Luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I
Trang 2Học viên xin bầy tỏ lòng biết ơn của mình ñến tập thể các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Cây công nghiệp, Khoa Nông học, Khoa Sau ðại học của trường ðại học Nông nghiệp I Hà Nội ñã tận tình hướng dẫn và giúp ñỡ cho học viên trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Học viên xin chân thành cảm ơn Phòng Nông hoá của Trường ðại học Tây Nguyên, ñã phân tích cho ñề tài một số chỉ tiêu nông hoá ñất
Học viên xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình ñến TS Phan Văn Tân, nguời thầy ñã hướng dẫn cho học viên trong công tác nghiên cứu khoa học từ những năm học ðại học cũng như ñã giúp ñỡ cho học viên trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn này
Học viên xin chân thành cảm ơn ñến TS ðinh Quang Tuyến Giám ñốc Trung tâm Nghiên cứu và thực nghiệm cây bông Tây Nguyên, ñã ñóng góp một số ý kiến quý báu và giúp ñỡ cho học viên nhiều tài liệu nghiên cứu khoa học có liên quan ñến ñề tài
Cuối cùng là lòng biết ơn của học viên dành cho những người thân trong gia ñình, ñã ñộng viên và tạo ñiều kiện ñể học viên hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu của mình
Một lần nữa học viên xin trân trọng cám ơn tất cả các sự giúp ñỡ quý báu của các tập thể và cá nhân ñối với học viên
Học viên
Nguyễn Tiến Nam
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan các kết quả nghiên cứu ñược trình bầy trong luận văn
là do tôi thực hiện Các số liệu và kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực
và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam ñoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Trang 4MỤC LỤC
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ựề tài 3
2.1 Tình hình sản xuất bông trên thế giới và Việt Nam 4
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về mật ựộ và phân bón cho
3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1.2 Phân bón và một số vật tư chuyên dùng khác 26
3.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật ựộ, liều lượng phân bón ựến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất bông 27 3.3.2 đánh giá mức ựộ nhiễm sâu bệnh hại chắnh và hiệu quả kinh tế trên nền
các mật ựộ và liều lượng phân bón khác nhau 27 3.3.3 Thực nghiệm mô hình thâm canh tăng năng suất và ựánh giá ảnh hưởng của thời gian sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất ựến năng suất
Trang 53.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.2 Quy trình kỹ thuật trong thí nghiệm và ruộng mô hình 29 3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi trên ruộng thí nghiệm 29 3.4.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi trên ruộng mô hình 33
4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật ñộ, liều lượng phân bón ñến khả
năng sinh trưởng, phát triển và năng suất bông 34 4.1.1 Ảnh hưởng của thời tiết khí hậu vùng nghiên cứu ñến ruộng thí nghiệm 34 4.1.2 Ảnh hưởng của mật ñộ và liều lượng phân bón ñến một số chỉ tiêu nông
4.1.3 Ảnh hưởng của mật ñộ và liều lượng phân bón ñến các chỉ tiêu sinh
4.1.4 Ảnh hưởng của mật ñộ và liều lượng phân bón ñến các chỉ tiêu cấu
thành năng suất và năng suất của ruộng thí nghiệm 51 4.2 Kết quả ñánh giá mức ñộ nhiễm sâu bệnh hại chính của vùng và hiệu quả
kinh tế trên nền các mật ñộ và liều lượng phân bón khác nhau 62 4.2.1 Ảnh hưởng của mật ñộ và liều lượng phân bón ñến diễn biến của một số
loại sâu bệnh hại chính tại vùng nghiên cứu 62 4.2.2 Xác ñịnh hiệu quả kinh tế của các công thức tham gia thí nghiệm 73 4.3 Kết quả thực nghiệm ruộng mô hình thâm canh tăng năng suất 76
4.3.1 Ảnh hưởng của thời gian sinh trưởng và các chỉ tiêu cấu thành năng suất
4.3.2 Xác ñịnh hiệu quả kinh tế của các ruộng mô hình 79
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Diện tắch và sản lượng bông của Việt Nam trong những năm qua 6 Bảng 2.2 Diện tắch và năng suất bông tại huyện Buôn đôn và tỉnh đăk Lăk 8 Bảng 4.1 Số liệu khắ tượng tại vùng Buôn đôn, vụ bông năm 2005 35 Bảng 4.2 Một số tắnh chất hoá học của ựất trước và sau thắ nghiệm 37 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của mật ựộ và liều lượng phân bón ựến thời gian sinh
trưởng từ gieo ựến 50% số cây có quả ựầu tiên nở 39 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật ựộ và liều lượng phân bón ựến chiều cao cây 41 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mật ựộ và liều lượng phân bón ựến chiều dài cành 44 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của mật ựộ và liều lượng phân bón ựến số cành
Trang 7Bảng 4.14 Ảnh hưởng của mật ñộ và liều lượng phân bón ñến tỷ lệ cây
nhiễm bệnh chết cây con tại các ñịnh kỳ theo dõi 64 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của mật ñộ và liều lượng phân bón ñến tỷ lệ và chỉ số
bệnh ñốm cháy lá tại các ñịnh kỳ theo dõi 66 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của mật ñộ và liều lượng phân bón ñến tỷ lệ và chỉ số
bệnh mốc trắng tại các ñịnh kỳ theo dõi 68 Bảng 4.17 Ảnh hưởng của mật ñộ và liều lượng phân bón ñến mật ñộ và cấp
hại của rầy xanh hai chấm tại ở các ñịnh kỳ theo dõi 71 Bảng 4.18 Hiệu quả kinh tế của các công thức tham gia thí nghiệm 74 Bảng 4.19 Ảnh hưởng của thời gian sinh trưởng và các chỉ tiêu cấu thành
năng suất ñến năng suất của các ruộng mô hình 76 Bảng 4.20 Hiệu quả kinh tế của các ruộng mô hình 79
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Tình hình sản xuất bông xơ trên thế giới giai ñoạn 1970-2005 5 Hình 4.1 Hiện tượng lãng phí ñất ở công thức P1M1 45 Hình 4.2 Hiện tượng ñan xen ở công thức P3M4 45 Hình 4.3 Diến biến mật ñộ và cấp hại của rầy xanh hai chấm ở ruộng thí
Hình 4.4 Ruộng mô hình 1 (ñối chứng), canh tác theo tập quán của nông dân 77 Hình 4.5 Ruộng mô hình 2, áp dụng tổ hợp P2M2 77
Trang 9MỘT SỐ CỤM TỪ CHUYÊN MÔN THƯỜNG DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Cấp rầy: Là cấp ñộ ñánh giá mức ñộ gây hại bông của rầy
xanh hai chấm, ñược ñánh giá theo thang 5 cấp của Viện nghiên cứu cây bông và cây có sợi
Năng suất bông hạt: Là năng suất bông chưa ñược tách xơ
Số quả/cây: Là số quả có khả năng cho thu hoạch tại thời ñiểm có
ñủ 50% số cây có quả ñầu tiên nở
Tổng số quả/cây: Gồm toàn bộ số quả thối/cây và số quả có khả năng
cho thu hoạch/cây
Thời gian sinh trưởng: Là thời gian ñược tính từ khi gieo hạt ñến khi có ñủ
50% số cây có quả ñầu tiên nở
Trang 10ICAC: International Cotton Advisory Commitee
KTNN: Kỹ thuật nông nghiệp
Nxb: Nhà xuất bản
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 111 MỞ đẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA đỀ TÀI
Cây bông (Gossypium spp.) là cây trồng lấy sợi quan trọng nhất Sản
phẩm của nó ựược sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và mang lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài vai trò chắnh là cung cấp sợi cho may mặc, cây bông còn cung cấp nhiều nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp Hạt bông chứa 18-20% dầu và một số axit amin quan trọng Vỏ hạt bông dùng ựể sản xuất phân kali và các hóa chất khác như rượu metilic, các axit hữu cơ Khô dầu bông là thức ăn gia súc quý hoặc làm phân bón có giá trị dinh dưỡng cao (Vũ Công Hậu, 1971) [16], (đoàn Thị Thanh Nhàn và các tác giả 1996) [30]
Hiện nay, trên thế giới có trên 80 quốc gia trồng bông và cây bông ựã ựược trồng trọt trên cả 5 châu lục (Nguyễn Hữu Bình, 2002) [1] Kết quả thống kê tình hình sản xuất bông giai ựoạn 2002-2005 cho thấy, trên thế giới hàng năm sản xuất ựược 21,97 triệu tấn xơ thì có 4 nước có sản lượng cao nhất theo thứ tự là Trung Quốc (24,4%), Mỹ (19,4%), Ấn độ (14,0%), Pakistan (8,9%) và chiếm 2/3 tổng sản lượng toàn cầu Trong ựó, Trung Quốc
và Mỹ là hai quốc gia có ảnh hưởng lớn nhất ựến thị trường và sản xuất bông trên thế giới hiện nay (ICAC, 2007) [40]
Ở nước ta, mặc dù cây bông ựã ựược trồng từ lâu nhưng ựến nay tổng diện tắch ựất trồng bông hàng năm còn thấp, năng suất bông còn thua kém nhiều nước trên thế giới Trong những năm gần ựây ở các vùng trồng bông chắnh của nước ta như: Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và đông Nam
Bộ diện tắch, năng suất và sản lượng ựã tăng lên ựáng kể Thế nhưng theo báo cáo hiện trạng sản xuất bông ở Việt Nam, thì hiện nay sản lượng bông mới chỉ ựáp ứng ựược khoảng 10% nhu cầu về xơ bông cho ngành Dệt may trong nước (Trần Thanh Hùng, 2007) [22]
Trang 12Ở Tây Nguyên nói chung và cao nguyên đăk Lăk nói riêng là một vùng bông lớn của Công ty bông Việt Nam Tại ựây, cây bông ựược ựưa vào trồng trọt từ những năm 1990 với những lợi thế về ựất ựai, lao ựộng và thời tiết thuận lợi nên cây bông ựã nhanh chóng có ựược một vị thế quan trọng trong
cơ cấu cây trồng của tỉnh, vụ bông năm 2002 với năng suất 13,44 tạ bông hạt/ha toàn tỉnh ựã có sản lượng chiếm trên 60% sản lượng của toàn ngành bông Việt Nam Thấy rõ ựược ựây là một vùng ựất có tiềm năng to lớn ựể phát triển diện tắch và năng suất bông, nên kế hoạch phát triển bông của tỉnh ựến năm 2010 là 30.000 ha (UBND tỉnh đăk Lăk, 2003) [48]
Thế nhưng, qua thực tiễn sản xuất trong những năm qua (2001-2005) vùng bông của tỉnh đăk Lăk (cũ) chỉ xoay quanh với diện tắch 10.000 ha
(Niên giám thống kê tỉnh đăk Lăk, 2003 và 2005) trong ựó huyện Buôn đôn
luôn có diện tắch sản xuất bông lớn và ựạt bình quân trên 1.500 ha/vụ, nhưng năng suất thấp chỉ ựạt 9,33 tạ/ha
để góp phần phát triển diện tắch bông ựạt ựược kế hoạch ựề ra của tỉnh, ựồng thời ựể duy trì sản xuất bông ổn ựịnh thì tại huyện Buôn đôn vấn ựề cần thiết là phải cải thiện ựược năng suất
Bên cạnh ựó, trong các biện pháp kỹ thuật canh tác bông tại huyện Buôn đôn thì mật ựộ và liều lượng phân bón là hai yếu tố thường biến ựộng rất lớn trong thực tế sản xuất để khai thác tối ựa tiềm năng năng suất của giống thì mật ựộ và liều lượng phân bón là những yếu tố quan trọng và ựáng ựược chú ý hơn cả, vì nếu một khi nó chưa thắch hợp và thống nhất thì năng suất bông trong sản xuất ựại trà cũng sẽ bị ảnh hưởng ựáng kể Xuất phát từ thực tiễn và những ựòi hỏi trên chúng tôi thực hiện ựề tài
"Nghiên cứu xác ựịnh mật ựộ và liều lượng phân bón thắch hợp cho
cây bông tại huyện Buôn đôn, tỉnh đăk Lăk"
Trang 131.2 MỤC đÍCH YÊU CẦU CỦA đỀ TÀI
- Xác ựịnh hiệu quả kinh tế của các công thức tham gia thắ nghiệm
- Xây dựng ựược mô hình thâm canh tăng năng suất
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA đỀ TÀI
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của ựề tài là cơ sở khoa học ựể góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật trồng bông nhờ nước trời trong ựiều kiện sinh thái vụ thu ựông của huyện Buôn đôn
Bổ sung thêm tài liệu khoa học cho nghiên cứu về mật ựộ và liều lượng phân bón cho cây bông tại tỉnh đăk Lăk
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần tăng năng suất và sản lượng bông hạt và làm giàu cho các nông hộ trồng cây bông vải nhất là ựồng bào các dân tộc tại huyện Buôn đôn
Từ ựó góp phần ổn ựịnh sản xuất của ngành bông
1.4 GIỚI HẠN CỦA đỀ TÀI
đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của một số tổ hợp mật ựộ
và phân bón ựến sinh trưởng và phát triển của cây bông trong ựiều kiện trồng bông mùa mưa nhờ nước trời ở vụ Thu đông của huyện Buôn đôn
Trang 142 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT BÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.1.1 Tình hình sản xuất bông trên thế giới
Lịch sử trồng bông trên thế giới cho thấy, cây bông ñã ñược trồng trọt cách ñây hơn 4 nghìn năm và có nguồn gốc ở vùng nhiệt ñới Cây bông ñã ñược trồng và phát triển mạnh không chỉ ở vùng nhiệt ñới mà còn ở cả các vùng á nhiệt ñới và ôn ñới Trên thế giới, năng suất bông thấp ở các vùng mưa nhiều như Uganda, Ấn ðộ, Brazil và năng suất cao ở các vùng sa mạc và bán
sa mạc trồng bông có tưới nước như Ai Cập và Mehico Tuy nhiên, qua thực
tế sản xuất bông ở các nước nhiệt ñới như Sudan, Peru, Mali và các nước Trung Mỹ chứng tỏ rằng ở các vùng nóng mưa nhiều cũng có thể ñạt ñược năng suất cao và chất lượng xơ tốt (Vũ Công Hậu, 1962, 1971) [15], [16] Mặc dù là cây ưa nóng nhưng hiện nay trên 50% diện tích bông trên thế giới ñược trồng ở những vùng trên 30 vĩ ñộ bắc (ðinh Quang Tuyến, 2004) [46]
Hiện nay, trên thế giới có trên 80 quốc gia trồng bông và cây bông ñã ñược trồng trọt trên cả 5 châu lục Theo số liệu thống kê của Ủy ban tư vấn bông quốc tế (ICAC) cho thấy, tổng diện tích trồng bông nước trời và có tưới
ở niên vụ 2000/2001 là 30 triệu ha, năng suất bông xơ trung bình ñạt 605 kg/ha, trong ñó nước cao nhất là Israel (1.685 kg/ha), Syria (1.414 kg/ha) và
Úc (1.407 kg/ha) Những nước có năng suất thấp là Modambic (56 kg/ha), Indonexia (168 kg/ha) và Senegan (215 kg/ha) (Nguyễn Hữu Bình, 2002) [1]
Thống kê tình hình sản xuất bông giai ñoạn 2002-2005 cho thấy, trên thế giới hàng năm sản xuất ñược 21,97 triệu tấn xơ thì có 4 nước có sản lượng cao nhất theo thứ tự là Trung Quốc (24,4%), Mỹ (19,4%), Ấn ðộ (14,0%), Pakistan (8,9%) và chiếm 2/3 tổng sản lượng toàn cầu Trong thương mại bông thế giới thì Trung Quốc nhập khẩu hàng năm là 20,4% và Mỹ là nước xuất khẩu 40,2% [40], ñây là hai quốc gia có ảnh hưởng lớn nhất ñến thị trường và sản xuất bông trên thế giới hiện nay
Trang 1521,971 18,970
13,831 11,740
Hình 2.1: Tình hình sản xuất bông xơ trên thế giới giai ñoạn 1970-2005
Nguồn: Ủy ban tư vấn bông quốc tế (ICAC) [40]
Qua hình 2.1 cho thấy, tình hình sản xuất bông trên thế giới ngày càng phát triển mạnh nhằm ñáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của thị trường (tăng 1,5-2%/năm) Do ñó, những tiến bộ kỹ thuật ñang ñược nghiên cứu và ứng dụng ngày càng nhiều ñể ñáp ứng yêu cầu của sản xuất
2.1.2 Tình hình sản xuất bông ở Việt Nam
a Tình hình chung
Ở Việt Nam, bông là cây trồng truyền thống và nghề trồng bông ở Việt Nam ñã có trên 2.000 năm với chủng bông cỏ châu Á là cây bản ñịa mọc tự nhiên ở vùng ñồi núi phía Bắc (Hoàng ðức Phương, 1983) [36], (Nguyến Thế Nhã và ctv, 1996) [31] Cuối thế kỷ 19 nước ta ñã tự túc ñược hoàn toàn về bông và các loại vải sợi ñể may mặc Dưới thời Pháp thuộc, diện tích ñã ñược
mở rộng với giống bông Luồi và bông Hải ðảo, nhưng năng suất thấp vì chưa
có những hiểu biết cần thiết về việc phát triển bông trong ñiều kiện nhiệt ñới hoặc chưa mạnh dạn ñầu tư khoa học kỹ thuật (Vũ Công Hậu, 1971) [16]
Trang 16Sau cách mạng tháng tám, nhà nước có chủ trương ñẩy mạnh việc phát triển nghề trồng bông nên ñã ban hành những chính sách khuyến khích, giúp
ñỡ nông dân nên diện tích, năng suất và chất lượng bông từng bước ñược cải thiện (Trần An Phong, 1995) [34] Từ năm 1966 ñến năm 1980 nghề trồng bông ở nước ta bị mai một, sâu bệnh rất nặng nề và năng suất thấp (bình quân chỉ ñạt 5-6 tạ bông hạt/ha), chi phí sản xuất cao chủ yếu là ñầu tư cho thuốc sâu, người trồng bông bị thua lỗ, môi trường bị ô nhiễm nặng từ ñó diện tích trồng bông không thể mở rộng (Nguyễn Hữu Bình và các tác giả, 1998) [4] Bảng 2.1: Diện tích và sản lượng bông của Việt Nam trong những năm qua
Diện tích (ha) Sản lượng bông hạt (tấn)
Khô
Vụ Mưa Tổng
Vụ khô
Vụ mưa Tổng
Bông
xơ (tấn)
Nguồn: Báo cáo hiện trạng sản xuất bông ở Việt Nam, 2007 [22]
Trong những năm gần ñây, nhờ có sự quan tâm ñúng mức của nhà nước cùng nhiều thành tựu khoa học nổi bật về giống, bảo vệ thực vật (Nguyễn Thơ, Nguyễn Hữu Bình, 1996) [42], chuyển ñổi thời vụ trồng bông từ mùa
Trang 17khô sang mùa mưa, ựặc biệt là ựã áp dụng thành công việc quản lý dịch hại tổng hợp trên cây bông nên diện tắch ựã tăng lên và ựạt trung bình trên 25.000 ha/năm (bảng 2.1) Ở Việt Nam hiện nay, diện tắch trồng bông có thể ựược phân ra 3 vùng chắnh sau: Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và đông Nam Bộ Ngoài ra, bông còn ựược trồng ở Sơn La và một số tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ và miền Tây Nam Bộ với diện tắch nhỏ
Những năm qua, sản lượng và năng suất bông ựã không ngừng tăng lên, năng suất bông hạt cả nước ựạt trên 10 tạ/ha (bảng 2.1) Vùng bông Tây Nguyên có sản lượng chiếm trên 50% tổng sản lượng sản xuất trong nước Tuy nhiên, với nhu cầu hơn 100.000 tấn bông xơ của ngành Dệt may trong nước thì sản lượng bông xơ trong nước chỉ ựáp ứng ựược khoảng 10% (Trần Thanh Hùng, 2007) [22] Bên cạnh ựó năng suất bông xơ của Việt Nam hiện nay (khoảng 377 kg xơ/ha) ựang ở mức thấp trong khu vực và trên thế giới
b Tình hình sản xuất bông ở huyện Buôn đôn và tỉnh đăk Lăk
Ở đăk Lăk cây bông vải ựược trồng thử nghiệm trên ựịa bàn huyện Ea
Ka từ năm 1994 và cũng từ sau 1994 ựã bắt ựầu giai ựoạn sản xuất bông hàng hóa ở hai vùng đông và Tây Trường Sơn của tỉnh Cùng với tiềm năng về ựất ựai, nguồn lao ựộng và sự hỗ trợ của nhà nước, nên năm 2002 toàn tỉnh ựã có hơn 16.000 ha bông vụ mưa với sản lượng trên 20.000 tấn bông hạt chiếm trên 60% sản lượng của toàn ngành bông Việt Nam Thấy rõ tiềm năng sản xuất bông ở đăk Lăk (cũ) là rất lớn, nên kế hoạch phát triển bông trong cơ cấu cây trồng của tỉnh vào năm 2010 là 30.000 ha (UBND tỉnh đăk Lăk, 2003) [48] và tỉnh đăk Lăk hiện có 2 nhà máy chế biến bông với tổng công suất mỗi năm 30.000 tấn bông hạt (Công ty bông Việt Nam, 2003) [10]
Trang 18Ở huyện Buôn đôn, thời vụ gieo bông thường kết thúc vào cuối tháng 7 dương lịch Nhưng phần lớn diện tắch bông ựược gieo từ ựầu ựến trung tuần tháng 7 Qua thực tế cho thấy ựây là thời vụ cho năng suất cao, vì trong ựiều kiện trồng bông nhờ nước trời thì việc gieo quá sớm hay muộn thời vụ ựều dẫn ựến giảm năng suất và một số chỉ tiêu chất lượng xơ [2], [13], [24], [26] điều này cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài [70], [73], [78], [100] Bên cạnh ựó, ựể cải thiện ựược năng suất bông ở thời vụ muộn cần phải ựược trồng giống chắn sớm với mật ựộ cao hơn khung chắnh vụ (Buehring và Jones, 1995) [56], (Porter và ctv (1996) [91]
Bảng 2.2: Diện tắch và năng suất bông tại huyện Buôn đôn và tỉnh đăk Lăk
Diện tắch (ha) Năng suất (tạ/ha) Năm
Buôn đôn (*) đăk Lăk (**) Buôn đôn (*) đăk Lăk (**)
Nguồn: (*) Báo cáo tổng kết sản xuất của Trạm bông Buôn đôn, 2001-2005
(**) Niên giám thống kê tỉnh đăk Lăk, 2003, 2005
Qua bảng 2.2 cho thấy, mặc dù huyện Buôn đôn luôn có diện tắch sản xuất bông với trên 1.500 ha bông/năm và phần lớn diện tắch ựược gieo trong khung thời vụ chắnh Nhưng năng suất bình quân vẫn không ựược cải thiện và
có chiều hướng tụt giảm Theo báo cáo tổng kết của Trạm bông Buôn đôn thì ngoài ảnh hưởng của ựiều kiện thời tiết không thuận lợi trong những năm qua
Trang 19thì nguyên nhân khác làm giảm năng suất bông tại huyện Buôn đôn so với năng suất bình quân của toàn tỉnh, là ựa số các hộ trồng bông là ựồng bào dân tộc ắt người tại chỗ và ựồng bào các dân tộc khác di cư từ phắa Bắc vào có tập quán canh tác quảng canh, thể hiện chủ yếu qua việc bón phân không cân ựối
và gieo trồng ở mật ựộ chưa hợp lý, mặc dù hàng năm vẫn có những ruộng ựiển hình cho năng suất trên 30 tạ bông hạt/ha (Võ Ngọc Hiền, 2005) [18]
2.2 YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY BÔNG
Sinh trưởng là kết quả tổng hợp của các quá trình hoạt ựộng sinh lý trong cây, quá trình hoạt ựộng này bị lệ thuộc một cách chặt chẽ và phức tạp với các yếu tố sinh thái, trong ựó ựáng kể nhất là ựiều kiện nhiệt ựộ, ánh sáng, nước và ựộ ẩm, ựất ựai và dinh dưỡng
2.2.1 Nhiệt ựộ
Cây bông là cây có nguồn gốc nhiệt ựới nên ựòi hỏi cao về nhiệt Nhu cầu của cây bông ựối với nhiệt ựộ khá chặt chẽ, tùy theo mỗi thời kỳ sinh trưởng, phát triển mà cần có yêu cầu về nhiệt ựộ khác nhau
Các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về yêu cầu nhiệt ựộ của cây bông ở mỗi giai ựoạn cho thấy: thời kỳ nẩy mầm yêu cầu nhiệt ựộ tối thiểu là 12-140C và thắch hợp là 25-300C, thời ựiểm bông ra lá thứ nhất yêu cầu nhiệt ựộ tối thiểu là 14-170C và thắch hợp là trên 200C, thời kỳ bắt ựầu ra nụ yêu cầu nhiệt ựộ tối thiểu là 19-200C nhiệt ựộ cao hơn nụ sẽ ra sớm và nhiều, thời kỳ từ nụ ựến quả chắn yêu cầu nhiệt ựộ là 20-300C, nhiệt
ựộ thấp hơn 200C làm giảm chiều dài xơ và giảm mạnh ở những giống có xơ dài, nhiệt ựộ dưới 150C làm cho quá trình tắch lũy xenlulo về xơ bị ựình chỉ [23], [65], [71]
Nhìn chung, nhiệt ựộ cao làm cho quá trình hô hấp của cây tăng, tiêu hao nhiều chất dinh dưỡng, dẫn ựến giảm sức sống và dễ bị sâu bệnh Nhiệt
ựộ quá cao làm suy yếu sức nảy mầm của hạt phấn và dẫn ựến không ựậu quả
Trang 20Tổng kết về ảnh hưởng của nhiệt ñộ không khí tới sinh trưởng của cây bông Nguyễn Hữu Bình và các tác giả (1998) [4] ñã nhận xét, nhiệt ñộ tối ưu cho sinh trưởng và phát triển của cây bông là 25-300C Nhiệt ñộ thấp hơn
250C làm cây sinh trưởng chậm, nhiệt ñộ dưới 170C thì cây bị cằn lại và nhiệt
ñộ 37-400C cây ngừng sinh trưởng Tuy nhiên, vẫn có những loài hoang dại
có thể phát triển ñược trên nền nhiệt ñộ 400C như Gossypium stocksii
Mauer (1968) cho rằng, “ðặc tính di truyền khó thay ñổi nhất của cây bông là tính ưa nóng của nó” (dẫn theo ðoàn Thị Thanh Nhàn và các tác giả, 1996) [30] Tuy nhiên, mỗi loài và mỗi giống bông có nhu cầu về lượng nhiệt hữu hiệu khác nhau ở mỗi giai ñoạn sinh trưởng và phát triển
ðể hoàn thành giai ñoạn mọc mầm các giống thuộc loài bông Luồi cần tổng lượng nhiệt: 840C, giai ñoạn nụ: 5000C, giai ñoạn hoa: 1.0000C và từ hoa ñến nở quả: 7000C (Nguyễn Hữu Bình và các tác giả, 1998) [4]
2.2.2 Ánh sáng
Bông là cây có nhu cầu ánh sáng cao, không chịu rợp trong ngày lá bông thường hướng về phía các tia chiếu của mặt trời, chỉ khi mặt trời lặn
lá bông mới rũ xuống Từ ñó, ngay từ thế kỷ 19 các nhà sinh lý thực vật
Mỹ ñã gọi bông là “Con ñẻ của mặt trời” (ðoàn Thị Thanh Nhàn và các tác giả, 1996) [30] Khi thiếu ánh sáng cường ñộ quang hợp của cây bông giảm ñi nhiều, cây mọc vống lên, bốc lá và rụng quả non Theo các tác giả Nga, trong ñiều kiện chiếu sáng tối ưu thì 1m2 phiến lá trong 1 giờ có thể tổng hợp ñược 1,46 g chất khô, trong ñiều kiện ánh sáng không ñầy ñủ thì chỉ số ñó chỉ còn 0,073 g (Nguyễn Hữu Bình và các tác giả, 1998) [4] Theo Doyle (1941) [62], những diện tích bị mây che phủ nhiều hơn 50% thời gian chiếu sáng thì không thích hợp cho việc trồng bông, cho dù nhiệt ñộ và
Trang 21ẩm ñộ thích hợp Từ các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước [16], [17], [37] cho thấy, bất kỳ vì lý do gì làm cho ánh sáng yếu ñi như trời nhiều mây, bóng che ñều làm giảm sản lượng Cây bông ñòi hỏi cường ñộ ánh sáng cao và là cây ngày ngắn, nhưng cũng có khả năng thích nghi nhanh với ñiều kiện ngày dài, các giống bông có nguồn gốc vĩ tuyến cao khi trồng ở ñiều kiện ngày dài thường chín sớm hơn các giống nhiệt ñới
Tôn Thất Trình (1974) [44] cho rằng, các giống bông luồi ñược nhập vào Việt Nam không có phản ứng quang chu kỳ và có thể nở hoa bình thường, nhưng khi thiếu ánh sáng thì nụ, hoa và quả non sẽ rụng nhiều
2.2.3 Nước và ñộ ẩm
Nghiên cứu ảnh hưởng của ẩm ñộ ñến sinh trưởng, phát triển của cây bông các tác giả [14], [37], [45] ñều cho rằng, bông cần phải ñược trồng ở những vùng ít mưa và ñộ ẩm không khí thấp, khi ñộ ẩm không khí cao sẽ sinh nhiều sâu bệnh, ñài hoa rụng nhiều, nhất là giai ñoạn từ ra hoa ñến quả chín Mưa lớn làm vỡ hạt phấn nên có thể làm bất thụ 20 - 25% số hoa trên cây
Ẩm ñộ không khí thích hợp cho bông dao ñộng 70 - 80%
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Long (2000) [27] về tác ñộng của các yếu tố khí tượng ñến tỷ lệ ñậu quả của cây bông cho thấy, hiệu quả trực tiếp của nhiệt ñộ và ẩm ñộ không khí ñến tỷ lệ ñậu quả là dương Các hiệu quả gián tiếp của chúng thông qua nhau ñến tỷ lệ ñậu quả ñều mang giá trị âm, trong ñó hiệu quả trực tiếp của lượng mưa ñến tỷ lệ ñậu quả là âm
Thí nghiệm trong nhà kính Usevatkin ñã chứng minh rằng ñộ ẩm không khí từ 80 ñến 90 % kết hợp với ñộ ẩm ñất cao là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra nạn rụng ñài của cây bông (dẫn theo Vũ Công Hậu, 1978) [17], kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khi ẩm ñộ không khí trên 90 % trong thời gian dài ngày ñã gây ảnh hưởng xấu ñến sự ñậu quả từ ñó ñã làm giảm năng suất (Waddle, 1984) [106]
Trang 22Theo các tác giả Nga, vào thời kỳ cây con yêu cầu ẩm ñộ ñất không cao, khi ra nụ ñộ ẩm ñất phải ñạt 60 - 70% Thời kỳ cây bông ra hoa, ñậu quả, cần ñộ ẩm ñất cao nhất là 70 - 75% (Vũ Công Hậu, 1978) [17] Nghiên cứu ảnh hưởng của ẩm ñộ ñến năng suất bông Grimes và ctv (1978) [66] nhận thấy, ñất thiếu ẩm khi 36% quả bông ñã hình thành thì năng suất chỉ ñạt 790
kg bông xơ/ha so với 1.274 kg bông xơ/ha khi bông ñược tưới ñủ ẩm Những nghiên cứu của Nguyễn Khắc Trung (1962) [45] tại Thái Bình cho kết quả, bông có tưới cho năng suất cao hơn 30% so với bông không tưới
2.2.4 ðất trồng bông
Cây bông có thể trồng trên nhiều loại ñất khác nhau miễn là thoát nước tốt và lý hóa tính ñất không quá xấu [16], [45], [36] Tuy nhiên, tốt nhất là những loại ñất có tầng canh tác dày, không kết von, tỷ lệ cát thô (> 0,2 mm) và mịn (0,02 - 0,2 mm) khoảng 40 - 50%, tỷ lệ sét (< 0,002 mm)
và limon (0,02-0,002 mm) khoảng 50-60% trong ñó limon nhiều hơn sét (Nguyễn Hữu Bình và các tác giả 1998) [4]
Theo các tác giả Ấn ðộ, bông có thể trồng ở ñất có pHKCl từ 4,5 ñến 8,5 Tuy nhiên trong các loài bông, bông Luồi ưa pHKCl cao hơn (pHKCl > 7), bông Cỏ ưa pHKCl thấp hơn (pHKCl < 7), riêng bông Hải ðảo thì dễ tính hơn với phản ứng của môi trường ñất (Vũ Công Hậu, 1962) [15] Nghiên cứu trong ñiều kiện ñất ñai ở Việt Nam cho thấy, sinh trưởng và năng suất bông hạt luôn tương quan thuận với ñộ pH ñất, tổng cation trao ñổi, ñộ no bazơ, hàm lượng lân và kali dễ tiêu trong ñất Ngược lại sinh trưởng và năng suất bông hạt luôn tương quan nghịch ñáng tin cậy với ñộ chua và hàm lượng nhôm di ñộng trong ñất Từ ñây, có thể kết luận cây bông chỉ sinh trưởng bình thường và cho năng suất khá trên ñất có pHKCl > 4,5, hàm lượng Al3+ < 1 mg/100 g ñất [33], [34] và việc xác ñịnh hàm lượng nhôm di ñộng và pH ñất
là cần thiết ở những vùng mới trồng bông lần ñầu
Trang 232.2.5 Dinh dưỡng của cây bông
Nguồn dinh dưỡng cho cây bông chủ yếu lấy từ ñất và một phần do con người cung cấp thông qua việc bón phân Những nguyên tố cần thiết cho cây bông là ñạm, lân, kali và các nguyên tố trung, vi lượng Kết luận của Milsted
và ctv (1973) [86] ñể ñạt năng suất 500 kg/ha, cây bông ñã lấy ñi 40 kg N, 16
kg P2O5 và 17 kg K2O Khi năng suất ñạt 1.500 kg/ha thì lượng dinh dưỡng lấy ñi là 125 kg N, 50 kg P2O5 và 52 kg K2O
- ðạm: ñạm là nguyên tố cây trồng cần ñể sinh trưởng và phát dục, là
thành phần cấu tạo nên các chất protein, acid nucleotic, diệp lục tố, các loại men và các loại sinh tố Qua nghiên cứu nhiều năm tại Trung tâm bông Nha
Hố cho thấy, ñạm có ảnh hưởng mạnh ñến các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của cây bông Cung cấp ñạm ñầy ñủ làm tăng diện tích lá, tăng quá trình quang hợp và cuối cùng là tăng năng suất bông Khi thiếu ñạm, cây bông sinh trưởng chậm, phiến lá nhỏ, số cành quả và tổng số ñốt trên cành quả ít, quả bé
và có sản lượng thấp Tuy nhiên, khi cung cấp thừa ñạm cây sinh trưởng dinh dưỡng mạnh, dễ lốp ñổ và năng suất thấp (Tôn Thất Trình, 1974) [44]
- Lân: lân có tác dụng rất lớn trong sinh trưởng, phát dục của cây
trồng, di truyền biến dị, truyền tiếp năng lượng, vận chuyển dinh dưỡng ñồng thời lân cũng là nguyên tố cần thiết giúp xúc tiến bộ rễ phát triển sớm Thiếu lân cây trồng phát triển kém, ít phân cành và ảnh hưởng xấu ñến sự hình thành quả và hạt (Lê Văn Căn và các tác giả, 1978) [9] ðối với cây bông, lân thúc ñẩy cây ra nụ, hoa sớm Giai ñoạn hình thành quả, lân có vai trò xúc tiến hạt bông mau chín, tăng hàm lượng dầu trong hạt, tăng khối lượng quả và chiều dài xơ (Silva và ctv, 1990) [99] Khi thiếu lân, cây sinh trưởng chậm, lá
có mầu lục tối, cây nhỏ và thấp, khó nở hoa, ñậu quả muộn, nhiều hạt lép, ñộ chín xơ bông thấp, năng suất và chất lượng xơ ñều giảm (Lý Văn Bính và
Phan ðại Lục, 1991) [8]
Trang 24- Kali : kali là nguyên tố có hàm lượng lớn nhất trong các chất vô cơ
có mặt trong cây bông Bổ sung kali trong ựiều kiện ựất thiếu kali có khả năng tăng số quả, khối lượng quả, chỉ số hạt, giảm số hạt lép, tăng tỷ lệ xơ
và chất lượng xơ Giai ựoạn cây con ựến ra nụ, nếu thiếu kali lá trên thân bị mất mầu xanh lục, chuyển sang vàng, sau ựó ngọn lá và rìa lá khô ựi, quăn xuống phắa dưới và cuối cùng toàn bộ phiến lá chuyển sang mầu ựỏ nâu Khi ựất bị thiếu kali nặng làm lá khô và rụng, cây bông tàn lụi sớm, quả nhỏ, khó
nở, ựộ chắn xơ thấp và giảm năng suất (đinh Quang Tuyến, 2004) [46]
- Các nguyên tố trung và vi lượng: khi cung cấp ựầy ựủ các nguyên
tố ựa lượng thì các nguyên tố trung và vi lượng giữ vai trò quan trọng ựể cải thiện năng suất và chất lượng xơ bông
Theo Hinkle và Brown (1968) [69], các nguyên tố vi lượng ảnh hưởng trực tiếp ựến số quả trên cây và năng suất bông hạt Nghiên cứu về vi lượng
Bo cho thấy, Bo có tác dụng tăng cường tắnh chống chịu và cần thiết cho sự hình thành nụ bông (Hoàng đức Phương, 1983) [36] Theo các tác giả Lê Công Nông, Lê Xuân đắnh, Nguyễn Hữu Bình và ctv (1996) [33] bón phân dạng MgSO4 và (NH4)2SO4 có tác dụng tăng chiều cao cây, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất, trong ựó sử dụng 25 - 50 % N dạng (NH4)2SO4
có tác dụng vừa cung cấp ựạm vừa cung cấp lưu huỳnh cho cây và có tác dụng tốt ựến sinh trưởng và năng suất bông
Theo tác giả Dương Việt Thành (2001) [41], bón 20 kg ựến 30 kg ZnSO4/ha làm giảm tỷ lệ quả thối, tăng số quả trên cây và năng suất bông hạt
có ý nghĩa so với ựối chứng không bón kẽm Theo Lê Công Nông (1997) [32] khi nghiên cứu về hiệu lực của lưu huỳnh và magiê trên cây bông vải cho thấy, bón phân có chứa S và Mg hay MgSO4 làm tăng năng suất bông hạt, cung cấp khoảng 30 kg MgO/ha dạng MgSO4 ựược xem là thắch hợp nhất
Trang 252.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ MẬT
ðỘ VÀ PHÂN BÓN CHO BÔNG
2.3.1 Những nghiên cứu về mật ñộ ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất bông
ðể phát huy hết tiềm năng năng suất của giống ñiều ñầu tiên phải xác ñịnh ñược mật ñộ tối ưu cho chúng, từ ñó sẽ tận dụng ñược các yếu tố tự nhiên như ñất ñai, ánh sáng theo hướng có lợi cho năng suất cây trồng Trên thế giới và ở Việt Nam mật ñộ gieo trồng cho bông thay ñổi rất lớn, nó phụ thuộc nhiều vào giống, ñiều kiện sinh thái và ñiều kiện canh tác của mỗi vùng Theo Nguyễn Khắc Trung (1962) [45], ruộng bông trồng với mật ñộ quá cao, cành lá ñan xen nhau dẫn ñến thiếu ánh sáng, ruộng bông không thông thoáng, do ñó nạn rụng ñài sẽ xẩy ra nghiêm trọng
Vũ Công Hậu (1978) [17] cho rằng tại Việt Nam, ñối với giống bông Luồi mật ñộ thích hợp ở 4 vạn cây/ha Ở những vùng có nhiệt ñộ và ẩm ñộ không khí cao thì không nên trồng quá dày Giống có cành quả dài mật ñộ không nên vượt quá 3 ñến 4 vạn cây/ha ðối với các giống cành ngắn có thể trồng từ 5 ñến 7 vạn cây/ha
Kết quả nghiên cứu về mật ñộ gieo trồng dao ñộng trong khoảng 33,0 vạn cây/ha (khoảng cách hàng 0,9 m) trên các giống L47, 57-48-39, MCU-9, M456-10, D16-2, K4-4, C118 của Viện nghiên cứu cây bông và cây
2,7-có sợi cho thấy, mật ñộ thay ñổi từ 3,7 ñến 11,0 vạn cây/ha ít ảnh hưởng ñến phẩm chất xơ bông Giống bông lai L18 cho năng suất cao nhất với mật ñộ 2,5 vạn cây/ha (Nguyễn Hữu Bình và các tác giả, 1998) [4]
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật ñộ ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống bông lai VN 02.2, VN 04.3 và VN 04.5 tại Nha Hố - Ninh Thuận cho thấy, việc tăng mật ñộ trong khoảng 3,5 ñến 10 vạn cây/ha ñã có
Trang 26tác dụng làm tăng số quả/m2 và năng suất bông hạt, mật ñộ càng cao năng suất thực thu càng tăng khi xét về giá trị tuyệt ñối Tuy nhiên, việc tăng mật
ñộ cây ñã làm tăng tỷ lệ quả thối và làm giảm khối lượng quả so với trồng mật
ñộ thưa Giống VN 04.3 cho năng suất bông hạt và hiệu quả kinh tế cao nhất với mật ñộ 5 vạn cây/ha (ðinh Quang Tuyến và ctv, 2006) [47]
Các tác giả Gannaway, Hake và ctv (1995) [64] nghiên cứu ở Teas nhận thấy rằng, thời gian chín của các giống kéo dài, tỷ lệ xơ và ñộ lớn của quả giảm khi tăng mật ñộ Mật ñộ khác nhau ảnh hưởng không ñáng kể ñến chiều dài xơ, ñộ bền xơ, nhưng mật ñộ tăng ñã làm giảm chỉ số ñộ mịn
Lubbock-xơ Theo Shalaby và ctv (1989) [97] thì gieo bông kiểu hàng kép 40 và 90 cm cho tổng số quả/m2 cao nhất Giảm khoảng cách cây từ 20 cm xuống 10 cm có tác dụng làm tăng tỷ lệ xơ và năng suất bông hạt
Nghiên cứu tác ñộng qua lại giữa giống và mật ñộ ở Bet Dagan thuộc ñồng bằng ven biển của Israel cho thấy, các giống bông có dạng hình gọn, chín sớm như Tamcot SP37 cho năng suất cao nhất ở mật ñộ 2,4 vạn cây/ha, trong khi những giống chín muộn như Acala SJ-2 cho năng suất cao ở mật ñộ 8,0 vạn cây/ha (Rimon D., 1994) [94]
Sử dụng giống bông DES 119 (Gossypium hirsutum) trồng với khoảng
cách hàng 96,5 cm trong ñiều kiện có tưới và không có tưới cho năng suất cao nhất, ñây cũng là khoảng cách thuận lợi nhất cho thu hoạch (Vories E.D và ctv, 1994) [105] Cũng với giống này Ebelhar và ctv (1994) [63] nhận thấy, trồng với khoảng cách hàng 76,2 cm và theo kiểu trồng một hàng bỏ một hàng luân phiên nhau ñã làm tăng năng suất bông và giảm giá thành sản xuất Theo Birajdar và ctv (1987) [53] với giống bông lai Hybrid-4 trồng trong ñiều kiện nhờ nước trời, mật ñộ 2,7 vạn cây/ha với kiểu hàng ñơn hay hàng kép ñều không ảnh hưởng ñến năng suất bông hạt
Trang 27Công trình nghiên cứu của Smart J.R và ctv (1995) [101] từ năm
1992-1994 ở 4 ựịa ựiểm thuộc thung lũng Lower Rio Grande cho thấy, trồng bông với khoảng cách hàng 73,5 cm ựã thể hiện tắnh chắn sớm hơn của giống chắn sớm và thời gian che phủ ựất cũng tốt hơn, nhưng cả hai nhân tố là ựịa ựiểm
và khoảng cách hàng ựều không ảnh hưởng ựến năng suất Năng suất bông xơ
có xu hướng cao hơn ở khoảng cách hàng hẹp Tuy nhiên, sự kết hợp giữa khoảng cách hàng và giống hay khoảng cách hàng và các ựịa ựiểm nghiên cứu ựều không ảnh hưởng ựến năng suất bông hạt
Trong ựiều kiện trồng bông nhờ nước trời ở Bijapur-Karnataka với giống bông lai Jayalaxmi (DCH-32) cho thấy, năng suất bông hạt ắt chịu ảnh hưởng bởi khoảng cách hàng Gieo hạt ở mật ựộ 1,8 vạn cây/ha cho năng suất bông hạt cao hơn so với mật ựộ 1,2 vạn cây/ha, nhưng sai khác không có ý nghĩa so với mật ựộ 2,5 vạn cây/ha (Guggari A.K và ctv, 1992) [67]
Brar và Rajinder Sing (1990) [55] nhận thấy, năng suất bông hạt cao nhất trên giống LH900 với khoảng cách 68 x 30 cm là 2,84 tấn/ha và giống F286 ở khoảng cách 75 x 7,5 cm cho năng suất cao nhất là 1,93 tấn/ha Năng suất bông hạt có xu hướng giảm ở các khoảng cách hàng rộng hơn
đánh giá ảnh hưởng của mật ựộ và các giống DES 119, DP 50 và St 453 tác giả Tupper và ctv (1995) [103] chỉ ra rằng, các giống và mật ựộ gieo trồng khác nhau cho năng suất và hiệu quả kinh tế khác nhau Trồng bông theo kiểu 4 hàng bỏ 1 hàng hoặc 2 hàng bỏ 1 hàng ựối với khoảng cách hàng hẹp (73,5 cm)
và khoảng cách hàng theo tập quán ựịa phương (101,6 cm) thì năng suất bông không có sự sai khác Mô hình trồng khoảng cách hàng 73,5 cm, trồng 2 hàng
bỏ 1 hàng cho năng suất cao hơn khoảng cách hàng 101,6 cm và trồng 1 hàng
bỏ 1 hàng Lãi trên chi phắ sản xuất cao nhất với khoảng cách hàng 101,6 cm Khi sử dụng mô hình trồng 2 hàng bông cách nhau 73,5 cm bỏ 1 hàng cho lãi suất cao hơn trồng theo mô hình 4 hàng với khoảng cách 101,6 cm bỏ 1 hàng
Trang 282.3.2 Những nghiên cứu về mật ñộ và phun chất ñiều hòa sinh trưởng
Mepiquate Chlorid ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất bông
Chất ñiều hòa sinh trưởng Mepiquate Chlorid (tên thương mại là PIX)
có tác dụng ñiều tiết quá trình sinh trưởng dinh dưỡng của thực vật Tại Trung Quốc việc sử dụng chất ñiều hòa sinh trưởng ñã mở ra triển vọng mới cho nghề trồng bông Sử dụng chất ñiều hòa sinh trưởng kết hợp với tăng mật ñộ cây và tăng mức phân bón ñược ñề cập bởi Yao và ctv (1990) [110]
Kết quả phun PIX 3 lần/vụ cho giống SSR60 tại Lopburi (Thái Lan) cho thấy, PIX có tác dụng ức chế chiều cao cây, chiều dài ñốt thân và số ñốt trên thân chính, công thức phun PIX cho khối lượng quả cao hơn so với ñối chứng, nhưng sự sai khác về năng suất chưa rõ rệt (Crozat, 1995) [58] Nghiên cứu ở miền Bắc Carolina cho thấy, hiệu quả của PIX ñến năng suất bông phụ thuộc vào thời vụ gieo Những thời vụ gieo sớm, sử dụng PIX có tác dụng làm tăng năng suất, những thời vụ muộn do giai ñoạn nở hoa ngắn nên việc sử dụng PIX làm giảm năng suất bông (Gutherie, 1989) [68]
Theo Xu và Taylor (1992) [109], xử lý hạt trước khi gieo bằng PIX với
lượng 500 mg/kg có tác dụng thúc ñẩy bộ rễ phát triển và tăng khả năng chịu hạn thời kỳ cây bông con, tăng hàm lượng diệp lục trong lá Theo Williford
(1992) [107], trong ñiều kiện khoảng cách hàng hẹp, phun Mepiquate Chlorid
sẽ có tác dụng làm giảm sinh trưởng chiều cao cây và làm tăng năng suất bông so với không phun Constable (1994) [57] nhận thấy, hiệu lực của
Mepiquate Chlorid ñến năng suất bông phụ thuộc vào tình trạng sinh trưởng của cây trước khi xử lý Các công thức phun PIX ñã làm giảm chiều cao cây
và cải thiện sự chín sớm nhưng không ảnh hưởng ñến năng suất và chất lượng
xơ bông [51], [85], [95] ðồng thời, phun PIX kết hợp tăng mật ñộ cây trên ñơn vị diện tích ñã làm tăng năng suất so với ñối chứng [76], [92], [108]
Trang 29Từ kết quả nghiên cứu của Vũ Xuân Long (2000) [27] cho thấy, trong ñiều kiện mưa nhiều cây bông sinh trưởng mạnh, ruộng bông không thông
thoáng phun Mepiquate Chlorid 1 lần vào giai ñoạn 65 ngày tuổi với lượng
1,2 lít/ha ñã làm giảm sinh trưởng chiều cao cây, chiều dài cành và cho bội thu năng suất 4,6 tạ/ha Nghiên cứu ảnh hưởng của mật ñộ, liều lượng và thời
kỳ phun PIX tại Ninh Thuận cho thấy, áp dụng mật ñộ 5 vạn cây/ha, phun PIX 3 lần với liều dùng 35, 70, 105 ml PIX/ha cho năng suất và hệ số kinh tế cao nhất (Lê Quang Quyến, Lê Công Nông và ctv, 2002) [38]
2.3.3 Những nghiên cứu về phân bón ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất bông
2.3.3.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất bông
Phân bón là một trong những ñiều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng ñến sinh trưởng và phát triển của cây bông Thông qua việc bón phân cân ñối giúp cho cây khỏe ở thời kỳ ñầu, sinh trưởng ổn ñịnh ở thời kỳ giữa và cũng không sớm tàn ở thời kỳ cuối vụ Bón phân hợp lý làm tăng diện tích quang hợp, tăng cường ñộ quang hợp và kéo dài thời gian quang hợp từ ñó tăng năng suất và cải thiện chất lượng bông Theo Lý Văn Bính và Phan ðại Lục (1991) [8] cho biết, ở giai ñoạn cây có từ 5 ñến 12 lá nếu ñược bón ñạm ñầy
ñủ thì cường ñộ quang hợp tăng hơn so với cây không bón từ 30% ñến 780% Tuy nhiên, bón phân gì và liều lượng bón thế nào còn tùy thuộc vào phản ứng mạnh hay yếu của từng giống bông
Kết quả công bố của Viện nghiên cứu bông liên bang Nga, nếu không bón phân liên tục trong 25 năm năng suất chỉ ñạt 15 tạ/ha so với 35,8 tạ/ha khi lượng phân cung cấp hàng năm là 150 kg N, 100 kg P2O5, và 50 kg K2O Nghiên cứu ở ðịnh Tường cũng cho kết quả tương tự, năng suất ở những ruộng không bón phân chỉ ñạt 6,8 tạ/ha, khi bón 70 kg N, 70 kg P2O5 và 70 kg
K2O/ha năng suất cao hơn hai lần (Vũ Công Hậu, 1978) [17]
Trang 30Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu cây bông và cây có sợi cho thấy, phân bón có ảnh hưởng ñến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất nhưng không ảnh hưởng ñến chất lượng xơ bông Bên cạnh ñó, nghiên cứu ở ñiều kiện trồng bông nhờ nước trời của John và ctv (1990) [74] cũng cho kết quả tương tự Một nghiên cứu khác của Jackson và Tilt (1968) [72] cho thấy, phân ñạm làm tăng chiều dài sợi, các chỉ tiêu khác ít hoặc không chịu ảnh hưởng của phân ñạm
Theo Lý Văn Bính, Phan ðại Lục (1991) [8] kết luận, lá bông có thể hấp thu ñược một số chất hòa tan trong nước với tốc ñộ nhanh và hiệu quả cao Bên cạnh ñó, do cây bông vừa sinh trưởng sinh dưỡng vừa sinh trưởng sinh thực nên ñòi hỏi dinh dưỡng lớn Nếu cung cấp dinh dưỡng một cách hợp lý thì tỷ lệ khối lượng bông hạt trên khối lượng cơ quan sinh dưỡng sẽ
là từ 1/1,1 ñến 1/1,3, tức bông hạt chiếm 40 - 45% tổng khối lượng toàn cây (Hoàng ðức Phương, 1983) [36]
Từ nghiên cứu của Shanmugam và ctv (1972) [98] cho thấy, bón phân Urea cho bông bằng cách phun qua lá ñã làm tăng năng suất bông hạt
từ 17-21% so với bón phân qua ñất Bón phân ñạm qua lá làm tăng số quả trên cây, tăng khối lượng quả so với ñối chứng Dùng phân DAP 2% phun cho bông vào thời kỳ hình thành nụ và thời kỳ 50% số cây có hoa nở ñã có tác dụng tăng năng suất 21,82% so với ñối chứng không phun (Mannikar
và ctv, 1990) [82] Nghiên cứu về liều lượng ñạm ñến năng suất bông ở 3 năm liên tục Mcconnell và ctv (1992) [84] nhận thấy, chiều cao cây tăng khi lượng ñạm tăng Tỷ lệ bông thu hoạch lần thứ nhất giảm khi bón ñạm tăng và năng suất bông xơ ñạt cao nhất khi bón 140 kg N/ha Theo Boquet (1989) [54] thì ñạm có tác dụng làm tăng tổng số quả trên cây Khi bón lớn hơn 84 kg N/ha làm cho bông kéo dài thời gian sinh trưởng và chín muộn, giảm khối lượng quả và tăng số quả thối trên cây
Trang 31Nghiên cứu trên giống bông luồi ở Akola-Maharashtra trong ñiều kiện trồng bông nhờ nước trời cho thấy, năng suất bông hạt thấp nhất là 0,91 tấn/ha
ở công thức không bón lân và cao nhất với 1,52 tấn/ha khi bón 50 kg N/ha và phun 3 lần/vụ với nồng ñộ 0,5% P2O5 Phun lân qua lá ở nồng ñộ 0,5% ñã làm tăng hàm lượng dầu và năng suất bông (Pandrangi và ctv, 1992) [90]
Trên thế giới, liều lượng phân bón cho bông thường biến ñộng rất lớn
từ 20- 300 kg N/ha (Makram E.A và ctv, 1994) [79] Theo các tác giả Mỹ và Ixraen cho rằng, luợng ñạm khoảng 110-120 kg N/ha là kinh tế nhất và dễ dàng ñạt năng suất 20 tạ/ha Theo Moore và ctv (1990) [87] lượng ñạm bón cho bông thích hợp là 125 kg N/ha, ở mức ñạm này năng suất bông hạt ñạt 44 tạ/ha Các công thức bón ñạm không ảnh hưởng ñến tỷ lệ quả thối trên cây
Theo David và Guthrie (1989) [60], lượng ñạm cho năng suất bông cao nhất là 135 kg N/ha, bón ñạm cho bông làm tăng chiều cao cây, tổng số ñốt trên thân chính, số cành quả trên cây Nghiên cứu trên giống AK 5410 ở ñiều kiện vụ mưa tại Akola, Maharashtra (Ấn ðộ) cho thấy, năng suất bông ñạt cao nhất với lượng bón 60 kg N/ha nhưng không bị ảnh hưởng bởi lượng lân, bón ñạm làm tăng diện tích lá, tăng số cành quả trên cây và ñẩy nhanh tốc ñộ tăng trưởng (Sawaji và ctv, 1994) [96]
Trong ñiều kiện vụ mưa bón 40 kg N/ha làm tăng năng suất từ 360 ñến 530 kg bông hạt/ha, năng suất không tăng khi bón cao hơn mức 60 kg N/ha Với mức bón từ 10 ñến 30 kg P2O5/ha cho năng suất bông sai khác không ñáng kể so với ñối chứng không bón (Akabari và ctv, 1987) [49] Theo Palomo và Godoy (1995) [89] nhận xét, sự thiếu hụt ñạm do bón phân với lượng thấp ñã làm chậm thời gian ra hoa ñầu tiên, giai ñoạn ra hoa và ra quả bị rút ngắn Tỷ lệ ñạm cũng tương quan với khoảng thời gian ra hoa và tổng số quả trên cây, sự xuất hiện quả ñầu tiên và khoảng thời gian ra quả không bị ảnh hưởng bởi lượng ñạm
Trang 32Theo Malik và Makhdum (1990) [80] nghiên cứu trên giống B-557 tại
3 ñịa ñiểm khác nhau cho thấy, năng suất bông tương ñồng giữa các mức bón lân Sự hút lân ñối với cây bông ở mỗi vùng là khác nhau và biến ñộng từ 4,18 ñến 14,69 kg P2O5 /ha Những nơi có hàm lượng lân trong ñất vượt quá
8 mg/1 kg ñất thì phản ứng của việc bón lân không giống nhau Kết quả nghiên cứu ở Multan (Pakistan) trên giống AHH-468 với các mức lân khác nhau cho thấy, năng suất tăng khi lượng lân tăng nhưng sự sai khác không có
ý nghĩa Tất cả các công thức bón lân không ảnh hưởng ñến chất lượng xơ bông (Malik M.N.A và ctv, 1992) [81]
Tursunova và ctv (1996) [104] khi nghiên cứu về hiệu quả của phân kali các tác giả cho thấy, khi ñất thiếu kali thì lượng bón kali càng cao cho năng suất bông xơ càng tăng Nghiên cứu trên các giống chín sớm, Matocha
và ctv (1994) [83] nhận thấy, bón hay phun kali ñã làm tăng năng suất bông
xơ ñược thể hiện ở sự tăng kích thước quả và số quả/cây Trong những thuộc tính về xơ chỉ có ñộ bền ñược cải thiện ở các công thức bón kali thông qua ñất Những thí nghiệm ñồng ruộng ñã chỉ ra rằng bón kali làm tăng cả chiều dài xơ và sự phát triển của vách tế bào (Bennett O.L và ctv, 1965) [52] Tuy nhiên, theo Nelson (1949) [88] khi tăng lượng kali thì chỉ ảnh hưởng nhẹ ñến hai chỉ tiêu trên, thiếu kali sợi bông kém phát triển và ngắn
Ở Việt Nam các kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu và phát triển cây bông ñã kết luận, tỷ lệ phân N:P2O5:K2O bón cho bông thích hợp trên các vùng sinh thái là 2:1:1 (Nguyễn Hữu Bình, Lê Quang Quyến và các tác giả, 2001) [6] Kết luận này ñã ñược các tác giả [3], [29], [21], [46] sử dụng ñể nghiên cứu về liều lượng phân bón cho các giống L18, VN20 và VN15 tại nhiều vùng sinh thái khác nhau như Sơn La, ðồng Nai, Ninh Thuận và ðăk Lăk (cũ) Qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, liều lượng phân bón cho bông có sự khác biệt khá lớn
ở mỗi vùng và mỗi giống Bên cạnh ñó tỷ lệ 2:1:1 này ñã và ñang ñược khuyến cáo sử dụng trong sản xuất bông hiện nay
Trang 332.3.3.2 Ảnh hưởng của liều lượng và thời kỳ bón phân ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất bông
Từ kết quả nghiên cứu nhiều năm của Viện nghiên cứu cây bông và cây
có sợi cho thấy, việc bón phân lót cho bông ñóng vai trò quan trọng và ñã trở thành tiến bộ kỹ thuật ñược áp dụng trong sản xuất Ở những ruộng mà vụ 1 trồng ngô thì biện pháp bón phân lót là cần thiết ñể cây bông có thể mọc và sinh trưởng tốt ngay từ thời kỳ ñầu
Nghiên cứu về thời kỳ bón phân cho bông Vũ Công Hậu (1978) [17]
nhận thấy, bón 25% lượng ñạm trước gieo, 50% vào giai ñoạn ra nụ và 25% ở thời kỳ ra hoa cho năng suất cao nhất So với các loại phân khoáng khác, phân lân ít bị rửa trôi nên thường ñược bón toàn bộ hoặc phần lớn trước khi gieo Tìm hiểu liều lượng và thời kỳ bón lân khác nhau Suryavanshi (1993) [102] nhận thấy, bón toàn bộ lượng lân vào thời kỳ gieo làm tăng năng suất bông
Sử dụng mức lân từ 60 ñến 90 kg/ha có xu hướng tăng năng suất ở giống AHH-468 Theo Kharche và ctv (1990) [75], thời kỳ bón không ảnh hưởng ñến năng suất bông hạt, nhưng năng suất bông tăng 24,5% khi bón lân ở ñộ sâu 7,5 cm và cách gốc 5 cm so với bón lân trên mặt ñất Nghiên cứu của Anwar Tariq và ctv (1984) [50] cho thấy, bón hỗn hợp lân và ñạm cho năng suất bông hạt tăng hơn so với bón ñạm ñơn ñộc Năng suất bông tăng dần khi mức lân tăng từ 56 kg ñến 168 kg P2O5/ha Bón lân cùng lúc với gieo hạt thích hợp hơn so với bón lân ở lần tưới ñầu tiên và giai ñoạn trước khi có hoa
ðể ñảm bảo năng suất bông ở Ấn ðộ theo Krishnan và ctv (1994) [77], trên giống bông MCU 9 cần cung cấp (40 kg N, 40 kg P2O5, 20 kg K2O)/ha cho mỗi lần bón vào các thời kỳ 45 và 60 ngày sau gieo Ở Việt Nam các nghiên cứu [11], [33], [42] cho thấy, việc bón phân phụ thuộc vào từng vùng, từng giống với mức phân tối thiểu (90 kg N, 45 kg P2O5, 45 kg K2O)/ha cho 3 lần bón/vụ và thường kết thúc bón ở giai ñoạn từ 45-75 ngày sau gieo hay trước khi cây nở hoa
Trang 342.3.4 Tình hình sâu bệnh hại bông và ảnh hưởng của mật ñộ và liều lượng phân bón ñến diễn biến của một số loài sâu bệnh hại
Bông vải là một trong những cây trồng có thành phần côn trùng phong phú Hargeaves (1948) cho biết có tới 1.362 loài côn trùng sống cùng cây bông, trong ñó có 15% có khả năng gây hại và dưới một nửa trong số chúng
là sâu hại quan trọng (dẫn theo Nguyễn Thơ, 1996) [43]
Ở Việt Nam theo các kết quả ñiều tra của các tác giả tại Thanh Hóa và ðăk Lăk [20], [5] cho thấy, trên cây bông có các ñối tượng sâu hại chính là rệp
bông (Aphis gossypii), rầy xanh (Amrasca devastans) và sâu xanh (Helicoverpa
armigera ) ðối với sâu hồng (Pectinophora gissypiela) và sâu ño (Anomis
flava) ñược coi là những loài gây hại tiềm năng, các ñối tượng khác ít có khả năng gây hại Ngoài ra, từ kết quả ñiều tra và nghiên cứu về bệnh hại của các tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình và Bùi Thị Ngần (2002) [7], Phạm Xuân Hưng (2002) [20] cho thấy, những bệnh như ñốm cháy lá và mốc trắng là những bệnh gây hại chủ yếu trong sản xuất bông hiện nay
Ở nước ta hiện nay chưa có nhiều kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật
ñộ và liều lượng phân bón ñến diễn biến của sâu bệnh hại bông trên mỗi vùng sinh thái Một kết quả theo dõi trên giống VN 15 ở huyện Cư Jut và Ea Ka (ðăk Lăk cũ) của trung tâm Nghiên cứu cây bông và cây có sợi Tây Nguyên (2004) [21] ñã cho thấy, ở giai ñoạn 90 ngày sau gieo yếu tố mật ñộ, phân bón
và tương tác giữa mật ñộ và phân bón có ảnh hưởng không ñáng kể ñến cấp rầy hại, tỷ lệ và chỉ số bệnh mốc trắng
Trang 35Nhận xét chung
Hiện nay, hầu hết diện tắch sản xuất bông của nước ta tập trung chủ yếu
ở Tây Nguyên, đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ Phần lớn diện tắch tại 3 vùng này, cây bông ựược trồng chủ yếu trong mùa mưa nhờ nước trời trên các loại ựất ựen, ựất ựỏ bazan và ựất xám bạc mầu
Cây bông ưa ựiều kiện thời tiết khắ hậu khô nóng và ẩm ựộ không khắ thấp Nhưng hiện nay, qua thực tế sản xuất ở Việt Nam và ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, bông có khả năng phát triển và cho năng suất và chất lượng tốt không chỉ ở các vùng khô nóng mà còn ở các vùng nhiệt ựới ẩm Qua những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật canh tác trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy ựể khai thác tối ựa tiềm năng năng suất của giống, thì trên mỗi loại giống khi canh tác trên mỗi vùng sinh thái ựều có những yêu cầu về liều lượng phân bón và mật ựộ gieo trồng khác nhau
Ở Tây Nguyên nói chung và đăk Lăk nói riêng, là vùng có diện tắch bông trồng trong mùa mưa lớn nhất trong cả nước Trong ựó, tỉnh đăk Lăk và huyện Buôn đôn là vùng có khả năng mở rộng thêm diện tắch ựể nâng cao sản lượng bông cho ngành Dệt may
Nhưng trong thực tế sản xuất ở những năm qua cho thấy sự chênh lệch
về năng suất ở mỗi vùng bông trong tỉnh là rất lớn Trong ựó yếu tố giới hạn
về năng suất của huyện Buôn đôn chủ yếu là phân bón và mật ựộ gieo trồng, bên cạnh ựó việc bón phân không cân ựối hay trồng với mật ựộ không thắch hợp cũng dẫn ựến việc phát triển các loài sâu bệnh gây hại và ảnh hưởng ựến năng suất bông Nên vấn ựề nghiên cứu xác ựịnh liều lượng phân bón và mật
ựộ thắch hợp tại huyện Buôn đôn là vấn ựề có tắnh thời sự và cần thiết
Trang 363 VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
3.1.1 Giống bông sử dụng trong nghiên cứu
- Giống VN 01.2: là giống bông Luồi lai F1 cùng loài (G hirsutum L.), ựã
ựược công nhận là giống quốc gia (2004) Giống có khả năng sinh trưởng khỏe,
có từ 1 - 3 cành ựực, mật ựộ lông trên thân lá nhiều, hoa có cánh và phấn màu trắng, quả cuống dài và hình bầu nhọn Giống thuộc nhóm chắn trung bình muộn với thời gian sinh trưởng từ gieo ựến nở quả từ 115 ựến 120 ngày Giống có khối lượng quả trung bình (4,5-5,0g), tiềm năng năng suất cao (30 - 40 tạ bông hạt/ha), tỷ lệ xơ khá (36-39%), chất lượng xơ tốt với chiều dài xơ từ 29 - 31mm
và ựộ bền trên 31g/tex Giống có khả năng kháng sâu xanh (Helicoverpa
armigera) , khả năng kháng rầy xanh (Amrasca devastant) cao nhất trong các
giống hiện trồng và khả năng chịu hạn tốt Giống có tắnh ổn ựịnh và phổ thắch nghi rộng (Trung tâm Nghiên cứu và thực nghiệm cây bông Tây Nguyên, 2006), hiện là giống trồng phổ biến tại huyện Buôn đôn và tỉnh đăk Lăk
3.1.2 Phân bón và một số vật tư chuyên dùng khác
- Phân bón sử dụng gồm
Amon sunfat (21% N), Urea (46% N), lân Văn điển (15% P2O5) và Kaliclorua (60% K2O)
- Các loại thuốc hóa học trừ sâu bệnh gồm
Monceren 250 SC, Midan 10 WP, Anvil 5 EC
- Chất ựiều hòa sinh trưởng mepiquate chloride
Mepiquate chloride có tên hóa học là 1,1-dimethyl-piperidinium chloride, công thức hóa học là C7H16ClN, nồng ựộ hoạt chất là 400 g ai/lắt, và
có tên thương mại là PIX
Trang 373.2 THỜI GIAN VÀ đỊA đIỂM NGHIÊN CỨU
3.2.1 Thời gian nghiên cứu
- Thắ nghiệm ựã ựược bố trắ và thực hiện trong khung thời vụ gieo trồng
chắnh ở vụ bông 2005-2006
- Thực nghiệm mô hình thâm canh tăng năng suất trong khung thời vụ
gieo trồng chắnh ở vụ bông 2006-2007
3.2.2 địa ựiểm nghiên cứu
Các nghiên cứu ựược thực hiện ở vùng có diện tắch trồng bông tập
trung tại xã Tân Hòa và xã Ea Wer, huyện Buôn đôn, tỉnh đăk Lăk
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật ựộ và liều lượng phân bón ựến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất bông
3.3.2 đánh giá mức ựộ nhiễm sâu bệnh hại chắnh của vùng và hiệu quả kinh tế trên nền các mật ựộ và liều lượng phân bón khác nhau
3.3.3 Thực nghiệm mô hình thâm canh tăng năng suất và ựánh giá ảnh hưởng của các thời gian sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất ựến năng suất và hiệu quả kinh tế của ruộng mô hình
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp thắ nghiệm ựồng ruộng
3.4.1.1 Ảnh hưởng của mật ựộ gieo và liều lượng phân bón ựến sinh trưởng, phát triển và năng suất bông hạt
Thắ nghiệm ựược bố trắ với hai nhân tố theo kiểu ô chắnh - ô phụ (Splip Plot Design) Nhắc lại 3 lần, mỗi ô cơ sở có diện tắch 40 m2 Tổng diện tắch ruộng thắ nghiệm là 1.440 m2 (không tắnh hàng bảo vệ)
+ Nhân tố phụ là phân bón bố trắ trên ô lớn
Trong ựó, N : P2O5 : K2O ựược bón thống nhất với tỷ lệ là 2:1:1
P1: (90 kg N - 45 kg P2O5 - 45 kg K2O)/ha
P2: (120 kg N - 60 kg P2O5 - 60 kg K2O)/ha
P3: (150 kg N - 75 kg P2O5 - 75 kg K2O)/ha
Trang 38+ Nhân tố chính là mật ñộ bố trí trên ô nhỏ
M1: Mật ñộ 4,5 vạn cây/ha - Khoảng cách 1,00 m x 0,22 m x 1 cây M2: Mật ñộ 5,5 vạn cây/ha - Khoảng cách 0,90 m x 0,20 m x 1 cây M3: Mật ñộ 6,5 vạn cây/ha - Khoảng cách 0,90 m x 0,17 m x 1 cây M4: Mật ñộ 7,5 vạn cây/ha - Khoảng cách 0,70 m x 0,19 m x 1 cây
3.4.1.2 Xây dựng mô hình thâm canh tăng năng suất
Các ruộng mô hình ñược bố trí trên ruộng của nông dân ñã có nhiều năm kinh nghiệm trồng bông và ñược bố trí theo kiểu ô lớn không nhắc lại, diện tích mỗi mô hình là 2.000 m2
Trang 39Mô hình 1: Canh tác theo tập quán của nông dân trong vùng và sử
dụng làm ñối chứng với mô hình 2
Mô hình 2: Áp dụng kết quả nghiên cứu của ñề tài
3.4.2 Quy trình kỹ thuật trong thí nghiệm và ruộng mô hình
3.4.2.1 Quy trình kỹ thuật trên ruộng thí nghiệm
Các biện pháp canh tác và quản lý ñồng ruộng ñược áp dụng thống nhất theo quy trình kỹ thuật chung của vùng (Công ty cổ phần bông Tây Nguyên, 2005) [11]
Về thời kỳ và liều lượng ở mỗi lần bón cho tất cả các công thức thí nghiệm ñược xác ñịnh như sau
+ Bón lót: 20% N + 100% P2O5, sử dụng phân lân Văn ðiển và Amon sunfat, bón trước khi gieo
+ Bón thúc 1: 30% N + 40% K2O, dùng phân Urea và Kaliclorua, bón vào giai ñoạn 20-25 ngày sau gieo
+ Bón thúc 2: 50% N + 60% K2O, dùng phân Amon sunfat và Kaliclorua, bón vào giai ñoạn 50 - 55 ngày sau gieo
3.4.2.2 Quy trình kỹ thuật trên ruộng mô hình
Ngoài các biện pháp tác ñộng từ kết quả nghiên cứu của ñề tài ở vụ bông 2005-2006, thì các biện pháp kỹ thuật khác ñược áp dụng ñồng nhất theo kinh nghiệm sản xuất của nông dân trong vùng
3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi trên ruộng thí nghiệm
3.4.3.1 Xác ñịnh thành phần dinh dưỡng ñất
Thu mẫu ñất trước khi làm thí nghiệm (1 mẫu chung)
Sau khi thu hoạch xong thu 12 mẫu ở 12 công thức thí nghiệm ñể xác ñịnh một số chỉ tiêu nông hóa ñất
Trang 40+ pHKCl ño bằng pH met
+ Mùn (%) theo phương pháp Tiurin
+ N tổng số (%) theo phương pháp Kjendahl
+ P tổng số (%) theo phương pháp Oniani
+ K tổng số (%) xác ñịnh bằng quang kế ngọn lửa
+ P2O5 dễ tiêu (mg/100 g ñất) theo phương pháp Oniani
+ K2O dễ tiêu (mg/100 g ñất) theo phương pháp Kiecxanop
+ Ca++, Mg++ (lñl/100g ñất) theo phương pháp Trilon B
3.4.3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển
Các chỉ tiêu nông học ñược thực hiện theo các quy ñịnh và các phương pháp thường quy của ngành bông Trong ñó các chỉ tiêu ño ñếm ñược xác ñịnh ở 10 cây cố ñịnh tại hàng giữa của mỗi ô cơ sở
- Thời gian sinh trưởng (ngày)
ðược tính từ khi gieo hạt ñến 50 % số cây có quả ñầu tiên nở
- Chiều cao cây (cm)
ðo từ vết lá mầm ñến ñỉnh sinh trưởng vào giai ñoạn có ñủ 50 % số cây
có quả ñầu tiên nở