Luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i
-
Nguyễn hải nam
thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển chăn nuôi Hươu ở hộ nông dân tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Trang 2
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thục và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn Tác giả luận văn
Nguyễn Hải Nam Nguyễn Hải Nam
Trang 3Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo T.S
Đinh Văn Đãn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Phát triển nông thôn, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học nông nghiệp I
đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến phòng Kinh tế, phòng Thống kê của huyện Yên Thế, các hộ nông dân chăn nuôi hươu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập thông tin, số liệu để hoàn thành luận văn
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã
động viên, giúp dỡ tôi trong suốt qúa trình thực hiện luận văn này
Tác giả luận văn Tác giả luận văn
Nguyễn Hải Nam Nguyễn Hải Nam
Trang 4Môc lôc
4.1.1 Quy m« ch¨n nu«i h−¬u cña hé n«ng d©n ë Yªn ThÕ 784.1.2 Gi¸ trÞ s¶n phÈm thu ®−îc tõ ch¨n nu«i h−¬u cña hé n«ng d©n ë
Trang 54.2.2 Tình hình chăn nuôi hươu của các hộ điều tra 934.2.3 Thực trạng đầu tư cho chăn nuôi của các hộ điều tra năm 2005 954.2.4 Kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi hươu ở các hộ điều tra 994.2.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi hươu ở hộ nông dân 1024.2.6 Đánh giá chung về chăn nuôi hươu và những vấn đề đặt ra cần
4.3 Định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 1.1 Khẩu phần ăn trong một ngày đêm của hươu 26 Bảng 1.2 Tỷ lệ rụng đế mọc nhung của hươu trong năm 28 Bảng 3.1 Số liệu khí tượng trung bình (1995-2005) tại Bắc Giang 43
Bảng 3.4 Tình hình nhân khẩu của huyện (2003 - 2005) 48 Bảng 3.5 Tình hình lao động ở huyện năm 2003 – 2005 49 Bảng 3.6 Cơ cấu diện tích các loại cây trồng chính qua các
Trang 8Bảng 4.3 Giá trị sản phẩm thu được từ chăn nuôi hươu của các hộ
Bảng 4.4 Tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm của các hộ nông dân ở các thị
Bảng 4.6 Diện tích đất bình quân một hộ chăn nuôi hươu 88 Bảng 4.7 Vốn và cơ cấu vốn (tính bình quân cho một hộ điều tra
Bảng 4.8 Giá trị tài sản bình quân cho một hộ điều tra năm 2005 91 Bảng 4.9 Số lượng nhân khẩu và lao động tính bình quân cho 1 hộ
Bảng 4.11 Số hộ chăn nuôi hươu phân theo quy mô năm 2005 95 Bảng 4.12 Chi phí bình quân 1 hộ chăn nuôi hươu đực lấy nhung tại hộ
Bảng 4.13 Chi phí bình quân 1 hộ chăn nuôi hươu cái sinh sản ở các
Bảng 4.14 Kết quả sản xuất chăn nuôi hươu đực lấy nhung ở hộ điều
Bảng 4.15 Kết quả sản xuất chăn nuôi hươu cái sinh sản tính bình quân
Bảng 4.16 Kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi hươu tính bình quân
Bảng 4.17 Kết quả sản xuất phân theo trình độ của chủ hộ 103 Bảng 4.18 Kết quả sản xuất theo giống đang nuôi tại các hộ điều tra
Bảng 4.19 Kết quả sản xuất phân theo quy mô chăn nuôi của hộ điều tra 108
Trang 9Bảng 4.20 Hiệu quả sản xuất tính trên một đồng vốn đầu tư bình quân
Bảng 4.21 Các vấn đề trong sản xuất đối với hộ chăn nuôi hươu 114
Trang 10Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ rụng đế mọc nhung của hươu trong năm 29
Biểu đồ 3.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của huyện (1991- 2005) 69 Biểu đồ 4.1 Tốc độ phát triển đàn hươu của huyện Yên Thế (2003 - 2005) 80 Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm của các hộ nông dân trên các thị trường 83 Biểu đồ 4.3 Cơ cấu vốn tính bình quân cho 1 hộ điều tra 89 Biểu đồ 4.4 Số lượng hươu của các hộ nông dân ở huyện Yên Thế năm 2005 94
Biểu đồ 4.6 Biến động giá cả của các sản phẩm từ chăn nuôi hươu
Danh mục các sơ đồ Sơ đồ 4.1 Kênh tiêu thụ từ sản phẩm chăn nuôi hươu trên địa bàn
Trang 111 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
.Việt Nam là một nước với trên 70% lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp
và khoảng 75% dân số sống ở khu vực nông thôn, năm 2005 tỷ trọng giá trị ngành nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao trong GDP Do vậy, vai trò quan trọng của phát triển nông nghiệp, nông thôn đối với nước ta luôn được khẳng định trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trong ngành nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi là hai bộ phận chính cấu thành nên tổng giá trị sản xuất Phát triển ngành trồng trọt những năm qua
đr gặt hái được những thành tựu to lớn Tuy nhiên với đặc điểm đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được cho nên trong điều kiện tổng diện tích đất canh tác hạn hẹp, diện tích đất canh tác bình quân đầu người thấp và ngày càng giảm thì việc phát triển ngành trồng trọt sẽ ngày càng có nhiều khó khăn Vì vậy nông nghiệp ngày càng phải quan tâm đến phát triển ngành chăn nuôi để tăng thu nhập cho hộ nông dân và mang lại nguồn hàng cho xuất khẩu
Ngày nay, việc phát triển chăn nuôi các loài động vật hoang dr quý hiếm gắn liền với việc khai thác sử dụng hợp lý với bảo vệ nguồn tài nguyên
động vật là một trong những hướng khai thác bền vững, đem lại nhiều lợi ích cho gia đình, cộng đồng và xr hội Trong các loài động vật thì hươu, nai đang
được chú trọng và phát triển
Hươu là động vật hoang dr có giá trị về nhiều mặt và mang lại hiệu quả kinh tế cao, bởi sản phẩm "nhung hươu" có giá trị dinh dưỡng là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp dược phẩm và là nguồn xuất khẩu mang lại ngoại tệ cho các quốc gia Gân và đuôi hươu là món ăn bổ và là một vị thuốc
có hiệu quả trong việc điều trị các bệnh về gân, xương Nhung hươu là dược liệu quý dùng làm thuốc trong tây y và đông y
Trang 12Trên thế giới hiện có khoảng 21 nước nuôi hươu với quy mô lớn để lấy nhung, thịt và các sản phẩm phụ cung cấp cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Đr từ lâu "nhung hươu" được ưa chuộng trên thị trường trong và ngoài nước của nhiều khu vực châu á và thế giới, nhất là những nước có truyền thống chăn nuôi và sử dụng sản phẩm này như Trung Quốc, Hàn Quốc, các nước vùng châu á thuộc Liên Xô (cũ)
ở Việt Nam, từ năm 1927 hươu sao đr bắt đầu được thuần hoá và nuôi dưỡng ở Nghệ An, Hà Tĩnh ở Yên Thế - Bắc Giang, hươu được nuôi từ năm
1993 Ban đầu Viện Sinh thái Tài nguyên môi trường quốc gia đr nghiên cứu và chọn huyện Yên Thế - Bắc Giang để chăn nuôi hươu Lúc đầu huyện mua 3 con giống về nuôi với giá gần 50 triệu đồng/3con
Nghề nuôi hươu là một trong những nghề truyền thống được chú ý phát triển trong những năm gần đây ở huyện Yên Thế - Bắc Giang Lợi ích thu được
từ nhung hươu, thịt hươu và bán con giống đr góp phần đáng kể tăng thu nhập cho hộ nông dân Phát triển nghề nuôi hươu còn góp phần gìn giữ sự đa dạng sinh học và phát triển bền vững nông nghiệp huyện Yên Thế Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xr hội của huyện rất thuận lợi cho hươu sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên hươu là đối tượng được xem là bán thuần dưỡng, nên còn ít
được nghiên cứu kể cả về đặc tính sinh vật học, kỹ thuật chăn nuôi và các vấn đề kinh tế của việc chăn nuôi hươu Vì thế tuy hươu được nuôi từ thế kỷ trước nhưng người ta còn rất ít hiểu về nó và đó cũng là nguyên nhân làm cho nghề nuôi hươu chưa thật sự phát triển và hiệu quả kinh tế đem lại chưa cao
Để tăng thêm hiểu biết về hươu và phát triển nuôi hươu đạt hiệu quả cao tại huyện Yên Thế - Bắc Giang, chúng tôi được phân công thực hiện đề tài:
"Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển chăn nuôi hươu ở hộ nông dân tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang" với những mong muốn đạt
được những mục tiêu như sau:
Trang 131.2 Mục tiêu của đề tài
* Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chăn nuôi hươu ở các hộ nông dân tại huyện Yên Thế - Bắc Giang, từ đó đề xuất một số giải pháp khả thi phát triển chăn nuôi hươu ở hộ nông dân huyện Yên Thế - Bắc Giang đạt hiệu quả cao
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi hươu ở
hộ nông dân đạt hiệu quả cao
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề kinh tế trong chăn nuôi hươu ở hộ nông dân
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu các nội dung kinh
tế chăn nuôi hươu ở các hộ nông dân như; sử dụng các yếu tốt sản xuất, tình hình phát triển đàn hươu, phân tích tình hình đầu tư và hiệu quả sản xuất kinh doanh chăn nuôi hươu của hộ, phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả chăn nuôi hươu, đề xuất những giải pháp khai thác tiềm năng chăn nuôi hươu đạt hiệu quả kinh tế cao
- Về không gian: đề tài tiến hành nghiên cứu 50 hộ mang đại diện của các hộ chăn nuôi hươu ở huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Trang 14- VÒ thêi gian:sè liÖu thu thËp ®−îc tõ c¸c tµi liÖu ®r ®−îc c«ng bè tõ n¨m 2003-2005 Sè liÖu kh¶o s¸t thùc tr¹ng ch¨n nu«i h−¬u cña hé n«ng d©n
®−îc ®iÒu tra ph©n tÝch chñ yÕu lµ n¨m 2005, c¸c sè liÖu dù kiÕn cho n¨m 2006-2010
Trang 15- Theo từ điển ngôn ngữ Mỹ (Oxford Press - 1987) có định nghĩa "Hộ
là tất cả những người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung”
- Năm 1980, tại Hội thảo quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan đr khẳng định "Hộ là đơn vị cơ bản của xr hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là đơn vị kinh tế
Như vậy hộ là đơn vị kinh tế, có nguồn lao động và phân công lao
động chung: có vốn và chương trình kế hoạch sản xuất chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thoả thuận, có tính chất gia đình
* Khái niệm về hộ nông dân
- Về hộ nông dân, tác giả Frank Eliss định nghĩa: "Hộ nông dân là các
hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục
bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với một mức độ không hoàn hảo cao"(dẫn theo Dương Văn Hiểu,2001) [11]
- Traianop cho rằng: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định" và "Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp"
Trang 16- ở Việt Nam, Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào của
xr hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" Nguyễn Sinh Cúc cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao
động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp Như vậy hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt
động phi nông nghiệp như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các mức độ khác nhau Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng
2.1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi hươu của hộ nông dân Trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp, nói chung và hộ nông dân chăn nuôi hươu chịu tác động bởi các nhóm yếu tố như điều kiện tự nhiên,
điều kiện kinh tế xr hội và khả năng tổ chức quản lý sản xuất, điều kiện về khoa học kỹ thuật và các chính sách của Nhà nước
a Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đất đai:
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đến
sự phát triển của kinh tế hộ nông dân chăn nuôi hươu Những hộ nông dân có
vị trí thuận lợi như gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn sẽ
có điều kiện phát triển sản xuất hàng hoá Thực tế cho thấy càng ở những vùng sâu, vùng xa… do vị trí không thuận lợi nên kinh tế hộ nông dân kém phát triển
Trang 17Quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ nhưỡng có liên quan mật thiết, tới từng loại sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra, tới giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được
- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái
Điều kiện thời tiết khí hậu và lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng…
có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Thực tế cho thấy những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên
ưu đri sẽ hạn chế được bất lợi, những rủi ro điều kiện thiên nhiên gây ra và
có cơ hội để phát triển chăn nuôi hươu, tăng sản lượng nông sản hàng hoá của các hộ nông dân chăn nuôi hươu
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển nuôi hươu của hộ nông dân nhất là nguồn nước Bởi vì chăn nuôi hươu tồn tại và phát triển theo quy luật của môi trường Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì đàn hươu phát triển tốt, cho năng suất sản phẩm cao Nếu môi trường sinh thái không phù hợp dẫn đến sinh trưởng và phát triển, năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, từ đó hiệu quả sản xuất của hộ nông dân chăn nuôi hươu đạt hiệu quả thấp
b Nhóm yếu tố về kinh tế và tổ chức quản lý và x= hội
Nhóm yếu tố kinh tế và tổ chức liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung
và phát triển kinh tế hộ nông dân chăn nuôi hươu nói riêng
- Trình độ học vấn và kỹ năng lao động
Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm chăn nuôi hươu tiên tiến Trong chăn nuôi phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi nhằm đem lại lợi nhuận cao Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, cũng như kinh nghiệm chăn nuôi hươu của người chủ hộ
có vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và thất bại trong
Trang 18kinh doanh của hộ nông dân Vì vậy chủ hộ nông dân muốn thành đạt phải có
tố chất của một nhà chăn nuôi hươu để kinh doanh thực thụ
- Vốn:
Trong quá trình sản xuất nói chung và chăn nuôi hươu nói riêng, vốn là cơ sở đảm bảo cho hộ nông dân có các tư liệu sản xuất, vật tư nguyên vật liệu cũng như thuê nhân công để tiến hành sản xuất kinh doanh Vốn là điều kiện không thể thiếu trong chăn nuôi Vốn là một trong những yếu tố quyết định
sự hình thành sản xuất hàng hoá, nói cách khác, cần có quy mô vốn đủ lớn để kinh tế hộ trở thành kinh tế trang trại gia đình, chăn nuôi hươu đạt hiệu quả
- Công cụ sản xuất:
Trong quá trình sản xuất nói chung, chăn nuôi hươu nói riêng, công cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật chăn nuôi Muốn nuôi hươu có hiệu quả, năng suất lao động cao cần phải sử dụng một hệ thống công cụ phù hợp
- Thị trường:
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất với số lượng bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng nào Trong cơ chế thị trường các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá mà thị trường cần và họ có khả năng sản xuất Từ đó kinh tế hộ có điều kiện phát triển sản xuất hàng hoá
- Hình thức và mức độ liên kết, hợp tác trong các mối quan hệ sản xuất kinh doanh
Trang 19Để đáp ứng yêu cầu của thị trường về nông sản hàng hoá, các hộ nông dân phải liên kết, hợp tác lại với nhau tiêu thụ sản phẩm Nhờ các hình thức liên kết hợp tác mà các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào chăn nuôi hươu nhằm nâng cao năng suất vật nuôi và năng suất lao động của mình
c Nhóm yếu tố về khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Kỹ thuật chăn nuôi:
Do điều kiện tự nhiên kinh tế xr hội của mỗi vùng khác nhau với yêu cầu giống hươu nuôi khác nhau, đòi hỏi phải có kỹ thuật chăn nuôi khác nhau Trong nuôi hươu, tập quán, kỹ thuật chăn nuôi của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và phát triển đàn hươu của hộ nông dân
ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong chăn nuôi hươu:
Chăn nuôi hươu của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật, vì nó đr tạo ra giống hươu có năng suất cao, chất lượng tốt Thực tế cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong chăn nuôi hươu họ làm giàu lên rất nhanh Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm từ chăn nuôi hươu đạt chất lượng cao Như vậy việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào chăn nuôi có tác dụng thúc đẩy chăn nuôi hươu phát triển, thậm chí những tiến bộ kỹ thuật làm thay đổi hẳn vùng sản xuất hàng hoá
d Nhóm yếu tố thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nước
Nhóm nhân tố này bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước như: chính sách nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế nông hộ và là công cụ đắc lực để Nhà nước
Trang 20can thiệp có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp nói chung và các hộ chăn nuôi hươu nói riêng
2.1.1.3 Lợi ích của chăn nuôi hươu
- Hươu là động vật hoang dr có giá trị kinh tế cao Nguồn lợi thu được khi nuôi hươu là thịt, nhung hươu và các sản phẩm phụ Thịt hươu là loại thịt cao giá nhiều người ưa thích được tiêu thụ mạnh trong khu vực khách sạn nhà hàng ở Mỹ, giá 1kg thịt hươu là 8 USD, ở Na Uy là 9,3 USD Australia hàng năm sản xuất khoảng 200 tấn thịt hươu còn Na Uy trên 2.000 tấn (Hinmarsh
và Shuster, 1979) (dẫn theo Đặng Vũ Bình, 1997) [3]
Ngoài thịt ra người ta còn thu được hàng loạt phế phẩm phụ khi giết thịt hươu mà giá trị của chúng phụ thuộc vào giới tính Couchman(1979) cho rằng: hầu hết các sản phẩm phụ, ngoại trừ da sống và phụ phẩm có thể ăn
được có giá khoảng 60 -75 USD/ con Theo Đỗ Tất Lợi (1982), các cơ thể khác của cơ thể hươu được dùng làm trong đông y:
- Lộc thận, lộc tiên (dịch hoàn và dương vật hươu) có tác dụng bổ thận tráng dương Lộc huyết (máu hươu) phơi khô dùng làm thuốc bổ
Mục đích chính tiếp theo của người nuôi hươu là thu hoạch nhung và bán con giống ở các nước châu âu, giá hươu sống từ 700 - 2500 USD/ con,
ở Hàn Quốc 420.000 - 3.700.000 won/con tuỳ theo giống (K won, 1997) Nhung hươu là dược liệu quý, công dụng của lộc nhung là chữa các trường hợp suy nhược, hư tổn của cơ thể, nam giới hư lao, tinh kém hoa mắt,
Trang 21hoạt tinh, nữ giới băng lâu đới hạ… Vì vậy, nó rất có giá trị trên thị trường trong nước và thế giới
ở Australia và NewZealand, giá 1kg nhung tươi là 198 - 242 USD và 1
kg nhung sấy khô thái mỏng là 1000 USD Hàn Quốc giá 1kg nhung tươi là 80.000 won
Hiện nay, tại Bắc Giang giá 1 kg nhung tươi là 8,5 - 9,5 triệu đồng và sấy khô thái mỏng là 15 - 20 triệu đồng
Nuôi hươu nói riêng và động vật hoang dr nói chung, không chỉ thu về nguồn lợi kinh tế mà còn góp phần bảo vệ nguồn gien quý hiếm, bảo tồn các loại động vật hoang dr, vừa có giá trị trước mắt, vừa mang ý nghĩa lâu dài Cho
đến nay hầu như tất cả các nước trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề này 2.1.2 Đặc điểm về chăn nuôi hươu của hộ nông dân
2.1.2.1 Đặc điểm của hộ nông dân chăn nuôi hươu
- Hộ gia đình chăn nuôi hươu sử dụng lao động và tiền vốn của hộ là chủ yếu
Hươu là động vật hoang dr nên việc nuôi cần có lý thuyết áp dụng chăn nuôi theo tính cách của chúng (hoang dr ), hươu con bản chất tạp ăn, bộ phận tiêu hoá khác với loại gia súc khác, thời gian nuôi dài 15 - 20 năm Nuôi hươu ở hộ nông dân vừa mang tính thâm canh vừa mang tính quảng canh, vì thời gian nuôi dài nhưng mỗi năm hươu cái sinh sản một lần
và hươu đực cho nhung từ 1 đến 2 lần
Hươu cái trước và sau khi sinh cần đầu tư thêm thức ăn, còn bình thường cho ăn theo tính chất khẩu phần như tính cách hoang dr của chúng Hươu đực trước và sau thời gian lên nhung khoảng 50 - 60 ngày là cắt cần có sự đầu tư thêm về thức ăn, còn sau thời gian đó cũng cho ăn theo tiêu chuẩn khẩu phần như tính cách hoang dr
Hộ gia đình chăn nuôi theo quy mô nhỏ thì tận dụng sức lao động gia
Trang 22đình và và những lúc rảnh rỗi về thời gian để chăn nuôi hươu
Hộ gia đình chăn nuôi theo quy mô lớn thì thì phải đầu tư tích luỹ thức
ăn theo mùa vụ và phải có nhân lực lao động chăm sóc và theo dõi hươu Thu nhập từ chăn nuôi hươu mang lại cho hộ nông dân là rất lợi nhưng rủi ro cũng rất cao đặc biệt là chăm sóc phòng ngừa bệnh tật vì hươu là động vật hoang dr được đem về thuần dưỡng và nuôi nên sinh hoạt vẫn mang tính hoang dr
2.1.2.2 Kỹ thuật chăn nuôi hươu của hộ nông dân
a Về khâu chuẩn bị chuồng trại
Tuỳ theo đặc điểm địa hình, địa vật điều kiện của từng hộ gia đình để làm chuồng trại cho thích hợp phải thoáng về mùa hè, ấm về mùa đông, phải sạch sẽ và yên tĩnh, chuồng trại phải chắc chắn và làm đúng kỹ thuật phù hợp với từng loại hươu, hươu đực phải được làm rộng hơn hươu cái, chuồng nhốt hươu con phải làm thang dày hơn tránh trường hợp hươu lọt đầu hoặc chui ra b.Về giống
Hiện nay giá hươu giống khá cao cho nên việc chọn hươu con nuôi là rất quan trọng (hươu đực nuôi lấy nhung), hươu cái nuôi để sinh sản
Nếu chọn được tốt đủ tiêu chuẩn làm giống thì giá trị kinh doanh trên mặt hàng này còn cao hơn nhiều so với việc cho nhung của nó Còn con cái nếu cho ra đời những con hươu con có nhiều đặc tính tốt thì giá trị của con hươu con thường cao hơn, dễ bán hơn so với các con khác (mức chênh lệch
về giá rất cao)
Do điều kiện khả năng, kỹ thuật chăm sóc nuôi hươu đang còn nhiều hạn chế nếu chọn được con hươu giống đảm bảo được theo những yêu cầu trên thực sự là khó khăn Phải tránh được những con có di truyền cận huyết bởi ảnh hưởng của lai tạo cận huyết thường xấu
Mọi sơ xuất nhỏ trong chăn nuôi hươu nhất là công tác chọn giống, nếu không có kinh nghiệm sẽ mắc phải kết quả xấu không lường trước được
Trang 23Khi chọn giống bằng hươu đực thường phải làm 2 chức năng là sản xuất nhung và làm đực giống Phải chọn con đực không cận huyết, phải tìm hiểu xem quan hệ giữa con hươu bố và hươu mẹ của nó
* Chọn con đực: có sức khoẻ tốt, có năng suất sản xuất nhung cao, thường thường nếu là nhung khoẻ sẽ cho nhung từ 0,8 kg trở lên Tính di truyền của con bố tương đối ổn định, trong các lần làm đực giống con lai của con bố thường có được những đặc tính tốt đó cần phải chọn con có ngoại hình tốt, đẹp, khi sơ sinh phải từ 4 kg trở lên Tuy nhiên khi mua hươu giống
về nuôi chỉ dựa vào những người chăn nuôi là chưa đủ mà cần phải tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến khâu giống
+ Mặt rộng, vầng trán nhô cao, hai xoáy trán cao và cách xa nhau nếu con đực thì có sừng (nhung) thì hai bên sừng phải tạo thành hình chữ Y và hai đỉnh càng rộng càng tốt, những con mà có cặp sừng (nhung) song song là nhung kém (mặt nhìn thô và ngắn)
+ Cổ ngắn, vòm cổ hơi sà xuống trông như có ướm, ngực thon mình ngựa, lưng thấy chỉ lưng rõ, chân ngắn vừa phải và mập, luôn đi bằng 4 ngón chân Những con mà hai chân sau thấp hơn hai chân trước quá nhiều, chân khẳng khiu, đứng chụm lại, đít có xẻ như trập thì không bao giờ có khả năng cho nhiều nhung và cho giống cũng không tốt
* Chọn con cái: Chức năng của con cái là sinh sản, vì vậy khi chọn con cái ngoài phần theo dõi lý lịch thì những đặc điểm điển hình cho giống cái cần phải quan tâm đúng mức
Lý lịch của giống cái cũng phải không bị cận huyết, nếu bị cận huyết hoặc đồng huyết có thể bị vô sinh, bệnh này có nhiều và không thể chữa
được, phải xem xét đời mẹ của nó nếu con mẹ mà thuận lợi trong việc phối giống, sinh con và chăm sóc con tốt, nhiều sữa 1 năm đẻ 1 lần là tốt nhất Con vật sinh ra phải to khoẻ (từ 3kg trở lên) phải hài hoà giữa các phần của cơ thể, theo thể trọng của giống cái, đuôi luôn phe phẩy, mắt sáng
Trang 24ảnh 1.1: Hươu đực 36 tháng ảnh 1.2: Hươu cái 24 tháng
Theo kinh nghiệm chọn giống thì quan trọng phải chọn được con hươu
cái giống có đầu nhỏ, mồm hơi rộng (tạp ăn), vành mắt có bộ lông màu nâu
hoặc hung nâu, không trắng quá (những con có vành mắt trắng quá, bạc màu
thường nuôi con kém thậm chí không biết nuôi con)
Cổ hươu cái phải thon dài, nổi gân, thân mình nhìn chung hơi ngắn,
lưng thẳng, bụng võng xuống, mông tròn đều và nổi Đây là những đặc điểm
rất quan trọng chứng tỏ xương chậu của con vật to, dễ đẻ và không bị dị tật,
những con mà không cân đối, bên cao bên thấp có thể bị gẫy xương chậu từ
nhỏ sẽ rất khó sơ sinh (xem ảnh 1.1 và ảnh 1.2)
Theo kinh nghiệm của những hộ chăn nuôi hươu chúng ta chọn những
con hươu giống có được những đặc tính tốt như đr nói ở trên thì chắc chắn
trong quá trình nuôi dưỡng về nhiều mặt sẽ đạt được kết quả tốt hơn mà trước
hết có thể an tâm với đồng vốn bỏ ra
* Kinh nghiệm phối giống: Muốn phối giống có kết quả, người nuôi
phải nắm được thời điểm động dục của hươu cái và kinh nghiệm phối giống
- Thời điểm động dục của con cái: theo kinh nghiệm của người nuôi
hươu sao thì hươu thường động dục từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch hàng
năm Tuỳ vào từng cá thể mà thời điểm đó có thể lên xuống một vài chu kỳ
Deleted: H Deleted: H
Trang 25Cái quan trọng là phải nắm được thì điểm động dục đầu tiên của con cái Tuỳ theo kinh nghiệm nuôi hươu ở từng vùng có địa lý khác nhau thì việc động dục của hươu có dao động khác nhau nhưng sau đó cứ theo chu kỳ
động dục từ 18 - 20 ngày chúng lại động dục trở lại và không theo chu kỳ trước nữa
Các triệu chứng động dục của con cái Khi động dục các con cái thường ít ăn Đi vòng quanh chuồng nhiều hơn với thái độ luôn dòm ngó tìm kiếm, đuôi luôn phe phẩy với nhịp nhanh hơn hay cọ (cà) vào chuồng con cái trong thời điểm này rất lỳ, dạn, thậm chí xô đẩy cũng không đi, diễn ra từ 1 -
3 ngày Khi có hiện tượng này nếu được phối giống chắc chắn con cái sẽ
được thụ tinh
- Các triệu chứng động dục của con đực:
Nếu nhốt bên cạnh con cái tại thời điểm con cái động dục thì con đực
có những hưng phấn cao độ như cào phá mạnh, kêu nhiều, xông xáo, hung dữ hơn Kinh nghiệm trong thực tế để chuẩn bị phối giống, người nuôi thường cho con cái và con đực tiếp xúc với nhau trước thời điểm con cái động dục bằng cách nhốt 2 con vào 2 ô chuồng gần nhau để chúng tự kích thích nhau cho đến khi con cái đứng im, sau khi phối cần theo dõi kết quả, trong nhiều trường hợp khi phối xong phải tách con đực ra để bồi dưỡng sức khoẻ thêm cho nó Đối với hươu mới lấy giống lần đầu cần phải chú ý thêm các vấn đề sau: Tuổi động dục của hươu cái thường là một năm (có con 8 tháng tuổi) Tuy nhiên trong lần động dục đầu tiên, nếu lấy giống cho nó thường xẩy ra các hiện tượng xấu như: khó đẻ do mẹ còn nhỏ, con nhỏ khó nuôi và mẹ không biết chăm con và có thể gây nguy hiểm cho cả mẹ và con thậm chí có thể chết cả mẹ và con Vì vậy phải chờ hươu thực sự trưởng thành mới cho lấy giống, tốt nhất là từ 1,5 - 2 tuổi là tốt nhất
Trang 26c Kỹ thuật chăm sóc hươu
Chăm sóc nuôi dưỡng là công việc rất quan trọng có ý nghĩa quyết
định đến sự thành đạt trong việc chăn nuôi hươu Theo kinh nghiệm của các
hộ gia đình chăn nuôi hươu lâu năm đr tổng kết và đúc rút đó là:
Hươu trưởng thành từ 5 năm trở lên; hươu choai từ 1 - 4 năm và hươu cai sữa từ 3 tháng đến 1 năm và cho ăn theo chế độ khác nhau, chăm sóc và nuôi dưỡng theo khẩu phần ăn khác nhau (xem bảng 1.1)
Bảng 1.1: Khẩu phần ăn trong một ngày đêm của hươu
Loại hươu
Thức ăn thô xanh (kg)
Thức ăn
củ quả
(kg)
Thức ăn tinh (kg)
Muối
ăn (g) Hươu từ 3 - 12 tháng tuồi 5 -8 1,0 0,10 5 - 10 Hươu đực, hươu cái không mang
thai, hươu hậu bị (Trên 12 tháng)
hươu cái mang thai thời kỳ đầu
Nguồn: Viện sinh thái tài nguyên môi trường 2005
Thức ăn của hươu: hươu được mệnh danh “thùng rác bằng vàng” nghĩa là hươu ăn được rất nhiều loại thức ăn, thức ăn chính của hươu là các loại cỏ, lá, cành, cây có sẵn trong tự nhiên ngoài ra còn có các sản phẩm chính và phụ trong nông nghiệp được sử dụng làm thức ăn như là: đậu đen,
đậu nành, đậu xanh, ngô… những sản phẩm phụ chế biến như rỉ đường, tấm
Trang 27cám… thức ăn thô xanh gồm dây khoai lang, cây lạc, cây chuối, ngọn mía, lá các loại cây ăn quả, thức ăn quả như cà rốt, bắp cải, khoai tây, quả bơ, mít, chuối, thức ăn bổ sung gồm: muối ăn, bột xương, khoáng và vitamin
* Cách chế biến và sử dụng thức ăn:
- Thức ăn tinh: Các loại ngũ cốc như đậu, ngô, gạo nếp… phải là các loại chính phẩm, chất lượng đảm bảo không được meo mốc và có thể nấu chín cho hươu ăn hoặc xay thành bột, những thức ăn trên không nên để đất cát, tạp chất lẫn vào thức ăn khi cho hươu ăn
- Thức ăn thô xanh: Trước khi cho hươu ăn phải rửa sạch, đặc biệt là với các loại phụ phẩm rau xanh lấy từ chợ về để đề phòng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật khác Rơm, bẹ ngô sau khi phơi được đánh đống, dự trữ nơi khô ráo để sử dụng vào lúc khan hiếm thức ăn
- Thức ăn củ quả: Ta phải rửa sạch cắt bỏ những hư hỏng, thối, nếu quả to phải thái nhỏ Những loại củ quả như khoai lang, sắn, đặc biệt là khoai tây nên nấu chín cho hươu ăn càng tốt
- Thức ăn bổ sung: Thức ăn thô xanh thường không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho hươu, vì vậy trong điều kiện nuôi nhốt ta cần bổ sung các loại khoáng và thức ăn giàu đạm cho hươu
* Phương pháp cho ăn: nếu cho ăn đúng cách sẽ được nhiều và giảm lrng phí thức ăn Hươu cần được cho ăn đủ khẩu phần, đủ chất để đáp ứng nhu cầu của hươu trong từng giai đoạn sinh trưởng và sản xuất Trong thời kỳ hươu đực mọc nhung, hươu cái có chửa kỳ 2 và nuôi con, hươu con sau khi cai sữa thì ngoài thức ăn xanh ta cần chú ý bổ sung thức ăn tinh và khoáng cho hươu hươu ăn được rất nhiều loại thực vật nên ta cần hươu ăn nhiều loại thức ăn xanh trong ngày để tránh sự nhàm chán và kích thích ngon miệng,
Trang 28tăng khả năng thu nhận thức ăn của hươu
Hươu cần được cho ăn nhiều lần trong ngày và ta nên tránh cho một lần quá nhiều thức ăn bởi vì hươu có tập tính lựa chọn rất cao Khi lượng thức ăn nhiều đặc biệt là cỏ lá, hươu sẽ nhặt những loại thức ăn và bộ phận thức ăn như ngọn, lá để ăn trước, phần còn lại sẽ bị hươu dẫm đạp, lrng phí Cần cho ăn 3 -
4 lần trong ngày, lần thức nhất từ 6 - 9 giờ, lần thứ hai vào 15 - 16 giờ, lần thứ
ba vào 19 - 20 giờ với lượng thức ăn nhiều hơn hai lần trước đó Với thức ăn tinh và các loại thức ăn bổ sung khác ta nên cho ăn vào buổi chiều tối Máng
ăn được đặt liên tục ở một vị trí thuận lợi cho hươu sử dụng thường xuyên
Bảng 1.2: Tỷ lệ rụng đế mọc nhung của hươu trong năm
Tỷ lệ (%) 11,53 30,77 28,84 15,38 7,70 5,67 100,00 Nguồn: [5]
Trang 29Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ rụng đế mọc nhung của hươu trong năm
Thu hoạch nhung: Đối với những hươu cắt nhung 2 lần/năm thì lần 1 cắt vào lúc nhung hươu mọc được 45 - 47 ngày và lần 2 vào lúc nhung mọc
được 55 - 57 ngày Nếu cắt nhung một lần thì có thể để thời gian dài hơn nhưng không nên quá 70 ngày, tốt nhất là 55 - 65 ngày phụ thuộc vào từng cá thể và tuổi hươu, với hươu lớn tuổi có thể cắt nhanh hơn và có thể cắt sớm Năng suất cho nhung bắt đầu từ 5 tuổi đến 10 tuổi khối lượng nhung hươu bình quân ≈ 3kg nhung/năm Sau 11 năm tuổi khả năng cho nhung bắt
đầu giảm dần Theo kinh nghiệm của các hộ gia đình chăn nuôi hươu ngoài yếu tố giống tốt thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc hươu đực trong thời kỳ cho nhung là rất quan trọng Việc cung cấp thức ăn hợp lý sẽ duy trì được mức độ cao và kéo dài thời gian cho nhung của hươu đực Hươu trong điều kiện nuôi
có thể sống đến 30 - 33 tuổi, còn trong tự nhiên thì hươu sống trên 20 năm tuổi (xem biểu đồ 1.2)
Trang 30Biểu đồ 1.2: Khối lượng nhung hươu qua các năm tuổi
* Chăm sóc hươu sinh sản: Chú ý là không để nó ra khỏi chuồng, khi
nó đr chạy nhảy được càng phải giữ, không cho đi lung tung, có thể mẹ không nhận lại con mình Phải giữ môi trường xung quanh thật tốt, không cho người lạ tiếp xúc
* Phòng và chữa bệnh cho hươu:
Hươu là động vật hoang dr được con người thuần phục và nuôi tại các
hộ gia đình cho nên việc chăm sóc và phòng chữa bệnh cho Hươu có ý nghĩa rất quan trọng đối với nghề nuôi hươu
d Quy trình cắt - chế nhung
Cắt nhung qua 3 thời kỳ: Trái mơ, yên ngựa, gác vào Nên cắt vào thời
kỳ yên ngựa là thích hợp nhất (50 - 60 ngày) Quá trình cắt phải nhanh gọn,
Trang 31và chống nhiễm trùng, dao, dây thừng và ít nhất là 5 người
- Bắt giữ hươu: dùng rơm rạ rải vào khu vực cắt nhung, cho 2 người vào trước, một trong 2 người làm quen bất ngờ lấy vải trùm kín đầu che mắt con vật, người kia nhanh chóng kéo 2 chân sau cho hươu nằm nghiêng, hai người khác giữ 2 chân sau, một người giữ chân trước, một người ngồi bệt xuống dưới đặt cổ hươu tỳ lên 2 chân, người thứ năm dùng cưa cưa nhanh (xem ảnh 1.3)
ảnh 1.3: Bắt hươu trước khi cắt nhung
- Cắt nhung: Cưa thật sắc, cưa nhanh khi gần đứt thì cưa nhẹ nhàng tránh bị xước, cưa cách chân đế 1cm trong khoảng thời gian 4 - 5 phút Dùng
ca hoặc thau hứng máu đang chảy trong chậu đr có nước để nguội, sau đó đổ thêm rượu (xem ảnh 1.4 và 1.5)
Trang 32SÊy b»ng than: dïng cá l¸ dµi s¾c quÊn quanh nhung råi treo vµo gi÷a
2 bÕp than víi kho¶ng c¸ch võa sÊy
2.1.3 H×nh thøc nu«i h−¬u ë ViÖt Nam
2.1.3.1 Nu«i nhèt hoµn toµn
H×nh thøc nµy ®−îc c¸c hé n«ng d©n ¸p dông phæ biÕn, rÊt thÝch hîp víi quy m« ch¨n nu«i nhá §Æc ®iÓm cña kiÓu ch¨n nu«i nµy lµ h−¬u ®−îc
Trang 33nhốt hoàn toàn trong chuồng hàng ngày bổ sung thức ăn, nước uống và vệ sinh chuồng trại Mỗi một hươu được nhốt riêng trong một ô chuồng diện tích từ 2,5 - 3m2 Chuồng được xây dựng trên nền đất cao thoát nước, chiều cao nền chuồng từ 1 - 1,5m, xung quanh được bảo vệ bằng gỗ thanh hoặc các vật liệu cứng khác, tạo được thoáng mát về mùa hè Chuồng nuôi hươu được xây dựng cạnh nhà ở để thuận tiện chăm sóc và kiểm tra Một số gia đình xây sân chơi cạnh chuồng nuôi, giúp hươu vận động, tiếp xúc với ngoại cảnh Xung quanh sân chơi được rào bằng lưới thép hoặc hàng rào gỗ chắc chắn Diện tích sân chơi to, nhỏ tuỳ thuộc vào số lượng hươu nuôi trong ô chuồng, trung bình từ 20 - 40m2 Nền chuồng được lát bằng gạch hoặc xi măng cát tạo điều kiện vệ sinh tốt Thức ăn thô xanh được bổ sung hàng ngày, khi thu nhận về được rửa ở hồ ao và để ráo nước trước khi cho ăn Lá cây được buộc lên cao, cỏ được cho vào máng Nước uống cho hươu dùng nước giếng khơi chứa trong máng uống ở cạnh hoặc ngoài chuồng (có lỗ thông cho hươu thò
cổ ra uống) Một số cơ sở và gia đình chăn nuôi tập trung còn nuôi hươu chung với một số động vật khác như dê cỏ và dê Bách Thảo với mục đích là dùng dê cái sinh sản cung cấp sữa cho hươu sơ sinh
2.1.3.2 Nuôi hươu bán chăn thả
Phương thức này thường thấy trong các trại chăn nuôi quốc doanh: trại hươu giống Hương Sơn - Hà Tĩnh, vườn quốc gia Cúc Phương - Ninh Bình, trại hươu đảo suối Ba Vì (Hà Tây)
Những nhà chăn nuôi thiết kế khu chăn thả có diện tích phù hợp với số
đầu hươu Diện tích của một khu vào khoảng 1.000 - 1.500 m2 thả từ 10 - 15 con, xung quanh được rào bằng lưới thép cùng với cọc xi măng chắc chắn, chu vi của ô được trồng cây để làm bóng mát và làm thức ăn bổ sung Trong một ô như vậy có nhà nghỉ cho hươu, có hệ thống nước uống, hệ thống máng
ăn Hươu được thả tự do trong mỗi ô, được đi lại kiếm ăn tự do Thức ăn được
đưa vào theo giờ quy định Người chăn nuôi hàng ngày kiểm tra tình trạng
Trang 34sức khoẻ, mức độ ăn uống đi lại định kỳ vệ sinh phòng dịch cho hươu Mùa sinh sản và mùa thu hoạch nhung bổ sung thức ăn tinh trong khẩu phần Hươu con khi tách mẹ được nuôi riêng
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình nuôi hươu ở các nước trên thế giới
Nuôi hươu đr có từ lâu ở nhiều nước trên thế giới, song tập trung nhiều
ở các vùng châu á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Mông Cổ, các nước thuộc châu á của Liên Xô (cũ), Việt Nam, ấn Độ, Theo thông báo của tổ chức FAO, nuôi hươu có ở Trung Quốc cách đây 2.000 năm, mục đích chính của ngành chăn nuôi này là sản xuất "nhung" cung cấp cho nhu cầu trong nước, bởi vì người Trung Quốc có truyền thống sử dụng nhung hươu để chế biến dược phẩm chữa bệnh
Đặc trưng nuôi hươu ở Trung Quốc trước đây là nuôi phân tán tận dụng
điều kiện tự nhiên, mang tính chất truyền thống những năm gần đây nuôi hươu đr phát triển mạnh ở một số nước theo hướng tâp trung thâm canh Theo Drew ETAL (1983)(dẫn theo Đặng Vũ Bình, 1997) [3] số đầu hươu nuôi theo hướng tập trung ở vùng châu á khoảng 260.000 con Sản lượng nhung được sản xuất hàng năm là 115 tấn khô
Các giống hươu được nuôi ở mỗi nước đều là giống địa phương, thích nghi với điều kiện tự nhiên và sinh thái nhất định (giống Rangifer tarandus
được nuôi ở vùng Xibri (Liên Xô cũ), Cervus elaphus xantho pygus và các loài khác của hươu đỏ được nuôi ở Trung Quốc và các nước vùng châu á thuộc Liên Xô cũ Sáu loài khác của giống phụ Cervus nippon có ở Trung Quốc (Một giống chính có ở Tây Bắc Siku hoặc Mei hnalu) Cin taionaheus
được nuôi ở Hàn Quốc và Liên Xô (cũ)
Nuôi hươu theo phương pháp tập trung, công nghiệp hoá hiện đại có ở NewzeaLand khoảng 30 năm gần đây Các nước sau đó cũng áp dụng phương
Trang 35pháp chăn nuôi mới này Nhà đầu tư thích đáng và áp dụng những kỹ thuật tiên tiến vào chăn nuôi hươu nên đàn hươu ở các nước không ngừng được tăng trưởng Theo số liệu của tổ chức FAO, số đầu hươu trên thế giới vào khoảng 1,5 triệu con (1990) Sản phẩm chính của ngành chăn nuôi hươu là nhung
được tiêu thụ chủ yếu ở trong nước với nhiều hình thức Các nước có ngành chăn nuôi hươu tiên tiến như NewzeaLand đr hình thành thị trường tiêu thụ ở một số nước Nhung hươu được xuất khẩu cho Hàn Quốc Thịt hươu được xuất sang thị trường các nước Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản Hướng xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi hươu là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi này phát triển trên thế giới Trên cơ sở đại hội nuôi hươu lần thứ nhất tháng 2 năm 1993 tại Tân Tây Lan; có thể khái quát tình hình nuôi hươu ở một số nước trên thế giới như sau
- Canada: Số lượng đàn hươu năm 1992 là 58.000 con, tăng mạnh so với 5 năm trước đó
- Anh: Trong năm 1993, Anh có 300 trang trại nuôi hươu với số lượng tăng từ 42.000 con trong tháng 6/1990 tới 50.000 con vào tháng 6/1992 Hiện nay nuôi hươu ở Anh đr cung cấp được sản lượng xấp xỉ 750 tấn Họ còn nhập khẩu từ New Zea land khoảng 250 tấn để đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nuớc
- Australia: Số lượng hươu năm 1986 có khoảng 150.000 - 180.000 con được nuôi tập trung trong các trang trại Hàng năm tiêu thụ khoảng 350 -
450 tấn thịt thú trong đó thịt hươu chiếm khoảng 200 tấn
- Mỹ: Ngành nuôi hươu đr phát triển hơn 20 năm qua Hiện nay Mỹ có trên 100.000 hươu nai đang đuợc nuôi trong các trang trại với tổng trị giá khoảng 120 - 150 Triệu USD Sản lượng thịt hươu sản xuất bình quân 300 tấn -Ailen: Hiện nay, khoảng 10.000 hươu được nuôi khắp các tỉnh của Ai len Trong năm 1992, Ai len xuất khẩu thịt hươu trị giá 10 triệu bảng, người
Ai len rất lạc quan trước tương lai ngành nuôi hươu của họ
- Nauy: Hiện nay, có khoảng 255.000 hươu, chủ yếu là giống hươu
Trang 36bắc cực Mục đích của việc nuôi hươu ở Nauy chủ yếu lấy thịt Sản lượng thịt năm 1976 đạt 1.330 tấn, năm 1991 tăng lên 2.674 tấn, trong đó, 95% sản lượng thu hoạch từ các khu vực chăn nuôi hươu tập trung Chính phủ NaUy
có chính sách trợ cấp cho những người nuôi hươu khi giết thịt hươu giảm xuống, chính nhờ có chính sách khuyến khích và bảo trợ hợp lý đó mà trong thập niên vừa qua, nghề nuôi hươu ở Nauy phát triển rất nhanh
- Achentina: Bắt đầu nuôi hươu từ những năm 1986 - 1987 với mục
đích lấy thịt và nhung hiện nay nước này có khoảng 25 trại với 5.000 con hươu, trong tương lai dự kiến tăng lên 10.000 con
- Đức: Có khoảng 4.500 trại với gần 70.000 hươu, các trang trại nuôi hươu có quy mô trung bình 30 - 40ha và có số lượng từ 50 - 300 con Nông dân Đức tổ chức thành các tập đoàn chuyên nghiệp nuôi hươu nai ở mức độ vùng và quốc gia Hiệp hội quốc gia là thành viên của hiệp hội chăn nuôi hươu nai châu âu Việc nuôi hươu ở Đức phải tuân thủ quy định của pháp luật về việc chăm sóc và bảo vệ động vật và phải phù hợp với cảnh quan thiên nhiên và bảo vệ môi trường
- Pháp: Hiện nay, có 150 - 200 trang trại với 30.000 con hươu đang
được nuôi nhằm phục vụ du lịch và sản xuất thịt
- Nga: Nghề nuôi hươu ra đời vào những năm 1880 ở vùng viễn đông, năm 1950 số hươu ở các trang trại là 20.000 con và trong vòng 3 năm 1967-
1970 đr thu được 89,4 tấn nhung hươu xuất khẩu Trong những năm của thập
kỷ 80 Nga có 700 trại nuôi hươu với số lượng 200.000 - 250.000 con Hiện nay Nga có khoảng 3 - 4 triệu hươu được nuôi thâm canh hoặc quảng canh Hươu được nuôi chủ yếu để lấy nhung và cung cấp thực phẩm Một phần tư
số nhung thu đuợc dùng cho xuất khẩu và ba phần tư còn lại dùng cho ngành
y dược trong nước
- NewZealand: Là nước tiên phong trong việc nuôi hươu công nghệp từ năm 1950 Năm 1980 hơn 100.000 con được nuôi ở các trại, năm 1986 số
Trang 37lượng tăng lên 400.000 con và chúng được nuôi trong 350 trang tại Doanh thu
đạt được 30 triệu USD qua việc xuất khẩu thịt, nhung và các sản phẩm phụ Hiện nay theo ước tính NewZealand có khoảng 1,8 - 2 triệu con ở 5.000 trang trại trên khắp đất nước, 100 trại nuôi hươu thuộc loại lớn nhất với
số lượng trung bình 2.000 con/ trại, trong đó khoảng 300.000 con đang có nhung, 800.000 con cái sinh sản Doanh thu xuất khẩu các sản phẩm từ hươu của New Zealand đr đạt tới 200 triệu USD
- Các nước ở Đông Âu: Các nước này bao gồm Rumani, Croatia, Slovakia, Balan Bungari, Hungari Trước đây hươu của họ chủ yếu được nuôi
ở những khu vực phục vụ cho mục đích thể thao săn bắn Những năm gần đây việc chăn nuôi hươu đr có bước phát triển
- Trung Quốc: Từ 2000 năm trước vào đời nhà Hán, người Trung Quốc
đr nuôi hươu và sử dụng các sản phẩm của chúng Việc nuôi hươu thương mại bắt đầu từ tỉnh Jinlin vào năm 1733 Theo Vương Câu Nguyên thì khoảng từ 1960 trở đi, Trung Quốc đr phát triển mạnh việc nuôi hươu Năm
1984 Trung Quốc có khoảng 270.000 con và thu được hàng triệu USD
- CHDCND Triều Tiên: Theo Hiệp hội nuôi hươu thế giới, Triều Tiên
có khoảng 8.300 trang trại từ nhỏ tới trung bình với tổng đàn hươu khoảng 143.000 con và tăng trưởng hàng năm là 26%
- Hàn Quốc: Nghề nuôi hươu đr có từ 300 năm về trước Năm 1987 Hàn Quốc có khoảng 3.380 trang trại với 31.314 con Đến năm 1997 số trang trại tăng lên 9.909 với tổng số 122.300 con Hàng năm nhu cầu tiêu thụ nhung hươu ở Hàn Quốc là rất lớn, năm 1995 nhu cầu là 180,10 tấn, năm
1996 là 216,3 tấn nhung Nguồn cung cấp nhung trong nước chỉ 13-26%, số còn lại phải nhập khẩu từ nước ngoài Giá nhung thô ở Hàn Quốc là 80.000won/kg
2.2.2 Tình hình chăn nuôi hươu ở Việt Nam
ở nước ta hươu được nuôi nhiều trong hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An
Trang 38Đây là nghề công nghiệp truyền thống của nhân dân địa phương Từ những năm 1930 những người giàu có ở đây lập những trang trại gia đình để chăn nuôi hươu với quy mô nhỏ từ một vài con đến hàng chục con Hướng sản xuất chính là lấy chung cung cấp cho nhu cầu nội bộ Mặt khác người ta nuôi hươu để giữ giống địa phương, một số ít người nuôi hươu làm cảnh, để vui chơi giải trí Do mục đích khác nhau như vậy nên nghề nuôi hươu được hình thành và phát triển ở vùng này Nguồn gen động vật quý kiếm, chính vì vậy
được bảo tồn một cách tự nhiên Năm 1954 miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng và tiến hành xây dựng xr hội chủ nghĩa Các nông trường quốc doanh, các hợp tác xr nông nghiệp ra đời Cùng với sự phát triển của các ngành nghề khác trong nông nghiệp, nghề nuôi hươu được tập thể hoá Hầu hết các hợp tác xr ở Hương Sơn, Hương Khê thành lập các trang trại nuôi hươu tập thể với mục đích chính là sản xuất nhung cung cấp cho các xí nghiệp dược phẩm của địa phương và Trung ương Trại giống hươu Hương Sơn được thành lập với nhiệm vụ tạo giống thuần cung cấp cho các cơ sở sản xuất trong huyện và trong tỉnh Trại nuôi hươu quân đội cũng được xây dựng và bước vào hoạt
động, hướng sản xuất là cung cấp con giống, sản xuất nhung cung cấp cho nhu cầu sản xuất dược của quân đội trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ Những năm gần đây, nhất là cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90, nghề nuôi hươu ở một địa phương phát triển mạnh như Nghệ An, Hà Tĩnh tăng nhanh
số đàn hươu Theo báo cáo của tổ chức FAO tại Việt Nam thì tổng số hươu hiện đang nuôi ở hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An năm 1992: 10.000 con (Lê Viết Ly 1992)
Chính từ mô hình kinh tế nông hộ chăn nuôi hươu có hiệu quả của hai
địa phương Hà Tĩnh và Nghệ An đr được hộ nông dân ở các địa phương khác học tập và thể hiện như: vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), vườn quốc gia Ba Vì (Hà Tây), đảo suối hai Ba Vì, vườn thú Thủ Lệ (Hà Nội), huyện Yên Thế (Bắc Giang) Có thể nói nghề nuôi hươu ở nước ta trải qua thăng
Trang 39trầm, phát triển mạnh ở cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 sau đó lại giảm xuống và cho đến nay nghề nuôi hươu đr đang khẳng định là nghề chăn nuôi
đem lại hiệu quả kinh tế cho hộ nông dân và cải thiện đời sống của nông dân vùng sâu, vùng xa huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang Việc nghiên cứu chăn nuôi hươu ở hộ nông dân tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang, nhằm khẳng
định nghề nuôi hươu truyền thống của người dân đồng thời tìm ra giải pháp phát triển nghề nuôi hươu có giá trị xuất khẩu cao, đem lại hiệu quả kinh tế, phá vỡ kinh tế hộ tuyền thống là tự cung tự cấp, tập quán cổ hủ chuyển sang mô hình hộ nông dân sản xuất hàng hoá
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu đr được tiến hành bởi các tác giả ở những nước nuôi hươu phát triển như New Zealand, Australia, Anh, Nhật Bản… về các lĩnh vực khác nhau như phân loại học, sinh học, sinh thái học, dinh dưỡng và bảo vệ sức khoẻ
Simpon (1945), Mocchi và Carter (1971) khi nghiên cứu phân loại,
điều tra số lượng các loài hươu đr cho rằng với 4 phụ loài được tìm thấy ở ấn
Độ, Philippin và một số nước khác ở Đông Nam á (Church D,C,1979) Darlington và Bentley (1978), English (1979), đr cho thấy hươu trên thế giới gồm 4 phụ họ, 17 giống và 9 loài
Drew và Medonal (1977) đr đánh giá tổng quan vì tình hình và kỹ thuật nuôi hươu ở các trang trại New Zealand
Craldall (1965) tại Trường Đại học Chicago và Lon Don đr nghiên cứu một cách tổng quát về đặc điểm sinh vật học của hươu và nghề nuôi hươu ở
Mỹ, Anh, New Zealand (dẫn theo Atoon,1982)
Bentley (1978) nghiên cứu sự phân bố của hươu ở Australia, lịch sử phát triển và đặc điểm sinh học của các loài hươu đang sinh sống tại
Trang 40Australia Theo ông, hiện nay Australia đang có 6 loài sinh sống
Alexander (1986), khi nghiên cứu về nhu cầu protein và khoáng của hươu, cho rằng hươu đực trưởng thành cần 90 - 100g protein/kg DM, khi thay ngạc cần 120kg protein/kg DM Như vậy các công trình nghiên cứu trên thế giới chủ yếu ở các nước có nghề chăn nuôi hươu phát triển như New Zealand, Australia…, đr đề cập đến các đặc điểm sinh học và phát triển của loài động vật hoang dr này, tuy nhiên các công trình nghiên cứu về các vấn đề kinh tế chăn nuôi hươu còn rất hạn chế
2.2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
ở nước ta, đr có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thú móng guốc nói chung như Lê Hiền Hảo (1973), Đào Văn Tiến (1985), Đặng Huy Huỳnh (1990) và kỹ thuật nuôi hươu sao của Trần Quốc Bảo (1981), Trần Văn Đức (1990), các công trình nghiên cứu của Đặng Huy Huỳnh từ năm
1991 đến năm 1995 Lê Minh Sắt (1994), đr nghiên cứu đặc điểm sinh học hươu sao Đăng Ngọc Cần và Trịnh Việt Cường (1995), nghiên cứu tập tính
động dục của hươu sao tại Ba vì Đặng Ngọc Cần (1995) nghiên cứu nhung hươu sao Nguyễn Quỳnh Anh (1996), đr nghiên cứu về chất lượng giống và các sản phẩm của hươu sao Việt Nam…
Năm 1970, Lê Hiền Hảo và Trần Hải đr thông báo về kết quả bước
đầu nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh sản và sinh trưởng của hươu nuôi ở vườn Bách Thảo Hà Nội
Lê Hiền Hảo (1973), Đào Văn Tiến (1985) đr nêu một số dẫn liệu về phân loại, phân bố, sinh sản và sinh trưởng của hươu ở Việt Nam
Hoàng Minh Kiên (1987), Hoàng Minh Kiên và Đặng Huy Huỳnh (1987), nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và điều tra nhu cầu thức ăn của 3 loại thú móng guốc ở Kon Hà Nừng (Gia Lai, Kon Tum) Các tác giả
đr đề cập đến một số tập tính sinh học sinh sản của hươu rừng Số lượng các loài thực vật có khả năng làm thức ăn cho hươu rừng là 62 loài và số loài ưa