1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giãi pháp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại nhuyện lục nam tỉh bắc giang

132 932 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang
Tác giả Trương Văn Chương
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Nguyên Cự
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 4,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

trường đại học nông nghiệp I

Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp

Mã số : 60.31.10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Nguyên Cự

Hà nội - 2007

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một đề tài khoa học nào

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đ1 đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà nội, ngày 15 tháng 12 năm 2007 Người cam đoan

Trương Văn Chương

Trang 3

Lời cám ơn Sau một thời gian nghiên cứu, đến nay tác giả đ1 hoàn thành luận văn thạc sĩ Kinh tế nông nghiệp với đề tài: "Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Chính sách x hội đối với hộ nghèo tại huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang"

Tác giả xin trân thành bày tỏ lòng biết ơn đến với tất cả các thầy, cô giáo và đặc biệt là thầy cô giáo khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn trường

Đại học Nông nghiệp I đ1 tận tình dạy bảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Nguyên Cự, người đ1 tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tác giả xin trân thành cảm ơn tập thể cán bộ Ngân hàng Chính sách x1 hội huyện Lục Nam, Ban đại diện Hội đồng quản trị, Phòng nông nghiệp, Trạm khuyến nông, Phòng thống kê huyện Lục Nam đ1 nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các tập thể, các cá nhân, các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân đ1 giúp đỡ, động viên, khích lệ tác tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2007

Người cảm ơn

Trương Văn Chương

Trang 4

Mục lục

Lời cam đoan i

Lời cám ơn ii

Mục lục iii

Danh mục những từ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các biểu vi

3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 47

3.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng hộ sản xuất 59

4.1 Giới thiệu sơ lược về NHCSXH huyện Lục Nam 68

4.2 Tình hình kinh tế x1 hội tác động đến hoạt động tín dụng trên

4.3 Tình hình hoạt động tín dụng của NHCSXH Lục Nam 72

Trang 5

4.4 Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của NHCSXH huyện

4.4.1 Đánh giá chất lượng tín dụng từ phía người cho vay 74 4.4.2 Đánh giá chất lượng tín dụng từ phía người đi vay 80 4.4.3 Đánh giá chất lượng tín dụng trên phương diện x1 hội 90 4.4 Đánh giá thực trạng cho vay hộ nghèo của NHCSXH Lục Nam 95

4.4.2 Những mặt tồn tại trong công tác cho vay tín dụng 96 4.4.3 Nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng cho vay tín dụng 97 4.5 Đánh giá Thực trạng vay và sử dụng vốn của các hộ vay vốn 98

4.5.2 Những mặt tồn tại trong sử dụng vốn vay và vay vốn 99 4.5.3 Những nguyên nhân làm cho chất lượng sử dụng vốn vay chưa tốt 100 4.6 Phương hướng và mục tiêu của huyện Lục Nam về xóa đói, giảm

4.6.1 Phương hướng về phát triển kinh tế-x1 hội (2005-2010) 102 4.6.2 Một số mục tiêu về phát triển kinh tế-x1 hội (2005-2010) 102 4.7 Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng 103

4.7.3 Các giải pháp lồng ghép hỗ trợ hộ nghèo trong tiếp cận và sử

Trang 6

Danh mục các chữ viết tắt

NHCSXH Ngân hàng Chính sách x1 hội

T-DH Trung- Dài hạn

BĐDHĐQT Ban đại diện Hội đồng quản trị

OECD Các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế LĐTB&XH Lao động thương binh và x1 hội

GQVL Giải quyết việc làm

XKLĐ Xuất khẩu lao động

HSSV Học sinh sinh viên

Trang 7

4.6 Mức vay bình quân của các hộ nghèo/ lần vay 82

4.8 Cơ cấu cho vay theo nhóm đối t−ợng vay vốn 91

Trang 8

Danh mục các biểu đồ

Trang 9

Danh mục các ảnh 4.1 Gia đình vay vốn về sửa nhà ở x1 Bảo Sơn, 2006 874.2 Gia đình vay vốn về chăn nuôi bò ở x1 Bình Sơn, 2006 894.3 Gia đình vay vốn về chăn nuôi trâu ở x1 Đan Hội, 2006 90

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

ở nước ta, đói, nghèo vẫn đang là vấn đề kinh tế-x1 hội bức xúc Xóa

đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn luôn được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là mục xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế-x1 hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển đất nước theo định hướng x1 hội chủ nghĩa

Trong gần 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn nước ta, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đ1 đạt được thành tựu

đáng kể, có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, chính trị, x1 hội, và an ninh- quốc phòng, phát huy được bản chất tốt đẹp của dân tộc ta và góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước bền vững Tỷ lệ hộ nghèo đ1 giảm nhanh trong khoảng thời gian 5 năm từ 17,2% năm 2001 với 2,8 triệu hộ xuống còn khoảng 7% với 1,1 triệu hộ đên cuối năm 2005 "Những thành tựu trong giảm nghèo của Việt Nam đ1 là một trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế" mà Ngân hàng thế giới đ1 đánh giá trong "Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004"

Chống đói nghèo là một cuộc chiến đấu lâu dài và quyết liệt Mặc dù

đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn luôn ưu tiên giành nguồn lực để xóa đói giảm nghèo; đồng thời thực hiện cam kết với cộng đồng quốc tế về việc thực hiện các chỉ tiêu thiên niên kỷ Một trong những quyết tâm đầu tư của Nhà nước cho xóa đói, giảm nghèo phải kể đến

sự ra đời của Ngân hàng Chính sách x1 hội, đây có thể coi là "người cứu tinh" của người nghèo Từ khi ra đời, từ đồng vốn vay với l1i suất ưu đ1i đ1 giúp cho hàng triệu hộ đ1 và đang thoát nghèo

Trang 11

ở Lục Nam, một huyện miền núi nghèo của tỉnh Bắc Giang, nơi có tỷ

lệ hộ nghèo cao (39 % năm 2006), đời sống nhân dân còn rất nhiều khó khăn, với tư cách là người bạn đồng hành của người nghèo, trong những năm qua, NHCSXH đ1 và đang là kênh chuyển tải vốn chủ yếu đến hộ sản xuất có hoàn cảnh khó khăn trong huyện, góp phần tạo công ăn việc làm giúp nông dân làm giàu chính đáng bằng nội lực từ các hộ Tuy nhiên do tính chất phức tạp của hoạt động này, món vay nhỏ lẻ, địa bàn hoạt động rộng nên việc cho vay hộ sản xuất gặp nhiều khó khăn Vì vậy, thực tế hiện nay nhiều chi nhánh NHCSXH gặp khó khăn trong hoạt động tín dụng đối với loại hình này, chất lượng tín dụng còn nhiều vấn đề chưa tốt NHCSXH Lục Nam cũng không tránh được khó khăn này khi mà khách hàng có quan hệ với Ngân hàng đa số là các hộ nông dân nằm trong diện chính sách

Với ý nghĩa đó, đề tài: “ Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Chính sách x hội đối với hộ nghèo tại huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang” là thực sự cần thiết để nâng cao chất lượng tín dụng

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói và vai trò tín dụng trong quá trình xóa hộ đói giảm hộ nghèo

- Phản ánh thực trạng hoạt động tín dụng của NHCSXH huyện Lục Nam,

đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng đối với hộ nghèo góp phần thực hiện chiến lược xóa đói giảm nghèo của huyện

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của NHCSXH đối với hộ nghèo tại huyện Lục Nam thời gian tới

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo trong quá trình xóa đói, giảm nghèo 1.4 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian:Trong địa bàn huyện Lục Nam từ năm 2004 - 2006

Trang 12

điều kiện cùng cực của sự nghèo khó Các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế gọi tắt là OECD có mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 20 ngàn đô-la một năm nhưng lại có khoảng 100 triệu người sống trong nghèo khổ Hiện nay, số người nghèo đang ngày càng tăng lên ở Anh, Mỹ, Pháp

và một số nước tư bản phát triển khác Theo thống kê của OECD, trong vòng 20 năm trở lại đây, tỷ lệ nghèo khổ ở Mỹ luôn dao động ở con số 13%

Còn ở các nước đang phát triển, đói nghèo là tình trạng khá phổ biến ở nông thôn với những mức độ khác nhau Nghèo là vấn đề kinh tế - x1 hội phức tạp, đa phương diện và không thuần tuý chỉ là vấn đề kinh tế, cho dù th-

ước đo của nó trước hết và chủ yếu dựa trên thước đo về kinh tế mà được thể hiện ra là chỉ số thu nhập hoặc tiêu dùng Điều này có nghĩa, nghèo không chỉ phản ánh sự thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu phương tiện sản xuất và sinh hoạt mà còn phản ánh sự thiệt thòi trên bình diện sức khoẻ, giáo dục, địa vị x1 hội, tiếng nói

Hiện nay, Việt Nam đ1 thừa nhận khái niệm nghèo do Hội nghị chống

đói nghèo khu vực Châu á-Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9 năm 1993 đưa ra

Theo đó, nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được

Trang 13

hưởng và không có khả năng thoả m1n các nhu cầu cơ bản của con người (ăn, mặc, ở, nhu cầu văn hoá, y tế, giáo dục và giao tiếp) để duy trì cuộc sống, mà những nhu cầu này đ1 được x1 hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh

tế và phong tục tập quán của địa phương

Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện tại nơi đang xem xét

Khái niệm nghèo mà luận văn dùng để nghiên cứu tập trung vào nghèo tương đối và được đo lường bằng mức chuẩn nghèo chung do Bộ LĐTB&XH phối hợp với Tổng cục Thống kê Việt Nam đề ra Chuẩn nghèo chung bao gồm nghèo về lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm được xác

định dựa trên cơ sở: tổng chi phí bằng tiền đủ mua một lượng lương thực, thực phẩm cần thiết để đảm bảo năng lượng 2.100 ca-lo mỗi ngày cho một người, cộng với chi phí tối thiểu các mặt hàng lương thực, thực phẩm như: nhà ở, quần áo, đồ dùng gia đình, đồ dùng giáo dục, y tế, văn hoá Mức chuẩn nghèo này khác nhau giữa nông thôn và thành thị và được tính cụ thể cho từng thời

kỳ khác nhau

Dựa trên khái niệm và chuẩn nghèo này, người nghèo ở đây sẽ được

định nghĩa như sau: Người nghèo là những người có mức thu nhập và chi tiêu không đủ để đảm bảo giỏ tiêu dùng (gồm lương thực và phi lương thực, trong

đó chi tiêu cho lương thực phải đủ đảm bảo 2100 calo) và có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng trên mọi phương diện tại nơi đang xem xét Họ thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế-x1 hội của quốc gia, đặc biệt họ thiếu khả năng tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực của sự phát triển một cách

Trang 14

là thiếu tài sản Thiếu tài sản vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của tình trạng nghèo khổ Tài sản này tồn tại dưới các dạng như: tài sản con người đó

là khả năng có được sức lao động cơ bản, kỹ năng và sức khoẻ; tài sản tự nhiên như đất đai; tài sản vật chất như tiếp cận được đến những cơ sở hạ tầng; tài sản tài chính như tiết kiệm và tiếp cận được vốn vay; tài sản x1 hội như các mối quan hệ và trách nhiệm đối với nhau để khi cần có thể nhờ cậy và ảnh hưởng chính trị đối với các nguồn lực

Tuy nhiên, có những người có tài sản, có nghĩa là khả năng bị tổn thương ít, nhưng do năng lực thấp kém, họ không biết dùng tài sản đó để tạo

ra thu nhập cho bản thân Vì thế, việc sở hữu tài sản chỉ là một khía cạnh Yếu tố quan trọng là khả năng sử dụng tài sản đó như thế nào? để tạo ra hàng hoá, tạo ra thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống

Trên phương diện x1 hội, nghèo phản ánh trình độ kém phát triển về mặt x1 hội của mỗi quốc gia, mỗi cá nhân và khả năng tham gia các dịch vụ y

tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng vật chất và x1 hội của mỗi cá nhân rất hạn hẹp Sức khoẻ yếu, năng lực kém, thiếu khả năng tiếp cận các dịch vụ và cảm giác tự ti vì x1 hội không quan tâm cũng phản ánh sự khốn cùng của tài sản cá nhân

Vì thế, dưới góc độ về kinh tế -x1 hội hay chính trị, nghèo là do con người thiếu sự lựa chọn và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế-và x1 hội của quốc gia, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế ở đây, khả năng lựa chọn

và năng lực tham gia là hai nhân tố quan trọng quyết định quá trình phát triển của mỗi một quốc gia, vùng miền, hộ gia đình và cá nhân người lao động

Trong giai đoạn phát triển hiện nay ở Việt Nam, thị trường và cơ chế thị trường đ1 đặt ra những yêu cầu liên quan tới sự phát triển kinh tế-x1 hội

mà mỗi cá nhân người lao động phải đáp ứng Chính vì khả năng đáp ứng đó với những mức độ chênh lệch khác nhau, những sự khác biệt về nhiều mặt giữa các cá nhân trong hoạt động sản xuất kinh doanh đ1 diễn ra và được

Trang 15

phản ánh ở kết quả của nó là hiện tượng phân hoá giàu nghèo Kinh tế thị trường đ1 mở ra nhiều khả năng cho con người phát triển, cung cấp cho con người những phương án lựa chọn, đồng thời nó cũng bộc lộ những yếu kém, bất cập của con người trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, bắt con người phải có sự nỗ lực rất cao để khắc phục

Nền kinh tế thị trường đ1 làm cho tình trạng phân hoá giàu nghèo càng thêm sâu sắc Bộ phận dân cư nghèo đa phần tập trung ở nông thôn, lúc này lại càng khó thâm nhập vào kinh tế thị trường, cũng như khó tiếp cận các nguồn lực của kinh tế thị trường do năng lực yếu kém không đạt được những yêu cầu đặt ra của kinh tế thị trường so với nhóm những người giàu Chính vì thế, nghèo trong giai đoạn hiện nay ở nông thôn Việt Nam là nghèo trong tiến trình phát triển chung của cả nước

Như vậy, bản chất đa phương diện của nghèo sẽ giúp chúng ta hiểu sâu về những nguyên nhân của nghèo đói Từ đó chỉ ra rằng, muốn nâng cao khả năng tiếp cận của người nghèo tới các nguồn lực của thị trường đặc biệt là nguồn lực tín dụng để giúp giảm nghèo thì vấn đề là phải có một tập hợp toàn diện hơn các giải pháp hỗ trợ và lồng ghép ngoài giải pháp trực tiếp về tín dụng

2.1.1.2 Nghèo với nguồn lực vốn tín dụng: Quan điểm tiếp cận nghèo của Amartya Sen

ở hầu hết những nước đang phát triển, đặc biệt là ở nông thôn, nghèo

là hiện tượng phổ biến và thường diễn ra với nhiều lý do phức tạp Theo Sen

và một số nhà khoa học khác như Nolan và Devewexu, thì nghèo không chỉ

đơn giản là vấn đề giảm tổng số phúc lợi trên đầu người và nó không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nghèo khổ của con người Sen đ1 đưa ra một sự giải thích sâu sắc hơn về những điều đ1 xảy ra đối với vấn đề nghèo khổ và lý giải tại sao mọi người (đặc biệt những người sống ở nông thôn và phụ thuộc vào nông nghiệp) lại thường lâm vào cảnh nghèo

Trang 16

Cách tiếp cận của Sen chỉ ra rằng, khi phân tích vấn đề nghèo khổ và những vấn đề khác, chúng ta nên nhìn vào “endowment” (tài sản có sở hữu)

mà mọi người có khi tham gia vào thị trường, có nghĩa là nhìn vào

“entitlement” (quyền sử dụng hay cách thức tiếp cận và kiểm soát tài sản đ1

sở hữu) Đây là một cách tiếp cận mới của Sen và còn gọi là cách tiếp cận

‘entitlement” Cách tiếp cận này tập trung vào khả năng mà con người đạt

được một giỏ hàng hoá thông qua việc tiếp cận, kiểm soát hay sử dụng các nguồn lực sản xuất Nói cách khác, cách tiếp cận này tập trung vào

“entitlement” của mỗi con người đối với một giỏ hàng hoá và xem xét nghèo như là kết quả của một sự thất bại về “entitlement” Ben Crow (1992) chỉ ra rằng, cách tiếp cận này dường như đưa ra một sự giải thích đầy đủ và thoả

đáng hơn về nguyên nhân của nghèo khổ cũng như mối quan hệ giữa nguồn lực sản xuất và nghèo khổ Cách tiếp cận của Sen xác định hai đặc tính cơ bản của “endowment” và “entitlement”, và nó đề cập đến cách thức tiếp cận và sử dụng các nguồn lực sản xuất để tạo ra hàng hoá

Theo Sen, “endowment” có quan hệ trực tiếp tới quyền sở hữu tài sản

và sức lao động của mỗi con người Nói một cách khác, “endowment” là những tài sản có sở hữu và khả năng của mỗi con người mà họ có thể sử dụng

để tạo ra “entitlement” đối với hàng hoá Tài sản có thể nằm dưới nhiều dạng khác nhau: tiền mặt và những tài sản tài chính khác; tài sản sản xuất như đất

đai, thiết bị, nhà xưởng ; tài sản nhà ở, tài sản nằm dưới dạng hàng hoá tiêu dùng lâu bền và các kho thực phẩm hoặc những sản phẩm khác,v v Ngoài

ra, khả năng làm việc, sức lao động cũng được coi là một dạng tài sản quan trọng đối với quyền riêng của con người

“Entitlement”, theo Sen đó là sự tiếp cận và sử dụng hay kiểm soát mà mỗi con người có thể đạt được đối với hàng hoá theo hai cách: 1) Sử dụng những nguồn lực riêng của họ bằng con đường sản xuất trực tiếp hay 2) Sử dụng chúng để trao đổi, mua và bán trên thị trường Nói cách khác, một giỏ

Trang 17

hàng hoá được lựa chọn mà qua đó con người có thể tạo ra cách thức để tiếp cận đối với chúng thông qua việc sử dụng các nguồn lực “ endowment” sẽ

được gọi là “entitlement” của người này

Trên thực tế, một số người có thể có tài sản và có sức lao động, nghĩa

là có “endowment”, nhưng họ sẽ không có “entitlement” nếu những tài sản

đó không thể được bán, trao đổi, sử dụng hoặc nếu việc làm của họ không

được trả công để từ đó giúp họ có thể có được hàng hoá

ở đây “entitlement” là những dạng kiếm sống hay những mối quan hệ qua lại mà đưa ra cách thức tiếp cận và kiểm soát “endowment” để có được một giỏ hàng hoá Sen phân biệt hơn nữa những dạng khác nhau của

“entitlement” “Entitlement” trực tiếp là thông qua sản xuất và tiêu dùng riêng của con người để có được hàng hoá; “entitlement”thương mại là thông qua việc bán sản phẩm hàng hoá mà có được một giỏ hàng hoá thích hợp khác và “entitlement”trao đổi là sự đạt được hàng hoá thông qua việc bán sức lao động

ý tưởng về “entitlement” bao hàm những mối quan hệ x1 hội cả về sản xuất lẫn trao đổi và chúng không liên quan trực tiếp đến mức độ sản xuất hàng hoá Cách tiếp cận này của Sen phân tích vấn đề nghèo dưới dạng những

ảnh hưởng có tính chất nguyên nhân mà làm “entitlement” của một bộ phận dân cư giảm mạnh Nét nổi bật của những “entitlement” và các nhân tố có tính chất nguyên nhân mà ảnh hưởng tới chúng tập trung vào các biến như: mô hình sử dụng đất đai, vốn và lao động , thất nghiệp, giá cả tương đối, tỷ

lệ giữa tiền lương - giá cả,vv Bởi vì, những biến nguyên nhân quan trọng này, trên thực tế thường bị lờ đi trong nhiều trường hợp phân tích nạn đói nói riêng

và nghèo nói chung, cho nên vấn đề có ý nghĩa quan trọng của hướng nghiên cứu trong cách tiếp cận của Sen đ1 được ông đặt ra ở đây

Sen đ1 phân tích nạn đói ở một số nước như Wollo (thuộc Etiopia,

Trang 18

1973), Bangladet (1974) và rút ra kết luận: nguyên nhân của nghèo đói là do

có một sự thất bại của “entitlement” Điều này có nghĩa: nghèo là do con người không có khả năng tiếp cận với các nguồn lực trên thị trường hay sử dụng các nguồn lực mà họ có (endowment) để tạo ra hàng hoá, chứ không phải đơn thuần là do họ không có các nguồn lực sản xuất

Vốn tín dụng trong trường hợp nghiên cứu của đề tài đựợc xem như là một nguồn lực của nền kinh tế thị trường - một dạng tài sản sản xuất quan trọng nếu mọi người tiếp cận được và sở hữu nó và nó là “endowment” như

đ1 được phân tích ở trên

Như vậy, theo cách tiếp cận của Sen, nguyên nhân nghèo khổ của mỗi cá nhân là do sự thất bại của “entitlement” đối với nguồn lực vốn tín dụng (cách tiếp cận và sử dụng nguồn lực vốn tín dụng này) Sự thất bại của

“entitlement” này có thể xảy ra hoặc là do sự giảm về “endowment” (chẳng hạn như thiếu vốn hoặc không có vốn để sản xuất), hoặc là do sự thay đổi không theo chiều hướng thuận lợi về việc sử dụng hay kiểm soát

“endowment” vốn (chẳng hạn như mất khả năng kiểm soát hoặc sử dụng vốn tín dụng mà mọi người có khi gia nhập vào nền kinh tế thị trường) Sen chỉ ra rằng: “nếu một nhóm người không thành công trong khi tạo ra một tổng số hàng hoá thích hợp thông qua cách thức tiếp cận hoặc sử dụng “endowment”, thì họ sẽ bị đói hoặc nghèo”

Nói cách khác, nếu mọi người không thành công trong việc tiếp cận cũng như sử dụng nguồn lực vốn tín dụng để có được một “giỏ” hàng hoá thích hợp thì những người này sẽ lâm vào cảnh đói hoặc nghèo so với những người khác trong x1 hội Chính vì thế, để giảm nghèo thì một trong những phương tiện quan trọng mà các quốc gia đang phát triển sử dụng đó là nguồn lực tín dụng-một trong những nguồn lực cũng như công cụ quan trọng của kinh tế thị trường, của sự phát triển Vậy tiếp theo chúng ta sẽ xét xem tín dụng là gì và bản chất của tín dụng ra sao?

Trang 19

2.1.2 Khái niệm, đặc điểm, bản chất và các hình thức tín dụng ngân hàng 2.1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng theo nghĩa la tinh là creditim, có nghĩa là sự tín nhiệm, sự tin tưởng Tín dụng đ1 xuất hiện ngay từ thời kỳ phong kiến, sản xuất mang tính

tự cấp tự túc Lúc đó giai cấp thống trị cho nông dân vay nặng l1i L1i suất cho vay lên tới 200-300% năm và l1i suất này đ1 chiếm toàn bộ phần thặng dư Tín dụng ra đời, thời kỳ này l1i suất cao do sản xuất hàng hoá chưa phát triển, Nhà nước chưa có sự điều tiết đối với quan hệ tín dụng nên người cho vay tự ấn định mức l1i suất

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế thị trường đ1 hình thành và phát triển nhiều loại hình sở hữu, có sự phân công lao

động, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh Luôn tồn tại một thực tế là ở bất kỳ một thời điểm nào trong nền kinh tế cũng xảy ra hiện tượng thừa vốn hay thiếu vốn tạm thời do tính chất mùa vụ, chu kỳ kinh doanh Người thiếu vốn cần vay để giải quyết nhu cầu, người thừa vốn lại muốn cho vay ra để kiếm thêm lợi nhuận Đây chính là tiền đề tạo ra quan hệ tín dụng

Vậy tín dụng là gì?

Có quan niệm cho rằng “tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thời hạn đ1 thoả thuận”

Tuy nhiên, sự phát triển và biến đổi là hết sức đa dạng và phong phú Trong nền kinh tế thị trường phát triển như ngày nay, có rất nhiều cách thức, loại hình của nghiệp vụ tín dụng Việc đưa ra một khái niệm như thế sẽ là gò

bó và không linh hoạt Vì vậy khái niệm tín dụng chỉ nên đưa ra một cách

đơn giản là:

Trang 20

Tín dụng, nếu xem xét dưới dạng khái quát là mối quan hệ vay mượn tạm thời, mối quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc có hoàn trả và sự tin tưởng Nói một cách cụ thể hơn, tín dụng là quá trình mà người cho vay chuyển nhượng tạm thời một số tài sản trực tiếp dưới hình thái vật chất hoặc dưới hình thái tiền tệ cho người đi vay sử dụng trong một thời hạn mà được thoả thuận giữa hai bên Hết thời hạn, người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay khoản vốn vay và kèm theo một khoản l1i suất

2.1.2.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng

Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu tín dụng theo một số khía cạnh như sau: Thứ nhất, quan hệ tín dụng là quan hệ vay mượn và sử dụng vốn của nhau giữa các chủ thể kinh tế Vốn ở đây được hiểu theo nghĩa rất rộng trong

đó bao hàm cả tiền và tài sản Các chủ thể có thể là hai hoặc nhiều bên cùng tham gia vào hoạt động tín dụng - điều này giải thích khái niệm đồng tài trợ Thứ hai, vốn này chỉ được sử dụng một cách tạm thời nghĩa là có thời hạn Thời hạn ngắn hay dài tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của các bên Và khi hết thời hạn này vốn phải được hoàn trả chủ sở hữu hoặc người cho vay

Thứ ba, quan hệ tín dụng phải được dựa trên sự tin tưởng Trên cơ sở có

sự tin tưởng mà một bên sẽ đồng ý cho bên kia sử dụng vốn của mình trong một thời gian thoả thuận Trường hợp cho vay không cần bảo đảm chính là đ1

được dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau Nếu như bên cho vay không tin tưởng bên đi vay thì họ sẽ yêu cầu đảm bảo bằng tài sản có giá trị tương đương - đây

là trường hợp cầm cố thế chấp bảo l1nh

2.1.2.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng:

Trong quan hệ tín dụng có nhiều loại hình, chủ thể tham gia như: Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp, cá nhân người tiêu dùng và với mỗi loại chủ thể có thể phát sinh nhiều loại quan hệ tín dụng khác nhau như tín

Trang 21

dụng Nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng hợp tác x1, tín dụng tiêu dùng, tín dụng thuê bao

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng mà chủ thể tham gia gồm một bên là ngân hàng và một bên là phần còn lại của nền kinh tế - gồm tất cả các

tổ chức kinh tế x1 hội, Nhà nước, cá nhân dân cư

Các tổ chức ngân hàng tham gia vào quan hệ tín dụng với hai tư cách: ngân hàng đóng vai trò là người đi vay khi nó nhận tiền gửi của khách hàng, phát hành trái phiếu để vay vốn trong x1 hội, vay vốn ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng khác; ngân hàng đóng vai trò là người cho vay khi nó ứng vốn ra nền kinh tế Về tính chất phức tạp của hoạt động cho vay nên khi nói đến tín dụng người ta thường đề cập đến cho vay mà ít khi đề cập đến mặt thứ hai đó là đi vay

2.1.2.4 Bản chất của tín dụng ngân hàng

Bản chất của tín dụng được thể hiện trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó với quá trình phát triển sản xuất x1 hội Mối quan hệ này thể hiện thông qua sự vận động giá trị vốn tín dụng qua

- Giai đoạn hoàn trả vốn tín dụng là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của vốn tín dụng và đồng thời cũng là giai đoạn hoàn thành một chu kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh để trở về hình thái tiền tệ, vốn tín dụng ban

Trang 22

đầu của nó mà được người đi vay hoàn trả cho người cho vay Hơn nữa, sự hoàn trả của tín dụng là quá trình trở về với tư cách là lượng giá trị vốn tín dụng được vận động Do đó, sự hoàn trả không chỉ luôn phải bảo tồn về mặt giá trị mà còn có phần tăng thêm dưới hình thức l1i suất

Như vậy, bản chất vận động của vốn tín dụng qua ba giai đoạn như đ1

đề cập ở trên là sự hoàn trả cả vốn gốc và theo đó là khoản l1i suất với tư cách

là giá cả của vốn cho vay Bản chất hoàn trả của tín dụng là điểm khác biệt để phân biệt với các phạm trù kinh tế khác Bản chất của tín dụng là quay trở về với tư cách là một lượng giá trị vận động, cho nên sự hoàn trả luôn phải bảo

đảm giá trị cùng với phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức: T-H-T’, trong đó T’=T+t Trong trường hợp có lạm phát, sự hoàn trả về mặt giá trị cũng phải

được tôn trọng thông qua cơ chế điều tiết bằng l1i suất, tiền đi vay có đặc

điểm là quay về với điểm xuất phát thì vẫn còn nguyên vẹn giá trị của nó và

đồng thời lại lớn lên thêm trong quá trình vận động

Xét về mặt lịch sử, quan hệ tín dụng đầu tiên như Mác nói là quan hệ cho vay nặng l1i và như vậy, tín dụng ra đời sớm nhất là tín dụng cho vay nặng l1i Tuy nhiên, tín dụng mà Mác đ1 phân tích không phải là hình thức

đặc trưng và thích hợp đối với nền kinh tế hàng hoá Trái lại, nó lại là hình thức tín dụng thường tồn tại với một nền sản xuất kém phát triển, để duy trì cuộc sống, người đi vay phải chịu đựng những điều kiện thiệt thòi nhất, và l1i suất đi vay thường rất cao, cho nên hình thức tín dụng này kìm h1m sự phát triển của lực lượng sản xuất, do đó dẫn đến kìm h1m sự phát triển của kinh tế hàng hoá Mặc dù xét ở một khía cạnh nào đó, hình thức tín dụng phi chính thức này cũng giúp đỡ giải quyết nhu cầu về tiền mặt cũng như hiện vật của người dân trong những lúc khó khăn nhất thời

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, hoạt động tín dụng cũng phát triển với nhiều hình thức phong phú và đa dạng Trong nền kinh tế hàng hoá cũng như nền kinh tế thị trường-giai đoạn phát triển cao hơn của kinh tế hàng hoá, tín dụng được

Trang 23

hiểu là một hình thức quan hệ tiền tệ, nó là một trong những loại hình kinh doanh tiền tệ dựa trên quan hệ cung- cầu tiền tệ với mục đích mang lại lợi nhuận cho cả hai phía: phía cung là người cho vay và phía cầu là người đi vay

Như vậy, chúng ta đ1 hiểu được bản chất của tín dụng, vậy thì vai trò của nó đối với việc giảm nghèo ra sao? sẽ được nghiên cứu ở tiết tiếp theo 2.1.3 Phân loại tín dụng

Tín dụng cho vay tồn tại dưới rất nhiều hình thức, nhiều tên gọi Tuy nhiên, căn cứ vào một số các tiêu thức mà người ta có thể phân loại các loại hình như sau:

2.1.3.1 Phân loại theo mục đích

- Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp thương mại và dịch vụ

- Cho vay công nghiệp và thương mại là cho vay ngắn hạn để bổ xung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này

- Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, lao động,

- Cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền Ngày nay ngân hàng còn cho vay để trang trải các khoản chi phí thông thường của đời sống thông dụng dưới tên gọi là tín dụng tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng là một ví dụ

- Thuê mua và các loại tín dụng khác

2.1.3.2 Phân loại theo thời hạn

Theo cách này tín dụng cho vay phân làm ba loại

- Tín dụng ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng và

được dùng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các

Trang 24

nhu cầu chi tiêu ngắn hạn Đối với ngân hàng thương mại, tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất

- Tín dụng trung hạn: Thời hạn cho vay trung hạn thường là cố định Trước đây theo thời hạn của Ngân hàng Nhà nước thì thời hạn cho vay trung hạn là 1-3 năm Tuy nhiên cho đến nay, để đảm bảo đáp ứng nhu cầu vay của các doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại đ1 đưa thời hạn cuối cùng của vay trung hạn lên 5 năm giải quyết được hai vấn đề Thứ nhất là đáp ứng tốt hơn nhu cầu của doanh nghiệp bởi lẽ đối với một số tài sản nhất định thời hạn

sử dụng của chúng tương đối dài nên cần phải có thời gian đủ lớn doanh nghiệp mới có thể hoàn trả gốc và l1i cho ngân hàng Thứ hai là tránh tình trạng tiền cho vay của ngân hàng bị chuyển vào nợ quá hạn chỉ vì thể chế và quy định gây ra, trong khi doanh nghiệp vẫn làm ăn có l1i và có đầy đủ khả năng trả nợ Còn đối với các nước trên thế giới, loại cho vay này có thời hạn lên tới 7 năm Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô vừa và nhỏ phục vụ đời sống, sản xuất Trong nông nghiệp, cho vay trung hạn chủ yếu để đầu tư vào các

đối tượng như máy cày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều

- Tín dụng dài hạn là loại cho vay mà thời hạn của nó là dài hơn đối với cho vay trung hạn Loại hình tín dụng này được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vận tải có quy mô lớn xây dựng

xí nghiệp nhà máy mới, các dự án đầu tư phát triển như cơ sở hạ tầng

- Nghiệp vụ cho vay truyền thống của các ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạn nhưng từ những năm 70 trở lại đây các ngân hàng đ1 chuyển sang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng dư nợ ngân hàng

Trang 25

2.1.3.3 Phân loại theo căn cứ đảm bảo

- Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo l1nh của người thứ ba Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín

Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không

đòi hỏi nguồn thu nợ bổ xung

- Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay được ngân hàng cung cấp với

điều kiện phải có tài sản thế chấp hoặc cần có bảo l1nh của bên thứ ba Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm Sự bảo đảm này căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ xung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền vay trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ 2.1.3.4 Phân loại theo phương thức hoàn trả tiền vay

Theo cách này thì khoản cho vay có thể được hoàn trả theo các cách sau: + Tín dụng trả góp: Là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và l1i theo định kỳ ( khoản tiền vay sẽ được trả làm nhiều lần theo nhiều kì nợ)

+ Tín dụng phi trả góp: Là loại tín dụng được thanh toán một lần theo kỳ hạn thoả thuận (Trả một lần cả vốn gốc và l1i khi đến hạn)

+ Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín dụng mà người vay có thể hoàn trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập

Cách thứ nhất là trả một lần cả vốn gốc và l1i khi đến hạn Hai là khoản tiền vay sẽ được trả làm nhiều lần theo nhiều kỳ nợ ở Việt Nam, nếu doanh nghiệp không trả nợ vào lần sau hoặc lần sau nữa Trong khi đó ở các nước khác nếu ngay từ lần trả đầu tiên mà không trả được nợ thì bị coi là nợ quá hạn để có biện pháp giải quyết

Trang 26

2.1.3.5 Phân loại theo xuất xứ vốn vay

Có loại do ngân hàng trực tiếp cho vay, có loại cho vay gián tiếp tức là ngân hàng mua lại nợ từ chủ nợ khác hay ủy thác

2.1.3.6 Phân loại theo hình thức giá tự có

- Một là cho vay bằng tiền, đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng được thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau

- Hai là cho vay bằng tài sản - loại này được áp dụng phổ biến dưới hình thức tài trợ thuê mua

2.1.4 Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng

2.1.4.1 Khái niệm về chất lượng

Khái niệm chất lượng sản phẩm, dịch vụ đ1 xuất hiện từ lâu, nó là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh

tế và x1 hội Ngày nay khái niệm này được sử dụng rất thông dụng ở mọi nơi, mọi tài liệu ta đều thấy xuất hiện thuật ngữ này Tuy nhiên để hiểu thế nào là chất lượng thì có nhiều quan niệm khác nhau Mỗi khái niệm đều có những cơ sở khoa học và nhằm giải quyết những mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế Đứng trên những góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh mà các doanh nghiệp, đơn vị có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ người sản xuất, người tiêu dùng, từ sản phẩm hay từ đòi hỏi của thị trường

Quan điểm siêu việt cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất của sản phẩm Khi nói đến sản phẩm có chất lượng như khi nói về ô tô người ta nghĩ ngay đến những xe nổi tiếng của các h1ng như Roll Roice, Mecxedec Quan niệm này mang tính triết học, trừu tượng, khó xác định một cách chính xác nên nó chỉ có ý nghĩa đơn thuần trong nghiên cứu

Quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó Chẳng hạn theo quan

Trang 27

niệm của Liên Xô (cũ) thì: "Chất lượng là tập hợp những tính chất của sản phẩm chế định tính thích hợp của sản phẩm để thỏa m1n những nhu cầu xác

định phù hợp với công dụng của nó", hoặc một định nghĩa khác: " Chất lượng

là một hệ thống đặc trưng nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được, những thông số này lấy ngay trong sản phẩm đó hoặc giá trị sử dụng của nó" Quan niệm này đ1 đồng nghĩa chất lượng sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản phẩm Tuy nhiên sản phẩm có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhưng không được người tiêu dùng đánh giá cao

Theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đ1 xác định trước Định nghĩa này cụ thể, mang tính thực tế cao, đảm bảo nhằm mục đích sản xuất ra những sản phẩm đạt yêu cầu tiêu chuẩn đ1 đề

ra từ trước, tạo cơ sỏa thực tiễn cho cho các hoạt động điều chỉnh các chỉ tiêu chất lượng Tuy nhiên, quan niệm chất lượng này chỉ phản ánh mối quan tâm của người sản xuất đến việc đạt được những chỉ tiêu chất lượng đặt ra Chẳng hạn, chất lượng được định nghĩa là tổng hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa m1n những yêu cầu định trước cho nó trong

điều kiện kinh tế, x1 hội nhất định

Trong nền kinh tế thị trường, người ta đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm Những khái niệm chất lượng này xuất phát và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả Có thể gọi chúng dưới một nhóm chung là quan niệm "chất lượng hướng theo thị trường" Đại diện cho những quan niệm này là những khái niệm chất lượng sản phẩm của các chuyên gia quản lý chất lượng hàng đầu thế giới như W Edwards Deming và Joseph Juran ở Nhật Bản, Philip Crosby

ở Mỹ Trong nhóm quan niệm này lại có các cách tiếp cận khác nhau

Xuất phát từ người tiêu dùng, chất lượng được định nghĩa là sự phù hợp

Trang 28

của sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng Chẳng hạn, trong cuốn " Chất lượng là thứ cho không", Philip Crosby định nghĩa: "Chất lượng

là sự phù hợp với yêu cầu" Theo ông đây là những yêu cầu của người tiêu dùng và người sản xuất; hay theo Tiến sỹ W Edwards Deming thì chất lượng

là sự phù hợp với mục đích sử dụng"

Xuất phát từ mặt giá trị, chất lượng được hiểu là đại lượng đo bằng tỷ

số giữa lợi ích thu được từ tiêu dùng sản phẩm với chi phí phải bỏ ra để đạt

được lợi ích đó Theo quan niệm này, nhiều định nghĩa được đặt ra, chẳng hạn: " Chất lượng là cung cấp những sản phẩm và dịch vụ ở giá mà khách hàng chấp nhận", hoặc "Chất lượng là cái mà khách hàng phải trả đúng với cái họ nhận được", hoặc theo A.P Viavilov, một chuyên gia quản lý chất lượng của Liên Xô (cũ) thì: "Chất lượng là một tập hợp những tính chất của sản phẩm chứa đựng mức độ thích ứng của nó để thỏa m1n những nhu cầu nhất định theo công dụng của nó với những chi phí x1 hội cần thiết"

Xuất phát từ tính cạnh tranh của sản phẩm thì chất lượng cung cấp những thuộc tính mang lại lợi thế cạnh tranh nhằm phân biệt nó với những sản phẩm cùng loại trên thị trường

Ngoài những quan niệm này, trong nền kinh tế thị trường người ta còn

đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào phục vụ những mục đích cụ thể nhằm duy trì và phát triển thị trường hay sự cải tiến không ngừng chất lượng sản phẩm

Những quan niệm hướng theo thị trường được đa số các nhà nghiên cứu

và các doanh nhân tán đồng vì nó phản ánh đúng nhu cầu đích thực của người tiêu dùng, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu thỏa m1n khách hàng, củng

cố được thị trường và giữ được thành công lâu dài

Ngày nay người ta thường nói đến chất lượng tổng hợp bao gồm chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ sau khi bán và chi phí bỏ ra để đạt được mức chất lượng đó Quan niệm này đặt chất lượng sản phẩm trong mối quan

Trang 29

niệm chặt chẽ với chất lượng của dịch vụ, chất lượng các điều kiện giao hàng

và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực

Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp được thống nhất, dễ dàng, Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000, phần thuật ngữ ISO 9000 đ1 đưa ra định nghĩa chất lượng:

"Chất lượng là mức độ thỏa m1n của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu" Yêu cầu có nghĩa là những nhu cầu hay mong đợi được nêu ra hay tiềm ẩn Do tác dụng thực tế của nó , nên định nghĩa này được chấp nhận một cách rộng r1i trong hoạt động kinh doanh quốc tế ngày nay Định nghĩa chất lượng trong ISO 9000 là thể hiện sự thống nhất giữa các thuộc tính nội tại khách quan của sản phẩm với đáp ứng nhu cầu chủ quan của khách hàng 2.1.4.2 Chất lượng tín dụng ngân hàng

Trên cơ sở nội dung của các quan niệm về chất lượng nêu trên, ta có thể hiểu chất lượng tín dụng ngân hàng - chất lượng của một loại sản phẩm hàng hóa đặc biệt như sau: Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong mối quan hệ tín dụng, đảm bảo

an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận của ngân hàng, phù hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế x hội

- Xét trên góc độ kinh doanh của ngân hàng thì chất lượng tín dụng là khoản tín dụng được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và l1i đúng thời hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, làm lành mạnh các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển của ngân hàng

- Xét trên góc độ khách hàng thì khoản tín dụng có chất lượng là phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với l1i suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục tín dụng đơn giản, thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn

đảm bảo nguyên tắc tín dụng

Trang 30

- Đối với x1 hội, khoản tín dụng có chất lượng phải hỗ trợ cho việc đạt

được mục tiêu mà Chính phủ đề ra là giúp cho nền kinh tế phát triển, các hộ nghèo thì thoát nghèo, tạo ra nhiều công ăn việc làm mới đồng thời góp phần làm ổn định tình hình chính trị địa phương

Như vậy, có thể hiểu chất lượng tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất

là vốn cho vay của ngân hàng được hộ sản xuất đưa vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tạo ra một số tiền lớn hơn đủ để hoàn trả gốc và l1i, trang trải chi phí khác và có lợi nhuận, phù hợp các điều kiện của ngân hàng

và của nền kinh tế - x1 hội

Trong thực tế, khi cung cấp một khoản tín dụng cho khách hàng, vấn đề ngân hàng quan tâm hàng đầu là trả cả gốc lẫn l1i đúng thời hạn như hợp

đồng tín dụng Giả sử ngân hàng làm được điều này thì khoản tín dụng đó

được coi là có chất lượng hay không? Điều này chưa thể khẳng định được Trong trường hợp tín dụng ngân hàng bị sử dụng sai mục đích, khách hàng làm ăn thua lỗ thì chắc chắn khoản tín dụng đó không thể coi là có chất lượng mặc dù khách hàng trả được nợ

2.1.5 Hộ sản xuất và vai trò của vốn tín dụng trong việc giảm nghèo ở nông thôn

- Theo Traianop cho rằng: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định"

và "Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp"

Trang 31

- Theo tác giả Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: " Nông hộ là tế bào của x1 hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" Còn theo Nguyễn Sinh Cúc cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt

động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp"

Như vậy, qua các khái niệm của các tác giả cho thấy Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp như thương mại, dịch vụ ở nhiều mức độ khác nhau

2.1.5.2 Khái niệm tín dụng hộ sản xuất

Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các tổ chức kinh tế và dân cư Nó bao gồm hai mặt hoạt

động chính là huy động vốn và cho vay Do đặc điểm riêng của mình, tín dụng ngân hàng có ưu thế hơn các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư Nguồn vốn của ngân hàng là tiền nên thích hợp với mọi đối tượng xin vay nên có thể đầu tư vào nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế khác nhau Vì

lý do trên tín dụng ngân hàng là hình thức quan trọng nhất trong các hình thức tín dụng hiện tại và là hình thái tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị trường

Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và một bên là hộ sản xuất Hình thức tín dụng này đ1 có từ lâu trên thế giới, nhưng ở Việt Nam nó chỉ thực sự xuất hiện khi có nghị quyết 10 của Bộ chính trị với sự thừa nhận quyền tự chủ của thành phần kinh

tế cá thể Sau khi được thừa nhận và cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, kinh tế hộ sản xuất đ1 phát triển nhanh chóng và đ1 đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế nói chung, đặc biệt là lương thực thực phẩm Có được

Trang 32

thành công trên phải nói đến sự đóng góp không nhỏ của tín dụng ngân hàng

đối với kinh tế hộ sản xuất Điều này được thể hiện ở vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất

2.1.5.3 Vai trò của vốn tín dụng trong việc giảm nghèo ở nông thôn

Tín dụng là một lĩnh vực khá rộng, bao quát một không gian nhiều chiều (ngang dọc, trên dưới, trong ngoài) của chính sách tiền tệ quốc gia Hầu hết các nhà kinh tế đều thừa nhận vai trò của tín dụng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và giảm nghèo đói Họ chỉ ra rằng, một trong những giải pháp hiệu quả và nhanh chóng để thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo là tăng cường khả năng tiếp cận đối với các nguồn lực, đặc biệt là sử dụng chúng có hiệu quả và đây là cơ hội thuận lợi để có thể hoà nhập nhanh chóng vào sự phát triển kinh tế-x1 hội Tín dụng cho người nghèo là một trong những nguồn lực căn bản nói trên, giúp người nghèo nông thôn có cơ hội tự tạo việc làm và tăng thu nhập để vượt qua nghèo khó

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh tầm quan trọng của tín dụng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở các nước đang phát triển Hiện có hai quan điểm về vấn đề này Quan điểm thứ nhất (thuộc trường phái học thuyết phát triển) cho rằng, tín dụng là đầu vào quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đói và nó được coi là công

cụ để đạt được mục đích cuối cùng, đó là phát triển kinh tế Trong khi đó, quan điểm thứ hai (thuộc trường phái “sòng bạc” hay còn gọi là trường phái trọng cầu) lại xem xét tín dụng như là kết quả của sự phát triển kinh

tế Họ phản bác lại quan điểm của trường phái trọng cung và cho rằng “ không có căn cứ hay bằng chứng nào chứng minh ảnh hưởng tích cực của

sự phát triển tín dụng lên quá trình tăng trưởng kinh tế cả về mức độ, thời

điểm và khu vực”

Mặc dù còn nhiều tranh luận xung quanh tầm quan trọng của tín dụng, nhưng thực tế không thể phủ nhận vai trò của tín dụng đối với phát triển, đặc

Trang 33

biệt đối với việc giảm nghèo ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, tín dụng không bao giờ được coi là điều kiện đủ, mà nó chỉ là một trong nhiều điều kiện cần thiết và là trung gian phân bổ nguồn lực cho phát triển Ellis (1991)

đánh giá ‘ tín dụng luôn đóng vai trò đặc biệt trong sự phát triển nông nghiệp Vài thập kỷ gần đây, tín dụng đóng vai trò là phương tiện quan trọng và là phạm trù lớn nhất của sự giúp đỡ đối với khu vực nông nghiệp và giảm nghèo đói ở các nước đang phát triển’ Đầu những năm 60, việc cung cấp tín dụng đ1 được coi như là một công cụ then chốt để phá vỡ vòng luẩn quẩn của thu nhập thấp, tiết kiệm thấp và năng suất thấp Công ty ADUKI (1996) cho rằng "tín dụng là chiếc chìa khoá vàng để giảm nghèo"

Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, đặc biệt trong quá trình chuyển

đổi và phát triển để hoà nhập vào nền kinh tế chung của toàn cầu như ở Việt Nam và một số nước đang phát triển, tín dụng được coi là công cụ và là đòn bẩy giúp cho người nghèo chuyển đổi dần phương thức sản xuất lạc hậu của mình để giảm nghèo và tăng thu nhập Tuy nhiên, đồng vốn chỉ có ý nghĩa khi người sử dụng nó biết dùng vào những việc có sinh lời và dùng như thế nào mà thôi Nói cách khác, nguồn lực và cách thức sử dụng các nguồn lực luôn có quan hệ mật thiết tới sự phát triển kinh tế, hay sự phát triển kinh tế không thể thiếu được nguồn lực cũng như cách thức sử dụng chúng sao cho phù hợp và có hiệu quả Vì vậy, vai trò của tín dụng trong phát triển nông thôn và giảm nghèo ở nông thôn được thể hiện như sau:

 Vốn tín dụng tồn tại với tư cách là yếu tố đầu vào trong sản xuất, nó là một trong những nguồn lực sản xuất quan trọng trong mọi lĩnh vực của nền kinh

tế thị trường, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn: Nó cung cấp nguồn

để mua các vật tư, máy móc thiết bị cần thiết cho sản xuất và các đầu vào khác được đòi hỏi để nâng cao năng suất lao động Mặt khác, nó là một trong những điều kiện để đổi mới thiết bị công nghệ cũng như làm gia tăng sự tiếp cận công nghệ mới và tiên tiến hơn, đưa sản xuất nông nghiệp sang nền sản

Trang 34

xuất lớn với sản phẩm chứa đựng nhiều hàm lượng khoa học kỹ thuật. Từ đó thu nhập của người dân được cải thiện, giúp giảm nghèo

Tín dụng không chỉ được coi là đầu vào trong khâu sản xuất mà nó còn là sản phẩm của quá trình hoạt động của các trung gian tài chính: Qúa trình này bao gồm nhiều chủ thể : người gửi tiền tiết kiệm, người đi vay và tổ chức cho vay( tổ chức tài chính trung gian) Tổ chức cho vay, muốn ‘ cho vay’ trước hết phải có vốn bằng cách ‘đi vay’, muốn tập trung được tối đa nguồn vốn đó cần phải áp dụng chính sách tiết kiệm và huy động tiền gửi tiết kiệm một cách hợp lý, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp dân cư đều có thể tiếp xúc với hình thức tiết kiệm kể cả người nghèo, món gửi nhỏ Như vậy, vốn ngày càng được tạo ra cho nền kinh tế và khả năng cung cấp vốn của các

tổ chức tài chính trung gian cho mọi đối tượng trong đó có người nghèo, ngày càng được mở rộng Từ đó, giúp cho bộ phận người nghèo thiếu vốn

có thêm vốn để hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh, giúp họ giảm nghèo

 Bên cạnh đó, tín dụng còn giúp người nghèo mở rộng sản xuất, dẫn

đến mở rộng thị trường hàng hóa và phạm vi phân công lao động cũng như giảm chi phí trao đổi và dịch vụ Nếu những người nghèo thiếu vốn mà lại có khả năng sản xuất thì khi có một lượng vốn nhất định, họ có thể mở rộng sản xuất, tạo thêm nhiều sản phẩm để trao đổi trên thị trường ngoài lượng sản phẩm đủ cho họ tiêu dùng Cũng từ đó, thị trường hàng hoá được mở rộng Bởi vì thị trường gắn với quá trình phân công lao động x1 hội, do đó phạm vi phân công lao động được mở rộng giúp cho chi phí trao đổi hàng hoá và dịch

vụ giảm Khi đó người nghèo không những thoát nghèo một cách bền vững

Trang 35

hoặc thiếu vốn thì việc tăng năng suất đất và năng suất lao động sẽ không

được bàn đến, và trong trường hợp này, thu nhập không được cải thiện Còn như nếu người nghèo có vốn và có đất thì việc có vốn sẽ giúp cho người nghèo sử dụng ruộng đất có hiệu quả hơn, như hệ số gieo trồng trong năm có thể được tăng lên

 Tiếp cận hơn nữa đến tín dụng sẽ thúc đẩy việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất và chế biến lương thực cũng như một số ngành công nghiệp khác có liên quan đến nông nghiệp và nông thôn, như vậy sẽ thúc đẩy quá trình hoạt động phi nông nghiệp Thêm vào đó, tín dụng cũng góp phần quan trọng trong việc làm sống lại nhiều nghề truyền thống và làng nghề truyền thống đặc biệt ở Việt Nam Từ đó tạo nhiều cơ hội việc làm phi nông nghiệp cho lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn, trong đó có người nghèo và thu nhập cho người nghèo sẽ tăng đáng kể

Các nghiên cứu thực nghiệm phát hiện thấy rằng, khách hàng thường

sử dụng vốn vay để hạn chế rủi ro Khách hàng nghèo và không nghèo thường dùng vốn vay để điều hoà tiêu dùng bằng cách điều chỉnh luồng thu nhập, chủ yếu thông qua việc tăng cường đa dạng hoá Vốn tín dụng giúp hộ gia

đình có khả năng tích luỹ nhiều loại tài sản vật chất và sản xuất, tài chính (tài khoản tiết kiệm), con người (giáo dục, y tế) và x1 hội (chi tiêu trong những dịp ma chay, cưới xin và tham gia vào mạng lưới tương trợ lẫn nhau) Chính vì vậy, tín dụng còn giúp cho người nghèo đa dạng hoá nguồn thu nhập, giảm bớt nguy cơ tổn thương cũng như rủi ro của họ trước những cú sốc thu nhập

 Ngoài ra, tín dụng góp phần thúc đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Nó cũng giúp đẩy mạnh quá trình thương mại hóa sản xuất nông nghiệp, làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dần từ kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hoá cũng như chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Hiện đại hoá nông nghiệp là áp

Trang 36

dụng kỹ thuật mới và sử dụng giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu và phương pháp thâm canh tốt hơn Không có tín dụng, quá trình này sẽ bị chậm lại Như vậy, ở đây tín dụng sẽ góp phần làm mất đi những hạn chế của nền kinh tế tự cung, tự cấp trước đây và sẽ đóng góp đáng kể vào sự phát triển nông nghiệp, nông thôn

 Tín dụng góp phần hạn chế nạn cho vay nặng li ở nông thôn

Một trong những đặc điểm quan trọng của sản xuất nông nghiệp là mang tính thời vụ cao nên tại thời điểm chưa thu hoạch được nông phẩm, chưa có hàng hóa để bán, người nông dân thường ở trong tình trạng thiếu thu nhập để

đáp ứng các nhu cầu chi tiêu tối thiểu tạo điều kiện để nạn cho vay nặng l1i hoành hành Đặc biệt cơ bản của tín dụng cho vay nặng l1i là l1i suất cho vay rất cao, mục đích sử dụng vốn vay chủ yếu là phục vụ các nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt L1i suất cho vay cao là nguyên nhân dẫn đến tình trạng hộ sản xuất đ1 khó khăn lại càng khó khăn hơn và không bao giờ có thể thoát

ra khỏi vòng luẩn quẩn đó được Như vậy nạn cho vay nặng l1i không những không thúc đẩy sản xuất phát triển mà còn kìm h1m sản xuất, đẩy nông dân đến chỗ nghèo túng hơn, gây ra những tiêu cực ở nông thôn

Đứng trước tình hình trên, ngân hàng đ1 nắm bắt được thực tế và tiến hàng cho vay hộ sản xuất tốt hơn Để tạo điều kiện cho hộ sản xuất tiếp xúc với vốn vay, ngân hàng tới tận tay các thôn xóm phục vụ nhu cầu vay vốn Khi nguồn vốn tín dụng ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vốn cho sản xuất, tiêu dùng của các hộ sản xuất thì nạn cho vay nặng l1i ở nông thôn sẽ không còn cơ hội để tồn taị Tín dụng ngân hàng cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất cùng với chế độ l1i suất ưu đ1i không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất

mà còn khuyến khích người sản xuất chủ động trong đầu tư, đổi mới sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh góp phần làm giàu cho bản thân và x1 hội

Như vậy tín dụng ngân hàng thông qua việc mở rộng cho vay đối với

hộ sản xuất đ1 góp phần phát triển kinh tế hộ, giải quyết được vấn đề cho vay

Trang 37

nặng l1i ở nông thôn, ngăn chặn được tình trạng một số kẻ có tiền lợi dụng bóc lột người nghèo để thu siêu lợi nhuận

 Vai trò của tín dụng ngân hàng về mặt chính trị, x hội:

Tín dụng ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong việc thúc

đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt chính trị, x1 hội

Tín dụng ngân hàng góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao

động trong cả nước nói chung và ở nông thôn nói riêng Việc làm là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay ở nông thôn, đặc biệt là với một nước

có trên 70% dân số sống ở nông thôn như nước ta Hiện nay có khoảng 10 triệu lao động chưa được sử dụng, chiếm khoảng 25% lực lượng lao động và chỉ có 40% quỹ thời gian lao động ở nông thôn được sử dụng Trong đó phần lớn lao động ở nông thôn nói riêng và trong cả nước nói chung làm việc trong thành phần kinh tế hộ sản xuất Như vậy tín dụng ngân hàng thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đ1 góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho các hộ, hạn chế những tiêu cực x1 hội

Tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, đời sống của nông dân đ1 được cải thiện

rõ rệt, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ hộ nghèo, đặc biệt là ở vùng cao, vùng xa, các hộ gia đình chính sách vẫn ở trong tình trạng không đủ ăn Tín dụng ngân hàng với l1i xuất ưu đ1i dành cho các hộ sản xuất đ1 đóng góp

đáng kể vào quá trình thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo của chính phủ

Tín dụng ngân hàng góp phần làm giảm bớt tệ nạn x1 hội Trong quá trình thực hiện chủ trương phát triển kinh tế đa thành phần Các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, cá thể đều được tự do kinh doanh theo đúng pháp luật Sự phát triển của nền kinh tế thị trường làm cho số người giàu tăng lên rất nhanh nhưng đồng thời mức độ nghèo đói của một số hộ nghèo cũng có

Trang 38

xu hướng tăng Kết quả là hố sâu phân cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tất yếu sẽ nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, tệ nạn x1 hội có điều kiện phát triển Tín dụng ngân hàng tạo thêm công ăn việc làm cho hộ sản xuất, tăng thu nhập, hạn chế bớt những phân hoá bất hợp lý trong x1 hội, giữ vững nền tảng an ninh chính trị

2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng

Chất lượng tín dụng ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng chúng

ta có thể phân thành 3 nhân tố: ngân hàng, khách hàng và môi trường

2.1.6.1 Nhóm nhân tố từ phía ngân hàng

Đây là những nhân tố thuộc về bản thân, nội tại ngân hàng liên quan đến

sự phát triển của ngân hàng trên tất cả các mặt ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng, gồm: chính sách, công tác tổ chức, trình độ lao động, quy trình nghiệp

vụ, kiểm tra, kiểm soát và trang thiết bị

- Chính sách tín dụng

Là đường lối, chủ trương đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ

đạo liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, nó có ý nghĩa quyết định

đến sự thành bại của một ngân hàng Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng Bất cứ ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng cao đều phải có chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện của ngân hàng, của thị trường

- Công tác tổ chức của ngân hàng

Khả năng tổ chức của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng tổ chức ở đây bao gồm tổ chức các phòng ban, nhân sự và tổ chức các hoạt động trong ngân hàng Ngân hàng có một cơ cấu tổ chức khoa học sẽ

đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cán bộ, nhân viên, các phòng ban trong ngân hàng, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn bộ

hệ thống cũng như với các cơ quan khác liên quan đảm bảo cho ngân hàng hoạt động nhịp nhàng, thống nhất có hiệu quả, qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu khách hàng, theo dõi quản lý chặt chẽ sát sao các khoản

Trang 39

vốn huy động cũng như các khoản cho vay, từ đó nâng cao hiệu quả tín dụng

- Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng

Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng là yêu cầu hàng đầu đối với mỗi ngân hàng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động và khả năng tạo lợi nhuận của ngân hàng Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung Kinh tế càng phát triển, các quan hệ kinh tế càng phức tạp, cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi trình độ của người lao động càng cao Đội ngũ cán bộ ngân hàng có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có đạo đức, có năng lực

sẽ là điều kiện tiền đề để ngân hàng tồn tại và phát triển Nếu chất lượng con người tốt thì họ sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụ trong việc thẩm định dự án,

đánh giá tài sản thế chấp, giám sát số tiền vay và có các biện pháp hữu hiệu trong việc thu hồi nợ vay, hay xử lý các tình huống phát sinh trong quan hệ tín dụng của ngân hàng giúp ngân hàng có thể ngăn ngừa, hoặc giảm nhẹ thiệt hại khi những rủi ro xảy ra trong khi thực hiện một khoản tín dụng

- Quy trình tín dụng

Đây là những trình tự, những giai đoạn, những bước, công việc cần phải thực hiện theo một thủ tục nhất định trong việc cho vay, thu nợ, bắt đầu từ việc xét đơn xin vay của khách hàng đến khi thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào việc lập ra một quy trình tín dụng đảm bảo tính logic khoa học và việc thực hiện tốt các bước trong quy trình tín dụng cũng như sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng giữa các bước Quy trình tín dụng gồm ba giai đoạn chính:

- Xét đề nghị vay của khách hàng và thực hiện cho vay Trong giai đoạn này chất lượng tín dụng phụ thuộc nhiều vào công tác thẩm định khách hàng

và việc chấp hành các quy định về điều kiện, thủ tục cho vay của ngân hàng

- Kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro Việc thiết lập hệ thống kiểm tra hữu hiệu, áp dụng có hiệu quả các hình thức, biện pháp kiểm tra sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng

Trang 40

- Thu nợ và thanh lý: sự linh hoạt của ngân hàng trong khâu thu nợ sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu được những rủi ro, hạn chế những khoản nợ quá hạn, bảo toàn vốn, nâng cao chất lượng tín dụng

- Khả năng thu thập và xử lý thông tin

Thông tin là yếu tố sống còn đối với mỗi doanh nghiệp trong kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt Trong cạnh tranh ai nắm được thông tin trước là người có khả năng dành chiến thắng lớn hơn, với ngân hàng thông tin tín dụng hết sức cần thiết là cơ sở để xem xét, quyết định cho vay hay không cho vay và theo dõi, quản lý khoản cho vay với mục đích đảm bảo an toàn và hiệu quả đối với khoản vốn cho vay Thông tin tín dụng có thể được thu được từ nhiều nguồn khác nhau như mua thông tin từ các nguồn cung cấp thông tin,

đến cơ sở của khách hàng trực tiếp xem xét, thông tin từ hồ sơ xin vay vốn Thông tin càng đầy đủ, chính xác và kịp thời, toàn diện thì khả năng ngăn ngừa rủi ro càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao

- Kiểm soát nội bộ

Thông qua kiểm soát giúp l1nh đạo ngân hàng nắm được tình hình hoạt

động kinh doanh đang diễn ra, những thuận lợi, khó khăn việc chấp hành những quy định pháp luật, nội quy, quy chế, chính sách kinh doanh , thủ tục tín dụng từ đó giúp l1nh đạo ngân hàng có đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp giải quyết những khó khăn vướng mắc, phát huy những nhân tố thuận lợi, nâng cao hiệu quả kinh doanh Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định, thể lệ, chính sách và mức độ kịp thời phát hiện sai sót cũng như nguyên nhân dẫn đến sai sót lệch lạc trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng

- Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng

Trang thiết bị tuy không phải là yếu tổ cơ bản nhưng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng Nó là công cụ, phương tiện thực hiện tổ chức, quản lý ngân hàng kiểm soát nội bộ, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay, thực hiện các nghiệp vụ giao dịch với khách hàng

Ngày đăng: 06/12/2013, 17:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tổ chức hệ thống NHCSXH - Một số giãi pháp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo  tại nhuyện lục nam  tỉh bắc giang
Sơ đồ t ổ chức hệ thống NHCSXH (Trang 78)
Bảng 4.1. Tình hình cho vay, thu nợ, d− nợ (2004 - 2006) - Một số giãi pháp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo  tại nhuyện lục nam  tỉh bắc giang
Bảng 4.1. Tình hình cho vay, thu nợ, d− nợ (2004 - 2006) (Trang 81)
Bảng 4.1 đ1 cho thấy d− nợ đối với hộ sản xuất ngày càng tăng với tốc - Một số giãi pháp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo  tại nhuyện lục nam  tỉh bắc giang
Bảng 4.1 đ1 cho thấy d− nợ đối với hộ sản xuất ngày càng tăng với tốc (Trang 83)
Bảng 4.3. Vòng quay vốn của NHCSXH Lục Nam(2004 -2006) - Một số giãi pháp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo  tại nhuyện lục nam  tỉh bắc giang
Bảng 4.3. Vòng quay vốn của NHCSXH Lục Nam(2004 -2006) (Trang 86)
Bảng 4.4. Tình hình nợ quá hạn (2004 - 2006)                                                                                       §vt: Tr® - Một số giãi pháp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo  tại nhuyện lục nam  tỉh bắc giang
Bảng 4.4. Tình hình nợ quá hạn (2004 - 2006) §vt: Tr® (Trang 88)
Bảng 4.5. Tình hình lãi suất cho vay hộ nghèo (2004 - 2006) - Một số giãi pháp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo  tại nhuyện lục nam  tỉh bắc giang
Bảng 4.5. Tình hình lãi suất cho vay hộ nghèo (2004 - 2006) (Trang 90)
Bảng 4.7. Tình hình sử dụng vốn vay của hộ (2004-2006) - Một số giãi pháp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo  tại nhuyện lục nam  tỉh bắc giang
Bảng 4.7. Tình hình sử dụng vốn vay của hộ (2004-2006) (Trang 95)
Bảng 4.8. Cơ cấu cho vay theo nhóm đối t−ợng vay vốn - Một số giãi pháp nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo  tại nhuyện lục nam  tỉh bắc giang
Bảng 4.8. Cơ cấu cho vay theo nhóm đối t−ợng vay vốn (Trang 100)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w