặt với những nguy cơ mới như chiến tranh, mặt trái của toàn cầu hóa… Trong bối cảnh đó, đời sống tư tưởng, tình cảm, tâm lí con người nảy sinh nhiều chuyển biến sâu sắc và hình thành nên một kiểu tâm thức mới: tâm thức hậu hiện đại Tâm thức hậu hiện đại đã và vẫn đang diễn ra mạnh mẽ ở các nước phương Tây và lan ra toàn thế giới
“Chủ nghĩa hậu hiện đại là một phản ứng tâm lý, một kiểu chiếm lĩnh thế giới, cảm thức vũ trụ, một cách đánh giá những khả năng nhận thức cũng như vai trò, vị trí của con người trong thế giới khách quan” [16, tr.71] Trên cơ sở tồn tại song song với chủ nghĩa hiện đại, đến những năm bảy mươi của thế kỉ trước, thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại trở nên phổ biến và từ thập niên tám mươi, nó được thừa nhận như là một hiện tượng thẩm mỹ chung của của văn hóa phương Tây và được nhận định về mặt lí luận như một hiện tượng đặc thù của triết học, mỹ học, nghệ thuật
Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa hậu cấu trúc kết hợp với thực tiễn phân tích phê bình văn học của chủ nghĩa giải cấu trúc và toàn bộ thực tiễn hoạt động sáng tạo của nghệ thuật hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại có tham vọng đưa ra một cái nhìn mới về thế giới Lyotard người được xem là cha đẻ của lý thuyết hậu hiện đại cho rằng tinh thần hậu hiên đại sinh ra là để chống lại các siêu văn bản, từ đó cổ vũ cho các tiểu tự sự Những tiểu tự sự của chủ nghĩa hậu hiện đại thường được nhìn dưới góc độ hoàn cảnh tạm thời, ngẫu nhiên và không có tính hệ thống Lý thuyết hậu hiện đại cũng thừa nhận sự tồn tại của
“nhiều bản ngã trong một bản ngã”, những chủ thể phi trung tâm hóa, bởi cho
Trang 26rằng con người trong thời hậu hiện đại bị phân rã hoàn toàn dưới sức ép của
xã hội hậu công nghiệp vốn nhiều áp lực, lại bấp bênh, thay đổi một cách vô thường Nói chung, dù có những phát biểu khác biệt nhưng đa số các nhà hậu
hiện đại có một quan điểm chung là: thế giới như một sự hỗn độn và “bất khả
nhận thức” Từ đó họ cho rằng những tri thức và chân lý của chủ nghĩa hiện
đại là những thứ “quyền uy” và chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời để chống lại thứ
“quyền uy” đó
Cũng như những trào lưu khác, chủ nghĩa hậu hiện đại có diễn ngôn riêng của nó Đó là một diễn ngôn khác, thể hiện cách nói khác, thái độ khác, cách nhìn khác về thế giới và con người, từ đó cách thể hiện cũng khác Diễn ngôn hậu hiện đại là sự kiến tạo thế giới hiện tồn bằng những phương thức đặc biệt dưới nhãn quan hậu hiện đại Trước hết, diễn ngôn hậu hiện đại chuyên chở cảm quan hậu hiện đại Cảm quan hậu hiện đại thể hiện ở cách nhìn thế giới như một mớ hỗn độn không có bất kì tiêu chuẩn giá trị và định hướng ý nghĩa nào “Thế giới đó ghi đậm dấu ấn của cơn khủng hoảng niềm tin trong mỗi con người” [52] “Hoài nghi” và “hỗn độn” là hai thuộc tính cơ bản của cảm quan hậu hiện đại Con người trong kỉ nguyên hậu hiện đại hoài nghi những chân lí phổ quát, không tin vào những chuẩn mực tối cao nào và chấp nhận sự hỗn độn của thế giới Họ nhận thấy “sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính áp đặt của cái chính thống, của những phát ngôn lớn, sự đảo lộn các thang giá trị đời sống, sự mất niềm tin, bơ vơ lạc loài” [71] Tâm lí đó khiến con người luôn mang tâm trạng hoài nghi sự tồn tại của bản thể, dẫn đến tình trạng bất an của con người Trong diễn ngôn hậu hiện đại, ranh giới giữa nghệ thuật với đời sống thường ngày, giữa văn hóa quý tộc và văn hóa đại chúng bị xóa bỏ, tính nguyên bản của một tác phẩm nghệ thuật cũng không còn được coi trọng, thay vào đó là sự từ chối vai trò chủ thể của con người, sự giải cấu trúc, phi trung tâm với những mảnh vỡ, sự tiếp nhận hay
Trang 27mô tả hiện tượng mà không cần suy diễn, giá trị nghệ thuật tùy thuộc vào kinh nghiệm cá nhân của người tiếp nhận, tùy thuộc vào mỗi nền văn hóa
Tương ứng với thời hậu hiện đại thì văn học hậu hiện đại ra đời Văn học hậu hiện đại cũng trở thành một trào lưu văn học lớn trên văn đàn thế giới trong mấy mươi năm trở lại đây “Bắt đầu từ thơ đa đa (1916) và kịch phi lí từ những năm 1950, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học thực sự phát triển mạnh ở văn xuôi vào những năm 1960, đây là khuynh hướng tiếp nối chủ nghĩa hiện đại hòng giải quyết những vướng mắc của chủ nghĩa hiện đại với tham vọng dùng khoa học để giải phóng triệt để con người thoát khỏi cuộc sống và những tín điều tăm tối Chủ nghĩa hậu hiện đại gắn với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin, sự phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật vượt bậc, của những thành tựu đô thị hóa… được thể hiện ở cả ba phương diện thơ, kịch, văn xuôi với các đặc điểm chính: đa trị, huyền ảo, lắp ghép, mảnh vỡ, cực hạn, phi trung tâm, phi mạch lạc, hạn chế tối đa vai trò thống trị của người kể chuyện, không quan tâm đến cốt truyện, kịch và văn xuôi mang nhiều đặc điểm của thơ” [Dẫn theo 30, tr.24]
Văn học hậu hiện đại sử dụng diễn ngôn hậu hiện đại Những cảm nhận, tâm lí, trạng thái hình thành nên cảm quan hậu hiện đại, khi được chuyển hóa vào trong văn học, thể hiện thành những quan niệm nghệ thuật mới về con người và cách nhìn mới về hiện thực Diễn ngôn hậu hiện đại trong văn học cho thấy một thế giới hiện thực “thậm phồn” Đó là một thế giới xô bồ, hỗn độn khi mọi ranh giới dường như đều bị xóa nhòa, hiện thực và tưởng tượng, quá khứ, hiện tại và tương lai, thực và ảo… đều có khả năng hiện diện cùng lúc, đan xen, giao thoa vào nhau không tách bạch Thế giới hiện thực thậm phồn chấp nhận sự tồn tại song song của những thái cực đối lập, giữa hiện thực khách quan và không gian huyền ảo, cái thanh cao với hèn hạ, dung tục
và đẹp đẽ được xếp đặt cạnh nhau Trong diễn ngôn hậu hiện đại, các nhà văn
Trang 28phủ quyết sự tồn tại của lí tính Họ chủ yếu đi vào chiều sâu vô thức, khám phá những ẩn ức tuổi thơ và bản năng tính dục, xem đó là cơ sở để đánh thức bản chất cố hữu của con người Không tin tưởng ở “tự ngã trung tâm”, diễn ngôn hậu hiện đại đưa ra những hình tượng phi trung tâm hóa, nhân vật được xây dựng theo hướng đa diện, để phù hợp với tính đa nguyên, đa trị của điều kiện hậu hiện đại Con người tồn tại như những mảnh ghép nằm trong mối quan hệ hỗn thể với những mảnh ghép khác của cuộc sống, đôi lúc chỉ tồn tại nhạt nhòa như những cái bóng không rõ hình dáng
Cảm quan hậu hiện đại không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm nghệ thuật của các nhà văn mà nó cũng chi phối phương thức thể hiện của diễn ngôn hậu hiện đại Trong văn học hậu hiện đại lối trần thuật “phá vỡ trật
tự thời gian”, sự phân mảnh trong cấu trúc tác phẩm từ cốt truyện, nhân vật, cảnh trí, đề tài được sử dụng nhiều Tính đối thoại cũng được đặt lên hàng đầu khi người viết tạo ra những cái kết mở, hoặc những khoảng trống, khoảng trắng trong văn bản Nhà văn đôi khi còn xuất hiện ngay trong tác phẩm để lạm bàn về câu chuyện hoặc trở thành một nhân vật đối thoại với người đọc
và qua đó vẫy gọi người đọc đồng sáng tạo, cùng đối thoại Diễn ngôn hậu hiện đại đặc biệt coi trọng tính liên văn bản Một tác phẩm hậu hiện đại luôn chứa đựng trong nó hai mối quan hệ, một là quan hệ nội tại giữa các thành phần trong chính tác phẩm đó, hai là quan hệ ngoại tại với những tác phẩm khác Tính liên văn bản khiến cho diễn ngôn văn học hậu hiện đại trở thành một cuộc chơi bất tận của các mã kí hiệu với sự liên tưởng rộng lớn Nhà văn hậu hiện đại còn có xu hướng sử dụng kiểu nhại văn như một lối viết tìm về với văn phong truyền thống nhưng lại thổi vào đó tư tưởng mới: tư tưởng giải thiêng và thay thế
Các nhà văn hậu hiện đại coi việc sáng tác như một trò chơi, trong đó nhà văn thường tạo ra những “mê cung” hình ảnh, chi tiết, sự kiện và người
Trang 29đọc có trách nhiệm giải mã những kí hiệu bí ẩn trong đó để đi tìm đến những cái đích cho riêng mình Văn chương là sự sáng tạo không ngừng, một tác phẩm văn học luôn thể hiện những thể nghiệm độc đáo của người viết, là sự dấn thân, trải nghiệm thậm chí đương đầu với những rào cản để tạo nên cái đẹp, chân thiện mỹ Dưới sức sáng tạo không ngừng của các nhà văn, văn học hậu hiện đại đã có những đóng góp không nhỏ cho nền văn học thế giới với nhiều tác phẩm văn chương đích thực Điều này lí giải vì sao văn học hậu hiện đại đã và đang là trào lưu văn học lớn trên thế giới, và diễn ngôn hậu hiện đại trở thành một trong những diễn ngôn chính của văn học giai đoạn này
Bắt nhịp với dòng chảy chung của văn học thế giới, văn học hậu hiện đại cũng bắt đầu manh nha, xuất hiện trong văn học Việt Nam và dần dần trở thành một khuynh hướng được nhiều nhà văn lựa chọn Sau khi đất nước thống nhất, hiện thực đời sống xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi Nền kinh
tế thị trường với tất cả những phức tạp, gai góc của nó khiến mọi giá trị, chuẩn mực chỉ còn là tương đối Cuộc sống trở nên xô bồ, nhốn nháo với những biến thiên mạnh mẽ buộc nhà văn không thể nhìn cuộc sống với nhãn quan giá trị như trước mà tỏ ra sắc sảo, nhạy cảm hơn trong cách nhìn nhận các vấn đề của đời sống Thêm vào đó, công nghệ thông tin phát triển tạo ra một không gian mới, làm thay đổi cách nghĩ, cách cảm của con người, việc kết nối giao lưu văn hóa ra toàn thế giới cũng giúp các nhà văn Việt Nam có điều kiện tiếp thu những học thuyết trên thế giới Sự thức tỉnh của cái tôi và chủ thể sáng tạo trong mỗi nhà văn vốn không muốn lặp lại, muốn đổi mới trong hoạt động sáng tác đã dẫn họ đến những khuynh hướng sáng tác mới trên thế giới, bắt nhịp cùng dòng chảy chung của văn học nhân loại Năm
1986, đại hội Đảng lần thứ 6 đã thực sự cởi trói cho văn nghệ sĩ khi khẳng định: “Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu
Trang 30cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật và
phát triển các loại hình, thể loại nghệ thuật các hình thức biểu hiện” [Dẫn theo
27, tr.71] Chủ trương của Đảng đã mở đường cho các văn nghệ sĩ nỗ lực tìm
kiếm cho mình những hướng đi mới Những yếu tố trên chính là tiền đề cần
thiết tạo nên sự chuyển biến trong cảm quan thời đại của văn nghệ sĩ Việt
Nam, nhiều nhà văn bắt đầu có ý thức đổi mới trong tư duy nghệ thuật, thoát
ra khỏi những rành buộc quy phạm của diễn ngôn cũ
Trong điều kiện đó, trào lưu văn học hậu hiện đại vốn đang phổ biến trên
thế giới cũng đã có những ảnh hưởng nhất định đến các nhà văn Việt Nam,
đặc biệt là lớp nhà văn trẻ Nếu lớp nhà văn tiền bối còn đang dè dặt trong
việc tiếp nhận lý thuyết mới thì các nhà văn trẻ với sự nhạy bén, đã mạnh dạn
đón bắt cái mới và thử nghiệm nó trong các sáng tác của mình Hàng loạt các
cây bút như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái,
Nguyễn Bình Phương, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh… xuất hiện và đã tạo
nên những xáo trộn trong đời sống văn học Dù ở Việt Nam chưa xuất hiện
hoàn cảnh hậu hiện đại đúng nghĩa, nhưng có thể nói, tâm thức hậu hiện đại
và kĩ thuật viết hậu hiện đại đã xuất hiện khá rõ nét trong nhiều tác phẩm văn học
Nhìn chung, văn học hậu hiện đại ở Việt Nam đang phát triển theo hai xu
hướng: xu hướng thứ nhất là xu hướng “kết hợp các thủ pháp hậu hiện đại…
với nền văn hóa truyền thống và các đặc trưng thể loại cũ” [Dẫn theo 30,
tr.122] Các sáng tác chủ yếu của khuynh hướng này gắn liền với tiểu thuyết
và truyện ngắn, nổi bật là của Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,
Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Lý Lan, Thuận Mặc dầu
đây là xu hướng “đổi mới không quyết liệt và không hoàn toàn hậu hiện đại”
[Dẫn theo 30, tr.123] mà chỉ ở dạng mang yếu tố hậu hiện đại nhưng những
sáng tác theo khuynh hướng này lại thực sự là “những tác phẩm có giá trị
Trang 31quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam đương đại” [Dẫn theo 30, tr.123] “Xu hướng thứ hai là sự đổi mới triệt để từ hình thức cho đến nội dung theo tư duy hậu hiện đại, cách ly hẳn với những truyền thống văn học
cũ, đây là xu hướng hậu hiện đại toàn diện và có ý thức… Các sáng tác theo khuynh hướng này chủ yếu là thể loại thơ, đặc biệt là thơ Tân hình thức, thơ phụ âm, thơ văn xuôi, kịch đường phố…” [Dẫn theo 30, tr.123] với những tác giả tiêu biểu như Inrasara, Bùi Chát, Đặng Thân… Các tác phẩm sáng tác theo xu hướng này vẫn chỉ ở mức thử nghiệm và chưa được đánh giá cao
Có thể nói, diễn ngôn hậu hiện đại ở Việt Nam mang những đặc thù riêng Điều này thể hiện trước tiên ở tâm thức hậu hiện đại Theo Đào Tuấn Ảnh, “cảm thức hậu hiện đại ở Việt Nam gắn liền với cảm thức hậu hiện thực
xã hội chủ nghĩa” [Dẫn theo 30, tr.117] Chính tâm thức này đã trở thành căn nguyên tư tưởng cho sự hình thành thế giới quan, nhân sinh quan của các nhà văn, từ đó chi phối đến diễn ngôn nghệ thuật của họ Diễn ngôn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam phản ánh kiểu cảm nhận đời sống đặc thù, tiêu biểu cho trạng thái tinh thần của thời đại Đó là sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, sự lung lay của các chuẩn mực đạo đức dẫn đến sự cô đơn, cô độc, cảm giác lạc lõng và tâm lí hoài nghi của con người Biểu hiện tinh thần hậu hiện đại ấy trong văn chương lại khá đa dạng, phức tạp Nếu như ở “tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương là ám ảnh bởi sự khủng hoảng niềm tin của con người,
của nhà văn vào con người và cuộc đời, sự đổ vỡ của những trật tự đời sống
xã hội và gia đình, sự ngắc ngoải ngưng đọng của đời sống, sự đánh mất bản ngã, phương hướng, sự băng hoại đạo đức, sự đau đớn bơ vơ, tình trạng bất an của con người” [71] thì ở tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà là “cái nhìn về một đời sống hỗn loạn, đổ vỡ” [71]; trong sáng tác của Tạ Duy Anh là “nỗi khắc khoải đi tìm bản ngã, tìm một giá trị thật sự nhân bản trên cái đời sống đổ nát,
là sự loay hoay lý giải, hóa giải những nỗi đọa đầy con người từ tiền kiếp”
Trang 32[71] Trong tác phẩm hậu hiện đại, nhà văn không ngần ngại tái hiện những gì đang xảy ra, thông qua đó, cất lên tiếng nói phản biện, đánh giá lại những giá trị đã được công nhận và ổn định trong đời sống Tinh thần giải thiêng được
sử dụng một cách quyết liệt để nhà văn đi tìm và trở về với những gì thuộc về bản chất hiện thực và con người Các nhà đã mang một tâm thức mới trong sáng tạo nghệ thuật Bỏ qua mô thức cơ bản nhất của chủ nghĩa hiện thực là
“nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình”, nhà văn hậu hiện đại đề cao tính hư cấu, tính trò chơi, tính giễu nhại và giải thiêng trong sáng tạo Điều này khiến cho diễn ngôn văn học hậu đại khi thì đầy hư ảo khi thì hỗn độn, khó nắm bắt Trong các tác phẩm theo khuynh hướng hậu hiện đại, nhân vật thường đa diện, tồn tại như những mảnh vỡ, cốt truyện và trần thuật rời rạc, phân mảnh, tính đối thoại giữa người đọc và nhà văn được đề cao… Chẳng hạn như truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là sự kết hợp của kết cấu phân mảnh với sự tận dụng tối đa thủ pháp liên văn bản, tạo ra giọng điệu đa thanh nhiều
bè, còn “tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương luôn có nhiều tuyến chạy ngược - xuôi theo lối kết cấu song hành xoắn vặn… nhiều tuyến truyện, nhiều nhân vật bị cố ý bỏ quên; rồi lối kể nhảy cóc; sự sáng tạo các điểm nhìn dị biệt; sự dung hợp nhiều thủ pháp hội họa, âm nhạc và điện ảnh; sự “vênh lệch”, phi lý trong đối thoại…” [71]
Do tính chất đặc thù của nền văn học khi đang phải tiến hành song song hai quá trình vừa hiện đại hóa vừa hậu hiện đại hóa, diễn ngôn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam có tính chất hỗn dung Đó thực chất là sự pha trộn và kết hợp giữa những yếu tố cổ điển, hiện đại và hậu hiện đại, trong đó yếu tố hậu hiện đại đóng vai trò chủ đạo Diễn ngôn hậu hiện đại Việt Nam cũng mang những đặc trưng của tính bản địa và truyền thống văn học dân tộc Dưới cảm quan mới - cảm quan hậu hiện đại và sự vận dụng linh hoạt các thủ pháp đặc trưng như nhại lịch sử, giải thiêng, siêu hư cấu, giả thể loại… các nhà văn
Trang 33đã đưa những chất liệu lịch sử, dân gian vào tác phẩm Chẳng hạn như lối “tư
duy câu đố và đồng dao”, sử dụng các diễn ngôn văn học dân gian trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tính “trào phúng nghịch dị” trong tiểu thuyết
Hồ Anh Thái, tính cắt dán và giễu nhại trong thơ hậu hiện đại… Có thể nói,
tính hỗn dung là một đặc điểm mang tính bản sắc của diễn ngôn hậu hiện đại
trong văn học Việt Nam đồng thời thể hiện sự vận động chung của nền văn học
Qua sự phân tích một cách khái quát trên có thể thấy sự vận động và đặc
trưng của văn học hậu hiện đại trong dòng chảy của văn học sau 1975 Thực
tiễn văn chương đương đại là một bức tranh khá phức tạp, có nhiều khuynh
hướng, nhiều xu thế đan xen mà hậu hiện đại là một khuynh hướng nổi bật
bởi những yếu tố cách tân mới lạ Những cách tân đó một phần chịu ảnh
hưởng của các yếu tố ngoại sinh như kĩ thuật viết, phương thức biểu hiện…
nhưng đồng thời cũng bắt nguồn từ vấn đề nội sinh, nhất là cảm thức hậu hiện
đại gắn liền với “cảm thức hậu hiện thực xã hội chủ nghĩa” Điều này khiến
cho diễn ngôn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam vừa thể hiện được tinh
thần, tâm thức chung của hậu hiện đại, vừa tạo được đặc trưng riêng, gắn với
truyền thống văn hóa dân tộc
Có thể nói, chỉ mới mấy mươi năm thực hiện đổi mới đến nay, văn học
Việt Nam đang chứng kiến sự tồn tại song song của nhiều xu hướng, trào lưu
văn học khác nhau Bên cạnh dòng chính chủ lưu hiện đại, các nhà văn vẫn
đang tìm kiếm những thể nghiệm mới Với những thành công bước đầu đã
được, văn học hậu hiện đại đang dần tạo lập vị trí cho mình trên văn đàn Mặc
dù còn nhiều e ngại, dè dặt và hoài nghi về lý thuyết văn học mới này nhưng có
thể nói, hậu hiện đại đã trở thành một phần trong dòng chảy văn học Việt Nam
Trang 341.2 ĐẶNG THÂN VÀ “CUỘC PHIÊU LƯU TRONG CÁI VIẾT”
1.2.1 Đặng Thân và quá trình bắt nhịp với văn học đương đại Việt Nam
Có thể nói nền văn học Việt Nam sau 1986 có sự phát triển đa dạng, mỗi nhà văn với ý thức cách tân đã tìm cho mình những đường đi khác nhau, tạo
ra một bức tranh đa màu sắc cho văn học Giữa bức tranh đó, Đặng Thân xuất hiện với một màu sắc nổi bật bởi cái lạ và độc đáo của ông So với những cây bút như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương… thì Đặng Thân là lớp nhà văn trẻ về tuổi nghề Tuy nhiên, ông đã dần khẳng định được
vị trí của mình trong văn học đương đại khi liên tục cho ra hàng loạt tác phẩm tạo được sự chú ý của dư luận với lối viết theo khuynh hướng hậu hiện đại Các tác phẩm của Đặng Thân được đánh giá là những sản phẩm chứa đầy sự sáng tạo về ngôn từ, về kĩ thuật viết và có độ mở trong bề sâu tư tưởng nghệ thuật Đặng Thân là nhà văn, nhà thơ với những tác phẩm sáng tác theo khuynh hướng hậu hiện đại của văn học Việt nam đương đại Ông sinh năm
1964, quê gốc ở tỉnh Nghệ An Ông tốt nghiệp trường đại học Sư phạm Ngoại ngữ khoa Tiếng Anh và hiện đang sống, làm việc tại Hà Nội Trước khi đến với văn chương, ông là giảng viên của trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội Đặng Thân từng là Giám đốc đào tạo của Viện nghiên cứu
hỗ trợ phát triển giáo dục, kiêm chủ nhiệm bộ môn Dự trắc học của Trung tâm nghiên cứu và phát triển Kinh dịch Hiện nay, Đặng Thân vừa dạy học vừa sáng tác bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh
Với nghề chính là dạy học, Đặng Thân đến với văn chương vốn chỉ nhằm thỏa mãn niềm đam mê sáng tác Ông thử sức ở hầu hết các thể loại như thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận phê bình và ít nhiều để lại một ấn tượng trong lòng bạn đọc Từ năm 2005, những tác phẩm đầu tay (thơ và truyện ngắn) của Đặng Thân đã bắt đầu đến với độc giả Các sáng tác của ông
Trang 35trước lúc xuất bản đều được ông đưa lên trang blog cá nhân và nhận được rất nhiều ủng hộ từ độc giả bởi cách viết mới lạ, độc đáo và giọng văn hài hước đầy trí tuệ Từ đó cho đến nay, sau hơn mười năm đến với sáng tạo nghệ thuật, văn chương không chỉ còn sở thích, sáng tác văn chương không chỉ đơn thuần là để thỏa mãn niềm đam mê nhất thời mà nó đã trở thành cái nghiệp của Đặng Thân
Tác phẩm được xuất bản sớm nhất của Đặng Thân là tập truyện ngắn Ma net (năm 2008) được viết theo “lối phi thực” Ma nét gồm 12 truyện ngắn, nổi bật như: Ma nhòa, Yêu, Hiếp, Người thầy của những tuyên ngôn, Đã 20 mùa thu người Hà Nội Ngay từ khi ra đời, tập truyện đã nhận được sự quan tâm
lớn từ độc giả cho đến những nhà nghiên cứu, phê bình Những truyện đưa
vào Ma nét có giọng văn tưởng như đùa cợt nhưng lại ẩn chứa cái hiện thực
mang đậm hơi thở của thời đương đại Đặng Thân đã bước đầu tạo nên những
cách tân đáng kể trong Ma nét, đặc biệt là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Ở
đây, nhà văn đã kéo ngôn ngữ văn chương lại với ngôn ngữ đời sống, làm xáo trộn rồi kết hợp nhiều loại ngôn ngữ với nhau, từ ngôn ngữ bác học đến ngôn ngữ bình dân, ngôn ngữ đường phố, từ tiếng Anh đến tiếng Pháp… Thứ ngôn ngữ đó lại được sắp xếp theo một hình thức tư duy mới mẻ về thể loại, tạo sự hứng thú tò mò từ độc giả và sự quan tâm từ giới phê bình Một số ý kiến cho
rằng các truyện ngắn trong Ma net là những “văn bản hậu hiện đại”, còn nhà
văn Lê Anh Hoài gọi đó là “hậu hiện đại đã được Việt hóa”
Sau hai cuốn tiểu thuyết Những kênh bão người / Channels of the Homo Storms và Factum [a] Cave được lưu truyền trên mạng, năm 2011, Đặng Thân cho xuất bản cuốn tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] và tạo
được ấn tượng bởi cái mới, cái lạ và cái độc của nó Cuốn sách mới lạ trong cấu trúc, văn phong, nghệ thuật kể chuyện, kĩ thuật viết, hình thức, tư duy, ngôn ngữ… và điển hình là chất phúng dụ hài hước nổi trội khiến cho nó nhận
Trang 36được sự đánh giá nhiều chiều Với lối viết đậm chất hậu hiện đại, Đặng Thân được xem là nhà văn tạo ra “một bước ngoặt quyết đoán” cho văn học khi
“sáng tạo nên một thế giới nghệ thuật đi xa hơn nhiều những gì các nhà văn khác đã làm” [69]
Nói đến Đặng Thân cũng không thể không nhắc đến tiểu luận phê bình
Dị - nghị - luận Đồng - chân - dung (NXB Hội Nhà Văn, 2013) Cuốn tiểu
luận là sản phẩm của mười năm nhà văn âm thầm ghi nhận về các đồng nghiệp trong nghề mà ông kính trọng Cuốn sách gồm 37 bài viết và 500 trang với một lối viết độc đáo trong cách nhìn nhận, đánh giá của nhà văn về các
“chân dung văn học” Đây được coi là: “Một cách tiếp cận vừa từ bên trong vừa từ bên ngoài, vừa khoa học, vừa nghệ thuật với tri thức phong phú từ các nền văn hóa khác nhau và hệ phê bình khác lạ nhưng không quên tri thức khu vực truyền thống Những góc nhìn vừa mới lạ, vừa trẻ trung đối với tác giả đương đại của văn học Việt Nam” [79] Có thể nói, bằng giọng văn vừa tung tẩy vừa thâm thúy, cộng với nhãn quan mới lạ, cách tiếp cận khác người, Đặng Thân đã tạo nên một cách nhìn mới, cách đánh giá mới và thậm chí là cách đọc mới về các hiện tượng văn học
Ngoài sáng tác ở lĩnh vực văn xuôi, Đặng Thân còn được biết đến bởi những bài thơ được sáng tác theo khuynh hướng hậu hiện đại Các tập thơ của
Đặng Thân như: [phô] phố, TỪ ĐIỂN THI X/X LOẠI [chúng sinh], Thơ phụ
âm (Alliteration), hài ku[l], Không hay… cho thấy sự cách tân lớn và táo bạo
trong việc sử dụng ngôn ngữ và kĩ thuật viết thơ Những bài thơ sáng tác theo lối thơ phụ âm, tân hình thức, họa hình… mang đậm những yếu tố hậu hiện đại và cả hậu - hậu hiện đại Thơ Đặng Thân như luôn muốn bung thoát ra khỏi những hạn hẹp của ngôn từ để thăng hoa với cảm xúc mới, trong một thứ ngôn ngữ mới chỉ thuộc về Đặng Thân Nhiều ý kiến cho rằng, Đặng Thân không chỉ “chơi chữ” mà còn “phá chữ” bởi những bài thơ của Đặng Thân đôi
Trang 37khi trở nên xa lạ và rất khó đọc, cũng như khó tiếp nhận đối với độc giả Việt
Đó là điều dễ hiểu khi người đọc phải tiếp nhận với những cái quá mới, chưa phù hợp lắm với thị hiếu và tầm đón nhận chung Và có lẽ chính Đặng Thân cũng hiểu điều này, khi ông khiêm nhường đặt tên cho tập thơ mới xuất bản
của mình là Không hay Trong nghệ thuật, “hay” và “không hay” là những
nhận định có tính chất tương đối, bởi nó tùy thuộc vào thị hiếu của người thưởng thức Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng với những cách tân triệt để trong sáng tác thơ của mình, Đặng Thân đã góp một phần không nhỏ trong việc làm mới thơ Việt, đưa thơ Việt bước đầu hội nhập vào xu thế phát triển chung
Có thể nói, văn Đặng Thân là điển hình của văn học thời kì mạng internet Đó được coi là một hiện tượng lạ của nền văn học Việt Nam đương đại Với nhiều thể loại và những dấu ấn riêng biệt khó phai, sự cách tân triệt để trong các sáng tác, Đặng Thân được xem là một trong những điển hình của văn chương hậu đổi mới, một đại diện tiêu biểu cho trào lưu hậu hiện đại ở Việt Nam Các thuật ngữ “Tiểu - thuyết - Đặng - Thân”, “Thơ Đặng Thân” và giải thưởng của Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội dành cho truyện ngắn
trong cuộc thi Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long 2005-2006 đã khẳng
định sự nỗ lực sáng tạo của Đặng Thân cũng như vị trí của ông trên văn đàn Việt Nam
1.2.2 “Cuộc phiêu lưu trong cái viết” của Đặng Thân
Đối với Đặng Thân, văn chương là một trò chơi, sáng tác là để thỏa mãn tinh thần Nhà văn tham gia vào cuộc chơi một cách tự nhiên, khởi phát từ hứng thú, cảm xúc của bản thân: “Tôi trước hết viết để chơi Cũng vì cuộc sống quanh tôi trong mắt tôi nó rất đau buồn, u ám, tù đọng, cứng nhắc Vì vậy mà tôi sống như cư sỹ, ít giao du và khá là lánh đời Tôi tìm vui trong những trò chơi bời câu chữ” [42] Viết là để chơi, nhưng với Đặng Thân, trò
Trang 38chơi ấy lại là một phần không thể thiếu trong cuộc sống, nó là nguồn sống, nguồn năng lượng, nguồn vui của ông, giúp ông thoát ra khỏi trạng thái cô đơn, tù đọng của cuộc đời: “Cuộc chơi này có đem lại cho tôi hưng phấn, và cái đó cần cho nhu cầu sống của tôi, tức là tôi luôn rất cần sự hưng phấn trong tồn tại của mình” [42] Sáng tác văn chương trở thành là một hoạt động thỏa mãn tinh thần, giãi bày cảm xúc bản thân một cách tự nhiên và trung thực của Đặng Thân: “Khi làm văn, tôi viết cho tôi… có lẽ cái “tôi” đã thúc giục tôi viết ra những suy nghĩ ngang ngược của mình” [42] Ông tự nhận khi viết mình luôn để cảm xúc gợi hứng, từ đó mà các con chữ tuôn ra theo ý nghĩ, không có sẵn một sự sắp đặt nào trước đó Đặng Thân quan niệm, thơ:
“đó chỉ là những con chữ hồn nhiên trong những tâm trạng khác nhau” [45], làm thơ là để chơi cho vui lòng mình, vì vậy cứ tự nhiên tận hưởng nó một cách tự nhiên nhất Đối với Đặng Thân, sự sâu sắc của văn chương chính là ở
sự hồn nhiên đó Bởi thế, khi sáng tác, ông không đặt nặng vấn đề gì mà cứ
Quan niệm cuộc đời cũng là một trò chơi, trong đó, con người là những
Trang 39quân cờ được sắp đặt khi ngẫu nhiên, khi hữu ý bên nhau, Đặng Thân cũng biến công việc viết văn trở thành một trò chơi trí tuệ Ở đó, người nghệ sĩ vừa
là đạo diễn vừa là người chơi, tham gia vào quá trình sáng tạo một cách miệt mài bằng lối bông đùa tưởng như tầm phào nhưng lại ẩn giấu nhiều suy tư Từ
đó, Đặng Thân đã tạo cho mình một phong cách độc đáo riêng Nhà văn Lê Anh Hoài viết về Đặng Thân rất đúng và sâu sắc: “Cái độc đáo nằm sâu bên trong văn của Đặng Thân là cách nhìn Vẫn chính là mọi sự của đời sống với
đi học, đi làm, vui chơi, tán tỉnh, yêu đương nhưng được nhìn theo cách không - quan - trọng, bình - thường - thôi Không sử thi Không anh hùng ca Không lãng mạn Không bi kịch… Nhiều cái nhìn, tất thảy đều bình đẳng như nhau trong việc ghi nhận/phô bày hình ảnh và thái độ…” [19] Chất hài hước đen trở thành một đặc điểm quan trọng của phong cách Đặng Thân bởi theo quan niệm của ông: “hài hước không phải là đặc tính lớn nhất của thơ Hài hước là yếu tính cực kỳ lớn của văn xuôi Các nhà văn lớn đều đạt được tới đỉnh điểm của sự hài hước” [45] Hầu hết các sáng tác của Đặng Thân, từ thơ cho đến văn xuôi đều thể hiện cái chất đó Lê Anh Hoài nhận xét lối viết của Đặng Thân là “lối viết tung tẩy” đầy tự do sáng tạo: “Đây là một kiểu đùa trí tuệ, một trường giễu nhại (parody) tinh tế, một cách giải thiêng, giải trung tâm nhẹ nhàng (như đẩy xe hàng) nhưng hiệu quả” [19] Chính điều này không chỉ tạo cho văn Đặng Thân sự độc đáo, hấp dẫn, đọng lại trong tâm trí bạn đọc về một tiếng cười hài hước, giễu nhại xuyên câu chữ mà còn chất chứa những dư âm cuộc đời
Đối với Đặng Thân, văn chương không chỉ là trò chơi mà viết văn còn là một công việc nghiêm túc Nhà văn ý thức rất rõ trách nhiệm của người cầm bút khi sáng tác một tác phẩm Nảy sinh từ cảm xúc, hứng thú nhưng không phải vì thế mà các sáng tác của Đặng Thân trở nên tùy hứng Với ông, chơi cũng là một công việc nghiêm túc, huống hồ đó là viết văn Ý thức của người
Trang 40cầm bút trong Đặng Thân vẫn rất rõ khi ông tự lập ra cho mình những quan niệm nghệ thuật rõ ràng “Tôi mong văn chương cũng như ngôn ngữ đạt tới được những chiều sâu hơn, cao hơn, ngoài những gì mà chúng ta thường nghe Cần có một ngôn ngữ vượt thoát ra được hiện thực để diễn đạt được sự
đa chiều, đa dạng của tư tưởng Văn chương phải thể hiện cuộc sống nhiều chiều” [64]
Đặng Thân luôn quan niệm nghệ thuật là lĩnh vực của sự sáng tạo, sản phẩm văn chương phải là cái mới, lạ và độc đáo, không lặp lại, không nhầm lẫn với bất cứ sản phẩm nào Đặng Thân đã bày tỏ quan niệm sáng tác của mình: “Tôi ủng hộ mọi sự bứt phá, dù là đi trên con đường chưa ai từng bước hay là trên những lối mòn đã có người đi mà vẫn vô cùng lạ lẫm ” [48] Với mong muốn vượt thoát đó, ông luôn khao khát tìm kiếm, sáng tạo những thể nghiệm mới mẻ tạo ra những sản phẩm nghệ thuật đầy chất sáng tạo như chính ông tâm sự: “tôi chưa bao giờ muốn viết một cuốn sách giống như những cuốn nào đó, nên phải làm khác đi” [48] Văn chương của Đặng Thân không chấp nhận bất cứ rào cản nào về ngôn ngữ và ý tưởng, nó luôn luôn có
xu hướng bung phá tất cả luật lệ đã cũ, hướng đến cuộc sống như nó vốn có,
đa chiều, đa diện, nhiều mảng màu sáng tối đan xen vào nhau, không quá nghiêm trọng mọi chuyện Và ông đã thực sự xác lập một cái tên riêng - Đặng Thân với những bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết không bình thường, không giống ai
Đặng Thân hầu như đã trải nghiệm đủ loại thơ, từ thơ cổ điển đậm bản sắc dân tộc đến những loại thơ mới như thơ tự do, thơ tự do trong khuôn khổ, thơ dòng ý thức, thơ văn xuôi, thơ siêu thực, thơ vô thức, thơ âm thanh, thơ phá chữ, thơ phụ âm… Ông cho ra đời những sáng tác không theo bất cứ một thể loại nào quen thuộc, không chỉ thơ mà còn ở truyện ngắn hay tiểu thuyết, phê bình văn học đều rất tùy hứng, hầu như không lệ thuộc vào kết cấu thông