Mục đích của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của quá trình tách chiết anthocyanin từ củ khoai lang tím có hỗ trợ siêu âm đến cấu trúc và tính chất của tinh bột khoai lang tím sau khi đã tách chiết anthocyanin. Kết quả của nghiên cứu sẽ là tiền đề định hướng việc sử dụng lượng tinh bột khoai lang tím sau tách chiết nếu có sự thay đổi về tính chất.
Trang 1trước khi ra ngôi và ra ngôi cây giống nhằm nâng
cao chất lượng cây giống ngoài vườn ươm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phạm Định Dũng, Kha Nữ Tú Uyên, Nguyễn hị
Hồng Tú, Vương hị Hồng Loan, Nguyễn Phi
Điệp, 2014 Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân
giống invitro Địa lan Hương Cát cát (Cymbidium
golden elf) Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm
TP Hồ Chí Minh, 64: 86-93
Phan Xuân Huyên, Nguyễn Trung Ái, Nguyễn hị
Lang, Nguyễn hị Diệu Hương, Đinh Văn Khiêm,
Dương Tấn Nhựt, 2004 Phục tráng và nhân nhanh
các giống địa lan Cymbidium sp bằng nuôi cấy đỉnh
sinh trưởng Tạp chí Sinh học, 26(1):48-54
Nguyễn hị Nhật Linh, Nguyễn Bá Nam, Nguyễn
hị Kim Yến, Lê Kim Cương, Nguyễn Phúc Huy,
Dương Tấn Nhựt, 2012 Ảnh hưởng của THT lên
khả năng định hướng rễ ở cây hồng môn và cây cúc
nuôi cấy in vitro Tạp chí Sinh học, 34(3): 377-388
Hoàng hị Nga, Nguyễn Quang hạch, Đỗ Đức hịnh, Hoàng Minh Tú, 2008 Xây dựng quy trình
nhân nhanh giống địa lan Hồng Hoàng (Cymbidium iridioides) bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào Tạp chí Khoa học và Phát triển, VI (4): 387-394
Gamborg L. and Gregory C. Phillips, 1995 Plant Cell,
Tissue and Organ Culture-Fundamental Methods Springer-Verlag, Berlin [online] https://doi org/10.1007/978-3-642-79048-5
Jaime A Teixeira da Silva and Michio Tanaka, 2006
Multiple Regeneration Pathways via Thin Cell Layers in Hybrid Cymbidium (Orchidaceae) Journal
of Plant Growth Regulation, 25 (3): 203-210, DOI: 10.1007/s00344-005-0104-0
Paek, K Y., and Yeung E C., 1991 he efect of
1-naphthaleneacetic acid and N6 benzyladenine on the growth of Cymbidium forrestii rhizomes in vitro Plant Cell Tiss Org Cult., 24: 65-71
Completion of the propagation procedure for Cymbidium sinense var alba by tissue culture
Nguyen Van Tien, Dang Van Dong, Chu hi Ngoc My,
Nguyen Van Tinh, Duong Van Minh
Abstract
Study on completion of the propagation procedure for Cymbidium sinense var alba aimed to conserve and develop precious orchid species with high aesthetic and economic value he results showed that the best initiating materials were axillary buds at the time of height > 5 - 10 cm (in vivo materials) and shoot tip in vitro he best medium for shoot morphogenesis from the shoot tips in vitro was MS + 1.5 mg/l BAP + 0.2 mg/l α-NAA + 100 ml/l coconut water + 10 g/l sugar + 6 g/l agar MS + 2.5 mg/l BAP + 0.3 g/l activated carbon + 50 g/l potato + 100 ml/l coconut water +
10 g/l sugar + 6 g/l agar was the fastest multiple medium that gave multiplication coeicient of 5.03 times and good shoot quality he best rooting medium was MS + 0.5 mg/l α-NAA + 2.0 g/l activated carbon + 100 ml/l coconut water + 30 g/l banana + 10 g/l sugar + 6 g/l agar with the number of roots/plant reaching 4.5 and length of 3.6 cm; leaves were 8.6 cm length, plant weight was 2.5 g
Keywords: Cymbidium sinense var alba, propagation procedure, tissue culture
Ngày nhận bài: 11/9/2020
Ngày phản biện: 19/9/2020 Người phản biện: TS Hà hị LoanNgày duyệt đăng: 24/9/2020
1 Viện Nghiên cứu Rau quả; 2 Viện Cơ điện và Công nghệ Sau thu hoạch
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG QUÁ TRÌNH TÁCH CHIẾT ANTHOCYANIN
CÓ HỖ TRỢ SIÊU ÂM ĐẾN TÍNH CHẤT CỦA TINH BỘT KHOAI LANG TÍM
Nguyễn Đức Hạnh1, Hoàng hị Lệ Hằng1, Nguyễn Duy Lâm2
TÓM TẮT
Mục đích của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của quá trình tách chiết anthocyanin từ củ khoai lang tím có
hỗ trợ siêu âm đến cấu trúc và tính chất của tinh bột khoai lang tím sau khi đã tách chiết anthocyanin Kết quả của nghiên cứu sẽ là tiền đề định hướng việc sử dụng lượng tinh bột khoai lang tím sau tách chiết nếu có sự thay đổi về tính chất Tinh bột khoai lang thu được sau quá trình tách chiết anthocyanin có hỗ trợ siêu âm (ở các điều kiện tối
ưu, cụ thể: nhiệt độ 47,4°C; thời gian tách chiết siêu âm 30 phút; nồng độ axit 0,5% trong môi trường enthanol 50%)
Trang 2được tiến hành đánh giá, phân tích các chỉ tiêu về cầu trúc, tính chất Kết quả cho thấy quá trình tách chiết không làm thay đổi cấu trúc hình thái của hạt tinh bột cũng như các tính chất nhiệt động của tinh bột khoai lang tím, tuy nhiên quá trình tách chiết lại ảnh hưởng đến độ nhớt của tinh bột khoai lang tím thu được
Từ khóa: Khoai lang tím, anthocyanin, siêu âm, tinh bột, tách chiết
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Khoai lang là một loại cây lương thực có hàm
lượng tinh bột lớn, chất xơ hoà tan, vitamin và
khoáng chất cao (Teow et al., 2007) Trong củ khoai
lang tím còn chứa một hàm lượng lớn hợp chất có
hoạt tính sinh học - anthocyanin (Nicole Bridgers
et al., 2010) Vì vậy, khoai lang tím được xác định là
một nguồn nguyên liệu tiềm năng cho việc thu nhận
hoạt chất sinh học tự nhiên anthocyanin
(Bovell-Benjamin, 2007) - là hoạt chất sinh học có tác dụng
rõ rệt trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh khác nhau
như ung thư, tim mạch hoặc cải thiện thị lực, bảo
vệ gan (Huang and Yang, 2011) cũng như tác dụng
làm chậm quá trình lão hóa, hạn chế sự giảm sức đề
kháng, tăng tuổi thọ (Zhang et al., 2010)
Trong khi đó, với hàm lượng tinh bột cao khoảng
24,8 g/100 g củ tươi có trong thành phần khoai lang
tím (Hoàng hị Lệ Hằng, 2013) Nên ngoài mục đích
thu nhận thành phần anthocyanin thì tinh bột cũng
là thành phần cần quan tâm thu nhận nhằm nâng
cao tối đa giá trị sử dụng của loại nông sản đang
được phát triển rộng rãi này
Trong các nghiên cứu trước, chúng tôi đã xác
định được phương pháp và các điều kiện tối ưu để
tách chiết anthocyanin đó là kết hợp nhiệt độ và
sóng siêu âm trong môi trường ethanol đã được axit
hóa (Nguyễn Đức Hạnh, 2017) Vì vậy, để trả lời cho
câu hỏi liệu với các điều kiện chiết tách này sẽ có ảnh
hưởng đến tính chất tinh bột khoai lang tím so với
ban đầu không? Đây là một hướng nghiên cứu mới
cần được tiến hành thực hiện Chính vì vậy, để nâng
cao hiệu quả khai thác các thành phần từ củ khoai
lang tím bằng cách thu nhận đồng thời thành phần
anthocyanin và tinh bột cần tiến hành xác định sự
thay đổi tính chất của thành phần tinh bột trong
dịch sau khi thu nhận anthocyanin bằng phương
pháp sử dụng nhiệt có hỗ trợ sóng siêu âm, từ đó
đánh giá được giá trị và mục đích sử dụng của loại
tinh bột này
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Tinh bột khoai lang tím trước và sau tách chiết
anthocyanin và tinh bột từ củ khoai lang tím
2.2 Phương pháp nghiên cứu 2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Tinh bột khoai lang tím sau tách chiết
anthocyanin (có hỗ trợ sóng siêu âm theo các bước
sau: Khoai lang tím được xay nghiền nhỏ trong môi trường ethanol 50% đã được axit hóa 0,5% và cho qua rây kích thước 1mm, dịch thu được cho vào cốc
500 ml đặt vào máy siêu âm dạng bể Elma S80 H, nhiệt độ dịch được ổn định ở nhiệt độ 48 ± 1°C trong thời gian siêu âm 30 phút) Kết thúc quá trình chiết tách, dịch được đưa vào máy ly tâm 5.000 vòng/phút trong 5 phút, phần không hòa tan sau ly tâm tiến hành lắng gạn và thu hồi tinh bột, tinh bột thu được mang sấy đối lưu ở nhiệt độ 70°C đến độ ẩm 11% Song song, mẫu tinh bột đối chứng được chuẩn
bị như sau: Khoai lang tím được nghiền nhỏ và cho qua rây kích thước 1 mm sau đó được tiến hành lắng gạn để thu hồi tinh bột, tinh bột thu được mang sấy đối lưu ở nhiệt độ 70°C đến độ ẩm 11%
Tiến hành phân tích, đánh giá các chỉ tiêu về tính chất của tinh bột thu được
Chỉ tiêu phân tích: Hàm lượng kháng tiêu hóa (Indigestible Fraction: IDF); phân tích độ nhớt nhanh (Rapid Visco Analyer: RVA); phân tích nhiệt
vi sai (Diferential hermal Analysis: TA); chụp ảnh tinh bột bằng kính hiển vi điện tử (SEM); khảo sát nhiễu xạ tia X (XRD)
2.2.2 Phương pháp phân tích
- Phân tích độ nhớt nhanh RVA: Tính chất nhiệt động của tinh bột là tính chất hồ hóa (gelatinization)
và nhân hóa (pasting) được xác định bằng nhớt kế
nhanh (RVA: Rapid Visco Analyser) nhờ sử dụng
thiết bị RVA (Super 3, Newport Scientiic Pty Ltd., Warriewood) theo phương pháp của AACC 61-02.01 (AACC, 2012) Hòa tan 3 g bột khoai lang tím (13,5% độ ẩm) và 25 g nước cất vào trong ống nhôm
và nạp vào nhớt kế nhanh RVA Hỗn hợp này được khuấy trộn ở tốc độ 900 rpm trong 10 giây đầu tiên
và giảm xuống tốc độ 160 rpm cho đến khi kết thúc phép đo Đun mẫu bột khoai lang tím ở 50°C trong
1 phút, sau đó tăng lên 95°C với tốc độ nâng nhiệt
là 12°C/phút và giữ tại nhiệt độ đó trong 2,5 phút Sau đó, làm nguội mẫu bột xuống 50°C với tốc độ giảm nhiệt 12°C phút và duy trì mức 50°C trong
2 phút tới khi kết thúc Mỗi mẫu được đo hai lần Truy
Trang 3xuất phần mềm hermocline version 1.2 (Newport
Scientiic Inc., NJ, USA) để xác định độ nhớt đỉnh
(PV), độ nhớt đáy (TV), độ nhớt cuối (FV), độ nhớt
set back (SB = FV - PV) và độ nhớt break down (BD
= PV - TV), và nhiệt độ nhão hóa (PT, °C)
- Phân tích nhiệt vi sai DTA (Diferential hermal
Analysis): Được thực hiện trên thiết bị phân tích
nhiệt vi sai (Labsys Evo S60/58988, Pháp) của Phòng
Phân tích nhiệt, Viện Hoá học, Viện Hàn Lâm KH
& CN Việt Nam Các mẫu đều được phân tích trong
khí nitơ với tốc độ gia nhiệt 4°C/phút từ nhiệt độ
phòng đến 200°C
- Khảo sát bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM):
Sử dụng kính hiển vi điện tử quét SEM (Jeol, JSM
6490 JED, Nhật Bản) với khay coaster (JFC 1200,
JEOL, Nhật Bản) tại Viện Khoa học Vật liệu, Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Cả các
mẫu được làm khô đến độ ẩm ít nhất 11% trước khi
thực hiện Lấy một mẫu khô và rắc lên băng dính
hai mặt đã được dính với giá đỡ Loại bỏ các mẫu
thừa, đặt vào khay coster để phủ vàng trong 150 giây
Đặt mẫu đã phủ vào buồng mẫu SEM Kiểm tra ở
độ phóng đại 2.500 và 6.000 lần với điện thế gia tốc
10 KV
- Khảo sát bằng đo nhiễu xạ tia X: Hình ảnh
nhiễu xạ tia X của các mẫu tinh bột khoai lang tím
được xác định bằng thiết bị SIEMENS D500 (Đức)
tại Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam Quy trình tiến hành theo
Cheetham và Tao (1998) Lấy khoảng 5 g mẫu, gói kín trong hộp silicon hình chữ nhật và trải rộng mẫu
để có một bề mặt mịn và đặt mẫu vào giá giữ mẫu Tiếp xúc với chùm tia X Điều kiện nhiễu xạ với tia đơn sắc Cu-K2 (bước sóng 0,154060 nm) được tạo
ra trong ống kín ở 40 kV và 40 mA Hình ảnh nhiễu
xạ được thu nhận ở dải góc quét Bragg (2θ) từ 4 hoặc 10° tới 45 hoặc 70 Các thông số hoạt động khác bao gồm: bước quét 0,05°, tốc độ quét 2,5° và tốc độ quay
30 rpm
2.3 hời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020 tại Bộ môn Sinh lý, sinh hóa
và Công nghệ sau thu hoạch - Viện Nghiên cứu Rau quả
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng quá trình tách chiết anthocyanin
có hỗ trợ siêu âm đến đặc trưng RVA của tinh bột khoai lang tím
Khảo sát đặc trưng RVA nhằm tìm hiểu tính chất lưu biến (reology) và nhiệt động của tinh bột Các đặc trưng này bị thay đổi rõ rệt khi tinh bột bị biến tính, vì vậy RVA là chỉ tiêu được sử dụng trong nghiên cứu về tính chất của tinh bột Trong Bảng 1
và Hình 1 là kết quả giản đồ RVA của mẫu tinh bột thu được trước và sau khi tách chiết anthocyanin có
hỗ trợ siêu âm
Bảng 1 Các thông số RVA của tinh bột khoai lang tím trước và sau tách chiết anthocyanin
Tên mẫu
Kết quả
Độ nhớt đỉnh (cP)
Độ nhớt đáy (cP)
Độ nhớt Break Down (cP)
Độ nhớt cuối Final Visc (cP)
Độ nhớt Setbackt (cP)
Tinh bột không tách
Tinh bột sau tách chiết
Hình 1 Giản đồ RVA của hai loại tinh bột khoai lang tím
Trang 4Kết quả cho thấy độ nhớt đỉnh (Peak Viscosity)
của mẫu tinh bột trước thu nhận anthocyanin cao
hơn mẫu sau thu nhận anthocyanin Khi chỉ xét
riêng giá trị về độ nhớt cuối cùng (Final Viscosity)
thì mẫu trước thu nhận anthocyanin lớn hơn mẫu
có xử lý thu nhận Như vậy, quá trình xử thu nhận
anthocyanin có ảnh hưởng đến chỉ tiêu độ nhớt của
tinh bột thu được Hiện tượng trên được giải thích
như sau, trong quá trình tách chiết anthocyanin có
sử dụng dung môi ethanol được axit hóa bằng HCl
0,5% nên trong môi trường này mạch tinh bột đã bị
thủy phân một phần, từ đó làm giảm độ nhớt của
tinh bột Kết quả trên phù hợp với kết quả nghiên
cứu của Pham Van Hung và cộng tác viên (2014) khi
xử lý nhiệt ẩm đối với tinh bột khoai lang ở điều kiện
110°C trong 8 giờ với ba loại axit hữu cơ khác nhau
Kết quả trên tương đồng với quan sát của Haros và
cộng tác viên (2004) đối với tinh bột ngô được xử lý
bằng axit lactic
3.2 Ảnh hưởng quá trình tách chiết anthocyanin
có hỗ trợ siêu âm đến mức kháng tiêu hóa của tinh
bột khoai lang tím
Trong quá trình tách chiết anthocyanin, bột
khoai lang tím sau nghiền được ngâm trong dung
dịch ethanol 50% đã được axit hóa bằng HCl 0,5%
kết hợp với điều kiện nhiệt độ 48 ± 1°C trong thời
gian siêu âm 30 phút nên thường gây ra hiện tượng
thoái hóa thành phần tinh bột Một trong những
hiện tượng thoái hóa là giảm khả năng bị thủy phân
của tinh bột Kết quả đánh giá khả năng kháng tiêu hóa của hai mẫu tinh bột được trình bày ở bảng 2
Bảng 2 Khả năng kháng tiêu hóa của tinh bột
khoai lang tím trước và sau xử lý tách chiết anthocyanin
Mẫu Đơn vị tính Kết quả
Tinh bột thu được sau tách chiết anthocyanin % 19,32a Tinh bột thu được trước
tách chiết anthocyanin % 17,93a
Kết quả từ bảng trên cho thấy khả năng kháng tiêu hóa của hai mẫu tinh bột không có sự sai khác nhau về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 0,05% Điều này chứng tỏ quá trình tách chiết anthocyanin có
hỗ trợ siêu âm không làm thay đổi khả năng kháng tiêu hóa của tinh bột khoai lang tím Kết quả trên khác với kết quả nghiên cứu của Pham Van Hung
và cộng tác viên (2014) khi đánh giá quá trình nhiệt
ẩm đến khả năng tạo ra tinh bột kháng tiêu hóa từ khoai lang Điều này có thể được lý giải là do quá trình tách chiết anthocyanin được thực hiện trong thời gian ngắn hơn rất nhiều (30 phút) và nhiệt độ thấp (48 ± 1°C) so với thời gian 8 giờ và 110°C của Pham Van Hung và cộng tác viên (2014)
3.3 Ảnh hưởng quá trình tách chiết anthocyanin
có hỗ trợ siêu âm đến đặc điểm hình thái hạt tinh bột khoai lang tím - SEM
Hình 2 Cấu trúc hạt tinh bột khoai lang tím thu được không xử lý tách chiết anthocyanin hàng
trên và xử có lý tách chiết anthocyanin hàng dưới với độ phóng đại 2.000 (trái) và 5.000 lần (phải)
Trang 5Kết quả khảo sát SEM của 2 mẫu tinh bột khoai
lang tím thu được trước và sau xử lý thu nhận
anthocyanin (Hình 2) Trong mỗi hình đưa ra 2 mức
phóng đại 2.000 và 5.000 lần Từ ảnh SEM quan sát
thấy rằng các hạt tinh bột khoai lang ở 2 mẫu đa số
là những hạt hình cầu có đường kính trong khoảng
5 - 15 µm Bề mặt của hạt tinh bột trước xử lý thu
hồi anthocyanin thường nhẵn, không bị rỗ, trong
khi đó hạt tinh bột thu được sau khi xử lý thu hồi
anthocyanin tuy có bề mặt nhẵn nhưng có xuất hiện
nhiều vết rỗ Điều này có thể giải thích là do, tác
động của môi trường tách chiết có axit và nhiệt độ
cao đã gây ra các vết rỗ trên bề mặt hạt tinh bột này
Tuy nhiên, khi xét về mặt hình thái, cấu trúc hai mẫu
tinh bột trên không có sự khác biệt
3.4 Ảnh hưởng quá trình tách chiết anthocyanin
có hỗ trợ siêu ấm đến phổ nhiễu xạ tia X của tinh
bột khoai lang tím
Các hạt tinh bột là những tinh thể đa hình phụ
thuộc vào nguồn gốc xuất xứ trong đó hai thành phần
là amylose và amylopectin được sắp xếp đối xứng
xuyên tâm Bên trong hạt tinh bột có phần kết tinh
do amylose và phần phân nhánh của amylopectin tạo nên phần vô định hình Về cấu trúc, tinh bột có
2 loại cấu trúc tinh thể đã được phân biệt (A và B)
do tỷ lệ khác nhau về thành phần amylopectin Loại
A chủ yếu ở ngũ cốc, còn loại B chủ yếu thấy ở các loại củ và tinh bột giàu amylose Một loại thứ gọi là
C xuất hiện khi có cả 2 loại A và B được thấy, chủ yếu
ở đậu đỗ (Tester et al., 2004)
Chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật nhiễu xạ tia X (X-Ray Dittraction, XRD) để khảo sát cấu trúc trật tự chuỗi dài và sự thay đổi cấu trúc của 2 mẫu tinh bột khoai lang tím trước và sau xử lý thu hồi anthocyanin Phổ nhiễu xạ tia X là sự phụ thuộc của cường độ nhiễu xạ vào góc nhiễu xạ (2 lần góc nhiễu xạ = 2θ) Đặc trưng phổ XRD của tinh bột từ
2 mẫu tinh bột khoai lang tím được nêu trên Hình 3 (Các giá trị này là đặc trưng cho tinh bột) Từ kết quả thu được từ phổ XRD ở Hình 3 cho thấy rằng cấu trúc tinh bột của cả hai mẫu tinh bột trước
và sau xử lý thu hồi anthocyanin không có sự sai khác Kết quả trên cho thấy quá trình xử lý thu hồi anthocyanin không làm ảnh hưởng đến cấu trúc của tinh bột khoai lang tím
Hình 3 Phổ nhiễu xạ tia X của hai mẫu tinh bột không xử lý (trên)
và có xử lý thu hồi anthocyanin (dưới)
Trang 63.6 Phân tích quét nhiệt vi sai DTA
Kết quả quét nhiệt vi sai DTA của hai mẫu tinh
bột thí nghiệm từ hình 4 cho thấy không có sự thay
đổi đáng kể Điều đó cho thấy quá trình tách chiết anthocyanin không làm ảnh hưởng đến biến đổi tính chất nhiệt học của tinh bột khoai lang tím
Hình 4 Phổ DTA của mẫu tinh bột không xử lý (trên) và có xử lý thu hồi anthocyanin (dưới)
IV KẾT LUẬN
Từ các kết quả thí nghiệm, đã đánh giá được tác
động của quá trình tách chiết anthocyanin có hỗ
trợ siêu âm đến tính chất của tinh bột khoai lang
tím, theo đó quá trình tách chiết không làm thay đổi
cấu trúc hình thái của hạt tinh bột, không làm ảnh
hưởng đến nhiệt động của tinh bột khoai lang tím,
tuy nhiên quá trình tách chiết có làm ảnh hưởng đến
độ nhớt của tinh bột khoai lang tím thu được
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hoàng hị Lệ Hằng, 2013 Nghiên cứu xác định độ già
thu hoạch của khoai lang tím cho mục đích bảo quản
và chế biến Viện Nghiên cứu Rau quả
AACC, 2012 Approved methods of the American
Association of Cereal Chemists, methods, 61-02.01
415 (RVA) (11th ed.) St Paul, Minnesota: American
Association of Cereal Chemists
Bovell-Benjamin A.C., 2007 Sweet potato: A review of
its past, present, and future role in human nutrition
Adv Food Nutr Res., 52: 1-59
Cheetham, N.W.H and Tao, 1998, Variation in
Crystalline Type with Amylose Content in Maize
Starch Granules: An X-Ray Powder Difraction
Study Carbohydrate Polymers, 36: 277-284
Haros, M., Perez, O E., Rosell, C M., 2004 Efect of
steeping corn with lactic acid on starch properties
Cereal Chemistry, 81: 10-14
Hung P.V, My N.T.H, Phi N.T.L., 2014 Impact of
acid and heat-moisture treatment combination on
physicochemical characteristics and resistant starch contents of sweet potato and yam starches Research Article, 66: 1013-1021
Huang J and L Yang, 2011 Microencapsulation of
Anthocyanins from Fruits of Berberis kaschgarica Rupr Food Science, 16-21
Nguyen Duc Hanh, Hoang hi Le Hang, Nguyen Duy Lam., 2017 Efects of ultrasound to anthocyanin
extraction and starch recovery from purple sweet potato Food science and technology., Vol 1, 336-344
Nicole Bridgers E., Mari S Chinnb and Van-Den Truong, 2010 Extraction of anthocyanins from
industrial purple-fleshed sweetpotatoes and enzymatic hydrolysis of residues for fermentable sugars Industrial Crops and Products, 32: 613-620
Teow C.C., Truong V.D., McFeeters R.F., hompson R.L., Pecota K.V., and Yencho G.C., 2007
Antioxidant activities, phenolic and β-carotene contents of sweet potato genotypes with varying lesh colours Food Chemistry, 103 (3): 829-838
Tester, R.F., Karkalas, J and Qi, X., 2004 Starch
Composition, Fine Structure and Architecture Journal of Cereal Science, 39: 151-165
Zhang Zi-feng, JunLu, Yuan-linZheng, BinHu, Shao-huaFan, Dong-meiWu, Zi-huiZheng, QunShan, Chan-minLiu, 2010 Purple sweet potato color
protects mouse liver against d-galactoseinduced apoptosis via inhibiting caspase-3 activation and enhancing PI3K/Akt pathway Food and Chemical Toxicology, 48 (8): 2500-2507
Trang 7Study on the efects of ultrasonic-assisted anthocyanin extraction on properties of purple sweet potato starch
Nguyen Duc Hanh, Hoang hi Le Hang, Nguyen Duy Lam
Abstract
his study aimed to evaluate the efect of ultrasonic-assisted extraction of anthocyanins from storage of purple sweet potato on the texture and properties of the acquired starch he study results will be the premise for orienting the use of purple sweet potato starch ater extraction in case of any change Experiments were performed under the most optimal conditions for the ultrasonic-assisted anthocyanin extraction as follows: Temperature of 47.4°C; ultrasonic extraction time of 30 minutes; 0.5% of acid concentration in 50% ethanol he results showed that the extraction process did not changed the morphological structure of starch grains and did not afected the thermodynamic properties of purple sweet potato starch, but afected viscosity of obtained purple sweet potato starch
Keywords: Anthocyanin, extraction, purple sweet potato, starch, ultrasonic
Ngày nhận bài: 9/8/2020
Ngày phản biện: 16/8/2020 Người phản biện: PGS TS Nguyễn Văn ToảnNgày duyệt đăng: 28/8/2020
1 Viện Nghiên cứu Rau quả; 2 Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG KHOAI SỌ PHÚC SẠN
TẠI MAI CHÂU - HÒA BÌNH
Trần Tố Tâm1, Nguyễn hị Hiền1, Nguyễn hanh Tuấn2
TÓM TẮT
hí nghiệm đồng ruộng được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống khoai sọ Phúc Sạn tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ trồng phù hợp là 24.000 cây/ha (tương ứng với khoảng cách 60 70 cm) giống khoai sọ Phúc Sạn cho năng suất đạt 17,4 tấn/ha Bón kết hợp phân vô cơ và phân hữu cơ với liều lượng 80 kg N + 60 kg P2O5 + 80 K2O + 5 tấn/ha phân chuồng + 2 tấn/ha phân hữu cơ vi sinh, giống khoai sọ Phúc Sạn cho năng suất đạt 18,3 tấn/ha và hiệu quả kinh tế đạt 228,9 triệu đồng/ha hời vụ trồng thích hợp đối với giống khoai Phúc Sạn là 20/3 dương lịch, cây sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất đạt 18,8 tấn/ha
Từ khóa: Khoai sọ Phúc Sạn, mật độ, phân bón, thời vụ, năng suất
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Khoai sọ (Colocasia esculenta L Schott.) thuộc họ
Ráy (Araceae) là cây một lá mầm được trồng rộng rãi
ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Mabhaudhi
et al., 2014) Khoai sọ là một trong số ít cây trồng
có thể sử dụng cả lá và củ làm thực phẩm phục vụ
nhu cầu thiết yếu của con người (Deo et al., 2009)
Lá non và cuống lá khoai sọ chứa nhiều protein và
khoáng chất là những thành phần quan trọng trong
chế độ ăn của con người (Paul and Bari, 2011)
Khoai sọ có giá trị dinh dưỡng ngang với khoai tây
(Wang, 1983), là nguồn cung cấp cacbohydrate tốt
chứa đầy đủ protein và lượng nhỏ lipid Hàm lượng
protein của khoai sọ cao hơn so với khoai lang và sắn
(Deo et al., 2009) Riêng ở các nước Đông Nam Á,
ngoài mục đích sử dụng làm lương thực cho con
người và là nguồn thức ăn cho gia súc, nó còn được
sử dụng trong các lễ hội tôn giáo và làm cây vị thuốc dân gian (Nguyễn hị Ngọc Huệ và Nguyễn Văn Viết, 2004)
Khoai sọ có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Châu
Mỹ và Châu Á, nhiều bằng chứng cho rằng khoai
sọ có nguồn gốc từ Nam Trung Á, có thể ở Ấn Độ hoặc Mã Lai (Shange, 2004) và sau đó lan sang quần đảo hái Bình Dương (Wang, 1983) Ở Việt Nam, khoai sọ được phân bố ở hầu hết các tỉnh trung du, miền núi và đồng bằng Khoai sọ Phúc Sạn là một trong những đặc sản nổi tiếng của huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Giống khoai này được trồng từ thời xa xưa Vì là giống bản địa có từ lâu đời nên phương thức canh tác của người dân vẫn áp dụng biện pháp canh tác quảng canh truyền thống Người