Luận văn
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Trường đại học nông nghiệp 1
Lê thị dịu
Nghiên cứu bệnh vi khuẩn trên cá
bống bớp (Bostrichthys sinensis) trong ao nuôi
thương phẩm tại Nghĩa Hưng - Nam Định
vμ biện pháp phòng trị
luận văn thạc sỹ nông nghiệp
Trang 2Bộ giáo dục vμ đμo tạo Trường đại học nông nghiệp 1
Lê thị dịu
Nghiên cứu bệnh vi khuẩn trên cá
bống bớp (Bostrichthys sinensis) trong ao nuôi
thương phẩm tại Nghĩa Hưng - Nam Định
Trang 3Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan nh÷ng sè liÖu viÕt trong b¶n luËn v¨n nµy lµ trung thùc vµ ch−a tõng ®−îc c«ng bè ë bÊt kú c«ng tr×nh nµo KÕt qu¶ cã ®−îc ë luËn v¨n do sù
cè g¾ng lµm viÖc, häc hái mét c¸ch nghiªm tóc cña t«i
T¸c gi¶
Lª ThÞ DÞu
Trang 4Lời cảm ơn
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thμnh vμ sâu sắc tới thầy Bùi Quang Tề, người đã định hướng cũng như tận tình hướng dẫn, giúp đỡ vμ tạo điều kiện để em hoμn thμnh luận văn nμy Sự tận tình chỉ bảo, dạy dỗ của thầy đối với em ngay từ khi em bắt đầu lμm việc đã giúp em có được như ngμy hôm nay
Cháu xin cảm ơn cô Nguyễn Thị Hμ đã giúp đỡ cháu rất nhiều trong suốt quá trình cháu học tập vμ nghiên cứu tại Viện
Xin cảm ơn bạn Đỗ Văn Kiên đã giúp đỡ mình một phần về kinh phí để mình có thể hoμn thμnh luận văn nμy
Trong quá trình lμm luận văn em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ Trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường vμ dịch bệnh khu vực miền Bắc, em xin gửi lời cảm ơn tới Trung tâm, đặc biệt chị Hằng, chị Hạnh, chị Thuỷ, em Mai đã luôn luôn sẵn sμng giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn
Các thầy, các cô lμ những người đã truyền đạt các kiến thức qua các bμi giảng cho chúng em, giúp chúng em có được những kiến thức như ngμy hôm nay để có thể lμm việc vμ học tập Em xin gửi lời biết ơn chân thμnh tới các thầy, các cô
Em xin cảm ơn dự án NORAD, chị Nguyễn Thị Anh Thư, cô Đặng Thị Oanh vμ mọi người trong phòng đμo tạo đã tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, tổ chức những chuyến đi thực tế bổ ích giúp chúng em hiểu biết được kiến thức đã học tốt hơn
Xin cảm ơn Trường đại học Nông nghiệp 1 đã kết hợp đμo tạo cùng với Viện 1 để tôi có
được khoá học nμy
Cuối cùng con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới bố me, anh chị đã nuôi nấng, dậy
dỗ con để con trở thμnh người có ích như ngμy hôm nay
Trang 7Bảng 4.4: Tỷ lệ (%) cá nhiễm bệnh trung bình và tỷ lệ (%) cá chết trung bình
trong thí nghiệm gây cảm nhiễm 3 chủng vi khuẩn V cholerae, V
alginolyticus, và A hydrophyla cho cá Bống bớp khoẻ sau 96 giờ của 2 lần
cảm nhiễm
46
Bảng 4.5: Tỷ lệ (%) cá nhiễm bệnh trung bình và tỷ lệ (%) cá chết trung bình
trong thí nghiệm gây cảm nhiễm 2 chủng vi khuẩn V paraahaemolyticus và
Streptococcus sp cho cá Bống bớp khoẻ sau 96 giờ của 2 lần cảm nhiễm
48
Bảng 4.6: Kết quả phân tích mối tương quan giữa yếu tố là nồng độ vi khuẩn
cảm nhiễm với tỷ lệ cá Bống bớp bị nhiễm bệnh do cảm nhiễm
50
Bảng 4.7: Kết quả phân tích mối tương quan giữa yếu tố là nồng độ vi khuẩn
cảm nhiễm với tỷ lệ cá Bống bớp bị chết do cảm nhiễm
Trang 8Danh s¸ch h×nh
Trang
H×nh 4.9: KÕt qu¶ ph¶n øng sinh ho¸ cña V alginolyticus trªn kÝt API 20E 37
H×nh 4.18 : Tû lÖ (%) c¸ cã dÊu hiÖu bÖnh trung b×nh cña 2 lÇn g©y c¶m
nhiÔm 3 chñng vi khuÈn V cholerae, V alginolyticus vµ V hydrophila
46
H×nh 4.19: Tû lÖ (%) c¸ bÞ chÕt trung b×nh cña 2 lÇn g©y c¶m nhiÔm 3 chñng 47
Trang 9vi khuÈn V cholerae, V alginolyticus vµ V hydrophila
H×nh 4.20: Tû lÖ (%) c¸ cã dÊu hiÖu bÖnh trung b×nh cña 2 lÇn g©y c¶m nhiÔm
2 chñng vi khuÈn V parahaemolyticus vµ Streptococus sp
48
H×nh 4.21: Tû lÖ (%) c¸ bÞ chÕt trung b×nh cña 2 lÇn g©y c¶m nhiÔm 2 chñng
vi khuÈn V parahaemolyticus vµ Streptococus sp
49
H×nh 4.23: VÕt lë loÐt cña c¸ Bèng bíp sau 3 ngµy dïng thuèc kh¸ng sinh 56
H×nh 4.24: VÕt lë loÐt cña c¸ Bèng bíp sau 5 ngµy dïng thuèc kh¸ng sinh 56
H×nh 4.25: VÕt phång rép cña c¸ Bèng bíp sau 3 ngµy dïng thuèc kh¸ng sinh 56
H×nh 4.26: VÕt phång rép cña c¸ Bèng bíp sau 5 ngµy dïng thuèc kh¸ng sinh 57
Trang 10Danh s¸ch phô lôc
Phô lôc 4: MÉu c¸ bÖnh thu t¹i NghÜa H−ng - Nam §Þnh 79
Trang 111 Đặt vấn đề
Cá Bống bớp (Bostrichthys sinensis) sống chủ yếu ở dải nước lợ ven bờ
biển Việt Nam, chúng thường phân bố tập trung nhiều ở các vùng cửa sông, rừng ngập mặn nơi có đáy là đất phù sa, bùn pha cát, có nhiều sinh vật đáy
và động vật giáp xác sinh sống Là một trong những loài cá kinh tế có giá trị cao
do thịt thơm ngon, bổ dưỡng, giá cả hấp dẫn, nên được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường trong và ngoài nước Bởi vậy mà cá Bống bớp đã và đang bị khai thác quá mức, cùng với sự tàn phá môi trường sinh thái và nơi sống từ việc chuyển
đổi rừng ngập mặn sang nuôi trồng thuỷ sản và các hoạt động kinh tế khác của con người đã làm cho sản lượng cá Bống bớp ở nước ta bị giảm sút nghiêm trọng và có nguy cơ bị tiêu diệt Chính vì thế, nuôi cá Bống bớp hiện nay đang là một phong trào phát triển mạnh mẽ ở một số tỉnh ven biển có điều kiện nuôi phù hợp như Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa…Trong đó Nam Định đã và đang phát triển nuôi thương phẩm cá Bống bớp trong ao
Tuy nhiên, nuôi cá Bống bớp ở Nam Định hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng của nghề nuôi như nguồn cung cấp giống, thức ăn, dịch bệnh Đặc biệt cá Bống bớp ở đây
đã xuất hiện bệnh do vi khuẩn gây chết hàng loạt và lây lan rất nhanh Trong khi đó trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có một công bố cụ thể nào nghiên cứu về bệnh vi khuẩn của cá Bống bớp Bởi vậy người nuôi ở
đây không biết nguyên nhân chính xác cá Bớng bớp bị bệnh do đâu và xử
lý khi cá bị bệnh như thế nào, người nuôi chỉ dựa vào kinh nghiệm để chữa trị, có lúc hiệu quả nên thiệt hại kinh tế không nhiều, nhưng cũng có lúc không hiệu quả nên làm thiệt hại kinh tế rất lớn cho người nuôi, thậm chí nếu không được các cơ quan chức năng quan tâm, xử lý tốt sẽ trở thành dịch bệnh
Từ những yêu cầu thực tế đặt ra, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên
cứu bệnh vi khuẩn trên cá Bống bớp (Bostrichthys sinensis) trong ao nuôi
Trang 12Mục tiêu nghiên cứu
Thử kháng sinh đồ chọn một số thuốc có khả năng phòng bệnh cho cá
Thử nghiệm một số biện pháp phòng trị bệnh trong phòng thí nghiệm
Trang 132 Tổng quan tμi liệu
1 Một số đặc điểm của cá Bống bớp
1.1 Hệ thống phân loại
Cá Bống bớp có tên tiếng anh là Four eye sleeper
Đặc điểm phân loại như sau [10]:
bố ở độ sâu 0,2-1,5m, độ muối 0,3-25%o
1.3 Hình thái
Thân cá Bống bớp hình trụ tròn, cá có màu nâu thẫm, toàn thân phủ vẩy nhỏ
và có lớp nhớt dầy bao bọc bên ngoài Chiều dài cá gấp lăm lần chiều cao của thân
và bằng 3,5 đến 3,7 chiều dài đầu Cá trưởng thành có chiều dài từ 12-15 cm, khối lượng thân từ 80-120g
1.4 Tính ăn
Cá Bống bớp ăn động vật, cá nhỏ ăn động vật phù du, ấu trùng động vật, khi trưởng thành ăn cá, giáp xác và nhuyễn thể Cá thường ăn mồi còn sống và mồi mới chết, thịt còn tươi
Trang 141.5 Sinh trưởng
ở năm thứ nhất, cá Bống bớp sinh trưởng nhanh cả về chiều dài và khối lượng Đến năm thứ hai, mức tăng trưởng giảm dần
1.6 Sinh sản
Tuyến sinh dục có sự khác biệt giới tính rõ dần theo mức độ phát dục Lúc
đầu tuyến sinh dục là hai dải mảnh nằm sát thành cơ thể dọc hai bên sống lưng, phía cuối hai dải có chung một đường ống thông ra ngoài Giai đoạn 2 noãn sào dày lên,
có nhiều mạch máu tương đối lớn Từ giai đoạn 3 mắt thường đã có thể nhìn thấy hạt trứng, noãn sào có màu da cam Giai đoạn 4, buồng trứng đã đạt kích thước tương
đối lớn và chuyển sang màu vàng đậm ở cá đực khi chưa trưởng thành tinh sào mỏng và trong Khi thành thục buồng tinh của cá chuyển sang màu trắng đục [15]
Cá Bống bớp cái tuổi 0+ có buồng trứng đạt đến giai đoạn IV Thực tế cho thấy, cá giống cỡ 10-20g tiếp tục nuôi sau 8-12 tháng thì buồng trứng có thể đạt tới giai đoạn IV Cá đực thành thục sinh dục ở tuổi 1+ [17]
Hệ số thành thục của cá Bống bớp trong tự nhiên đạt cao nhất vào các tháng 4, tháng 5 và tháng 6, chỉ số này ở cá đực rất nhỏ so với cá cái Sự phát triển tuyến sinh dục trong năm của cá Bống bớp đực và cá Bống bớp cái có sự đồng pha với nhau về thời gian
Mùa vụ sinh sản của cá Bống bớp thường kéo dài từ tháng 3-7 Khi mà thời tiết ấm, nhiệt độ nước từ 22-280C, thức ăn tự nhiên phong phú [18]
2 Tình hình bệnh vi khuẩn trên một số loài cá biển nuôi phổ biến ở trong và ngoài nước
2.1 Ngoài nước
Vi khuẩn gây bệnh chủ yếu trên cá Song thuộc nhóm Vibrio sp trong đó tác nhân gây bệnh chủ yếu là V parahaemolyticus, V alginolyticus và V harveyi [43]
Trang 15Một loạt các nhà nghiên cứu khác cũng khẳng định Vibrio sp gây bệnh nghiêm trọng cho cá Song nuôi tại một số quốc gia Như ở Malaysia, Vibrio sp
đã gây bệnh cho cá Song mỡ Epinephenus salmoides [47] Năm 1990 bệnh do
Vibrio sp đã làm thiệt hại khoảng 5 triệu đô la cho nghề nuôi cá biển ở đây [40] và
47% cá Song nuôi Epinephenus sp mắc bệnh do Vibrio spp, Flexibacter spp với tỷ lệ
chết trung bình là 38% vào năm 2000 [27]
ở Philippine (1992), cá Song chấm cam (E coioides) bị nhiễm bệnh do
Vibrio spp Đến năm 2000 (từ tháng 7 đến tháng 11) Vibrio spp làm cá Song nuôi ở
đây bị bệnh xuất huyết trong suốt quá trình nuôi và tỷ lệ chết lên đến 21,57% [37]
Cá song khi mắc bệnh do Vibrio spp đều có triệu chứng cá bơi gần mặt nước,
mất thăng bằng, da tối màu, xuất hiện các vết loét ở thân, nội tạng bị xuất huyết, vây,
đuôi bị rách [39], [47], [48], [56]
Tại Hồng Kông từ năm 1997 đến năm 1999 cá Song nuôi ở đây bị mắc phải
bệnh do Vibrio, phân lập vi khuẩn ở mô bị nhiễm bệnh, da lở loét, vây và đuôi bị mòn, hốc mắt, thận và lá lách thì xác định được vi khuẩn V alginolyticus với tỷ lệ nhiễm là 52%, V vulnificus với tỷ lệ nhiễm 41% và V parahaemolyticus với tỷ lệ
nhiễm là 7% [26] Đặc biệt nguyên nhân làm 70% cá Song chết kéo dài từ tháng 7
đến tháng 11 năm 2000 gây thiệt hại kinh tế lớn ở Trung Quốc cũng đã xác định
được là do Vibrio sp [19]
Tại Đài Loan vào tháng 9 đến tháng 10 năm 2000 Vibrio sp đã phát tán thành
dịch bệnh trên cá Giò giống, dấu hiệu bệnh lí trên thân cá xuất hiện các vết loét, xuất huyết ở đầu và thân, một số cá có mang chuyển màu và cụt vây, khi phân lập
đã xác định được tác nhân gây bệnh chính là V alginolyticus ngoài ra còn có sự có mặt của V vulnificus và V parahaemolyticus, tỉ lệ chết khoảng 45% [50] Năm
2001 cá Giò giống từ 8g - 10g cũng đã bị dịch bệnh nghiêm trọng do V
alginolyticus, khi bị bệnh thân cá sẫm lại, hoại tử ở vùng bụng, một số cá có hiện
tượng bị tổn thương ở mắt [41]
Theo Saseed (1995) tại Cô Oét, khi cá Song mỡ (E tauvina) có hiện tượng
Trang 16xuất huyết và phồng rộp tiến hành phân lập và xác định được sự có mặt của V
haveyi [52] Còn Somkiat Kamchanakhan cho rằng vi khuẩn Vibrio sp gây bệnh cho
cá Song điểm gai (Epinephenus malabanicus) tại Thái Lan, gây bệnh cho cá Song nuôi Epinephenus sp tại úc và V parahaemolyticus, V alginolyticus gây ra hiện
tượng nhiễm trùng, xuất huyết cho cá Song hương và cá Song nuôi thương phẩm
[54] Theo Chinabut, S (1996), tại Thái Lan khi trên thân cá Song điểm gai (E
manabaricus) da có biểu hiện phồng rộp tiến hành phân lập xác định được đấy là vi
khuẩn V parahaemolyticus [25]
Năm 1996, Arthur và Ogawa nghiên cứu về bệnh nuôi cá biển ở Tây Châu á
và Nam Châu á cho thấy bệnh vi khuẩn chủ yếu trên cá Song Epinephelus sp nuôi ở Nam Châu á là bệnh xuất huyết do vi khuẩn Streptococcus sp, V alginolyticus và V
parahaemolyticus [20]
Tại Inđonesia các nhà nghiên cứu bệnh cá biển đã quan sát cá Song chấm
cam (E coioides) giai đoạn bột thấy xuất hiện những vết loét, da xuất huyết, bóng
hơi phình to và gan xuất huyết, tiến hành phân lập và xác định được tác nhân gây
bệnh là V alginolyticus, còn quan sát trên cá Song báo (Plectropomus macalatus) ở
giai đoạn cá giống thấy cơ thể sưng tấy nặng khi phân lập cũng tìm được tác nhân
gây bệnh là V alginolyticus [33] Năm 1998, cá song nuôi lồng có dấu hiệu da bị phồng rộp, cá bơi lờ đờ sau một tuần tỉ lệ cá chết 100% và khi phân lập thấy có V
parahaemolyticus, V alginolyticus [36]
Tại Singapore, Vibrio là nguyên nhân gây bệnh vi khuẩn trên cá Song Khi cá
có hiện tượng xuất huyết, mòn vây và đuôi xuất hiện quanh năm nhưng chỉ xảy ra 1
tuần trong 1 vụ nuôi với tỷ lệ chết từ 20%-40% và vi khuẩn thường gặp là V
parahaemolyticus, V alginolyticus [25] Tại Thái Lan khi cá Song có dấu hiệu xuất
huyết, lở loét phân lập xác định có V parahaemolyticus với tỷ lệ 80% và V
alginolyticus [21]
Ngoài Vibrio sp thì Pseudomonas sp, Pasteurella sp, Flexibacter sp cũng là
những tác nhân vi khuẩn gây bệnh nghiêm trọng cho cá Song nuôi [43] Theo
Trang 17Chinabut (1996) tại Thái Lan đã báo cáo kết quả phân lập, xác định tác nhân gây
bệnh trên cá Song nuôi lồng chủ yếu là do nhóm vi khuẩn Aeromonas spp,
Flexibacter spp, Vibrio spp và Streptococus sp [25]
Tại Thái Lan khi cá Song Epinephelus sp bị nhiễm khuẩn Flexibacter sp cá
có biểu hiện bệnh lí rách xước vây đuôi, vây hậu môn, vây bụng Flexibacter xuất
hiện khi điều kiện nuôi kém, môi trường bất lợi, cá yếu và nhiễm bệnh, khi bị bệnh cá mất thăng bằng, có những vùng hoại tử đỏ trên thân, tỉ lệ chết có thể lên đến 80%
Đối với cá Song điểm gai (E malabaricus) khi bị nhiễm bệnh cá có biểu hiện bị
rách xước các vây bụng, vây hậu môn, vây lưng và các tơ mang bị tổn thương [28]
Đối với cá Song lưng gù (Cromoleptis altivelis) khi thấy đuôi cá xuất hiện màu xám sau đó bị ăn mòn hay cụt đuôi tiến hành phân lập được vi khuẩn Flexibacter
marilimus [33]
Tại Philippine năm 2000, cá Song nuôi (Epinephelus sp) bị bệnh đốm trắng
(trên bề mặt thân xuất hiện những đốm trắng) khi phân lập thấy cá bị nhiễm
Flexibacter sp với tỷ lệ chết là 30% [37] Đến năm 2002, Somga và ctv công bố cá
Song (Epinephelus sp) trong 2 tháng đầu của chu kỳ nuôi cá bị bệnh đốm trắng,
mòn đuôi với tỷ lệ chết đạt 70%, còn trong suốt quá trình nuôi cá bị bệnh xuất huyết,
đốm đỏ mãn tính thì tỷ lệ chết là 10% đến 30% [53]
Từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2000, tại Thái Lan, theo kết quả điều tra của
những người nuôi cá Song (Epinephelus sp) ở đây thì cá Song (Epinephelus sp) bị
bệnh vi khuẩn chiếm 31,9%, với thiệt hại kinh tế chiếm 35,2% trong đó thiệt hại do
tác nhân vi khuẩn là Flexibacter khoảng 15%, thiệt hại kinh tế 15% [51]
Tại Brunei cá Song ở giai đoạn từ 5cm đến 15cm khi bị bệnh mòn đuôi tiến
hành phân lập được vi khuẩn Flexibacter sp và Vibrio sp, nếu sau vài ngày không
chữa kịp thì tỷ lệ chết có thể nên đến 80% [32]
Pseudomonas sp xuất hiện tại Malaysia đối với cá Song mỡ (E tauvina) với
các dấu hiệu bệnh lí khi cá bị bệnh là hoại tử da và vây đuôi, bệnh thường xảy ra vào mùa mưa trên tất cả các giai đoạn cá nuôi, trong suốt năm 1982 đến năm 1986 thiệt
Trang 18hại gây chết do Pseudomonas sp từ 20% - 60% tổng số cá nuôi lồng [45] Theo Muroga (1995) tại Nhật Bản, Pasteurella piscicida đã gây bệnh trên cá Song chấm
đỏ (E akaara) ở giai đoạn ấu trùng trong ao ương [44]
Bên cạnh những tác nhân trên, Streptococcus sp cũng là một trong những vi
khuẩn gram dương gây bệnh nghiêm trọng cho cá Song nuôi, có thể gây tổn thất tới
18% [22], [38] Theo Somkiat Kanchanakhan thì Streptococcus sp là nguyên nhân
gây nên bệnh lở loét đối với cá Song giống và nuôi thương phẩm [54] Đặc biệt đối
với cá Hồng Mỹ (Scyarenops ocellatus) thì chủng vi khuẩn Streptococcus iniae là
tác nhân nguy hiểm nhất Cá bị bệnh có dấu hiệu lâm sàng như lờ đờ, mắt lồi, mất phương hướng, da bị tổn thương dần dần dẫn đến hoại tử [29] Tại Thái Lan khi cá
Song Epinephelus sp và E coioides bị nhiễm khuẩn Streptococcus sp mắt bị mờ đục [31] Từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2000 thiệt hại do Streptococcus sp là 18,75% mật
độ nuôi với thiệt hại kinh tế là 7,5% [51]
ở Malaysia, Singapore, Thái Lan đã phân lập được vi khuẩn Streptococcus sp khi cá có hiện tượng mù mắt và ở tất cả các giai đoạn của cá [30] Không chỉ riêng ở cá Song mà đối với các loài cá nuôi khác như cá Giò, cá Rô phi, cá Chình Nhật bản,
cá Hồi, cá Da trơn cũng phân lập được Streptococcus sp khi cá bị hiện tượng mù
mắt này [23], [34], [35]
Đối với cá Giò (Rachycentron canadum) nuôi lồng bè đặc biệt vào mùa xuân cá thường bị bệnh Pasteurellosis do tác nhân Photobacterium damsellae phân loài
piscicida, tỷ lệ gây chết khoảng 30 % , đối với cá con gây bệnh cấp tính [42], [55]
Khi bị bệnh thân cá chuyển sang màu đen, ngoài ra không có biểu hiện nào rõ rệt [41]
Đối với cá biển nuôi tại Quảng Đông - Trung Quốc:
Từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2000, cá Song chấm vàng da cam (E bleekeri)
nuôi bị bệnh do vi khuẩn có tỷ lệ nhiễm bệnh là 100% trong đó tỷ lệ chết là 40%,
thiệt hại kinh tế 40% Cá Song chấm đỏ (E akaara) nuôi bị bệnh lở loét ở vây, xuất
Trang 19huyết với tỷ lệ cá chết là 30% Thậm chí với những hộ cá bị nhiễm bệnh nặng tới 80% và tỷ lệ chết lên đến 50% [49]
Năm 2003 ở Huidong có tới 84% mẫu cá được thu nhiễm bệnh do vi khuẩn,
một số loài vi khuẩn bắt gặp như Streptococcus iniae, Tenaibaculum maritimum và
Nocardia seriolae
Đến năm 2005, nghiên cứu tại Yangjiang thì đã xác định được một số loài vi
khuẩn như Streptococcus iniae, Streptococcus dysgalactiae, Pasteurella damsela,
Tenacibaculum maritimum và Nocardia seriolae gây chết 65% cá Song nuôi [19]
Theo Chen Wen, đã phát hiện 34 loài vi khuẩn trên 18 đối tượng nuôi biển ở Quảng Đông - Trung Quốc năm 2004 [24]
2.2 Trong nước
Theo báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài “Chuẩn đoán và phòng trị một số bệnh truyền nhiễm ở cá nuôi và thủy đặc sản” năm 1996 đến 1998 cho biết cá Song
được đưa vào nuôi lồng khoảng 1 đến 2 tuần đã có biểu hiện như: cá mù mắt, mắt có
mủ trắng thường một bên mắt, da đầu, thân đuôi thường bị ăn mòn, viêm loét các
gốc vây và trong 3 năm đó Bùi Quang Tề và ctv đã phân lập được 6 loài Vibrio spp
và 1 loài Pseudomonas sp ở cá Song khi xuất hiện bệnh và lở loét trong đó V
alginolyticus chiếm 44,3%, V vulnificus chiếm 25% [3] Đã xác định được vi khuẩn
V vulnificus trên một số loài cá Song (Epinephelus sp) nuôi tại Quảng Ninh [5]
Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi một
số loài cá biển có giá trị kinh tế cao trong điều kiện Việt Nam” của Đỗ Văn Khương năm 2001 đã công bố thu được 25 mẫu cá Song và 8 mẫu cá Giò bị bệnh và phân lập
được 5 loài vi khuẩn trong đó có 4 loài là Vibrio spp: V parahaemolyticus, V
anguilarum, V alginolyticus, V vulnificus và một loài vi khuẩn gram dương là Streptococcus sp [6]
Theo Đỗ Văn Minh (2000), cá Giò nuôi tại Cát Bà - Hải Phòng thường bị
Trang 20Năm 2003, cá Song nhiễm bệnh vào cả 4 mùa trong đó tỷ lệ nhiễm cao nhất vào tháng 7 (33,3%) Cá Giò nhiễm bệnh vào tháng 2, tháng 6 và tháng 7 trong đó tháng 2 nhiễm bệnh lớn nhất [11]
Theo Ngô Trọng Lư và ctv, khi cá Song và cá Giò có nhiều những vết đỏ ở thân, gốc vây lưng, đuôi, tia vây lưng, vây đuôi bị rách cụt dần và cá bị hoại tử từng phần gọi là bệnh đốm đỏ hay bệnh lở loét trên cá Song thì sẽ dùng thuốc tím với liều lượng 10g/m3 để rửa sạch vết thương rồi bôi Tetraxylin trong 3 ngày và cho cá ăn Oxytetraxylin với liều lượng 0,5g/kg thức ăn trong 7 đến 8 ngày [9]
Đối với bệnh viêm ruột, cá Song có biểu hiện bệnh lý như cá kém ăn, bơi lờ
đờ gần mặt nước, đôi khi thân cá xoay tròn, đầu hướng lên trên, bụng trướng, da nhợt, thân có nhiều nhớt, khi mổ thấy gan bầm tím, mật sưng, thận viêm nhũn, dạ dày và ruột không có thức ăn Khi đó dùng 2kg cỏ sữa cộng với 1 kg rau sam tươi trộn vào 1 lít nước đun kỹ trong 2 giờ chắt lấy nước trộn vào thức ăn cho 100kg cá hoặc 2 vạn cá giống Mỗi tuần làm 1 đợt, mỗi đợt từ 2 – 3 ngày liên tục Hoặc trộn Streptomyxin vào thức ăn với liều lượng 20 – 25mg/kg cá/ngày, liên tục trong 1 tuần Hoặc trộn Sulfamidin vào thức ăn với liều lượng 100mg/kg cá/ngày liên tục trong 1 tuần [9]
Phan Thị Vân và ctv năm 2004, phân lập và xác định Streptococcus sp gây nên bệnh mắt mờ đục ở cá Song chấm cam (E coioides) [13] Đến năm 2005, phân lập và xác định được Staphylococcus sp gây bệnh trên giai đoạn cá Song giống và cá Song thương phẩm Khi cá Song chấm cam (E coioides) nuôi thương phẩm có biểu
hiện bệnh lý như có vết loét trên thân, trong ruột không có thức ăn tiến hành kiểm
tra và phân lập thấy vi khuẩn V alginolyticus và V parahaemolyticus Đối với cá Song giai đoạn từ hương lên giống khi cá bị nhiễm V pelagius thì cá bơi nổi lên
tầng mặt, bỏ ăn sau đó chết [11]
Tại Quảng Ninh, Cát Bà, Nghệ An và Phú Yên trong năm 2005 đã phát hiện
ra 11 loài Vibrio spp (V alginolyticus, V carchariae, V parahaemolyticus, V
fluvialis, V cholaera, V hollisae, V damsela, V anguilarum, V vulnificus, V ordalli và V haeveyi) và 4 loài Streptococcus sp, Staphylococcus sp, Edwardsiella
Trang 21tarda và Pseudomonas fluorescens gây bệnh trên 2 đối tượng nuôi biển là cá Giò và
cá Song, trong đó có 7 loài gây bệnh trên cá Giò với tỷ lệ tương ứng V alginolyticus (8,3%-100%), V cholerae (25%-50%), V fluvialis (37,5%), V hollisae (20%-50%),
V ordalli (50%), V damsela (14,3%) và V vulnificus (42,9%) (29) V alginolyticus
và V parahaemolyticus [11]
Năm 2006, phát hiện ra 3 loại cá Song bị bệnh V alginolyticus, V
parahaemolyticus và Streptococcus sp tại 2 điểm thu là Quảng Ninh và Hải Phòng
Khi thấy có dấu hiệu loét tròn trên đồng xu trên thân cá, mổ thấy ruột không có
thức ăn, nội tạng bình thường tiến hành phân lập thấy V alginolyticus và
Streptococcus sp Khi da cá bị phồng rộp giải phẫu thấy ruột không có thức ăn gan
xuất huyết khi này cá chết rất nhanh và tỷ lệ chết cao [12]
3 Tình hình nghiên cứu bệnh của cá Bống bớp và một số biện pháp phòng trị
3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh của cá Bống bớp
Hầu hết những công trình nghiên cứu về cá Bống bớp ở nước ngoài là của các tác giả người Trung Quốc và họ nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, phát triển phôi và
ấu trùng Tuy nhiên, vẫn chưa thấy công bố nào khẳng định sự thành công về công nghệ sinh sản nhân tạo của cá Bống bớp cũng như nghiên cứu bệnh của cá Bống bớp [16], [17], [18]
ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về sinh học cá Bống bớp trong
tự nhiên và kinh nghiệm nuôi loài cá này như Nguyễn Nhật Thi (1978, 1991), Trần Văn Đan (1995), Đỗ Văn Khương (1997), và cũng chưa có nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo loài cá này Đặc biệt về bệnh chưa có nghiên cứu cụ thể nào [10], [16], [17] Mới chỉ có một số kết quả về kí sinh trùng thu được trong quá trình thực hiện đề tài của Hà Kí và Bùi Quang Tề cũng như một số nhận định của hai ông
Bùi Quang Tề (1998), xác nhận trên cá Bống bớp tại 2 tỉnh Quảng Ninh và
Trang 22Hà Kí và Bùi Quang Tề (2007) phát hiện ở trên cá Bống bớp có rất nhiều tác nhân là ký sinh trùng thuộc nhiều nghành, lớp, khác nhau Như lớp sán lá song chủ
(Trematoda) có những tác nhân: Metacercaria Haplorchis pumilio, Metacercaria Heterophyopsis continua, Metacercaria Stellantchasmus falcatus, Metacercaria Exochis sp và Metacercaria Stictodora sp Ngành giun đốt (Hirudinea) có loài Oceanobdella sexoculata Lớp giáp xác (Crustacea) có loài Caligus orientalis và
Therodamas sp [8]
Đến năm 2004 thì Trần Văn Đan trong quá trình thực hiện đề tài sinh sản nhân tạo cá Bống bớp, ông đã thu mẫu định kỳ từ các bể ấp trứng, ương nuôi ấu trùng và các lồng nuôi thương phẩm Các kết quả phân tích mẫu bệnh bước đầu đã xác định được bệnh ở các giai đoạn và đã cho một số kết
quả [18]
Bệnh nấm
Tác nhân gây nên bệnh nấm đã xác định là loài Saprolegnia
parasitica Khi ký sinh vào trứng và ấu trùng, các sợi nấm phát triển
nhanh và phân nhánh tạo thành đám dày Chúng sống nhờ vào khả năng hấp thụ các loại thức ăn sẵn có qua bề mặt của khuẩn ty (sợi nấm)
Khi bể ương ấp nhiễm bệnh này, bệnh sẽ phát triển nhanh rất khó ngăn chặn bệnh Bệnh tác động trực tiếp đến tỷ lệ nở của trứng và tỷ lệ sống của ấu trùng
Năm 1999 bể ấp bị nhiễm bệnh chỉ nở 22% trong khi bể không bị nhiễm tỷ lệ nở đạt trung bình 76% Bể ương bị nhiễm bệnh tỷ lệ sống chỉ
đạt 16% (sau 7 ngày ương nuôi) trong khi cùng thời gian ương đó bể không bị nhiễm tỷ lệ sống trung bình đạt 62% [13]
Bệnh rận cá
Tác nhân là Caligus gây ra cho cá Bống bớp nuôi lồng trong ao nuôi
tại Trạm nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước lợ Cá bị rận cá ký sinh với mức độ cảm nhiễm cao có dấu hiệu bệnh lý đặc trưng Giai đoạn đầu cá có
Trang 23trạng thái bất an, thường bơi lội lung tung, khả năng bắt mồi giảm Nếu cá
ở trong lồng thì có hiện tượng cọ xát vào thành lồng, cá có hiện tượng xây xát, chảy máu Toàn thân cá xuất hiện các đốm xuất huyết nhỏ Cá bị mất máu nhiều nên gầy yếu, cá bắt đầu chết rải rác [13]
Khi Caligus ký sinh trên cá nuôi lồng, chúng bám vào bề mặt cơ thể
ký chủ, dùng anten nhọn để làm rách màng tế bào biểu mô và lớp màng dưới da của cá, sau đó tấn công trực tiếp vào mô dưới da của cá, gây hỏng
da, làm vết thương mở rộng gây mất cân bằng thẩm thấu và tạo điều kiện
cho nấm, vi khuẩn gây bệnh xâm nhập [1]
- Tác nhân gây bệnh là: V alginolyticus, V parahaemolyticus Những vi khuẩn này
thường là tác nhân cơ hội, khi cá bố mẹ, ấu trùng cá con bị sốc do môi trường biến
đổi xấu hoặc bị nhiễm các bệnh như vi rut, nấm, ký sinh trùng
Vibrio spp sống trong môi trường nước, đặc biệt nước biển và cửa sông
Trong sản xuất giống cá bớp thấy xuất hiện ở cá bố mẹ, cá hương, cá giống Đặc biệt ở giai đoạn cá giống xuất hiện với tỷ lệ khá cao (55%)
- Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Pseudomonas spp
Tác nhân là: P fluorescens, P anguilliseptica, P dermoalba, P putida Đây
là những loài phát triển trong môi trường đơn giản và hiếu khí, đa số chúng có thể oxy hoá hoặc một số ít không oxy hoá và không lên men trong môi trường O/F glucose Khi xuất hiện chúng gây xuất huyết trên da cá, vẩy bụng rõ nhất ở hai bên thân và phía bụng, gốc vây lưng hoặc toàn bộ phần vây lưng đều xuất huyết, các tia vây rách nát cụt dần Có lúc ruột xuất huyết và viêm nên gọi là bệnh xuất huyết
Trang 24Thời kỳ đầu ở thân có một điểm trắng, sau đó lan dần về phía trước cho đến vây lưng và vây hậu môn, cả đoạn thân sau màu trắng Bệnh nặng cá cắm đầu xuống dưới, đuôi hướng lên trên gần vuông góc với mặt nước, cá nhanh chóng chết hàng loạt Dấu hiệu này gặp ở giai đoạn cá hương, giống và được gọi là bệnh trắng đuôi
3.2 Một số biện pháp phòng trị bệnh cho cá Bống bớp
Theo Trần Văn Đan và ctv (2006) đối với bệnh do Vibrio spp và
Pseudomonas sp Để phòng trong trường hợp này phải tiến hành lọc nước qua tầng
lọc nước và sử lý bằng tia cực tím trước khi cho cá vào Xử lý cá bố mẹ bằng Formaline với nồng độ 20 – 25ppm trong 15 – 20 phút Thức ăn tươi sống cũng phải
xử lý trước khi cho ăn bằng Formalin với nồng độ 20 – 25ppm trong 10 – 20 phút sau đó rửa sạch rồi mới cho ăn Khi cá đã bị nhiễm bệnh rồi thì cần phải tiến hành trị bằng thuốc kháng sinh Erythromycin cộng với Rifamycin theo tỷ lệ 1: 1 với nồng
độ từ 3ppm hoặc Erythromycin cộng với Bactrim theo tỷ lệ 1: 1 với nồng độ từ 3ppm Đánh thuốc trực tiếp vào bể sau 12 giờ thay nước xử lý 3 ngày liên tiếp nếu chưa khỏi xử lý tới khi khỏi bệnh [14]
Trang 251-3 Phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng: Cá Bống bớp nuôi thương phẩm
- Thời gian: Từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2007
- Địa điểm:- Nghĩa Hưng – Nam Định
- Viện Nghiên cứu NTTS 1 - Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thu mẫu
Khi thu mẫu thấy mẫu có dấu hiệu bệnh lý đưa nhanh về phòng thí nghiệm để xử
lý Mẫu bệnh nặng không đem về được thì chụp ảnh, mổ và cấy mẫu vi khuẩn ngay tại hiện trường
Phân lập theo phương pháp nghiên cứu vi khuẩn ở cá và động vật thuỷ sản của Millar và Frerichs (1993)
2.2 Xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm
Sau khi mẫu cá bệnh được đưa về phòng tiến hành xử lý ngay:
- Quan sát những biểu hiện bệnh lý bên ngoài rồi ghi chép những biểu hiện không bình thường trên cá mẫu và chụp ảnh
- Đo chiều dài, trọng lượng mẫu
-Dùng cồn 70 độ để sát trùng những chỗ cần mổ
- Dùng các dụng cụ vô trùng để giải phẫu cá
- Lấy que cấy hơ đỏ trên ngọn lửa đèn cồn để lấy mẫu bệnh phẩm trên gan, thận cá bị bệnh cấy vào môi trường nước tăng sinh Nutrient Borth (NB) + 1,5%NaCl hoặc trên môi trường cơ bản Nutrient Agar (NA) + 1,5% NaCl
Trang 262.3 Nu«i cÊy vµ ph©n lËp vi khuÈn
Dựa vào phương pháp nghiên cứu vi khuẩn ở cá và động vật thuỷ sản của
Đường cấy vi khuẩn trên đĩa lồng
Mẫu cá bệnh
Thu mẫu bệnh phẩm
Thử các phản ứng sinh hoá
Nuôi cấy, phân lập
Hình thái
khuẩn lạc Nhuộm gram
Phân loại vi khuẩn
(2
( (4
Trang 27Nuôi vi khuẩn: Mẫu bệnh phẩm thu được nuôi cấy trong tủ ấm ở nhiệt độ
290C sau 24 - 48giờ kiểm tra hình thái khuẩn lạc, chọn khuẩn lạc để cấy tiếp lên môi trường tăng sinh nhằm nhân lượng vi khuẩn lên Sau 24 giờ nuôi cấy nhuộm gram, nếu được vi khuẩn thuần tiến hành thử các phản ứng sinh hoá theo bộ kít API 20E
* Nghiên cứu hình thái vi khuẩn:
Để nghiên cứu hình thái vi khuẩn, người ta sử dụng phương pháp nhuộm Gram
• Sau khi được giống vi khuẩn thuần, lấy mẫu phết lên lam, cho thêm 1 đến 2 giọt nước muối sinh lý vô trùng, dùng đầu que cấy dàn mỏng lên lam kính
• Để mẫu tự khô ở nhiệt độ trong phòng
• Hơ cao lam kính có mẫu trên ngọn lửa đèn cồn, để cố định và diệt vi khuẩn
• Nhỏ tiếp dung dịch 1 (tím tinh thể) lên tiêu bản, để yên 30-60 giây
• Rửa nước nhanh, vẩy khô
• Nhỏ dung dịch 2 (Lugol) để cố định trong 1 phút (tiêu bản có màu đen)
• Rửa nước nhanh, vẩy khô
• Nhỏ dung dịch 3 (Cồn Aceton) để nghiêng đầu một bên lam để cồn chảy qua chỗ phết vi khuẩn, nhằm tẩy màu
• Rửa nước nhanh, vẩy khô
• Nhỏ dung dịch 4 (Safranin) để cố định 1 đến 2 phút
• Rửa nước, để khô hoặc dùng giấy thấm khô, không được để xước mẫu
• Soi dưới kính hiển vi bằng vật kính dầu (độ phóng đại x1000)
Dưới kính hiển vi ta có thể xác định được vi khuẩn gram âm bắt màu hồng và gram dương bắt màu xanh tím Khi được vi khuẩn thuần tiến hành nuôi vi khuẩn trong môi trường lỏng trypton, để có dung dịch ở dạng huyền phù thử phản ứng sinh hoá
Trang 28* Thử phản ứng sinh hoá bằng bộ kít API 20E
- Nguyên lý
Phương pháp này dùng 21 tiêu chuẩn thử sinh hóa cho phép định tên một số loài
vi khuẩn hình que, gram âm và thuộc họ Enterobacteriaceae
Kít thử API 20E gồm có các ống nghiệm nhỏ (microtube) trong có chứa các chất nền đã khử nước Trong quá trình ủ, hoạt động của vi khuẩn sẽ làm chuyển màu hoặc làm đục môi trường Sau 24h đọc các phản ứng đối chiếu theo bảng kết quả để định tên
- Các bước tiến hành phân lập vi khuẩn theo kít API 20E
Qui trình thử kít API 20E
2
3 4
Trang 29- Chuẩn bị mẫu
Kít thử API 20E không dùng trực tiếp các mẫu bệnh phẩm
Thu mẫu bệnh phẩm, cấy lên môi trường cơ bản hay môi trường chọn lọc (tuỳ vào mục đích nghiên cứu) Sau đó tiến hành chọn khuẩn lạc, cấy chuyển vào môi trường tăng sinh ở ống thạch nghiêng Nuôi cấy sau 24 hay 48 giờ, lấy vi khuẩn thuần trên môi trường tăng sinh nuôi cấy trong môi trường Tripton để được dịch huyền phù
- Chuẩn bị ủ
Dùng một pipet lấy dịch huyền phù vi khuẩn cho đầy vào các ống
Đổ 1 lớp dầu vào các ống thử có gạch chân ở dưới (ADH, LDC, ODC, H2S, URE) để tạo môi trường yếm khí
Đổ đầy dịch huyền phù vi khuẩn vào cả ống và cốc (CIT, VP, GEL)
Thử thêm ngoài trên 2 ống O/F
+ Thử NO2: cho 1 giọt NIT 1 và 1 giọt NIT 2 vào ống GLU Đợi sau 2-5 phút chuyển màu đỏ là dương tính Chuyển màu vàng có thể chúng khử đến N2 (1 số
Trang 30trường hợp sinh hơi ở đỏy) cho thờm 2-3mg Zn vào ống GLU Sau 5 phỳt nếu ống chuyển lại màu vàng là phản ứng sinh khớ N2 là dương tớnh; nếu ống chuyển màu da cam đến đỏ là õm tớnh
Ghi kết quả trờn tấm kết quả
- Phõn loại:
Cỏc bước định loại vi khuẩn
+ Đảm bảo nuụi cấy đó thuần
+ Đi từ tiờu chuẩn chung họ, giống đến tiờu chuẩn đặc trưng cho loài
Dựa vào những đặc điểm và kết quả thử phản ứng sinh hoỏ, phõn loại vi khuẩn dựa vào bảng phõn loại vi khuẩn
2.4 Cảm nhiễm nhân tạo
Sau khi sơ bộ xác định vi khuẩn để có kết luận chắc chắn rằng chúng là tác nhân gây bệnh tiến hành thí nghiệm cảm nhiễm nhân tạo bằng vi khuẩn đã phân lập cho cá khỏe theo Kock
+ Phương pháp gây nuôi cảm nhiễm
Hình 3.2: Sơ đồ gây nuôi cảm nhiễm các chủng vi khuẩn đã phân lập
Trang 31+ Nguyên tắc cảm nhiễm vi khuẩn
- Tiêm trực tiếp vào cơ lưng cá, liều tiêm mỗi con cá thí nghiệm là 0,5ml hỗn dịch vi khuẩn
- Mỗi bể thí nghiệm là 10 con cá khỏe mạnh, kích cỡ đồng đều Cá được nuôi thuần hóa 48 giờ trước khi làm thí nghiệm
Thí nghiệm có lô đối chứng tiêm nước muối sinh lý 0,85%
Các cá lô thí nghiệm mật độ nuôi và các yếu tố môi trường tương đối đồng đều Chủng VK cảm nhiễm phải thần chủng, được nuôi cấy trên môi trường TSA trước khi cảm nhiễm 24 giờ
Các nồng độ tiêm từ 104tb/ml, 105 tb/ml, 106 tb/ml, 107 tb/ml, 108 tb/ml
+ Bố trí thí nghiệm
Các lô bố trí thí nghiệm được bố trí bốc thăm ngẫu nhiên và được lặp lại 2 lần Mỗi đợt làm cảm nhiễm lấy ra 5 bể cho chủng vi khuẩn 1, 5 bể cho chủng vi khuẩn 2, 5 bể cho chủng vi khuẩn 3, 5 bể cho chủng vi khuẩn 4 và 5 bể cho chủng vi khuẩn 5 5 bể còn lại làm lô đối chứng (bể 3,12, 18, 22, 24) Mỗi chủng vi khuẩn bố trí 5 nồng độ, mỗi nồng độ được bố trí 2 lần bằng 2 lần cảm nhiễm
Trang 32- Chủng vi khuẩn 1 với nồng độ: 2,7x10 tb/ml (bể 2); 2,7x10 tb/ml (bể 1); 2,7x10tb/ml (bể 27 ); 2,7x107 tb/ml (bể 15); 2,7x108 tb/ml (bể 23)
Trang 33- Chủng vi khuẩn 5 với nồng độ: 2,7x10 tb/ml (bể 2); 2,7x10 tb/ml (bể 6); 2,7x10tb/ml (bể 13 ); 2,7x107 tb/ml (bể 14); 2,7x108 tb/ml (bể 21)
ước lượng mật độ
VK(108/ml)
3 6 9 12 15 18 21 24 27 30
+ Theo dõi thí nghiệm
- Liều tiêm cho mỗi cá thí nghiệm là 0,5ml
- Theo dõi sự hoạt động, những biến đổi sinh lý và số cá phát bệnh theo thời gian 6, 12, 24, 48, 72 và 96h trong quá trình thí nghiệm
- Theo dõi các chỉ tiêu môi trường như nhiệt độ nước, pH, S%o hàng ngày trong quá trình thí nghiệm
- Khi cá phát bệnh tiến hành giải phẫu, cấy mẫu bệnh phẩm, phân lập và nuôi cấy vi khuẩn theo phương pháp đã nêu ở trên
- So sánh kết quả phân lập mẫu cá bị bệnh do cảm nhiễm với vi khuẩn đã sử dụng cảm nhiễm bệnh
2.5 Thử kháng sinh đồ
Theo Jackie (2005)
Xác định số lượng tế bào vi khuẩn để tiến hành thử kháng sinh đồ
Ở mỗi mật độ vi khuẩn xác định bằng phương pháp so mầu, dùng bộ ống chuẩn Mc-Falands đều được tiến hành trang trên đĩa MHA (theo Kock, 1987) nhằm xác định chính xác số vi khuẩn sống để tiến hành thử kháng sinh đồ
Trang 34- Định lượng vi khuẩn trên cơ sở sử dụng nồng độ vi khuẩn gốc theo ống chuẩn của Mc-Faland's số 3 tương ứng với 9x108, sau đó pha loãng nồng độ xuống 9x107, 9x106
- Với từng nồng độ gốc sẽ pha loãng các nồng độ đến hệ số pha loãng 10-6, 10-7,
10-8, từ mỗi nồng độ pha loãng sẽ lấy 0,1ml dung dịch trang đều trên đĩa NA, mỗi nồng độ tiến hành trên 3 đĩa Sau 24h nuôi cấy trong tủ ấm nhiệt độ 280C tính được số lượng vi khuẩn có trong 0,1ml hỗn dịch vi khuẩn để tiến hành thử kháng sinh đồ là: 4,2x108 tb/ml; 4,5x107tb/ml; 4,1x106 tb/ml
- Sẽ tiến hành thử kháng sinh đồ đối với mật độ vi khuẩn là 4,2x106tb/ml; 4,5x107tb/ml; 4,1x10 8tb/ml
- Chuẩn bị đĩa giấy kháng sinh cho các loại kháng sinh cần thử nghiệm (hàm lượng kháng sinh trên mỗi đĩa giấy kháng sinh được chuẩn bị theo đĩa giấy kháng sinh
đã thương mại hoá)
- Thí nghiệm sẽ được lặp lại 3 lần trên các đĩa petri khác nhau với cùng một loại kháng sinh đối với mỗi mật độ của loài vi khuẩn cần thử nghiệm
Tiến hành thử riêng kháng sinh đồ đối với vi khuẩn thu được trên cá bệnh
Môi trường MHA 1,5-2,0%NaCl được đổ trên đĩa petri, trang vi khuẩn lên các
đĩa petri đã chuẩn bị
- Đặt các khoanh giấy kháng sinh lên, đưa vào tủ ấm 27-29oC
Nước muối sinh lý
Vi khuẩn gốc 1ml 1ml 1ml 1ml 1ml 1ml 1ml 1ml
Cỏc bước tiến hành định lượng vi khuẩn
Trang 35 Đọc kết quả, đo đường kính vòng vô khuẩn sau 24 giờ
+ Xác định tính mẫn cảm của vi khuẩn với các chất kháng sinh
• Sử dụng phương pháp khuếch tán trong thạch thịt của vi khuẩn với các đĩa giấy kháng sinh tiêu chuẩn (CODE 1334E-OXOID)
• Dựa vào đường kính vòng vô khuẩn, xác định tính mẫn cảm của vi khuẩn với chất kháng sinh
* Đường kính vòng vô khuẩn >20mm: vi khuẩn có tính mẫn cảm cao
* Đường kính vòng vô khuẩn 11-20mm: vi khuẩn có tính mẫn cảm trung bình
* Đường kính vòng vô khuẩn <11mm: vi khuẩn có tính mẫn cảm kém
* Đường kính vòng vô khuẩn 6mm: vi khuẩn không có tính mẫn cảm
2.6 Thử một số thuốc kháng sinh phòng trị vi khuẩn gây bệnh cho cá trong phòng thí nghiệm
-
Hình 3.5: Sơ đồ bố trí thử thuốc kháng sinh sau khi chọn thuốc.
- Sau khi làm kháng sinh đồ chọn ra một số nồng độ và thuốc kháng sinh mẫn cảm cao với vi khuẩn gây bệnh tiến hành thí nghiệm trong phòng thí nghiệm
Trang 36- Cá được thuần hóa 48 h trước khi tiến hành thí nghiệm Thí nghiệm được lặp lại 2 lần bằng cách tắm cho cá bằng thuốc kháng sinh trong vòng 60 phút
Hình 3.6: Sơ đồ bố thử thuốc kháng sinh
Vi khuẩn 1:
Nồng độ thuốc 10mg/lít nước: Bể 1 lần 1, bể 3 lần 2 Nồng độ thuốc 30mg/lit nước: Bể 12 lần 1, bể 1 lần 2 Nồng độ 50mg/lít nước: Bể 5 lần 1, bể 12 lần 2
Đối chứng: Bể 20 lần 1, bể 10 lần 2
Vi khuẩn 2:
Nồng độ thuốc 10mg/lít nước: Bể 4 lần 1, bể 13 lần 2 Nồng độ thuốc 30mg/lit nước: Bể 11 lần 1, bể 19 lần 2 Nồng độ 50mg/lít nước: Bể 7 lần 1, bể 8 lần 2
Đối chứng: Bể 8 lần 1, bể 11 lần 2
Vi khuẩn 3:
Nồng độ thuốc 10mg/lít nước: Bể 10 lần 1, bể 14 lần 2 Nồng độ thuốc 30mg/lit nước: Bể 18 lẩn 1, bể 4 lần 2 Nồng độ 50mg/lít nước: Bể 6 lần 1, bể 7 lần 2
Trang 37Vi khuẩn 4:
Nồng độ thuốc 10mg/lít nước: Bể 2 lần 1, bể 15 lần 2 Nồng độ thuốc 30mg/lit nước: Bể 9 lần1, bể 18 lần 2 Nồng độ 50mg/lít nước: Bể 14 lần 1, bể 20 lần 2
Đối chứng: Bể 17 lần 1, bể 5 lần 2
Vi khuẩn 5:
Nồng độ thuốc 10mg/lít nước: Bể 3 lần 1, bể 6 lần 2 Nồng độ thuốc 30mg/lit nước: Bể 16 lần 1,bể 17 lần 2 Nồng độ 50mg/lít nước: Bể 13 lần 1, bể 2 lần 2
Đối chứng: Bể 5 lần 1, bể 16 lần 2
3 Xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm excel
Một số xử lý số liệu khác (bằng phền mềm Microsoft Excel 2000)
- Tính giá trị trung bình: ∑
=
i i
x n
X
1 1
Trong đó: n: Số lần kiểm tra của một yếu tố nào đó (i = 1,2,3 n)
Xi: Giá trị của lần kiểm tra thứ i
X: Giá trị trung bình của một yếu tố nào đó
- Sai số chuẩn của giá trị trung bình (SE) (Std.error of the mean)
N
S S
δ
Trang 38Trong đó : δ - Độ lệch chuẩn
X - Giá trị trung bình của yếu tốm thứ i (i = 1,2,3 n)
Xi - Giá trị lần kiểm tra thứ i (i = 1,2,3 n)
N - Số lần kiểm tra của một số yếu tố nào đó
n i
i i
n i
i i
yy xy
Y Y X
X
Y Y X X
S
S R
2
2
Trang 394 Kết quả vμ thảo luận
Rạng Đông 12
Rạng Đông 3
2 Lở loét
Trên thân cá xuất hiện các vết loét viền đỏ hoặc trắng xung quanh Những vết loét ăn sâu vào trong thịt của cá và những vùng xung quanh vết loét cũng
bị hoại tử, nếu ta chọc vào vùng xung quanh thì thịt ở
đấy sẽ bị rữa ra Giải phẫu cá thì thấy ruột không có thức ăn, nội tạng xuất huyết (hình 4.2)
Nghĩa Thắng 7
Trang 40H×nh 4.1: ¶nh c¸ Bèng bíp thu t¹i NghÜa H−ng – Nam §Þnh A: Da phång rép,
B: Gan s−ng, néi t¹ng xuÊt huyÕt
H×nh 4.2: C¸ Bèng bíp bÞ bÖnh thu t¹i NghÜa H−ng - Nam §Þnh
A: VÕt loÐt trªn th©n, B: Ruét c¸ xuÊt huyÕt
H×nh 4.3: Gan cña c¸ bèng bíp s−ng to khi bÞ bÖnh phång rép