1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng ngôn ngữ của người nuôi dưỡng trong giao tiếp đối với trẻ 0 3 tuổi trên địa bàn thành phố đà nẵng

64 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy giáo dục mầm non cần phải nhận thức rõ sự cần thiết của việc nghiên cứu về quá trình học nói của trẻ, đưa ra các phương pháp pháp triển ngôn ngữ cho trẻ ngay từ ban đầu, đặc biệt

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

Đề tài:

ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI NUÔI DƯỠNG

TRONG GIAO TIẾP ĐỐI VỚI TRẺ 0 -3 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Giảng viên hướng dẫn : Th.S Lê Thị Thanh Nhàn Sinh viên thực hiện : Châu Thị Việt Trinh

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Bằng tấm lòng tri ân sâu sắc tôi xin gửi lời cám ơn đến các Thầy

Cô trong khoa Giáo dục Mầm non– Trường Đại học Sư phạm, Đại học

Đà Nẵng, đặc biệt là cô giáo Lê Thị Thanh Nhàn– người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Thư viện trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, tập thể giáo viên trường mầm non 19/5, trường mầm non Búp Sen Xanh Cùng các bậc cô/ bác/ anh/ chị đã nhiệt tình giúp đỡ để chúng tôi có cơ sở nghiên cứu đề tài

Do bước đầu tìm hiểu nghiên cứu khoa học, nên trong quá tình nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 07 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Châu Thị Việt Trinh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

2.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài 3

2.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam 5

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3.1 Mục đích nghiên cứu 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 7

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 8

5.3 Phương pháp thông kê toán học: Thu thập, thống kê, tổng hợp kết quả khảo sát, phân tích và rút ra kết luận có độ tin cậy cao 8

6 Giả thuyết khoa học 8

7 Cấu trúc khoá luận 9

NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG NGÔN NGỮ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN 10

TOÀN DIỆN CỦA TRẺ EM 10

1.1 Ngôn ngữ và sự phát triển toàn diện của trẻ em 10

1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ 10

1.1.2 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ 10

1.2 Đặc điểm hoạt động ngôn ngữ của trẻ em 12

1.2.1 Khái niệm hoạt động ngôn ngữ 12

1.2.2 Đặc điểm của các nhân tố giao tiếp trong hoạt động ngôn ngữ của trẻ em 13

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học nói của trẻ em 16

Trang 4

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ Ở NGƯỜI NUÔI DƯỠNGTRONG GIAO TIẾP VỚI TRẺ MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

20

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 20

2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội 20

2.1.2 Đặc điểm văn hoá - ngôn ngữ 21

2.2 Khảo sát đặc trưng ngôn ngữ của người nuôi dưỡng trong giao tiếp với trẻ từ 0 -3 tuổi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 23

2.2.1 Mục đích khảo sát 23

2.2.2 Đối tượng khảo sát 23

2.2.3 Nội dung khảo sát 27

2.2.4 Phương pháp khảo sát 27

2.2.5 Kết quả khảo sát 29

2.3 Một số đề xuất về việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp với trẻ 48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Danh sách đối tượng điều tra

Bảng 2: Kết quả điều tra Anket về biểu hiện ngôn ngữ của NND (thống kê theo

Bảng 3: Kết quả điều tra Anket về biểu hiện ngôn ngữ của NND

Bảng 4: Danh sách người nuôi dưỡng được quan sát

Bảng 5: Nhận thức của NND về việc sử ngôn ngữ phi chuẩn trong giao tiếp với

trẻ ( thống kê theo độ tuổi văn hóa)

Kết quả điều tra Anket thống kê theo địa bàn cư trú

Bảng 5: Kết quả điều tra Anket thống kê theo độ tuổi của trẻ

Trang 6

ý thức xã hội

Bản chất của con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội (Mác) Con

người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Và trong việc tổ chức hoạt động kết nối đó, ngôn ngữ có vai trò là hết sức cơ bản LêNin nhận định: ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau hành động vì mục đích chung: lao động, đấu tranh, xây dựng

và phát triển xã hội Không có ngôn ngữ, con người không thể giao tiếp được, thậm chí con người không thể tồn tại được Nói cách khác, với một cá thể người, ngôn ngữ chính là tấm giấy thông hành để con người trở thành thành viên của xã hội

Với trẻ em, những sinh thể yếu ớt rất cần đến sự chăm sóc, bảo vệ của người lớn thì ngôn ngữ càng có một vai trò quan trọng Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ, để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ, là điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách cho trẻ Ngôn ngữ cũng là công

cụ để phát triển tư duy, nhận thức, là công cụ để trẻ học tập và vui chơi, giống như việc dạy trẻ tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác nhau, phát triển lời nói cho trẻ ở trường mầm non thực hiện mục tiêu “kép” Đó là, trẻ học phải biết tiếng mẹ đẻ, đồng thời

Trang 7

sử dụng nó như một công cụ để vui chơi, học tập Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp trẻ

mở rộng giao tiếp, trẻ tiếp thu được những giá trị thẩm mỹ trong thơ ca, truyện kể… Tóm lại, ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện Sự phát triển chậm trễ về mặt ngôn ngữ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện của đứa trẻ Vì vậy giáo dục mầm non cần phải nhận thức rõ sự cần thiết của việc nghiên cứu về quá trình học nói của trẻ, đưa ra các phương pháp pháp triển ngôn ngữ cho trẻ ngay từ ban đầu, đặc biệt là những phương thức tác động thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ em, tạo tiền đề

để trẻ thành công trong cuộc sống

Ý thức được điều đó, hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ Tuy nhiên, các tài liệu hiện có đã có phần lạc hậu so với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em giao đoạn hiện nay Mặt khác, những đề xuất

về nội dung, phương pháp dạy nói cho trẻ chủ yếu dựa theo kinh nghiệm Vẫn còn thiếu hụt các công trình hướng đến tìm hiểu hoạt động ngôn ngữ ở trẻ, đặc biệt là về các nhân tố tham gia và tác động trực tiếp đến việc sử dụng lời nói với tính chất là một hoạt động, từ đó xác lập các điều kiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Xem môi trường ngôn ngữ là một trong những nhân tố có ảnh hưởng to lớn

đến tiến trình học nói của trẻ, chúng tôi đề xuất đề tài nghiên cứu về “Đặc trưng

ngôn ngữ của người nuôi dưỡng trong giao tiếp đối với trẻ 0 -3 tuổi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” nhằm làm rõ diện mạo môi trường ngôn ngữ chủ đạo của trẻ trên địa bàn nghiên cứu, bước đầu tìm hiểu tác động của môi trường ngôn ngữ được

sử dụng xung quanh trẻ đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em, góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu cho việc phân tích, đánh giá các yếu tố chi phối tiến trình thủ đắc ngôn ngữ của trẻ em

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Ở nước ngoài đã có các công trình nghiên cứu và vận dụng từ lâu về vấn đề ngôn ngữ của người nuôi dưỡng đối với trẻ Các tác giả như Huei-Mei Liu, Feng-Ming Tsao, Patrica K Kuhl, Weiyi Ma, Roberta Michnick Golinkoff, Derek Houston, Kathy Hirsh-Pasek, Gregory A Bryant, H.Clark Barett,… đã thực hiện khá nhiều nghiên cứu về ngôn ngữ của người nuôi dưỡng khi gia tiếp với trẻ em Theo kết quả được công bố thì đặc trưng ngôn ngữ ở người nuôi dưỡng khi giao tiếp với trẻ có nhiều điểm khác biệt so với khi giao tiếp với người lớn và điều này thể hiện phổ biến ở rất nhiều ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật… Giới nghiên cứu trên thế giới gọi tên loại ngôn ngữ này bằng các thuật ngữ như Infant-directed speech, child-directed speech, hoặc thân mật hơn là Babytalk, motherese, parentese, caretaker… Đây là một dạng thức ngôn ngữ đặc trưng với những biểu hiện cụ thể về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Về mặt ngữ âm, ngôn ngữ được người lớn sử dụng khi giao tiếp với trẻ mang đặc tính uyển chuyển, giàu nhạc điệu, tốc độ phát âm chậm, đồng thời, các yếu tố khác của ngữ điệu cũng được phóng đại để tăng tính biểu cảm [14] Nói chung, cốt lõi của những biến điệu về mặt âm vị học của dạng thức ngôn ngữ này chính là sự nhấn mạnh, cường điệu các phẩm chất vật

lí của âm thanh như cao độ (đẩy giọng lên hơn mức bình thường), trường độ (kéo dài nguyên âm), sự tăng cường độ vuốt khi phát âm nhằm làm cho lời nói thêm rõ ràng và đạt hiệu quả cao trong chuyển tải cảm xúc

Về phương diện từ vựng, điểm nổi bật của ngôn ngữ do người lớn sử dụng khi giao tiếp với trẻ em chính là sự rút gọn và đơn giản hoá hệ thống từ ngữ trong giao tiếp với trẻ Việc này có thể được thực hiện cả trên phương diện ngữ âm lẫn hình thái học với nhiều cơ chế đa dạng như: thiết lập từ mới bằng cách đồng hoá

hoặc láy (ví dụ: wawa thay cho water, baba thay cho bottle, beddy-bye thay cho

bedtime …); thêm vĩ tố để biến đổi âm tiết sau hoặc tạo âm tiết mới (ví dụ: kitten thành kitty, dog thành doggy); thay thế phụ âm đầu của âm tiết thành một bán âm

Trang 9

đối tượng gần gũi trong đời sống của trẻ vốn có tên gọi phức tạp, khó hiểu, khó phát

âm (như nana thay cho grandmother, gee gee thay cho horse, choo choo thay cho

train…), hoặc cho những đối tượng thuộc vào nhóm “cấm kị”, không tiện gọi tên

trực tiếp như từ chỉ các chức năng bài tiết của cơ thể, cơ quan sinh dục ngoài (sissy /

wee wee thay cho urination (tiểu tiện), poo poo, poopie thay cho defecation (đại

tiện) v.v ) như là những cách thức quan trọng nhằm nâng cao khả năng lĩnh hội ngôn ngữ cho trẻ

Về đặc trưng cú pháp, điểm khác giữa ngôn ngữ của người lớn khi trò chuyện với trẻ em thể hiện trước hết ở việc giản lược các từ phụ như giới từ, mạo từ

để đơn giản hoá phát ngôn; sử dụng lời nói ngắn thay vì câu có cấu trúc đầy đủ khi giao tiếp với trẻ Bên cạnh đó, nhiều bậc nuôi dưỡng trẻ còn dùng cách mô tả hoặc

sử dụng tên riêng thay cho các đại từ như là một phương thức làm giảm nhẹ tính phức tạp của các quy tắc ngữ pháp Các câu nói vô nghĩa cũng được người lớn sử dụng làm phương tiện để thực hiện tương tác với trẻ em, còn từ ngữ và cấu trúc câu thì thường được lặp đi lặp lại nhằm giúp tăng cường khả năng hiểu ngôn ngữ của trẻ

và khuyến khích trẻ tham gia vào giao tiếp

Ngoài các biểu hiện trên, khi giao tiếp với trẻ, người lớn còn kết hợp chặt chẽ yếu tố ngôn ngữ với các di chuyển cơ thể mang tính thị giác nhằm hỗ trợ cho việc truyền đạt ý nghĩa của ngôn ngữ đến với trẻ Và một trong những phương diện thị giác có ý nghĩa to lớn đối với sự nhận hiểu lời nói của trẻ chính là sự di chuyển môi Người ta nhận thấy rằng, khi trò chuyện với trẻ, miệng luôn được mở rộng hơn

so với khi phát âm bình thường Đó được xem như là một phương cách hữu hiệu để truyền thông điệp đến với trẻ Ngoài ra, các cử động của đầu cũng được dùng để nhấn mạnh các âm tiết khác nhau, kết hợp với các dấu hiệu khác nhằm giúp trẻ phân biệt tốt hơn lời nói [14]

Nhìn chung, những biểu hiện của ngôn ngữ ở người nuôi dưỡng khi giao tiếp với trẻ em trong nhiều cộng đồng trên thế giới được miêu tả là tương đối đồng nhất Điều đó tạo cơ hội cho việc nghiên cứu vấn đề này trong trường hợp trẻ nói tiếng Việt

Trang 10

Về tác động của dạng thức ngôn ngữ phi chuẩn trong giao tiếp với trẻ, về cơ bản, các nghiên cứu đều thống nhất rằng, sử dụng ngôn ngữ phi chuẩn mực – “nói theo cách của trẻ em” có tác dụng tích cực đối với sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ Jordan R Green và nhóm cộng sự cho rằng, trẻ em bắt đầu quá trình thủ đắc và phát triển ngôn ngữ thông qua loại ngôn ngữ này Do các thuộc tính âm học của ngôn ngữ trong ngôn ngữ dùng để giao tiếp với trẻ em được khuếch đại, loại ngôn ngữ này tỏ ra hiệu quả hơn ngôn ngữ thông thường trong việc thu hút sự chú ý của trẻ Đồng thời, tính biểu cảm của nó trên cả hai phương diện lời nói lẫn nét mặt, ánh mắt… cũng là nhân tố làm cho trẻ hứng thú với loại ngôn ngữ này hơn Việc dùng ngôn ngữ phi chuẩn được ví như là một chiếc cầu kết nối cảm xúc tích cực giữa người nuôi dưỡng và trẻ Khi người lớn sử dụng cách nói “theo kiểu trẻ con” tức là

đã chuyển đạt đến trẻ thông điệp về sự thừa nhận đối với ngôn ngữ của trẻ Từ đó, trẻ tiếp nhận ngôn ngữ với ý nghĩa là tín hiệu của sự ủng hộ, quan tâm Điều này tạo nên ở trẻ cảm giác an toàn, được động viên, khích lệ Và hiệu quả rõ ràng là, một khi trẻ nhận được sự thừa nhận và khích lệ từ những gì chúng nói, trẻ sẽ hào hứng, tích cực hơn trong giao tiếp với người lớn, từ đó, việc học nói của trẻ sẽ được đẩy nhanh hơn [, tr 338]

2.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các nghiên cứu nhằm phát triển ngôn ngữ ở trẻ hiện có cơ bản tập trung vào tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trẻ, từ đó hoạch định các nội dung và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em

Trong nhiều giáo trình về phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ của các tác giả như Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng Thái,… cũng như trong các đề tài nghiên cứu các cấp như vấn đề dạy ngôn ngữ cho trẻ được đề cập tương đối cụ thể Trên cơ sở mô tả đặc điểm ngôn ngữ của trẻ theo độ tuổi và mục tiêu giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mầm non, các nhà nghiên cứu đã đề xuất các biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở các phương diện như trau dồi ngữ âm, mở rộng vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển lời nói mạch lạc, lời nói văn hoá

Trang 11

khoa học cấp Bộ: “Xây dựng nội dung, biện pháp phát triển hoạt động ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (Bùi Kim Tuyến - Mã số B 98-49-59), luận án “Những bước phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo” (Lưu Thị Lan), “Phương pháp kể sáng tạo truyện

cổ tích thần kì cho trẻ mẫu giáo” (Hà Nguyễn Kim Giang), “Các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn” (Nguyễn Thị Oanh)… cũng đã đi sâu vào những nội dung cụ thể về vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ Các công trình này thực sự là những đóng góp to lớn về cả phương diện lí luận lẫn thực tiễn đối với nhiệm vụ giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mầm non Tuy nhiên, có thể thấy, các cách thức tác động được đề xuất chủ yếu theo quan điểm giáo dục dựa vào tính chuẩn mực của mẫu Đối với vấn đề ngôn ngữ của người lớn trong giao tiếp với trẻ, các nhà ngôn ngữ cũng như nhà giáo dục học chủ yếu tập trung xác định dạng thức ngôn ngữ cần/ nên khi tương tác với trẻ, còn biểu hiện thực tế của việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp với trẻ của người nuôi dưỡng vốn dĩ rất sinh động và phức tạp cũng như tác động của các dạng ngôn ngữ đến sự phát triển của trẻ hầu như chưa được đề cập Trong thực tế thì, các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy, chính những yếu tố phi chuẩn trong ngôn ngữ của người lớn khi giao tiếp với trẻ em lại có tác dụng thúc đẩy tiến trình thủ đắc ngôn ngữ của trẻ Chính vì vậy, đối với trường hợp trẻ nói tiếng Việt, rất cần những nghiên cứu cụ thể về tính đa dạng của môi trường ngôn ngữ trẻ được tiếp xúc trong quá trình học nói và tác dụng của nó đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Có như vậy chúng ta mới có được cái nhìn toàn diện, thấu đáo về các nhân tố chi phối trực tiếp đến hoạt động ngôn ngữ của trẻ

em, để qua đó đề xuất những phương thức tác động đúng đắn nhằm hỗ trợ cho quá trình học nói của trẻ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua khảo sát việc người nuôi dưỡng sử dụng ngôn ngữ phi chuẩn để giao tiếp với trẻ 0 -3 tuổi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để bước đầu mô tả những đặc trưng cơ bản của người nuôi dưỡng trong giao tiếp với trẻ em trường hợp trẻ nói tiếng Việt, qua đó xác định tác động của loại ngôn ngữ này quá trình

Trang 12

phát triển ngôn ngữ của trẻ, làm cơ sở cho việc hoạch định phương cách giáo dục nhằm thúc đẩy tiến trình thủ đắc ngôn ngữ cho trẻ em

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, hệ thống hoá cơ sở lí luận về hoạt động ngôn ngữ của trẻ em

- Tìm hiểu biểu hiện ngôn ngữ ở người nuôi dưỡng khi giao tiếp với trẻ em, so

sánh với ngôn ngữ được sử dụng với người lớn, từ đó chỉ ra những đặc trưng cơ bản trong ngôn ngữ của người nuôi dưỡng trong giao tiếp với trẻ trường hợp trẻ nói tiếng Việt

- Bước đầu tìm hiểu về ảnh hưởng của ngôn ngữ phi chuẩn mực được người nuôi dưỡng sử dụng khi giao tiếp với trẻ đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc trưng ngôn ngữ của người nuôi dưỡng trong giao tiếp với trẻ em

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu trên đối tượng là người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ tại gia đình và tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố Đà Nẵng sử dụng phương ngữ Đà Nẵng

Về trẻ, việc nghiên cứu được thực hiện trên hoạt động giao tiếp giữa người nuôi dưỡng với trẻ ở độ tuổi từ 0 đến 3

Về phạm trù người nuôi dưỡng, chúng tôi sử dụng khái niệm theo cách hiểu phổ quát trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em nhằm chỉ các đối tượng đảm nhiệm công việc chăm sóc, giáo dục trẻ như bố mẹ, ông bà, anh chị, bảo mẫu, vú nuôi và cô giáo mầm non Trong đó đối tượng người nuôi dưỡng được hướng đến trong điều tra là người đóng vai trò chính yếu trong việc chăm sóc trẻ, có thời gian

tiếp xúc với trẻ trong ngày nhiều nhất

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

Thu thập và phân tích tư liệu, tài liệu liên quan về hoạt động ngôn ngữ của trẻ, làm tiền đề cho việc khảo sát thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người nuôi dưỡng trong giao tiếp với trẻ em

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: quan sát và ghi chép sản phẩm giao tiếp giữa người nuôi

dưỡng với trẻ trong cuộc sống thường ngày

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Anket): sử dụng hệ thống câu hỏi nhiều

lựa chọn và câu hỏi mở nhằm tìm hiểu thực tế sử dụng ngôn ngữ của người nuôi dưỡng trong giao tiếp với trẻ từ 0 đến 3tuổi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, quan điểm của người nuôi dưỡng về dạng thức ngôn ngữ phi chuẩn trong giao tiếp với trẻ

và tác động của ngôn ngữ phi chuẩn đến quá trình học nói của trẻ em

- Phương pháp phỏng vấn: Là cuộc nói chuyện được tiến hành theo một kế hoạch

nhất định thông qua cách thức hỏi đáp trực tiếp giữa người và người cung cấp thông tin dựa theo một bảng câu hỏi (được chuẩn bị từ trước) trong đó người phỏng vấn nêu các câu hỏi cho đối tượng cần khảo sát, lắng nghe ý kiến trả lời và ghi nhận kết quả vào phiếu điều tra

Đối với việc điều tra về đặc trưng ngôn ngữ mà người nuôi dưỡng sử dụng,

để mở rộng đối tượng điều tra, đồng thời để có cơ sở xác thực trong việc xác định được mối quan hệ giữa môi trường ngôn ngữ mà trẻ được thụ hưởng với năng lực hoạt động ngôn ngữ của trẻ, chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn hồi cố (thông tin khai thác khi phỏng vấn hồi cố chủ yếu tập trung vào các quá trình đã xuất hiện trong quá khứ, là những sự việc mà người được khảo sát đã từng trải qua, từng chứng kiến, từng thực hiện; câu trả lời được đưa ra theo những gì mà người được khảo sát ghi nhớ) , chúng tôi tiến hành phỏng vấn với những người nuôi dưỡng có trẻ đang trong độ tuổi từ 2 – 6 tuổi

5.3 Phương pháp thông kê toán học: Thu thập, thống kê, tổng hợp kết quả khảo

sát, phân tích và rút ra kết luận có độ tin cậy cao

6 Giả thuyết khoa học

Trang 14

Nếu kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ của người nuôi dưỡng cũng như tác động của nó đối với sự phát triển của trẻ thu được từ trường hợp trẻ nói tiếng Việt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thống nhất với các miêu tả ở nước ngoài thì sẽ cung cấp một cơ sở quan trọng trong việc thiết kế các cách thức dạy nói nhằm thúc đẩy

sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ em

7 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận được cấu trúc gồm hai chương:

Chương 1: Hoạt động ngôn ngữ và sự phát triển toàn diện của trẻ em

Chương 2: Đặc trưng ngôn ngữ ở người nuôi dưỡng trong giao tiếp trong giao tiếp với trẻ mầm non trên địa bàn TP Đà Nẵng

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG NGÔN NGỮ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN

TOÀN DIỆN CỦA TRẺ EM 1.1 Ngôn ngữ và sự phát triển toàn diện của trẻ em

1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ

Ngôn ngữ, hiểu theo nghĩa rộng là tiếng nói chung của loài người Khi ta nói: Con người là động vật cấp cao, có lao động, có tư duy và ngôn ngữ thì ngôn ngữ được hiểu là khái niệm có những nét nghĩa nội hàm mang tính khái quát cho tất cả các ngôn ngữ trên thế giới

Cũng theo nghĩa rộng, ngôn ngữ còn được dùng để chỉ các phương tiện được con người sử dụng để giao tiếp Bất cứ sự vật hiện tượng nào được dùng làm công cụ để truyền tải thông tin đều được gọi là ngôn ngữ Ví dụ: ngôn ngữ các loài hoa, ngôn ngữ điện ảnh, ngôn ngữ hội hoạ, ngôn ngữ âm nhạc

Hiểu theo nghĩa hẹp, ngôn ngữ là tiếng nói của một dân tộc, một quốc gia, đó

là một hệ thống bao gồm tập hợp các đơn vị (âm vị, hình vị, từ, câu) và các quy tắc kết hợp chúng để tạo thành lời nói mà một cộng đồng sử dụng trong giao tiếp

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tồn tại và phát triển theo sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện nhận thức và giao tiếp hữu hiệu nhất của con người Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có phương tiện để nhận thức và thể hiện nhận thức của mình, để giao tiếp và hợp tác với nhau

1.1.2 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ

a Ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ

U.sinxki đã nhận định: “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển, là vốn quý nhất của mọi tri thức” Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ, là phương tiện để trẻ nhận thức thế giới xung quanh, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh Thông

Trang 16

qua ngôn ngữ, lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng của chúng đồng thời trẻ học được

từ tương ứng (từ và hình ảnh trực quan đi vào nhận thức của trẻ cùng một lúc) Ngôn ngữ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã được hình thành Sự phát triển của ngôn ngữ giúp cho hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện, kích thích trẻ tích cực, sáng tạo trong hoạt động trí tuệ Có nhiều phương tiện để nhận thức thế giới xung quanh nhưng ngôn ngữ là phương tiện nhận thức hữu hiệu Thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức thế giới xung quanh chính xác, rõ ràng, sâu và rộng

b Ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức

Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc hình thành và điều chỉnh những hành

vi của trẻ Thông qua ngôn ngữ trẻ biết những gì nên, không nên…, qua đó rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu về đạo đức (ngoan - hư, tốt - xấu ) Ngôn ngữ có tác dụng to lớn trong việc hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp ở trẻ Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ những hiểu biết về những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống

c Ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mĩ

Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái đẹp trong

tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu cái đẹp

và năng lực tạo ra cái đẹp Thông qua ngôn ngữ, trẻ nhận thức được cái đẹp ở thế giới xung quanh, qua đó làm cho tâm hồn trẻ càng thêm bay bổng, trí tưởng tượng càng phong phú; đồng thời trẻ càng yêu quý cái đẹp, trân trọng cái đẹp và có ý thức sáng tạo ra cái đẹp Thông qua ngôn ngữ văn học, trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi, cái đẹp trong cuộc sống Có

Trang 17

thể khẳng định rằng ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào quá trình giáo dục cho trẻ những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp

Ngôn ngữ vừa là phương tiện để chuyển tải các giá trị thẩm mĩ trong đời sống đến cho trẻ, đồng thời, đó cũng là công cụ để sáng tạo nên cái đẹp Bằng ngôn từ nghệ thuật, các nhà văn, nhà thơ vẽ nên những bức tranh đẹp đẽ về cuộc sống, để rồi khi trẻ được tiếp xúc với các sáng tác ngôn từ ấy, tâm hồn trẻ cũng trở nên bay bổng, trí tưởng tượng được phát triển, các cảm xúc thẩm mĩ được hình thành

d Ngôn ngữ đối với việc phát triển thể lực

Để phát triển thể lực cho trẻ cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, trong

đó, ngôn ngữ đóng góp một vai trò quan trọng đáng kể Trong các hoạt động góp phần phát triển thể lực như các trò chơi vận động, các giờ thể dục, trong chế độ ăn giáo viên đều cần dùng đến ngôn ngữ để hướng dẫn trẻ thực hiện tốt những yêu cầu cần đạt Hoạt động nói năng liên quan đến các cơ quan hô hấp, thính giác, bộ máy phát âm Do đó, quá trình phát âm là quá trình rèn luyện bộ máy cấu âm, rèn luyện phổi, khí quản và các bộ phận khác của cơ thể Để có thể lực tốt cần có một chế độ

vệ sinh hợp lí Ngôn ngữ cũng tham gia vào quá trình chăm sóc vệ sinh để trẻ phát triển thể lực

1.2 Đặc điểm hoạt động ngôn ngữ của trẻ em

1.2.1 Khái niệm hoạt động ngôn ngữ

Hoạt động ngôn ngữ là quá trình bao gồm hoạt động sử dụng những phương tiện, quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để tạo lập và tiếp nhận lời nói trong mối quan

hệ với các nhân tố giao tiếp nhằm đạt được các mục tiêu giao tiếp đề ra

Như vậy, có thể hiểu, hoạt động ngôn ngữ thực chất chính là hoạt động giao tiếp với tính chất là một quá trình phức tạp Theo Berko thì “đó là một quá trình hữu thức hoặc vô thức, hữu ý hoặc vô tình trong đó các tình cảm và ý tưởng được diễn đạt bằng các thông điệp ngôn từ và phi ngôn từ Nó xảy ra ở các cấp độ nội nhân, liên nhân và công cộng Giao tiếp của con người vốn năng động, liên tục, bất hồi, tương tác và mang tính chu cảnh” Hoạt động giao tiếp được cấu thành từ rất nhiều

Trang 18

nhân tố như nhân vật giao tiếp, mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp

1.2.2 Đặc điểm của các nhân tố giao tiếp trong hoạt động ngôn ngữ của trẻ em

a Nhân vật giao tiếp

Người tham gia giao tiếp được gọi là nhân vật giao tiếp, bao gồm: nhân vật trao thông tin (thể phát) và nhân vật nhận thông tin (thể nhận) Việc xác định vị trí,

tư cách của nhân vật giao tiếp (vai giao tiếp) có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng, lựa chọn công cụ và chiến lược giao tiếp Về cơ bản, quan hệ vị thế và quan hệ thân hữu giữa các nhân vật giao tiếp ảnh hưởng lớn đến nội dung và mục đích giao tiếp Vị thế được xác định dựa trên những giá trị xã hội liên quan đến tuổi tác, giới tính và cương vị xã hội Vai giao tiếp là biểu hiện rõ nét của vị thế xã hội mức độ thân hữu là nhân tố bên trong của giao tiếp và mang tính thương lượng hơn

là quy định Mỗi cách xưng hô có thể làm tăng hoặc giảm mức độ thân hữu giữa các nhân vật giao tiếp Quá trình giao tiếp diễn ra khi nhân vật truyền thông tin bị kích thích một cách có ý thức hay không có ý thức bởi một sự việc, một khách thể hay một ý tưởng nào đó Ở họ xuất hiện nhu cầu gửi thông điệp tới nhân vật nhận tin Thông thường, trong các nhân vật giao tiếp là có sự trao đổi thông tin Đó là vai trò quan trọng nhất của giao tiếp đối với đời sống con người

Trong hoạt động giao tiếp của trẻ, nhân vật giao tiếp thông thường là ông bà,

bố mẹ, cô giáo, vú nuôi, anh chị, bạn và trẻ Trong đó, nhân vật thường xuyên tiếp xúc và giao tiếp bằng lời với trẻ giai đoạn 0 – 3 tuổi chính là người đảm nhiệm vai trò chủ yếu trong việc nuôi dưỡng trẻ (mẹ, bà hoặc vú nuôi) Ở đây, trẻ có thê thay đổi vai của mình trong hoạt động giao tiếp tùy theo mục đích, hoàn cảnh: có thể là người phát tin hoặc người nhận tin Tuy nhiên, do đặc điểm trình độ ngôn ngữ của trẻ nên trong giai đoạn tiền ngôn ngữ và thời kì đầu của giai đoạn ngôn ngữ, chủ yếu trẻ đóng vai trò là người tiếp nhận Đến 3 tuổi, trẻ mới bắt đầu có khả năng tổ chức những cuộc trao đổi có sự luân phiên đều đặn giữa vai người nói và người nghe

Trang 19

Trẻ giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi thường khó khăn trong việc xác định vị thế (vai) giao tiếp Các quan hệ thân sơ, trên dưới là những tri thức khó đối với trẻ

Do vậy, trẻ thường sử dụng nhân xưng trung hoà (xưng tên và gọi tên) trong quá trình tương tác lời nói với những người xung quanh

b Hệ thống tín hiệu (kênh)

Khi giao tiếp, thông điệp được mã hóa và được truyền tải qua một hoặc một

số kênh nhất định Dựa vào nhiều căn cứ khác nhau, người ta có thể phân loại các kênh như sau:

- Dựa vào cách thể hiện các kênh: chữ, hình, âm thanh…

- Dựa vào cách tiếp nhận các kênh: thị giác, thính giác, xúc giác…

Việc chọn kênh trong giao tiếp là rất quan trọng, quyết định hiệu quả giao tiếp Các kênh giao tiếp khác nhau đòi hỏi phương pháp phát triển ý tưởng khác nhau và

có thể dẫn đến hiệu quả giao tiếp khác nhau Nhờ kênh thông tin phù hợp, thông điệp mới được nhân vật tiếp nhận trong giao tiếp giải mã Thông điệp sẽ được giải

mã sẽ không giống hệt với thông điệp được nhân vật truyền tin mã hóa thực hiện trong giao tiếp Đây cũng là một trong những minh chứng cho luận điểm “tâm lí là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” Việc giải mã và có thông điệp phản hồi

đã tạo ra quá trình giao tiếp hoàn chỉnh

Với trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ từ 0 – 3 tuổi, trẻ phối hợp hầu hết các giác quan trong việc nhận hiểu thông điệp lời nói Đặc biệt, các yếu tố phi ngôn ngữ được khai thác triệt để nhằm bổ trợ cho những thiếu khuyết về vốn ngôn ngữ do đặc trưng độ tuổi quy định Do khả năng nghe hiểu lời nói của trẻ còn hạn chế, vốn từ còn nghèo nàn, kiến thức về các quy tắc ngữ pháp chưa đầy đủ nên việc sử dụng cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt trong giao tiếp của trẻ là hết sức quan trọng nhằm giúp trẻ có thêm cơ sở để hiểu lời nói cũng như có thể chuyển thông điệp đến người khác một cách rõ ràng hơn

Trang 20

c Mục đích giao tiếp

Mục đích giao tiếp trả lời cho câu hỏi: nói (nghe) để làm gì? Đây là yếu tố quan trọng chi phối việc lựa chọn các thành tố khác như kênh giao tiếp, nội dung giao tiếp, chiến lược giao tiếp

Trong hoạt động ngôn ngữ của đối tượng trẻ từ 0 đến 3 tuổi, việc giao tiếp thường xoay quanh các mục đích chủ yếu như yêu cầu, ra lệnh, giáo huấn, thuyết phục, giải thích, nựng nịu (vai nghe) và yêu cầu, đòi hỏi, nhõng nhẽo, âu yếm (vai nói)

d Nội dung giao tiếp (hiện thực được giao tiếp)

Nội dung giao tiếp hay hiện thực được nói đến là những sự vật, hiện tương, những tâm trạng tình cảm… trong thực tế khách quan được đưa vào hoạt động giao tiếp Tùy theo hiện thực được nói tới, nhân vật giao tiếp chọn lựa nội dung và cách thức giao tiếp phù hợp

Đối với hoạt động giao tiếp của trẻ nhỏ, nội dung giao tiếp thường hướng đến các vấn đề đơn giản, gắn với cuộc sống gần gũi xung quanh trẻ Các nội dung càng gần gũi với trẻ càng được trẻ quan tâm chú ý

e Hoàn cảnh giao tiếp

Giao tiếp luôn xảy ra trong một tình huống, một môi trường, hoàn cảnh nhất định Hoàn cảnh đó có ảnh hưởng lớn đến cách thức, nội dung giao tiếp Bởi lẽ, hoàn cảnh giao tiếp có thể tạo ra những cảm xúc khác nhau ở các nhân vật giao tiếp

Có thể hiểu hoàn cảnh giao tiếp theo nghĩa rộng là xã hội, thời đại… Hoàn cảnh xã hội tác động đến qua trình giao tiếp thông qua việc lựa chọn ngôn ngữ, cách thức xưng hô, thiết kế các nội dung giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp hiểu theo nghĩa hẹp thì

đó là không gian, thời gian… xảy ra cuộc giao tiếp Để đạt được hiệu quả giao tiếp, cần chuẩn bị một hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi cả về không gian, thời gian lẫn tâm

Về cơ bản, trẻ 0-3 tuổi chưa thực sự ý thức về hoàn cảnh giao tiếp, do vậy

Trang 21

dựng các nội dung giao tiếp dựa vào nhu cầu, cảm xúc của cá nhân là chính Còn các vấn đề khác như tâm trạng của người đối thoại ở thời điểm diễn ra hội thoai, hoàn cảnh nói năng… hầu như chưa được trẻ nhận thức môt cách đầy đủ

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học nói của trẻ em

Về cơ chế học nói của trẻ, các nhà nghiên cứu trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau Theo O.F Skinner thì ngôn ngữ của trẻ được hình thành cũng như mọi hành vi khác là do thao tác quyết định Việc học nói của trẻ dựa trên cơ chế bắt chước Những thao tác ngôn ngữ cùng với sự giúp đỡ của người lớn sẽ giúp trẻ nhanh chóng trưởng thành về ngôn ngữ Về hình thức, quan điểm này có vẻ hợp lí

Tuy nhiên, trong lí thuyết Hành vi chủ nghĩa của mình, O.F Skinner hầu như không

thể hiện được mối liên hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, hai mặt vốn “gắn bó với nhau như một tờ giấy, không thể cắt mặt này mà không cắt mặt kia” (Saussure)

Nhà ngôn ngữ học Noam Chomxki thì lại hướng theo lí thuyết Tự nhiên chủ nghĩa khi cho rằng trẻ em chính là chủ thể đóng vai trò chính yếu trong sự phát triển ngôn ngữ của mình Ông coi nguồn gốc ngôn ngữ xuất phát từ cơ sở sinh học Con người có cơ quan sản sinh ngôn ngữ trong não bộ, chỉ cần có sự tác động thêm từ bên ngoài (môi trường nói năng) là ngôn ngữ có cơ hội xuất hiện Theo ông, bản chất của suy nghĩ là có sẵn, được tập hợp theo các mô hình tách biệt và được di truyền từ thế hê trước Vốn liếng đó sẽ bùng nổ khi có kích thích phù hợp Trong lí thuyết của mình, N Chomxki đề cập đến kho lí thuyết toàn cầu, chủ ý rằng kiến thức ngữ pháp của trẻ có từ lúc trẻ mới sinh Chỉ cần trẻ sử dụng đúng lúc là có thể giải mã được tiếng mẹ đẻ Chính vì thế, ở góc độ giáo dục, ông cho rằng không cần thiết tiến hành sự dạy dỗ có chủ định của người lớn nhằm phát triển lời nói cho trẻ Quan điểm của giáo dục hiện đại quan niệm rằng, sản phẩm lời nói của trẻ được hình thành dưới sự tác động của nhiều yếu tố, bao gồm: yếu tố sinh học, yếu tố tâm

lí và yếu tố môi trường ngôn ngữ mà trẻ được tiếp xúc trong quá trình phát triển

a Yếu tố sinh lí

Trang 22

Liên quan đến hoạt động ngôn ngữ của trẻ, về mặt sinh học, có những cơ quan sau:

Não: Não của trẻ phải được phát triển bình thường, trẻ em bị tổn thương não

sẽ không học nói được, các chức năng nghe nói được hoàn thiện cơ bản vào lúc trẻ được 1 tuổi rưỡi đến 2 tuổi

Bộ máy phát âm: Âm thanh của ngôn ngữ được tạo ra do hoạt động của bộ

máy cấu âm của con người Bộ máy đó gồm phổi, cuống phổi, thanh hầu, yết hầu, khoang mũi, khoang miệng Đây đều là những cơ quan đảm nhận các chức năng sinh lí khác (ăn, hô hấp…) Việc chúng trở thành các bộ phận của bộ máy phát âm

là kết quả của quá trình tiến hóa trong lịch sử loài người Các chủng tộc đều có bộ máy cấu âm cơ bản là như nhau, cho nên về nguyên tắc, trong điều kiện bình thường, không có âm nào người này phát âm được mà người khác lại không

Phổi và khí quản cung cấp và dẫn truyền luồng hơi chứ không trực tiếp tham gia vào việc phát âm

Thanh hầu là bộ phận trên cùng của khí quản Thanh hầu giống như một cái hộp do bốn miếng xương sụn hợp thành: một xương sụn hình giáp, một xương sụn hình nhẫn, hai xương sụn hình chóp Giữa hộp có một bộ phận hết sức quan trọng trong việc cấu âm gọi là dây thanh (vocal cords) Thực ra đây không phải là dây mà

là hai màng mỏng, có thể rung động mở ra khép lại, căng lên chùng xuống theo sự chỉ huy của dây thần kinh Khoảng trống giữa dây thanh gọi là thanh môn Dây thanh của đàn ông dài khoảng 20 đến 24 mm, của phụ nữ khoảng 19 đến 20mm Dây thanh dày lên theo tuổi tác; đặc biệt vào tuổi từ 14 đến 15, dây thanh dày lên rất nhanh gọi là hiện tượng bể tiếng

Dây thanh tách xa nhau, không rung, cho phép luồng hơi thoát ra tự do dẫn đến hiện tượng vô thanh Dây thanh khép hẳn lại rồi bật mở ra mà vẫn không rung dẫn đến âm tắc thanh hầu Dây thanh khép lại nhưng vẫn chừa một khe hẹp cho phép luồng hơi đi qua, dây thanh rung lên dẫn đến âm hữu thanh

Trang 23

Khoang yết hầu ở ngay trên thanh hầu Hoạt động của khoang yết hầu có thể diễn ra theo ít nhất hai cách sau:

- Gốc lưỡi kéo lui chạm vào thành họng khiến cho luồng hơi bị cản bít tạo nên âm tắc yết hầu

- Gốc lưỡi lui về sau nhưng vẫn còn một khe hở khiến luồng hơi bị cọ xát vào đó sinh ra một âm xát yết hầu, có thể hữu thanh hoặc vô thanh

Khoang miệng là nơi xảy rất nhiều hoạt động cấu âm Trong đó, bộ phận quan trọng nhất là lưỡi, tiếp đến là môi

Khoang mũi có vai trò trong việc cấu âm nhờ vào hoạt động của mạc Nếu mặt trên của mạc chạm vào thành họng, luồng hơi bị chặn ở lối thông lên mũi, chỉ có thể thoát ra đường miệng thì dẫn đến âm miệng Nếu âm có thể đi qua cả mũi lẫn miệng nhờ mạc buông tự do thì dẫn đến âm mũi

Muốn nói tốt thì con người phải có bộ máy phát âm tốt và được luyên tập đúng mức, thường xuyên Trẻ càng bé, khả năng điều khiển bộ máy phát âm càng khó khăn, vì vậy cần có nhiều bài tập luyện đối với từng bộ phận của bộ máy phát âm

Cơ quan thích giác: Đây cũng là một bộ phận quan trọng trong quá trình học

nói, muốn học nói trẻ phải nghe được người khác nói Trẻ có vấn đề về thính giác (điếc) sẽ không thể học nói được

b Yếu tố tâm lí

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với sự phát triển của tâm lý Vệc tiếp thu ngôn ngữ còn phụ thuộc vào sự nhanh nhẹn của hệ thần kinh và chú ý của đứa trẻ Có một số trẻ em học nói chậm hơn mức bình thường, những trẻ này thường quá rụt rè, nhút nhát, ít chan hòa với tập thể, quá trầm lặng… Hoặc những trẻ bị thiệt thòi do khuyết tật bẩm sinh nào đó có tâm lý mặc cảm nên ngại giao tiếp, ít tiếp xúc với bạn bè, người xung quanh Như vậy, tình cảm, tính cách cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình học nói của trẻ Sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ luôn song hành với sự phát triển tâm lí, tư duy

Trang 24

c Yếu tố xã hội

Yếu tố xã hội được hiểu bao gồm môi trường giao tiếp tự nhiên của trẻ và môi trường giáo dục ngôn ngữ mà trẻ được thụ hưởng Lời nói của trẻ em được hình thành và phát triển phụ thuộc vào môi trường xung quanh Trẻ em được sống trong

“một bầu không khí ngôn ngữ tốt”, người lớn thường xuyên trò chuyện với trẻ, sử dụng ngôn ngữ phong phú, đa dạng, biểu cảm thì ngôn ngữ của trẻ sẽ phát triển mạnh mẽ Ngược lại, nếu môi trường xung quanh trẻ nghèo nàn về ngôn ngữ, hoạt động giao tiếp, trò chuyện với trẻ bị hạn chế hoặc ngôn ngữ mà trẻ được tiếp xúc không đảm bảo tính văn hoá thì khả năng ngôn ngữ của trẻ cũng bị ảnh hưởng theo Chính vì vậy, đối với nhiệm vụ giáo dục ngôn ngữ cho trẻ nhỏ, việc xây dựng một môi trường ngôn ngữ (cả môi trường ngôn ngữ tự nhiên lẫn môi trường giáo dục) phù hợp sẽ có tác dụng kích thích sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em Vấn đề là, như thế nào là một môi trường ngôn ngữ có lợi cho sự phát triển của trẻ chính là một câu hỏi cần được đặt ra và trả lời bằng những chứng liệu khoa học Hiện tại, trong quan niệm của nhiều bậc nuôi dưỡng lẫn các nhà giáo dục học thì tính chuẩn mực trong ngôn ngữ của người lớn khi giao tiếp với trẻ là một yêu cầu cơ bản để đảm bảo cho ngôn ngữ của trẻ được phát triển tốt nhất Tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu của nước ngoài, như đã tuyển lược ở trên, vấn đề không hoàn toàn như vậy Dạng thức ngôn ngữ phi chuẩn mực vẫn có những ích lợi nhất định trong việc thủ đẩy tiến trình thủ đắc ngôn ngữ của trẻ em, đặc biệt là trong những năm đầu đời của trẻ Trước tình hình đó, đối với trường hợp trẻ nói tiếng Việt, rõ ràng là cần có những nghiên cứu cẩn trọng hơn về thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người nuôi dưỡng trong giao tiếp với trẻ để có những bằng chứng xác thực về các yếu tố chi phối sự

phát triển ngôn ngữ của trẻ em

Trang 25

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ Ở NGƯỜI NUÔI DƯỠNG TRONG GIAO TIẾP VỚI TRẺ MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Thành phố Đà Nẵng có vị trí chiến lược quan trọng, nằm ở vị trí trung điểm của cả nước, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam và Tây giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông, cách Hà Nội 764 km về phía Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam, Đà Nẵng là đầu mối giao thông lớn nhất của khu vực miền Trung về đường sắt, đường thủy, đường bộ (quốc lộ 1A, 14B), đường hàng không quốc tế Cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) là cửa ngõ ra biển quan trọng của Tây Nguyên, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma và là điểm đầu, cuối của Tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC) và các quốc gia ASEA Nghị quyết

kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX ngày 6 tháng 11 năm 1996 đã phê chuẩn Đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào ngày 01 tháng 01 năm

1997 Với các lợi thế về vị thế địa lý, con người, nguồn lực tài nguyên… và sự vận dụng linh hoạt các đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước, Đà Nẵng đã phát triển và hình thành được những nét đặc thù lớn đáp ứng mục tiêu “Xây dựng và phát triển Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước” theo tinh thần Nghị quyết số 33-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khóa IX)

Ngày 13/8/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung gồm năm tỉnh và thành phố: Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và các lợi thế so sánh của Vùng, từng bước phát triển Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung thành một trong những vùng phát triển năng động của cả nước Trong đó, Đà Nẵng được xác định là thành phố đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên

Trang 26

Về kinh tế, Đà Nẵng được xác định là một trong những trung tâm kinh tế với tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức cao và khá ổn định Với những ưu đãi thiên nhiên ban tặng và nỗ lực không ngừng của chính quyền thành phố trong việc nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch, Đà Nẵng đã và đang trở thành 1 trong những điểm hẹn du lịch hấp dẫn nhất trong khu vực Cơ cấu kinh tế (2011): Dịch vụ 52,98% – Công nghiệp và Xây dựng 43,84% – Nông nghiệp 3,18, mục tiêu đến năm

2020 là: Dịch vụ 55,6% - Công nghiệp và Xây dựng 42,8% – Nông nghiệp 1,6%

2.1.2 Đặc điểm văn hoá - ngôn ngữ

Về mặt văn hóa, Đà Nẵng là một trung tâm văn hóa lớn của đất nước Trên địa bàn thành phố hiện nay có khá nhiều điểm vui chơi, văn hóa giải trí Nhà hát Trưng Vương được xây mới và khánh thành năm 2006 với sức chứa hơn 1.200 chỗ ngồi Đây là nơi thường xuyên tổ chức biểu diễn các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống như tuồng, cải lương và nghệ thuật sân khấu hiện đại như: múa ba lê, nhạc giao hưởng các hội thảo, hội nghị và các sự kiện văn hóa lớn của thành phố

Cho đến năm 2013, Đà Nẵng có bốn bảo tàng bao gồm bảo tàng nghệ thuật điêu khắc chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Đà Nẵng, Bảo tàng Khu V và Bảo tàng Hồ Chí Minh (chi nhánh Quân khu V) Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử thành phố Đà Nẵng đang được xây dựng trong khu vực Thành Điện Hải với mặt bằng trưng bày hơn 2.000 m² Thành phố cũng dự kiến xây dựng bảo tàng Bảo tàng Mỹ thuật thành phố và Bảo tàng Hải Dương học Rạp chiếu phim MegaStar nằm trong tòa nhà Vinh Trung Plaza gồm 6 phòng chiếu và 854 ghế ngồi được khai trương từ ngày 3 tháng 7 năm

2008 Bên cạnh đó còn có Lotte Cinema Đà Nẵng nằm trên tầng 5 và 6 của khu trung tâm mua sắm Lotte Mart với bốn phòng chiếu riêng biệt Ngoài ra văn hóa Đà nẵng còn có điểm đến Công viên 29/3 nằm trên đường Điện Biên Phủ với diện tích

20 ha chủ yếu là nơi những người dân đến tập thể dục và đi lại Là một trong trung tâm truyền thông quan trọng của Việt Nam đặc biệt đối với khu vực miền Trung - Tây Nguyên, hiện Đà Nẵng có tám đơn vị báo chí thành phố, bốn cơ quan báo chí trung ương đóng trên địa bàn thành phố và 64 văn phòng đại diện báo chí trung

Trang 27

bởi người dân nơi đây có một nếp sống văn hóa lành mạnh, thân thiện mà chính quyền thành phố cũng không ngừng ra sức xây dựng Đà Nẵng thành một đô thị đáng sống

Trước đây Đà Nẵng vẫn thuộc địa phận của Quảng Nam, vì thế hai vùng có sự đồng nhất về mặt ngôn ngữ, nhưng trong thời đại hiện nay, do nhu cầu giao tiếp rất lớn, và khi Đà Nẵng đã tách ra và trở thành khu đô thị có tiềm năng phát triển của đất nước thì kéo theo sự thay đổi về mặt ngôn ngữ, chứa đựng độ pha trộn khá mạnh có lợi cho sự giao tiếp, để tiến đến loại ngôn ngữ phổ thông và hoàn chỉnh Người ta gọi cho phương ngữ của thành phố là bán phương ngữ, phương ngữ Đà

Nẵng khác các nơi khác ở sự biến động đa dạng của âm a và âm ă trong kết hợp với

các âm cuối khác nhau

Hành trình theo dọc con đường cái quan nước Việt, qua khỏi đèo Hải Vân, tiếng nói và giọng nói của người Việt đã thay đổi khá đột ngột Nhìn chung, giọng nói và cả vốn từ vựng phổ thông ở phía bên kia đèo Hải Vân không khác mấy so với các tỉnh Bắc miền Trung Thế nhưng trong giọng nói của người Thừa Thiên - Huế mềm mại hơn, dịu dàng hơn, nhiều khi thanh âm gần như díu vào nhau (chẳng hạn

âm /nh/ thành âm /d/; ví dụ thay vì nói “nhớ nhung”, nhiều người nói thành “dợ dung” Và khi đã vượt qua khỏi ngọn đèo này, cách phát âm hầu như không còn mềm, khoảng cách giữa các âm thanh dãn ra về cách phân biệt giữa thanh này với thanh kia, việc phát âm vì thế mà mạnh mẽ hơn, dứt khoát hơn so với giọng nói ở phía bắc đèo Hải Vân Đặc biệt hơn, bắt đầu từ đây trở vô Nam, các thanh sắc, nặng, hỏi/ngã (giữa các thanh điệu hỏi/ngã duy chỉ ở miền Bắc mới phân biệt rõ ràng) đã được phân biệt rõ hơn so với giọng nói vùng phía bắc miền Trung Vốn từ vựng mà người Đà Nẵng sử dụng như: mi, tau, mô, tê, răng, rứa, ni, nớ… hoàn toàn giống cách nói của người Bắc miền Trung nói chung, Thừa Thiên - Huế nói riêng, song các từ: o (cô gái), ôông (ông)… không còn xuất hiện ở vùng đất này Người

Đà Nẵng cũng nói: ổng (ông ấy), bả (bà ấy), ảnh (anh ấy), chỉ (chị ấy)… như cách của người miền Nam nhưng không bao giờ nói: trển (trên ấy), trỏng (trong ấy), bển (bên ấy) như phương ngữ Nam Đây cũng là những vấn đề mà các nhà nghiên cứu

Trang 28

trên lĩnh vực phương ngữ tiếp tục giải mã Khi nói, người Đà Nẵng ít phân biệt được dấu hỏi và ngã, nguyên âm /ao/ và /ô/, một số phụ âm cuối /n >< ng/ và /t

><c/ Bên cạnh những khiếm khuyết về cách phát âm như trên, phải nói rằng, tiếng

Đà Nẵng có lợi thế về phát âm các phụ âm Tất cả các phụ âm trong tiếng Việt được người dân phân biệt rõ ràng Không dễ gì người miền Bắc đọc rõ âm /tr/ và /s/, không dễ gì người miền Tây Nam Bộ đọc rõ âm /r/ Ngày nay, hầu hết các bạn trẻ

và những người có học thức dần dà phân biệt rõ hơn về các nhược điểm cách phát

âm một số nguyên âm và vần

2.2 Khảo sát đặc trưng ngôn ngữ của người nuôi dưỡng trong giao tiếp với trẻ

từ 0 -3 tuổi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.2.1 Mục đích khảo sát

Việc nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ của người nuôi dưỡng đối với trẻ 5 -6 tuổi trên đại bàn thành phố Đà Nẵng được thực hiện nhằm mục đích xác thực sự tồn tại của dạng thức ngôn ngữ phi chuẩn trong hoạt động giao tiếp giữa người nuôi dưỡng và trẻ nói tiếng Việt tại một vùng phương ngữ, tiến tới mô tả những đặc điểm ngôn ngữ này nhằm xác định các tương đồng và khác biệt so với biểu hiện của hiện tượng ngôn ngữ tương ứng trên các ngôn ngữ khác, đồng thời bước đầu tìm hiểu về tác dụng của ngôn ngữ phi chuẩn trong môi trường giao tiếp đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em

2.2.2 Đối tượng khảo sát

Với đối tượng khảo sát là người nuôi dưỡng trẻ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng sử dụng phương ngữ Đà Nẵng, để đảm bảo tính toàn diện của đối tượng khảo

sát trong khuôn khổ phạm vi của đề tài, chúng tôi lựa chọn khảo sát trên 30 người

bao gồm các nhóm đối tượng: người thân của trẻ, vú nuôi, cô giáo mầm non sinh sống trên cả hai khu vực nội thành và ngoại thành của thành phố Sự đa dạng về trình độ văn hoá, học vấn của người nuôi dưỡng cũng được chúng tôi tính đến khi lựa chọn đối tượng điều tra

Trang 29

Bảng 1: Danh sách đối tượng điều tra

TUỔI TRẺ

1

Nguyễn Thị Thu Giáo viên 29

Nguyễn Khuyến- Liên Chiểu-

Trang 30

Đức Thắng

tháng

Trang 31

Ngân hàng

Trang 32

2.2.3 Nội dung khảo sát

Để đạt mục đích nghiên cứu nói trên, chúng tôi xác định các nội dung khảo sát

Nhằm thu thập thông tin về những phương diện trên, chúng tôi đã sử dụng các

phương pháp nhiên cứu thực tiễn cơ bản là phương pháp nghiên cứu điều tra bằng

Anket, phương pháp phỏng vấn hồi cố, phương pháp quan sát, phương pháp thống

kê toán học

Về phương pháp điều tra Anket: Nhằm tìm hiểu về thực trạng việc người nuôi dưỡng sử dụng ngôn ngữ đặc trưng trong giao tiếp với trẻ 0 -3 tuổi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chúng tôi thiết kế phiếu điều tra với 24 câu hỏi và thực hiện điều tra trên 30 đối tượng nói trên (trong đó GV: 10, người thân của trẻ: 15, vú nuôi: 5) Kết quả điều tra được xử lí, phân tích bằng phương pháp thống kê toán học

và phương pháp phân tích, khái quát hóa trên cơ sở đối chiếu với thông tin thu được

từ quan sát hoạt động giao tiếp giữa người nuôi dưỡng với trẻ và từ các cuộc phỏng vấn trực tiếp

Ngày đăng: 17/05/2021, 13:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w