Song, cũng còn vì những lý do khách quan và cả chủ quan, phải mãi đến năm 2007, Hồ Dzếnh mới được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, giới nghiên cứu phê bình và đông đ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN NGỌC BẢO NGÂN
CẢM THỨC HOÀI NIỆM TRONG
SÁNG TÁC HỒ DZẾ NH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN NGỌC BẢO NGÂN
CẢM THỨC HOÀI NIỆM TRONG
SÁNG TÁC HỒ DZẾ NH
Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN NGỌC THU
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Phan Ngọc Thu
Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Nguyễn Ngọc Bảo Ngân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Bố cục luận văn 7
CHƯƠNG 1 HỒ DZẾNH - MỘT HIỆN TƯỢNG ĐẶC SẮC XUẤT HIỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930-1945 9
1.1 BỐI CẢNH VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1930-1945 9
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của các trào lưu văn học 9
1.1.2 Hiện tượng giao thoa giữa các trào lưu qua một số tác giả ở vị 13
trí đường biên 13
1.2 SỰ XUẤT HIỆN CỦA HIỆN TƯỢNG HỒ DZẾNH 16
1.2.1 Từ cuộc đời đến thơ văn 16
1.2.2 Quan niệm sống và quan niệm nghệ thuật 23
CHƯƠNG 2 NHỮNG “CHÂN TRỜI” CẢM THỨC HOÀI NIỆM TRONG SÁNG TÁC HỒ DZẾNH 28
2.1 THƯƠNG NHỚ TỪ CHÂN TRỜI CŨ ĐẾN QUÊ NGOẠI 28
2.1.1 Ẩn ức chân trời Trung Hoa 28
2.1.2 Sâu nặng tình yêu quê Việt 33
2.2 KHÁT KHAO TRỞ VỀ NGÀY THƠ ẤU 39
2.2.1 Về với “lòng mẹ” 39
2.2.2 Hồi tưởng kí ức về cha 44
2.2.3 Nhớ thương những phận người xung quanh 48
Trang 52.3 DAY DỨT NHỮNG CÂU CHUYỆN TÌNH YÊU 53
2.3.1 Tình yêu trong sáng 54
2.3.2 Tình “chỉ đẹp khi còn dang dở”… 58
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CẢM THỨC HOÀI NIỆM TRONG SÁNG TÁC HỒ DZẾNH 66
3.1 NGÔN NGỮ VÀ HÌNH ẢNH 66
3.1.1 Ngôn ngữ 67
3.1.2 Hình ảnh 72
3.2 THỂ LOẠI 77
3.2.1 Thể thơ truyền thống 78
3.2.2 Đặc trưng tự truyện trong thể loại truyện ngắn 82
3.3 GIỌNG ĐIỆU 86
3.3.1 Giọng điệu tự nhiên giàu chân cảm 87
3.3.2 Giọng điệu trầm buồn, sâu lắng 92
KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hồ Dzếnh (1916-1991) là một trong những hiện tượng đặc biệt xuất hiện
từ trong giai đoạn 1930-1945 của nền văn học hiện đại Việt Nam Lời giới
thiệu Tuyển tập Hồ Dzếnh - Tác phẩm chọn lọc, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988,
có đoạn viết: “Tác phẩm Hồ Dzếnh không nhiều, lại không tập trung ở một tờ báo hay đặc san nào Với bản chất trầm lặng, ông luôn luôn khiêm tốn tự cho mình như là người mới bắt đầu bước vào nghề viết Tuy nhiên, với hai tập văn
thơ Chân trời cũ và Quê ngoại, Hồ Dzếnh được biết đến như một nhà văn có
chân tài” Song, cũng còn vì những lý do khách quan và cả chủ quan, phải mãi đến năm 2007, Hồ Dzếnh mới được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, giới nghiên cứu phê bình và đông đảo bạn đọc mới ngày càng
có dịp nhận ra những nét nổi bật ở một nhà văn, nhà thơ mà cả đời sống và đời văn - “như là dấu nối giữa muôn xưa với muôn sau, giữa vùng đất này và vùng đất khác, giữa hồn người và vũ trụ” (Nguyễn Sĩ Đại) Vì vậy, việc tiếp tục đi sâu tìm hiểu cảm thức hoài niệm trong sáng tác của Hồ Dzếnh như một nét đặc trưng, giàu giá trị nhân bản của thơ văn ông là hết sức cần thiết
Mặt khác, như chúng ta đều biết, văn học phản ánh hiện thực bao giờ cũng thông qua sự tái tạo của tâm hồn nhà văn Đây là đặc điểm chung, như một quy luật tất yếu, cho dù nhà văn ấy có tuyên ngôn thuộc về một trào lưu hay trường phái nào Vậy nên, hoài niệm là yếu tố không hề xa lạ trong sáng tác văn chương, thậm chí nó còn là cầu nối dẫn dắt cảm xúc cho người nghệ sĩ; chỉ có điều ở mỗi tác giả, cảm thức hoài niệm được biểu hiện khác nhau, khi đậm khi nhạt Cũng từ đó, nhìn lại văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cùng với sự xuất hiện các nhà văn thuộc trào lưu văn học hiện thực và trào lưu
Trang 7văn học lãng mạn, còn có những tác giả mà tác phẩm của họ nằm ở vị trí đường biên mang đặc điểm giao thoa giữa hai trào lưu ấy Đó là những sáng
tác thơ văn của Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Thạch Lam…mà ở đó cảm thức hoài
niệm như một đặc trưng nổi bật, làm nên yếu tố chủ đạo trong thế giới nghệ
thuật của kiểu nhà văn này Vì lẽ ấy, luận văn đi sâu tìm hiểu cảm thức hoài niệm trong sáng tác Hồ Dzếnh không chỉ là việc tiếp cận sự nghiệp của một tác gia, mà còn góp phần giải mã một hiện tượng nghệ thuật đặc sắc trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những bài nghiên cứu về chân dung Hồ Dzếnh
Tìm hiểu về con người và cuộc đời Hồ Dzếnh, Nguyễn Thị Ngọc Hải có
bài viết Ở quán sách của vợ chồng nhà văn Hồ Dzếnh Trong đó có đoạn nói
đến con người nhà văn “Đến khi gặp Hồ Dzếnh, dù đã điều tra trước qua bà
vợ của ông, nhưng chúng tôi vẫn ngạc nhiên và vui mừng được thấy một người thanh nhã, ý nhị và gần gũi rất phù hợp với mối cảm xúc mà tất cả
chúng ta từng được nuôi dạy từ Chân trời cũ” [33,tr.22] Những nhận xét
ngắn gọn của Nguyễn Thị Ngọc Hải cũng phần nào khắc họa chân dung nhà văn Hồ Dzếnh
Vũ Bằng trong bài báo Hồ Dzếnh: nhà thơ độc đáo địu con đi xin bú
thép khắp khu Tư (1973) đã ghi lại “Tôi còn nhớ Hồ Dzếnh có đọc cho tôi
nghe một bài thơ tả sự thương nhớ quê hương mà anh bảo là quê nội của anh, nhưng riêng tôi thì tôi cho là quê hương của tất cả chúng mình nói chung” [2, tr.39] Hay một đoạn khác nói đến chân dung một mình nuôi con của Hồ Dzếnh “Thiết tưởng đến cái cảnh Hồ Dzếnh gà sống nuôi con mới thực là tủi nhục mà cũng mới thực là cao đẹp và can đảm” Vài nét như thế
về Hồ Dzếnh cũng giúp bạn đọc ít nhiều hình dung về cuộc đời và con người của nhà văn
Trang 8Trong bài viết Khói huyền Hồ Dzếnh, Ngô Linh Ngọc cũng khái quát
tính cách con người Hồ Dzếnh như sau: “Có lẽ Hồ Dzếnh ít nói vì viết nhiều, nghĩ nhiều Nhưng không bao giờ anh vội Ngọc cầm Nguyễn Bá Đĩnh chủ nhà in Á Châu rất yêu văn thơ Hồ Dzếnh, luôn luôn sẵn sàng in sách của anh với cả một tấm lòng Mạnh Thường Quân Nhiều nhà xuất bản khác cũng mời anh Dzếnh viết Nhưng Hồ Dzếnh không bao giờ sẵn sàng “chụp” lấy những
cơ hội tốt đó Anh đủng đỉnh viết, lặng lẽ viết, âm thầm sáng tạo những bông hoa, chùm hoa đẹp nhất và cũng dầy công vun bón nhất của anh để cống hiến cho người đọc” [33, tr.57] Đó có lẽ chính là chân dung và nhân cách của Hồ Dzếnh trong đời sống và cả trong lao động nghệ thuật
Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai, cũng ghi lại cảm nghĩ: “Tôi đọc chưa nhiều, nhưng vẫn thích một số thơ, truyện của Hồ Dzếnh Ngòi bút Hồ Dzếnh còn tiềm tàng một số khả năng chưa khai phá hết Tài liệu về cuộc sống trong gia đình khá phong phú Đời sống nội tâm của Hồ Dzếnh dễ mến Cách viết của anh có thể tìm được trong đời sống nước mình một nguồn sinh lực mới” [33, tr.55]
…v.v…
2.2 Những bài nghiên cứu về đặc điểm văn thơ của Hồ Dzếnh
Năm 1942, Thạch Lam viết lời giới thiệu cho tập truyện ngắn Chân trời
cũ xuất bản lần đầu Đây có thể xem là “bài nghiên cứu” đầu tiên về nhà văn,
nhà thơ Hồ Dzếnh Ông nhận ra nét riêng về cuộc đời của nhà văn Minh Hương đã ảnh hưởng như thế nào đến thế giới nghệ thuật của Hồ Dzếnh: “Tác giả đã đau khổ trong cuộc sống: và chúng ta nhận thấy ông ưa thích quay về
dĩ vãng, để lại khiến những đau khổ cũ trở dậy và thêm sắc mắc hơn nữa Cho nên những chuyện ông kể cho chúng ta nghe đều có một màu sắc riêng, đều nhuộm một tiếc hận thấm thía” [8, tr.6]
Cũng năm 1942, Tạp chí Tri Tân, Hà Nội, Số 67 đã cho ra ấn phẩm Phê
Trang 9bình Chân trời cũ, nhà nghiên cứu Kiều Thanh Quế đã nhận xét như sau:
“Điều dễ khiến chúng tôi cảm động là lòng sầu xứ không thôi cộng với nỗi đau khổ của tác giả” [2, tr.86], đó hẳn là ý khen cho sự cảm động mà tập truyện đem lại Nhưng thêm vào đó, nhà nghiên cứu văn học này còn khuyến khích Hồ Dzếnh nên thử sức trong thể loại dài hơi hơn và một lần nữa khẳng định tài năng của Hồ Dzếnh: “Ngòi bút Hồ Dzếnh đã có được lắm đặc tính khả quan trong khi phô diễn Nó nên tỏ ra có sức mạnh trong những tiểu thuyết dày dặn, thì tên tuổi của người Minh Hương ấy - Hồ Dzếnh là người Minh Hương, - văn học quốc ngữ không nề hà gì mà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu nhà văn Việt Nam hữu tài” [39]
Năm 1971, nhà nghiên cứu Mai Thảo có bài phê bình Hai nhánh sông
tâm hồn trong thơ Hồ Dzếnh Đối với thế giới thơ của ông, bài viết này cho
rằng: “Nước Tàu, không thấy, không biết, hiện hữu mơ hồ mà ám ảnh dằng dặc, đã trở thành một thứ hậu trường tâm hồn Hồ Dzếnh” [45], tuy nhiên
“Người Minh Hương họ Hồ đã lựa chọn quê ngoại Việt Nam Đến đây và ở lại Đến đây và thương yêu” Mai Thảo đã nhận xét về tập thơ đầu tay của Hồ Dzếnh như sau: “khối lạc quan và tin tưởng toàn vẹn , một tập thơ đầu tay phải như thế Phải có cái khí thế vạm vỡ của sống như một lao vào, cái vóc dáng của yêu như một kín trùm dào dạt” [45]
Năm 1988, cuốn Thi sĩ Hồ Dzếnh lần đầu được in ấn và trao tay bạn đọc
Nhà thơ Vũ Quần Phương đã có bài giới thiệu về văn nghiệp Hồ Dzếnh, mở đầu cho tập sách Ông đã viết như sau: “Ở cả thơ và truyện, người ta dễ dàng nhận ra một tâm hồn giàu cảm xúc, tràn ngập yêu thương, trắc ẩn, gắn bó chặt chẽ với những phận người hẩm hiu nghèo khổ trong xã hội cũ Văn và thơ ông có cái ma lực ngân nga rất lâu trong tâm trí người đọc Cái ma lực ấy là
do chất tâm hồn ông tạo nên” [38, tr.4] Ngoài giới thiệu về tác phẩm của Hồ
Dzếnh, Vũ Quần Phương còn có những câu bình sắc sảo: “Tập truyện Chân
Trang 10trời cũ là sự ngoái nhìn về tuổi thơ, về gia đình với lai lịch những con người
Văn Hồ Dzếnh ở tập này là văn tự truyện Thể loại là truyện ngắn nhưng dung lượng thường chứa cả cuộc đời nhân vật, cả một kiếp người! Tất cả đều dựng lên bằng kỷ niệm Cả không gian tâm hồn ông tràn ngập tiếng ngân nga của hoài niệm, xót xa cho những cuộc đời đã đi qua tuổi thơ ông” [38, tr.8] Phải đồng cảm và thấu hiểu Hồ Dzếnh thì Vũ Quần Phương mới có được những câu nhận xét gần nhất với thế giới nghệ thuật Hồ Dzếnh như thế!
Cũng năm 1988, Tạp chí Kiến thức Ngày Nay, TP HCM đã đăng bài “Hồ
Dzếnh một hồn thơ đẹp” do nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá viết Bài phê bình chỉ ngắn gọn vài trang nhưng lại đánh giá khá toàn diện về cả thơ và văn Hồ Dzếnh Trần Hữu Tá cũng nhìn nhận vị trí của Hồ Dzếnh trong lòng bạn đọc
“Hồ Dzếnh cũng có cái hạnh phúc được người đọc yêu và nhớ, dù ông viết không nhiều, vì ông có được tiếng nói nghệ thuật riêng” [42] Có lẽ “tiếng nói nghệ thuật riêng” mà Trần Hữu Tá nhắc đến chính là phong cách nghệ thuật của nhà văn mang dòng máu Hoa - Việt này
Năm 1995, Phạm Thị Thu Hương đã có bài báo đăng trên Tạp chí Văn
học với tên: “Hồ Dzếnh và niềm khắc khoải giữa hai bờ xứ sở” Bài viết đã
tinh tế nhận ra sự hoà quyện hai dòng máu Hoa - Việt đã tạo nên mặc cảm gì cho nhà văn, nhà thơ họ Hồ này: “Bị giằng xe, bị phân chia bởi hai thứ tình yêu, mà tình yêu nào cũng lớn lao, cũng thiêng liêng, đôi khi ông lâm vào tình thế khó xứ… Đó là một con người cô đơn và khốn khổ vì tình yêu của
mình… Chính vì thế mà Chân trời cũ là những giằng xé âm thầm, những khắc
khoải triền miên của một kẻ chơi vơi giữa hai bờ xứ sở” [24, tr.123-124]
Năm 2001, cuốn Hồ Dzếnh - Một hồn thơ đẹp do Ngô Văn Phú, Lại
Nguyên Ân biên soạn có sưu tầm, tập hợp nhiều bài viết phê bình, đánh giá về
sự nghiệp văn chương của Hồ Dzếnh Ở bài “Thi sĩ Hồ Dzếnh”, theo Võ Văn Trực: “Hồ Dzếnh viết văn bằng tâm hồn của nhà thơ, cho nên, có thể nói rằng
Trang 11mỗi truyện ngắn của anh là một bài thơ triền miên cảm xúc mà trong đó nhân vật chỉ là cái đinh để anh treo lên đó bức tranh tâm hồn mình” [33, tr.145] Ngoài ra, người viết còn có sự so sánh, đánh giá thú vị về Hồ Dzếnh và Nguyễn Bính: “Giữa những năm tháng thi đàn Việt Nam đang rầm rộ một cuộc cách tân lớn, hai thi sĩ Nguyễn Bình và Hồ Dzếnh chảy theo một dòng riêng, gần gũi với ca dao của đồng quê muôn thuở Nhưng thơ Nguyễn Bính dân dã mang phong vị hào hoa lãng tử, còn thơ Hồ Dzếnh thì dân dã mang hương vị trong trẻo của thôn mạc” [33, tr.146] Dĩ nhiên, còn nhiều mặt để so sánh đánh giá Hồ Dzếnh với các tác giả cùng thời, cùng thiên hướng nghệ thuật; tuy nhiên ý kiến nhận xét của Võ Văn Trực cũng đáng được ghi nhận Tóm lại, là một nhà văn, nhà thơ chân tài, Hồ Dzếnh được bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm, phê bình Dẫu cho các bài viết còn rải rác, nhỏ
lẻ nhưng hệ thống lại cũng đã góp phần khái quát thế giới văn chương nghệ thuật của Hồ Dzếnh
Càng về sau, tác phẩm của Hồ Dzếnh càng được các bạn sinh viên, học viên cao học chọn làm đề tài khóa luận, luận văn cho những bậc đào tạo khác nhau thuộc ngành Ngữ Văn Tuy nhiên, nhận thấy chưa có ai trực tiếp đi sâu
tìm hiểu đề tài “Cảm thức hoài niệm trong sáng tác Hồ Dzếnh” Vì vậy, trên
cơ sở trân trọng tiếp thu những ý kiến có liên quan của người đi trước, chúng tôi hy vọng góp thêm những suy nghĩ của mình về một hiện tượng tác giả rất đáng trân trọng của nền văn học hiện đại nước nhà
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Hồ Dzếnh (ấn bản 2014), Chân trời cũ, Nxb Hội nhà văn
+ Hồ Dzếnh (ấn bản 2014), Quê ngoại, Nxb Hội nhà văn
+ Hồ Dzếnh - Tác phẩm chọn lọc (1988), Nxb Văn học
+ Thơ Hồ Dzếnh (tái bản 2008), Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
Những đặc điểm nổi bật của cảm thức hoài niệm trong sáng tác Hồ Dzếnh ở cả hai bình diện thế giới hiện thực kí ức và phương thức biểu hiện hoài niệm
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa trên một số phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Nhằm tìm hiểu sáng tác và ý kiến bàn
luận về những tác phẩm này trong hệ thống tác phẩm của Hồ Dzếnh và trong tiến trình lịch sử của vấn đề
- Phương pháp thống kê, phân loại: Nhằm thống kê tần số lặp lại của các
chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ được nhà văn sử dụng trong tác phẩm, để từ đó rút ra những nhận xét về vấn đề cần tìm hiểu
- Phương pháp so sánh: Bao gồm so sánh đồng đại và lịch đại để làm nổi
bật nét riêng của bút pháp Hồ Dzếnh khi biểu hiện cảm thức hoài niệm
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Nhằm giải mã các tín hiệu nghệ thuật
của tác phẩm và tổng hợp hình thành hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng của luận văn
5 Đóng góp của luận văn
Cung cấp thêm tài liệu tham khảo về một đặc điểm nổi bật giàu giá trị nhân văn qua sáng tác của Hồ Dzếnh; đồng thời qua đó hiểu thêm về một kiểu tác gia trên hành trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc trong thế kỷ XX
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo; phần Nội dung của
luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Hồ Dzếnh - một hiện tượng đặc sắc xuất hiện trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945
Trang 13Chương 2: Những “chân trời” cảm thức hoài niệm trong sáng tác của Hồ Dzếnh
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện cảm thức hoài niệm trong sáng tác Hồ Dzếnh
Trang 14CHƯƠNG 1
HỒ DZẾNH - MỘT HIỆN TƯỢNG ĐẶC SẮC XUẤT HIỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930-1945
1.1 BỐI CẢNH VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1930-1945
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của các trào lưu văn học
Từ nửa sau thế kỷ XIX chủ nghĩa thực dân Pháp tràn vào xâm lược nước
ta Cùng với những biến đổi sâu sắc của đời sống lịch sử - kinh tế - văn hóa và
xã hội, nền văn học nước ta sau chặng đường giao thời (1900-1930), bước vào giai doạn (1930-1945) đã được hiện đại hóa và trưởng thành một cách nhanh chóng, sâu sắc và toàn diện; với nhiều thành tựu cả về đội ngũ tác gia và tác phẩm Đó là kết quả của sự sáp nhập giữa nền văn hóa phương Đông và phương Tây Nói như Trần Đình Sử “Sự cộng sinh với văn hóa Phương Tây giúp họ tìm ra những mẫu mực văn chương mới, tư tưởng mới, triết lí mới, cách nói mới, quan niệm văn chương mới” [41]
Từ đây, nền văn học dân tộc đã không còn chịu sự ràng buộc của hệ thống thi pháp văn học trung đại và hoà nhập vào nền văn học hiện đại theo
xu hướng chung của văn học thế giới Cùng với sự thức tỉnh của con người cá nhân - cá thể, một chuyển biến nổi bật nhất của văn học giai đoạn này là sự xuất hiện nhiều trào lưu, khuynh hướng văn học Rõ nhất có thể kể đến trào lưu văn học lãng mạn và trào lưu văn học hiện thực Cả hai trào lưu đều tạo được dấu ấn trên văn đàn với hàng loạt tên tuổi tác giả và tác phẩm để đời
Theo định nghĩa của Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Chủ nghĩa hiện
thực là trào lưu nghệ thuật lấy hiện thực xã hội và những vấn đề có thực của con người làm đối tượng sáng tác Chủ nghĩa hiện thực hướng tới cung cấp cho công chúng nghệ thuật những bức tranh chân thực, sống động, quen thuộc
Trang 15về cuộc sống, về môi trường xã hội xung quanh” Trào lưu văn học hiện thực Việt Nam ra đời khi trong lòng xã hội Việt Nam tồn tại nhiều mâu thuẫn cơ bản Đó là mâu thuẫn giữa địa chủ, phong kiến với người nông dân, và mâu thuẫn sâu sắc giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp Các nhà văn hiện thực tự nguyện theo tuyên ngôn “làm người thư ký trung thành của thời đại”, phản ánh cuộc sống với chất liệu như nó vốn có Nói quả quyết như Vũ Trọng Phụng: “Tôi và những nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự
thực ở đời” (Báo Tương lai số 9, ngày 25 – 3 -1937)
Vấn đề nông dân và địa chủ, quan lại được đặt ra trong các tác phẩm
Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao … Vấn đề phong kiến
thực dân được nêu lên một cách gay gắt trong các tác phẩm Số đỏ, Giông tố,
Làm đĩ, Kĩ nghệ lấy Tây của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố Tác
phẩm hiện thực phê phán đã không dừng lại ở truyện ngắn, phóng sự mà còn phát triển mạnh mẽ thể tài tiểu thuyết Đến những năm 1939, lại thêm một thế
hệ nhà văn hiện thực mới trưởng thành, đó là Nam Cao, Mạnh Phú Tư, Nguyễn Đình Lạp, Bùi hiển v v Họ vẫn tiếp tục miêu tả cuộc sống tối tăm của những người nông dân nghèo, khốn quẫn; họ vẫn viết sôi nổi về mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp thống trị với tầng lớp nhân dân lao động; và họ đặc biệt chú ý nhiều đến cuộc sống bế tắc mòn mỏi của người trí thức tiểu tư
sản Các tác phẩm Chí Phèo, Lão Hạc, Sóng mòn, Đời thừa của Nam Cao,
Sống nhờ của Mạnh Phú Tư… đã góp thêm tiếng vang cho trào lưu văn học
hiện thực này
Như vậy, khuynh hướng văn học hiện thực chính là chú trọng đến những tiếng kêu vang lên từ mặt đất, những “tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than” (Nam Cao) Với các nhà văn hiện thực, nghệ thuật không thể mang
ý nghĩa gì khác ngoài hai tiếng con người Quan niệm “nghệ thuật vị nhân
Trang 16sinh” đã ăn sâu vào tư tưởng những những cây bút theo trào lưu văn học này
Họ đã tìm ra bản chất sâu xa trong nỗi đau con người, đồng thời cũng thể hiện được tinh thần nhân đạo trong các tác phẩm Cùng đau, cùng khóc với những con người khốn khổ, cùng đồng cảm với họ và trân trọng những giá trị tốt đẹp bên trong họ: “nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp
lầm than ” (Giăng sáng) Thành công của văn học hiện thực phê phán
1930-1945 không chỉ là tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến mà còn đưa ra được bức tranh đời sống xã hội Việt Nam trước Cách mạng Các nhà văn hiện thực bằng tác phẩm đã ghi lại được dấu ấn thời đại - là tấm gương phản ảnh lịch sử tâm hồn dân tộc Các nhân vật điển hình như Chị Dậu, lão Hạc, Chí Phèo, Bá Kiến, Xuân tóc đỏ … đến nay vẫn còn nguyên giá trị hiện thực, giá trị văn học Tuy nhiên, hạn chế của trào lưu này là kết thúc tác phẩm thường
bỏ ngõ, các tác giả chưa giải quyết đến cùng các vấn đề, có lẽ cũng là lí do lịch sử bấy giờ
Tóm lại, văn học hiện thực là một trong những khuynh hướng nổi trội của văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 Chỉ mười lăm năm ngắn ngủi nhưng trào lưu văn học này đã nở rộ, thành công trên mức với số lượng tác phẩm có giá trị cao Tên tuổi của các nhà văn hiện thực giai đoạn này vẫn sáng mãi trong lịch sử văn học dân tộc Việt Nam
Song song với trào lưu văn học hiện thực, với Phong trào Thơ Mới và nhóm Tự lực văn đoàn xuất hiện, cũng đã đánh dấu sự ra đời của trào lưu văn
học lãng mạn trong nền văn học hiện đại nước ta.Vốn là những trí thức Tây học ảnh hưởng văn học Pháp,cùng với khát vọng của ý thức cá nhân được thức tỉnh, các nhà văn, nhà thơ lãng man đã phản ánh cuộc sống như “nó phải có” nhằm đáp ứng nhu cầu của tâm lý độc giả đô thị lúc bấy giờ
Khác với trào lưu văn học hiện thực phê phán, dù cũng bày tỏ thái độ bất
Trang 17hòa bất mãn với chủ nghĩa thực dân tàn bạo, nhưng người cầm bút không đi thẳng vào miêu tả chân thực hiện thực đời sống, mà chủ yếu chỉ mượn tác phẩm
để bày tỏ khát khao dân chủ, tự do; giải phóng tình cảm, cảm xúc và trí tưởng tượng Văn học lãng mạn chính là một khuynh hướng thẩm mĩ lấy việc khẳng định cái tôi cá nhân cá thể làm nguồn cảm hứng chủ đạo Một cái tôi không thỏa mãn với thực tại, tìm cách tự giải thoát khỏi thực tại bằng mộng tưởng
Văn học lãng mạn 1930-1945 thành công trên cả hai bộ phận thơ và văn xuôi Văn xuôi có sự ra đời ào ạt của các cây bút thuộc nhóm Tự lực văn đoàn, thường viết về văn chương thoát ly cuộc đời, mang khuynh hướng ủy
mị, có phần rời xa hiện thực cuộc sống Họ đòi hỏi giải phóng cá nhân ra khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, điều đó được phản ảnh qua
tác phẩm Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn
của Nhất Linh, Ngoài ra văn xuôi lãng mạn giai đoạn này còn có sự xuất hiện của cái tôi khinh bạc, giang hồ lãng tử được thể hiện trong các tập tùy bút của Nguyễn Tuân Tuy nhiên trào lưu văn học lãng mạn này thành công hơn cả với sự phát triển rực rỡ của phong trào Thơ Mới, hình thành nên một thời đại trong thơ ca Việt Nam Các nhà thơ tiêu biểu như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương … họ đã sáng tác sôi nổi, lôi cuốn hơn bao giờ hết, làm sáng bừng nền thơ ca Việt Nam hiện đại
Dù các trào lưu văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 đã chịu ảnh hưởng văn chương Pháp thế kỷ 19, nhưng vẫn mang được bản sắc riêng, thấm đẫm hồn Việt Mặt khác cũng phải thấy rằng, cùng trong giai đoạn này, trào lưu văn học cách mạng của giai cấp vô sản dù trong hoàn cảnh khi bí mật, khi công khai cũng đã ra đời và song song tồn tại phát triển Cùng với phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng và trào lưu thơ văn ấy cũng đã có đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhà văn ở các trào lưu khác Chính trong bối cảnh ấy càng thử thách bản lĩnh của người cầm bút và làm xuất hiện sự đa
Trang 18dạng của phong cách sáng tạo Có lẽ cũng chính vì vậy mà nhà phê bình Hoài Thanh đã viết: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp,
ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên,…
và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [43]
Mặt khác, trong một bối cảnh lịch sử xã hội và đời sống văn học với nhiều biến thiên như đã nói ở trên, việc ảnh hưởng qua lại giữa các trào lưu,
và việc các tác giả chân tài tìm cách khẳng định vị trí của mình bằng một tiếng nói nghệ thuật riêng sẽ là quy luật tất yếu trong sáng tạo Đó cũng là lý
do trong giai đoạn 1930-1945, văn học Việt Nam đã xuất hiện một số nhà văn
ở vị trí đường biên mà tác phẩm của họ mang đặc điểm giao thoa giữa hai trào
lưu văn học hiện thực và lãng mạn
1.1.2 Hiện tượng giao thoa giữa các trào lưu qua một số tác giả ở vị trí đường biên
Tạm gọi là khuynh hướng đường biên vì như trên đã nói, họ không hẳn sáng tác theo trào lưu văn học hiện thực, cũng không hẳn sáng tác theo trào lưu văn học lãng mạn; mà lại giao thoa giữa hai trào lưu này, đi ở lằn ranh khó phân định Điều kì lạ là tuy không thuộc một khuynh hướng, trào lưu nào cụ thể nhưng tác phẩm của họ vẫn chạm đến trái tim bạn đọc, vẫn tạo nên tiếng vang riêng trên thi đàn văn học Việt Nam “Văn học giai đoạn này có ba nhà văn không chịu xếp mình vào khuôn khổ của sự phân loại thông thường Họ như đứng riêng thành một trường phái Văn của họ không ly kỳ hay gay gắt về mặt cốt truyện, không khuyến dụ người đọc vào những cảnh hớ hênh của tình
ái hay những cảnh rùng rợn của tưởng tượng Chữ nghĩa của họ toàn lấy từ kho
đồ cổ của các làng quê Nhưng họ lại đủ tài dựng nên những cái khác thường từ
Trang 19những cái bình thường.Họ làm thơ trong văn xuôi Đó là Thạch Lam, Hồ Dzếnh và Thanh Tịnh” Quả đúng như nhận định trên, bộ ba Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh đã đi theo một con đường sáng tạo nghệ thuật không thuộc khuynh hướng nào, nhưng vẫn làm xáo động nền văn học đương thời; và
có lẽ vì đề cao tình thương, tình nhân ái mà tác phẩm của họ đến nay vẫn rung cảm được bạn đọc Ở ba nhà văn này, điểm chung của họ là cảm hứng trữ hình,
là cái nhìn bao dung, thấu hiểu đối với thân phận con người Cái họ phản ánh không phải là bức tranh hiện thực mà là tâm hồn của con người đang sống trong hiện thực ấy Họ nhìn hiện thực đời sống qua tâm trạng, qua tình cảm con người Nói như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh là họ “thuộc về một thứ chủ nghĩa hiện thực trữ tình” Bao nhiêu mảng sáng tối trong cuộc sống đều có trong truyện ngắn của các nhà văn này, thậm chí nhiều vấn đề nhức nhối vẫn âm ỉ trong tác phẩm của họ Tuy nhiên, họ không nói thẳng vào hiện thực đời sống
ấy, mà qua cảm quan của người nghệ sĩ, họ bộc lộ sự xót thương, sự đau đớn trước hoàn cảnh và thân phận của con người Thạch Lam cho rằng “văn học là một thứ vũ khí thanh cao đắc lực mà chúng ta có, để tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn” Đấy, từ quan niệm của nhà văn về văn học, chúng ta cũng thấy được cảm thức sáng tác của họ là gì; văn chương không đơn thuần chỉ mang hơi thở cuộc sống chân thực, mà phải qua đó làm cho lòng người thanh sạch và
“người” hơn Chính vậy nên họ chọn lối sáng tác “hiện thực trữ tình” chứ không phải hiện thực phê phán hay lãng mạn
Sáng tác theo khuynh hướng như thế này không phải chỉ có Thạch Lam,
Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Còn có Nguyên Hồng một lần góp mặt với Thời thơ
ấu, Xuân Diệu với Tỏa Nhị Kiều, Thương vay; Đỗ Tốn với Hoa Vông vang,
Ngọc Giao với Đất Tuy nhiên, chọn ba nhà văn Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ
Dzếnh xếp vào chung chiếu ở mảng truyện ngắn trữ tình, hiện thực trữ tình là
Trang 20bởi chính họ chuyên tâm và trung thành với con đường nghệ thuật ấy, chứ không chỉ một lần “dạo chơi” Họ xem khuynh hướng sáng tác này như một cảm hứng, như một bút pháp nghệ thuật, thể hiện cái nhìn về thế giới qua tâm trạng Các nhà nghiên cứu khi tìm hiều về nhóm các cây bút khuynh hướng đường biên này, đều thừa nhận họ có khả năng lan truyền cái hay, nét đặc sắc riêng cho người khác, cho thế hệ khác, tạo nên một vang hưởng có giá trị Người mở đường chính là Thạch Lam, và kế thừa là Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Trong dòng chảy của văn học thời kỳ tiền chiến, họ là nhóm tác giả lặng lẽ, có văn phong nhẹ nhàng như những đợt sóng nhưng dư âm giao cảm lại dai dẳng, âm ỉ lan xa
Một bộ ba khó lẫn về giọng điệu trong lịch sử văn xuôi nước nhà Họ gắn bó với nhau về phong cách hiện thực trữ tình; đồng nhất với nhau về quan niệm thẩm mỹ; tuy nhiên ở mỗi người lại có một nét riêng, cho ra các “sản phẩm nghệ thuật” đặc sắc Và họ cũng có những vị trí khác nhau trên văn đàn Thạch Lam dành được sự ưu ái và quan tâm nhiều hơn cả Theo thống kê trong thư mục về Thạch Lam (Thạch Lam - về tác giả tác phẩm - Vũ Tuấn Anh và Lê Thị Dục Tú tuyển chọn và giới thiệu-nhà xuất bản Giáo Dục, 2001), các tác giả đã thống kê được khoảng chín mươi công trình lớn nhỏ viết
về ông và tác phẩm của ông Bên cạnh đó tác phẩm Hai đứa trẻ, Gió đầu mùa đều được đưa vào chương trình học phổ thông Còn Thanh Tịnh với Tôi đi
học trong sách giáo khoa tiểu học cũng đã đến gần hơn với bạn đọc, và cũng
dành được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Hiện tượng văn học Hồ Dzếnh có phần lặng lẽ trong một thời gian dài, càng về sau người ta mới nhìn nhận đúng hơn về đóng góp của ông và dành cho ông một vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học dân tộc Chân tài của Hồ Dzếnh từ lâu đã được ghi nhận trong lòng đọc nhiều thế hệ, bởi ông không thuộc kiểu nhà văn viết nhiều, viết sôi nổi, viết ào ạt mà ngược lại, tên tuổi của ông gần như được đóng đinh chỉ
Trang 21với 2 tập mỏng Chân trời cũ và Quê Ngoại
Đặc điểm sáng tác chung của nhóm tác giả “hiện thực trữ tình”: là truyện ngắn có kết cấu gần với cấu tứ của thơ trữ tình và thường đi sâu miêu tả một cách tinh tế những phản ứng của tâm thức đối với thế giới Họ phát hiện đời sống ở phương diện trữ tình chứ không phải là phương diện hiện thực; ý nghĩa của truyện theo đó mà gắn với không khí, tâm trạng bàng bạc trong tác phẩm Điều đặc biệt là nhà văn thường sử dụng tình huống, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ theo phương thức trữ tình, nên tác phẩm của họ như là những tiếng lòng
“u kín bên trong”
Tóm lại, khuynh hướng sáng tác văn học giai đoạn 1930-1945 có thể kể đến rõ nhất là trào lưu văn học hiện thực và trào lưu văn học lãng mạn Nhưng một số tác giả khác đã đi theo một lằn ranh mới, đấy là sự giao thoa giữa hai khuynh hướng vừa nêu trên Họ tiên phong cho phong cách hiện thực trữ tình, mang hơi thở thơ ca vào văn xuôi hiện thực đời sống Và đến nay, tác phẩm của họ đã vượt qua thử thách thời gian để tồn tại vĩnh cửu với độc giả, và được đánh giá là danh tác văn học
1.2 SỰ XUẤT HIỆN CỦA HIỆN TƯỢNG HỒ DZẾNH
1.2.1 Từ cuộc đời đến thơ văn
Hồ Dzếnh (1916-1991) tên thật là Hà Triệu Anh hay còn gọi Hà Anh Phiên âm theo tiếng Quảng Đông (quê cha ông) sẽ thành Hồ Dzếnh, đây cũng
là bút danh chính thức của ông, bên cạnh bút danh Lưu Thị Hạnh (bút danh này mờ nhạt, không ghi dấu nhiều thành công) Ông sinh tại làng Đông Bích
xã Hòa Trường nay là xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Ông là nhà văn, nhà thơ mang trong mình hai dòng máu Hoa - Việt Cha của Hồ Dzếnh là Hà Kiến Huân, người Quảng Đông - Trung Quốc, từ những năm 1890 đã sang làm ăn ở Việt Nam Còn mẹ của Hồ Dzếnh là bà Đặng Thị Vân, cô gái lái đò trên bến Ghép, Quảng Xương Cuộc gặp gỡ đầy nhân duyên
Trang 22của bố mẹ Hồ Dzếnh đã đưa ông trở thành con dân nước Việt - sinh ra, lớn lên, uống dòng nước Việt và nói tiếng nói Việt Nam (điều này được kể lại
trong truyện Ngày gặp gỡ) Và văn học Việt Nam cũng nhờ đó có thêm một
tài năng thi ca, một chân tài lặng lẽ
Cuộc sống quá vãng, thời thơ ấu của Hồ Dzếnh gặp nhiều tình thế lạc lõng Chính vậy, nên chất liệu trong văn thơ ông vừa chân thật lại vừa biểu cảm Sự hòa quyện hai dòng máu Hoa Việt cũng là một nét riêng trong đời tư của Hồ Dzếnh, có ảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác của ông sau này: “Cha ông vốn gốc Quảng Đông mới sang đây một đời, chỉ có mẹ ông là người Việt Rõ ràng, khi nói về xứ sở này, ông ở vào cái thế chông chênh chân trong chân ngoài, quê hương là thực mà như là hư, là phải mà lại như không phải, gần gũi đấy, mà lại xa vời đấy Nhưng có lẽ chính vì thế mà ông có cái lui tới trong cách nhìn, cái xót xa trong tình cảm, cái khao khát vươn tới một mảnh đất tâm linh không bao giờ vươn tới nỗi ” [33, tr.155] Vậy là đối với quê
mẹ, Hồ Dzếnh mang mặc cảm “kẻ ở nhờ”, còn đối với quê cha, ông lại là “kẻ
bị lìa cội rễ, không còn nguyên vẹn dòng máu Trung Hoa” Tình thế này đẩy
Hồ Dzếnh vào mặc cảm bơ vơ Nhưng cũng chính lòng thương nhớ hai quê lại là cội nguồn cảm hứng cho Hồ Dzếnh khi viết văn, làm thơ Mặc cảm lưu lạc, bơ vơ giữa hai bờ xứ sở phải chăng là tình thế dị biệt, làm nên màu sắc riêng trong thế giới nghệ thuật của ông? Điều đó dù không thuộc về số đông nhưng lại khiến thổn thức một tấm lòng, ấm nóng một tình cảm chân thật rất chung của con người Nhà phê bình Kiều Thanh Quế rất tinh tế khi nhận xét
“điều dễ khiến tôi cảm động là lòng xầu sứ không thôi cộng với nỗi đau khổ của tác giả” [2, tr.86] Nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan, khi tìm hiểu về con người, tính cách Hồ Dzếnh cũng đã cho rằng: ở ông là sự hội tụ tinh hoa, tố chất của cả cha và mẹ Cha Hồ Dzếnh “ngoài những thuộc tính cố hữu trong bản chất của dòng máu Trung Hoa mà ông truyền sang con trai mình thì tính
Trang 23tình, tư chất, nỗi quan hoài, trầm mặc và những lời dạy bảo con kiểu đó của ông đã ảnh hưởng rất nhiều đến tư chất Hồ Dzếnh sau này… Mặc khác, chính
cô lái đò Việt Nam … đã truyền sang cho con trai mình đức tính vị tha và lòng trắc ẩn để rồi sau này Hồ Dzếnh biết nghiêng xuống trước những số phận bất hạnh những rủi ro của cuộc đời mình một cách âm thầm, lặng lẽ” [33, tr.179] Như vậy, dù sinh ra và lớn lên ở Việt Nam nhưng tiềm tàng trong con người Hồ Dzếnh vẫn là sự hoà quyện giữa hai dòng máu Hoa - Việt Nhiều bạn bè giới văn thơ vẫn thường nhận thấy nét khác biệt trong tư chất, tính cách Hồ Dzếnh so với các nhà văn, nhà thơ “thuần Việt” Ở ông, bên cạnh lòng yêu thương, trắc ẩn còn có sự trầm mặc, u hoài rất kín kẽ
Năm 1937, Hồ Dzếnh bắt đầu viết truyện ngắn đầu tay Lòng mẹ, và sáng tác thơ được in trên các báo Trung Bắc chủ nhật và Tiểu thuyết thứ bảy Sau
đó ông tiếp tục viết các truyện Chị dâu tôi, chị Yên và hàng loạt các thiên truyện ngắn khác như Ngày gặp gỡ, Trong bóng rừng, Con ngựa trắng của ba
tôi, Em Dìn, Chú Nhì… Về sau các truyện ngắn này được chọn in trong tập Chân trời cũ Tác phẩm đó cùng với tập thơ đầu tay Quê Ngoại được xuất bản
trong hai năm 1942, 1943; chân tài của Hồ Dzếnh đã được phát lộ từ đó Ông trở thành là một nhà văn, nhà thơ có tên tuổi từ thời tiền chiến, có vị trí trên văn đàn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám và trong lòng bạn đọc cho đến tận bây giờ
Ngoài sáng tác thơ và viết truyện, Hồ Dzếnh còn dịch hơn ba mươi bài
thơ của Baudelaire (bản thảo bị thất lạc), đồng thời xuất bản tiểu thuyết Dĩ
vãng, Một truyện tình mười lăm năm trước với bút danh Lưu Thị Hạnh,
nhưng không gây được tiếng vang Từ năm 1945, Hồ Dzếnh bắt đầu tham gia
Cách mạng ở Hà Nội rồi tiếp tục viết thơ, làm văn; cho xuất bản tập thơ Hoa
xuân đất Việt (1946) và tiểu thuyết Cô gái Bình Xuyên (1946) Những năm
này, thi sĩ họ Hồ còn thử sức viết kịch Người nữ cứu thương Trung Hoa, Đi
Trang 24hay ở (vở kịch này được giải thưởng của Hội Văn nghệ) Vậy nhưng, theo
giới nghiên cứu, dù thử bút ở nhiều thế loại như thế, cũng xuất bản được kha khá tác phẩm nhưng Hồ Dzếnh thành công nhất vẫn là ở giai đoạn tiền chiến
với hai tập Chân trời cũ và Quê Ngoại, những tác phẩm xuất bản sau đó nội
dung tư tưởng có nhiều nhưng thể hiện chưa tới, chưa chạm ngõ trái tim bạn
đọc nên vẫn chỉ có giá trị chừng mực.“Mặc dù Chân trời cũ được viết ra khi
tác giả mới hơn hai mươi tuổi, và chủ yếu nói về những năm tuổi trẻ của một
đời người, song Chân trời cũ lại có một sự già dặn riêng Nó là thứ văn
chương không có tuổi Thậm chí - bây giờ đã đến lúc có thể nói điều này - nó
là thứ văn chương viết xong người ta có thể gác bút, có thể buông tay nhắm mắt Và chỉ nhờ thế, cuốn sách chưa đầy 200 trang đó, mới đủ tư cách để đưa một con người trở thành một tên tuổi vĩnh viễn trong lịch sử văn học” [2,
tr.190] Chân trời cũ chắc hẳn là một trong những “gia tài văn chương” đắt
giá mà Hồ Dzếnh có được trên con đường nghệ thuật không mấy bằng phẳng của mình
Năm 1957, Hồ Dzếnh tham dự Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, tại đây ông có đọc tham luận “Một vài ý nghĩ về sáng tác”, chia sẻ quan niệm nghệ thuật, quan niệm sáng tác của mình Sau đó, ông được bầu làm Uỷ viên ban chấp hành Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam và tham gia Hội nhà văn Việt Nam từ lúc mới thành lập Nhưng nửa cuối đời mình, Hồ Dzếnh gần như không viết nữa Hoặc có lẽ ông chỉ muốn viết cho vợi đi những niềm
u kín của một cõi lòng đã từng chất chứa nhiều cay đắng, tiếc hận, chứ không
có ý định xuất bản và công bố Mãi đến năm 1988, Hồ Dzếnh mới được cầm
trên tay quyển Tác phẩm chọn lọc cho đời văn của mình, đây có thể xem như
món quà muộn cho hành trình sáng tác của ông
Hồ Dzếnh qua đời ngày 13 tháng 8 năm 1991, tại nhà riêng ở Hà Nội Năm 2007, ông được truy tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật
Trang 25Thực ra, Hồ Dzếnh của chúng ta đến với văn chương không mong tìm một chỗ đứng Ông xa lìa cuộc đời cũng không cần lưu lại tên tuổi Nhưng suốt cuộc đời thực và suốt cuộc đời văn chương, ông đã thuỷ chung, chân thành trọn vẹn Có thể tổng kết sự nghiệp văn học của ông như sau: “Một thời, sự nghiệp đó có bị lớp bụi thời gian phủ lên Nhưng rồi, cũng thời gian đã trả lại cho ông những giá trị thực Đọc kỹ và tìm hiểu cuộc đời ông, chúng ta càng thấy quý trọng hơn tấm lòng, bản lĩnh và chất thi sĩ ở một người cầm bút tài
năng và có tư cách: thi sĩ Hồ Dzếnh” (Tạp chí Văn học, số 12.1999, tr.193)
Hồ Dzếnh sống một cuộc đời lặng lẽ, thăng trầm Ông không đứng vào một nhóm phái văn học nào cả, phải chăng vì thế mà Hoài Thanh không nhắc đến tên ông trong “Thi nhân Việt Nam” và Vũ Ngọc Phan không ghi tên ông trong “Nhà văn hiện đại”? Nhưng dẫu sao, nhờ tài năng thật sự nên dù lặng lẽ đến mấy bạn đọc nhiều thế hệ vẫn nhớ đến ông, tìm đến tác phẩm ông để giao cảm thiêng liêng Bằng chứng mới nhất là năm 2014, hai tập sách đầu tay của ông đã được trân trọng xuất bản lại, bản in rất đẹp và vẫn mang tinh thần Hồ Dzếnh gửi đến độc giả Như vậy Hồ Dzếnh tuy đã mất, nhưng những trang văn, trang thơ của ông vẫn sẽ còn sống mãi Như lời bạn đọc Trần Quang Chấn viết cho nhà văn Hồ Dzếnh “Những cảnh đời dĩ vãng, những nhân vật thân yêu do ngòi bút anh đưa lên trang giấy, sắc sảo, đậm đà, với tất cả tấm chân tình của một tâm hồn nghệ sĩ, đã làm tôi nhiều lần xúc động đến đau thương Và từ đó, tên tuổi anh đã trở nên với tôi một niềm an ủi rất bè bạn” [33] Với một người nghệ sĩ chân chính, nhận được những chia sẻ từ bạn đọc như thế, âu cũng là may mắn và thoả nguyện với nghề Thơ văn Hồ Dzếnh cũng như con người ông - rất mực đằm thắm, lắng sâu Cứ tưởng như ông nói bâng quơ những chuyện đời thường quá, bình dị quá vậy mà đủ dung chứa biết bao thân phận, bao cuộc đời và ân tình sâu cay Càng trân quý hơn khi chính những tác phẩm ấy đã khiến người đọc run rẩy, xúc cảm tự con tim
Trang 26Câu chuyện của riêng tác giả, của “đời sống cũ” vẫn cứ nóng hổi, bồi hồi, thân quen với biết bao thế hệ, nằm lòng trong tâm trí bạn đọc?
Ở cả thơ và truyện Hồ Dzếnh, người ta dễ dàng nhận ra một tâm hồn giàu cảm xúc tràn ngập yêu thương Lòng trắc ẩn với những phận người hẩm hiu, nghèo khổ trong xã hội cũ là điểm tương đồng của ông với Thanh Tịnh, Thạch Lam Nhưng cái khác ở Hồ Dzếnh là ông chỉ viết về người thân của mình, về những người xung quanh ông, về những cuộc đời đã gắn bó, gần gũi
mà ông biết Nghĩa là ông viết như chỉ để kể câu chuyện của cuộc đời mình,
về những lần mình chứng kiến hoặc “can dự” vào số phận éo le, bất hạnh của những người ấy Chính những điều này mới thực gây ấn tượng nỗi niềm, khiến ông phải viết ra, để tỏ bày sự đồng cảm, thương yêu, lưu luyến mà ông dành cho họ Cuộc đời mỗi nhà văn - cũng giống như cuộc đời mỗi con người
- là một cái gì độc đáo, không ai giống ai Hồ Dzếnh sống nhạy cảm, nhiệt thành ngay từ ngày thơ ấu Có lần ông bộc bạch “Những người mà mình yêu mến hình như không bao giờ được gần” Ông yêu thương người thân và những người quanh ông một cách đau khổ kì lạ, một phần vì không được gần như mong muốn, phần khác vì ai trong họ cũng gặp những bất hạnh cuộc đời Chứng kiến và chịu đựng những cảnh huống đó khiến cậu bé họ Hồ “sớm biết cảm sầu”, và khó lòng bứt ra khỏi chân dung những con người ấy Trên chặng đường đời dài rộng của mình, có lúc nào Hồ Dzếnh nguôi quên? Họ như những ám ảnh về “duyên phận tăm tối và buồn rầu” khiến ông vô cùng áy náy, xót xa khi nghĩ về, và chẳng ngại ngần gì, ông bộc lộ điều đó trong tác phẩm rất mực chân phương của mình Giáo sư Đặng Thai Mai cũng có mấy ý nghĩ: “Tôi đọc chưa nhiều, nhưng vẫn thích một số thơ, truyện của Hồ Dzếnh Ngòi bút Hồ Dzếnh còn tiềm tàng một số khả năng chưa khai phá hết Tài liệu
về cuộc sống trong gia đình khá phong phú Đời sống nội tâm của Hồ Dzếnh
dễ mến Cách viết của anh có thể tìm được trong đời sống nước mình một
Trang 27nguồn sinh lực mới” [33, tr.55] Nguyễn Minh Châu cũng vậy, rất ưu ái và đánh giá rất cao tác phẩm của Hồ Dzếnh: “Đọc tác phẩm của anh tôi cứ nghĩ, đấy mới thực sự là văn học” [2, tr.76]
Đời sống riêng của Hồ Dzếnh cũng gặp nhiều trắc trở Ông và bà Nguyễn Thị Huyền Nhân cưới nhau năm 1948, nhưng chỉ đến năm 1950 thì bà qua đời
do bệnh tật, để lại cho Hồ Dzếnh một đứa con trai mới được bốn tháng tuổi Tình cảnh éo le gà trống nuôi con của ông được nhiều nhà văn và bạn bè ghi lại rất đáng thương Năm 1993, tức hai năm sau ngày ông mất, gia đình đã tìm thấy bản thảo hoàn chỉnh của một truyện ngắn - tự truyện, với nhan đề “Cuốn sách không tên” Khi được xuất bản, tác phẩm đã thực sự gây xúc động cho người đọc, vì nó tái hiện một thời kì loạn lạc, mất mát do chiến tranh, qua những hồi ức đau xót của nhà văn TS Phạm Thị Thu Hương trong chuyên luận của mình có viết “hình ảnh một người đàn ông thất thểu bế trên tay đứa con chưa đầy tháng đi bộ hàng dặm đường, gặp người phụ nữ nào cũng xin cho con mình được bú thép, hẳn còn hằn trong ký ức người đọc rất lâu dài bởi tính chất
bi thương của nó” [25, tr.117] Có lẽ đời riêng như thế nên khi sáng tác thơ văn, ông mới có cái nhìn, quan niệm về tình yêu thật lạ lùng - “tình chỉ đẹp khi còn dang dở” Và phải chăng vì hiện tại chẳng vui vẻ gì nên Hồ Dzếnh ưa thích quay về dĩ vãng, sống cảm xúc trong những kí ức đã qua ấy Điều này cũng là một lí giải cho cảm thức hoài niệm trong thơ văn ông
Tóm lại, từ những nét riêng về cuộc đời, con người; Hồ Dzếnh đã tạo nên những dấu ấn riêng trong nghệ thuật Con đường thơ văn của thi sĩ họ Hồ này tuy không quá dài, cũng không có được sự đồ sộ về khối lượng tác phẩm, nhưng may mắn thay, đến nay các tác phẩm có được vẫn là danh tác và trụ vững với thời gian: “Vượt được thời gian là hạnh phúc của nghề văn, Hồ Dzếnh đã có được hạnh phúc ấy, ít nhất là với nửa thế kỷ vừa qua” [38] Thiết nghĩ, có được vị trí trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ như thế, đó mới thực là
Trang 28giá trị chân chính mà đời văn cần theo đuổi!
1.2.2 Quan niệm sống và quan niệm nghệ thuật
Quan niệm nghệ thuật về con người của ông có gì độc đáo? Hồ Dzếnh luôn nghĩ về con người với phần thiên lương cao đẹp Họ dù cho chỉ là những con người bình thường, nhỏ bé; có số phận bất hạnh đáng thương, nhưng ở họ luôn có đầy đủ những tính cách đáng trọng Những người phụ nữ như mẹ ông, chị Yên, chị Đỏ Đương hay người chị dâu Trung Hoa đều lấp lánh bản tính nhẫn nại, hi sinh, yêu thương vô bờ Ông quan niệm “con người ta thất bại mà không ngã lòng, mất mát mà không hoảng hốt, bị phản bội mà không thù hận, thậm chí có khi sa đà, hư hỏng mà vẫn gợi được tình thương của mọi người”
Cái tài của Hồ Dzếnh cũng là ở đấy Tập truyện Chân trời cũ của ông không
khiến người ta choáng ngợp, hoảng hốt trước điều gì mới lạ; nhưng càng đọc càng hứng thú với cách “nhìn nhận” con người của ông Nhân vật nào cũng có nét đẹp riêng, có sức sống tiềm tàng, đáng nhớ Kể cả “hư hỏng” như em Dìn vẫn khiến độc giả thương cảm, xúc động Hoặc “sa đà” như anh Cả vẫn làm người đọc đau xót thay Kiểu vậy, Hồ Dzếnh không hề che giấu mặt xấu của con người; nhưng bao giờ, bao giờ ông cũng đặt niềm tin, sự lạc quan và cảm mến vào họ Có người cho rằng Hồ Dzếnh lãng mạn và yếu đuối, nhưng khi được hỏi, ông vẫn nói “Đó không phải là sự yếu đuối, mà là cái tình luôn giữ được trong con người Đó là sự kiên gan” (Theo ghi chép của Nguyễn Thị Ngọc Hải) [33, tr.25] Chắc hẳn thế, cái phần lãng mạn, yếu đuối trong tác phẩm của ông chính là cứu cánh cho những hiện thực đời sống vốn tối tăm, buồn nhạt Hồ Dzếnh thổi được làn gió rung cảm, sẻ chia với những phận người mà ông nhắc đến, phải thừa nhận đấy là thành công của ông trong sự nghiệp sáng tác văn học
Hồ Dzếnh trong nhiều bài phỏng vấn, tự bạch vẫn luôn cho rằng “được mang danh là nhà văn, tôi thấy thẹn thùng biết mấy” [33, tr.7] Không tự nhận
Trang 29mình là nhà văn, nhà thơ; cũng không nghĩ sáng tạo văn chương như là sự nghiệp của mình, vì thế với Hồ Dzếnh nghệ thuật vẫn luôn là “trò chơi vô tăm tích” (chữ dùng Phạm Thị Hoài) Đúng như lời ông tự bạch: “Do những tình
cờ của hoàn cảnh xô xát với cõi đời, chúng ta, để cố gắng nói ra nỗi lòng u kín, đã nghiêng về cuộc sống bên trong” [8, tr.11] “Cuộc sống bên trong đó” chắc hẳn là những trang văn, trang thơ, những “thủ thỉ” rất thành thật và hồn nhiên của tác giả “Năm ấy tôi mới 22 tuổi, chưa có ý định triết lý nào cả để làm một nhà văn Tôi chỉ chép lại những điều mắt thấy tai nghe, về số phận trôi dạt của những con người mà tôi đã chứng kiến và đã làm tôi xúc động” [33, tr.7] Như vậy, có thể xem cách viết chân, viết thật chính là quan niệm nghệ thuật chủ đạo của Hồ Dzếnh Lẽ dĩ nhiên, chất liệu cuộc sống một khi vào trang văn, trang thơ sẽ phải đi qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ, hiện thực chỉ còn là hiện thực kí ức Tuy nhiên, với Hồ Dzếnh, nghệ thuật dường như là nơi lưu giữ trọn vẹn những kí ức chân thực của ông: “Nhân vật, hoàn cảnh, cả đối thoại, tất cả đều được viết lại đúng những gì tôi còn giữ trong trí nhớ” Đấy cũng là lí giải cho những trang viết thấm đẫm màu sắc hoài niệm trong sáng tác Hồ Dzếnh Ông ít viết về hiện tại và tương lai, mà chủ yếu nhớ về một thời quá vãng với cảnh cũ người xưa Hệt như đời sống lặng lẽ của mình, Hồ Dzếnh viết văn, làm thơ không để chỉ bảo ai điều gì, không để phê phán cái gì, chỉ là “Tác giả đã đau khổ trong cuộc sống: và chúng ta nhận thấy ông ưa thích quay về dĩ vãng, để lại khiến những đau khổ
cũ trở dậy và thêm sắc mắc hơn Cho nên những chuyện ông kể cho chúng ta nghe đều có một màu sắc riêng, đều nhuộm một tiếc hận thấm thía Ông chỉ
kể những chuyện ấy thôi, nhưng mà đủ có mực thước để khởi thành ra phô phang, và cũng đủ rung động để độc giả cảm thấy sự thành thực, sự “đã sống” của những chuyện đó” [8, tr.6] Như vậy, Hồ Dzếnh chỉ với sở trường dĩ vãng
và chân tài của mình đã tạo nên ma lực ngân nga rất lâu trong tâm trí người
Trang 30đọc Cái ma lực ấy là do chất tâm hồn, chất nghệ sĩ ở ông tạo nên Và giá trị tác phẩm của ông nằm ở sự tiếp nhận, chia sẻ của bạn đọc
Ở bài tham luận Vài ý nghĩ của tôi trong khi sáng tác, Hồ Dzếnh có bộc
lộ quan niệm của mình về việc viết văn, về nghề văn Ông cho rằng “mỗi nhà văn có một lối sáng tác riêng Tôi thì chỉ viết được khi nào đề tài hợp với tôi nhất, hợp với bản chất cấu tạo của tôi Nếu nhân vật đề tài có chiều giống với nhân vật tôi đã ấp ủ trong lòng, thì không còn gì sung sướng hơn nữa” [33, tr.277] Quan điểm này một lần nữa khẳng định sự “cầu kì” cần để viết của nhà văn họ Hồ Nhất thiết phải có được đề tài hợp, phải có được nhân vật mà mình ấp ủ thì mới sáng tác được tác phẩm ưng ý Bên cạnh đó, ông cũng tỏ bày thêm về cảm thức hoài niệm thường xuất hiện trong thơ văn ông: “tôi có thể nói rằng hình ảnh bắt sâu từ kỉ niệm có một quan hệ mật thiết với cuộc đời sáng tác của nhà văn” [33, tr.278] Kể từ khi trưởng thành Hồ Dzếnh dường như chỉ còn sống bằng kí ức, bằng dĩ vãng Ông thấy mình bơ vơ ngay trong cuộc sống của mình nên luôn “lưu luyến một cái gì xa quá, hư huyền quá”
Đó cũng chính là lí do ông hoài niệm không thôi trong thế giới nghệ thuật của mình Viết về dĩ vãng bao giờ cũng là một sự khó khăn, bởi những điều ta ngẫm nghĩ chưa có đủ thì giờ lắng xuống và thêm bền chặt, nhất là khi ta viết
ra cho mọi người Tuy vậy, Hồ Dzếnh đã vượt qua nỗi khó khăn đó và theo đuổi nhiều mảng kí ức gây xúc động Chỉ dăm bảy chân dung, kéo theo những năm tháng cuộc đời họ cũng đủ giúp ta nhìn ra xã hội xưa với đầy đủ tinh thần, hoàn cảnh của nó Văn Hồ Dzếnh luôn có cái quên mình đi để nhớ về những người mình cảm mến Còn thơ ông lại có cái quên đi nhân thế chỉ để vương vấn tâm tình Đó là những nét riêng trong quan niệm nghệ thuật của
Hồ Dzếnh
“Nếu nhập cuộc, nếu đi hẳn với nghề viết văn, ông cũng có thể ngang ngửa như bất cứ ai Nhưng không, do một sự xui khiến huyền bí nào đó, ông
Trang 31không chọn con đường vạch sẵn ấy Luôn luôn Hồ Dzếnh đứng cách nghề văn một khoảng cách cần thiết … Lúc nào ông cũng có một nghề khác để kiếm sống và chỉ viết văn làm thơ theo sự bức xúc của nội tâm và thích thú của từng lúc” [33, tr157] Nói Hồ Dzếnh không đi theo con đường văn chương chuyên nghiệp là không đúng, bởi ông làm việc rất nghiêm túc, có đôi lúc còn cầu kì trong nghệ thuật Nhưng sống bằng nghề viết, viết nhiều và xuất bản liên tục thì không phải Hồ Dzếnh viết văn hay làm thơ đều chỉ tuân theo mạch cảm xúc của tâm hồn Bởi vậy mà văn thơ Hồ Dzếnh rất đỗi trữ tình, từng truyện ngắn, từng bài thơ chính là từng sự rung động hoặc vui thích, hứng khởi của nhà văn Thế giới nghệ thuật của ông không bị cái xơ cứng cảm xúc của người viết nhiều, cũng không bị cái non tay của người ít viết, văn thơ ông chừng mực nhưng đủ đầy Có lần khi nhà nghiên cứu Văn Tâm hỏi Hồ Dzếnh “Khi nào thì anh viết”? Hồ Dzếnh đã chẳng suy nghĩ lâu mà trả
lời luôn - “Tôi chỉ viết khi nào tôi hối hận” Sự hối hận mà nhà văn Chân trời
cũ muốn nói ở đây có phải chăng là sự bứt rứt khi ông hoài niệm, mỗi lần nhớ
lại là một lần đau đớn, áy náy đó không? Tuy nhiên, chuyện viết ít hay nhiều, thành danh hay không, xưa nay trong lịch sử văn học cũng đã có quy luật Hoặc là người nghệ sĩ phải viết nhiều, đóng góp nhiều, có phong cách nghệ thuật riêng thì tài năng nở rộ Hoặc là người nghệ sĩ ngỡ như kẻ sống lơ đãng, viết rất ít, cả đời thơ văn chỉ thu gọn trong một hai tập sách con con; song, chỉ thế thôi mà sống được mãi trong lòng bạn đọc thì xem như anh ta thuộc về hiện tượng “quý hồ tinh, bất quý hồ đa” Hồ Dzếnh hiển nhiên thuộc vào loại nghệ sĩ lơ đãng như thế PGS.TS Trần Hữu Tá thì cho rằng: “Hồ Dzếnh cũng
có cái hạnh phúc được người đọc yêu và nhớ, dù ông viết không nhiều, vì ông
có được tiếng nói nghệ thuật riêng” [2]
Trong truyện ngắn Chú Nhì, có đoạn bàn về thi sĩ, ông quả quyết “Tôi
không tin, mấy cũng không tin rằng con người hóc hiểm như thế lại có thể là
Trang 32một thi sĩ được Thi sĩ, tôi đoán những người ấy phải hiền lành, ngây ngô và liều lĩnh” [8, tr.59] Với Hồ Dzếnh, người nghệ sĩ phải là người có trái tim
thật hiền để yêu thương hết thảy, có sự ngây ngô để hào hứng đón đợi mọi thứ, và hẳn nhiên phải có cả sự liều lĩnh để tin tưởng, để viết ra những điều mới mẻ Chỉ chừng ấy thôi theo ông là đủ, và hoài bão của ông cũng chỉ “làm sao viết được những trang văn trong sáng và nhuần nhị” Còn trong một tác phẩm khác, ông lại cho rằng đau khổ mới chính là điều cốt yếu để thúc đẩy
ngòi bút của nhà văn: “Tôi là một người ích kỉ nhất, vì tôi viết văn Vì tôi đi
lên những cái đau khổ của người khác để làm nảy ra cái đau khổ của tôi, và dùng nó làm cái bàn đạp đưa mình lên sự nổi tiếng” [8, tr.167] Trong văn
xuôi trước cách mạng tháng Tám, nhiều nhà văn đã viết về nỗi khổ của sự đói
ăn, bị miếng cơm manh áo ghì sát đất; nỗi khổ do ách áp bức bóc lột của quan
lại và địa chủ Chân trời cũ của Hồ Dzếnh viết chủ yếu về nỗi buồn thế sự của
con người Những nỗi niềm đau khổ của người khác thật sự làm Hồ Dzếnh
bận lòng, đôi khi ông còn kéo nó trở thành nỗi đau khổ của mình “Tôi là
người biết cảm sầu rất sớm, nên người đàn bà xa lìa quê hương ấy đã là cái
đề cho tôi khóc bằng thơ để làm ố hoen cả một buổi bình minh đáng lẽ rất tươi đẹp” [8, tr.37]
Hồ Dzếnh quan niệm về con người rất nhân văn nên quan niệm của ông
về nghệ thuật cũng sâu lắng tình người Tác phẩm của ông rất trữ tình, đằm thắm; nhưng chất chứa sau đó là biết bao suy ngẫm, triết lí về thân phận con người Hồ Dzếnh xuất hiện trong bối cảnh lịch sử xã hội và văn học có nhiều biến thiên, phức tạp nhưng ông không tham dự vào trào lưu, khuynh hướng văn học nào Chỉ bằng chân tài, tấm lòng đa cảm và nhiều trải nghiệm kí ức,
Hồ Dzếnh đã tạo dựng được tên tuổi của một con người Minh Hương trên đất nước Việt
Trang 33CHƯƠNG 2
NHỮNG “CHÂN TRỜI” CẢM THỨC HOÀI NIỆM TRONG
SÁNG TÁC HỒ DZẾNH
2.1 THƯƠNG NHỚ TỪ CHÂN TRỜI CŨ ĐẾN QUÊ NGOẠI
Quê hương bao giờ cũng là cái nôi của mỗi đời người Đó là nơi ta sinh
ra, nơi nuôi dưỡng tâm hồn ta những ngày thơ ấu, và là nơi dẫn lối ta về Chính vì thế, hoài niệm về quê hương dường như không còn là điều xa lạ Với
Hồ Dzếnh - người con mang trong mình tinh hoa của hai dòng máu Hoa - Việt; thì quê hương chính là cả hai nơi chốn ấy Điều khác biệt trong thế giới hoài niệm của ông là những ẩn ức trong thẳm sâu tâm hồn Có phải chăng vì lòng yêu mến, thương nhớ đối với hai quê mà cảm thức hoài niệm ở Hồ Dzếnh dường như được bộc lộ rõ nét hơn, sâu lắng hơn? Hình ảnh quê hương trong kí ức của ông cứ trở đi trở lại nhiều lần trên cả những trang văn và thơ, tạo nên một nguồn mạch cảm thức hoài niệm có sức lay động người đọc
Tập truyện Chân trời cũ và tập thơ Quê ngoại đều ra đời năm 1942 Nếu coi Chân trời cũ như là nỗi nhớ về quê cha thì tập thơ Quê ngoại chính là
minh chứng cho sự gắn bó, thương yêu của Hồ Dzếnh đối với quê Việt Với những tình cảm chân thành như thế, cả hai tác phẩm đều trở thành danh tác trong làng văn và làm nên tên tuổi cho con người Minh Hương ấy Ở mỗi thiên truyện, ở mỗi bài thơ đều chất chứa nỗi lòng tưởng nhớ quê hương quay quắt, da diết của tác giả
2.1.1 Ẩn ức chân trời Trung Hoa
Nhiều bạn đọc đã nhận ra từ tác phẩm, Hồ Dzếnh tuy hai quê nhưng lại
luôn mang ẩn ức "thiếu quê hương" Cảm giác thiếu quê hương nó đã đeo
bám cả đời thơ văn Hồ Dzếnh, tạo nên một niềm khắc khoải, một hoài niệm
Trang 34nhớ thương cho thế giới nghệ thuật của ông Trung Hoa là quê cha, cố quận của ông; một quê hương thực còn nhưng vẫn quá đỗi xa xôi nên dần trở thành
kí ức, thành kỉ niệm trong tưởng tượng mà nhói đau Bởi vậy giây phút nào
Hồ Dzếnh dường như cũng mơ tưởng đến mà chưa một lần đặt chân về được;
cho nên: “Trùng dương bật ra trong óc tôi, với cảnh dặm trường xa cách” [8,
tr.86] Đất nước và văn hóa Trung Hoa nhiều lần được ông nhắc đến trong sáng tác, nhưng hẳn nhiên đó chỉ là những hiểu biết của tác giả qua lời kể từ cha ông Bởi vậy, đôi lúc không tránh khỏi mặc cảm lưu lạc, khiến Hồ Dzếnh
ở nơi chốn này nhưng lại luôn nhớ về cố hương, và không nguôi cảm thức
hoài niệm: "Lòng tôi nghe vang một thứ gió âm u của miền sa mạc Mông Cổ,
trôi qua Thiểm Tây, Cam Túc, luồn vào những khu rừng không tên của hai tỉnh Lưỡng Quảng, vượt trùng dương, sang tôi, như tiếng thở dài não nùng của những linh hồn phiêu bạt Không hiểu sao, lòng tôi rưng rưng Có cái
gì, cái gì xao xuyến, huyền ảo, đã khiến tôi bâng khuâng, và tôi nhận ngay trong đó tình yêu giống nòi, gia đình, hòa lẫn với tình yêu đất nước” [8,
tr.62] Lòng thương nhớ quê cha cứ như dòng máu ấm nóng chảy trong huyết mạch của Hồ Dzếnh Tình cảm ấy mới tự nhiên, trong sáng và cảm động xiết bao!
Trong niềm ẩn ức hoài niệm ấy, thơ văn Hồ Dzếnh hay nhắc đến những địa danh nổi tiếng, những điển tích quen thuộc làm nên đất nước Trung Hoa như mọi người biết, tuyệt nhiên không có kỉ niệm gì riêng biệt của ông cả Vũ Bằng trong bài nghiên cứu của mình đã viết: “Chỉ là một nỗi niềm ly hương không rõ nét, vì ngoài huyết thống, Hồ Dzếnh không có tiếp nhận gì trực tiếp của quê cha Buồn là buồn Tư Mã, nhớ là nhớ Chiêu Quân Thế thôi, chứ còn biết nhớ buồn vào đâu nữa" [5]
Buồn Tư Mã, Nhớ Chiêu Quân Nét hoa thấp thoáng ý thần đê mê
Trang 35(Đợi thơ)
Hồ Dzếnh "ly hương" ngay từ lúc nằm trong bụng mẹ, xa quê ngay từ lúc chưa sinh ra, thế nên đối với đất Tàu làm sao không xa xôi cho được Thế nhưng, lòng nhớ thương tưởng như ước lệ thôi, vậy mà thực cũng sâu sắc lắm Tình cảm ông dành cho Trung Hoa là hiện hữu, chân thành Những câu thơ nghĩa tình với đất Tàu cứ dạt dào trong thế giới nghệ thuật của Hồ Dzếnh:
Mây ơi có tạt về phương Bắc Chầm chậm cho ta gửi mấy lời
Từ thuở ly hương ta vẫn nhớ Nhưng tình xa lắm gió mây ơi
(Tư hương) Cũng chính Vũ Bằng lại rất trân trọng nỗi nhớ quê của Hồ Dzếnh: "Hồ Dzếnh có đọc cho tôi nghe một bài thơ tả sự thương nhớ quê hương mà anh bảo là quê nội của anh, nhưng riêng tôi thì tôi cho là quê hương của tất cả chúng mình nói chung" [5] Cũng cùng ý đó, trong bài viết “Hồ Dzếnh, nhà văn của những yêu thương” có đoạn: “Tôi không biết đêm đêm lòng ông có
như vó ngựa quá quan không, nhưng khi đọc Tô Châu lớp lớp phù kiều /
Trăng đêm Dương Tử, mấy chiều Giang Nam (Đợi thơ) thì bỗng thấy như
chính mình đang nhớ, không hẳn là nỗi nhớ quê mà một cái gì còn rộng rãi thiết tha hơn thế Nó có một tình yêu sâu không cần nói đến yêu, đến nhớ, có
một khát vọng lặng thầm mà day dứt” [33, tr.35]
Có được sự đồng cảm từ bạn đọc là nhờ bởi chân tài, chân tình của Hồ Dzếnh Với tình cảm mộc mạc của mình, ông chỉ viết về quê nội của riêng ông mà lại khiến nhiều người xúc động, chỉ viết những kỉ niệm tưởng hời hợt
mà lại đủ khơi gợi cả một trời văn hóa Trung Hoa Thiết nghĩ, hơn cả ẩn ức
“thiếu quê hương”, tận sâu ở Hồ Dzếnh còn là khát khao được nhớ đến quê, được gắn bó với quê cha qua hoài niệm, để tin chắc rằng mình còn nguyên
Trang 36dòng máu Trung Hoa Trong kí ức của ông, ngày còn nhỏ, Hồ Dzếnh thường
thấy cha hay “ngồi ngó ra khoảng cao rộng lâu hàng giờ không nói và thỉnh
thoảng gợi về cho tôi, bằng những câu chuyện kín đáo hơn tiếng thở dài của người, cả một xứ Trung Hoa bí mật, cái tình yêu tiềm tàng trong tôi âm thầm như một niềm đau xót” (Trong bóng rừng) Cũng có lẽ vì thế, trong hoài niệm
của Hồ Dzếnh vẫn không nguôi những hình bóng quê nhà, không chỉ với cảm xúc nhớ thương mà đôi khi còn xen lẫn cả một chút tự hào cao ngạo Ví như:
"Khách mặc một bộ quần áo bằng lĩnh Quảng Đông, nguyên màu đen, nhưng
sau khi trải nhiều phong trần, đã đổi sang màu xám kệch Y phục ấy gợi được trong lòng người gặp, bao nhiêu cảm giác thanh tú, hương vị xa xôi Linh hồn Trung Quốc phát lộ ra trong từng bước đi, điệu đứng, trong sự trầm mặc, trông tìm " [8, tr.17] Hay trong bài thơ Giang Tây cũng vậy, mượn lời nhân
vật chị dâu người Trung Hoa, nhà thơ viết:
Ôm tôi chị bảo luôn rằng:
Chấp trăm Hà Nội chưa bằng quê ta
Giang Tây hồ đất bao la Non ngây nước tóc, màu da rợn trời
Quan hà từ nhắp li bôi, Lòng đau nhớ nước qua người chị dâu
(Giang Tây)
Tuy vậy, người đọc cũng có thể cảm thông phần nào với tâm trạng ấy, khi nghe Hồ Dzếnh có lần thổ lộ: “Dòng máu Trung Hoa đến tôi không còn nguyên vẹn nữa Nhưng đó là dòng máu của cội nguồn, quê cha” Ở đây,mặc cảm thân phận lưu lạc “thiếu quê hương” khiến cho cả thơ và văn của Hồ Dzếnh luôn chất chứa một nỗi nhớ mơ hồ tựa như “màu chiều” sương khói,
bàng bạc cả không gian
Tôi là người lữ khách
Trang 37Màu chiều khó làm khuây Ngỡ lòng mình là Rừng Ngỡ hồn mình là Mây Nhớ nhà châm điếu thuốc Khói huyền bay lên cây
(Chiều) Cũng vì đó, vọng vào thơ ông những tiếng trầm mặc, u hoài của những câu thơ gọi dậy cả nghìn xưa của đất nước quê cha:
Tôi nhớ màu quê khát gió quê Mây ơi ngưng cánh đợi ta về Cho ta trông lại từng xanh thẳm Ngâm lại bài thơ “Phương thảo thê”
Liễu Động Đình thơm chuyện hảo cầu Tóc thề che mướt gái Tô Châu
Bâng khuâng trăng sáng trời Viên Hán Một dải Giang Nam nước rợn màu
(Tư hương)
Lý giải cho tâm trạng ấy, ta hãy nghe Hồ Dzếnh thổ lộ: “tôi nghĩ đến cái
Tổ quốc Trung Hoa với những manh áo chàm giang hồ khắp tứ xứ, cái Tổ quốc mà tôi chưa từng biết bao giờ” [8, tr.29] Chưa từng biết nên rất muốn
biết, chưa từng biết nên hay nghĩ về, chưa từng biết nên không lúc nào nguôi; những cảm giác như thế ngập tràn trong sáng tác Hồ Dzếnh Phải chăng vì vậy mà cảm thức hoài niệm về quê hương của ông luôn luôn day dứt lòng người đọc nhiều thế hệ?
Nhớ thương bạc nửa mái đầu, Lòng nương quán khách, nghe màu tà huân
(Đợi thơ)
Trang 382.1.2 Sâu nặng tình yêu quê Việt
Việt Nam là quê mẹ của nhà thơ Nếu nỗi nhớ về quê cha là day dứt, khôn nguôi, đầy ẩn ức bao nhiêu, thì với quê mẹ, Hồ Dzếnh lại càng dành nhiều tình cảm gần gụi, yêu thương sâu nặng bấy nhiêu Nơi đây ông đã được cất tiếng khóc chào đời, được sữa mẹ nuôi dưỡng, được ăn hạt gạo uống dòng nước, thở hít khí trời và gắn bó với biết bao kỷ niệm Hồ Dzếnh đã từng ghi
lại trong hồi ức: "Ba tôi là nước Tàu, nước Tàu bí mật Lòng mẹ tôi mới thật
là cái địa hạt tình cảm của tôi" [8, tr.121] Hay như nhà phê bình Mai Thảo
đã nhận định “Từ tập truyện ngắn đầu tay Chân trời cũ đến tập thơ đầu tay
Quê ngoại, Hồ Dzếnh đã đi một chặng đường dài từ những hậu trường của kỉ
niệm và quá khứ phảng phất tiềm thức u minh ra những tiền trường là đất nước Việt Nam nhận làm quê hương mới có” [45] Việt Nam thật sự đã là quê hương thứ hai của con người Minh Hương này, dường như càng xa hút trong những hoài tưởng về quê nội, tâm tình Hồ Dzếnh càng dồn tụ về quê ngoại Việt Nam rất nhiều lần được nhắc tới trong cả thơ và văn của Hồ Dzếnh
Về thơ, ông dành hẳn tập Quê Ngoại để tặng cho nước Việt thương yêu
KÍNH DÂNG MẸ là lời đề từ cho tập thơ, cũng là minh chứng về tấm lòng tha thiết của ông đối với nước Việt Quê ngoại gắn liền với mẹ, với chị vậy nên hoài niệm về quê ngoại cũng chính là cách lưu giữ trọn vẹn tình thân với những người phụ nữ gắn bó nhất đời ông, đặc biệt là khi họ đã rời ông đi
Ngày xưa tôi sống vui êm Trong khu làng nhỏ kề bên sông đào
Chị tôi giặt lụa cầu ao, Trời trong, nắng ửng, má đào ghẹo duyên,
Tôi say nước thắm mây huyền Nước mơ dáng cũ, mây truyền tiếng xưa…
(Quê hương)
Trang 39Hồ Dzếnh sâu nặng tấm lòng quê Việt và ông thường hoài cổ, vọng tưởng về những ngày “cũ”, “xưa” Đó là những ngày “vui êm”, thanh bình của đời ông Được thỏa thích đắm mình với “trời trong”, “nắng ửng”, “mây huyền” của làng quê Việt Nam khiến người thi sĩ này “say” lắm, mê lắm mảnh đất Việt Nam này Ông thật sự rung động với vẻ đẹp bình dị của dải đất cần lao, của làng quê yên ả với tấm chân tình nơi mẹ, nơi chị, nơi những
người “chân đất” xung quanh ông: "Nếu vào những lúc bị phân chia trong
cảm tình như thế, có ai hỏi tôi yêu nước Nam hay nước Trung Hoa, thì tôi chỉ còn biết khóc! Tôi khó mà nói ra đây, cái tâm trạng phức tạp của một người mà huyết quản chứa đựng hai thứ tinh hoa, ngoài sự để cho lòng mình rung động, rung động đến tận cùng vì một tấm tình nghìn đời không có lời phân giải” [8, tr.119]
Thơ Hồ Dzếnh là thơ của niềm tâm cảm gờn gợn trong lòng, của nỗi nhớ mong về những cảnh thổ cũ, quê quán xưa.Nhớ quê ngoại ngay cả khi đang ở quê ngoại, nhớ tỉ mỉ, nhớ thanh cao như thế mới thực là điều đặc biệt làm nên cảm thức hoài niệm về quê hương trong sáng tác Hồ Dzếnh Văn thơ Hồ Dzếnh khi viết về quê Việt có nét mềm mại, duyên dáng, có chứa đựng sự am hiểu về phong tục, văn hóa, và dĩ nhiên có cả một khoảng trời kỉ niệm của riêng tác giả:
Làng tôi thắt đáy lưng… tre, Sông dài, cỏ mượt đường đê bốn mùa
Nhịp đời định sẵn từ xưa:
Ươm tơ tháng sáu, lên chùa tháng giêng
(Lũy tre xanh)
Quê em xa thẳm màu mây gió, Buồn vút không gian, mất định kì!
(Nước chảy chân cầu)
Trang 40Dù đôi ba lần Hồ Dzếnh có nhắc đến phố thị, có “dang díu với thị thành” nhưng chủ yếu thơ văn ông chỉ gợi kí ức về làng quê Việt Nam Trong thế giới nghệ thuật của mình, Hồ Dzếnh thường bị ấn tượng bởi những hình ảnh dung dị, thân quen nhưng đầy thi vị của quê kiểng, xóm làng Có lẽ chính điều đó đã làm nên sự chân thật, gợi cảm của thơ ông Ở điểm này, có nhiều ý kiến cho rằng thơ Hồ Dzếnh có nét gần với Nguyễn Bính Tuy nhiên, ngoài những “đê thắm, bướm vàng”, thì xem ra chút tình con con trong hai nhà thơ lớn này vẫn có nhiều điểm khác biệt Sự gặp gỡ ở chất liệu thi ca có thể làm cho thơ Nguyễn Bính và Hồ Dzếnh có nhiều điểm tương đồng Nhưng nếu thơ Nguyễn Bính dạt dào, khát khao, có phần bộc trực thì thơ Hồ Dzếnh lại lặng lẽ hơn, kín kẽ và nhiều ẩn ý hơn Đọc thơ hoài niệm của Hồ Dzếnh, người ta thường cảm thấy sự nuối tiếc, ngậm ngùi của ông thì thơ Nguyễn Bính lại nghiêng nhiều về thở than, trách móc, day dứt tình Có thể mượn bài
“Lỡ đò” của Hồ Dzếnh và “Tương tư” của Nguyễn Bính để làm rõ hơn đối sánh này (dù biết khó tránh được khập khiểng)
Trở lại với hoài niệm trong sáng tác Hồ Dzếnh, người viết cho rằng thương nhớ quê hương, cụ thể là tấm lòng sâu nặng với quê Việt quả thực là một trong những biểu hiện của cảm thức hoài niệm trong sáng tác Hồ Dzếnh Bởi lẽ, cứ lặp đi lặp lại trong cả thơ và văn của ông là cụm từ “nước Nam của tôi”, “hỡi vô cùng yêu dấu - nước ta ơi”, “lòng tôi thương sâu xa đất nước Nam”, “nước Nam yêu quý của tôi” Đó không chỉ là sự tự khẳng định sợi dây gắn bó của nhà thơ với đất nước Việt Nam, mà nó còn thể hiện sự khao khát khôn nguôi được xem quê hương Việt như là nơi chốn trở về của mình:
Trời trong đến nỗi không mây Cây im đến nỗi bóng đầy mặt sân Tôi về giữa xứ bâng khuâng Nghe thơ lục bát reo vần nhớ xưa