1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG

139 535 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của Lâm trường Thuận An huyện ĐăkSong, tỉnh ĐăkNông
Tác giả Huỳnh Tấn Anh
Người hướng dẫn PGS. TS. Quyền Đình Hà
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i

-

huỳnh tấn anh

Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng

đất lâm nghiệp của Lâm trường Thuận An

huyện ĐăkSong, tỉnh ĐăkNông

Luận văn thạc sĩ kinh tế Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số : 60.31.10

Người hướng dẫn khoa học: PGS ts quyền đình hà

Hà nội – 2006

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

HUỲNH TẤN ANH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây tôi xin được có đôi lời cảm ơn xâu sắc đến:

Tập thể các thầy, cô giáo Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn, Khoa sau đại học Trường Đại học Nông nghiệp I, đã tận tình tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Ban giám đốc và tập thể cán bộ công nhân viên Lâm trường Thuận An, Ban giám đốc và tập thể anh, chị, em công - viên chức Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đăk Nông đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất có thể đề tôi được an tâm tham gia học tập, thu thập tài liệu nghiên cứu và nghiên cứu hoàn thành luận văn

Tập thể bà con nông dân trên Lâm phần lâm trường Thuận An đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu điều tra

Tập thể các anh, chị, em lớp Cao học Kinh tế khóa 13 - Tây Nguyên, lớp cao học Kinh tế Khóa 13 tại trường đã chia sẽ với tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Thầy giáo GS TS Bảo Huy đã giúp tôi trong quá trình nghiên cứu Luận văn Đặc biệt, tôi xin kính biết ơn thầy giáo PGS TS Quyền Đình Hà - người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả các tập thể và cá nhân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu!

Tác giả Luận văn

HUỲNH TẤN ANH

Trang 4

MụC LụC

Trang

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 31.4 ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 4

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp 5

2.1 Đất lâm nghiệp và vai trò của đất lâm nghiệp trong sản xuất nông

2.2 Lâm trường và vấn đề quản lý, sử dụng đất ở Tây Nguyên 182.3 Một số các chính sách liên quan đến quản lý, sử dụng đất lâm

Trang 5

2.4 Những kinh nghiệm trong quản lý, sử dụng đất trên thế giới và

3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 31

4.1 Thực trạng quản lý đất lâm nghiệp của Lâm trường 46

4.2 Thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp của Lâm trường Thuận An 72

4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp 72

4.2.2 Các biện pháp được áp dụng trong sử dụng đất lâm nghiệp 82

4.3 Một số các nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến công tác quản

lý, sử dụng đất lâm nghiệp của Lâm trường Thuận an 87

4.3.1 Các nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến quản lý đất lâm nghiệp 87

4.3.2 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến sử dụng đất lâm nghiệp 90

4.4 Một số các giải pháp chủ yếu quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp

4.4.1 Định hướng quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp 92

4.3.2 Giải pháp trong quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp 95

Trang 6

DANH MụC CáC CHữ VIếT TắT

Chữ viết tắt Nghĩa sử dụng

CBFM Community-Based Forest Management: Quản lý rừng dựa vào

cộng đồng CNKT Công nhân kỹ thuật

Trung tâm quốc tế nghiên cứu nông lâm kết hợp LNXH Lâm nghiệp xã hội

PTD Participatory Technology Development:

Phát triển công nghệ có sự tham gia QLSD Quản lý, sử dụng

RRA Rapid Rural Appraisal: Đánh giá nhanh nông thôn

SEANAFE Southeast Asian Network for Agroforestry Education:

Mạng lưới giáo dục nông lâm kết hợp Đông Nam á THCN Trung học chuyên nghiệp

Trang 7

DANH MụC CáC BảNG

Bảng 3.1 Vị trí địa lý Lâm phần Lâm trường Thuận An 31Bảng 3.2 Các chỉ tiêu hoá lý của đất trong vùng 33Bảng 3.3 Một số các thông số chính về khí hậu, thời tiết 35Bảng 3.4 Hiện trạng lao động lâm trường có đến 31/12/2005 38Bảng 3.5 Hiện trạng đất lâm nghiệp lâm trường Thuận An 39Bảng 3.6 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp lâm trường Thuận An 39Bảng 3.7 Vốn sản xuất kinh doanh và lao động lâm trường Thuận An 40Bảng 3.8 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm 40Bảng 3.9 Số mẫu điều tra thu thập số liệu sơ cấp 43Bảng 4.1 Cơ cấu các loại đất lâm nghiệp nghiên cứu 46Bảng 4.2 Kết quả quản lý đất lâm nghiệp là rừng tự nhiên qua các năm

(2001-2005) 48Bảng 4.3 Mức độ nhiệt tình trong tuần tra, kiểm tra đất lâm nghiệp 55Bảng 4.4 Biến động lực lượng được cài cắm qua các năm 56Bảng 4.5 Mức độ phát hiện kết hợp xử lý các vụ vi phạm 59Bảng 4.6 Số bảng biểu tuyên truyền được làm mới và nâng cấp 60Bảng 4.7 Cơ cấu đất rừng trồng theo phương thức quản lý 63Bảng 4.8 Kết quả đạt được trong quản lý đất rừng trồng theo phương

Bảng 4.9 Diện tích rừng trồng được giao khoán hàng năm 67Bảng 4.10 Diện tích đất lâm nghiệp còn lại sau giao khoán 67

Bảng 4.14 Tỷ lệ % số hộ sang nhượng và nhận sang nhượng đất lâm

nghiệp trên lâm phần lâm trường Thuận An 72Bảng 4.15 Đối tượng sử dụng đất lâm nghiệp lâm nghiệp 73

Trang 8

Bảng 4.16 Cơ cấu đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên phân

Bảng 4.17 Cơ cấu cây trồng qua từng giai đoạn 75Bảng 4.18 Tình hình kinh tế hộ trên lâm phần Lâm trường Thuận An 76Bảng 4.19 Cơ cấu sử dụng đất của hộ nghiên cứu 78Bảng 4.20 Mức hưởng lợi từ trồng rừng kinh tế của hộ gia đình 83Bảng 4.21 Diễn biến cháy rừng qua các năm 85Bảng 4.22 Sơ đồ nguyên nhân và giải pháp quản lý, sử dụng đất Lâm

Bảng 4.23 Sơ đồ các bước tiến hành trong tiến trình giao đất, giao rừng

Trang 9

DANH MụC SƠ Đồ, BIểU Đồ Và PHụ LụC

Sơ đồ 4.1 Mô hình lực lượng quản lý bảo vệ trên lâm phần LT 53

Sơ đồ 4.2 Kiểu tham gia của người dân trong việc trồng rừng 81

Sơ đồ 4.3 Chu trình giao đất giao rừng có sự tham gia của người dân 104

Biểu đồ 4.1 Mô phỏng cơ cấu các loại đất lâm nghiệp 46

Biểu đồ 4.2 Kết quả quản lý diện tích đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên 49

Biểu đồ 4.3 Mức độ nhiệt tình trong quản lý đất lâm nghiệp của lực

lượng quản lý bảo vệ đất lâm nghiệp lâm trường Thuận An 55 Biểu đồ 4.4 Biến động lực lượng cài cắm qua các năm 56

Biểu đồ 4.5 Mức độ phối kết hợp giữa các cơ quan liên quan với Lâm

trường trong truy tìm và xử lý đối tượng 62 Biểu đồ 4.6 Số lần tổ chức tuyên truyền, số bảng biểu tuyên truyền

Biểu đồ 4.7 Cơ cấu đất rừng trồng phân theo phương thức quản lý 63

Biểu đồ 4.8 Cơ cấu các loại đất trong đất khác 71

Biểu đồ 4.9 Cơ cấu các loại cây trồng qua các năm 79

Đồ thị 4.1 Xu hướng biến động tỷ lệ che phủ của tán rừng 86

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đất lâm nghiệp (ĐLN) là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, chứa đựng cả tài nguyên rừng, động thực vật và khoáng sản, là một bộ phận của môi trường sinh thái gắn liền với đời sống người dân và sự sống còn của dân tộc Quản lý, sử dụng ĐLN là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước

đặc biệt quan tâm Mức độ quan tâm càng thể hiện rõ nét ở các tỉnh Tây Nguyên; nơi có tiềm năng to lớn về ĐLN và rừng núi, rừng Tây Nguyên được xem là một trong những địa phương còn lại những khu rừng đặc trưng cho hệ sinh thái rừng cây lá rộng nhệt đới của Việt Nam [26] Vùng lãnh thổ Tây Nguyên đã và đang ngày càng được coi là địa bàn chiến lược về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường sinh thái của cả nước Đất lâm nghiệp

ở Tây Nguyên hầu hết tập trung vào các nông - Lâm trường, quá trình quản lý

và sử dụng đất đai của các nông - Lâm trường ở Tây Nguyên những năm qua còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết, không chỉ gây lãng phí tiền của và công sức

đã bỏ ra; nguồn tài nguyên, môi trường, môi sinh không được cải tạo, bảo vệ

đúng mức mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ dân tộc, đến niềm tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước Do hệ quả của những khiếm khuyết

mà nó gây ra, vấn đề quản lý và sử dụng ĐLN đã và đang đuợc coi là một trong những vấn đề bức xúc và nổi cộm nhất ở Tây Nguyên

Trong những năm gần đây, trong định hướng phát triển lâm nghiệp, Chính phủ đã có nhiều chính sách, chủ trương phân cấp, phân quyền trong quản lý, sử dụng tài nguyên là ĐLN như giao đất, giao rừng, chế độ hưởng lợi

từ rừng cho người quản lý rừng và ĐLN; chủ trương về xã hội hóa nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng, thực hiện nông lâm kết hơp Đây là các cơ sở pháp lý quan trọng trong phát triển lâm nghiệp dựa vào

Trang 11

người dân, cộng đồng… Tuy nhiên việc thực hiện hay áp dụng các chính sách, chủ trương vào thực tế lại là một vấn đề cần thảo luận

Với vị trí địa lý thuộc miền Tây Nam vùng Tây Nguyên của Việt Nam, tỉnh ĐăkNông trải dài trên diện tích 6.500km2 với 3.825km2 ĐLN và 1.633

km2 đất nông nghiệp (độ che phủ rừng 58,7%), khoảng 85% dân số của tỉnh sống tại vùng nông thôn Với tỷ lệ trung bình 35,44% hộ gia đình thuộc diện nghèo [22], phần lớn họ sống phụ thuộc vào các sản phẩm nông lâm nghiệp,

đặc biệt là những nhóm đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm khoảng 33% tổng dân số) như Eđê, M’Nông, Nùng, Tầy và các nhóm dân tộc di cư tự do từ phương bắc

Đóng trên địa bàn huyện ĐăkSong, tỉnh ĐăkNông, Lâm trường Thuận

An có lâm phần (LP) chiếm phần lớn đất đai của huyện, diện tích ĐLN không

có rừng chiếm đa số, có ranh giới là biên giới với nước bạn Campuchia, dân cư sống ở lâm phần Lâm trường (LPLT) hầu hết là dân nghèo, trình độ thấp từ các tỉnh phía bắc di cư tự do vào cùng với đồng bào thiểu số tại chỗ Việc phá rừng làm rẫy bảo đảm cuộc sống của người dân vẫn thường xuyên xảy ra, diện tích ĐLN có rừng ngày càng giảm, diện tích ĐLN chưa có rừng ngày càng tăng, diện tích ĐLN được đưa vào sử dụng hàng năm ít, hiệu quả trên đơn vị diện tích đất thấp (cơ cấu cây trồng đơn điệu, việc sử dụng giống - phương thức canh tác truyền thống đang là chủ yếu), mức sống không được cải thiện

Điều đó đã tạo ra áp lực cao đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên và góp phần tạo nên tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái đất

Để góp phần giải quyết vấn đề trên cần phải nghiên cứu tình hình quản

lý, sử dụng (QLSD) đất lâm nghiệp của Lâm trường (LT) hiện nay như thế nào?; Đã quản lý tốt ĐLN hiện có hay chưa? Diện tích đất trống được sử dụng hàng năm? Cộng đồng cư dân có được cải thiện về kinh tế hay không? Môi trường, môi sinh có được bảo vệ hay không? Những giải pháp nào cho quản

lý, sử dụng ĐLN Xuất phát từ thực tế trên tôi đi vào nghiên cứu đề tài

Trang 12

"Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của Lâm trường Thuận An - huyện ĐăkSong, tỉnh ĐăkNông"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.2 Mục tiêu chung

Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá thực trạng QLSD đất lâm nghiệp của LTTA giai đoạn 2001-2005 phát hiện các nguyên nhân chính tác động đến việc quản lý và sử sụng ĐLN của LT, từ đó khuyến nghị các giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác QLSD đất cho LT trong các năm tới

1.2.3 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần tập hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý và

sử dụng ĐLN

- Đánh giá thực trạng QLSD đất lâm nghiệp của LT giai đoạn 5 năm

(2001-2005), tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng tới quản lý, sử dụng ĐLN của LT

- Khuyến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác QLSD

đất lâm nghiệp cho LT trong các năm tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung QLSD đất lâm nghiệp, các nhóm hộ sử dụng ĐLN, các mối quan hệ chủ yếu tác động đến QLSD đất lâm

Trang 13

nghiệp lâm trường Thuận An

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản

lý, sử dụng đất lâm nghiệp đang áp dụng tại LTTA Trên cơ sở đó khuyến nghị các giải pháp phù hợp trong QLSD đất lâm nghiệp tại đơn vị

* Về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại LTTA, huyện ĐăkSong, tỉnh

ĐăkNông

* Về thời gian: Phạm vi thời gian thu thập số liệu nghiên cứu là kết quả của

quản lý, sử dụng đất các năm 2001-2005

Số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài ngoài các số liệu thứ cấp có tại đơn vị, các cơ quan liên quan, các tài liệu đã được công bố qua các năm còn có các số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp tại địa bàn nghiên cứu tháng 2/2006

1.4 ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Là tài liệu tham khảo có ý nghĩa thực tiễn trong việc giúp các LT, các

Sở ban ngành trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên QLSD tốt hơn quỹ ĐLN được nhà nước giao quản

Trang 14

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn

về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp

2.1 Đất lâm nghiệp và vai trò của đất lâm nghiệp trong sản xuất nông lâm nghiệp

2.1.1 Khái niệm đất đai và đất lâm nghiệp

2.1.1.1 Khái niệm đất đai

Đất là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người Có rất nhiều công trình nghiên cứu về đất và hiểu đất

ở nhiều khía cạnh khác nhau, khái niệm đầu tiên khá hoàn chỉnh của nhà học giả người Nga Docutraiep năm 1879 cho rằng đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành bao gồm đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình và thời gian [6] Tuy vậy khái niệm này chưa đề cặp đến sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh, do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố như nước của đất, nước ngầm [6] Để hoàn thiện khái niệm trên, nhà học giả người Anh V.R Wiliam đã đưa thêm khái niệm về đất coi đất

là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây[6] Nhà học giả khác ông E Mitchulich (1923) cho rằng đất chỉ là cái giá đỡ, cái kho cung cấp chất dinh dưỡng và là khối hỗn hợp gồm các phần tử nhỏ cứng rắn, nước, không khí cần thiết cho thực vật [6] Bàn về vấn đề này nhà kinh tế học C.Mác đã viết đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau Theo quan điểm của các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt nam cho rằng đất là phần trên mặt vỏ của trái

đất mà ở đó cây cối có thể mọc được, ngoài ra đất còn được coi như là một

Trang 15

diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm khí hậu, thời tiết thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm ) các lớp trầm tích sát

bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại [6]

Tóm lại: có nhiều khái niệm định nghĩa khác nhau về đất song tựu trung lại có thể nhìn nhận đất là một khoảng không gian có giới hạn, giữ vai trò hết sức quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người

2.1.1.2 Khái niệm về đất lâm nghiệp

Theo luật đất đai năm 1993 và Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998,

2001 thì đất nông, lâm nghiệp được định nghĩa như sau:

Đất Nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp [16]

Đất lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp [16]

Theo cách phân loại đất đai của luật đất đai 2003 thì đất nông lâm nghiệp được hiểu như sau

- Đất nông nghiệp: là toàn bộ diện tích đất được xác định chủ yếu để sử

dụng vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp như đất rừng, đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và nghiên cứu thí nghiệm về nông - lâm - ngư nghiệp

- Đất lâm nghiệp: là một bộ phận của đất nông nghiệp bao gồm diện tích

Trang 16

đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp bao gồm đất có rừng tự nhiên, đất rừng trồng, đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp (trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm

về ĐLN) [17]

2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất lâm nghiệp trong sản xuất nông lâm nghiệp

Trong sản xuất lâm nghiệp, chủ thể chính là cây rừng; một loài sinh trưởng và phát triển trên nền vật chất cơ bản là ĐLN Đất không được che phủ

sẽ bị các tác động vật lý của ánh sáng mặt trời, sự bào mòn của gió, của nước, tác động rửa trôi và tích tụ trong lòng đất làm thoái hóa đất Đất có cây rừng che phủ sẽ tránh được các tác động phá hoại nói trên và còn được làm tốt thêm nhờ lượng chất hữu cơ bổ sung từ tầng thảm mục, nhờ tác dụng làm tơi xốp đất của hệ rễ cây rừng và các động vật sống dưới đất, làm tăng khả năng giữ nước của đất, tạo nên các tác động vật lý và hóa học gia tăng độ phì của

đất vấn đề đất đai và cây rừng không chỉ đơn thuần liên quan đến môi trường mà còn liên quan đến quan hệ sản xuất xã hội, chủ quyền của quốc gia

Có thể nói sự tồn tại, hưng thịnh hoặc suy vong của mỗi quốc gia đều ít nhiều liên quan đến rừng và ĐLN [19]

Qua các thời kỳ, tầm quan trọng, mối quan hệ giữa cây rừng và ĐLN ngày càng được khẳng định; Sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, giành được độc lập cho dân tộc, vấn đề đất và rừng đã được Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từng bước điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển của thể chế chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Hiến pháp năm 1946 chưa đề cặp đến vấn đề đất đai và rừng núi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lúc này có nhiệm vụ hàng đầu là phải tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân đoàn kết đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược [19]

Hiến pháp năm 1959 là bản tuyên ngôn đầu tiên về xây dựng chủ nghĩa

Trang 17

xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước đã ghi nhận: “ những rừng cây, đất hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước,

đều thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 12) [19]

Hiến pháp năm 1980 đã quy định: “Đất đai, rừng núi đều thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 19); “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm Đất dành cho nông nghiệp và lâm nghiệp không được dung vào việc khác, nếu không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép (Điều 20)” [19]

Hiến pháp 1992 một lần nữa khẳng định: “Đất đai, rừng núi đều thuộc

sở hữu toàn dân” (Điều 17); “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiện đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật”(Điều 18) [19]

Đất đai được nhiều nước trên thế giới coi là nguồn tài nguyên của quốc gia, là “quốc gia công thổ” [19] do Nhà nước giữ quyền sở hữu Rừng tự nhiên (trong Hiến pháp ghi là “rừng núi”) cũng là một loại tài nguyên quốc gia vì

được sinh trưởng và phát triển tự nhiên trên đất, nên thuộc sở hữu của Nhà nước Đối với rừng trồng cũng sinh trưởng, phát triển trên đất, nhưng còn được

đầu tư thêm các nguồn lực khác nên chỉ khi nào các nguồn lực này hoàn toàn của Nhà nước thì mới được coi là của Nhà nước

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp, những văn bản quy phạm pháp luật thời kỳ này là mới chỉ đề cặp đến vấn đề ruộng đất, chưa mở rộng cho các quan hệ với rừng Khi lực lượng ta đã mạnh lên và bắt đầu giữ

được thế cầm cự, Nhà nước ban hành sắc lệnh số 87/SL ngày 5/3/1952 ban hành bản Điều lệ tạm thời sử dụng công điền, công thổ nhằm chia, cấp công

điền, công thổ cho hợp lý, động viên sức dân để đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống pháp xâm lược Bản điều lệ này mới điều chỉnh các quan hệ với đất

Trang 18

công, ruộng công nhưng chưa đề cặp đến đất tư, ruộng tư và rừng Khi cuộc kháng chiến đã chuyển sang giai đoạn phân công, để động viên sức mạnh của giai cấp nông dân, Quốc hội khóa I kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật Cải cách ruộng đất tạo cơ sở pháp lý để phát động cuộc cách mạng ruộng đất đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, chia ruộng đất cho dân cày, giải phóng giai cấp nông dân khỏi ách bóc lột của giai cấp địa chủ, tạo nên động lực kỳ diệu đưa cả nước đến chiến thắng lịch sử Điện Biên chấn động địa cầu Luật cải cách ruộng đất còn được tiếp tục thực hiện trong những năm đầu hòa bình lập lại trên miền bắc nước ta, góp phần cải tạo nông thôn chuẩn bị những bước phát triển mới trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà

Sau khi hòa bình lập lại, để chống lại các hành vi phá hoại rừng, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng quý báu của đất nước phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ giành độc lập hoàn toàn cho tổ quốc, năm 1972 ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh quy

định việc bảo vệ rừng và đất rừng: pháp lệnh quy định như sau “Rừng và đất rừng thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, tức là của toàn dân, không ai đuợc xâm phạm Chính phủ có trách nhiệm quy hoạch toàn diện và phân phối đất

đai cho Nông nghiệp, Lâm nghiệp và chuyên dùng, có bản đồ phân định ranh giới rừng và đất rừng đến tận xã Nhà nước bảo đảm quyền lợi cho những tập thể và cá nhân đã có công trồng cây trên đất rừng Chính phủ quy định các chính sách, chế độ nhằm khuyến khích các hợp tác xã và nhân dân những nơi

có rừng tích cực tham gia trồng rừng, làm nghề rừng, góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân và nâng cao đời sống của nhân dân địa phương” (Điều1) [19] Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định mối quan hệ mật thiết giữa rừng và đất [19]

Căn cứ Điều 19 và 20 của Hiến pháp năm 1980, với nhận thức “Đất đai

là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì

Trang 19

thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng

đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ

sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta tốn bao công sức và xương máu mới khai thác, bồi bổ, cải tạo và bảo vệ vốn đất như ngày nay” [19] Năm 1987, Quốc hội ban hành luật đất đai

để nâng cao tinh thần trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân trong việc bảo

vệ và sử dụng đất đai một cách hợp lý và có hiệu quả, triệt để tiết kiệm đất, góp phần vào công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội, từng bước đưa nông nghiệp, lâm nghiệp lên sản xuất lớn, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Luật quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất cho các nông - lâm trường, Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,

xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân - dưới đây gọi là người sử dụng đất - để ổn định sử dụng lâu dài” (Điều1) [19] Luật đất đai năm 1987 đã quy định nội dung của công tác quản lý nhà nước về đất đai, việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, việc giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình để phát triển sản xuất, phân loại đất theo mục đích sử dụng chủ yếu thành 5 loại: đất nông nghiệp, ĐLN, đất khu dân cư, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng Đối với ĐLN, luật quy định: “Đất lâm nghiệp là đất

được xác định chủ yếu dùng vào sản xuất lâm nghiệp như trồng rừng, khai thác rừng, khoanh nuôi, tu bổ, cải tạo rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp

Đất rừng cấm, vườn quốc gia; đất trồng rừng để phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ

đất, cải tạo môi trường” (Điều 25) và “Người sử dụng ĐLN có nghĩa vụ: 1) nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về quản lý khai thác, bảo vệ rừng và ĐLN, không tự tiện phá rừng, đốt rừng, làm hủy hoại môi trường 2)Trồng rừng phủ xanh diện tích được giao theo quy hoạch, kế hoạch; thực hiện các biện pháp về thâm canh, bảo vệ đất, chống xói mòn và kết hợp lâm nghiệp, nông nghiệp” (Điều 26) [19]

Trang 20

Luật đất đai năm 1987 là một bước tiến bộ lớn trong quản lý đất đai, đã xác lập quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai và quy định rõ ràng những nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai Luật quy định Nhà nước giao đất cho những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản và sử dụng vào các mục đích chuyên dùng khác Nhà nước có thẩm quyền Nhà nước cũng có thẩm quyền thu hồi đất đã giao khi cần sử dụng cho nhu cầu của Nhà nước và xã hội, khi người sử dụng đất không còn nhu cầu, tự nguyện trả lại hoặc khi không sử dụng đất đúng mục đích, vi phạm quy định

về sử dụng đất tuy nhiên luật đất đai năm 1987 chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của thời kỳ đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chưa thúc đẩy được sự phát triển lành mạnh của thị trường đất đai và bất động sản [19]

Năm 1993 Quốc hội ban hành Luật đất đai thay thế Luật đất đai năm

1987 Luật đất đai năm 1993 còn được sửa đổi, bổ sung vào năm 1998, 2001 để tạo nên những động lực kinh tế xã hội mạnh mẽ nhằm đổi mới hệ thống kinh tế của đất nước, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế thị trường Luật đất đai 1993 đã

bổ sung cơ chế giao đất có thu tiền và cho thuê đất, quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của những người sử dụng đất khác nhau đối với các loại đất khác nhau

và hình thức giao hoặc cho thuê Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp, các ngành Nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai vẫn giữ nguyên như luật đất đai năm 1987 Tuy nhiên đã ban hành cơ chế cho thuê đất, nhưng vẫn còn nhiều rào cản để đất đai tham gia vào kinh tế thị trường

Năm 2003, Quốc hội ban hành luật đất đai mới thay thế luật đất đai năm 1993; luật này được xây dựng theo phòng cách hiện đại, quy định cụ thể phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của luật [19]

Tóm lại: Đất lâm nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sản xuất nông lâm nghiệp mà còn đối với môi trường, môi sinh và an ninh quốc phòng Trong quản lý, sử dụng ĐLN nhất thiết phải có các phương thức,

Trang 21

mô hình hợp lý để phát huy vai trò của ĐLN

2.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất trong lâm nghiệp

* Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất lâm nghiệp

Thực chất của nguyên tắc này là cần phải huy động tối đa diện tích đất

tự nhiên vào kinh doanh nông lâm nghiệp kể cả mặt nước, đất trống đồi núi trọc, đất thoái hoá bạc màu, đất bị xâm canh… Sử dụng tiết kiệm đất, ưu tiên

đất đai, nhất là đất tốt cho sản xuất nông nghiệp, thực hiện nông lâm kết hợp trong sản xuất, coi trọng khai thác theo chiếu sâu của đất Việc lựa chọn và bố trí cây trồng, vật nuôi, công nghệ sử dụng đất phải phù hợp với điều kiện vùng sinh thái để khai thác tối đa độ phì của đất, chú ý đến các giải pháp cải tạo và bồi dưỡng để tăng độ phì của đất

* Sử dụng đất lâm nghiệp phải đạt hiệu quả cao cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường

Trong vấn đề sử dụng ĐLN luôn tồn tại nhiều các yếu tố mang tính xã hội và môi trường bên cạnh vấn đề về kinh tế Do đó sử dụng ĐLN nên coi trọng các yếu tố này Quả vậy, ĐLN luôn gắn với rừng, động vật rừng và môi trường sống, gắn với cuộc sống của cộng đồng dân cư có nguồn sống dựa chính vào việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên này Quản lý và sử dụng ĐLN có hiệu quả thì không thể tách rời với vai trò của cộng đồng dân cư, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong sản xuất của người dân cũng như ý thức tự giác trong quản lý bảo vệ và sử dụng ĐLN

* Sử dụng đất lâm nghiệp phải bảo đảm tính bền vững

Với đặc điểm riêng của ĐLN là dễ bị xói mòn, rữa trôi, bạc màu cho nên đòi hỏi sử dụng đất phải kết hợp hiệu quả kinh tế với bảo vệ đất, bảo vệ

ổn định hệ sinh thái bền vững cả trước mắt và lâu dài Phải lấy nguyên lý sinh thái học, các quy luật sinh thái làm căn cứ để kinh doanh tổng hợp Kết hợp lợi ích sinh thái với lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội Sản phẩm của việc sử

Trang 22

dụng đất không phải chỉ là sản phẩm của cây trồng, vật nuôi mà còn cả môi trường sinh thái phát triển hài hoà tạo cơ sở tự nhiên vững chắc cho lâm nghiệp phát triển ổn định lâu bền

2.1.4 Các quan điểm quản lý đất lâm nghiệp

* Quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp truyền thống không còn thích hợp trong

hoàn cảnh hiện nay [25]

Quản lý, sử dụng ĐLN truyền thống ra đời trong bối cảnh rừng còn nhiều, dân số ít Lúc này tác động của con người đến rừng không để lại những

ảnh hưởng lớn đến môi trường, xã hội, cảnh quan du lịch

Ngày nay, những luận điểm trên đã có sự thay đổi cơ bản; dân số ngày càng tăng, diện tích rừng và ĐLN ngày càng bị thu hẹp, quá trình công nghiệp hoá, điện khí hoá, đô thị hoá đã và đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, môi trường nước, đất, không khí bị ô nhiễm ngày càng nặng nề, sự phân hoá xã hội giữa người giàu và người nghèo ngày càng lớn, tỷ lệ người nghèo ở miền núi cao Nếu không quản lý bảo vệ tốt tài nguyên rừng và ĐLN, tiếp tục nâng cao diện tích rừng trồng thì đời sống của cư dân ở miền núi, trung du sẽ không

được cải thiện tốt hơn

Chính từ cách nhìn nhận này mà đòi hỏi các cấp, ngành liên quan nên

có cách quản lý ĐLN phù hợp thay thế cách quản lý ĐLN truyền thống

* Quản lý đất lâm nghiệp chỉ đơn thuần dựa vào lực lượng nhà nước không mang lại hiệu quả [25]

Nhà nước với chức năng vĩ mô quan trọng là ban hành các văn bản pháp luật, hình thành bộ máy tổ chức nhà nước về rừng và đất rừng Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn chỉ cho thấy quản lý đơn thuần theo kiểu nhà nước như trên không mang lại hiệu quả; hầu hết các nước đều ban hành luật lệ về lâm nghiệp nhưng phần lớn các luật lệ đó đều tách rời lợi ích của nhà nước và của nhân dân Những văn bản pháp luật đó, nhiều khi xuất phát chỉ từ lợi ích của

Trang 23

nhà nước, thậm chí có nơi, có lúc đối lập với nhân dân, không được nhân dân ủng hộ và thực hiện Quản lý lâm nghiệp chỉ dựa vào biện pháp hành chính không mang lại hiệu quả lâu dài

Nước ta trước đây, các LT quốc doanh thường bao chiếm phần lớn đất

đai trong khi nhân dân cần đất canh tác thì rất thiếu Lực lượng lao động của ngành lâm nghiệp do các LT quản lý ở thời điểm cao nhất có khoảng 200.000 người Trong khi đó lực lượng lao động của nhân dân miền núi có hàng triệu người chưa được sử dụng vào việc phát triển nghề rừng Chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề giải quyết triệt để những nhu cầu cuộc sống tối thiểu của nhân dân miền núi , người dân không có con đưòng nào khác là phá rừng làm rẫy Cuộc vận động định canh định cư triển khai từ năm 1968, đến nay đã đạt được một số các thành quả nhất định song bên cạnh đó vẫn đang tồn tại vấn nạn tái du canh du cư, di cư tự do

Xuất phát từ quan điểm đó, tiền đề quan trọng nhất trong việc QLSD

đất lâm nghiệp đó là việc tìm ra các giải pháp có hiệu quả nhằm thoả mản nhu cầu đời sống hàng ngày của nhân dân Nhân dân chỉ tham gia bảo vệ, phát triển, sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng và đất rừng khi lợi ích sống còn của người dân gắn với tài nguyên đó

2.1.5 Mối quan hệ giữa quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp

Đất lâm nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu nhất và là đặc trưng của các công ty lâm nghiệp hay Lâm trường, là nơi sinh sống của hệ động thực vật rừng, có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo cân bằng sinh thái, tính đa dạng sinh học Đất cung cấp nguồn dinh dưỡng, nước và khoáng chất cho cây trồng Năng suất cây trồng phụ thuộc vào độ phì của đất Từ đất, với phương thức nông lâm kết hợp có thể tạo ra được nhiều sản phẩm đa dạng cho ngành nông nghiệp nói chung hay lâm nghiệp nói riêng Do đó có thể nói ĐLN là nguồn lực cơ bản và quan trọng nhất để tổ chức sản xuất kinh doanh lâm nghiệp hay nông lâm kết hợp, kết hợp phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh

Trang 24

thái Với đặc thù cũng như vai trò quan trọng của ĐLN đã tạo nên một đặc

điểm riêng của ĐLN trong quản lý và sử dụng Những biện pháp sử dụng

ĐLN hợp lý cũng chính là biện pháp bảo vệ ĐLN có hiệu quả; ĐLN nếu chưa

đưa vào sử dụng sẽ bị xói mòn, rửa trôi và giảm độ màu mỡ của đất Ngược lại, đất trống, đồi trọc nếu được đưa vào trồng cây và chăm sóc hợp lý sẽ chống được xói mòn, rữa trôi, tăng độ phì cho đất, góp phần kinh doanh ổn

định lâu dài cũng như cải thiện được môi trường, môi sinh Do đó muốn sử dụng ĐLN tốt thì phải bảo vệ tốt, khi bảo vệ tốt thì sử dụng sẽ có hiệu quả

Xuất phát từ cách nhìn nhận trên có thể thấy rằng quản lý và sử dụng

ĐLN tuy là hai vấn đề cụ thể trong hai lĩnh vực khác nhau, nhưng chúng chỉ là một trong quản lý, sử dụng ĐLN Và có thể nói rằng quản lý và sử dụng ĐLN

là “hai mặt của một vấn đề” Việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến quản lý

ĐLN cũng là nghiên cứu sử dụng ĐLN

2.1.6 Các xu hướng chính trong sử dụng đất lâm nghiệp

* Kết hợp sử dụng đất lâm nghiệp theo chiều rộng và chiều sâu có sự tham gia của người dân, trong đó theo chiều sâu là con đường cơ bản và lâu dài

Song song với lịch sử phát triển của loài người chính là lịch sử biến đổi của quá trình sử dụng đất Khi con người sống bằng phương thức săn bắt, hái lượm, dựa vào tự nhiên và thích ứng với tự nhiên để tồn tại, vấn đề sử dụng đất hầu như chưa hình thành Xã hội phát triển cao hơn, ngành trồng trọt ra đời với những công cụ sản xuất thô sơ, diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, cùng với đó là sức sản xuất và tầm quan trọng của đất đai trong

đời sống xã hội Tuy nhiên trình độ sử dụng đất còn thấp, phạm vị sử dụng không lớn, đất khai phá nhiều nhưng thu nhập thấp Xã hội phát triển, cùng với sự tăng trưởng của dân số - sự phát triển của kinh tế và khoa học kỹ thuật thì quy mô, phạm vi và chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một cao Các ngành nghề trong sản xuất lâm nghiệp cũng phát triển theo hướng phức tạp và

đa dạng dần Do đó phạm vi sử dụng đất ngày càng được mở rộng, thậm chí cả

Trang 25

những vùng trước đây không sử dụng được Cùng với việc phát triển sử dụng

đất theo không gian, trình độ sử dụng đất được nâng lên thông qua đầu tư, thâm canh nâng cao năng xuất của đất [6] Hiện nay, tại hầu hết các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên đầu tư thâm canh trên diện tích đất sử dụng chưa được quan tâm, song cùng với sự phát triển nhanh, mạnh của nền kinh tế, nhu cầu cao về đất sản xuất, giới hạn của đất thì vấn đề mở rộng diện tích và đầu tư thâm canh là vấn đề tất yếu khách quan và là xu hướng chính trong sử dụng

đất nói chung, ĐLN nói riêng

* Sử dụng đất lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá và chuyên môn hoá [7]

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, kinh tế trong nền kinh tế hiện đại, sử dụng ĐLN từ hình thức quảng canh chuyển sang thâm canh đã kéo theo xu hướng đa dạng hoá và chuyên môn hoá trong sử dụng đất Quả vậy, việc sử dụng ĐLN, nông nghiệp trong hiện tại và tương lai luôn có sự tương

đồng, sử dụng ĐLN không chỉ đơn thuần trồng cây gây rừng mà trên cơ sở yêu cầu của việc sản xuất hàng hoá thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công lao

động xã hội trong lâm nghiệp đã tiến lên phát triển toàn diện trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với kinh doanh tổng hợp, hình thành nên những vùng lâm nghiệp tập trung, thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung sản xuất

Đi đôi với việc mở rộng quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quan hệ cạnh tranh

và hợp tác, quan hệ bình đẳng giữa các thành phần kinh tế thì tính chất và trịnh độ xã hội hoá sản xuất trong lâm nghiệp được mở rộng dần về phạm vi

và hoàn thiện dần về nội dung theo huớng sản xuất lớn, sản xuất theo hướng chuyên môn hoá Bên cạnh đó tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng đã cho phép con người tăng khả năng chinh phục tự nhiên, các biện pháp khoa học kỹ thuật đã

được áp dụng nhằm tăng sức sản xuất của đất, đáp ứng nhu cầu xã hội Khi khoa học kỹ thuật phát triển, đất đai được sử dụng triệt để hơn, hình thức sử dụng đa dạng, toàn diện và triệt để hơn, nâng cao sức sản xuất, tăng khối lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường sinh thái phục vụ con người Hiện đại hoá

Trang 26

nền kinh tế và phát triển theo hướng kinh tế hàng hoá dẫn đến sự phân công trong sử dụng đất theo hướng chuyên môn hoá Để sử dụng đất hợp lý, đạt

được sản lượng, hiệu quả kinh tế cao nhất, thoả mãn nhu cầu về môi trường thì cần có sự phân công và chuyên môn hoá trong sử dụng đất

2.1.7 Đặc điểm sử dụng đất lâm nghiệp miền núi ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp của lâm trường

- Khu vực miền núi do đặc điểm về địa hình, khí hậu thời tiết và tập

quán sản xuất (địa hình đồi núi, 6 tháng nắng - 6 tháng mưa, canh tác quảng canh là chính) cùng với phân bố ở các vùng sâu, xa nên rất khó khăn trong quản lý và sử dụng

- ĐLN rộng, địa hình phức tạp, khó xác định ranh giới cũng như cập

nhật biến động diện tích chính xác

- Vì diện tích rộng lớn, phân bố không đồng đều nên dễ bị xâm canh,

chuyển mục đích sử dụng

- ĐLN có nhiều loại: rừng trồng, rừng tái sinh, rừng phòng hộ, rừng đặc

dụng có ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội khác nhau, gắn với an ninh quốc phòng

- Cây trồng trên ĐLN là rừng trồng có chu kỳ kinh doanh dài; các hoạt

động trồng, chăm sóc, quản lý, bảo vệ đến thu hoạch trong khoảng thời gian dài cho nên chậm thu hồi vốn và khó xác định giá trị cũng như mức độ tăng trưởng hàng năm

- Sản phẩm lâm nghiệp đa dạng, phong phú; ngoài lâm sản là gỗ còn có

lâm sản ngoài gỗ như song mây, động thực vật, dược liệu quý hiếm có tác dụng và ý nghĩa đến cảnh quan, môi trường

- Trình độ dân trí nhìn chung thấp, mức sống thấp, tập quán sản xuất

còn lạc hậu, dân cư phần đồng là dân di cư tự do từ các nới khác đến Sản xuất lâm nghiệp mang tính xã hội sâu sắc

Trang 27

2.2 Lâm trường và vấn đề quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp ở Tây Nguyên

Phát triển các LT là được xác định là chủ trương lớn nhất của nhà nước nhằm khai thác tiềm năng đất đai ở Tây Nguyên Nhiệm vụ đặt ra cho các LT chủ yếu là quản lý, tu bổ và khai thác rừng

Trong giai đoạn 1976-1989, các LT hoạt động theo cơ chế bao cấp, còn gọi là cơ chế hoạch toán báo sổ [15]; nhà nước giao vốn, vật tư, lao động cho các Liên hiệp, các Liên hiệp lại giao rừng cho từng LT để quản lý, tu bổ và khai thác rừng Các đơn vị tổ chức sản xuất theo kế hoạch đã định và nộp sản phẩm theo chỉ tiêu pháp lệnh từ trên xuống Nhà nước bao cấp toàn bộ vật tư, kinh phí và tiền lương cho các LT Về mặt tổ chức, nhiều LT hợp thành liên hiệp xí nghiệp lâm công nghiệp

Tại ĐăkLăk, từ năm 1980 đến 1985, ba Xí nghiệp liên hiệp lâm công nghiệp lớn của ngành lâm nghiệp được thành lập với diện tích quản lý hơn một nửa địa bàn tỉnh, với diện tích quy hoạch 1.058.500ha [15]

Nếu căn cứ vào tình hình ở các tỉnh ĐăkLăk và Gia lai - Kon tum, là hai tỉnh có quá trình xây dựng LT tiêu biểu, có thể thấy, phòng trào phát triển khá rầm rộ và rộng khắp trong 10 năm đầu Quá trình này chỉ chú ý đến việc phát triển thêm các LT trên Tây Nguyên, song chưa chú ý đến khả năng và hiệu quả của việc quản lý sử dụng đất, nguồn tài nguyên được giao Vào thời kỳ 1976-1989, ở ĐăkLăk, số cán bộ công nhân viên nông - lâm trường chỉ chiếm 20% dân số, nhưng lại quản hơn 80% diện tích đất đai toàn tỉnh Vào năm

1989, LT EaPô thuộc LT ChưJút có hơn 10 cán bộ nhưng quản lý hơn 45.000ha rừng và đất rừng trong khi hơn 5000 dân trong xã chỉ quản 5000ha còn lại [15] Thực tế cho thấy thời kỳ này, các LT chỉ quản lý được 1/10 đến 3/10 diện tích quy hoạch Do cán bộ ít mà diện tích được giao quá rộng nên sự tồn tại của các LT nhiều khi chỉ là hình thức

Từ sau năm 1988, đặc biệt từ khi có luật đất đai năm 1993, Nghị định 388/HĐBT ban hành năm 1993 (trong đó quy định các LT có nghĩa vụ giao

Trang 28

nộp đủ sản phẩm và thuế cho nhà nước, được hoàn toàn chủ động về kế hoạch,

về sản xuất không phụ thuộc vào Liên hiệp như trước), Quyết định TTg ngày 16/09/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới cơ chế quản

187/QĐ-lý LT quốc doanh, Nghị định 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việc sắp xếp, đổi mới và phát triển LT quốc doanh, các LT đã có chuyển biến tích cực; diện tích quản lý phần nào phù hợp với khả năng thực tế của đơn vị, chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần quản lý

và sử dụng rừng, ĐLN tốt hơn truớc Trên thực tế, dù chủ trương chính sách khá rõ ràng nhưng việc thực hiện là là vấn đề khó khăn đối với các ban ngành tại địa phương, đặc biệt là ban lãnh đạo LT Việc triển khai thực hiện thường

là lúng túng và kéo dài, chậm chạp gây khó khăn cho việc thực thi chính sách

2.3 Một số các chính sách liên quan đến quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp

Chính sách về quản lý, sử dụng ĐLN là tập hợp các quy định của Chính phủ để thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của nhà nước trong lĩnh vự quản lý và sử dụng ĐLN nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trên các mặt kinh tế - xã hội và môi trường

Để thực hiện quản lý, sử dụng ĐLN có hiệu quả, Chính phủ đã ban hành một số các chính sách như

- Quyết định số 184/HĐBT ngày 6/11/1982 của Hội đồng bộ trưởng về

đẩy mạnh giao đất, giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo phương thức Nông - Lâm kết hợp

- Quyết định số 1171LN/QĐ ngày 30/12/1986 về quy chế quản lý ba loại rừng, tiến hành phân cấp quản lý rừng

- Thông tư liên bộ số 01/TT-LB ngày 06/02/1991 của bộ Lâm nghiệp và Tổng cục quản lý ruộng đất nhằm hướng dẫn việc giao rừng và đất để trồng rừng cho các tổ chức, cá nhân sử dụng vào mục đích lâm nghiệp

- Quyết định 327/CT về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc

Trang 29

- Luật đất đai các năm 1993, 1998, 2001 và 2003

- Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004

- Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 về việc giao ĐLN cho tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

- Quyết định số 202/TTg ngày 02/05/1994 về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng

- Nghị định số 01/CP ngày 04/01/1995 về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các Doanh nghiệp nhà nước

- Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21 tháng 12 năm 1998 về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và ĐLN

- Nghị định 163/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê

ĐLN cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

- Quyết định 187/1999/QĐ-TTg ngày 16/09/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới tổ chức cơ chế quản lý LT Quốc doanh

- Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và ĐLN

- Nghị định 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về việc sắp xếp, đổi mới

và phát triển LT quốc doanh

Với các chính sách đất đai và quản lý đất đai của Chính phủ đã giúp cho nhà nước, các cơ quan chức năng, các thành phần kinh tế có cơ sở, phương hướng trong quản lý và sử dụng ĐLN

2.4 Những kinh nghiệm trong quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Kinh nghiệm quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trên thế giới

Tại hầu hết các quốc gia ở khu vực Đông Nam á việc quản lý, sử dụng

Trang 30

ĐLN được chú trọng theo phương thức quản lý có sự tham gia, thực hiện các chính sách để phân cấp, phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng và đất rừng Họ đã thử nghiệm khá thành công cách tiếp cận có sự tham gia của người dân, chú ý đến tiến trình phát huy kiến thức bản địa, nâng cao năng lực của các cộng đồng thiểu số để xây dựng các mô hình quản lý rừng cộng đồng

Một số nước như Nepal, Bangladesh, Philippines, Thái Lan đã phát triển khá thành công các cách tiếp cận có sự tham gia và hình thành các định chế, phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, nhóm sử dụng rừng (Forest User Group - FUG) RECOFTC - Trung tâm đào tạo lâm nghiệp cộng đồng trong khu vực châu á Thái bình dương đã hơn 20 năm phát triển các phương pháp luận tiếp cận có sự tham gia để quản lý rừng cộng đồng

Thực tế trên thế giới để quản lý ĐLN có hiệu quả người ta đã tập trung nghiên cứu các khía cạnh cải tiến chính sách, thể chế, tiếp cận, phát triển công nghệ trên cơ sở kiến thức bản địa, để phát triển quản lý rừng và ĐLN dựa vào cộng đồng Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng một cách thích hợp vào điều kiện Việt Nam Sau đây là điểm qua các khía cạnh liên quan từ quan điểm, khái niệm, thể chế chính sách đến giải pháp lập kế hoạch quản lý rừng ở cấp cộng đồng đã được phản ảnh, nghiên cứu, tổng kết ở nhiều nước trên thế giới

* Quan điểm, khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng, quản lý đất lâm nghiệp dựa vào cộng đồng

Thuật ngữ cộng đồng, theo FAO là một cộng đồng được định nghĩa như

là “những người sống tại một chỗ, trong một tổng thể” hoặc là “một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung” [5]

Thuật ngữ “Lâm nghiệp cộng đồng (Community Forestry)” theo FAO

“Lâm nghiệp cộng đồng là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp” [34], tuy vậy nó thường được sử dụng với nghĩa hẹp hơn như là các hoạt động lâm nghiệp được tiến hành bởi cộng

Trang 31

đồng hoặc nhóm người dân địa phương [34] ở Nepal dùng thuật ngữ “Nhóm sử dụng rừng” (Forest User Group) để chỉ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức bởi các nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng [32]

Như vậy khái niệm lâm nghiệp cộng đồng đã được đề cập nhiều ở các quốc gia trên thế giới, nó được hình thành với mục đích tạo dựng một phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng, rừng được quản lý bền vững hơn từ những người đang sống phụ thuộc vào rừng, và những giải pháp quản lý bảo vệ rừng đóng góp vào việc sinh kế và cải thiện đời sống người dân từ hoạt động lâm nghiệp Từ quan điểm đó đã hình thành phương thức, các chương trình hoạt động quản lý rừng dựa vào cộng đồng (Community-based Forest Management - CBFM), nó được hiểu là một phương thức nhằm duy trì và phát triển rừng cũng như giải quyết vấn đề đói nghèo ở vùng cao, một nguyên nhân gốc rễ làm suy giảm tài nguyên rừng ở các quốc gia [29] Quản lý rừng dựa vào cộng đồng - CBFM dựa trên quan

điểm: “Con người trước và lâm nghiệp bền vững sẽ theo sau đó”, nó trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ nguồn tài nguyên rừng [31] Từ quan điểm này cho thấy CBFM nhắm đến việc phân cấp quản lý rừng một cách mạnh mẽ, trong đó nhấn mạnh đến giao quyền quản lý các khu rừng và tạo cơ hội cho người dân, cộng đồng có được hưởng lợi từ rừng Khi mà các vấn đề đói nghèo và mất công bằng trong tiếp cận nguồn tài nguyên

được giải quyết thì các cộng đồng địa phương sẽ nhận ra trách nhiệm của chính

họ trong việc bảo vệ và quản lý rừng, điều này đã được nhiều chính phủ, tổ chức phi chính phủ nhận thức rõ ràng và từ đó đã thúc đẩy cho tiến trình này phát triển ở nhiều cộng đồng vùng cao sống phụ thuộc vào rừng

Thực tế nhiều quốc gia cũng đã trả giá cho bài học này, khi mà các cộng đồng đứng ngoài cuộc thì rừng suy giảm nghiêm trọng Các dự án, chương trình ở một số quốc gia thực hiện quản lý rừng dựa cộng đồng đã tổng kết các lợi ích của nó là [29]:

Trang 32

- Cung cấp nguồn nước ổn định

- Giảm các hoạt động chặt phá rừng trái pháp luật

- Giảm đói nghèo, vì vậy giảm chi phí cho các dịch vụ xã hội

- Tạo ra việc làm và các cơ hội sinh kế cho người dân

- Tạo ra thu nhập cho cộng đồng và chính quyền cơ sở từ việc phân chia các lợi ích từ rừng

- ổn định giá cả thị trường cho các sản phẩm từ rừng

- Tạo ra các sản phẩm từ rừng thông qua quản lý rừng bền vững

Lợi ích rất rõ ràng từ các chương trình CBFM ở các nước đã chứng minh sự cần thiết của phương thức quản lý rừng này Trước đây khi cộng đồng người dân sống gần rừng đứng ngoài cuộc của hoạt động lâm nghiệp thì rừng

bị mất nhanh chóng đồng thời đời sống của họ cũng mãi đói nghèo, thu hút cộng đồng vào tiến trình này đã góp phần quan trọng trong bảo vệ, phát triển rừng và đóng góp vào việc phát triển kinh tế xã hội, văn hoá truyền thống ở các địa phương

* Đổi mới thể chế chính sách của ngành lâm nghiệp phục vụ tiến trình quản lý rừng dựa vào cộng đồng

Mặc dù chính sách cho lâm nghiệp cộng đồng đã có ở nhiều quốc gia, tuy vậy việc thực hiện các chính sách đó cũng thường gặp các trở ngại [36]:

- Thiếu sự cam kết và mất công bằng trong phân bổ ngân sách

- Tiếp cận từ trên xuống và thiếu linh hoạt

- Quyền sử dụng đất và tài nguyên không ổn định

- Hệ thống quản lý, kỹ thuật lâm nghiệp chưa tương thích với kiến thức

và năng lực của cộng đồng trong quản lý rừng

- Nhân viên kỹ thuật lâm nghiệp thiếu các kỹ năng thúc đẩy quản lý rừng dựa vào cộng cồng có sự tham gia và tiến trình ra các quyết định ở địa phương

Trang 33

- Thiếu các khung pháp lý để hỗ trợ lâm nghiệp cộng đồng

- Nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận cư dân và nhân viên lâm nghiệp về các chính sách lâm nghiệp cộng đồng hiện hành và tổ chức thực hiện nó

- Thiếu công bằng trong phân bổ lợi ích từ rừng

Vì vậy nhiều quốc gia đã cho rằng cơ hội quan trọng nhất để giải quyết các trở ngại trên là tạo nên một thể chế chính sách có hiệu quả thúc đẩy sự tư vấn, điều phối giữa người dân địa phương với các cơ quan chính phủ và các bên liên quan Đồng thời cần thiết nâng cao nhận thức và năng lực của các bên liên quan tham gia vào tiến trình phát triển và thực thi chính sách Một khung pháp lý thích hợp cần phái được xây dựng ở cấp quốc gia để hỗ trợ lâm nghiệp cộng đồng, nhưng việc thực hiện cần linh hoạt để phù hợp với điều kiện của các địa phương khác nhau

Như vậy cho thấy để thực hiện CBFM, điều đầu tiên cần có là sự đổi mới về chính sách, thể chế và quan điểm tiếp cận, phát huy dân chủ trong quản lý tài nguyên thiên nhiên Trong đó cho thấy sự cần thiết của giao đất giao rừng cho cộng đồng quản lý, tức là giao quyền và trách nhiệm rõ ràng, làm cơ sở để thu hút sự quan tâm tham gia của người dân trong tiến tình quản

lý rừng; sau giao đất giao rừng cần thiết có những hỗ trợ để cộng đồng, hộ gia

đình kinh doanh rừng Nhân tố cốt lõi của cải cách thể chế, chính sách để hỗ trợ lâm nghiệp cộng đồng là nâng cao tính dân chủ, sự tham gia trong lập kế hoạch, quản lý ngân sách, ra các quyết định, giám sát, thu nhập và chi tiêu cũng như phát triển nguồn nhân lực

* Nghiên cứu kiến thức bản địa và lồng ghép với kiến thức khoa học để phát triển kỹ thuật lâm nghiệp phù hợp với điều kiện cộng đồng

Thuật ngữ kiến thức bản địa được Robert Chambers dùng đầu tiên trong một ấn phẩm xuất bản 1979, tiếp theo đó Brokensa(1999) và D.M Warren (1999) [35] sử dụng vào những năm 1980 và tiếp tục phát triển cho đến ngày

Trang 34

nay Kiến thức bản địa thực sự chỉ mới được các nhà khoa học và quản lý quan tâm đến trong vòng vài thập kỷ gần đây, khi mà tại nhiều quốc gia đang và kém phát triển phải cố gắng nỗ lực tìm kiếm các giải pháp khả thi để quản lý sử dụng tốt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển nông thôn bền vững

Hiện nay có trên 3.000 chuyên gia tại 124 nước đang hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu kiến thức bản địa Một mạng lưới quốc tế nghiên cứu và

sử dụng kiến thức bản địa đã được thành lập năm 1987 thông qua Trung tâm nghiên cứu kiến thức bản địa phục vụ nông nghiệp (CIKARD) ở đại học Iowa state, Hoa Kỳ Những năm gần đây, nhiều quốc gia ở châu á như ấn Độ, Indonesia, Philipine đã tham gia tích cực trong các mạng lưới trao đổi thông tin về kiến thức bản địa phục vụ cho các chương trình khuyến nông lâm và phát triển nông thôn [27]

Thực tế từ những thất bại của nhiều dự án đã cho thấy các giải pháp kỹ thuật được áp đặt từ bên ngoài thường không có tính khả thi, khó chấp nhận về mặt văn hóa và do đó dễ bị người dân địa phương từ chối Ngược lại rất nhiều kỹ thuật truyền thống đã đưa lại hiệu quả cao, được thử thách qua hàng thế kỷ, có sẵn tại địa phương, rẻ tiền và phù hợp về văn hóa, xã hội Ngày nay đã có nhiều công nghệ mới ra đời trên cơ sở kế thừa và phát huy kinh nghiệm truyền thống

Chính vì vậy trong gần 10 năm qua phương pháp luận tiếp cận có sự tham gia trong phát triển công nghệ thích ứng đã hình thành và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới, được gọi là Phát triển công nghệ có sự tham gia - PTD (Participatory Technology Development) [33] Trong phương pháp này đã tạo ra sự liên kết giữa nhà nông, nhà khoa học và khuyến nông lâm trong phát triển công nghệ, trong đó nông dân làm trung tâm, các thử nghiệm đều phải xuất phát từ nhu cầu của nông dân (không áp đặt, chuyển giao từ ngoài vào), người khuyến nông có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tiến trình thử nghiệm

và lan rộng, nhà khoa học hỗ trợ tư vấn cho tiến trình phát hiện và thử nghiệm cái mới Công nghệ này đã nhiều nhà khoa học Thái Lan, Indonesia áp dụng

Trang 35

2.4.2 Kinh nghiệp quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam

Thực tế cho thấy chính phủ Việt Nam đã có chủ trương quản lý, sử dụng ĐLN dựa vào cộng đồng thông qua các chính sách giao đất giao rừng, xây dựng các hương ước, quy ước bảo vệ rừng thôn buôn Từ năm 1999 với sự tài trợ của các dự án phi chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

đã thành lập nhóm lâm nghiệp cộng đồng quốc gia để đánh giá và đề xuất các mô hình quản lý rừng cộng đồng ở Việt nam Đồng thời trong vòng 10 năm trở lại đây, các cách tiếp cận có sự tham gia đã được áp dụng trong phát triển nông thôn, đây là cách làm tiến bộ để xây dựng phương pháp quản lý rừng và

ĐLN có hiệu quả dựa vào người dân

Quản lý rừng cộng đồng đã được thực hiện từ trước đây trong các hệ thống quản lý rừng truyền thống của các cộng đồng dân tộc miền núi nước ta Ngày nay phương thức này vẫn đang được tiến hành ở nhiều địa phương Yếu tố quyết

định sự thành công của hệ thống quản lý rừng này là sự nhất trí của toàn thể người dân khi thực thi các điều khoản trong hương ước bảo vệ rừng của cộng

đồng, sự tổ chức chặt chẻ của cộng đồng và sự phân chia quyền lợi các sản phẩm

từ rừng trên cơ sở bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng Phương thức quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng người dân sống gần rừng đã chứng tỏ tính hiệu quả về mặt kinh tế xã hội và bền vững về mặt sinh thái môi trường, phù hợp với chính sách giao đất giao rừng của nước ta hiện nay [2]

Thực hiện Nghị định 163 và Quyết định 178 của Chính phủ, cho đến thời điểm năm 2003, ước tính người dân đã tham gia quản lý khoảng 2,5 triệu

ha ĐLN, trong đó một số tỉnh đã thí điểm và triển khai giao rừng cho cộng

đồng, đi tiên phong là tỉnh ĐăkLăk giao 8.000ha, tỉnh Sơn La giao 105.000 ha rừng tự nhiên cho hộ, nhóm hộ, cộng đồng thôn bản quản lý Từ đây đã bước

đầu rút ra kinh nghiệm ở các tỉnh về giao rừng tự nhiên cho các cộng đồng thôn bản, kết quả cho thấy phương thức này đã được người dân ủng hộ vì đã gắn lợi ích của họ với rừng và hài hòa giữa lợi ích của nhà nước với lợi ích cộng đồng [4]

Trang 36

Các tỉnh đã tiến hành giao rừng tự nhiên bao gồm ĐăkLăk, Thừa Thiên Huế, Sơn La, các khu rừng, ĐLN được giao ở các tỉnh phía bắc chủ yếu là đất trống, rừng non, trong khi đó ở Tây Nguyên đã thử nghiệm giao cả các khu rừng tốt Từ đây đã tổng kết được kinh nghiệm bước đầu của tiến trình này

Hiệu quả quản lý rừng và đất rừng bởi cộng đồng đã được khẳng định:

- Thực tế cho thấy rừng giao cho cộng đồng được quản lý tốt hơn, người dân có niềm tin và ý thức được rừng là tài sản của mình, kết quả này được khẳng định ở hầu hết các địa phương giao rừng

- Người dân đã quan tâm đầu tư vào các khu rừng của mình, một số khu rừng giao đã được cộng đồng đầu tư chăm sóc, làm giàu rừng, áp dụng kiến thức bản địa để kinh doanh ở tỉnh ĐăkLăk, hoạt động sau giao đất giao rừng

đã được triển khai ở một số nơi như cộng đồng đã tổ chức phân công bảo vệ rừng, đặc biệt là hoạt động kinh doanh rừng với sự tham gia trực tiếp của cộng

đồng, tạo ra thu nhập từ rừng thông qua công tác lâm sinh như tỉa thưa [9]

- Quản lý rừng cộng đồng dựa trên luật tục truyền thống và các quy ước, hương ước được phát triển bởi chính cộng đồng đã tỏ ra có hiệu lực trong đời sống cộng đồng và góp phần thu hút lực lượng nhân dân trong bảo vệ rừng, họ không còn đứng ngoài cuộc với tình trạng phá rừng

Từ kết quả triển khai, một số kỹ thuật và phương pháp tiếp cận giao đất giao rừng được tổng kết và rút kinh nghiệm:

- Để có thể đẩy nhanh tiến độ giao đất giao rừng cần kết hợp với ảnh máy bay, bản đồ địa chính ĐLN để rút ngắn thời gian và giảm chi phí trong

điều tra tài nguyên, vẽ bản đồ phân chia rừng trong giao đất giao rừng [4]

- Tiếp cận giao rừng cho cộng đồng, nhóm hộ là phù hợp với truyền thống quản lý rừng của thôn bản, khắc phục vấn đề chuyển nhượng đất đai, công bằng hơn giao cho hộ vì rừng phân bố không đều, giàu nghèo khác nhau Ngoài ra giao rừng cho nhóm hộ, cộng đồng sẽ giảm được chi phí, nhân lực và thời gian trong tiến trình tiếp cận và xây dựng phương án giao đất giao rừng [8]

Trang 37

- Tiếp cận giao đất giao rừng cần gắn ranh giới truyền thống, luật tục cộng đồng Giao rừng và ĐLN nhỏ lẻ manh mún thì cộng đồng sẽ không quản

được thừa nhận như là một nguồn tài nguyên quan trọng làm cơ sở để phát triển bền vững

Trong bối cảnh phát triển xã hội vùng cao, đã có nhiều tác động đến truyền thống, luật tục của người bản địa Giữa các dân tộc luôn có sự giao thoa văn hóa, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau Trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, thay cho kiến thức bản địa thì khái niệm kiến thức sinh thái địa phương được hình thành, nó bao gồm kiến thức bản địa và kiến thức mới được chấp nhận trong cộng đồng, tập trung vào khía cạnh kỹ thuật, sinh thái để quản lý tài nguyên thiên nhiên; đây chính là một phương hướng cần được nghiên cứu để làm cơ sở phát triển công nghệ thích ứng [10]

Trên cơ sở kiến thức sinh thái địa phương, phương pháp tiếp cận có sự tham gia để phát triển công nghệ, kỹ thuật kinh doanh, quản lý tài nguyên đã

được phát triển Đây là phương pháp lồng ghép kiến thức địa phương và kiến thức khoa học để phát hiện công nghệ mới, và công nghệ này phải phù hợp với

Trang 38

điều kiện cộng đồng Có thể kể ra nhiều kiểu dạng khác nhau trong nghiên cứu có sự tham gia như nghiên cứu có sự tham gia của nông dân (Farmer participatory research), nghiên cứu hướng đến nông dân (Farmer-led research), nghiên cứu hành động có sự tham gia (Participatory action research), nghiên cứu trên nông trại có sự tham gia (Participatory on-farm research), tất cả những phương pháp nghiên cứu này đều nhằm phát hiện những điều mới và thử nghiệm thích ứng với những điều kiện cụ thể với hệ thống canh tác của nông dân Đặc biệt là nó phải thừa nhận kiến thức địa phương như là một điều cốt yếu để phát triển các đổi mới hữu ích [29]

Cũng với định hướng như nghiên cứu có sự tham gia bao gồm việc kết hợp kiến thức địa phương với khoa học để phát hiện ra cái mới trong sản xuất, quản lý; phương pháp phát triển công nghệ có sự tham gia mang tính thực tiễn hơn, nó hướng đến các hoạt động phát triển công nghệ do nông dân lựa chọn

và quản lý, nó bảo đảm cho việc lan rộng các thử nghiệm thành công để cải thiện đời sống nông dân và quản lý tài nguyên thiên nhiên PTD được giới thiệu vào Việt Nam trong vòng bốn năm trở lại đây và được thử nghiệm ở các hiện trường của dự án Hỗ trợ lâm nghiệp xã hội do chính phủ Thuỵ Sĩ thuộc các tỉnh Hoà Bình, Thừa Thiên - Huế, ĐăkLăk, Lâm Đồng, các kinh nghiệm

đã được tổng kết để phát triển thành “Sổ tay hướng dẫn” [11] Gần đây tỉnh Hoà Bình đã đánh giá cao phương pháp này và đã thể chế hoá nó vào hệ thống khuyến nông lâm của tỉnh Tuy nhiên PTD được áp dụng trong giai đoạn qua ở các địa phương chủ yếu tập trung vào việc thử nghiệm đổi mới canh tác nông lâm nghiệp, chưa gắn với tiến trình phát triển phương thức và lập kế hoạch quản lý rừng dựa vào cộng đồng Có nghĩa PTD cần được xem xét ứng dụng trong tiến trình phát triển, lập kế hoạch quản lý rừng dựa vào cộng đồng; bao gồm tiến hành PTD theo từng chủ đề trên từng đối tượng trạng thái rừng, đất rừng khác nhau để làm cơ sở xác lập hệ thống giải pháp lâm sinh tổng hợp dựa vào kiến thức sinh thái điạ phương và lồng ghép nó vào kế hoạch quản lý kinh doanh rừng sau khi giao đất giao rừng Vì kế hoạch quản lý rừng cộng đồng

Trang 39

không chỉ là kế hoạch khai thác gỗ củi mà nó còn phải tổ chức phát triển rừng để nâng cao năng suất, hiệu quả và đa dạng hoá sản phẩm trong kinh doanh rừng

Trên địa bàn tỉnh ĐăkNông, quản lý và sử dụng ĐLN dựa vào người dân, thực hiện xã hội hóa nghề rừng, phát triển vốn rừng đã mới được thực hiện ở những năm gần đây với tổng diện tích giao là 2000ha, bao gồm 1016 ha tại huyện ĐăkRlấp và khoảng 1000ha tại huyện Cưjut Trong đó huyện ĐăkRlấp đã thực hiện giao hoàn tất trong năm 2004 và tiếp tục triển khai giao với diện tích 1000ha trong năm 2005, buớc đầu đã có kết quả Giao đất giao rừng đã thực sự thu hút được người dân, của cộng đồng, diện tích rừng bị mất do làm rẫy hoặc khai thác trái phép trong khu vực giao thấp hơn hẳn khu bên cạnh [3] Ngoài ra giao đất giao rừng còn là tiền đề quan trọng cho việc phát triển sản xuất, gắn lâm nghiệp với đời sống cộng đồng mà một ví dụ tốt đã được triển khai thực hiện và

có kết quả tại xã ĐăkRtít, huyện ĐăkRlấp về thực hiện tổ chức tỉa thưa rừng, tạo thu nhập cho cộng đồng sau nhận rừng, ĐLN

Trang 40

3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm về tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Tỉnh ĐăkNông nằm về phía Tây Nam khu vực Tây Nguyên, có biên giới phía Tây kéo dài giáp với nước bạn Campuchia (130 km) nên có một vị trí chiến lược quan trọng trong về an ninh quốc phòng, đồng thời có các quốc lộ

14 và 28 đi qua tỉnh đã tạo điều kiện nối kết ĐăkNông với các tỉnh trong vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, do vậy có nhiều tiềm năng và thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội

LTTA là doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh ĐăkNông nằm về Phía nam cách thành phố Buôn Mê Thuột 70Km, đóng trên địa bàn hành chính xã Thuận An thuộc huyện Đăk Mil, song LP thuộc LT quản lý nằm trên

địa bàn các xã Thuận Hạnh và ĐăkSong tỉnh ĐăkNông, giáp biên giới nước bạn Campuchia (bảng 3.1)

Bảng 3.1: Vị trí địa lý Lâm phần Lâm trường Thuận An

Nguồn: Phòng Kỹ thuật LTTA

Ngày đăng: 06/12/2013, 17:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.7. Vốn sản xuất kinh doanh và lao động LTTA - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 3.7. Vốn sản xuất kinh doanh và lao động LTTA (Trang 49)
Bảng 4.2. Kết quả quản lý đất lâm nghiệp là rừng tự nhiên qua các năm (2001-2005) - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 4.2. Kết quả quản lý đất lâm nghiệp là rừng tự nhiên qua các năm (2001-2005) (Trang 57)
Sơ đồ 4.1. Mô hình lực l−ợng quản lý bảo vệ trên lâm phần LT - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Sơ đồ 4.1. Mô hình lực l−ợng quản lý bảo vệ trên lâm phần LT (Trang 62)
Bảng 4.3. Mức độ nhiệt tình trong tuần tra, kiểm tra đất lâm nghiệp - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 4.3. Mức độ nhiệt tình trong tuần tra, kiểm tra đất lâm nghiệp (Trang 64)
Bảng 4.4 Biến động lực l−ợng đ−ợc cài cắm qua các năm - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 4.4 Biến động lực l−ợng đ−ợc cài cắm qua các năm (Trang 65)
Bảng 4.5. Mức độ phát hiện kết hợp xử lý các vụ vi phạm - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 4.5. Mức độ phát hiện kết hợp xử lý các vụ vi phạm (Trang 67)
Bảng 4.6. Số bảng biểu tuyên truyền đ−ợc làm mới và nâng cấp - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 4.6. Số bảng biểu tuyên truyền đ−ợc làm mới và nâng cấp (Trang 69)
Bảng 4.8. Kết quả đạt được trong quản lý đất rừng trồng theo phương thức tập trung - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 4.8. Kết quả đạt được trong quản lý đất rừng trồng theo phương thức tập trung (Trang 73)
Bảng 4.10. Diện tích đất lâm nghiệp còn lại sau giao khoán - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 4.10. Diện tích đất lâm nghiệp còn lại sau giao khoán (Trang 76)
Bảng 4.12. Cơ cấu đất lâm nghiệp là đất trống - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 4.12. Cơ cấu đất lâm nghiệp là đất trống (Trang 78)
Bảng 4.17. Cơ cấu cây trồng qua từng giai đoạn - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 4.17. Cơ cấu cây trồng qua từng giai đoạn (Trang 84)
Bảng 4.18. Tình hình kinh tế hộ trên lâm phần Lâm tr−ờng Thuận An - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 4.18. Tình hình kinh tế hộ trên lâm phần Lâm tr−ờng Thuận An (Trang 85)
Đồ thị 4.1. Xu hướng biến động tỷ lệ che phủ của tán rừng - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
th ị 4.1. Xu hướng biến động tỷ lệ che phủ của tán rừng (Trang 95)
Bảng 4.22. Sơ đồ nguyên nhân và giải pháp quản lý, sử dụng đất Lâm trường Thuận An - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Bảng 4.22. Sơ đồ nguyên nhân và giải pháp quản lý, sử dụng đất Lâm trường Thuận An (Trang 110)
Sơ đồ 4.3. Chu trình giao đất giao rừng có sự tham gia của người dân - Thực trạng và giải pháp quản lý,sữ dụng đất lâm nghiệp của lâm trường thuận an, huyện ĐẮKSONG, tỉnh ĐĂKNÔNG
Sơ đồ 4.3. Chu trình giao đất giao rừng có sự tham gia của người dân (Trang 113)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w